1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

LVTS 2014 vấn đề phân định biển theo công ước luật biển năm 1982

127 199 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 127
Dung lượng 0,91 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Khái niệm về phân định biển trong luật quốc tế Ngay từ khi các Công ước của Liên hợp quốc về Luật biển năm 1958 và 1982 còn chưa hình thành, nhiều quốc gia trên thế giới đã đưa ra các yê

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

KHOA LUẬT

NGUYỄN THỊ DUNG

VẤN ĐỀ PHÂN ĐỊNH BIỂN THEO CÔNG ƯỚC LUẬT BIỂN NĂM 1982

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

HÀ NỘI - 2014

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

KHOA LUẬT

NGUYỄN THỊ DUNG

VẤN ĐỀ PHÂN ĐỊNH BIỂN THEO CÔNG ƯỚC LUẬT BIỂN NĂM 1982

Chuyên ngành : Luật quốc tế

Mã số : 60 38 60

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Nguyễn Bá Diến

HÀ NỘI - 2014

Trang 3

Lời cam đoan

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu khoa học của riêng tôi Các số liệu, ví dụ và trích dẫn trong luận văn đảm bảo độ tin cậy, chính xác và trung thực Những kết luận khoa học của luận văn chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác

Tác giả luận văn

Nguyễn Thị Dung

Trang 4

Chương 1: TỔNG QUAN VỀ PHÂN ĐỊNH BIỂN 5

1.1.1 Vai trò của biển đối với kinh tế thế giới 5 1.1.2 Vai trò của biển đối với chính trị thế giới 7 1.2 Khái niệm về phân định biển theo Công ước Luật biển 1982 8 1.2.1 Khái niệm về phân định biển trong luật quốc tế 8

1.3 Đặc điểm và phân loại phân định biển theo Công ước Luật

biển 1982

11

1.3.1 Đặc điểm của phân định biển quốc tế 11

1.4 Vai trò và lịch sử ra đời của Công ước Luật biển 1982 15 1.4.1 Vai trò của Công ước Luật biển 1982 15 1.4.2 Lịch sử ra đời của Công ước Luật biển 1982 16 1.5 Công ước Luật biển 1982 quy định về các vùng biển 21

Trang 5

1.5.7 Vùng - di sản chung của loài người 28

Chương 2: CÁC NGUYÊN TẮC VÀ PHƯƠNG PHÁP QUY ĐỊNH VỀ

PHÂN ĐỊNH BIỂN THEO CÔNG ƯỚC LUẬT BIỂN 1982

2.1.4 Nguyên tắc xác lập chủ quyền bằng chiếm hữu 38

2.2 Các phương pháp phân định được áp dụng trong thực tiễn

2.3.1 Giải quyết tranh chấp biển theo án lệ trên thế giới 47 2.3.2 Giải quyết tranh chấp biển của Tòa án quốc tế 50 2.3.3 Giải quyết tranh chấp biển của Tòa án Luật biển quốc tế 54

2.4 Các quy định về phân định biển trong Công ước Luật biển 1982 61 2.4.1 Các quy định về đường cơ sở trong Công ước 1982 61 2.4.2 Phân định lãnh hải và vùng tiếp giáp lãnh hải 66 2.4.3 Phân định vùng đặc quyền kinh tế theo Công ước 1982 69 2.4.4 Phân định thềm lục địa chồng lấn giữa các quốc gia có bờ biển

nằm tiếp liền hoặc đối diện theo Công ước Luật biển 1982

72

Trang 6

2.4.5 Vai trò của đảo trong phân định biển 76

Chương 3: THỰC TIỄN PHÂN ĐỊNH BIỂN VIỆT NAM, GIẢI PHÁP

3.1.2 Tuyên bố của Chính phủ ngày 12/11/1982 về đường cơ sở

dùng để tính chiều rộng lãnh hải Việt Nam

82

3.2 Thực tiễn phân định các vùng biển của Việt Nam 88 3.2.1 Phân định ranh giới trên biển Việt Nam - Thái Lan 88 3.2.2 Phân định Vịnh Bắc Bộ giữa Việt Nam và Trung Quốc 92 3.2.3 Phân định ranh giới thềm lục địa Việt Nam - In-đô-nê-xia 99 3.2.4 Xây dựng và trình Liên hợp quốc Báo cáo quốc gia xác định

ranh giới ngoài thềm lục địa Việt Nam

102

3.3.2 Tuyên truyền, nâng cao ý thức biển đảo 105 3.3.3 Đào tạo chuyên gia nghiên cứu biển 108 3.3.4 Học tập kinh nghiệm giải quyết tranh chấp biển các nước trên

thế giới

110

3.3.5 Đẩy mạnh các hoạt động đàm phán ký kết với các nước hữu

quan về phân định biển

110

Trang 7

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu

Hiện nay trên thế giới các quốc gia đang có xu hướng tiến ra biển Bởi

vì, ở biển chứa đựng tất cả các nguồn tài nguyên thiên nhiên phục vụ đời sống của con người trong khi trên đất liền những nguồn tài nguyên đó đang dần dần cạn kiệt Trong cơn khát về lương thực, về năng lượng của con người thì biển là nơi cuối cùng để họ tìm kiếm

Trước thực trạng này, các quốc gia đang có nhiều tranh chấp trên vùng biển của mình, ngày càng gay gắt Vì vậy, vấn đề đặt ra là các quốc gia phải ngồi lại với nhau để đàm phán, thỏa thuận tìm phương pháp phân định các vùng biển, phù hợp với lợi ích của mỗi quốc gia Điều này có ý nghĩa quan trọng trong luật biển để xác định biên giới lãnh thổ quốc gia mà còn có vai trò đối với việc xác lập trật tự trên biển Bên cạnh đó, phân định biển cũng là vấn

đề có tính nhạy cảm vì liên quan trực tiếp đến chủ quyền và lợi ích quốc gia Chính vì vậy, để tránh tình trạng xung đột, việc phân định biển phải được tiến hành một cách hợp lý tôn trọng pháp luật quốc tế và thực tiễn ở các quốc gia

Biển Đông là một biển lớn vào loại nhất nhì thế giới, tương tự như Địa Trung Hải, được bao quanh bởi 9 nước: Việt Nam Trung Quốc, Philippin, Indonesia, Malaysia, Bruney, Singapo, Thái Lan, Campuchia với các yêu sách

về phạm vi vùng biển và thềm lục địa hầu hết đều chồng lấn lên nhau, gây ra các tranh chấp phức tạp

Ở biển Đông có nhiều tranh chấp về chủ quyền và quyền tài phán quốc gia trên biển, trong đó có tranh chấp có liên quan tới nhiều nước và là loại tranh chấp trên biển phức tạp trên thế giới Tranh chấp trên biển đông có ảnh hưởng đến quan hệ các nước có liên quan và của nhiều nước khác trong khu vực, trên thế giới, ảnh hưởng tới hòa bình, ổn định và quan hệ hợp tác phát triển quốc tế Sự xuất hiện khái niệm "thềm lục địa vàng" và vùng đặc quyền kinh tế đã làm cho nhiều nước trước kia không có chung đường biên giới trên

Trang 8

biển cần được giải quyết phân định Trong bối cảnh đó Việt Nam có ranh giới biển cần phân định với hàng loạt các nước trong khu vực như: Trung Quốc, Philippin, Malaysia, Indonesia, Thái Lan, Campuchia Với yêu sách của các nước ven biển Đông theo luật quốc tế mới, biển Đông hầu như bị bao phủ hết bởi các vùng biển và thềm lục địa thuộc chủ quyền và quyền tài phán quốc gia của các quốc gia đó

Cơ sở pháp lý vấn đề phân định biển quốc tế được quy định trong Công ước Luật biển 1982 Từ đó các quốc gia tiến hành gia nhập Công ước, trong

đó có Việt Nam Từ những bài học rút ra cho Việt Nam từ các vụ án điển hình

về tranh chấp biển trên thế giới có ý nghĩa quan trọng trong việc phân định biển ở Việt Nam Hiện nay Việt Nam đã phân định biển với một số nước trong khu vực: phân định giữa Việt Nam và Trung Quốc; phân định vùng nước biển lịch sử của Việt Nam và Campuchia; Phân định vùng biển của Việt Nam và Malaixia; phân định vùng biển của Việt Nam và Thái Lan Từ thực tiễn cho thấy việc nghiên cứu một cách toàn diện những vấn đề pháp lý về việc phân định biển của Việt Nam theo quy định của Công ước Luật biển

1982 nhằm tìm ra những giải pháp hữu dụng cho việc hoàn thiện pháp luật Việt Nam trong lĩnh vực này trở nên có ý nghĩa quan trọng

Xuất phát từ những lý do trên, tác giả luận văn đã lựa chọn nghiên cứu

đề tài: "Vấn đề phân định biển theo Công ước Luật biển năm 1982"

2 Tình hình nghiên cứu đề tài

Liên quan đến vấn đề biển, đã có rất nhiều đề tài nghiên cứu và bài viết

về các nội dung cơ bản của Công ước Luật biển năm 1982, vấn đề chống và đấu tranh chống tội phạm trên biển, vấn đề khai thác chung trên biển… Tuy nhiên, riêng đối với lĩnh vực "phân định biển" đến nay có rất ít đề tài nghiên cứu chuyên sâu

Trên các trang mạng cũng có một số bài đánh giá tình hình về phân định theo Công ước 1982, tuy nhiên những bài viết đó mới mang tính nhỏ lẻ,

Trang 9

chưa thống nhất trong cách lập luận và thực tiễn Trong bài viết này, tác giả luận văn đã nghiên cứu các vấn đề lý luận về phân định trong luật quốc tế, tình tranh chấp các vùng biển của các nước trên thế giới đã được cả nhân loại ghi nhận, đó là các án lệ, các vụ án do Tòa án Quốc tế, Tòa án Luật biển hay Tòa trọng tài giải quyết Tác giả đi sâu nghiên cứu các quy định về phân định trong Công ước Luật biển 1982 và từ đó liên hệ với thực tiễn quản lý vùng biển của nước nhà qua hệ thống văn bản pháp lý Và từ đó rút ra những bài học để áp dụng vào thực tế nhằm hạn chế những tranh chấp trên biển đang diễn ra hiện nay

3 Tính mới và những đóng góp của đề tài

Đây là một đề tài không mới nhưng rất hấp dẫn, đến nay có một đề tài

có cùng nội dung được công bố tuy nhiên cách thức tiếp cận và đối tượng nghiên cứu không như những đề tài cũ Tính mới của của đề tài là khai thác, phân tích, làm rõ các quy định của Công ước Luật biển 1982 và các vụ án điển hình về phân định biển từ trước đến nay từ đó áp dụng vào thực tiễn phân định của Việt Nam Thành công của đề tài này có thể làm phong phú thêm kho tàng lý luận cho luật quốc tế ở Việt Nam, cũng như nguồn tài liệu tham khảo cho công tác đào tạo và nghiên cứu khoa học của các cơ sở đào tạo luật học nói chung và luật quốc tế nói riêng

4 Mục tiêu, đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Mục tiêu nghiên cứu: Luận văn tập trung đi sâu phân tích các quy định

có liên quan trong Công ước Luật biển 1982 đồng thời cũng viện dẫn các vụ án

về tranh chấp điển hình trên biển góp phần đảm bảo an toàn an ninh trên biển

Đối tượng nghiên cứu: Công ước Luật biển năm 1982 (chủ yếu), các

vụ án giải quyết tranh chấp trên biển trong lịch sử phát triển luật biển, pháp luật quốc gia các hiệp định với các nước láng giềng và các văn bản có liên quan, các thông tin, tài liệu trên truyền hình, báo, đài, các ấn phẩm, bài viết đã được đăng tải trên các kênh thông tin chính thống và các tạp chí chuyên ngành

Trang 10

Phạm vi nghiên cứu: Các vùng biển có liên quan đến đề tài nghiên

cứu, chủ yếu là vùng biển quốc gia và quốc tế, các tài liệu có liên quan điều chỉnh việc phân định biển trong chuyên ngành luật biển quốc tế

5 Phương pháp nghiên cứu

Trong quá trình nghiên cứu, tác giả sử dụng bốn phương pháp nghiên cứu chủ yếu gồm: Phương pháp thống kê, phương pháp phân tích, phương pháp tổng hợp và phương pháp so sánh

Luận văn đã kết hợp bốn phương pháp trên để thống kê, tổng hợp, phân tích các quy định về phân định biển trong các điều ước quốc tế đưa ra những đánh giá cụ thể về thực trạng phân định biển, có sự so sánh giữa các quy định trong Luật Biển quốc tế với các điều ước quốc tế có liên quan Việc phân tích các quy định về phân định biển theo điều ước quốc tế đều lồng ghép viện dẫn

số liệu thống kê các vụ án cụ thể phân định biển quốc tế và phân tích, trích dẫn các quy định tương ứng có liên quan của hệ thống pháp luật Việt Nam

Đồng thời, luận văn cũng phân tích, đánh giá về tình hình gia nhập và thực thi các điều ước quốc tế đặc biệt là công tác "nội luật hóa" các quy phạm pháp luật quốc gia và những thành tích đã đạt được trong quá trình hợp tác phân định biển trong thời gian qua, những khó khăn và đề xuất kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả của công tác này trong thời gian tới

6 Kết cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của luận văn gồm 3 chương:

Chương 1: Tổng quan về phân định biển

Chương 2: Những nguyên tắc, phương pháp và quy định phân định

theo Công ước Luật biển 1982

Chương 3: Thực tiễn phân định Việt Nam, giải pháp và kiến nghị

Trang 11

Chương 1

TỔNG QUAN VỀ PHÂN ĐỊNH BIỂN

1.1 VAI TRÒ VÀ TẦM QUAN TRỌNG CỦA BIỂN

1.1.1 Vai trò của biển đối với kinh tế thế giới

Từ xưa đến nay người ta vẫn quen gọi hành tinh của của chúng ra là trái đất nhưng thực ra 71% bề mặt trái đất là biển cả chiếm khoảng 362 triệu km2

và 29% diện tích đất còn lại chỉ là những vùng đảo giữa biển cả mênh mông Các đại lục Á, Phi, Mỹ, Âu, Nam cực trên thế giới chỉ là những hòn đảo nổi giữa biển và đại dương Đó là các đại dương Thái Bình Dương, Đại Tây Dương, Ấn Độ Dương, Bắc Băng Dương và Nam Băng Dương cùng với các biển rìa của chúng Thái Bình Dương nằm giữa các khối đại lục châu Á và Châu Mỹ với diện tích là 180 triệu km2, bằng cả Ấn Độ Dương và Đại Tây Dương cộng lại Toàn bộ diện tích đất trên thế giới có thể chứa gọn trong lòng Thái Bình Dương Đại dương lớn thứ hai trên thế giới là Đại Tây Dương rộng khoảng 106 triệu km2 nằm giữa châu Âu, Châu Phi và Châu Mỹ Tiếp đó là

Ấn Độ Dương nằm ở phía Nam Ấn Độ với diện tích khoảng 75 triệu km2 Điểm sâu nhất của đại dương thế giới là ở vòng cung đảo Marian trong Thái Bình Dương với độ sâu 11.034 m Độ sâu trung bình của biển cả là 4000 m Nói như vậy mới hình dung hết được vai trò quan trọng của biển đối với cuộc sống và phát triển của loài người Tuy con người không thể cư trú được ngoài biển khơi nhưng biển và đại dương lại là nơi bắt nguồn của sự sống và cũng là nơi tạo điều kiện thuận lợi cho cuộc sống và sự phát triển của loài người

Biển và đại dương là nguồn tài nguyên vô tận đã từng nuôi sống loài người từ trước tới nay và nhất là trong thời gian hiện nay khi tài nguyên trên đất đã gần cạn kiệt thì tương lai phát triển của loài người lại càng phụ thuộc nhiều hơn vào việc khai thác các tài nguyên của biển phục vụ cho cuộc sống của loài người Ngày nay, với sự phát triển nhanh chóng của nền

Trang 12

khoa học hiện đại, công nghệ khai thác và sử dụng các tài nguyên của biển

có những bước nhảy vọt, ta lại càng thấy rõ tầm quan trọng của biển đối với đời sống kinh tế, chính trị và xã hội của loài người Các nhà khoa học

dự đoán rằng trong một thời gian không xa nữa con người có thể khai thác được tất cả các loại tài nguyên của biển như đã từng khai thác được trên đất liền Khối lượng nước chiếm 97,3% toàn bộ lượng nước của hành tinh Trong nước chứa nhiều tài nguyên sinh vật quý giá cũng như các tài nguyên không sinh vật hòa tan trong biển (trên 40 thành phần hóa chất trong nước biển) Sản phẩm lượng đánh bắt cá biển của thế giới từ năm

1989 là 90 triệu tấn năm Sản lượng sản xuất thực vật biển khoảng 300 tỷ tấn năm trong đó các động vật "ăn cỏ" tiêu thụ 70 tỷ tấn, con người tiêu thụ trực tiếp 250 -300 triệu tấn

Thềm lục địa chứa 90% trữ lượng dầu khí ngoài khơi Các nhà khoa học đánh giá, đáy đại dương và thềm lục địa có tiềm năng dầu khí gấp hai lần tiềm năng trên đất liền Từ năm 1990, thềm lục địa cung cấp trên 30% sản lượng dầu khí, và 50% sản lượng khí thế giới Ngoài ra, còn có thể tìm thấy tại đây các tài nguyên khác của đáy biển và lòng đất dưới đáy biển như cát, sỏi, san hô, trai ngọc, than, các tài nguyên do các dòng sông và hiện tượng xói

lở của bờ biển đưa ra biển như các hạt khoáng sản hoặc các bụi kim loại có nguồn gốc từ đất liền

Đáy đại dương và các dải núi đại dương nơi chứa đựng các quặng đa kim với trữ lượng 60 000 tấn/km2 trong một số vùng của Thái Bình Dương Các quặng này chứa đồng, coban, titan, nhưng phần lớn là sắt và mangan

Tổng giá trị các tài nguyên biển ước tính khoảng 7 ngàn tỷ USD một năm Con số này chưa tính đến các giá trị khác của biển cả như Công nghiệp giải trí, giao thông vận tải, thông tin, điều hòa khí hậu và hấp thụ tiêu thụ chất thải Khoảng 90% lượng hàng hóa buôn bán quốc tế được vận chuyển bằng đường biển

Trang 13

Ngoài các dạng tài nguyên kể trên, biển còn cung cấp cho con người nguồn tài nguyên khổng lồ khác là nước biển và các năng lượng biển do các quá trình hoạt động và tính chất lý hóa của nước biển sản sinh ra như thủy triều sóng, chênh lệch nhiệt độ của nước biển…

Biển và các đảo còn cung cấp một loại tài nguyên vô hình phong phú là tiềm năng du lịch biển Thực tiến cho thấy nhiều nước trên thế giới đã phát triển ngành du lịch biển của mình như một ngành kinh tế chủ chốt mang lại nhiều lợi nhuận cho nền kinh tế kinh tế quốc dân

1.1.2 Vai trò của biển đối với chính trị thế giới

Biển có vai trò cực kỳ quan trọng trong việc phát triển chính trị và kinh

tế thế giới, biển và đại dương thuộc về tự nhiên trước khi thuộc về luật pháp Trước đây biển cả là một môi trường thông thương Qua hàng thế kỷ, theo sóng biển, các tư tưởng đã được truyền bá, con người và hàng hóa đã được vận chuyển Biển cả gắn liền với các phát hiện lớn, các cuộc truyền đạo và các cuộc chinh phục viễn chinh Biển cả còn mang lại cho con người nguồn thức ăn quan trọng Từ ngàn xưa cùng với trồng trọt, hái lượm, nghề đánh cá cũng đã phát triển, đóng vai trò không thể thiếu trong hoạt động của con người, thậm chí cho đến cả ngày nay

Đặc trưng của một nền công nghiệp hiện đại là có sức sản xuất lớn trên một địa bàn tập trung hẹp, nên cần có tuyến đường vận tải thuận tiện chuyên chở nguyên vật liệu và các sản phẩm trong khu vực rộng lớn Với sự phát triển ngày càng cao của công nghiệp hiện đại, tập trung và với một thị trường tiêu thụ sản phẩm rộng lớn, các khu vực trên thế giới cần phải gắn kết chặt chẽ với nhau bằng đường giao thông vận tải thuận lợi và liên tục Các khu vực này bị ngăn cách bởi biển cả nên con đường giao thông thuận tiện và rẻ nhất vẫn là tuyến đường giao thông bằng đường biển Vận chuyển hàng hóa và nguyên vật liệu bằng đường biển có tính ưu việt hơn hẳn so với các phương thức khác: Có thể vận chuyển liên tục tới tất cả các nơi trên thế giới vì các

Trang 14

biển trên thế giới đều nối liền với nhau, giá chi phí vận tải thấp và thích hợp cho việc vận tải các loại hàng hóa cồng kềnh Như vậy, trong sự phát triển kinh tế, chính trị của thế giới hiện đại, các mối quan hệ đều có tính chất toàn cầu, và biển đã trở thành con đường thông thương không thể thiếu được trong

sự phát triển chính trị kinh tế thế giới

Biển ngày càng có một vai trò quan trọng sống còn các quốc gia ven biển, đồng thời nó cũng chứa đựng các mầm mống tranh chấp giữa các quốc gia có bờ biển tiếp liền hoặc đối diện nhau Các quốc gia có biển ngày càng

có ý thức được tầm quan trọng của các vùng biển thuộc chủ quyền, quyền tài phán quốc gia Điều này tất yếu sẽ dẫn tới các tranh chấp nẩy sinh giữa các quốc gia, nó đòi hỏi phải có một cơ chế pháp lý nhất định để giải quyết các tranh chấp này Song song với việc phát triển các nguyên tắc pháp lý quốc tế, các quốc gia có liên quan cũng chủ động đàm phán giải quyết tạo thành tiền

lệ, thực tiễn quốc tế quan trọng vào việc phát triển luật biển quốc tế

1.2 KHÁI NIỆM VỀ PHÂN ĐỊNH BIỂN THEO CÔNG ƯỚC LUẬT BIỂN 1982

1.2.1 Khái niệm về phân định biển trong luật quốc tế

Ngay từ khi các Công ước của Liên hợp quốc về Luật biển năm 1958

và 1982 còn chưa hình thành, nhiều quốc gia trên thế giới đã đưa ra các yêu sách đối với các vùng biển thuộc chủ quyền, quyền chủ quyền và quyền tài phán của quốc gia mình Với sự phát triển của Luật biển quốc tế các quốc gia ven biển lại càng lợi dụng một cách tối đa các điều khoản của Công ước

để mở rộng lãnh hải, vùng tiếp giáp, vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của mình Với cách giải thích khác nhau nhằm đem lại lợi ích tối đa cho mình, yêu sách của các quốc gia về các vùng biển chồng lấn lên nhau là một điều tất yếu Các vùng biển chồng lấn này cần được giải quyết phân định Tuy nhiên các điều khoản của Công ước chưa đủ làm cơ sở pháp lý

để các quốc gia có thể dễ dàng đi đến thỏa thuận phân định các vùng biển tranh chấp của mình

Trang 15

Theo quy định của Luật biển quốc tế, tất cả các quốc gia ven biển đều được quyền hoạch định các vùng biển của mình như nội thủy, lãnh hải, vùng đặc quyền kinh tế,… đây không những là quyền mà ở một khía cạnh nào đó còn là nghĩa vụ của các quốc gia, đặc biệt là các quốc gia thành viên của Công ước 1982, nhằm tạo ra sự ổn định và trật tự trong việc sử dụng và quản lý biển Trong trường hợp vùng biển của quốc gia độc lập, không có liên quan đến quyền lợi của quốc gia khác thì ranh giới của các vùng biển do các quốc gia ven biển xác định phù hợp với luật pháp và thực tiễn quốc tế Tuy nhiên trong trường hợp vùng biển quốc gia ven biển lại nằm tiếp liền, đối diện hoặc chồng lấn với vùng biển của quốc gia khác thì việc hoạch định ranh giới biển cần phải có sự thỏa thuận của các quốc gia liên quan

Một cách tổng quát, phân định biển được hiểu là cách xác định ranh giới biên giới quốc gia trên biển và phân định giữa các vùng biển trong phạm

vi chủ quyển, quyền chủ quyền của quốc gia đồng thời là quá trình hoạch định đường ranh giới phân chia các vùng biển giữa hai hay nhiều quốc gia hữu quan Vấn đế phân định biển được đặt ra cho các quốc gia có các vùng biển tiếp liền hoặc đối diện nhau Việc phân định chủ quyền quốc gia hoặc xác định đường biển giới phân chia vùng biển thuộc quyền chủ quyền quốc gia

1.2.2 Vai trò phân định biển

Phân định biển là một vấn đề quan trọng trong luật biển Vấn đề này có ý nghĩa đối với mỗi quốc gia có biển trong việc xác định biên giới lãnh thổ quốc gia trên biển, xác định các vùng biển thuộc chủ quyền, quyền chủ quyền quốc gia đó là các phân định chính xác các vùng biển nội thủy, lãnh hải, vùng tiếp giáp lãnh hải, vùng đặc quyền kinh tế; xác định ranh giới biển giữa các quốc gia và vùng biển quốc tế, cũng như vùng đất dưới vùng nước biển quốc tế

Phân định biển đóng góp vai trò trong việc ổn định hòa bình thế giới

Đó là việc làm phân định lãnh thổ quốc gia xác định vùng biển thuộc chủ quyền quốc gia, vùng biển thuộc quyền chủ quyền, vùng biển thuộc quyền tài

Trang 16

phán của mỗi quốc gia Từ đó làm cho quan hệ các quốc gia có biển thêm ổn định hòa bình không có tranh chấp đối với an ninh, kinh tế và chính trị của mỗi quốc gia liên quan

Vấn đề phân định biển của các quốc gia có biển được giải quyết thì sẽ tạo

ra những điều kiện thuận lợi cho việc khai thác tài nguyên thiên nhiên trên biển

Phân định biển có vai trò trong việc thông thương hàng hải, hàng không, kinh tế thương mại đầu tư Bởi vì biển là khâu quan trọng trong cơ cấu địa lý kinh tế thế giới, là con đường giao lưu thông suốt về kinh tế chính trị trên trái đất Tuyến đường giao thông bằng đường biển thuận tiện và rẻ nhất, cho nên tỷ trọng hàng hóa vận chuyển bằng đường biển chiếm gần 80% so với các phương thức vận chuyển khác Phân định biển có vai trò lớn đối với hàng không, đường bay trên không phụ thuộc vào tọa độ được xác định trên biển, để không bay vào vùng không được bay Phân định tốt cũng là nơi để thu hút sự đầu tư về thương mại phát triển kinh tế trên biển Sự đầu tư về khoa học kỹ thuật, máy móc hiện đại để thăm dò, tìm hiểu đi đến khai thác những tài nguyên thiên nhiên trên biển

Bên cạnh đó phân định góp phần ổn định hòa bình trong khu vực và trên thế giới, các nước có biển hay không có biển có thể cùng nhau hợp tác khác thác tài nguyên, cùng nhau phát triển bền vững, cùng nhau hợp tác đầu tư và khoa học, kỹ thuật để cuối cùng các quốc gia cùng được hưởng lợi ích từ biển

Như vậy, phân định đóng góp vai trò đối với việc xác lập trật tự trên biển Tuy nhiên phân định biển cũng là một vấn đề có tính nhạy cảm vì liên quan trực tiếp đến chủ quyền và lợi ích quốc gia Chính vì vậy, để tránh tình trạng xung đột, việc phân định biển phải được tiến hành một cách hợp lý, tôn trọng pháp luật quốc tế và thực tiễn ở các quốc gia

Phân định biển đây là vấn đề hết sức quan trọng trong việc ổn định trật

tự trên biển hiện nay, nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho kinh tế biển phát triển, đồng thời góp phần giải quyết tốt các tranh chấp trên biển và phân định biên

Trang 17

giới biển một cách hợp lý giữa các nước láng giềng Thực tế, riêng ở khu vực biển Đông, nhất là đối với Việt Nam, cần phải giải quyết sòng phẳng vấn đề này với Trung Quốc (ở vịnh Bắc Bộ), với Campuchia và Thái Lan (trong vịnh Thái Lan), với Indonesia và Malaysia (vì thềm lục địa bị chồng lấn)

Theo quan điểm luật quốc tế, việc phân định biển khi các vùng biển của các nước láng giềng "đụng nhau", chồng lấn lên nhau, cho dù đó là lãnh hải hay vùng đặc quyền kinh tế, thềm lục địa đều phải bảo đảm thực hiện nguyên tắc hợp tác hòa bình, không dùng vũ lực, theo con đường đàm phán thỏa thuận với nhau đúng luật quốc tế để đạt được giải pháp công bằng

Như vậy theo Công ước Luật biển năm 1982, Phân định biển được hiểu

là việc hoạch định đường biên giới quốc gia trên biển, xác định các vùng biển thuộc chủ quyền, quyền chủ quyền, quyền tài phán quốc gia, xác định vùng biển của quốc gia với Vùng biển quốc tế và vùng đất nằm ngoài quyền tài phán quốc gia được thiết lập bởi các quốc gia, trên cơ sở thỏa thuận hoặc thông qua thực tiễn quốc tế có tính tập quán, điều chỉnh quy chế pháp lý các vùng biển cũng như các quốc gia trong lĩnh vực này

1.3 ĐẶC ĐIỂM VÀ PHÂN LOẠI PHÂN ĐỊNH BIỂN THEO CÔNG ƯỚC LUẬT BIỂN 1982

1.3.1 Đặc điểm của phân định biển quốc tế

Phân định biển được hiểu việc hoạch định đường biên giới quốc gia trên biển của quốc gia đó, giữa các quốc gia với nhau và giữa vùng biển quốc gia và Vùng biển quốc tế Về cấu trúc pháp lý thì phân định biển là một chế định nằm trong Luật biển quốc tế thuộc hệ thống Luật quốc tế vì vậy nó mang tính chất

và đặc điểm của Luật biển quốc tế Bao gồm tổng thể các nguyên tắc, quy phạm điều chỉnh quan hệ quốc tế phát sinh trong lĩnh vực sử dụng và khai thác biển vì mục đích hòa bình và lợi ích thiết thực của các chủ thể khác nhau

Về chủ thể của phân định biển quốc tế, trước hết là các quốc gia do

việc sử dụng biển và khai thác biển tham gia quan hệ này Đây là chủ thể phổ

Trang 18

biến nhất của Luật biển quốc tế, bởi vì biển vốn liên quan đến mọi mặt của đời sống một quốc gia Với sự phát triển của khoa học kỹ thuật và kinh tế toàn cầu, biển không chỉ có giá trị về kinh tế mà còn đặc biệt quan trọng đối với an ninh quốc phòng và môi trường Tất cả những lĩnh vực này đều quan hệ mật

thiết đến lợi ích thiết thực và sống còn của mỗi quốc gia

Trong luật biển quốc tế, mỗi quốc gia có đặc điểm vị trí địa lý khác nhau được hưởng lợi ích trong khai thác và sử dụng biển khác nhau, mặc dù Luật biển luôn có những nguyên tắc và quy định pháp luật để đảm bảo sự bình đẳng giữa các quốc gia trên biển

Mỗi quốc gia đều có phương pháp đề ra những biện pháp bảo vệ vùng biển của mình cũng như phân vùng để quản lý Với những tính chất trên, trong việc phân định biển quốc gia là chủ thể đầu tiên thông qua việc các quốc gia ngồi đàm phán để phân định vùng biển của mình khi có tranh chấp Những đàm phán không có kết quả thì các quốc gia phải nhờ bên thứ ba giúp

đỡ Chủ thể có thể dàn xếp cho các quốc gia ở đây có thể là quốc gia thứ ba, hoặc tòa án công lý quốc tế, tòa trọng tài đặc biệt

So với phân định biên giới trên đất thì việc phân định biển có những đặc thù như sau:

Việc hoạch định biên giới trên đất liền bằng hình thức là cắm mốc, đóng cột bê tông để đánh dấu Tuy nhiên trên biển không làm được như vậy, việc xác định đường biên giới trên biển phức tạp hơn do môi trường biển đặc thù, mặt nước biển mênh mông không xác định được ranh giới bằng hiện vật như đất liền

Phương pháp xác định đường ranh giới trên biển là những hình học, sử dụng thiên văn, dải hoa tiêu hoặc bằng toán học, xác định điểm bằng kinh tuyến vĩ tuyến, tọa độ

Sau khi phân định biển việc kiểm tra, kiểm soát để thực thi cũng gặp nhiều khó khăn hơn so với biên giới trên đất liền

Trang 19

Bên cạnh đó việc xác định ranh giới trên biển phải phụ thuộc vào vị trí các đảo, luồng lạch, cấu trúc bờ biển, chiều dài bờ biển, cấu trúc các đảo, quần đảo, dựa vào truyền thống lịch sử đánh bắt cá, số lượng dân cư ven biển của quốc gia đó

Trên đây là một số đặc điểm đặc thù của phân định biển, dù quá trình phân định gặp khó khăn và nhạy cảm nhưng nếu được các quốc gia hữu quan tích cực nghiên cứu, ngồi đàm phán, thỏa thuận một cách tích cực, cùng với

áp dụng các phương thức hiện đại, công nghệ mới thì vấn đề phân định được giải quyết Đây cũng là nền tảng góp phần vào ổn định chính trị, an ninh hòa bình của thế giới

1.3.2 Phân loại phân định biển

Trước tiên định nghĩa biên giới quốc gia là ranh giới phân định lãnh thổ quốc gia này với lãnh thổ quốc gia khác hoặc với các vùng quốc gia có quyền chủ quyền trên biển Hoặc nói là, biên giới quốc gia là hàng rào pháp lý được vạch ra theo tâm của trái đất qua các cột mốc quốc gia để giới hạn vùng đất, vùng nước, vùng trời và lòng đất thuộc chủ quyền hoàn toàn toàn và riêng biệt của quốc gia

Biên giới quốc gia trên biển là ranh giới phía ngoài của lãnh hải do quốc gia ven biển thiết lập phù hợp với luật pháp và tập quán quốc tế Đối với các đảo của một quốc gia nằm ngoài phạm vi lãnh hải của quốc gia này, Biên giới quốc gia trên biển là đường ranh giới phía ngoài của lãnh hải bao quanh đảo Biên giới trên biển giữa các quốc gia kế cận hoặc đối diện nhau có lãnh hải chồng lấn nhau được thiết lập trên cơ sở thỏa thuận giữa các quốc gia liên quan và được thể hiện bằng điều ước về hoạch định biên giới biển

Cách xác định biên giới quốc gia trên bộ khác với cách xác định biên giới quốc gia trên biển Trên bộ, người ta hoạch định bằng cách xác định vị trí, các điểm tọa độ đường biên giới đi qua, cách xác định biên giới qua sông suối, đồi núi, sa mạc…, sau đó phân giới thực địa là quá trình hóa đường biên

Trang 20

giới, cuối cùng là cắm mốc, cắm các cột mốc cụ thể tại các điểm đã được các bên đánh dấu trên thực địa

Phân định biển được phân loại trong các trường hợp sau:

- Phân định biển khi hai quốc gia có bờ biển đối diện hoặc liền kề nhau Trường hợp này các quốc gia liên quan sẽ thỏa thuận xác định biên giới biển thông qua việc ký kết hiệp định phân định biên giới trên biển Thông thường đường biên giới khi hai quốc gia đối diện hoặc liền kề nhau được xác định là đường trung tuyến hoặc liền kề nhau được xác định là đường trung tuyến hoặc đường cách đều để phân định ranh giới vùng nội thủy, lãnh hải giữa các quốc gia nếu các quốc gia không có thỏa thuận nào khác

- Phân định vùng biển thuộc chủ quyền, quyền chủ quyền, quyền tài phán của quốc gia ven Quốc gia ven biển tự mình xác định biên giới trên biển để phân định nội thủy, lãnh hải, thuộc chủ quyền quốc gia với các vùng quốc gia có chủ quyền trên biển (tiếp giáp lãnh hải, đặc quyền kinh tế và thềm lục địa)

Trong trường hợp này quốc gia ven biển sẽ đơn phương hoạch định trên cơ sở tuân thủ các nguyên tắc chung của Luật biển quốc tế bằng cách tuyên bố đường cơ sở và chiều rộng của lãnh hải, đường biền giới quốc gia trên biển chính là ranh giới ngoài của lãnh hải

- Phân định giữa vùng biển quốc gia và vùng, sau khi quốc gia ven biển

tự hoạch định đường biển giới quốc gia trên biển, phân định các vùng biển thuộc chủ quyền, quyền chủ quyền, quyền tài phán của mình, quốc gia đó tiếp tục phân định giữa vùng biển của mình với vùng biển nằm ngoài quyền tài phán của quốc gia Vùng có chế độ pháp lý riêng, là di sản chung của loài người, ở đây tất cả các nước có biển hay nước bất lợi về địa lý đều có quyền được sử dụng trên cơ sở tuân thủ theo quy định của Luật biển quốc tế

Như vậy, việc phân định biển có nhiều điểm khác biệt và phức tạp hơn

so với việc phân định ranh giới lãnh thổ trên đất liền Vấn đề này phụ thuộc vào năng lực của mỗi quốc gia, dựa vào kỹ thuật khoa học, toán học, thiên

Trang 21

văn, tinh thông về luật pháp để đàm phán với quốc gia khác để đưa ra phương pháp phân định biển một cách công bằng, tạo ra sự ổn định chính trị an ninh không có tranh chấp của mỗi quốc gia trong khu vực cũng như trên thế giới

1.4 VAI TRÒ VÀ LỊCH SỬ RA ĐỜI CỦA CÔNG ƯỚC LUẬT BIỂN 1982

1.4.1 Vai trò của Công ước Luật biển 1982

Công ước Luật biển 1982 là một cống hiến quan trọng vào việc giữ gìn hòa bình, công lý và tiến bộ cho tất cả các dân tộc trên thế giới

Công ước Luật biển 1982 ra đời với sự quan tâm đúng mức đến chủ quyền của tất cả các quốc gia, thiết lập được một trật tự pháp lý cho các biển

và đại dương làm dễ dàng cho việc sử dụng công bằng và hiệu quả những tài nguyên, việc bảo tồn những nguồn lợi sinh vật của các biển và các đại dương, việc nghiên cứu, bảo vệ và gìn giữ môi trường biển Việc thực hiện các điều khoản trong Công ước sẽ góp phần thiết lập nên một trật tự kinh tế quốc tế đúng đắn và công bằng, trong đó có tính đến các lợi ích và nhu cầu của toàn thể loài người và đặc biệt là các lợi ích và nhu cầu riêng của các nước đang phát triển, dù có biển hay không có biển

Trong Công ước luật biển 1982 đã tuyên bố khu vực đáy biển và đại dương, cũng như lòng đất dưới đáy các khu vực nằm ngoài giới hạn chung của loài người và việc thăm dò, khai thác khu vực này sẽ được tiến hành vì lợi ích của toàn thể loài người, không phụ thuộc vào vị trí địa lý của các quốc gia

Quá trình pháp điển hóa và sự phát triển theo chiều hướng tiến hóa của Luật biển được thực hiện trong Công ước sẽ góp phần tăng cường hòa bình, an ninh, hợp tác và quan hệ hữu nghị giữa tất cả các dân tộc phù hợp với các nguyên tắc công bằng và bình đẳng về quyền, và sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho tiến bộ về kinh tế và xã hội của tất cả các dân tộc trên thế giới, phù hợp với các mục tiêu và các nguyên tắc của Liên hợp quốc như đã được nêu trong Hiến chương;

Công ước Luật biển 1982 có vai trò chỉ đạo đối với vấn đề phân định biển Công ước là cơ sở pháp lý vững vàng và chắc chắn nhất khi các quốc gia

Trang 22

hữu quan thực hiện việc phân định biển của mình; Công ước tạo ra môi trường ổn định, trật tự pháp lý trên biển giúp quá trình phân định biển tiến hành thuận lợi; Công ước thiết lập một trật tự kinh tế quốc tế đúng đẵn và công bằng vì lợi ích và nhu cầu của toàn thể loài người đặc biệt nhu cầu riêng của các quốc gia có biển hay không có biển

Như vậy, Công ước Luật biển 1982 có vai trò quan trọng việc phân định biển, khi có tranh chấp thì cơ sở pháp lý đầu tiên mỗi quốc gia áp dụng

là Công ước

1.4.2 Lịch sử ra đời của Công ước Luật biển 1982

Công ước Liên hợp quốc về Luật biển (tiếng Anh: United Nations Convention on Law of the Sea - UNCLOS), cũng gọi là Công ước Luật biển hay cũng được những người chống đối nó gọi là Hiệp ước Luật biển, là một hiệp ước quốc tế được tạo ra trong Hội nghị về luật biển Liên hợp quốc lần thứ 3 diễn ra từ năm 1973 cho đến 1982 với các chỉnh sửa đã được thực hiện trong Hiệp ước thi hành năm 1994 Công ước Luật biển là một bộ các quy định

về sử dụng các đại dương của thế giới, chiếm 70% diện tích bề mặt trái đất Công ước đã được ký kết năm 1982 để thay thế cho 4 hiệp ước năm 1958 đã hết hạn UNCLOS có hiệu lực từ năm 1994, cho đến ngày 20 tháng 9 năm

2013, có 166 quốc gia và Cộng đồng châu Âu đã tham gia Công ước này [86] Hoa Kỳ không tham gia vì nước này tuyên bố rằng hiệp ước này không có lợi cho kinh tế và an ninh của Mỹ Công ước quy định quyền và trách nhiệm của các quốc gia trong việc sử dụng biển, thiết lập các hướng dẫn rõ ràng cho các hoạt động kinh doanh, bảo vệ môi trường và cải thiện quản lý các tài nguyên thiên nhiên đại dương Các sự kiện mà thuật ngữ đề cập trong Công ước là: Công ước về Luật biển Liên hợp quốc lần 1, Công ước về Luật biển Liên hợp quốc lần 2, Công ước về Luật biển Liên hợp quốc lần 3 Công ước này là kết quả của Công ước về Luật biển Liên hợp quốc lần 3 và cũng mang tên gọi Công ước về Luật biển Liên hợp quốc

Trang 23

Trong khi Đại hội đồng Liên hợp quốc nhận được các công cụ phê chuẩn và gia nhập và Liên hợp quốc quy định ủng hộ các cuộc họp của các quốc gia là thành viên của Công ước thì Liên hợp quốc không có vai trò hoạt động trong việc thi hành Công ước này Tuy nhiên các tổ chức liên chính phủ

tự trị như: Tổ chức Hàng hải Quốc tế, Ủy ban Cá voi Quốc tế và Cơ quan Quản lý đáy biển quốc tế được Công ước này thành lập lại có một vai trò trong việc thực thi Công ước

LOS đã tỏ ra cần thiết do tính pháp lý yếu của ý niệm "quyền tự do về biển" có từ thế kỷ 17: quyền của các quốc gia đã bị giới hạn trong một vành đai lãnh hải mở rộng ra từ các bờ biển của quốc gia đó, thường là 3 hải lý, theo quy định phát đạn pháo được thẩm phán người Hà Lan Cornelius Bynkershoek phát triển Tất cả các lãnh hải nằm ngoài biên giới quốc gia được xem như lãnh hải quốc tế - tự do cho tất cả các quốc gia, nhưng không

thuộc quốc gia nào cả (nguyên tắc mare liberum được Grotius công bố)

Đầu thế kỷ 20, nhiều quốc gia biểu lộ ý muốn mở rộng quyền tuyên bố chủ quyền quốc gia nằm đưa các nguồn tài nguyên khoáng sản, bảo vệ nguồn

cá và có các phương tiện để thực thi kiểm soát ô nhiễm Hội Quốc Liên đã tổ chức một hội nghị năm 1930 tại Hague để bàn về điều này, nhưng hội nghị không đạt được thỏa thuận nào

Một quốc gia phản ánh nguyên tắc luật bất thành văn quốc tế về quyền một quốc gia để bảo vệ tài nguyên thiên nhiên của mình là Hoa Kỳ, khi năm

1945, Tổng thống Harry S Truman đã mở rộng sự kiểm soát quốc gia trên các tài nguyên thiên nhiên ở trong thềm lục địa của mình Các quốc gia khác cũng nhanh chóng ganh đua theo Mỹ Giữa năm 1946 và 1950, Argentina, Chile, Peru và Ecuador đều nới rộng chủ quyền của mình ra khoảng cách 200 hải lý nhằm bao quát cả ngư trường trong hải lưu Humboldt của họ Các quốc gia khác đã nới rộng vùng lãnh hải đến 12 hải lý

Trang 24

Đến năm 1967, chỉ có 25 quốc gia vẫn sử dụng giới hạn 3 hải lý, 66 quốc gia đã quy định giới hạn lãnh hải 12 hải lý và 8 quốc gia đưa ra giới hạn

200 hải lý Để xem bảng các tuyên bố hàng hải được Liên hợp quốc biên tập (xem [34]) Theo bảng này, đến ngày 27 tháng 7 năm 2007, chỉ có vài nước sử dụng giới hạn 3 hải lý là (Jordan, Palau và Singapore) Giới hạn 3 hải lý này cũng được sử dụng ở một số đảo của Úc, một khu vực của Belize, một vài eo biển của Nhật Bản, một vài khu vực của Papua New Guinea, và một vài lãnh thổ phục thuộc của Anh Quốc như Anguilla

Hội nghị Liên hợp quốc về Luật Biển Lần I, năm 1956, Liên hợp quốc

tổ chức Hội nghị về Luật Biển đầu tiên (UNCLOS I) ở Geneva, Thụy Sĩ Hội nghị này đạt được bốn hiệp định ký kết năm 1958: Công ước về Lãnh Hải và vùng tiếp giáp, có hiệu lực vào ngày 10/09/1964; Công ước về Thềm Lục Địa,

có hiệu lực vào ngày 10/06/1964; Công ước về Hải Phận Quốc Tế, có hiệu lực vào ngày 30/09/1962; Công ước về Nghề Cá và Bảo tồn Tài nguyên sống ở Hải phận quốc tế, có hiệu lực vào ngày 20/03/1966 Mặc dầu Hội nghị lần này được cho là thành công, nhưng nó vẫn để ngỏ vấn đề quan trọng là bề rộng của vùng lãnh hải

Hội nghị Liên hợp quốc về Luật Biển Lần II, năm 1960, Liên hợp quốc

tổ chức Hội nghị về Luật Biển lần hai ("UNCLOS II"); tuy nhiên, hội nghị sáu tuần ở Geneva không đạt được tiến triển nào mới Nhìn chung, các nước đang phát triển chỉ tham dự như là như là khách, liên minh, hoặc nước độc lập của Mỹ hay Liên Xô mà không nói lên được tiếng nói của mình

Hội nghị Liên hợp quốc về Luật Biển Lần III, năm 1967, vấn đề về các tuyên bố khác nhau về lãnh hải đã được nêu ra tại Liên hợp quốc Năm 1973,

Hội nghị Liên hợp quốc lần thứ ba về Luật biển (Third United Nations

Conference on the Law of the Sea) được tổ chức tại New York Để cố gắng

giảm khả năng các nhóm quốc gia thống trị đàm phán, hội nghị dùng một quy trình đồng thuận thay cho bỏ phiếu lấy đa số Với hơn 160 nước tham gia, hội

Trang 25

nghị kéo dài đến năm 1982 Kết quả là một Công ước có hiệu lực từ ngày 16 tháng 11 năm 1994, một năm sau khi Guyana - nước thứ 60 ký Công ước

Nội dung Công ước có một loạt điều khoản Những điều khoản quan trọng nhất quy định về việc thiết lập các giới hạn, giao thông đường biển, trạng thái biển đảo, và các chế độ quá cảnh, các vùng đặc quyền kinh tế, quyền tài phán thềm lục địa, khai khoáng lòng biển sâu, chính sách khai thác, bảo vệ môi trường biển, nghiên cứu khoa học, và dàn xếp các tranh chấp

Công ước đặt ra giới hạn cho nhiều khu vực, tính từ một đường cơ sở

(baseline) được định nghĩa kỹ càng (Thông thường, một đường biển cơ sở

chạy theo đường bờ biển khi thủy triều xuống, nhưng khi đường bờ biển bị thụt sâu, có đảo ven bờ, hoặc đường bờ biển rất không ổn định, có thể sử dụng các đường thẳng làm đường cơ sở) Có các khu vực dưới đây:

- Nội thủy bao phủ tất cả vùng biển và đường thủy ở bên trong đường

cơ sở (phía đất liền) Tại đây, quốc gia ven biển được tự do áp đặt luật, kiểm soát việc sử dụng, và sử dụng mọi tài nguyên Các tàu thuyền nước ngoài không có quyền đi lại tự do trong các vùng nội thủy

- Lãnh hải vùng nằm ngoài đường cơ sở có chiều ngang 12 hải lý Tại đây, quốc gia ven biển được quyền tự do đặt luật, kiểm soát việc sử dụng, và

sử dụng mọi tài nguyên Các tàu thuyền nước ngoài được quyền "qua lại không gây hại" mà không cần xin phép nước chủ Đánh cá, làm ô nhiễm, dùng vũ khí, và do thám không được xếp vào dạng "không gây hại" Nước chủ cũng có thể tạm thời cấm việc "qua lại không gây hại" này tại một số vùng trong lãnh hải của mình khi cần bảo vệ an ninh

Vùng nước quần đảo: Công ước đưa ra định nghĩa về các quốc gia quần đảo trong phần IV, cũng như định nghĩa về việc các quốc gia này có thể vẽ đường biên giới lãnh thổ của mình như thế nào Đường cơ sở được vẽ giữa các điểm ngoài cùng nhất của các đảo ở ngoài cùng nhất, đảm bảo rằng các điểm này phải đủ gần nhau một cách thích đáng Mọi vùng nước bên trong

Trang 26

đường cơ sở này sẽ là vùng nước quần đảo và được coi như là một phần của

lãnh hải quốc gia đó

- Vùng tiếp giáp lãnh hải bên ngoài giới hạn 12 hải lý của lãnh hải là một vành đai có bề rộng 12 hải lý, đó là vùng tiếp giáp lãnh hải Tại đây, nước chủ có thể vẫn thực thi luật pháp của mình đối với các hoạt động như buôn lậu hoặc nhập cư bất hợp pháp

- Vùng đặc quyền kinh tế rộng 200 hải lý tính từ đường cơ sở Trong vùng này, quốc gia ven biển được hưởng độc quyền trong việc khai thác đối với tất cả các tài nguyên thiên nhiên Khái niệm vùng đặc quyền kinh tế được đưa ra để ngừng các cuộc xung đột về quyền đánh cá, tuy rằng khai thác dầu

mỏ cũng đã trở nên một vấn đề quan trọng Trong vùng đặc quyền kinh tế, nước ngoài có quyền tự do đi lại bằng đường thủy và đường không, tuân theo

sự kiểm soát của quốc gia ven biển Nước ngoài cũng có thể đặt các đường ống ngầm và cáp ngầm

- Thềm lục địa được định nghĩa là vành đai mở rộng của lãnh thổ đất

cho tới mép lục địa (continental margin), hoặc 200 hải lý tính từ đường cơ sở,

chọn lấy giá trị lớn hơn Thềm lục địa của một quốc gia có thể kéo ra ngoài

200 hải lý cho đến mép tự nhiên của lục địa, nhưng không được vượt quá 350 hải lý, không được vượt ra ngoài đường đẳng sâu 2500m một khoảng cách quá 100 hải lý Tại đây, nước chủ có độc quyền khai thác khoáng sản và các nguyên liệu không phải sinh vật sống

Bên cạnh các điều khoản định nghĩa các ranh giới trên biển, Công ước còn thiết lập các nghĩa vụ tổng quát cho việc bảo vệ môi trường biển và bảo

vệ quyền tự do nghiên cứu khoa học trên biển Công ước cũng tạo ra một cơ chế pháp lý mới cho việc kiểm soát khai thác tài nguyên khoáng sản tại các lòng biển sâu nằm ngoài thẩm quyền quốc gia, được thực hiện qua Ủy ban

đáy biển quốc tế (International Seabed Authority) Các nước không có biển

được quyền có đường ra biển mà không bị đánh thuế giao thông bởi các nước trên tuyến đường nối với biển đó

Trang 27

1.5 CÔNG ƯỚC LUẬT BIỂN 1982 QUY ĐỊNH VỀ CÁC VÙNG BIỂN

Công ước 1982 được đánh giá là "khải hoàn ca" của các quốc gia ven biển Các quốc gia được quyền mở rộng chủ quyền của mình ra các vùng nước tiếp liên theo nguyên tắc đất thống trị biển Chủ quyền này giảm dần từ đất liền ra biển từ nội thủy, lãnh hải, tiếp giáp lãnh hải đến vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa, từ chủ quyền tới quyền chủ quyền và quyền tài phán của quốc gia trên biển

1.5.1 Nội thủy

Điều 8, khoản 1 Công ước 1982 định nghĩa nội thủy là "các vùng nước

ở phía bên trong đường cơ sở dùng để tính chiều rộng lãnh hải" [34] Như vậy, nội thủy được hiểu là các vùng nước được giới hạn giữa một bên là đường bờ biển của lãnh thổ lục địa hay lãnh thổ đảo của các quốc gia với một bên là đường cơ sở dùng để tính chiều rộng lãnh hải cũng như các vùng biển khác thuộc thẩm quyền tài phán quốc gia đó

Các vùng nước nội thủy coi như lãnh thổ đất liền, tại đó quốc gia ven biển thực hiện chủ quyền hoàn toàn, tuyệt đối và đầy đủ Chủ quyền này bao trùm lên cả vùng trời bên trên vùng đáy biển và lòng đất dưới đáy biển, bên dưới vùng nước nội thủy Đặc trưng cho tính chất chủ quyền tuyệt đối này là mọi sự ra vào nội thủy của tàu thuyền cũng như phương tiện bay nước ngoài trên vùng trời nội thủy đều phải xin phép Tàu thuyền thương mại vào các cảng biển quốc tế trên cơ sở nguyên tắc tự do thông thương và có đi có lại Tàu thuyền nhà nước dùng vào mục đích không thương mại và tàu thuyền quân sự phải xin phép Các thủ tục xin phép cho tàu thuyền nước ngoài hoạt động tại nội thủy của mỗi quốc gia được điều chỉnh bởi quy định của Luật biển quốc tế và pháp luật quốc gia

Khi hoạt động trong nội thủy nếu tàu thuyền nước ngoài có sự vi phạm Quốc gia ven biển có quyền thực hiện tài phán dân sự Đối với tàu thuyền được hưởng quyền miễn trừ như tàu thuyền nhà nước dùng vào mục đích phi thương mại và tàu thuyền quân sự nước ngoài vi phạm, quốc gia ven biển có

Trang 28

quyền buộc tàu thuyền đó rời khỏi vùng nội thủy của mình và yêu cầu cơ quan có thẩm quyền của quốc gia mà tàu mang cờ trừng trị các vi phạm đó Quốc gia mà tàu mang cờ chịu trách nhiệm về mọi thiệt hại do hành vi phạm pháp của tàu thuyền đó gây ra Đối với các vi phạm hình sự và dân sự trên tàu thuyền nước ngoài, luật áp dụng là luật của quốc gia mà tàu mang cờ Quốc gia ven biển chỉ can thiệp nếu hành vi phạm tội do một người ngoài thủy thủ đoàn thực hiện; nếu thuyền trưởng yêu cầu chính quyền sở tại can thiệp; nếu hậu quả của nó ảnh hưởng tới an ninh trật tự của cảng [59]

Như vậy, Công ước 1982 lần đầu tiên đã phân biệt thêm một vùng nước nội thủy trong đó tồn tại quyền qua lại không gây hại của tàu thuyền nước ngoài Một quốc gia có thể có nhiều vùng nước nội thủy với các chế độ pháp

lý khác nhau: Nội thủy, nội thủy trong đó quyền qua lại vô hại của tàu thuyền được tôn trọng và vùng nước lịch sử đặt dưới chế độ nội thủy

Theo truyền thống, qua lại không gây hại là một quyền mang tính tập quán, quyền này được thừa nhận vì lợi ích phát triển, hợp tác, kinh tế và kinh

tế hàng hải của cả cộng đồng cũng như của từng quốc gia (Vụ Các hành động quân sự và bán quân sự tại Nicaragoa và chống lại Nicaragoa) [74, tr 111]

Đi qua không gây hại được hiểu là việc đi qua nhưng không làm phương hại đến hòa bình, an ninh, trật tự hay lợi ích của quốc gia ven biển

Trang 29

Danh sách các hoạt động không liên quan đến việc đi qua mà tàu thuyền nước ngoài khi đi qua lãnh hải không được tiến hành được liệt kê tại điều 19 của Công ước 1982 Các quốc gia ven biển không được phép đặt điều kiện cho các tàu thuyền nước ngoài đi qua lãnh hải của mình phải xin phép hoặc thông báo trước Đi qua không gây hại tồn tại đồng thời với chủ quyền quốc gia trong lãnh hải nhưng không làm mất đi chủ quyền đó

Theo quy định của Công ước luật biển 1982 thì quốc gia ven biển có quyền ấn định các tuyến đường, quy định việc phân chia các luồng giao thông dành cho tàu thuyền nước ngoài đi qua lãnh hải của mình

Trường hợp có vi phạm, đe dọa hòa bình an ninh, trật tự của quốc gia ven biển, quốc gia này hoàn toàn có thể sử dụng các biện pháp cần thiết để bảo vệ chủ quyền của mình kể cả biện pháp tạm thời đình chỉ quyền đi qua không gây hại

Khi thực hiện đi qua không gây hại trong lãnh hải của quốc gia khác, tàu thuyền nước ngoài phải tôn trọng các luật và quy định của quốc gia ven biển về quyền đi qua không gây hại của tàu thuyền nước ngoài trong lãnh hải của họ Các tàu quân sự và các tàu khác của nhà nước dùng vào những mục đích không thương mại được hưởng quyền miễn trừ tài phán hình sự và tài phán dân sự nhưng các quốc gia mà tàu mang cờ phải chịu trách nhiệm trước các vi phạm do chúng gây ra trong lãnh hải của quốc gia ven biển

Mặc dù Công ước luật biển 1982 không quy định quyền tài phán hình

sự của quốc gia ven biển đối với một tàu nước ngoài đi qua lãnh hải để tiến hành việc bắt giữ hay tiến hành việc dự thẩm sau một vụ vi phạm hình sự xảy

ra trên con tàu trong khi nó đi qua lãnh hải nhưng quốc gia ven biển có thể thực hiện quyền tài phán nếu hậu quả của của vụ vi phạm đó mở rộng đến quốc gia ven biển; vụ vi phạm đó có tính chất phá hoại hoà bình, an ninh, trật

tự của quốc gia ven biển; thuyền trưởng hay viên chức lãnh sự hoặc ngoại giao quốc gia mà tàu mang cờ yêu cầu; và biện pháp này là cần thiết để trấn

áp việc buôn lậu chất ma túy hay kích thích

Trang 30

Quốc gia ven biển không được bắt tàu nước ngoài đang đi qua lãnh hải phải dừng lại thay đổi hành trình của nó để thực hiện quyền tài phán dân sự của mình đối với một con người trên tàu đó nhưng quốc gia này lại có quyền

áp dụng mọi biện pháp trừng phạt hay đảm bảo về mặt dân sự mà luật trong nước mình quy định đối với tàu nước ngoài đang đậu trong lãnh hải hay đi qua lãnh hải, sau khi rời khỏi nội thuỷ [59]

1.2.3 Vùng tiếp giáp lãnh hải

Vùng tiếp giáp lãnh hải là vùng biển nằm ngoài lãnh hải và tiếp liền với lãnh hải, tại đó quốc gia ven biển thực hiện các thẩm quyền có tính riêng biệt

và hạn chế đối với các tàu thuyền nước ngoài [59]

Sự tồn tại của vùng tiếp giáp lãnh hải trong thực tiễn nhằm:

- Ngăn ngừa những vi phạm đối với các luật định hải quan, thuế khóa, y

tế hay nhập cư trên lãnh thổ hay trong lãnh hải của mình;

- Trừng trị những vi phạm đối với các luật và quy định nói trên xảy ra trên lãnh thổ hoặc trong lãnh hải của mình

Các quy định hiện hành của Luật biển đều khẳng định vùng tiếp giáp lãnh hải không thể mở rộng quá 24 hải lý kể từ đường cơ sở dùng để tính chiều rộng lãnh hải và bộ phận đặc thù của vùng đặc quyền kinh tế Tại đây quốc gia ven biển có thẩm quyền đối với các hiện vật có tính lịch sử và khảo cổ nằm trên đáy biển của vùng tiếp giáp lãnh hải Để kiểm soát việc mua bán hiện vật nay, quốc gia ven biển có thể coi việc lấy các hiện vật đó từ đáy biển của vùng tiếp giáp lãnh hải mà không có sự thỏa thuận của mình là sự vi phạm các luật và quy định của quốc gia ven biển ở trên lãnh thổ hay trong lãnh hải của mình [59]

1.5.4 Vùng đặc quyền kinh tế

Vùng đặc quyền kinh tế là một vùng nằm ở phía ngoài lãnh hải và tiếp liền với lãnh hải, đặt dưới chế độ pháp lý riêng quy định trong phần V - Vùng đặc quyền kinh tế của Công ước luật biển 1982, theo đó các quyền và quyền tài

Trang 31

phán của quốc gia ven biển, các quyền cũng như các quyền tự do của các quốc gia khác đều do các quy định thích hợp của Công ước điều chỉnh Vùng biển này

có chiều rộng 200 hải lý tính từ đường cơ sở dùng để tính chiều rộng lãnh hải

Vùng đặc quyền kinh tế là một vùng biển đặc thù, trong đó thể hiện sự cân bằng giữa các quyền và quyền tài phán của quốc gia ven biển với các quyền và các quyền tự do của các quốc gia khác

Theo quy định của Công ước luật biển 1982, trong vùng đặc quyền kinh tế, quốc gia ven biển có:

- Các quyền thuộc chủ quyền về việc thăm dò khai thác, bảo tồn và quản lý các tài nguyên thiên nhiên, sinh vật hoặc không sinh vật, của vùng nước bên trên đáy biển, của đáy biển và lòng đất dưới đáy biển, cũng như về những hoạt động khác nhằm thăm dò và khai thác vùng này vì mục đích kinh

tế, như việc sản xuất năng lượng từ nước, hải lưu và gió

- Quyền tài phán theo đúng những quy định thích hợp của Công ước về việc: Lắp đặt và sử dụng các đảo nhân tạo, các thiết bị và công trình; nghiên cứu khoa học về biển; bảo vệ và gìn giữ môi trường biển; cũng như các quyền

và các nghĩa vụ khác do Công ước quy định [34]

Tính đặc quyền của quốc gia ven biển thể hiện trong việc quốc gia ven biển có toàn quyền đánh giá nguồn tiềm năng đối với các tài nguyên sinh vật, thi hành các biện pháp thích hợp về bảo tồn và quản lý nhằm làm cho việc khai thác, duy trì các nguồn lợi sinh vật trong vùng đặc quyền kinh tế của mình khỏi bị ảnh hưởng do khai thác quá mức Các tổ chức quốc tế có thẩm quyền, các tổ chức phân khu vực, khu vực hay thế giới chỉ có thể tham dự vào việc duy trì các nguồn lợi sinh vật này ở mức độ (hợp tác một cách thích hợp) với quốc gia ven biển Tuy nhiên, đối với tài nguyên sinh vật, đặc quyền này chấp nhận ngoại lệ nếu tổng khối lượng cho phép đánh bắt lớn hơn khả năng khai thác của quốc gia ven biển, có nghĩa là tồn tại một số dư của khối lượng cho phép đánh bắt thì quốc gia ven biển lại có nghĩa vụ "tạo điều kiện thuận

Trang 32

lợi cho việc khai thác tối ưu các tài nguyên sinh vật của vùng đặc quyền kinh tế" mà không phương hại đến đặc quyền bảo tồn tài nguyên sinh vật của mình Quốc gia ven biển cho phép các quốc gia khác, thông qua các điều ước hoặc những thỏa thuận liên quan, khai thác số dư của lượng cho phép đánh bắt này, có ưu tiên cho các quốc gia không có biển hoặc bất lợi về mặt địa lý

Để thực hiện có hiệu quả quyền chủ quyền của mình đối với tài nguyên trong vùng đặc quyền kinh tế, quốc gia ven biển có quyền tài phán về lắp đặt

và sử dụng các đảo nhân tạo, các thiết bị và công trình Quyền tài phán này của quốc gia ven biển không chỉ mở rộng đối với các đảo nhân tạo, các thiết

bị và công trình đặt trong cột nước trong vùng đặc quyền kinh tế mà còn đối với cả các đảo nhân tạo, các thiết bị và công trình đặt trên đáy biển và lòng đất dưới đáy biển của vùng

Công tác nghiên cứu khoa học biển trong vùng đặc quyền kinh tế và ở trên thềm lục địa phải được tiến hành với sự thỏa thuận của quốc gia ven biển

và không được gây trở ngại một cách phi lý cho các hoạt động do quốc gia ven biển tiến hành trong việc thi hành các quyền chủ quyền và quyền tài phán

mà Công ước đã trù định

Công ước luật biển 1982 công nhận cho quốc gia ven biển quyền tài phán về bảo vệ và gìn giữ môi trường biển chống lại các ô nhiễm bắt nguồn từ nhiều nguồn khác nhau

Trong vùng đặc quyền kinh tế của quốc gia ven biển, tất cả các quốc gia, dù có biển hay không có biển, trong những điều kiện do các quy định thích hợp của Công ước luật biển 1982 trù định, đều được hưởng ba quyền tự

do cơ bản: Quyền tự do hàng hải; quyền tự do hàng không; quyền tự do đặt dây cáp và ống dẫn ngầm

1.5.5 Thềm lục địa

Công ước 1982 đưa ra định nghĩa nêu bật bản chất pháp lý của thềm lục địa và mở rộng thềm lục địa với những tiêu chuẩn kỹ thuật mới Điều 76 khoản 1 định nghĩa:

Trang 33

Thềm lục địa của một quốc gia ven biển bao gồm đáy biển và lòng đất dưới đáy biển bên ngoài lãnh hải của quốc gia đó, trên toàn

bộ phần kéo dài tự nhiên của lãnh thổ đất liền của quốc gia đó cho đến bờ ngoài của rìa lục địa, hoặc đến cách đường cơ sở dùng để tính chiều rộng lãnh hải 200 hải lý, khi bờ ngoài của rìa lục địa của quốc gia đó ở khoảng cách gần hơn [34]

Theo luật biển quốc tế hiện đại, quốc gia ven biển thực hiện các chủ quyền đối với thềm lục địa về mặt thăm dò và khai thác tài nguyên thiên nhiên của mình Đây là những quyền có tính chất đặc quyền, do đó nếu quốc gia ven biển không thăm dò hay không khai thác tài nguyên thiên nhiên của thềm lục địa thì quốc gia khác cũng không có quyền tiến hành các hoạt động như vậy khi không có sự thoả thuận rõ ràng của các quốc gia sở tại

Đặc biệt, các quyền của quốc gia ven biển đối với thềm lục địa không phục thuộc vào sự chiếm hữu thật sự hay danh nghĩa cũng như vào bất cứ tuyên bố rõ ràng nào Điều này quy định này đối với quyền chủ quyền của quốc gia ven bờ tại thềm lục địa khác với quyền chủ quyền của quốc gia này trong vùng đặc quyền kinh tế

Tài nguyên thiên nhiên trên thềm lục địa không chỉ bao hàm các tài nguyên không sinh vật mà còn cả tài nguyên sinh vật thuộc loài định cư Quốc gia ven biển không chỉ có quyền chủ quyền đối với tài nguyên thềm lục địa mà còn đối với cả chính thềm lục địa Quốc gia ven biển có đặc quyền cho phép và quy định việc khoan ở thềm lục địa bất kỳ vào mục đích gì và theo Điều 85 thì: "Quyền của quốc gia ven biển được khai thác vào lòng đất dưới đáy biển bằng cách đào đường hầm, bất kể độ sâu của các vùng nước ở nơi ấy là bao nhiêu" [34]

Quốc gia ven biển còn có các quyền tài phán đối với đảo nhân tạo, các thiết bị, công trình thềm lục địa, quyền tài phán về nghiên cứu khoa học biển, quyền tài phán về bảo vệ giữ gìn môi trường biển Trong khi thực hiện các quyền của mình, các quốc gia ven biển có nghĩa vụ tôn trọng các quyền của các quốc gia khác

Trang 34

Quy chế pháp lý của thềm lục địa khẳng định, các quyền của quốc gia ven biển đối với thềm lục địa không đụng chạm đến chế độ pháp lý của vùng nước ở phía trên hay của vùng trời trên vùng nước này Do đó, quốc gia ven biển thực hiện các quyền của mình đối với thềm lục địa không được gây thiệt hại đến hàng hải hay các quyền và các tự do khác của quốc gia khác đã được Luật biển thừa nhận [59]

1.5.6 Biển cả

Biển cả là tất cả những vùng biển không nằm trong vùng đặc quyền kinh tế, lãnh hải hay nội thủy của một quốc gia cũng như không nằm trong vùng nước quần đảo của quốc gia quần đảo [59]

Quy chế pháp lý của biển cả dựa trên nguyên tắc tự do biển cả Chế độ này có nguồn gốc tập quán và đã được pháp điển hóa trong các Công ước quốc

tế hiện hành về biển Ngoài các quyền tự do theo cách xác định của Nguyên tắc

tự do biển cả, Công ước luật biển 1982 còn quy định nghĩa vụ của các quốc gia trấn áp việc buôn bán nô lệ, nạn cướp biển, việc buôn bán các chất ma túy và các chất kích thích, phát sóng không được phép từ biển cả và nghĩa vụ giúp đỡ bất kỳ ai nguy khốn trên biển Quyền tự do biển cả bao hàm cả quyền và nghĩa

vụ của tàu thuyền khi hoạt động trên biển cả, chẳng hạn, quyền miễn trừ tài phán dành cho các tàu quân sự và các tàu thuyền của nhà nước không dùng vào mục đích thương mại, các quyền cảnh sát trên biển, quyền truy đuổi…

Như vậy, biển cả gắn liền với các nguyên tắc tự do biển cả Tất cả các quốc gia đều có quyền như nhau và công bằng tại biển cả nhằm mục đích hàng hải và tất cả những sử dụng có thể khác

1.5.7 Vùng - di sản chung của loài người

Vùng là đáy biển và lòng đất dưới đáy biển nằm bên ngoài giới hạn quyền tài phán quốc gia Tài nguyên của vùng bao gồm các tài nguyên khoáng sản ở thể rắn, lỏng hoặc khí insitu (ở ngay tại chỗ) kể cả các khối đa kim nằm ở đáy đại dương và trong lòng đất dưới đáy

Trang 35

Vùng là tài nguyên của nó là di sản chung của loài người, điều này được thể hiện: Vùng và tài nguyên của Vùng không phải là đối tượng của việc chiếm hữu; Vùng được sử dụng vào những mục đích hoàn toàn hòa bình

Khái niệm Vùng trong điều 1 khoản 1.1 của Công ước 1982 được hiểu

là đáy biển và lòng đất dưới đáy biển nằm bên ngoài giới hạn quyền tài phán quốc gia Điều 136 của Công ước 1982 đã thêm vào khái niệm này một khái niệm mới khác tạo nên chế độ pháp lý chung của Vùng: "Vùng và tài nguyên của nó là di sản chung của loài người" Tài nguyên của Vùng bao gồm các tài nguyên khoáng sản ở thể rắn, lỏng hoặc khí insitu (ngay tại chỗ) kể cả các khối đa kim (nodules phlymalliques) nằm ở đáy đại dương và trong lòng đất dưới đáy [34]

Việc thăm dò, khai thác tài nguyên của Vùng được tiến hành thông qua một tổ chức quốc tế, gọi là cơ quan quyền lực quốc tế Cơ quan quyền lực quốc tế bảo đảm việc phân chia công bằng, trên cơ sở không phân biệt đối xử những lợi ích tài chính và các lợi ích kinh tế khác do những hoạt động tiến hành trong Vùng thông qua bộ máy của mình

Thỏa thuận ngày 29 tháng 7 năm 1994 đã sửa đổi nhưng không làm thay đổi gì nguyên tắc chính của phần XI: các hoạt động trong Vùng là vì lợi ích của loài người Thỏa thuận điều chỉnh theo hướng giảm khả năng cạnh tranh

và đóng góp tài chính Mọi quyết định của cơ quan quyền lực đều được thông qua nguyên tắc nhất trí Nếu không nhất trí mới bỏ phiếu Trong trường hợp

có mâu thuẫn giữa phần XI của Công ước và thỏa thuận 29 tháng 7 năm 1994 thì thỏa thuận có giá trị cao hơn

Trang 36

Chương 2

CÁC NGUYÊN TẮC VÀ PHƯƠNG PHÁP QUY ĐỊNH

VỀ PHÂN ĐỊNH BIỂN THEO CÔNG ƯỚC LUẬT BIỂN 1982

2.1 CÁC NGUYÊN TẮC CƠ BẢN TRONG LUẬT BIỂN QUỐC TẾ

2.1.1 Nguyên tắc công bằng

2.1.1.1 Sự hình thành và phát triển nguyên tắc công bằng

Sự hình thành và phát triển nguyên tắc công bằng được gắn liền với quá trình áp dụng đường cách đều có tính tới các hoàn cảnh đặc biệt trong các phán quyết của Tòa án Công lý quốc tế và trong thực tiễn phân định giữa các quốc gia Ban chuyên gia kỹ thuật, Ủy ban Luật Quốc tế đã đề cập cụ thể ba tiêu chuẩn được coi là hoàn cảnh đặc biệt:

- Yếu tố địa lý và hình dáng đặc thù của bờ biển

Trong vụ thềm lục địa biển Bắc [70], Tòa cho rằng các hoàn cảnh các địa lý cũng như sự hiện diện của bất kỳ một đặc trưng địa lý đặc biệt hoặc bất thường nào cũng cần được tính đến Với nguyên tắc "đất thống trị biển" và

"đất là nguồn gốc pháp lý", Tòa cho rằng cần phải kiểm tra thật sát sao hình dáng địa lý của đường bờ, Tòa đã quan tâm đặc biệt tới hình dáng chung đường bờ biển của các bên có liên quan Cụ thể Tòa đã quan tâm tính toán tới các yếu tố lồi lõm của bờ biển có ảnh hưởng tới đường phân định theo phương pháp đường cách đều

- Sự hiện diện của các đảo

Đảo được coi là một hoàn cảnh đặc biệt quan trọng trong phân định các vùng biển, có ảnh hưởng trực tiếp tới việc quan trọng trong phân định các vùng biển, có ảnh hưởng trực tiếp tới việc vạch đường phân định theo phương pháp cách đường cách đều Tùy thuộc vào vị trí, vai trò của chúng trong phân định mà các đảo có thể có hiệu lực toàn phần, một phần hoặc hoàn toàn bị bỏ qua trong phân định

Trang 37

- Sự hiện diện của các kênh hàng hải

Các kênh hàng hải đôi khi cũng có vai trò trong phân định ở những vùng biển hẹp, nguy hiểm cho tàu thuyền đi lại vì lợi ích an toàn hàng hải cho các bên liên quan các bên có thể thỏa thuận đường phân định có điều kiện chỉnh sao cho đảm bảo cho các tàu thuyền đi lại dễ dàng qua các kênh hàng hải này

Ngoài ba tiêu chuẩn trên, thực tiễn quốc tế phân định còn tính tới các hoàn cảnh hữu quan khác, mặc dù vai trò của các hoàn cảnh này được tính tới rất khác nhau ở các trường hợp phân định khác nhau:

- Địa chất và địa mạo

Trong vụ thềm lục địa Biển Bắc, Tòa xác định các yếu tố địa chất là các yếu tố có liên quan, đặc biệt là đối với các trường hợp phân định thềm lục địa Trong quá trình xét xử Tòa cũng tình tới yếu tố địa mạo liên quan tới rãnh sâu Na Uy [70]

Trong vụ Anh - Pháp, Tòa có xem xét ý kiến đệ trình của phía Anh liên quan tới rãnh sâu Hurd và đã dành cho nó một sự ảnh hưởng nhất định tới đường phân định cuối cùng [70]

- Yếu tố tài nguyên thiên nhiên

Vị trí của các nguồn tài nguyên khoáng sản trong khu vực phân định là một yếu tố cần xem xét kỹ Tòa đặc biệt nhấn mạnh đến tầm quan trọng của việc giữ gìn tính nguyên vẹn của mỏ và tạo điều kiện khai thác có hiệu quả nguồn tài nguyên đó [70] Như vậy, Tòa án mới chỉ quan tâm tới tài nguyên khoáng sản còn đối với vùng đặc quyền kinh tế cần phải xem xét tới nguồn tài nguyên sinh vật đặc biệt là đối với các đàn cá di cư Tuy nhiên đến Vụ Vịnh Maine năm 1984 khi quyết định một đường biên giới đơn nhất cho cả vùng đặc biệt quan tâm tới Bãi cá Georges thì Tòa trọng tài lại bác bỏ các lập luận về kinh tế của cả hai phía và cho rằng các yếu tố kinh tế, xã hội chỉ được tính đến trong các trường hợp đặc biệt khi áp dụng các phương pháp phân định thích hợp [71]

Trang 38

Trong vụ Guinea/Guinea - Bissau Tòa Trọng tài đã nhấn mạnh rằng sự quan tâm về kinh tế của cả hai phía nên đi tới một sự hợp tác cùng có lợi cho

cả hai nước [89, tr 332] Nhờ đó, hai bên đã gặp nhau tại Kamsar vào tháng 3 năm 1986 và đã thảo thuận được một tuyến bố chung cùng nhau phát triển, khai thác nguồn tài nguyên biển trong khu vực cần phân định vì lợi ích của nhân dân hai nước Duy nhất chỉ có một vụ yếu tố kinh tế được tính đến trong phân định là vụ Hòa giải Thềm lục địa Jan Mayen Ủy ban Hòa giải đã được hai bên (Iceland và Na Uy) đề nghị "tính tới quyền lợi kinh tế mạnh của Iceland trong các vùng biển này" [85, tr 799]

- Yếu tố an ninh, quốc phòng

Trong vụ Anh - Pháp, hai bên đều đưa ra yếu tố an ninh quốc phòng

sự để bảo vệ quan điểm phân định của mình Trong khu vực có các đảo của

eo biển Pháp cho rằng quyền lợi sống còn về an ninh quốc phòng của Pháp

sẽ bị ảnh hưởng nghiêm trọng nếu đường phân định do phía Anh đưa ra được chấp nhận vì đường này sẽ tách thềm lục địa của Pháp ra làm hai vùng riêng biệt Phía Anh cũng có lập luận tương tự chống lại phía Pháp để bảo vệ một dải đáy biển nối liền các đảo trong Eo với khu vực thềm lục địa chính của mình [89, tr 332]

Trong vụ Libya và Lalta năm 1985, Malta cũng yêu cầu Tòa phải có (sự xem xét công bằng tới quyền lợi quốc phòng và an ninh của Malta nhưng Tòa cho rằng đương phân định mà Tòa đưa ra không quá gần bờ biển của bất cứ bên nào nên vấn đề an ninh quốc phòng không có liên quan gì đến vụ này [73]

Nguyên tắc công bằng được quy định trong Công ước luật biển 1982 đã trải qua một quá trình dài nghiên cứu và đàm phán của các quốc gia biển

Tóm lại khi đánh giá một vụ việc phân định biển một cách công bằng phải dựa trên rất nhiều yếu tố liên quan đến vùng biển đó: văn hóa, kinh tế, xã hội, dân cư, lịch sử, an ninh quốc phòng, các yếu tố tự nhiên của vùng biển về địa hình, địa mạo, các đảo liên quan…

Trang 39

2.1.1.2 Nguyên tắc công bằng trong Công ước 1982

Tại Công ước Luật biển 1982 có sự ghi nhận nguyên tắc công bằng ở những khía cạnh sau:

- Quyền của những quốc gia không có biển hoặc bất lợi về địa lý vẫn có quyền về biển và đại dương Thừa nhận những quyền của các quốc gia không

có biển hoặc bất lợi về mặt địa lý được sử dụng biển cả như những quốc gia

có biển ở phạm vi mà luật biển cho phép và có nghĩa vụ không làm tổn hại đến quyền sử dụng biển của những quốc gia khác Với quy định này đã trao cho những nước có vị trí địa lý kém thuận lợi có quyền khai thác và sử dụng biển đây là tiền đề tạo nên tính công bằng của luật biển Cụ thể ở khía cạnh này là: tại Điều 17 của Công ước có quy định "với điều kiện phải chấp hành Công ước, tàu thuyền của tất cả các quốc gia, có biển hay không có biển, đều hưởng quyền qua lại không gây hại trong lãnh hải" [34] Ngoài ra tại Công ước 1982 còn quy định nhiều vấn đề mang tính công bằng như: Các quốc gia không có biển hoặc bất lợi về biển có quyền tự do hàng hải, tự do hàng không, tự do đặt cáp ngầm, khai thác sinh vật biển… tại vùng tiếp giáp lãnh hải Tại thềm lục địa các quốc gia không ven biển được phép lắp đặt dây cáp ngầm, ống dẫn ngầm, thực hiện nghiên cứu khoa học Hay tại các vùng đặc quyền kinh tế nếu quốc gia ven biển không khai thác hết tài nguyên sinh vật biển thì quốc gia không có biển có quyền ra đó khai thác tài nguyên dư - đây

là một quy định chỉ mang tính công bằng về mặt hình thức mà không có ý nghĩa trong thực tiễn, bởi vì trong thực tế không có quốc gia nào lại tuyên bố mình không khai thác hết tài nguyên sinh vật tại vùng này Các quốc gia có biển hay không có biển đều có quyền sử dụng biển cả như nhau và mọi quốc gia đều có nghĩa vụ không làm điều gì phương hại đến quyền sử dụng biển cả của các quốc gia khác Điều 87 của Công ước 1982 quy định "biển cả được để ngỏ cho tất cả các quốc gia có biển hay không có biển" [34] và Điều 90 quy định: "Mọi quốc gia dù có biển hay không có biển đều có quyền cho các tàu thuyền treo cờ của mình trên biển cả" [34]

Trang 40

Điều 125 của Công ước 1982 quy định:

Các quốc gia không có biển có quyền đi ra biển và đi từ biển vào để sử dụng các quyền được trù định trong Công ước, kể cả các quyền liên quan đến tự do trên biển cả và liên quan đến di sản chung của loài người Vì mục đích ấy các quốc gia đó được hưởng quyền tự do quá cảnh qua lãnh thổ của các quốc gia quá cảnh bằng mọi phương tiện vận chuyển [34]

Các quốc gia không có biển thực hiện quyền đi ra biển của mình thông qua những thỏa thuận trực tiếp, phân khu vực hay khu vực với quốc gia láng giềng

có biển (trong Công ước được gọi là quốc gia quá cảnh) Để tránh sự lo ngại của các quốc gia quá cảnh về việc chủ quyền của họ có thể bị phương hại, khoản 3, Điều 125 của Công ước còn quy định: "quốc gia quá cảnh có quyền định ra tất cả mọi biện pháp cần thiết để đảm bảo rằng, các quyền và các điều kiện thuận lợi được quy định trong phần này vì lợi ích của các quốc gia không có biển, không

hề đụng chạm đến các lợi ích chính đáng của quốc gia quá cảng" [34] Về mặt kinh tế, Điều 49 và 70 của Công ước cũng dành cho các quốc gia không có biển và các quốc gia bất lợi về địa lý [34]

- Công bằng trong sử dụng biển cả:

Công bằng trong sử dụng biển cả được đảm bảo bằng nguyên tắc không đặt biển cả dưới chủ quyền riêng biệt của bất kỳ quốc gia nào Nguyên tắc ngày bác bỏ mọi yêu sách về chủ quyền đối với biển cả cũng như đối với Vùng -

di sản chung của loài người [34] Trên biển cả các quốc gia đều có quyền bình đẳng như nhau trong việc sử dụng như nhau trong việc sử dụng biển cả vào mục đích hòa bình, không làm phương hại đến lợi ích quốc gia khác theo quy định của Công ước Ngoài ra quyền tự do biển cả, các quốc gia còn thực hiện các quyền và nghĩa vụ cạnh sát chung trên biển cả, hợp tác trấn áp các hành vi bất hợp pháp vì mục đích bảo vệ quyền lợi quốc gia và quyền lợi chung của nhân loại [34]

Ngày đăng: 14/09/2017, 13:43

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w