Tr-ờng đại học lâm nghiệp --- Nguyễn THị THU HƯờNG Nghiên cứu một số đặc điểm lâm học của loài Dẻ ĂN HạT Castanopsis boisii hickel et Camus tại BắC GIANG Chuyên ngành: Lâm học Mã số:
Trang 1Tr-ờng đại học lâm nghiệp
-
Nguyễn THị THU HƯờNG
Nghiên cứu một số đặc điểm lâm học của
loài Dẻ ĂN HạT (Castanopsis boisii hickel et Camus)
tại BắC GIANG
Chuyên ngành: Lâm học Mã số: 60.62.60
Luận văn thạc sỹ khoa học lâm nghiệp
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
TS Đỗ Anh Tuõn
Hà Nội - 2010
Trang 2LỜI CẢM ƠN
Luận văn này được hoàn thành tại trường Đại học Lâm nghiệp theo chương trình đào tạo Cao học Lâm nghiệp khóa 16, giai đoạn 2008 – 2010
Luận văn là một trong những nội dung nghiên cứu quan trọng của đề tài
khoa học cấp Bộ: “Nghiên cứu giải pháp kỹ thuật nuôi dưỡng rừng Dẻ ăn
hạt (Castanopsis boisii Hicket et Camus) tại Bắc Giang” mà tác giả là
cộng tác viên
Trong quá trình học tập và hoàn thành luận văn, tác giả đã nhận được sự quan tâm, giúp đỡ của khoa Đào tạo sau đại học cũng như của các thầy, cô giáo trường Đại học Lâm nghiệp, các cán bộ nghiên cứu Viện Khoa học Lâm nghiệp Việt Nam Nhân dịp này tác giả xin chân thành cảm ơn sự giúp đỡ đó
Trước hết, tác giả xin bày tỏ lòng cảm ơn chân thành tới TS Đỗ Anh Tuân – người hướng dẫn khoa học, đã trực tiếp hướng dẫn, tận tình giúp đỡ, truyền đạt những kiến thức quí báu và dành những tình cảm tốt đẹp cho tác giả trong suốt thời gian học tập cũng như trong thời gian thực hiện luận văn
Tác giả xin cảm ơn Sở Nông nghiệp và phát triển nông thôn tỉnh Bắc Giang; UBND các huyện Sơn Động, Lục Nam, Lục Ngạn, Lạng Giang đã tạo mọi điều kiện thuận lợi cho tác giả thu thập số liệu ngoại nghiệp phục vụ cho luận văn
Cuối cùng, tác giả xin chân thành cảm ơn bạn bè và người thân trong gia đình đã giúp đỡ, động viên tác giả trong suốt thời gian học tập
và hoàn thành luận văn
Tác giả xin cam đoan, các số liệu trong luận văn đều là số liệu thu thập thực tế; các tài liệu sử dụng đều có trích dẫn
Hà Nội, tháng 9 năm 2010
Tác giả
Trang 3MỤC LỤC
Trang Trang phụ bìa
1.Lời cảm ơn i
2.Mục lục ii
3.Danh mục các kí hiệu và từ viết tắt v
4.Danh mục các bảng vi
5.Danh mục các hình vii
ĐẶT VẤN ĐỀ 1
Chương 1: TỔNG QUAN 3
1.1.Tình hình nghiên trên thế giới 3
1.1.1 Phân loại họ Dẻ 3
1.1.2 Đặc điểm phân bố và sinh thái 4
1.1.3 Giá trị sử dụng 5
1.1.4 Tình hình gây trồng Dẻ ăn hạt 5
1.2.Tình hình nghiên cứu trong nước 7
1.2.1 Về phân loại họ Dẻ 7
1.2.2 Đặc điểm về hình thái Dẻ ăn quả 8
1.2.3 Đặc điểm phân bố và sinh thái 8
1.2.4 Giá trị sử dụng và năng suất, sản lượng hạt Dẻ 9
1.2.5 Tình hình nghiên cứu đặc điểm lâm học và các biện pháp kỹ thuật đối với Dẻ ăn hạt 10
Chương 2: MỤC TIÊU, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 14
2.1.Mục tiêu nghiên cứu 14
2.2 Giới hạn nghiên cứu 14
2.3 Nội dung nghiên cứu 14
2.4.Phương pháp nghiên cứu 15
Trang 42.4.1.Phương pháp nghiên cứu chung 15
2.4.2.Phương pháp nghiên cứu cụ thể 16
2.5 Sản lượng quả và mối quan hệ giữa sản lượng quả và một số nhân tố điều tra 22
Chương 3: ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN, KINH TẾ - XÃ HỘI KHU VỰC NGHIÊN CỨU 23
3.1 Đặc điểm tự nhiên 23
3.1.1 Vị trí địa lý 23
3.1.2 Địa hình địa thế 23
3.1.3.Khí hậu 24
3.1.4.Thủy văn 25
3.1.5.Các dạng đất đai 25
3.1.6.Hiện trạng sử dụng đất đai và tài nguyên rừng 26
3.2.Đặc điểm kinh tế - xã hội 30
3.2.1.Nguồn nhân lực 30
3.2.2.Thực trạng kinh tế xã hội 31
3.3 Nhận xét 35
Chương 4: KẾT QUẢ 36
4.1 Đặc điểm hình thái và vật hậu của Dẻ ăn hạt 36
4.1.1 Đặc điểm hình thái 36
4.1.2 Đặc điểm vật hậu 38
4.2 Đặc điểm phân bố và sinh thái của Dẻ ăn hạt 39
4.2.1 Vùng phân bố tự nhiên 39
4.2.2 Chế độ khí hậu 40
4.2.3 Đặc điểm đất đai 41
4.3 Một số đặc điểm cấu trúc lâm phần có loài Dẻ ăn hạt phân bố 42
4.3.1 Cấu trúc mật độ và tổ thành tầng cây cao 42
Trang 54.3.2 Cấu trúc tầng thứ và độ tàn che 45
4.3.3 Phân bố số cây theo N/D1.3 46
4.3.4 Phân bố N/Hvn 49
4.4.Đặc điểm tái sinh tự nhiên của loài Dẻ ăn quả 52
4.4.1.Mật độ cây tái sinh 52
4.4.2.Tổ thành cây tái sinh 53
4.4.3 Phân bố số cây tái sinh theo cấp chiều cao 54
4.4.4 Chất lượng và nguồn gốc cây tái sinh 58
4.4.5 Tỷ lệ cây tái sinh có triển vọng 62
4.5 Sản lượng quả và mối quan hệ của nó với một số nhân tố điều tra 64
4.5.1 Sản lượng quả 64
4.5.2 Mối quan hệ giữa sản lượng quả và một số nhân tố điều tra 66
4.6 Mật độ tối ưu 69
4.7 Đề xuất một số biện pháp kỹ thuật lâm sinh trong nuôi dưỡng Dẻ ăn hạt 70 Chương 5: KẾT LUẬN, TỒN TẠI, KHUYẾN NGHỊ 72
5.1 Kết luận 72
5.2 Tồn tại 74
TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
Trang 6DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU VÀ TỪ VIẾT TẮT
Trang 7DANH MỤC CÁC BẢNG
1.2
Diện tích, năng suất và sản lượng hạt Dẻ của các quốc gia
3.1 Diễn biến rừng và độ che phủ rừng giai đoạn (2002 -2008) 28 3.2 Hiện trạng diện tích đất lâm nghiệp năm 2008 29
4.8 Phân bố số cây tái sinh theo cấp chiều cao 57 4.9 Chất lượng và nguồn gốc cây tái sinh 61
Trang 8DANH MỤC CÁC HÌNH
4.3 Hình thái vỏ và vết đẽo của Dẻ ăn hạt 38
4.15 Phân bố số cây TS theo cấp chiều cao ở Lạng Giang 58 4.16 Phân bố số cây TS theo cấp chiều cao ở Lục Nam 59 4.17 Phân bố số cây TS theo cấp chiều cao ở Lục Ngạn 59 4.18 Phân bố số cây TS theo cấp chiều cao ở Sơn Động 60
4.22 Mối quan hệ giữa sản lượng với D1.3 70
Trang 9ĐẶT VẤN ĐỀ
Việt nam nằm trong vùng nhiệt đới gió mùa với 2/3 diện tích đồi núi,
do đó tài nguyên rừng có vai trò đặc biệt trong công cuộc phát triển kinh tế -
xã hội và bảo vệ môi trường ở nước ta Do nhiều nguyên nhân khác nhau như: sức ép gia tăng dân số, du canh du cư, đốt nương làm rẫy, khai thác rừng không kiểm soát, cháy rừng, chiến tranh,… nên diện tích và chất lượng rừng nước ta bị suy giảm liên tục trong thời gian dài, đặc biệt trong giai đoạn 1980 – 1985 trung bình mỗi năm chúng ta mất đi khoảng 235.000 ha rừng
Từ năm 1990 trở lại đây, diện tích và độ che phủ rừng đã tăng lên liên tục nhờ trồng rừng và phục hồi rừng tự nhiên, đặc biệt là chương trình 327 (phủ xanh đất trống đồi núi trọc); dự án trồng mới 5 triệu ha rừng; chỉ thị số 286/TTg ngày 02/05/1997 cấm khai thác rừng tự nhiên của chính phủ,….cùng với sự hỗ trợ của nhiều dự án quốc tế như PAM, KfW (Đức); JICA (Nhật Bản), theo thống kê đến 31/12/2007, diện tích rừng toàn quốc là 12.837.33ha (độ che phủ 38,2%) (Bộ NN&PTNT,2008)
Mặc dù diện tích rừng tăng nhưng trữ lượng và chất lượng rừng chưa được cải thiện rõ rệt, chủ yếu rừng tự nhiên hiện nay thuộc đối tượng rừng nghèo kiệt, giá trị kinh tế, phòng hộ, đa dạng sinh học,…không cao Rừng trồng sản xuất mới chỉ là rừng trồng nguyên liệu gỗ nhỏ Vì vậy, trong giai đoạn hiện nay, việc phát triển các loài cây bản địa đa tác dụng đang rất được quan tâm, Dẻ ăn hạt là một trong những loài cây đó
Dẻ ăn hạt là loài cây lá rộng bản địa, đa tác dụng: gỗ có thể làm nhà,
đồ gia dụng,….đặc biệt hạt dẻ là loại thực phẩm có giá trị, hạt có nhiều tinh bột, tùy theo hàm lượng tinh bột có thể chiếm tới 40-60%, đường 10-22%, protein 5-11%, chất béo 2-7,4%, có nhiều Vitamin A,B1, B2, C và nhiều
Trang 10khoáng chất, thơm ngon, bổ, dùng trong chế biến bánh kẹo, bột dinh dưỡng (Nguyễn Hữu Lộc,2003)
Ở Bắc Giang Dẻ ăn hạt là loài cây bản địa Đây là loài cây cho năng suất tương đối cao và đem lại nguồn thu nhập lớn cho người dân, góp phần giúp cho người dân nơi đây cải thiện được chất lượng cuộc sống, xóa đói giảm nghèo Dẻ ăn hạt không chỉ được tiêu thụ nhiều trong nước mà còn được xuất khẩu đi nhiều nước trên thế giới Tuy nhiên, hiện nay, chất lượng hạt và năng suất cây trồng chưa đạt kết quả cao, nhu cầu sử dụng hạt dẻ lại ngày càng tăng Vì vậy, việc nghiên cứu chi tiết về đặc điểm lâm học của loài Dẻ
ăn hạt ở rừng tự nhiên tại Bắc Giang làm cơ sở cho việc gây trồng và phát triển loài dẻ này tại địa phương là điều rất cần thiết
Xuất phát từ thực tiễn đó, đề tài: “Nghiên cứu một số đặc điểm lâm
học của loài Dẻ ăn hạt (Castanopsis boisii Hicket et Camus) tại Bắc Giang” nhằm góp phần bổ sung và hoàn thiện thêm những cơ sở khoa học,
đây cũng là cơ sở để đề xuất xây dựng quy mô trồng và quản lý loài cây bản địa đa tác dụng này, nhằm khai thác tối ưu những giá trị của rừng dẻ tự nhiên, góp phần phát triển kinh tế, nâng cao thu nhập, xóa đói giảm nghèo cho người dân địa phương
Trang 11Chương 1 TỔNG QUAN 1.1.Tình hình nghiên trên thế giới
1.1.1 Phân loại họ Dẻ
Họ Dẻ (Fagaceae) là một họ thực vật lớn và được nhiều nhà khoa học quan
tâm, vì vậy trên thế giới cũng có khá nhiều quan điểm khác nhau khi nghiên cứu phân loại họ Dẻ Theo Bentham và Hooker (1885) họ Dẻ chưa được coi là một
taxon độc lập, các chi thuộc họ Fagaceae được xếp trong họ Cupuliferae Nhưng
một trường phái khác coi họ Dẻ là một họ riêng gồm 7-9 chi và chia làm 2-5 phân
họ, như hệ thống của Milchior (1964), hệ thống Menitsky (1984), Takhtajan (1987), Soepadmo (1972) (dẫn theo Nguyễn Tiến Bân, 2003) [2]
Năm 1996, Takhtajan đưa ra hệ thống phân loại riêng khác với các hệ thống phân loại cũ [20] Ông đồng ý với quan điểm của Kupriantova (1962)
tách chi Nothofagus ra khỏi họ Fagaceae thành một họ riêng (dẫn theo
Khamleck, 2004) [10] Ngoài ra một số tác giả như Lecomte H (1931) trong
“Thực vật chí Đại cương Đông Dương” công bố họ Dẻ (Fagaceae) ở Đông
Dương có 150 loài
Nhìn chung, hệ thống phân loại của Takhtajan (1996) được coi là đầy
đủ và hợp lý hơn cả Theo hệ thống phân loại này, họ Dẻ được chia thành 4
phân họ với 7 chi: Castanea, Castanopsis, Fagus, Lithocarpus, Chrysolepis,
Trigonobalanus và Quercus Dẻ ăn hạt có tên khoa học khác nhau như Castanopsis boisii Hickel et Camus; Castanopsis hamata Duanmu; Castanopsis megaphyllya Hu Tuy nhiên, đi sâu vào phân tích thì chúng là
một loài Castanopsis boisii Hickel et Camus
Trang 121.1.2 Đặc điểm phân bố và sinh thái
Lecomte M H (1929 – 1931) khi nghiên cứu thực vật ở Đông Dương
đã cho rằng các loài cây thuộc họ Dẻ thường phân bố ở những vùng cao, khí
hậu mát đến lạnh quanh năm, ít mọc ở vùng thấp [19]
Theo Khamleck (2004) [10] họ Dẻ có phân bố khá rộng, với khoảng
900 loài được tìm thấy ở vùng ôn đới Bắc bán cầu, cận nhiệt đới và nhiệt đới, song chưa có tài liệu nào công bố chúng có ở vùng nhiệt đới Châu Phi Hầu hết các loài phân bố tập trung ở Châu Á, đặc biệt ở Việt Nam có tới 216 loài
và ít nhất là Châu Phi và vùng Địa Trung Hải chỉ có 3 loài Số liệu phân bố họ
Castanopsis boisii Hicket et Camus có phân bố tự nhiên ở Trung Quốc
(Quảng Đông, phía Tây Nam tỉnh Quảng Tây, Hải Nam và phía Đông Nam tỉnh Vân Nam) và Việt Nam (Đông Bắc) www.flora.huh.harvard.edu/china
Trang 131.1.3 Giá trị sử dụng
Hầu hết các loài Dẻ cho gỗ cứng, nặng, khó bị mối mọt, có thể dùng làm nhà, đóng tàu xe, làm cầu, trụ mỏ, đồ gia dụng, đặc biệt vỏ cây có nhiều tanin dùng để thuộc da, nhuộm vải có giá trị Đặc biệt các loài thuộc chi
Castanopsis có thể xếp vào loại cây đa tác dụng vừa cho gỗ, củi, hạt, Tanin,
và thân dùng gây trồng nấm (Khamleck, 2004) [10]
Ngoài giá trị cho gỗ, Dẻ ăn quả là một trong những loài thuộc chi
Castanopsis cho hạt làm thực phẩm ăn được (Lecomte, 1931) Theo Bounous
(2001) hạt dẻ là thực phẩm có giá trị Hàm lượng tinh bột khá cao tuỳ theo từng loài chiếm 40 - 60%, đường 10 - 22%, protein 5 - 11%, chất béo 2 - 7,4%, đặc biệt hạt dẻ còn chứa nhiều vitamin A, B1, B2, C, nhiều khoáng chất, thơm ngon, bổ, dùng trong chế biến bánh kẹo, bột dinh dưỡng (dẫn theo Trần Lâm Đồng và cs, 2007) [8]
1.1.4 Tình hình gây trồng Dẻ ăn hạt
Một số loài Dẻ ăn hạt đã được nghiên cứu khá toàn diện, từ chọn giống, nhân giống sinh dưỡng và các biện pháp kỹ thuật gây trồng Đặc biệt, Dẻ ván
(Castanea mollissima Blume) có xuất xứ từ Trung Quốc đã được nghiên cứu và
chọn được trên 300 giống và dẫn giống đến gây trồng ở nhiều nước khắp các châu lục như Nhật Bản, Triều Tiên, Mỹ, Pháp, Úc, Mỹ La tinh, Việt Nam, (dẫn theo Trần Lâm Đồng, 2007) [8] Theo thống kê của FAO (Bounous, 2001) trong giai đoạn 1991 - 2000, diện tích trồng Dẻ trên thế giới khá ổn định và dao động
từ 240.505 - 270.129 ha với năng suất từ 1.947 - 2.106 kg/ha, sản lượng đạt 470.652 - 536.945 tấn/năm Số liệu về diện tích, năng suất và sản lượng hạt Dẻ của các quốc gia trên thế giới năm 2000 tổng hợp tại bảng 1.2:
Trang 14Bảng 1.2 Diện tích, năng suất và sản lượng hạt Dẻ của các quốc gia trên
thế giới năm 2000
Quốc gia Diện tích (ha) Năng suất
(kg/ha)
Sản lượng (tấn)
Tỷ lệ (%)
Tóm lại, họ Dẻ là một họ lớn trong hệ thực vật, trên thế giới đã được nghiên cứu khá đầy đủ từ phân bố, phân loại, chọn giống và kỹ thuật gây trồng rừng lấy hạt cho một số loài và khu vực Hạt Dẻ là thực phẩm có giá trị, được gây trồng phổ biến ở nhiều nước trên thế giới, có sản lượng hàng năm cao đóng
Trang 15góp sản lượng lương thực trên thế giới Cây Dẻ còn là cây đa mục đích, gỗ dùng trong xây dựng, đồ mộc, hạt là thực phẩm có giá trị, Tuy nhiên, đối với
Dẻ ăn quả (Castanopsis boisii Hickel et Camus) thì rất ít tài liệu đi sâu nghiên
cứu loài cây này, do đặc thù chỉ có phân bố ở Trung Quốc và Việt Nam
1.2.Tình hình nghiên cứu trong nước
1 2.1 Về phân loại họ Dẻ
Các kết quả nghiên cứu về phân loại trong họ Dẻ ở nước ta cũng rất khác nhau, mặc dù vậy các tác giả đều thống nhất quan điểm rằng họ Dẻ (Fagaceae) là một trong 10 họ có nhiều loài lớn nhất nước ta (Nguyễn Tiến Bân, 2003) [2], (Viện địa lý, 1999) [16] Chính vì vậy, họ Dẻ là đối tượngnghiên cứu khá phức tạp, không những chúng có số loài lớn mà còn có vùng phân bố rộng, chủ yếu là cây gỗ lớn (Nông Văn Tiếp, Lương Văn Dũng, 2007) [15] Hai nhà khoa học người Pháp R Hickel và A Camus là những người đầu tiên đã có nhiều công trình nghiên cứu về gọ dẻ ở Việt Nam và Đông Dương Theo các tác giả, họ dẻ có 3 chi: Quercus, Lithocarpus và Castanopsis, với tổng số 157 loài (Lecomte M H (1929 – 1931) [19]
Các kết quả nghiên cứu về số loài trong họ dẻ ở nước ta cũng rất khác nhau, tuy nhiên các kết quả đều cho thấy họ dẻ là họ có nhiều loài bậc nhất nước ta Theo Võ Văn Chi và Dương Đức Tiến (1978) trong Phân loại thực vật học, tác giả cho rằng Fagaceae là họ duy nhất nằm trong bộ Fagales, ở Việt Nam có 5 chi: Castanea, Castsnopsis, Fagus, Lithocarpus và Quercus, đây là những loài cung cấp gỗ và cho quả ăn được Năm 1999, Lê Trần Chấn
và cộng sự đã chỉ ra họ dẻ là một trong 10 họ có số loài lớn nhất Việt Nam với khoảng 213 loài
Lê Mộng Chân, Lê Thị Huyên (2000) trong cuốn “Thực vật rừng” đã
chỉ ra họ Dẻ là một họ lớn gồm 7 chi với trên 600 loài, ở Việt Nam có 5 chi khoảng 120 loài [5] Còn theo Phạm Hoàng Hộ (2000) thì Việt Nam có 215
loài thuộc họ Dẻ [7] Trần Hợp (2002) trong cuốn “Tài nguyên cây gỗ Việt
Trang 16Nam”, tác giả cũng xác định họ Dẻ là họ duy nhất thuộc bộ Dẻ, và mô tả khá
chi tiết về hình thái, đặc điểm sinh thái và vùng phân bố của 5 chi dẻ với 59 loài [10] Theo Nguyễn Tiến Bân (2003) [2], họ Dẻ ở Việt Nam có 6 chi:
Castanea, Castanopsis, Fagus, Lithocarpus, Quercus và Trigonobalanus với
216 loài Hiện nay sử dụng chủ yếu theo hệ thống phân loại này Dẻ ăn hạt
(Dẻ Yên Thế) có tên khoa học là Castanopsis boisii Hicket et Camus thuộc chi Castanopsis họ Fagaceae, đây chính là loài đề tài nghiên cứu
1.2.2 Đặc điểm về hình thái Dẻ ăn quả
Dẻ ăn hạt là cây gỗ nhỏ, cao 7-15 m, thân hình trụ thường có múi, vỏ dầy màu xám nứt dọc, vết đẽo chảy nhựa tím nhạt sau đen, cành non nhẵn nhiều đốm trắng Lá hình trái xoan hoặc ngọn giáo dài 9-16 cm, rộng 3,5-5
cm, đầu nhọn dần và hơi lệch, đuôi nêm; mép lá nguyên, gân song song, nổi
rõ 10-15 đôi, lá kèm sớm rụng Hoa đơn tính cùng gốc, hoa đực tự bông đuôi sóc dài 4-7 cm, hoa cái dài 4-7 cm phủ lông mềm đầu nhụy xẻ 3; quả kiên bọc kín trong đấu, đường kính 1 cm phủ lông vàng, gai dài hợp thành bó xếp xoắn
ốc không phủ kín đấu Hệ rễ hỗn hợp, rễ cọc và rễ bên đều phát triển Dẻ ăn hạt có chu kỳ sai quả là 2 năm, cây ra hoa tháng vào 9-11, quả chín vào tháng 8-10 năm sau, chu kỳ sai quả 2 năm (Lê Mộng Chân, 2000) (Nguyễn Tiến Bân, 2003) [2], [5]
1.2.3 Đặc điểm phân bố và sinh thái
Dẻ ăn hạt có phân bố tự nhiên ở các tỉnh Bắc Giang, Hải Dương, Quảng Ninh và Nghệ An Tuy nhiên, tập trung chủ yếu ở các huyện Lục Nam, Lục Ngạn, Tân Yên và Yên Thế tỉnh Bắc Giang và Chí Linh - Hải Dương (Đặng Ngọc Anh, 1996); (Lê Mộng Chân, 2000) (Nguyễn Tiến Bân, 2003) (Nguyễn Thanh Bình, 2003) [1], [2], [3], [5]
Dẻ ăn hạt là cây thường xanh, ưa sáng, sinh trưởng tốt trên đất pha cát phát triển trên sa thạch hoặc phấn sa Trong tự nhiên loài này thường mọc tập trung thành quần thể ưu thế ở chân đồi và sườn đồi Dẻ ăn hạt tái sinh mạnh
Trang 17trên đất trống hoặc dưới tán rừng thưa, là cây tiên phong ở rừng sau khai thác kiệt (Lê Mộng Chân, 2000) (Nguyễn Tiến Bân, 2003) [2], [5]
Dẻ ăn hạt thích hợp với khí hậu nhiệt đới gió mùa, nhiệt độ bình quân năm 22-24 0C, lượng mưa 1300-1400 mm Là cây ưa sáng mạnh, chỉ những nơi chiếu sáng đầy đủ thì cây mới có nhiều hoa quả Cây ưa đất từ thịt nhẹ đến sét nhẹ, tầng dày trung bình 40-50 cm, pH= 4-4,5 Cây có thể mọc được trên rất nhiều loại đất nghèo mùn, đạm và có hàm lượng chất dinh dưỡng thấp, tỷ lệ kết von, đá lẫn cao (Nguyễn Thanh Bình, 2003) (Đặng Ngọc Anh, 1996) [1], [3] Khi nghiên cứu phục hồi rừng dẻ tại Hà Bắc, Đặng Ngọc Anh kết luận Dẻ ăn hạt có phân bố tập trung ở đô cao 50-100 m, với tổ thành khá cao chiếm 58,2 - 87,3%, Dẻ ăn hạt có khả năng tái sinh rất mạnh, đặc biệt tái sinh chồi, có thể 4-10 chồi/gốc chặt (Đặng Ngọc Anh, 1996) [1]
1.2.4 Giá trị sử dụng và năng suất, sản lượng hạt Dẻ
Dẻ ăn hạt là cây đa tác dụng cho gỗ nhỏ có thể dùng làm nhà, trụ mỏ hoặc đóng đồ gia dụng, hạt ăn ngon (Lê Mộng Chân, 2000); (Nguyễn Tiến Bân, 2003) [2], [5] Dẻ ăn hạt là cây đa mục đích có giá trị kinh tế, hoa Dẻ là nguồn cung cấp cho ngành nuôi ong có chất lượng cao, giá trị của cây Dẻ ăn hạt chủ yếu là hạt Hạt Dẻ là loại lương thực cao cấp, rang luộc ăn rất ngon và bùi, có thể chế biến thành kẹo cao cấp (Dự án trồng rừng KfW4, 2005) [6] Dẻ
ăn hạt được coi là cây gỗ bản địa có nhiều giá trị và là một cây rất gần gũi với người dân Hà Bắc, có thể trở thành cây kinh tế chủ lực của Hà Bắc (Lê Hữu Khánh, 1995) [11]
Theo Đặng Ngọc Anh (1996) thì 1 ha rừng Dẻ kinh doanh lấy hạt có mật độ ổn định khoảng 500-550 cây/ha, bình quân năng suất mỗi cây 5-10 kg, như vậy sản lượng thu hoạch có thể đạt 2.500 - 5.000 kg/ha, thì chỉ giá trị về hạt đã thu được khoảng 10 - 20 triệu đồng Giá hạt Dẻ ăn hạt tại Chí Linh dao động từ 5.000 - 10.000 đồng/kg, so với một số loài cây ăn quả khác như Vải,
Trang 18Nhãn, giá trị hạt Dẻ là rất cao, điều này mở ra nhiều cơ hội cho việc phát triển cây Dẻ ở nước ta (Nguyễn Khánh Xuân, 2006) [17]
1.2.5 Tình hình nghiên cứu đặc điểm lâm học và các biện pháp kỹ thuật đối với Dẻ ăn hạt
Đặc điểm lâm học:
Tầng cây cao Dẻ ăn hạt phục hồi tại Bắc Giang có mật độ từ 205 (Lục Nam) - 405 cây/ha (Yên Thế), tương đương chỉ số IV% dao động từ 39,3% - 59,9% Dẻ ăn quả thường mọc với các loài cây ưu thế như Lim xanh, Trám trắng, Re vàng, Kháo vàng, Dẻ ăn hạt chiếm vị trí tầng ưu thế sinh thái Phân
bố cấu trúc n/Hvn và n/D1.3 của rừng Dẻ ăn hạt phục hồi phù hợp với phân
bố Weibull, quan hệ giữa các chỉ tiêu sinh trưởng khá chặt theo các dạng hàm toán học Mật độ tái sinh Dẻ ăn hạt từ 1.680 - 2.640 cây/ha, tuy nhiên tỷ lệ cây tái sinh có triển vọng lại biến động khá lớn 4,8 - 39,4% Dẻ ăn hạt chủ yếu tái sinh chồi (> 75,8%) (Nguyễn Thanh Bình, 2003) [3]
Kỹ thuật gây trồng: Trên cơ sở tổng hợp các kỹ thuật về gây trồng, Dự án
trồng rừng KfW4 đã xây dựng hướng dẫn kỹ thuật gây trồng rừng Dẻ ăn hạt cho vùng thực hiện Dự án Hướng dẫn kỹ thuật gây trồng Dẻ ăn hạt khá hoàn chỉnh từ khâu vườn ươm đến kỹ thuật trồng, thu hái và bảo quản, có thể tóm tắt như sau:
Đất vườn ươm: chọn đất có thành phần cơ giới thịt nhẹ, không dùng đất
đã qua canh tác cây nông nghiệp, hoặc đất bị nhiễm bệnh
Trồng rừng: Dẻ ăn hạt nên trồng bổ sung trên nhóm lập địa A2, trồng mới
trên nhóm lập địa B với mật độ 1111 cây/ha (3m x 3m) và lập địa D2 với mật độ
1667 cây/ha (3m x 2m) Thời vụ trồng vụ xuân tháng 2-3 và vụ thu tháng 7 - 9
Thu hái, chế biến, bảo quản hạt: Thời điểm thu hái cuối tháng 9 đến
25/10, có thể trèo hoặc dùng cù nèo giựt lấy quả Hoặc có thể trải tấm vải nhựa, hoặc quét sạch dưới gốc để nhặt hạt Hạt Dẻ được sơ chế bằng cách phơi khô trong nắng, đập nhẹ quả để tách hạt, sau đó sàng bỏ tạp chất, loại bỏ
Trang 19hạt nhỏ Hạt Dẻ có chất dầu vì vậy hạt dễ bị giảm khả năng nảy mầm và chất lượng hạt khi gặp nhiệt độ, độ ẩm cao, ánh sáng không thích hợp Để kéo dài thời gian để giữ hạt tránh nhanh mất phẩm chất có thể bảo quản trong điều kiện khô hoặc cất trong chum vại để nơi thoáng mát thì có thể để được 1 tháng
Chăm sóc, nuôi dưỡng: Cần điều chỉnh không gian dinh dưỡng, loại bỏ cây
bụi, cây tái sinh phi mục đích ảnh hưởng đến cây Dẻ ăn hạt, tỉa bỏ cành ở dưới thấp không có khả năng quang hợp, và hạ dần mật độ có thể còn 600-700 cây/ha
Nuôi dưỡng, tái sinh:
Lê Hữu Khánh (1995) [11] khi nghiên cứu nuôi dưỡng, tái sinh và trồng rừng Dẻ ăn hạt ở Hà Bắc đã nhận xét: Có thể áp dụng các tiến bộ khoa học công nghệ để khoanh nuôi, tái sinh phục hồi rừng Dẻ ăn hạt ở Hà Bắc, với khoanh nuôi có thể áp dụng các biện pháp kỹ thuật đơn giản, giá thành rẻ rất thích hợp với sự phát triển kinh tế hộ gia đình
Theo Đặng Ngọc Anh (1996) [1], người dân Hà Bắc đã nhận thấy tiềm năng của rừng Dẻ ăn hạt đem lại nên đã khoanh nuôi, phục hồi hàng ngàn ha, tạo thành những quần thụ rộng lớn Theo tác giả việc khoanh nuôi, phục hồi tự nhiên rừng Dẻ ăn hạt là một hướng đi đúng Tuy nhiên, cần phải có giải pháp kinh tế -
kỹ thuật phù hợp với quy luật phân bố tự nhiên và đặc điểm lâm sinh của rừng
Dẻ ăn hạt thì sẽ đạt hiệu quả như mong muốn, cũng cần có quy trình, quy phạm
cụ thể cho việc khoanh nuôi phục hồi tự nhiên rừng Dẻ ăn hạt tại Hà Bắc
Dự án "Quản lý bền vững rừng Dẻ tái sinh tại Chí Linh, Hải Dương" từ
năm 2001 đến 2003 được thực hiện bởi Trung tâm Môi trường Lâm sinh Nhiệt đới đã đạt được kết quả khá tốt như đã xây dựng được 150 ha mô hình trình diễn về quản lý bền vững rừng Dẻ tái sinh tại Chí Linh Qua đánh giá ban đầu, sau khi áp dụng các biện pháp kỹ thuật năng suất hạt đã tăng 6 lần từ
80 kg/ha/năm lên 480 kg/ha/năm, tuy nhiên chưa đạt mức tối đa, khả năng đạt 3.000 - 4.000 kg/ha/năm Dự án còn thử nghiệm mô hình kết hợp kinh doanh rừng Dẻ với nuôi ong lấy mật tận dụng hoa Dẻ vào mùa đông nâng cao thu
Trang 20nhập và tăng hiệu quả phòng hộ của rừng, triển khai việc nuôi ong cho 25 hộ với 100 tổ ong Công thức: Dẻ tái sinh + Vải thiều + Chè đang phát huy tác dụng giữ đất, giữ nước, bảo vệ môi sinh và mang lại hiệu quả kinh tế cao ở huyện Chí Linh Mặc dù vậy, dự án còn một số vấn đề tồn tại như: năng suất hạt Dẻ chưa đạt tối đa (do kỹ thuật thu hái, mật độ để lại nuôi dưỡng, biện pháp kỹ thuật, ), vấn đề kỹ thuật sơ chế, bảo quản hạt Dẻ sau thu hái, (Nguyễn Khánh Xuân, 2003) [17]
Ảnh hưởng của một số nhân tố đến năng suất hạt Dẻ:
Theo kết quả nghiên cứu của Nguyễn Thanh Bình, hàm lượng mùn có quan hệ với năng suất hạt theo dạng hàm bậc nhất với phương trình: NS = 17,37 + 1,7*M; quan hệ với hàm lượng đạm theo phương trình NS = 9,45 + 37,37*Đ; Năng suất hạt có quan hệ với độ tàn che theo công thức NS = 11,493 - 8,197*log (TC) Khi nghiên cứu ảnh hưởng của phân bón tới năng suất hạt tác giả nhân xét, có sự khác nhau giữa năng suất rừng Dẻ bón phân và rừng Dẻ không bón phân, bón phân có tác dụng tăng năng suất hạt gấp 1,5 lần bón phân (Nguyễn Thanh Bình, 2003) [3]
Chế biến, bảo quản hạt Dẻ:
Ở nước ta, có 2 loại hạt Dẻ được biết đến nhiều nhất là Dẻ Trùng Khánh và Dẻ Yên Thế Tuy nhiên, do được quan tâm nhiều hơn nên vấn đề chế biến, bảo quản hạt chủ yếu nghiên cứu về hạt Dẻ Trùng Khánh Mới đây,
Sở Khoa học - Công nghệ Cao Bằng phối hợp Viện Cơ điện Nông nghiệp nghiên cứu chế tạo công nghệ và thiết bị để bảo quản và chế biến hạt dẻ Theo
đó, hạt dẻ sẽ được đóng hộp hoặc sấy khô, cho phép kéo dài thời gian bảo quản
từ sáu tháng tới hai năm mà vẫn giữ nguyên mùi vị, chất lượng Do được đầu tư đúng hướng nên đã đưa ra thị trường các loại sản phẩm được chế biến từ hạt Dẻ Trùng Khánh như: hạt Dẻ đóng hộp, hạt Dẻ sấy, hạt Dẻ hầm thịt gà, hạt Dẻ hầm chân giò, (www.cres.edu.vn) Với công nghệ của Việt Nam, chi phí sản xuất ra hạt dẻ thương phẩm rẻ hơn nhiều so với hàng ngoại nhập, phù hợp với thị hiếu
Trang 21người tiêu dùng Trong thử nghiệm bảo quản hạt dẻ trong nhiều điều kiện khác nhau như ở điều kiện lạnh (nhiệt độ 50C - 100C) và trong cát khô, sau 40 ngày bảo quản khối lượng hạt dẻ hao hụt là 14%, tỷ lệ hạt thối, mốc là 1,3%, một tỷ lệ hao hụt có thể chấp nhận được Các nhà khoa học cũng tiến hành nghiên cứu
công thức chế biến hạt dẻ dựa trên hạt dẻ chế biến có tên ”Nutella” nhập ngoại
có bán trên thị trường Bước đầu cho thấy, chế biến hạt dẻ dạng tươi, có lọc bỏ
bã cho hạt dẻ thành phẩm tương đương như sản phẩm ”Nutella”
(www.sonladost.gov.vn) Điều này chứng tỏ rằng vấn đề chế biến, bảo quản hạt
Dẻ ăn quả đang rất cần được quan tâm nghiên cứu, chưa có một công trình hay dây chuyền công nghệ nào nghiên cứu chế biến, bảo quản hạt Dẻ Yên Thế mà người dân chỉ chế biến, bảo quản theo hình thức tự phát
Trên đây là tổng hợp các kết quả của một số công trình nghiên cứu về
Dẻ ăn hạt ở Việt Nam Các kết quả nghiên cứu đã đưa ra được bức tranh chung về cây Dẻ ăn hạt và phần nào đáp ứng được yêu cầu trong kỹ thuật gây trồng Dẻ ăn hạt Mặc dù vậy, vẫn còn một số vấn đề cấp thiết cần giải quyết
để nâng cao năng suất hạt của rừng Dẻ nhằm cải thiện đời sống người dân sống gần rừng như: Chưa tổng hợp và phân tích ưu nhược điểm các kỹ thuật nuôi dưỡng rừng Dẻ ăn hạt do vậy chưa đề xuất giải pháp kỹ thuật phù hợp áp dụng nuôi dưỡng rừng Dẻ ăn quả (điều chỉnh mật độ Dẻ ăn quả để lại nuôi
dưỡng? Biện pháp tác động, ) dẫn đến năng suất và chất lượng rừng Dẻ ăn
hạt ngày một suy giảm Vì vậy, đây là những bức xúc của hàng vạn nông dân
ở Bắc Giang mà cuộc sống của họ lại phụ thuộc vào rừng Dẻ ăn hạt
Xuất phát từ lý do trên, đề tài “Nghiên cứu một số đặc điểm lâm học
của Dẻ ăn hạt (Castanopsis boisii Hickel et Camus) tại Bắc Giang” đặt ra
là cần thiết Kết quả nghiên cứu sẽ góp phần nâng cao năng suất, chất lượng hạt Dẻ và hiệu quả kinh tế rừng Dẻ góp phần phát triển diện tích rừng Dẻ
ăn hạt, đáp ứng yêu cầu phòng hộ tăng thu nhập cho hộ gia đình tại một số địa phương tỉnh Bắc Giang
Trang 22Chương 2 MỤC TIÊU, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2.1.Mục tiêu nghiên cứu
- Về lý luận: Xác định được một số đặc điểm lâm học như: hình thái,
sinh thái, phân bố, vật hậu, cấu trúc, tái sinh của loài Dẻ ăn hạt tại Bắc Giang
- Về thực tiễn: Bước đầu đề xuất một số biện pháp kỹ thuật lâm sinh
trong nuôi dưỡng rừng Dẻ ăn hạt tại Bắc Giang
2.2 Giới hạn nghiên cứu
- Về đối tượng nghiên cứu: Đề tài chỉ nghiên cứu loài Dẻ ăn hạt phân
bố tự nhiên
- Về nội dung nghiên cứu: chỉ nghiên cứu đặc điểm lâm học của loài
Dẻ ăn hạt, bao gồm: đặc điểm hình thái và vật hậu, phân bố và sinh thái, cấu trúc lâm phần, tái sinh tự nhiên, sản lượng quả và mối quan hệ giữa sản lượng quả với một số nhân tố điều tra
- Về phạm vi nghiên cứu: chỉ nghiên cứu ở 4 huyện là Sơn Động, Lục Nam, Lục Ngạn, Lạng Giang
2.3 Nội dung nghiên cứu
- Đặc điểm hình thái và vật hậu của loài Dẻ ăn hạt
- Đặc điểm phân bố và sinh thái của Dẻ ăn hạt
- Một số đặc điểm cấu trúc lâm phần có Dẻ ăn hạt phân bố
- Đặc điểm tái sinh tự nhiên của Dẻ ăn hạt
- Sản lượng quả và mối quan hệ giữa sản lượng quả với một số nhân tố điều tra
- Đề xuất một số biện pháp kỹ thuật lâm sinh trong gây trồng, nuôi dưỡng Dẻ ăn hạt
Trang 232.4.Phương pháp nghiên cứu
2.4.1.Phương pháp nghiên cứu chung
Cây rừng luôn sinh trưởng, phát triển theo thời gian và phụ thuộc vào điều kiện lập địa Vì vậy, nghiên cứu đặc điểm lâm học của loài cây là vấn đề rất phức tạp đòi hỏi phải có thời gian lâu dài thì mới có thể xác định được các đặc tính của chúng Chính vì vậy, phương pháp tiếp cận của đề tài dựa trên
nguyên tắc “Lấy không gian thay thế thời gian” để làm cơ sở nghiên cứu cho
đối tượng Dẻ ăn hạt Sơ đồ các bước nghiên cứu như sau:
Tổng hợp, phân tích, đánh giá kết quả nghiên cứu
Thu thập, kế thừa các tài liệu, số liệu đã có
Điều tra, thu thập số liệu tại hiện trường nghiên cứu
Hình thái vật hậu;
Thời điểm
ra hoa, kết quả, quả chín
Đề xuất biện pháp kỹ thuật lâm sinh phù hợp
Mật độ, tổ thành, chất lượng, nguồn gốc tái sinh
Sản lượng quả và hạt
Hình 2.1 Sơ đồ nghiên cứu tổng quát
Trang 24Đề tài áp dụng phương pháp kế thừa các tài liệu nghiên cứu đã có kết hợp với điều tra ngoài thực địa, sử dụng thống kê toán học trong lâm nghiệp
để xử lý và phân tích số liệu với sự trợ giúp của phần mềm SPSS và Excel
2.4.2.Phương pháp nghiên cứu cụ thể
2.4.2.1 Nghiên cứu đặc điểm hình thái và vật hậu loài Dẻ ăn hạt
Áp dụng phương pháp kế thừa số liệu và điều tra khảo sát bổ sung ngoài hiện trường: Trên mỗi địa điểm chọn 5 cây mẹ Dẻ ăn hạt làm cây tiêu chuẩn để nghiên cứu đặc điểm hình thái và vật hậu Cây được lựa chọn là cây sinh trưởng tốt, thân thẳng, không cong queo, sâu bệnh, đã cho quả ổn định ít nhất là trong 3 năm Trên mỗi cây mẹ đánh dấu 3 cành tiêu chuẩn trung bình ở 3 vị trí tán: ngọn, giữa và dưới tán Các chỉ tiêu được quan sát và theo dõi gồm: Thời
kỳ thay đổi lá; Thời kỳ ra chồi, ra hoa, nở hoa, kết quả; Thời kỳ quả chín, rơi rụng; Mô tả và chụp ảnh hình thái lá, hoa, quả, hạt; Chu kỳ sai quả Các chỉ tiêu vật hậu được theo dõi, quan sát trong 3 năm liên tục
2.4.2.2 Nghiên cứu đặc điểm phân bố và sinh thái loài Dẻ ăn hạt
Dựa trên các tài liệu nghiên cứu đã có về vùng phân bố và đặc điểm sinh thái của Dẻ ăn hạt tại Bắc Giang, tiến hành khảo sát và điều tra bổ sung trên các ô tiêu chuẩn điển hình ở các địa điểm khác nhau để xác định vùng phân bố và đặc điểm sinh thái của Dẻ ăn hạt Sử dụng máy định vị GPS để thu thập số liệu về vị trí địa lý, địa hình, độ cao, độ dốc,… kết hợp thu thập các
số liệu khí hậu thủy văn tại các trạm quan trắc của khu vực nghiên cứu
Ngoài ra, trong mỗi địa điểm nghiên cứu chọn một vị trí đại diện cho khu vực để tiến hành đào phẫu diện đất (kích thước rộng 0,8 m; dài 1,6 - 2 m; sâu 0,9 - 1,2 m), mô tả và lấy mẫu ở độ sâu 20 – 40cm để phân tích Các chỉ tiêu phân tích gồm:
- Hàm lượng mùn (%) theo phương pháp Walkley - Black;
Trang 25- Đạm (N%) tổng số bằng phương pháp Kjendhal;
- P tổng số theo phương pháp Photometry
- K tổng số theo phương pháp Flame photometer;
- pH đo trên máy pH metress;
- Thành phần cơ giới theo phương pháp USDA của Mỹ
- Độ ẩm đất theo phương pháp trọng lượng
Mẫu đất được phân tích tại Viện thổ nhưỡng Nông hoá
Từ kết quả điều tra tiến hành xác định các yếu tố ảnh hưởng đến phân
bố của Dẻ ăn hạt như điều kiện khí hậu, đất đai, độ cao, trạng thái rừng
2.4.2.3 Nghiên cứu một số đặc điểm cấu trúc lâm phần có loài Dẻ ăn hạt phân bố
Chọn và lập 11 ÔTC điển hình tạm thời trên các lâm phần có Dẻ ăn hạt phân bố, diện tích mỗi ÔTC là 2500 m2 (50m x 50m).Trong ÔTC xác định tên các loài cây và đo đếm toàn bộ theo các chỉ tiêu như: D1,3; Hvn; Hdc; Dt; Lt Vẽ trắc đồ đứng và ngang theo băng 50 m x 10 m theo phương pháp của Rollet, 1964
- Cấu trúc tổ thành loài cây gỗ ưu thế
Tổ thành loài được tính theo phần trăm (%) giá trị quan trọng IV (Importance Value) của một loài cây nào đó trong tổ thành của rừng Theo Daniel Marmilod thì những loài có giá trị IV ≥ 5% là loài cây ưu thế trong tổ thành của lâm phần
Trị số IV được tính theo công thức (2.1)
2
%
% (%) Ni Gi
Ni là tổng số cây của loài i
N là tổng số cây của các loài trong lâm phần
Trang 26Gi% là % theo tổng tiết diện ngang của loài i trong quần xã thực vật rừng.
G là tổng diện tích của các cây lâm phần
- Cấu trúc tầng thứ
- Phân bố số cây theo đường kính và theo chiều cao
Việc mô hình hoá quy luật cấu trúc tần số trong thực tiễn và nghiên cứu Nông - Lâm nghiệp có ý nghĩa rất lớn, một mặt nó cho biết các quy luật phân
bố vốn tồn tại khách quan trong tổng thể, mặt khác các quy luật phân bố này
có thể biểu thị một cách gần đúng bằng các biểu thức toán học cho phép xác định tần số tương ứng với mỗi tổ của đại lượng điều tra nào đó Ngoài ra việc nghiên cứu các quy luật phân bố còn tạo tiền đề để đề xuất các biện pháp kỹ thuật lâm sinh hợp lý
Tính các đặc trưng mẫu theo chương trình thống kê mô tả, chia tổ ghép nhóm các trị số quan sát theo công thức kinh nghiệm của Brooks và Carruthere
m = 5.lg(N) (2.2)
m
Xmin Xmax
(2.3) Trong đó: m là số tổ
K: cự ly tổ
Xmax, Xmin là trị số quan sát lớn nhất và nhỏ nhất
Căn cứ vào phân bố thực nghiệm, tiến hành mô hình hoá quy luật cấu trúc tần số theo những phân bố lý thuyết khác nhau
+ Phân bố giảm (phân bố mũ)
Trong Lâm nghiệp thường dùng phân bố giảm dạng hàm Meyer để mô phỏng quy luật cấu trúc tần số số cây theo đường kính (N/D1.3), số cây theo chiều cao (N/Hvn) ở những lâm phần hỗn giao, khác tuổi qua khai thác chọn không quy tắc nhiều lần Hàm Meyer có dạng:
Trang 27ft = .e-x (2.4) Trong đó: ft là tần số quan sát, x là cỡ kính hoặc cỡ chiều cao
, là hai tham số của hàm Meyer
Để xác định tham số của phân bố giảm dạng hàm Meyer, trước hết phải tuyến tính hoá phương trình mũ, bằng cách logarit hoá cả hai vế của phương trình (2.4) để đa về dạng phương trình hồi quy tuyến tính một lớp có dạng y = a + bx + Phân bố Weibull: Là phân bố xác suất của biến ngẫu nhiên liên tục với miền giá trị (0,+ ), hàm mật độ có dạng:
α 1 λ.xα
e α.λ.x
1 i
1 ( x
Trong đó: =f0/n, với f0 là tần số quan sát tuyệt đối ứng với tổ đầu tiên
n là dung lượng mẫu
Trang 28X = (xi – x1)/k với k là cự ly tổ, xi là trị số giữa cỡ đường kính (chiều cao) thứ i, x1 là trị số giữa cỡ đường kính ( chiều cao) tổ thứ nhất Như vậy X lấy các giá trị 0, là những số tròn
* Kiểm tra giả thuyết về luật phân bố:
Cho giả thuyết H0: Fx(x) = F0(x), trong đó F0(x) là một hàm phân bố hoàn toàn xác định Để kiểm tra giả thuyết H0, người ta dùng tiêu chuẩn phù hợp khi bình phương của Pearson:
flt
flt) (ft χ
Nếu 2 tính 052 tra bảng với bậc tự do k = m - r -1 thì phân bố lý thuyết không phù hợp với phân bố thực nghiệm (Ho-)
2.4.2.4 Nghiên cứu đặc điểm tái sinh tự nhiên
Điều tra cây tái sinh được tiến hành đồng thời với điều tra tầng cây cao trên các ÔTC Trong mỗi ÔTC thiết lập 5 ô dạng bản (ÔDB) diện tích 25 m2
(5 m x 5 m), các ÔDB được bố trí ở 4 góc của ÔTC và 1 ô ở giữa Các chỉ tiêu xác định: Loài cây, Hvn, phẩm chất cây, nguồn gốc cây tái sinh Phẩm chất cây tái sinh phân làm 3 cấp:
+ Cây tốt (A): là cây sinh trưởng tốt, thân tròn thẳng, tán lá phát triển đều, không sâu bệnh, khuyết tật
+ Cây trung bình (B): là cây sinh trưởng bình thường, ít khuyết tật + Cây xấu (C): là cây sinh trưởng kém, cong queo, khuyết tật, sâu bệnh
Trang 29Cây triển vọng là cây thuộc loài mục đích, sinh trưởng tốt, chiều cao vượt trên lớp cây bụi, thảm tươi xung quanh, và có phẩm chất trên trung bình
- Mật độ tái sinh được tính theo công thức (2.9)
4 5
125 )
/
n ha
cây N
i
Trong đó: ni: là số cây trong ÔDB
125 là tổng diện tích của 5 ÔDB
- Xác định tổ thành loài cây tái sinh
- Phân bố số cây tái sinh theo chiều cao
Đề tài chia chiều cao theo 5 cấp: Cấp I (H < 0,49 m); Cấp II (0,5 - 0,99 m); Cấp III (1 - 1,49 m); Cấp IV (1,5 - 1,99 m); Cấp V (2 - 2,49 m) Số cây từng cấp được tính theo (2.7)
4 5
125 )
/
n ha
cây N
i
Trong đó: ni là số cây từng cấp trong ÔDB
125 là tổng diện tích của 5 ÔDB
- Chất lượng cây tái sinh và nguồn gốc tái sinh
Số cây tái sinh ở từng cấp chất lượng và nguồn gốc được tính theo công thức :
4 5
125 )
/
n ha
cây N
Trang 302.5 Sản lượng quả và mối quan hệ giữa sản lượng quả và một số nhân tố điều tra
Sử dụng phương pháp 6 cây so sánh (Nguyễn Huy Sơn, Lê Đình Khả, 2003), các chỉ tiêu đo đếm gồm: tuổi cây (năm), đường kính (D1.3), chiều cao cây (Hvn), chiều cao dưới cành (Hdc), đường kính tán (Dt), tình hình sinh trưởng (tốt, trung bình, xấu), chu kỳ sai quả (năm) Từ số liệu thu thập được, tiến hành chọn ra cây tiêu chuẩn Cây tiêu chuẩn là cây có các chỉ tiêu đo đếm gần với giá trị trung bình
Thu thập năng suất quả trên các cây tiêu chuẩn, đồng thời đo đếm các chỉ tiêu sinh trưởng như D1.3; Hvn; Hdc; Dt, năng suất quả mỗi cây Số liệu của các chỉ tiêu trên thu thập trên 30 cây tiêu chuẩn Từ số liệu thu thập được ngoài thực địa áp dụng phương pháp phân tích thống kê trong lâm nghiệp với
sự trợ giúp của các phần mềm chuyên dụng như SPSS 13.0 và Excel trên máy
vi tính để mô phỏng mối quan hệ giữa năng suất hạt với các chỉ tiêu sinh trưởng Quả thu hái ở trạng thái vỏ quả chín vàng
Từ diện tích tán trung bình của cây tiêu chuẩn, ta tính mật độ tối ưu cho lâm phần theo công thức của P.R Kelle (1932):
Trang 31Chương 3 ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN, KINH TẾ - XÃ HỘI KHU VỰC NGIÊN CỨU 3.1 Đặc điểm tự nhiên
3.1.2 Địa hình địa thế
Bắc giang có địa hình trung du và là vùng chuyển tiếp giữa vùng núi phía Bắc với châu thổ sông Hồng ở phía Nam Tuy phần lớn diện tích tự nhiên của tỉnh là núi đồi nhưng nhìn chung địa hình không bị chia cắt nhiều Khu vực phía bắc tỉnh là vùng rừng núi Bắc Giang nằm kẹp giữa 2 dãy núi hình cánh cung và cùng mở ra như nan quạt, rộng ở hướng Đông Bắc, chụm ở phía Tây Nam (tại vùng trung tâm tỉnh), là: cánh cung Đông triều và cánh cung Bắc Sơn, phần giữa phía Đông tỉnh có địa hình đồi núi thấp là thung lũng giữa hai dãy núi này Phía Đông và Đông Nam tỉnh là cánh cung Đông Triều với ngọn núi Yên Tử nổi tiếng, cao trung bình 300-900m so với mặt biển, trong đó đỉnh cao nhất là 1068m; phía Tây Bắc là dãy núi cánh cung Bắc Sơn ăn lan vào tới huyện Yên Thế, cao trung bình 300-500m, chủ yếu là những đồi đất tròn trĩnh và thoải dần về phía Đông Nam
Trang 32Địa hình Bắc Giang gồm 2 tiểu vùng miền núi và trung du có đồng bằng xen kẽ Vùng trung du gồm 2 huyện Hiệp Hòa, Việt Yên và thành phố Bắc Giang Vùng miền núi gồm 7 huyện: Sơn Động, Lục Nam, Lục Ngạn, Yên Thế, Tân Yên, Yên Dũng, Lang Giang, trong đó 1 phần các huyện Lục Ngạn, Lục Nam, Yên Thế và Sơn Động là vùng núi cao
Đặc điểm chủ yếu của địa hình miền núi (chiếm 72% diện tích toàn tỉnh) chia cắt mạnh, phức tạp, chênh lệch về độ cao lớn Nhiều vùng đất đai còn tốt, đặc biệt ở khu vực còn rừng tự nhiên Vùng đồi núi thấp có thể trồng được nhiều cây ăn quả, cây công nghiệp như: vải thiều, cam, chanh, na, hồng, đậu tương, chè,….; chăn nuôi các loại gia súc gia cầm, thủy sản
Đặc điểm chủ yếu của địa hình miền trung du (chiếm 28% diện tích toàn tỉnh) là đất gò, đồi xen lẫn đồng bằng rộng, hẹp tùy theo từng khu vực Vùng trung
du có khả năng trồng nhiều loại cây lương thực, thực phẩm, cây ăn quả, cây công nghiệp, chăn nuôi các loại gia súc, gia cầm, cá và nhiều loại thủy sản khác
3.1.3.Khí hậu
Bắc Giang nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa Đông Bắc Một năm có 4 mùa rõ rệt: mùa đông lạnh, mùa hè nóng ẩm, mùa xuân, thu khí hậu
ôn hòa nhiệt độ trung ình 22-23oC, độ ẩm dao động lớn từ 73-87%
Lượng mưa trung bình hàng năm 1500-1700mm đủ đáp ứng nhu cầu nước cho sản xuất và đời sống Độ ẩm không khí trung bình 82% Nắng trung bình hàng năm từ 1500-1700giờ, thuận lợi cho phát triển các cây trồng nhiệt đới, á nhiệt đới
Chế độ gió: gió Đông Nam về mùa hè và gió Đông Bắc thường kèm mưa rét, sương muối vào mùa Đông
Thời tiết Bắc Giang ảnh hưởng đến sản xuất lâm nghiệp rõ rệt nhất là gây chết cây Keo lá tràm khi nhiệt độ xuống quá thấp 5-7o và gió lốc cục bộ
về mùa hè thường làm đổ gãy cây Keo lai
Trang 333.1.4.Thủy văn
Trên toàn lãnh thổ Bắc Giang có 3 con sông lớn chảy qua: sông Thương , sông Cầu và sông Lục Nam, với tổng chiều dài 374km Lưu lượng lớn và có nước quanh năm
Theo số liệu tại 2 trạm thủy văn Bắc Giang và Cầu Sơn trên sông Thương cho thấy: mực nước sông trung bình tại Phú Thượng là 2,18m, mực nước trung bình mùa lũ 4,3m Lưu lượng mùa kiệt nhỏ nhất Qmin=1m3/s Lưu lượng lũ lớn nhất Qmax=1400m3/s Mực nước lũ lơn nhất tại Bắc Giang từ 6,2 - 6,8m
Ngoài sông suối, Bắc Giang còn có nhiều hồ, đầm, trong đó có hồ Cấm Sơn và Khuôn Thần Hồ Cấm Sơn nằm ở khu vực giáp tỉnh Lạng Sơn, dài 30km, nơi rộng nhất 7km và chỗ hẹp nhất 200m Hồ Cấm Sơn có diện tích mặt nước 2.600ha, vào mùa mưa có thể lên tới 3000ha Hồ Khuôn Thần có diện tích mặt nước 240ha và lòng hồ có 5 đồi đảo được phủ kín bởi rừng thông trên 20 tuổi Lượng nước mặt, nước mưa, nước ngầm đủ khả năng cung cấp nước cho các ngành kinh tế và sinh hoạt
3.1.5.Các dạng đất đai
Kết quả điều tra chuyên đề dạng đất cho thấy tỉnh Bắc Giang có các dạng đất sau:
+ Đất Feralit mùn vàng nhạt: phân bố ở độ cao 700m trở lên, phát triển
trên đá sét, phiến thạch sét, phiến mica Đất có màu vàng nhạt, tầng mùn khá dầy, tầng đất trung bình đến mỏng Quá trình Feralit kém điển hình đồng thời quá trình mùn hóa tương đối mạnh Nguyên nhân chính là do quy luật đai cao (chế độ nhiệt thấp, ẩm độ cao của núi trung bình) Tính chất Feralit kém điển hình thể hiện ở những đặc điểm như: màu sắc kém rực rỡ, màu vàng nhạt chiếm hầu hết phẫu diện Đất luôn luôn ẩm, thậm chí ướt, tầng tích tụ luôn có màu vàng nhạt Tính chất mùn hóa tương đối mạnh thể hiện ở lớp thảm mục
và tầng chứa mùn Lớp thảm mục dày trung bình 2-4cm, tầng chứa mùn dày
Trang 3410-15cm Sở dĩ quá trình mùn hóa tương đối mạnh bởi nhiệt độ thấp, độ ẩm cao do đó quá trình phân giải chất hữu cơ rất từ từ tạo ra quá trình tích lũy chất hữu cơ trong đất mạnh hơn quá trình phân giải chất hữu cơ để tổng hợp mùn Vì vậy tỷ lệ C/N luôn cao
+ Đất Feralit đỏ vàng: phân bố ở độ cao dưới 700m, phát triển trên đá
sét, phiến thạch sét, phiến thạch mica, đá cát kết, dăm kết Đất có màu vàng,
đỏ, nâu, màu sắc tương đối rực rỡ, tầng mùn mỏng, tầng đất dày đến mỏng Quá trình phân giải chất hữu cơ diễn ra mạnh mẽ, axit fulvic> axit humic Đất chứa rất ít khoáng nguyên sinh (chủ yếu là khoáng vật nguyên sinh có độ bền cao như thạch anh) Đất có phản ứng chua, pHKCl khoảng 4-5
+ Tổ hợp đất đồng bằng, thung lũng: bao gồm đất phù sa mới, phù sa
cũ, đất sườn tích, lũ tích, sản phẩm hỗn hợp Tổ hợp đất này có đặc điểm chung
là đất có tầng đất dày, có màu vàng sẫm chiếm gần hết phẫu diện, đất có sự phân lớp và thành phần cơ giớ khác nhau
3.1.6.Hiện trạng sử dụng đất đai và tài nguyên rừng
3.1.6.1 Hiện trạng sử dụng đất đai
Tỉnh Bắc Giang có 382.738 ha đất tự nhiên Theo kết quả rà soát 3 loại rừng quy hoạch năm 2008 và niên giám thống kê tỉnh Bắc Giang 2007, hiện trạng sử dụng đất của tỉnh Bắc Giang bao gồm: 122.500ha đất sản xuất nông nghiệp, khoảng hơn 166.000ha đất lâm nghiệp, 66,5 nghìn ha đất đô thị, đất chuyên dụng và đất ở, còn lại là các loại đất khác
Nhìn chung, tỉnh Bắc Giang có điều kiện thuận lợi để phát triển công nghiệp, nông nghiệp, lâm nghiệp và thủy sản Quốc lộ 1A mới hoàn thành tạo
ra quỹ đất lớn có nhiều lợi thế cho phát triển công nghiệp-dịch vụ Đất nông nghiệp của tỉnh ngoài thâm canh lúa còn thích hợp để phát triển rau, củ, quả cung cấp cho thủ đô Hà Nội và các tỉnh lân cận Tỉnh đã có kế hoạch chuyển
Trang 35hàng chục ngàn ha trồng lúa sang phát triển cây ăn quả, cây công nghiệp và
nuôi trồng thủy sản có giá trị kinh tế cao Hơn 20 nghìn ha đất đồi núi chưa sử
dụng là một tiềm năng lớn cho các doanh nghiệp, nhà đầu tư liên kết trồng
rừng, chế biến lâm sản và nuôi trồng thủy sản
3.1.6.2 Tài nguyên rừng
Hiện trạng sử dụng tài nguyên rừng
Từ năm 2002 đến nay, ngành lâm nghiệp tỉnh Bắc Giang đã đạt được
những kết quả quan trọng Diện tích rừng tỉnh sau 6 năm, tăng 7.977 ha ( chưa
tính rừng trong khu vực chuyển đổi sang đất trường bắn - quốc phòng) Ngoài ra
hàng năm khai thác rừng trồng và trồng lại rừng khoảng 3-4000ha/năm Đây là
thành tựu hết sức to lớn mà ngành lâm nghiệp, nhân dân tỉnh Bắc Giang đã đạt
được, góp phần cải thiện đời sống nhân dân và phát triển kinh tế địa phương
Bảng 3.1: Diễn biến rừng và độ che phủ rừng giai đoạn (2002 -2008)
Đơn vị tính: Ha
, giảm (-) Tổng đất lâm nghiệp 166.465 166.609 144
(Dẫn theo Báo cáo “Nghiên cứu tình hình kinh tế xã hội và điều kiện sản xuất
lâm nghiệp tỉnh Bắc Giang năm 2008”, Viện điều tra quy hoạch rừng)
Trang 36Bảng 3.2 Hiện trạng diện tớch đất lõm nghiệp năm 2008
Loại đất loại rừng Diện tích (ha) Tỷ lệ %
(Dẫn theo bỏo cỏo “ Điều tra cập nhật diện tớch rừng, xõy dựng bản đồ hiện trạng rừng và sử dụng đất lõm nghiệp tỉnh Bắc Giang năm 2008”,
Sở NN & PTNT tỉnh Bắc Giang)
Trang 37Theo kết quả quy hoạch 3 loại rừng năm 2006, diện tích đất quy hoạch cho lâm nghiệp là 116.609ha, chiếm 43,6% diện tích tự nhiên Tỷ lệ che phủ của rừng đến thời điểm này là 39,7% Trong đó chủ yếu vẫn là rừng trồng,
rừng non phục hồi và rừng nghèo, phân bố không đều
Trong tổng diện tích đất lâm nghiệp thì có 13.023 ha đất rừng đặc dụng, chiếm 7,8% diện tích đất lâm nghiệp; diện tích đất rừng phòng hộ là 20.958 ha, chiếm 12,6% diện tích đất lâm nghiệp; diện tích đất rừng sản xuất
là 132.629 ha, chiếm 79,6% diện tích đất lâm nghiệp
Đánh giá chung về hiện trạng rừng và sử dụng đất tỉnh Bắc Giang
- Là một tỉnh trung du miền núi, nhưng diện tích đất quy hoạch cho lâm nghiệp tương đối lớn, chiếm 43,6% tổng diện tích tự nhiên Độ che phủ của rừng khá cao, đạt 39,7% (bao gồm cây ăn quả trồng trên đất lâm nghiệp) Nhưng xét về các chỉ tiêu phòng hộ và tiềm năng đất đai của địa phương thì tỷ
lệ này vẫn chưa đáp ứng đước yêu cầu phòng hộ, bảo vệ môi trường sinh thái, bảo vệ nguồn gen quí hiếm và bảo vệ tính đa dạng sinh học
- Diện tích đất trống đồi núi trọc (chỉ tập trung chủ yếu ở một số huyện) còn tương đối nhiều so với tổng diện tích tự nhiên, chiếm 3,8% (chưa kể phần diện tích đất trống chưa sử dụng hiện chưa quy hoạch cho lâm nghiệp) Đây là một trong những nhiệm vụ quan trọng đối với nghành lâm nghiệp trong thời gian tới trong việc phủ xanh đất trống đồi núi trọc trên địa bàn góp phần nâng cao độ che phủ của rừng
- Đối với đất có rừng: rừng giàu và rừng trung bình còn lại rất ít, chỉ chiếm 4,1% diện tích đất có rừng Rừng này chủ yếu phân bố ở những nơi cao, xa và dốc, trong khu bảo tồn thiên nhiên được bảo vệ tốt Rừng tự nhiên còn lại chủ yếu là rừng phục hồi và rừng nghèo chiếm 41,0% diện tích đất có rừng Vì vậy, khả năng cung cấp gỗ và lâm sản trên địa bàn rất hạn chế mà
Trang 38chủ yếu là từ rừng trồng Diện tích rừng trồng là 82.022,5 ha ( bao gồm 40.007 ha Vải đặc sản), chiếm 54,0% diện tích đất có rừng, trong đó rừng trồng có trữ lượng là 36.112,7 ha
- Tình hình tái sinh phục hồi rừng tự nhiên diễn ra tương đối mạnh, đặc biệt là trạng thái IC, rất thuận lợi cho việc phục hồi rừng bằng xúc tiến tái sinh
tự nhiên kết hợp trồng bổ sung cây lâm nghiệp, cây công nghiệp và cây ăn quả
3.2.Đặc điểm kinh tế - xã hội
3.2.1.Nguồn nhân lực
Toàn tỉnh Bắc Giang có 9 huyện và 1 thành phố với 229 xã, phường và thị trấn Dân số 1.613.576 người (nguồn số liệu niên giám thống kê 2009) Mật độ dân số bình quân 421,6 người/km2, thấp nhất là huyện Sơn Động (bình quân 86 người/km2), cao nhất là thành phố Bắc Giang (3.317 người/km2) Tỷ lệ tăng dân số bình quân 1,18%
Bắc Giang có 27 dân tộc anh em: Kinh, Tày, Nùng, Sán Dìu, Sán Chỉ, Hoa, Mường, Dao, Cao Lan,….trong đó đông nhất là dân tộc Kinh (chiếm 87,1%), các dân tộc ít người chiếm khoảng 12,9%
Số người trong độ tuổi lao động là 1.033.000 người, chiếm 64% dân số
Số lao động tham gia hoạt động kinh tế khoảng 830.00 người trong
đó tham gia ngành công nghiệp xây dựng là 8,8%; dịch vụ là 14,6%; nông, lâm nghiệp, thủy sản là 76,6% tổng số lao động Hiện tại, số lao động khu vực nông thôn mới có thời gian làm việc khoảng 80% số ngày làm việc trong năm nên có thể huy động lao động nhàn rỗi cho công tác bảo vệ và phát triển rừng tại địa phương
Trang 393.2.2.Thực trạng kinh tế xã hội
3.2.2.1.Về kinh tế
Theo kết quả thống kê sơ bộ năm 2008, tăng trưởng kinh tế Bắc Giang đạt 9,1%, kim ngạch xuất khẩu tăng 29,6% trong đó nông, lâm nghiệp và thủy sản tăng chậm 3,2% Thu ngân sách nhà nước năm đầu tiên trên 1.400 tỷ đồng thu hút đầu tư đạt kết quả khá, nhất là đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) Trong năm 2008, toàn tỉnh đã thu hút được 18 dự án FDI với số vốn đăng ký trên 11.200 tỷ đồng Một số dự án lớn có tiến độ thực hiện khá như:
dự án Nhiệt điện Sơn Động đã chính thức phát triển tổ máy số 1 vào ngày 28.12.2008 Hệ thống cơ sở hạ tầng,, giao thông, giáo dục, y tế tiếp tục được quan tâm, đầu tư xây dựng Lĩnh vực văn hóa xã hội đạt nhiều kết quả tích cực, an sinh xã hội được đảm bảo, đời sống nhân dân vùng bị lũ lụt và một số vùng sâu, vùng xa còn nhiều khó khăn nhưng đã được các cấp, các ngành tập trung chăm lo nên vẫn cơ bản ổn định, tỷ lệ hộ nghèo giảm 3,24% so với năm
2009 (nguồn: bài viết của Nguyễn Đăng Khoa-Bacgiang.gov.vn)
Theo niên giám thống kê 2009 của tỉnh Bắc Giang, cơ cấu GDP trên địa bàn năm 2009 như sau:
- Nông, lâm nghiệp và thủy sản: chiếm 35,6%
- Công nghiệp và xây dựng: 29,6%
- Dịch vụ: 34,8%
Như vậy, ngành nông nghiệp vẫn chiếm tỷ trọng cao nhất trong cơ cấu GDP của tỉnh Bắc Giang và ngành công nghiệp mặc dầu đã có bước phát triển nhưng tiềm năng còn rất lớn
+ Nông nghiệp:
Hiện nay, ngành nông nghiệp (bao gồm cả lâm nghiệp và chăn nuôi) vẫn giữ vai trò quan trọng trong phát triển kinh tế và ổn định đời sống nhân dân Theo số liệu niên giám thống kê của tỉnh Bắc Giang năm 2009: tốc độ tăng trưởng GDP bình quân của nông, lâm, ngư nghiệp giai đoạn 2001-2005
Trang 40là 5,0% Giá trị sản xuất nông-lâm nghiệp năm 2009 đạt 5.965,3 tỷ đồng (chiếm 29,58% tổng giá trị sản xuất toàn tỉnh)
Đã hình thành vùng sản xuất hàng hóa như: vùng cây ăn quả, lạc, đậu tương và cây thực phẩm; ngày càng xuất hiện nhiều hộ chăn nuôi với quy mô lớn theo phương pháp bán công nghiệp và công nghiệp Phong trào xây dựng cánh đồng đạt và vượt 50 triệu đồng/ha/năm và hộ thu nhập 50 triệu đồng/ha/năm đã được nông dân tích cực thực hiện, tạo ra một bước đổi mới
về tư duy canh tác; giá trị sản xuất bình quân đất nông nghiệp đã tăng từ 19 triệu đồng/ha/năm (năm 200) lên 26 triệu đồng/ha/năm (năm 2005)
Giá trị sản xuất lâm nghiệp năm 2009 là 177,9 tỷ đồng (chiếm 3,05% tổng giá trị sản xuất nông – lâm - thủy sản và chiếm 0,9% giá trị sản xuất toàn tỉnh)
Giá trị sản xuất chăn nuôi toàn tỉnh năm 2009 là 128,9 tỷ đồng (chiếm 38,1% giá trị sản xuất nông nghiệp) Sản lượng thịt hơi các loại đạt 110.000tấn/năm
Giá trị sản xuất thủy sản năm 2009 là 128,9 tỷ đồng, sản lượng thủy sản 16.830 tấn/năm Diện tích mặt nước có khả năng nuôi trồng thủy sản là 11.588ha Năng suất nuôi, trồng thủy sản trong tỉnh chưa cao do chất lượng
ao hồ và giống chưa tốt Nuôi trồng thủy đặc sản có chiều hướng phát triển nhưng còn hạn chế về thị trường Nhiều hộ gia đình đã sử dụng diện tích mặt nước tương đối hiệu quả, đặc biệt là các hộ nuôi đặc sản như ba ba, lươn, ếch, cho thu nhập cao
Nhìn chung, tình hình phát triển nông nghiệp của tỉnh còn nhiều mặt hạn chế, yếu kém: việc chuyển dịch cơ cấu trong nông nghiệp còn chậm và không đồng đều Cơ cấu giá trị sản xuất ngành trồng trọt còn thấp nhưng vẫn chiếm tỷ trọng cao Chăn nuôi chưa tương xứng với tiềm năng; dịch vụ nông nghiệp nông thôn chậm phát triển, chưa thu hút được nhiều lao động Sản xuất nông nghiệp hàng hóa của tỉnh còn dàn trải, trình độ sản xuất hàng hóa thấp, quy mô sản xuất phân tán, nhỏ lẻ; chưa chú ý xây dựng thương hiệu