Các loại rau thuộc họ hoa thập tự như: bắp cải, xu hào, súp lơ, các loại rau cải ăn lá... là các loại rau xanh rất phổ biến và được sử dụng rộng rãi trong đời sống hàng ngày bởi chúng dễ ăn, giá rẻ và giàu dinh dưỡng. Diện tích trồng rau họ hoa thập tự ngày càng mở rộng, sản lượng rau ngày càng tăng nhằm phục vụ tốt nhất cho nhu cầu tiêu thụ của người dân cũng như tăng thu nhập cho người sản xuất. Việt Nam là nước thuần nông, với khí hậu nhiệt đới ẩm, thuận lợi cho việc phát triển nông nghiệp, đặc biệt là sản xuất rau, củ, quả, trong đó, các loại rau thuộc họ hoa thập tự được trồng rất phổ biến bởi sự đa dạng chủng loại, dễ trồng và nhanh cho thu hoạch. Sự gia tăng quy mô và diện tích trồng rau họ hoa thập tự cùng với diễn biến ngày càng phức tạp của dịch hại đã đặt ra bài toán khó trong khâu quản lý dịch hại và phát triển sản xuất theo hướng an toàn. Các loại rau thuộc họ hoa thập tự thường mọng nước, giàu dinh dưỡng, là đối tượng lý tưởng cho sự tấn công của các loài sâu hại. Số lượng cũng như diễn biến gây hại của các loại sâu hại trên rau họ hoa thập tự cũng rất phức tạp. Theo nghiên cứu của Lê Thị Kim Oanh (2002), trong các năm từ 19952000, đã có sự thay đổi về thành phần và mức độ gây hại của sâu hại rau họ hoa thập tự tại Vân Nội ( Đông Anh ), Văn Đức (Gia Lâm), Tiền Phong (Mê Linh) và Song Phương (Hoài Đức). Giai đoạn 19951997, chỉ có 20 loài sâu hại trong đó có 1 loài gây hại nặng là sâu tơ ( P. xylostella ) , còn giai đoạn 19982002, có 28 loài sâu hại, trong đó có 3 loài gây hại nặng là sâu tơ ( P. xylostella ), bọ nhảy ( P. striolata) và rệp muội ( B. brassicae ). Theo Nguyễn Văn Đĩnh (2004), số lượng sâu hại trên rau họ hoa thập tự được trồng trong điều kiện nhà có mái che tại Gia Lâm và Thanh Trì là từ 812 loài, trong đó cải ngọt ( B. brassicae L. ) và cải canh (B. Brassicae H.F ) có số loài sâu hại nhiều nhất với 12 loài, trong đó, gây hại chính là sâu tơ và bọ nhảy. Theo Nguyễn Thị Nhung và cộng sự (2006), các loại sâu hại chính trên rau họ hoa thập tự vụ Đông Xuân tại Võ Cường, Bắc Ninh gồm có: bọ nhảy ( P. striolata ), sâu khoang (S. litura ), sâu tơ ( P. xylostella ), rệp muội ( B. brassicae ), sâu keo da láng ( S. exigua ) và bọ phấn. Bọ nhảy Phyllotreta striolata Fab. là loài gây hại chủ yếu trên rau họ hoa thập tự, thường gặp rất nhiều ở các vùng chuyên canh rau ở nhiều nước trên thế giới và các vùng trồng rau ở Việt Nam. Chúng được đánh giá là loài gây hại nghiêm trọng, làm ảnh hưởng rõ rệt đến năng suất và phẩm chất cây trồng. Việc phòng chống bọ nhảy hiện nay vẫn đang gặp nhiều khó khăn do đặc điểm pha sâu non sống và gây hại dưới mặt đất, pha trưởng thành có khả năng di chuyển nhanh và linh hoạt,… Hiện nay, việc phòng trừ sâu hại rau họ hoa thập tự nói chung và bọ nhảy nói riêng vẫn chủ yếu sử dụng phương pháp hóa học là chính. Theo kết quả nghiên cứu của Lê Thị Kim Oanh (2002), giai đoạn từ năm 19982000, có 32 loại thuốc đã được sử dụng trong đó có 8 nhóm thuốc trừ sâu chính, bao gồm cả thuốc cấm và thuốc không có trong danh mục được phép sử dụng. Nông dân thường có xu hướng tập trung vào 1 loại thuốc có hiệu quả cao, và khi thuốc đã giảm hiệu lực thì sẽ chuyển sang loại thuốc khác. Giai đoạn 19981999, nhóm thuốc lân hữu cơ được sử dụng phổ biến nhất, đặc biệt Methamedophos – một loại thuốc có độ độc cao và thời gian cách ly dài. Kết quả điều tra của Trần Duy Quý và Nguyễn Văn Sơn cho biết, ở các điểm chuyên canh rau tại Hà Nội, Vĩnh Phúc, biện pháp chính để trừ sâu hại rau họ hoa thập tự là phun thuốc trừ sâu. Nông dân phun định kì từ 57 ngàylần, cá biệt 35 ngàylần. Kết quả điều tra cũng cho thấy, liều lượng thuốc dùng cũng thường gấp 1,53 lần, thậm chí 34 lần so với liều khuyến cáo, gây tồn dư hóa chất độc hại trong môi trường và rau, ảnh hưởng lớn tới cuộc sống và sức khỏe con người. Những năm gần đây, việc sản xuất nông nghiệp theo hướng an toàn, bền vững đang nhận được sự quan tâm lớn. Theo Trần Duy Quý, ở Việt Nam, các loại thuốc sinh học đã và đang được sử dụng ngày càng rộng rãi trong phòng trừ sâu hại như: nhóm kháng sinh Abamectin, nhóm Bt, thuốc có nguồn gốc sinh học… Ngoài ra, các quy trình quản lý dịch hại tổng hợp IPM trên rau thập tự cũng đã và đang được tập trung đầu tư và phát triển, giúp phòng trừ các loại sâu hại trên rau thập tự được hiệu quả và an toàn cho môi sinh môi trường. Phường Giang Biên, quận Long Biên, Hà Nội có trên 178 ha đất nông nghiệp, trong đó có 98 ha ở ngoài bãi sông. Với vị trí gần trung tâm thành phố Hà Nội và nằm gần trục đường nối với các tỉnh thành khác như: Hưng Yên, Hải Dương, Bắc Ninh… cùng với đó là điều kiện khí hậu, đất đai thuận lợi, phường Giang Biên có nhiều điều kiện thuận lợi để phát triển ngành sản xuất nông nghiệp, đặc biệt là sản xuất rau, củ, quả. Trong đó, các loại rau thuộc họ hoa thập tự như: cải bắp, xu hào, các loại rau cải.. chiếm một phần lớn trong cơ cấu sản xuất nông nghiệp của vùng. Để cung cấp thêm dẫn liệu khoa học về ảnh hưởng của biện pháp hóa học lên bọ nhảy và góp phần bổ sung kiến thức BVTV trong sản xuất rau đáp ứng nhu cầu sản lượng, chất lượng cũng như yêu cầu an toàn thực phẩm, với sự hướng dẫn của Thạc sĩ Nguyễn Đức Khánh, chúng tôi thực hiện đề tài: “Nghiên cứu ảnh hưởng của thuốc trừ sâu tới một số đặc điểm sinh học của bọ nhảy (Phyllotreta striolata Fab. ) hại rau họ hoa thập tự vụ Xuân Hè, năm 2017 tại Giang Biên, Sài Đồng, Hà Nội.”
Trang 1Tôi xin chân thành cảm ơn những ý kiến đóng góp quí báu, sự giúp đỡ tậntình của các thầy cô bộ môn Côn trùng trong quá trình xây dựng thực hiện vàhoàn thành bản luận văn này.
Tôi xin được gửi lời chân thành cảm ơn tới các thầy cô giáo trong KhoaNông học – Học Viện Nông nghiệp Việt Nam
Bên cạnh đó tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành tới tất cả người thân, bạn
bè và những người luôn bên cạnh động viên giúp đỡ tôi trong quá trình học tập
và thực hiện bài khóa luận tốt nghiệp này
Hà Nội, ngày 31 tháng 7 năm 2017
Người thực hiện
Nguyễn Hương Giang
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan!
Bản báo cáo khóa luận tốt nghiệp này được hoàn thành bằng sự nhận thứcchính xác của bản thân
Số liệu và kết quả nghiên cứu trong bài báo cáo khóa luận này chưa từngđược sử dụng và công bố trong bất kỳ công trình nghiên cứu nào khác
Mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện báo cáo này đã được cám ơn và cácthông tin trích dẫn đều được chỉ rõ nguồn gốc
Người thực hiện
Nguyễn Hương Giang
Trang 3MỤC LỤC
LỜI CẢM ƠN i
LỜI CAM ĐOAN ii
MỤC LỤC iii
DANH MỤC BẢNG vi
DANH MỤC HÌNH ẢNH vii
DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CHỮ CÁI VIẾT TẮT viii
PHẦN 1: MỞ ĐẦU 1
1.1 Đặt vấn đề 1
1.2 Mục đích và yêu cầu 3
1.2.1 Mục đích 3
1.2.2 Yêu cầu 3
PHẦN 2: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU TRONG VÀ NGOÀI NƯỚC 4
2.1 Tình hình nghiên cứu ngoài nước 4
2.1.1 Phân loại 4
2.1.2 Đặc điểm sinh vật học, sinh thái học của bọ nhảy P striolata F 4
2.1.3 Tác hại của bọ nhảy P striolata F 6
2.1.4 Biện pháp phòng trừ 8
2.2 Tình hình nghiên cứu trong nước 10
PHẦN 3: NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 20
3.1 Đối tượng và vật liệu nghiên cứu: 20
3.1.1 Đối tượng nghiên cứu 20
3.1.2 Vật liệu và dụng cụ nghiên cứu 20
3.2 Địa điểm và thời gian nghiên cứu 21
3.3 Nội dung nghiên cứu 21
3.4 Phương pháp nghiên cứu 21
Trang 43.4.1 Phương pháp thu mẫu và xác định thành phần dịch hại, thiên địch, diễn
biến số lượng của bọ nhảy Phyllotreta striolata Fabricius tại phường Giang
Biên, Long Biên, Hà Nội 21
3.4.2 Phương pháp nghiên cứu đặc điểm sinh học, sinh thái học của bọ nhảy (P.
striolata ) 22
3.4.3 Phương pháp xác định hiệu lực thuốc BVTV trong phòng trừ bọ nhảy .26
PHẦN 4 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 29
4.1 Thành phần sâu hại và thiên địch trên một số giống rau họ hoa thập tự tạiGiang Biên, Hà Nội vụ Xuân Hè năm 2017 29
4.2 Diễn biến mật độ trưởng thành bọ nhảy Phyllotreta striolata trên một
số giống rau họ hoa thập tự vụ Xuân Hè 2017 tại Giang Biên, Long Biên,
Hà Nội 30
4.3 Một số đặc điểm sinh học của bọ nhảy Phyllotreta striolata 35 4.3.1 Thời gian các pha phát dục của bọ nhảy Phyllotreta striolata 35
4.3.2 Nhịp điệu sinh sản, khả năng sinh sản và tỷ lệ (đực:cái) và một số chỉ tiêu
khác của trưởng thành bọ nhảy P striolata 36
4.4 Ảnh hưởng của thuốc bvtv tới một số đặc điểm sinh học của bọ nhảy
Phyllotreta striolata 38
4.4.1 Ảnh hưởng của thuốc bvtv tới thời gian các pha phát dục của bọ nhảy
Phyllotreta striolata 38
4.4.2 Ảnh hưởng của thuốc bvtv tới nhịp điệu sinh sản, khả năng sinh sản và tỷ
lệ (đực:cái) và một số chỉ tiêu khác của trưởng thành bọ nhảy P striolata 42 4.5 Hiệu lực của một số thuốc BVTV trong phòng trừ bọ nhảy Phyllotreta
striolata trong phòng thí nghiệm 47
4.5.1 Phương pháp nhúng lá 474.5.2 Phương pháp xử lý hạt giống 48
Trang 5PHẦN 5 KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 50
5.1 Kết luận 50
5.2 Đề nghị 51
PHẦN 6 TÀI LIỆU THAM KHẢO 52
PHỤ LỤC 54
Trang 6DANH MỤC BẢNG
Bảng 4.1 Thành phần sâu hại và thiên địch trên một số giống rau họ hoa thập
tự tại Giang Biên, Hà Nội vụ Xuân Hè năm 2017 29
Bảng 4.2 Diễn biến mật độ trưởng thành bọ nhảy Phyllotreta striolata trên một
số giống rau họ hoa thập tự vụ Xuân Hè 2017 tại Giang Biên, LongBiên, Hà Nội 32
Bảng 4.3 Thời gian các pha phát dục của bọ nhảy P.striolata 35 Bảng 4.4 Khả năng sinh sản của bọ nhảy (Phyllotreta Striolata ) 36 Bảng 4.5 Tỷ lệ đực:cái; tỷ lệ trứng nở và tỷ lệ vũ hóa của bọ nhảy Phyllotreta
striolata 37
Bảng 4.6 Ảnh hưởng của thuốc Dupont prevathon 5SC (hoạt chất
Chlorantraniliprole) đến thời gian các pha phát dục của bọ nhảy
P.striolata 39
Bảng 4.7 Ảnh hưởng của thuốc Oshin 20WP (hoạt chất Dinotefuran) đến thời
gian các pha phát dục của bọ nhảy P.striolata 39
Bảng 4.8 Ảnh hưởng của thuốc Elsin 10EC (hoạt chất Nitenpyram) đến thời
gian các pha phát dục của bọ nhảy P.striolata 40
Bảng 4.9 Ảnh hưởng của thuốc bvtv tới khả năng sinh sản của trưởng thành bọ
thí nghiệm 47
Bảng 4.13 Hiệu lực trừ bọ nhảy P striolata bằng phương xử lý hạt giống 49
Trang 7DANH MỤC HÌNH ẢNH
Hình 1 Diễn biến mật độ trưởng thành bọ nhảy P striolata trên một số giống
cải vụ Xuân Hè năm 2017 tại Giang Biên, Hà Nội 31Hình 2 Triệu chứng gây hại của bọ nhảy trên một số giống rau thuộc rau họ
hoa thập tự tại Giang Biên, Hà Nội 34
Hình 3 Nhịp điệu đẻ trứng của trưởng thành bọ nhảy P striolata 37
Hình 4 Ảnh hưởng của thuốc bvtv tới khả năng sinh sản của trưởng thành bọ
nhảy P striolata 43
Hình 5 Ảnh hưởng của thuốc BVTV đến nhịp điệu đẻ trứng của trưởng thành
bọ nhảy P striolata 43 Hình 6 Hiệu lực trừ bọ nhảy P striolata của 3 loại thuốc BVTV trong phòng
thí nghiệm 47
Hình 7 Hiệu lực trừ bọ nhảy P striolata bằng phương xử lý hạt giống 49
Trang 8DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CHỮ CÁI VIẾT TẮT
GĐST Giai đoạn sinh trưởng
MĐPB
BVTV
Pp
Mức độ phổ biếnBảo vệ thực vậtPhương pháp
Trang 9PHẦN 1: MỞ ĐẦU 1.1 Đặt vấn đề
Các loại rau thuộc họ hoa thập tự như: bắp cải, xu hào, súp lơ, các loại raucải ăn lá là các loại rau xanh rất phổ biến và được sử dụng rộng rãi trong đờisống hàng ngày bởi chúng dễ ăn, giá rẻ và giàu dinh dưỡng Diện tích trồng rau
họ hoa thập tự ngày càng mở rộng, sản lượng rau ngày càng tăng nhằm phục vụtốt nhất cho nhu cầu tiêu thụ của người dân cũng như tăng thu nhập cho ngườisản xuất Việt Nam là nước thuần nông, với khí hậu nhiệt đới ẩm, thuận lợi choviệc phát triển nông nghiệp, đặc biệt là sản xuất rau, củ, quả, trong đó, các loạirau thuộc họ hoa thập tự được trồng rất phổ biến bởi sự đa dạng chủng loại, dễtrồng và nhanh cho thu hoạch Sự gia tăng quy mô và diện tích trồng rau họ hoathập tự cùng với diễn biến ngày càng phức tạp của dịch hại đã đặt ra bài toánkhó trong khâu quản lý dịch hại và phát triển sản xuất theo hướng an toàn
Các loại rau thuộc họ hoa thập tự thường mọng nước, giàu dinh dưỡng, làđối tượng lý tưởng cho sự tấn công của các loài sâu hại Số lượng cũng như diễnbiến gây hại của các loại sâu hại trên rau họ hoa thập tự cũng rất phức tạp Theonghiên cứu của Lê Thị Kim Oanh (2002), trong các năm từ 1995-2000, đã có sựthay đổi về thành phần và mức độ gây hại của sâu hại rau họ hoa thập tự tại VânNội ( Đông Anh ), Văn Đức (Gia Lâm), Tiền Phong (Mê Linh) và Song Phương(Hoài Đức) Giai đoạn 1995-1997, chỉ có 20 loài sâu hại trong đó có 1 loài gây
hại nặng là sâu tơ ( P xylostella ) , còn giai đoạn 1998-2002, có 28 loài sâu hại, trong đó có 3 loài gây hại nặng là sâu tơ ( P xylostella ), bọ nhảy ( P striolata)
và rệp muội ( B brassicae ) Theo Nguyễn Văn Đĩnh (2004), số lượng sâu hại
trên rau họ hoa thập tự được trồng trong điều kiện nhà có mái che tại Gia Lâm
và Thanh Trì là từ 8-12 loài, trong đó cải ngọt ( B brassicae L ) và cải canh (B.
Brassicae H.F ) có số loài sâu hại nhiều nhất với 12 loài, trong đó, gây hại chính
là sâu tơ và bọ nhảy Theo Nguyễn Thị Nhung và cộng sự (2006), các loại sâuhại chính trên rau họ hoa thập tự vụ Đông Xuân tại Võ Cường, Bắc Ninh gồm
Trang 10có: bọ nhảy ( P striolata ), sâu khoang (S litura ), sâu tơ ( P xylostella ), rệp muội ( B brassicae ), sâu keo da láng ( S exigua ) và bọ phấn
Bọ nhảy Phyllotreta striolata Fab là loài gây hại chủ yếu trên rau họ hoa
thập tự, thường gặp rất nhiều ở các vùng chuyên canh rau ở nhiều nước trên thếgiới và các vùng trồng rau ở Việt Nam Chúng được đánh giá là loài gây hạinghiêm trọng, làm ảnh hưởng rõ rệt đến năng suất và phẩm chất cây trồng Việcphòng chống bọ nhảy hiện nay vẫn đang gặp nhiều khó khăn do đặc điểm phasâu non sống và gây hại dưới mặt đất, pha trưởng thành có khả năng di chuyểnnhanh và linh hoạt,… Hiện nay, việc phòng trừ sâu hại rau họ hoa thập tự nóichung và bọ nhảy nói riêng vẫn chủ yếu sử dụng phương pháp hóa học là chính.Theo kết quả nghiên cứu của Lê Thị Kim Oanh (2002), giai đoạn từ năm 1998-
2000, có 32 loại thuốc đã được sử dụng trong đó có 8 nhóm thuốc trừ sâu chính,bao gồm cả thuốc cấm và thuốc không có trong danh mục được phép sử dụng.Nông dân thường có xu hướng tập trung vào 1 loại thuốc có hiệu quả cao, và khithuốc đã giảm hiệu lực thì sẽ chuyển sang loại thuốc khác Giai đoạn 1998-1999,nhóm thuốc lân hữu cơ được sử dụng phổ biến nhất, đặc biệt Methamedophos –một loại thuốc có độ độc cao và thời gian cách ly dài Kết quả điều tra của TrầnDuy Quý và Nguyễn Văn Sơn cho biết, ở các điểm chuyên canh rau tại Hà Nội,Vĩnh Phúc, biện pháp chính để trừ sâu hại rau họ hoa thập tự là phun thuốc trừsâu Nông dân phun định kì từ 5-7 ngày/lần, cá biệt 3-5 ngày/lần Kết quả điềutra cũng cho thấy, liều lượng thuốc dùng cũng thường gấp 1,5-3 lần, thậm chí 3-
4 lần so với liều khuyến cáo, gây tồn dư hóa chất độc hại trong môi trường vàrau, ảnh hưởng lớn tới cuộc sống và sức khỏe con người
Những năm gần đây, việc sản xuất nông nghiệp theo hướng an toàn, bềnvững đang nhận được sự quan tâm lớn Theo Trần Duy Quý, ở Việt Nam, cácloại thuốc sinh học đã và đang được sử dụng ngày càng rộng rãi trong phòng trừsâu hại như: nhóm kháng sinh Abamectin, nhóm Bt, thuốc có nguồn gốc sinhhọc… Ngoài ra, các quy trình quản lý dịch hại tổng hợp IPM trên rau thập tự
Trang 11cũng đã và đang được tập trung đầu tư và phát triển, giúp phòng trừ các loại sâuhại trên rau thập tự được hiệu quả và an toàn cho môi sinh môi trường
Phường Giang Biên, quận Long Biên, Hà Nội có trên 178 ha đất nôngnghiệp, trong đó có 98 ha ở ngoài bãi sông Với vị trí gần trung tâm thành phố
Hà Nội và nằm gần trục đường nối với các tỉnh thành khác như: Hưng Yên, HảiDương, Bắc Ninh… cùng với đó là điều kiện khí hậu, đất đai thuận lợi, phườngGiang Biên có nhiều điều kiện thuận lợi để phát triển ngành sản xuất nôngnghiệp, đặc biệt là sản xuất rau, củ, quả Trong đó, các loại rau thuộc họ hoathập tự như: cải bắp, xu hào, các loại rau cải chiếm một phần lớn trong cơ cấusản xuất nông nghiệp của vùng
Để cung cấp thêm dẫn liệu khoa học về ảnh hưởng của biện pháp hóa họclên bọ nhảy và góp phần bổ sung kiến thức BVTV trong sản xuất rau đáp ứngnhu cầu sản lượng, chất lượng cũng như yêu cầu an toàn thực phẩm, với sự
hướng dẫn của Thạc sĩ Nguyễn Đức Khánh, chúng tôi thực hiện đề tài: “Nghiên cứu ảnh hưởng của thuốc trừ sâu tới một số đặc điểm sinh học của bọ nhảy
(Phyllotreta striolata Fab ) hại rau họ hoa thập tự vụ Xuân Hè, năm 2017
tại Giang Biên, Sài Đồng, Hà Nội.”
1.2 Mục đích và yêu cầu
1.2.1 Mục đích
Đánh giá hiệu lực và ảnh hưởng của một số thuốc BVTV tới bọ nhảy, trên
cơ sở đó cung cấp cơ sở thực tế áp dụng biện pháp quản lý bọ nhảy sọc congmột các hiệu quả, tiết kiệm và an toàn cho nông sản và môi trường
1.2.2 Yêu cầu
Điều tra, xác định thành phần dịch hại, thiên địch trên một số giống raucải tại phường Giang Biên, quận Long Biên, Hà Nội
Đánh giá ảnh hưởng của một số hóa chất BVTV tới các đặc điểm sinh học
của bọ nhảy P striolata
Đánh giá hiệu lực của một số hóa chất BVTV đối với bọ nhảy P striolata
Trang 12PHẦN 2: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU TRONG VÀ
NGOÀI NƯỚC 2.1 Tình hình nghiên cứu ngoài nước
2.1.1 Phân loại
Tổ chức C.A.B.I (1999) đã xác định vị trí phân loại của P striolata như sau:
Vị trí phân loại:
- Giới (Kingdom): Animalia
- Ngành (Phylum): Arthropoda
- Lớp (Class): Insecta
- Bộ (Order): Coleoptera
- Họ (Family): Chrysomelidae
- Họ phụ (Sub family): Aticinae
- Giống (Genus): Phyllotreta
2.1.2 Đặc điểm sinh vật học, sinh thái học của bọ nhảy P striolata F.
Theo nghiên cứu của Janet J Knodel và Denise L Olson (2002) về đặcđiểm sinh học và quản lý tổng hợp bọ nhảy trên cải dầu, kích thước của trưởng
thành bọ nhảy P striolata nhỏ, chiều dài 2-3mm, hình bầu dục, cánh màu đen
với hai dải màu vàng bao phủ trên cánh, chân sau phát triển, di chuyển linh hoạtkhi bị khuấy động Trứng màu vàng, hình ovan, dài khoảng 0,38-0,46mm, rộngkhoảng 0,18-0,25mm, được đẻ rải rác từng quả hoặc thành cụm 3-4 quả cạnh rễcây kí chủ Sâu non nhỏ, dài khoảng 3mm, màu trắng ngà, mảnh Nhộng có kíchthước tương tự trưởng thành, màu trắng thuộc loại nhộng màng Cũng theo Janet
J Knodel và Denise L Olson, bọ nhảy trưởng thành qua đông và xuất hiện trở lạikhi nhiệt độ ấm lên vào mùa xuân, chúng ăn cải dầu và cây dại như mù tạt dạisau đó tiếp tục di chuyển đến ăn các cây cải dầu mới Tùy thuộc vào điều kiệnnhiệt độ mà có thể mất khoảng 3 tuần để trưởng thành rời khỏi khu vực quađông Điều kiện ấm, khô và ổn định là lý tưởng cho bọ nhảy di chuyển và gâyhại Ngược lại, điều kiện lạnh, mưa và gió làm giảm khả năng bay của bọ nhảy
Trang 13Chi-Feng Lee et al (2011) cho biết bọ nhảy P striolata là loài sâu hại
trên rau quan trọng ở miền nam Đài Loan, có kích thước dài 2,4-2,7mm, rộng1,1-1,4mm Cánh cứng, cong, khum ôm phần bụng, trên mỗi cánh có một sọcvàng nâu Râu đầu của trưởng thành cái ngắn và mảnh hơn trưởng thành đực
Theo nghiên cứu của Zhang và cộng sự (2000) [70], tại Quảng Đông Trung Quốc, trong một năm, bọ nhảy có thể có 7 thế hệ Quần thể bọ nhảy bắtđầu tăng cao từ đầu tháng 4 đến cuối tháng 5, sau đó giảm dần và đạt đỉnh caolần thứ hai vào giữa tháng 9 với mật độ cao gấp 2.4 - 2.5 lần đỉnh cao số lượngcủa chúng ở tháng 4-5 Số lượng quần thể bọ nhảy có tương quan chặt chẽ vớilượng mưa và nhiệt độ Bọ nhảy thích gây hại cải xanh và cải củ hơn là cải xoăn
-và cải trắng
Theo nghiên cứu của Chen và cộng sự (1991), ở Đài Loan bọ nhảy
Phyllotreta striolata xuất hiện quanh năm với mật độ cao nhất là vào mùa khô.
Nhiệt độ thích hợp nhất cho bọ nhảy phát triển là từ 20o C- 28o C Sự gia tăngmật độ quần thể bọ nhảy bị ảnh hưởng bởi mưa lớn hoặc mưa kéo dài và nhiệt
độ cao Quan sát hai thế hệ bọ nhảy hại trên một vụ cải củ cho thấy mật độ quầnthể ở thế hệ thứ hai cao hơn nhiều so với thế hệ thứ nhất, do vậy cây cải củ ởthời kỳ đầu của vụ sau thường bị hại nặng Còn trong điều kiện phòng thínghiệm, bọ nhảy có thể có 11 thế hệ kế tiếp nhau trong 1 năm Cũng theo nghiêncứu này, một số đặc tính sinh học của loài bọ nhảy bọ nhảy sọc cong vỏ lạc
Phyllotreta striolata được nuôi bằng bắp cải và củ cải Đài Loan, Trung Quốc,
trong điều kiện 25oC và độ ẩm 75 - 85% cho thấy thời gian phát triển của trứngkhoảng 4 - 6 ngày, ấu trùng là 24 - 36 ngày, nhộng là 5 - 6 ngày và tiền trưởngthành là 6 - 14 ngày Vòng đời kéo dài từ 29 - 52 ngày Trong điều kiện nghiêncứu 30 oC và độ ẩm 75 - 85% thì thời gian phát triển của vòng đời: 33 - 67 ngày,trứng: 5 - 7 ngày, sâu non: 14 - 21 ngày, nhộng: 7 - 10 ngày, tiền trưởng thành: 7 -
29 ngày Trưởng thành có thể sống từ 20 - 70 ngày và mỗi cá thể cái có thể đẻ từ
25 - 200 quả, trứng được đẻ dưới đất, sâu khoảng 2 - 3 cm gần gốc cây ký chủ
Trang 14Zhang và cộng sự (2000) nghiên cứu ảnh hưởng của các loại cây kí chủkhác nhau đến quần thể bọ cánh cứng hại rau thập tự đã chỉ ra rằng: ở nhiệt độ
25o C- 28o C, bọ nhảy nuôi bằng các loại rau họ hoa thập tự khác nhau (cải xanh,bắp cải, súp lơ) cho thấy tỉ lệ sống của sâu non, nhộng, tuổi thọ và độ mắn đẻcủa trưởng thành có sự khác nhau
Ở Louisiana, Mỹ có ít nhất 2 thế hệ bọ nhảy trong năm Thời gian từ khicon cái trưởng thành đến khi đẻ trứng chỉ khoảng 8 – 12 ngày Bọ nhảy baynhảy rất linh hoạt nhưng chúng di cư rất ít ngoại trừ để kiếm nguồn thức ăn mới(theo Eddy, 1938)
Theo Chen et al (1990), thời gian phát dục của sâu non và trưởng thành
bọ nhảy P striolata lần lượt là 14 ngày và 5-6 ngày, không có sự khác biệt
giwuax các loại cải Tuy nhiên, tuổi thọ của trưởng thành lại có sự khác biệt khichúng sử dụng các loại cải khác nhau làm thức ăn, cụ thể, ở điều kiện khoảng 25
°C, tuổi thọ của trưởng thành khi ăn cải gồng (B chinensis) là 33 ngày, trên su hào (B oleracea) là 23 ngày, trên cải xanh (B juncea ) là 16,4 ngày…
Nghiên cứu của Burgess (1981) đã chỉ ra rằng, ở Canada bọ nhảy trưởngthành qua đông gây ra thiệt hại lớn nhất đối với cây cải ăn lá vào mùa xuân Sự dichuyển của trưởng thành bằng phương thức bay, nhảy đã làm lây nhiễm từ cây nàysang cây khác, từ ruộng này sang ruộng khác một cách nhanh chóng Hoạt động ănmạnh nhất của bọ nhảy trưởng thành là khi gặp điều kiện thuận lợi: nắng ấm vàhanh khô
2.1.3 Tác hại của bọ nhảy P striolata F.
Theo Ishita Ahuja, Jens Rohloff và Atle Magnar Bones ( 2010) , bọ nhảy
P striolata là một trong những loài sâu hại quan trọng với hoa thập tự ở Bắc Mỹ
và có nguồn gốc từ khu vực Á-Âu
Ở Mỹ, bọ nhảy cũng là loài sâu hại phổ biến trên các vùng trồng cải ỞNew York ghi nhận 4 loài bọ nhảy cùng gây hại trên cây trồng phổ biến là các
loài Phyllotreta crusifers, Phyllotreta striolata, Epitrix cucumerix, Phyllotreta
Trang 15ramose Ở bang Califonia thấy xuất hiện 4 loài Phyllotreta ramosa, Phyllotreta striolata, Phyllotreta pusilla, và Systena blanda Miền Nam nước Mỹ bọ nhảy
phổ biến là loài Epitrix fuscula crotch Phạm vi ký chủ hẹp chỉ giới hạn trên cây
cà, khoai tây và dâu tây (dẫn theo Vũ Thị Hiển, 2002)
Theo nghiên cứu của Lee Stiver (2001), mỗi năm thu nhập từ sản xuất vàchế biến rau thuộc họ hoa thập tự ở NewYork ước tính đạt khoảng trên 62 triệuUSD Đây là nguồn thu nhập cao trong sản xuất nông nghiệp, chỉ đứng saungành sản xuất và chế biến khoai tây Tuy nhiên sự gây hại lớn từ bọ nhảy đãgây nhiều thiệt hại lớn cho nông dân, làm giảm năng suất, chất lượng rau, thậmchí có thể làm mất 100 % năng suất Ngoài ra, bọ nhảy còn là môi giới truyềnbệnh cho cây trồng
Ở Manitoba - Canada, súp lơ vụ sớm có tỷ lệ chết cao do sự phá hại mạnhcủa bọ nhảy Trồng cây con quá nhỏ cũng làm cho bọ nhảy trưởng thành gây hạinặng hơn so với trồng cây con khi đã có đủ từ 6 đến 8 lá (Soroka và Pritchard,1987)
Kết quả nghiên cứu của Chen và cộng sự (1990) cho thấy Phyllotreta
striolata là loài côn trùng gây hại nghiêm trọng cải bao, cải củ và cải xanh ngọt
ở Đài loan, bắp cải ở Trung Quốc Giai đoạn trứng, sâu non và nhộng đều nằmtrong đất và gây hại trong đất Sau khi vũ hóa, bọ nhảy trưởng thành hoạt độngtrên mặt đất và gây hại trên lá, làm giảm năng suất, chất lượng rau
Nghiên cứu của YiYing Zhao et al (2008) cho biết, bọ nhảy là một trongnhững loài sâu hại quan trọng nhất trên cây rau họ hoa thập tự trên toàn thế giới
Chúng gây hại trên các loại cây thuộc họ hoa thập tự như cải bắp (Brassica
oleracea ), su hào (B oleracea), cải xanh (B juncea) …
Theo Janet J Knodel và Denise L Olson (2002), bọ nhảy cũng là loài sâuhại quan trọng trên cây cải dầu, một loại cây trồng lấy dầu được trồng phổ biến
ở khu vực miền bắc Great Plains của Mỹ và Canada Thiệt hại lớn nhất do bọnhảy gây ra là vào mùa xuân, giai đoạn 2 tuần đầu sau gieo Bọ nhảy ăn khuyết
Trang 16lá, tạo nên những lỗ hổng cho lá, trong khi đó, sâu non gây hại dưới rễ cây, tấncông vào đỉnh sinh trưởng của rễ, làm giảm sinh trưởng, cây còi cọc và chết.Trong điều kiện nóng, khô, quần thể bọ nhảy có thể gia tăng nhanh chóng, gâyảnh hưởng nghiêm trọng cho nông dân.
Theo Soroka et al.(2011), bọ nhảy trưởng thành gây hại tạo ra những lỗhổng trên lá Các loại cây họ thập tự dễ bị ảnh hưởng bởi bọ nhảy nhất là vàogiai đoạn lá mầm và đầu giai đoạn lá thật đối với giai đoạn 4 lá thật trở lên thìảnh hưởng của bọ nhảy là ít hơn Ước tính tại Mỹ, bọ nhảy đã làm thiệt hại mỗinăm khoảng 300 triệu đô và giảm 10% sản lượng Ở Canada trồng suplơ vụ sớmlàm cho tỷ lệ cây bị chết do bọ nhảy gây ra rất cao Trồng cây con quá nhỏ cũnglàm cho bọ nhảy trưởng thành gây hại nặng hơn so với trồng cây con khi đã có
đủ từ 6 - 8 lá
Theo Eddy (1938) thì ở Louiisana và Texas Gulf Mỹ, Phyllotreta striollata
Fab được coi là loài côn trùng gây hại nghiêm trọng cho rau họ hoa thập tự nhất
là cây cải xanh ngọt, cải đắng giai đoạn cây giống trong vườn ươm Ngoài đồngruộng, cây rau thường bị hại ở bộ lá làm giảm năng suất, giảm giá trị thươngphẩm của rau nên làm giảm hiệu quả kinh tế của người sản xuất
2.1.4 Biện pháp phòng trừ
Theo nghiên cứu của Janet J Knodel and Denise L Olson (2002), các loài
thiên địch của bọ nhảy bao gồm ấu trùng Chrysopa carnea, loài Geocoris
bullatus, Collops vittatus… Tuy nhiên, các loài thiên địch này lại không đủ để
khống chế số lượng bọ nhảy gia tăng vào mùa xuân Các loại ong ký sinh như
Microitta vittate được biết đến là loài thiên địch tấn công bọ nhảy nhưng tỷ lệ ký
sinh lại rất thấp Nghiên cứu này cũng đưa ra biện pháp phòng trừ bọ nhảy gâyhại trên cây cải dầu bằng cách điều chỉnh thời vụ trồng Cụ thể, cải dầu đượctrồng từ đầu tháng 4 đến giữa tháng 5 thì sẽ giảm được nguy cơ gặp hạn hán vànắng nóng và chất lượng hạt tốt hơn cải dầu trồng vào cuối tháng 5 đến đầu
Trang 17tháng 6 Mặt khác, trồng cây sớm cũng giúp cây phát triển sớm hơn do đó cókhả năng tránh được tác động của bọ nhảy.
Eddy (1938) cho rằng việc dọn sạch những tàn dư sau thu hoạch cũng gópphần ngăn chặn sự phát triển trở lại của bọ nhảy trên đồng ruộng Vun xới đúngthời điểm, đúng kĩ thuật cũng là một trong những biện pháp làm giảm số lượng sâunon bọ nhảy trên đồng ruộng, lại không gây ô nhiễm môi trường sống
Theo Palaniswamy (1992) bọ nhảy Phyllotreta sp có tính lựa chọn cây kí chủ rất cao Dựa vào đặc tính này để luân canh cây trồng, sử dụng loài Brassica
oleracea làm bẫy cây trồng phòng bọ nhảy rất có hiệu quả
Theo Tanja Bohinc et al (2013) nghiên cứu về biện pháp bẫy cây trồng
trong việc làm giảm ảnh hưởng của Phyllotreta spp tới các loại cây họ hoa thập
tự, bằng việc đánh giá các loại bẫy cây trồng khác nhau, tác giả cho thấy chỉ sốthiệt hại trung bình của cả 3 loại cây của bẫy cây trồng thì cao hơn đáng kể sovới cây trồng chính Các loại cây trồng khác nhau dùng để làm bẫy cây trồng sẽ
có sự nhạy cảm khác nhau khi bị tấn công bởi sâu hại ( cụ thể là các loại cánhcứng hại trên rau thập tự), do đó không thể đưa ra một loại cây đơn lẻ nào đểlàm bẫy cây trồng trong suốt quá trình phát triển của cây Tác giả đã chỉ ra biệnpháp sử dụng một hệ thống bao gồm nhiều cây trồng khác nhau, qua đó mỗi câykhác nhau sẽ thu hút sâu hại ở mỗi giai đoạn phát triển khác nhau của cây trồng.Ví dụ, tập hợp các loại cây như cúc vạn thọ, cải bắp, cải dầu và cây hướngdương đã được áp dụng thành công trong việc làm bẫy cây trồng, giảm thiểu ảnhhưởng của bọ cánh cứng gây hại trên súp lơ ở Phần Lan năm 1989 Cũng theokết quả nghiên cứu của Tanja, việc đồng thời sử dụng củ cải, cải dầu và mù tạttrắng như một tổ hợp bẫy cây trồng cũng có khả năng điều khiển được bọ cánhcứng hại trên bắp cải
Theo nghiên cứu của Andersen et al (2006), một số loại thuốc trừ sâu nhưPyrethrin, Azidirachtin đã không có hiệu quả trong phòng trừ bọ nhảy hại trêncác loại rau thập tự Trong khi đó, Thiamethoxam, Neonicotinoid chưa được
Trang 18khuyến cáo dùng cho cây thuộc họ thập tự nhưng thử nghiệm thì lại có tác dụngbảo vệ cải dầu non từ bọ nhảy.
Theo Ruth Harad (2001), sử dụng thuốc hóa học vẫn là biện pháp phòngtrừ bọ nhảy nhanh chóng và có hiệu lực cao nhất Các loại thuốc sử dụng đểphòng trừ bọ nhảy ở mỗi vùng, mỗi nước là rất khác nhau tùy theo điều kiện môitrường, tập quán canh tác của vùng
Theo Lee Stiver (2001), các loại thuốc trừ sâu thường được sử dụng đểphòng trừ bọ nhảy hại rau thập tự ở New York là: Thiodan, Sevin, Disyston.Hiệu lực phòng trừ bọ nhảy cao nhất là Thiomethoxam, với tên thương phẩm là
Adage do công ty Novartis sản xuất Một số loại thuốc như Bacillus
thuringiensis, Methomyl, Cypermethrin, Carbaryl, Spinasad mới được nghiên
cứu sử dụng trong phòng trừ bọ nhảy với mục đích làm giảm nguy cơ gây ônhiễm môi trường
Nghiên cứu của Khanobporn Tangtrakulwanich et al (2014) về xây dựngngưỡng phòng trừ bọ cánh cứng hại trên cây cải dầu tại Motana, Mỹ đã xác địnhngưỡng gây hại kinh tế do bọ cánh cứng gây ra trên cây cải dầu là 20% diện tích
lá bị tấn công, qua đó, có thể giúp nông dân xác định đúng thời điểm phun thuốcphòng trừ và có biện pháp kiểm soát hợp lý, không chỉ tiết kiệm tiền mà còn làmgiảm khả năng kháng thuốc có thể xảy ra ở sâu hại
2.2 Tình hình nghiên cứu trong nước
Đánh giá thành phần và mức độ gây hại rau của các loài côn trùng sống trongđất tại Từ Liêm, Đông Anh và Gia Lâm Hà Nội năm 2007, Trần Đình Chiến và cộng
sự cũng đã ghi nhận loài bọ nhảy P striolata là loài gây hại phổ biến ở đây và giai
đoạn gây hại nguy hiểm là ở pha sâu non gây hại rễ cây rau họ hoa thập tự
Nguyễn Văn Đĩnh, Ngô Thị Xuyên và Nguyễn Thị Kim Oanh (2004)trong nghiên cứu về tình hình sản xuất và thành phần sâu bệnh hại cà chua ở
Đông Anh, Hà Nội cùng ghi nhận loại bọ nhảy P striolata cũng là loại hại trên
cây cà chua ở Đông Anh
Trang 19Kết quả nghiên cứu về sự gây hại của các loài bọ nhảy tại Đông Anh trênrau họ hoa thập tự của Hồ Thị Xuân Hương (2004) chỉ xác định thấy loài bọ
nhảy P striolata F gây hại trên rau họa hoa thập tự, chưa phát hiện thấy loài nào khác Phổ ký chủ của P striolata F tương đối hẹp, chúng gây hại chủ yếu
trên rau họ hoa thập tự, trong đó có mức độ phổ biến cao trên cây cải xanh, cải
ngọt và cải đông dư Ngoài ra còn phát hiện ký chủ phụ của P striolata Fabr là
cây cải dại
Theo Nguyễn Hồng Anh và Nguyễn Thị Kim Oanh (2011), loài bọ nhảy
P striolata là loài gây hại chủ yếu trên các loại rau họ hoa thập tự, thường gặp
rất nhiều ở các vùng chuyên canh rau ở vùng Hà Nội và phụ cận Chúng đượcđánh giá là loài gây hại nghiêm trọng, làm ảnh hưởng rõ rệt đến năng suất vàphẩm chất cây trồng Việc phòng chống bọ nhảy hiện nay vẫn đang gặp nhiềukhó khăn do đặc điểm của chúng: pha sâu non thường gây hại dưới mặt đất, khódiệt trừ; pha trưởng thành có khả năng di chuyển nhanh
Theo Trịnh Lê Minh Thu (2012) sự phân bố sâu non bọ nhảy trong đấtchủ yếu tập trung ở tầng đất 0 – 5cm, tầng đất 5 – 10 cm cũng có xuất hiện sâunon bọ nhảy nhưng chủ yếu xuất hiện ở giai đoạn sau 25 NST trở đi Có nhiềunguyên nhân làm cho mật độ sâu non chủ yếu tập trung ở lớp đất 0 – 5 cm so vớimật độ sâu non ở tầng đất 5 – 10 cm, một trong những nguyên nhân đó là do ởtầng đất thứ nhất tức từ 0 – 5 cm là nơi tập trung nhiều nguồn thức ăn như bộphận thân ngầm dưới mặt đất, rễ chính và các rễ phụ có kích thước to, dinhdưỡng tốt hơn so với ở tầng đất thứ hai từ 5 – 10 cm nơi chỉ tập trung các rễnhánh có kích thước nhỏ, không phù hợp cho sâu non đục tấn công
Theo Nguyễn Đức Khiêm (2005), trưởng thành bọ nhảy có kích thước cơthể dài 1,8-2,4mm, hình bầu dục, toàn thân màu đen và lấp lánh ánh kim Râuđầu đốt 1 dài và to, đốt 5 dài nhất và thường gấp 2 lần đốt 4, đốt 6 ngắn và nhỏnhất mặt lưng đốt ngực trước và trên cánh cứng có các chấm xếp thành hàngdọc Mỗi cánh ở giữa có vân thẳng màu vàng, mỗi phía cạnh ngoài của vân lõm
Trang 20vào, phía trong của vân thẳng Chân sau đốt đùi phình to Phân biệt giwuax conđực và cái chủ yếu dựa vào phần râu Trứng bọ nhảy dài 0,3mm, hình trứng,màu vàng nhạt sâu non dạng ít chân, đẫy sức dài 4mm, hình ống tròn, phần cuốinhỏ, đầu nâu nhạt, lưng và bụng vàng nhạt, mảnh lưng đốt ngực trước nâu nhạt,
và các đốt ngực, bụng thường có lông cứng màu đen Đốt cuối bụng hình bầudục, ở mặt bụng có 1 mấu lồi Nhộng hình bầu dục, dài khoảng 2mm, màu sữa.Phần đầu ẩn ở phía dưới đốt ngực trước, mầm cánh và mầm chân sau dài đến hếtđốt bụng 5 Phần lưng bụng và ngực có một vài phần lông cứng màu nâu, đốtcuối cùng có 2 gai lồi màu nâu
Nghiên cứu của Hồ Thị Xuân Hương (2004) về đặc điểm sinh học của bọ
nhảy P striolata cho thấy: Ở điều kiện 25°C, vòng đời của bọ nhảy trung bình là
46,5 ±1,53 ngày, trong đó thời gian phát dục của trứng trung bình là 5,53 ± 0,54ngày, thời gian phát dục của sâu non trung bình là 22,5 ± 0,67 ngày, thời gianphát dục của nhộng trung bình là 5,87 ± 0,46 ngày, thời gian phát dục của giaiđoạn tiền đẻ trứng trung bình là 12,6 ± 1,00 ngày Tuổi thọ của trưởng thành cáitrung bình là 64,3 ± 7,11 ngày, tuổi thọ của trưởng thành đực trung bình là 36,43
± 5,49 ngày Ở điều kiện 27,3°C, vòng đời của bọ nhảy trung bình là 33,4 ±3,35ngày, trong đó thời gian phát dục của trứng trung bình là 4,9 ± 0,2 ngày, thờigian phát dục của sâu non trung bình là 12,1 ± 0,62 ngày, thời gian phát dục củanhộng trung bình là 5,37 ± 0,33 ngày, thời gian phát dục của giai đoạn tiền đẻtrứng trung bình là 11,13 ± 0,66 ngày Tuổi thọ của trưởng thành cái trung bình
là 67,4 ± 6,16 ngày, tuổi thọ của trưởng thành đực trung bình là 41,67 ± 7,46ngày Ở 30°C, vòng đời của bọ nhảy trung bình là 38,4 ±1,23 ngày, trong đóthời gian phát dục của trứng trung bình là 4,53 ± 0,42 ngày, thời gian phát dụccủa sâu non trung bình là 17,53 ± 0,64 ngày, thời gian phát dục của nhộng trungbình là 4,93 ± 0,28 ngày, thời gian phát dục của giai đoạn tiền đẻ trứng trungbình là 11,4 ± 0,74 ngày Tuổi thọ của trưởng thành cái trung bình là 64,07 ±6,41 ngày, tuổi thọ của trưởng thành đực trung bình là 45,33 ± 5,18 ngày Kết
Trang 21quả nghiên cứu khả năng sinh sản của bọ nhảy cho thấy: Ở điều kiện 25°C, tổng
số trứng đẻ của 01 cặp trưởng thành là 185,93 ± 75,97 quả Tổng thời gian đẻtrứng trung bình 14,60 ± 5,11 ngày Số trứng đẻ trung bình trong 1ngày của mộtcon cái là 12,7 ± 1,69 quả/ngày Ở điều kiện 27,3°C tổng số trứng đẻ của 01 cặptrưởng thành là 149,27 ± 25,05 quả Tổng thời gian đẻ trứng trung bình 12,08 ±1,78 ngày Số trứng đẻ trung bình trong 1 ngày của một con cái là 11,82 ± 1,79quả/ngày Ở điều kiện 30°C tổng số trứng đẻ của 01 cặp trưởng thành là 185,93
± 75,97 quả Tổng thời gian đẻ trứng trung bình 14,60 ± 5,11 ngày Số trứng đẻtrung bình trong 1 ngày của một con cái là 12,7 ± 1,69 quả/ngày
Nghiên cứu của Trịnh Lê Minh Thu (2012) cho thấy: Ở nhiệt độ 25oC,thời gian phát dục trung bình của pha trứng là 6,4 ± 1,55 ngày; thời gian dàinhất 10 là ngày và thời gian ngắn nhất là 5 ngày; pha sâu non thời gian phátdục trung bình 15 ± 1,84 ngày, dài nhất 20 ngày, ngắn nhất là 12 ngày; phanhộng thời gian phát dục trung bình 13,1 ± 1,64 ngày, dài nhất 16 ngày, ngắnnhất là 10 ngày; trưởng thành đến đẻ trứng trung bình là 9,32 0,68 ngày, dàinhất là 12 ngày, ngắn nhất là 6 ngày Trong khi đó, ở nhiệt độ 30oC, thời gianphát dục trung bình của pha trứng là 6,07 ± 1,36 ngày, thời gian dài nhất là 9ngày và thời gian ngắn nhất là 5 ngày; pha sâu non thời gian phát dục trungbình là 14,53 ± 1,85 ngày, dài nhất là 18 ngày, ngắn nhất là 11 ngày; pha nhộngthời gian phát dục trung bình 12,83 ± 1,68 ngày, dài nhất 15 ngày, ngắn nhất là
10 ngày; trưởng thành đến đẻ trứng trung bình là 7,77 0,48ngày, dài nhất là
10 ngày, ngắn nhất là 5 ngày
Nghiên cứu của Vũ Thị Hiển (2002) về sự gây hại và khả năng phòng trừ bọnhảy tại Gia Lâm, Hà Nội cho thấy: thời gian phát dục của các pha bọ nhảy ởđiều kiện 25°C thì có thời gian phát dục của trứng trung bình là 6,51 ± 0,15 ngày(dao động từ 5-10 ngày), ở điều kiện nhiệt độ phòng (trung bình là 19,6°C) thờigian phát dục của trứng trung bình là 8,27 ± 0,20 ngày, tối đa là 12 ngày và thấpnhất là 5 ngày Đối với pha sâu non, ở điều kiện nhiệt độ 25°C, thời gian phát
Trang 22dục của sâu non trung bình là 15,24 ± 0,57 ngày, tối đa là 21 ngày và thấp nhất
là 13 ngày, điều kiện nhiệt độ phòng (trung bình là 19°C) thời gian phát dục củasâu non trung bình là 26,75 ± 0,58 ngày, tối đa là 23 ngày và thấp nhất là 13ngày Thời gian phát dục của nhộng ở điều kiện nhiệt độ 25°C trung bình là10,97 ± 0,25 ngày, tối đa là 15 ngày và thấp nhất là 9 ngày Ở điều kiện nhiệt độphòng (trung bình là 18,7°C) thời gian phát dục của nhộng trung bình là 11,43 ±0,22 ngày, tối đa là 15 ngày và thấp nhất là 10 ngày
Theo Lê Thị Huyền (2009), ở nhiệt độ phòng, thời gian phát dục củatrứng trung bình là 7,5±1,75 ngày, nhỏ nhất là 4 ngày và lớn nhất là 10 ngày.Thời gian phát dục của sâu non trung bình là 18,16±1,38 ngày, thấp nhất là 16ngày và lớn nhất là 21 ngày Thời gian phát dục của nhộng trung bình là9,9±5,54 ngày, lớn nhất là 24 ngày và nhỏ nhất là 3 ngày Thời gian phát dụccủa giai đoạn tiền đẻ trứng trung bình là 7,95±2,54 ngày, nhỏ nhất là 4 ngày vàlớn nhất là 14 ngày Vòng đời của bọ nhảy tính từ giai đoạn trứng đến khi đẻtrứng lần đầu trung bình là 36,16±7,75 ngày, nhỏ nhất là 26 ngày và cao nhất là
51 ngày Tuổi thọ trung bình của trưởng thành là 41,88±6,50 ngày, nhỏ nhất là
32 ngày và cao nhất là 56 ngày Trong 3 điều kiện nuôi là điều kiện nhiệt độphòng, 20°C và 25°C, trưởng thành bọ nhảy có thể giao phối và đẻ trứng sau khi
vũ hóa từ 4-22 ngày, ngày đầu tiên đẻ ít, sau đó số lượng trứng tăng dần và caonhất vào ngày thứ 6 đến ngày thứ 13 Trứng được đẻ rải rác hoặc tập trung thànhtừng cụm 1-45 quả ở nhiệt độ phòng, trưởng thành bọ nhảy đẻ sớm hơn so với ởnhiệt độ 20°C và 25°C
Theo nghiên cứu của Lưu Thị Hằng (2012) , trong 2 điều kiện nuôi khácnhau là 25°C và 30°Cthì thời gian phát dục của trứng sai khác nhau không đáng
kể, trứng bọ nhảy thường từ 3-8 ngày thì bắt đầu nở Trong điều kiện nuôi trong
tủ nuôi với nhiệt độ 25°C và ẩm độ 85 %, thời gian phát dục của trứng dao động
từ 4 - 6 ngày (trung bình 5,30 ± 0,28 ngày) Thời gian phát dục này ở nhiệt độ30°C và ẩm độ 85 % thì dao động từ 4 - 6 ngày (trung bình 4,99 ± 0,20
Trang 23ngày).Theo dõi tỷ lệ nở của trứng bọ nhảy trong 2 điều kiện nuôi khác nhautrong phòng thí nghiệm cho thấy tỷ lệ nở của trứng sai khác nhau đáng kể Nuôivới nhiệt độ 25°C và ẩm độ 85%, tỷ lệ nở của trứng cao hơn trong điều kiệnnuôi ở nhiệt độ 30°C và ẩm độ 85% cụ thể: ở điều kiện nhiệt độ 25°C và ẩm độ85%, tỷ lệ nở của trứng trung bình 75,71± 2,79% trong khi ở điều kiện nhiệt độ30°C và ẩm độ 85 % thì tỷ lệ nở này đạt trung bình là 70,58 ± 0,88 %.Cũng theonghiên cứu của Lê Thị Hằng, nuôi sâu non bọ nhảy ở 2 điều kiện nhiệt độ khác nhaucho thấy ở điều kiện nuôi ở nhiệt độ 30°C và ẩm độ 85% thì thời gian phát dục ở sâunon ngắn hơn so với nuôi ở điều kiện nhiệt độ 25°C và ẩm độ 85% từ 4 - 9 ngày Theodõi nhộng ở 2 điều kiện nuôi khác nhau cho thấy ở điều kiện nuôi ở nhiệt độ 30°C và
ẩm độ 85 % thì thời gian phát dục của nhộng sai khác nhau trung bình khoảng 1 ngày
so với điều kiện nuôi ở nhiệt độ 25°C và ẩm độ 85% Kết quả nghiên cứu thời gianphát dục của bọ nhảy ở 2 điều kiện nhiệt độ 25°C và 30°C cho thấy trong điều kiệnnhiệt độ cao là 30°C thì có thời gian phát dục ngắn hơn so với ở điều kiện nhiệt độ25°C từ 5 – 13 ngày trong đó giai đoạn sâu non có thời gian phát dục dài nhất tươngứng là 31,19 ± 2,25 ngày và 26,15 ± 2,18 ngày
Kết quả nghiên cứu của Nguyễn Văn Huỳnh và Lê Thị Sen (2003) cho
thấy trưởng thành cái của bọ nhảy P striolata cái đẻ từ 25-200 trứng Ấu trùng
có 3 tuổi và phát triển từ 3-4 tuần Nhộng phát triển từ 7-10 ngày
Theo Vũ Thị Hiển (2002) , mật độ bọ nhảy bị giảm mạnh khi có mưa lớn,mưa kéo dài Nghiên cứu của Vũ Thị Hiển cũng chỉ ra rằng, biến động số lượngtrưởng thành bọ nhảy trên đồng ruộng ở vùng Gia Lâm, Hà Nội cho thấy: quađiều tra nghiên cứu định kỳ hàng tuần trên ruộng rau cải không phun thuốc từđầu đến cuối vụ, trưởng thành bọ nhảy xuất hiện quanh năm trên đồng ruộng,mật độ tăng dần từ khi gieo cho đến khi thu hoạch Trong vụ hè (từ tháng 7 đếntháng 9/2001), mật độ trưởng thành bọ nhảy rất thấp chỉ dao động từ 5 - 40 con/
100 cây, không ảnh hưởng đến năng suất cũng như phẩm chất rau cải xanh ngọt.Đến vụ đông, mật độ bọ nhảy tăng dần và gây hại nặng nhất từ tháng 1 đến
Trang 24tháng 3/2002 Lứa rau gieo vào tháng 1, ở cuối vụ mật độ trưởng thành bọ nhảylên tới 277 con/100 cây
Phạm Thị Nhất (1993) cho thấy trưởng thành bọ nhảy sọc cong vỏ lạc P.
striolata xuất hiện quanh năm, nhưng mạnh nhất vào tháng 3 Mật độ trưởng
thành bọ nhảy trên đồng ruộng có sự dao động rất lớn phụ thuộc vào nhiều yếutố: mùa vụ, giai đoạn sinh trưởng của cây, có khi mật độ lên tới 1000 (con/m2),làm giảm năng suất thương phẩm, thậm trí làm thất thu hoàn toàn cho ngườitrồng rau
Kết quả nghiên cứu của Vũ Thị Hiền (2002) về mức gây hại kinh tế củatrưởng thành bọ nhảy trên rau cải ngọt ở các giai đoạn sinh trưởng khác nhaucho thấy: Mức gây hại kinh tế của trưởng thành bọ nhảy ở giai đoạn 7 ngày saukhi trồng là 2 con/cây Tương ứng ở giai đoạn 15 ngày sau khi trồng, mức gâyhại kinh tế của trưởng thành bọ nhảy là 3 con/cây; còn ở giai đoạn 25 ngày saukhi trồng mức gây hại kinh tế của trưởng thành bọ nhảy là 4 con/cây
Kết quả điều tra mật độ bọ nhảy từ tháng 6 đến tháng 12 năm 2010 tạiNam Hồng, Đông Anh của Nguyễn Hồng Anh và Nguyễn Thị Kim Oanh (2011)cho thấy trưởng thành xuất hiện liên tục trên đồng ruộng với mật độ thấp, trong
đó có một cao điểm từ ngày 9-16/10/2010 với mật độ 11,2-12,4 con/m2 Sâunon bọ nhảy tồn tại trong đất, phân bố chủ yếu ở tầng đất mặt từ 0-5 cm với mật
độ cao nhất (2,4con/mẫu) vào ngày 9/10; kế đến là tầng đất >5-10 cm mật độ(0,6con/mẫu) và không thấy sâu xuất hiện ở tầng đất từ >10-20 cm
Theo nghiên cứu của Lê Thị Kim Oanh (2002), ở 25°C tỷ lệ chết của sâunon là thấp hơn so với điều kiện 30°C, trong khi đó, tỷ lệ vũ hóa của nhộng và
tỷ lệ nở của trứng là cao hơn so với nuôi ở 30°C Nói cách khác ở điều kiệnnhiệt độ 25°C là điều kiện thích hợp hơn cho bọ nhảy phát triển Kết quả cho
thấy tỷ lệ tăng tự nhiên của bọ nhảy P striolata ở điều kiện 25°C tương đối cao
là 1,094
Trang 25Theo Hồ Thị Xuân Hương (2004) , thuốc Pycythrin 5EC, Vithadan 95WP
là những loại thuốc có hiệu lực trừ bọ nhảy tương đối cao, có tính phân giảinhanh, là loại thuốc độc nhóm II nên khuyến cáo sử dụng để thay thế dần cácthuốc độc mà nông dân thường sử dụng để trừ bọ nhảy như: Cyclodan 35EC,Marshal 200SC) Thuốc sinh học Delfin WG và Crymax 35WP tuy hiệu lựcngay sau khi phun không cao nhưng hiệu lực của thuốc sinh học mang tính tíchlũy Không làm giảm quần thể kẻ thù tự nhiên của bọ nhảy trên đồng ruộng
Theo Vũ Hồng Dung (2009), nghiên cứu về đặc điểm sinh vật học, sinh
thái học của bọ nhảy (Phyllotreta striolata F), thuốc Vithadan 95WP là loại
thuốc có hiệu quả cao, có tính phân giải nhanh, thời gian cách ly là 7 ngày nênđược sử dụng để thay thế dần việc lạm dụng thuốc (sử dụng các loại thuốc đượckhuyến cáo hạn chế sử dụng một cách thường xuyên như Cyclodan 35EC,Marshal 200SC) Thuốc sinh học Delfin WG và Crymax 35WP tuy hiệu lựcngay sau khi phun không cao nhưng hiệu lực của thuốc sinh học mang tính tíchlũy Không làm giảm quần thể kẻ thù tự nhiên của bọ nhảy trên đồng ruộng
Theo Lưu Thị Hằng (2012), nghiên cứu hiệu lực phòng trừ bọ nhảy trên 5loại thuốc là: Emaben 2.0EC, Sokotin 0.3EC, Trusach 2.5EC, Mopride 20WP,Otoxes 200SP cho thấy sau 12 giờ thí nghiệm hiệu lực trừ bọ nhảy của các loạithuốc đạt dao dộng từ 54,7 – 75,3 %, trong đó hiệu lực cao nhất là thuốc Otoxes200SP (75,3%) và thấp nhất là thuốc Trusach 2.5EC (54,7%) Tuy nhiên, hiệulực phòng trừ bọ nhảy tăng lên sau 24 và 48 giờ thí nghiệm Hiệu lực sau 24 giờđạt cao nhất là thuốc Otoxes200SP (90,7 %) và sau 48 giờ hiệu lực đạt cao nhất
là 93,2% Thuốc có hiệu lực cao thứ hai là thuốc Mopride 20WP sau 24 giờ thínghiệm có hiệu lực là 88,2% và sau 48 giờ thử nghiệm hiệu lực cũng ñạt 91,5%.Trong 5 loại thuốc khảo nghiệm, thuốc Otoxes 200SP có hiệu lực cao nhất từ75,3 - 93,2%, tiếp sau lần lượt là các thuốc Mopride 20WP, Sokotin 0.3EC,Emaben 2.0 EC và thấp nhất là thuốc Trusach 2.5EC (hiệu lực dao động từ 54,7
- 64,0 % trong 12, 24 và 48 giờ thử nghiệm)
Trang 26Theo Vũ Thị Hiển (2002), khi phun thuốc Sevin 85 WP (0,15%) và rắcVibasu 10H (0,7 kg/sào) xử lý đất có hiệu lực trừ sâu non bọ nhảy cao nhất đạt72,26 và 76,51% sau khi xử lý 7 ngày Padan 95SP (0,25%) có hiệu lực trừtrưởng thành bọ nhảy cao nhất đạt 98,89% ngay sau khi phun 3 ngày với thínghiệm trong phòng và 82,83% với thí nghiệm ngoài đồng Cũng theo Vũ ThịHiển (2002), khi điều tra nghiên cứu trên rau ở vùng Gia Lâm - Hà Nội vụ Đôngnăm 2001 cho thấy người nông dân đã sử dụng 11 loại thuốc khác nhau để
phòng trừ loài bọ nhảy sọc cong vỏ lạc P striolata hại cải ngọt, trong đó không
có một loại thuốc nào là thuốc trừ sâu sinh học Tác giả cũng đã đưa ra kết quả
thử nghiệm chế phẩm Beauveria, tuy nhiên hiệu lực phòng trừ của chế phẩm này không có tác dụng đối với sâu non bọ nhảy sọc cong vỏ lạc P striolata
Kết quả nghiên cứu của Nguyễn Hồng Anh và Nguyễn Thị Kim Oanh(2011) cho thấy thuốc Mopride 20WP và Otoxes 200SP có hiệu lực trừ bọ nhảycao (đạt 91,5 - 93,2% sau phun 7 ngày), thuốc nguồn gốc sinh học Emaben2.0EC có hiệu lực khá, thuốc thảo mộc Trusach 2.5EC có hiệu lực kém hơn
Phạm Thị Nhất (1993) đã chỉ ra một số loại thuốc có nguồn gốc thảo mộcdùng cho phòng trừ bọ nhảy như: rễ cây thuốc lá, hạt củ đậu, hạt Neem Cũngtheo Phạm Thị Nhất, đối với bọ nhảy, việc luân chuyển các thuốc thuộc cácnhóm thuốc có cơ chế tác động khác nhau sẽ có tác động hạn chế tính chốngthuốc của chúng, như: Fipronil – Thiamethoxam – Profenofos – Cartap –Flufenoxuron…
Theo Nguyễn Duy Hồng (2017), luân canh cạn (rau cải) - nước (ngâmnước ngập ruộng) cho thấy mật độ bọ nhảy ở công thức ngâm nước ngập ruộngtrước gieo hạt 15 ngày (CT3): giảm 62 % bọ nhảy so với công thức đối chứng(CT4: tập quán nông dân - không ngâm nước); công thức ngâm nước ngậpruộng trước gieo hạt 10 ngày (CT2): giảm 55 % bọ nhảy so với công thức đốichứng; công thức ngâm nước ngập ruộng trước gieo hạt 5 ngày (CT1): giảm 46
% bọ nhảy so với công thức đối chứng Năng suất CT3 đạt 680 kg/sào > CT2
Trang 27đạt 670 kg/sào > CT1 đạt 630 kg/sào > CT4 đạt 600 kg/sào Lãi ở CT3(1.492.000 đ/sào) > CT2 (1.434.000 đ/sào) > CT4 (1.228.000 đ/sào) > CT1(1.152.000 đ/sào).
Theo kết quả thử nghiệm chế phẩm trừ sâu từ gốc thực vật trên sâu hại rau
ở ngoại thành Hà Nội của Dương Anh Tuấn và cộng sự (2001), thuốc thảo mộc
với thành phần chính là Azadirachtin từ hạt Neem và Plumbagin từ cây bạch hoa
xà có hiệu lực phòng trừ đối với một số sâu hại rau, trong đó hiệu lực trừ trên bọnhảy là khoảng 88,9% Theo đánh giá của tác giả, tuy hiệu quả chưa cao songcũng có nhiều triển vọng trong việc phòng trừ sâu hại cho mục đích phát triểnnghành nghề trồng rau sạch ở nước ta
Theo Nguyễn Duy Hồng (2017), ở Hà Nội tổ chức 1491 lớp học đồngruộng (FFS) về IPM trên cây rau cho 44.730 nông dân, triển khai 420 nghiêncứu không sử dụng thuốc BVTV cho 6300 nông dân: che phủ nilon trồng rautrái vụ, bẫy chua ngọt trừ trưởng thành họ ngài đêm, bẫy Eugenol Methyl trừruồi đục quả, luân canh cạn - nước, Kết quả tỷ lệ sử dụng thuốc sinh học, thảomộc trên rau khoảng 60%, số lần sử dụng thuốc giảm 30%, chi phí sử dụngthuốc giảm 50%, tỷ lệ mẫu rau tại cơ sở sản xuất vượt dư lượng thuốc BVTV tối
đa cho phép 1-2 % (hàng năm phân tích đa dư lượng 300-1000 mẫu điển hình).Lượng thuốc BVTV trên các cây trồng bằng 0,3% so với toàn quốc (Hà Nội:
360 tấn/năm, toàn quốc: 116.500 tấn/năm), tiết kiệm khoảng 300 tỷ đồng/năm
Trang 28PHẦN 3: NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.1 Đối tượng và vật liệu nghiên cứu:
3.1.1 Đối tượng nghiên cứu
Bọ nhảy Phyllotreta striolata F.
3.1.2 Vật liệu và dụng cụ nghiên cứu
Rau họ thập tự: cải canh ( giống cải mơ Hoàng Mai )
Thuốc BVTV
1 Dupont Prevathon 5EC Chlorantraniliprole
5 Cruiser plus 312.5FS Thiamethoxam,
Difenoconazole,Fludioxonil
Dụng cụ nghiên cứu:
- Vợt, ống hút thu bắt
- Cồn 70 độ, foocmon 5% bảo quản mẫu
- Các dụng cụ đo đếm: cân điện tử, ống chữ Y
- Kính hiển vi điện tử
- Kính lúp cầm tay
- Ống nghiệm, bút lông, panh…
- Lồng nuôi sâu, lồng mica, chậu trồng cây, túi nilon đen
- Đĩa petri, hộp nhựa
- Các dụng cụ trồng cây khác
Trang 293.2 Địa điểm và thời gian nghiên cứu
Địa điểm: đề tài được thực hiện tại khu vực canh tác rau thuộc phườngGiang Biên, quận Long Biên, Hà Nội và tại Phòng bán tự nhiên, khoa Nông học– Học Viện Nông Nghiệp Việt Nam
Thời gian: từ tháng 1 đến tháng 7/2017
3.3 Nội dung nghiên cứu
Điều tra xác định thành phần dịch hại và thiên địch trên rau cải canh tạiphường Giang Biên, quận Long Biên, Hà Nội
Nghiên cứu đặc tính sinh học, sinh thái học của bọ nhảy Phyllotreta
striolata Fabricius hại rau họ hoa thập tự.
Đánh giá hiệu lực của thuốc BVTV tới một số đặc điểm sinh học của bọ
nhảy Phyllotreta striolata Fabricius
3.4 Phương pháp nghiên cứu
3.4.1 Phương pháp thu mẫu và xác định thành phần dịch hại, thiên địch, diễn biến số lượng của bọ nhảy Phyllotreta striolata Fabricius tại phường Giang Biên, Long Biên, Hà Nội
Điều tra theo QCVN 01 - 169 : 2014/BNNPTNT (Quy chuẩn kỹ thuật quốcgia về phương pháp điều tra phát hiện dịch hại cây rau họ hoa thập tự ): điều tra
7 ngày/lần trên rau cải canh, điều tra theo 10 điểm chéo góc Kích thước mỗiđiểm là 40 ×50cm Thu mẫu bọ nhảy tại ruộng để đem về nghiên cứu
- Chỉ tiêu theo dõi:
+ Diễn biến mật độ cá thể trưởng thành của bọ nhảy P striolata trên 1 cây
họ hoa thập tự
Cá thể trưởng thành bọ nhảy điều tra (con)Mật độ bọ nhảy (con/m2) =
Số m2 điều tra (m2)
Trang 30+ Xác định mức độ phổ biến của bọ nhảy trên cây ký chủ ngoài đồng ruộng.
Tổng số lần bắt gặp bọ nhảy
Tổng số lần điều tra
+ Xác định mức độ gây hại của bọ nhảy P striolata theo tháng 9 cấp hại.
Cấp 0: Không có vết hại
Cấp 1: < 1% diện tích lá bị hại
Cấp 3: 1 - 5% diện tích lá bị hại
Cấp 5: 6 - 25% diện tích lá bị hại
Cấp 7: 26 - 50% diện tích lá bị hại
Cấp 9: 51 - 100% diện tích lá bị hại
+ Mức độ thường gặp được đánh giá theo tần xuất xuất hiện bọ nhảy như sau:
Bảng : Phương pháp tính tần suất bắt gặp Bọ nhảy trên một số loại rau họ
hoa thập tự
Mức độ phổ biến Kí hiệu % số lần gặp bọ nhảy trong điều
traRât ít
Ít
Trung bình
Nhiều
+ ++
3.4.2.1 Trồng cây kí chủ phục vụ nhân nuôi bọ nhảy
Giống cải canh ( giống cải mơ Hoàng Mai ) được gieo vãi trên luống đất(tại phòng bán tự nhiên – khoa Nông học) có kích thước 2,5×0,9 (m), vun luốngcao 20cm hoặc gieo trong các chậu trồng cây có sẵn đất sạch Định kì gieo 15ngày/lứa
Trang 313.4.2.2 Phương pháp nuôi sinh học, theo dõi các đặc điểm sinh học của bọ nhảy
Bọ nhảy trưởng thành được thu bắt tại khu trồng rau phường Giang Biên,Long Biên, Hà Nội được đem về nuôi trong hộp nuôi sâu lớn ((Ø= 20 cm, H= 25cm) Bên trong có lá cải làm thức ăn Ghép 3-4 cặp trưởng thành đực – cái cho
đẻ trứng trong hộp nuôi sâu lớn có sẵn giấy ẩm, bên trong đặt 4-5 cây cải canh
đã làm sạch đất ở rễ để bọ nhảy đẻ trứng Bao bọc hộp bằng một lớp túi nilonđen, có để trống một lỗ cho ánh sáng vào, trứng sẽ được đẻ rải rác trên rễ chínhhoặc ở cổ rễ Sau 1 ngày, lấy rễ hoặc lá cải có trứng ra và chuyển các cặp bọnhảy sang hộp mới để tiếp tục đẻ lấy trứng Cắt các đoạn rễ có trứng thành từngđoạn nhỏ, mỗi đoạn chứa một trứng, dùng bút lông chuyển vào hộp nuôi sâunhỏ, bên trong được lót bằng giấy thấm ẩm, bên ngoài có bao bọc bằng túi nilonđen, chờ cho trứng nở Hàng ngày theo dõi và bổ sung độ ẩm trong hộp, tránh đểmôi trường trong hộp bị khô Theo dõi thời gian trứng nở để ghi chép vào bảngnuôi sinh học
Sau khi nở ra sâu non, đặt rễ cải sạch vào làm thức ăn Theo dõi quá trìnhchuyển tuổi và ghi chép vào bảng nuôi sinh học Thay thức ăn và bổ sung độ ẩmthường xuyên Đặt các hộp nuôi trong thùng giấy hoặc bao bằng túi nilon đen đểđảm bảo môi trường tối cho sâu non phát triển
Khi sâu non ngừng ăn, nằm im bắt đầu hóa nhộng, chuyển nhộng sanghộp nuôi sâu khác, bên trong có sẵn một lớp đất sạch, phủ một lớp đất lênnhộng, chờ thời gian vũ hóa
Cá thể cái của trưởng thành của bọ nhảy sau khi vũ hóa từ nhộng đượctiến hành ghép đôi (15 cặp) Các cặp ghép đôi được nuôi trong ống nghiệmtrong suốt, bên trong có lá cải sạch làm thức ăn (ống nghiệm được giữ số thứ tựtheo số thứ tự của con cái) Hàng ngày thay thức ăn bằng cách chuyển bọ nhảysang ống nghiệm sạch mới có sẵn thức ăn bên trong Theo dõi và ghi chép thời
Trang 32điểm bọ nhảy bắt đầu đẻ trứng, đếm số trứng bọ nhảy đẻ hàng ngày bằng cáchdùng kính lúp soi trên lá cải hoặc trên thành ống nghiệm.
Phương pháp xác định thời gian phát dục các pha của bọ nhảy Phyllotreta
striolata: Thời gian phát dục của pha trứng được tính bằng thời gian trung bình
kể từ khi trứng được đẻ ra tới khi trứng nở Các pha phát dục tiếp theo (sâu nontuổi 1, 2, 3 và nhộng) được xác định theo dấu vết lột xác Thời gian trưởng thànhtrước đẻ trứng được tính từ khi nhộng lột xác hóa trưởng thành đến khi trưởngthành đẻ quả trứng đầu tiên Vòng đời của bọ nhảy được tính từ khi trứng được
đẻ ra đến khi bọ nhảy đẻ quả trứng đầu tiên Thời gian phát dục từng tuổi, phacủa bọ nhảy được tính bằng giá trị trung bình từng pha, tuổi của tất cả các cá thểnghiên cứu (n>30) trong từng điều kiện nhiệt độ và độ ẩm môi trường Tiếnhành thì nghiệm với khoảng 50-60 trứng
Thời gian phát dục trung bình của cá thể ở các pha được tính:
n
N X X
+ là thời gian phát dục trung bình
+ Xi là thời gian phát dục của cá thể thứ i
Trang 33Một số chỉ tiêu theo dõi:
- Tỷ lệ trứng nở :
Tổng số trứng nở (quả)
Tỷ lệ trứng nở (%) = x 100
Tổng số trứng theo dõi (quả)
- Tỷ lệ chết tự nhiên của sâu non:
Tổng số sâu non chết (con)
Tỷ lệ chết tự nhiên của SN (%) = x 100 Tổng số sâu non theo dõi (con)
Tổng số con cái
3.4.2.3 Phương pháp nghiên cứu khả năng sinh sản của bọ nhảy
Thí nghiệm làm với 15 cặp trưởng thành đực cái Tiến hành theo dõi 15cặp trưởng thành được nuôi trong ống nghiệm, đếm số trứng bọ nhảy đẻ hàngngày bằng cách dùng kính lúp soi trên lá cải hoặc trên thành ống nghiệm
Chỉ tiêu theo dõi:
- Khả năng đẻ trứng trung bình của một cá thể cái (X):
Số trứng đẻ/ 1X(quả/ X)=
1
) ( 2
S i
Trang 34Tổng số con cái (con)
- Thời gian đẻ trứng trung bình:
Tổng thời gian đẻ của các trưởng thành cái theo dõi (ngày)Thời gian đẻ trứng TB (ngày/con) =
Tổng số trưởng thành cái theo dõi (con)
- Số trứng đẻ trung bình trong một ngày của một con cái (X):
Tổng số trứng đẻ của các cá thể cái thí nghiệmtrong ngày/quả
Số trứng đẻ TB/ 1 ngày/ X =
Tổng số cá thể cái theo dõi (con)
3.4.3 Phương pháp xác định hiệu lực thuốc BVTV trong phòng trừ bọ nhảy
3.4.3.1 Chuẩn bị thuốc thí nghiệm
Dupont Prevathon 5SC Chlorantraniliprole Pp nhúng lá
Actara 25WP Thiamethoxam Pp xử lý hạt giốngCruiser plus 312.5FS Thiamethoxam +
Difenoconazole + Fludioxonil
Pp xử lý hạt giống
3.4.3.2 Phương pháp thử thuốc
Nhúng lá:
Trang 35Chuẩn bị: cải xanh ( giống cải mơ Hoàng Mai) – 15 ngày sau gieo; bọnhảy trưởng thành: được thu vào các ống nghiệm hoặc hộp nhỏ (30 con/ống),
để đói từ 16-18h trước khi thử thuốc; các dụng cụ phục vụ việc pha thuốc
Thuốc thí nghiệm
Dupont Prevathon 5SC Chlorantraniliprole 0.1%
Pha dung dịch mẹ 10X ( có nồng độ cao gấp 10 lần nồng độ khuyếncáo) Pha loãng dần từ dung dịch mẹ thành dung dịch 2X (có nồng độ gấp 2 lầnnồng độ khuyến cáo), 1,5X: 1,25X và 1X
Dùng giấy ẩm bao quanh rễ cải để giữ cải tươi lâu, sau khi pha thuốcthành các nồng độ khác nhau, tiến hành nhúng lá cải vào thuốc ( lưu ý: không đểthuốc ngấm vào giấy ẩm, nhúng lá trong 10 giây )
Đặt lá đã nhúng thuốc lên khay khô, phơi lá đã nhúng thuốc trong 15-30p
Đặt các cây cải đã nhúng thuốc vào các hộp lớn có ghi nồng độ tươngứng, thả bọ nhảy vào, làm kín bằng lưới, tránh để bọ nhảy thoát ra Sau 24h, đặt
lá cải sạch và theo dõi hiệu lực của thuốc sau 24h, 48h, 72h
Chỉ tiêu theo dõi: số trưởng thành bọ nhảy chết ở mỗi công thức sau thínghiệm 24h, 48h, 72h Tính hiệu quả theo công thức Abbott:
Ca - Ta
Hiệu quả (%) = x 100
Ca
Trong đó: Ta : số cá thể sống ở công thức thí nghiệm sau xử lý
Ca : số cá thể sống ở công thức đối chứng sau xử lý
Xử lý hạt giống:
Trang 36Chuẩn bị: hạt giống cải (giống cải mơ Hoàng Mai); bọ nhảy trưởng thànhđược thu vào các ống nghiệm hoặc hộp nhỏ (30 con/ống), để đói từ 16-18h trướckhi thử thuốc; cốc trồng cây; đất sạch; thuốc và các dụng cụ phục vụ việc phathuốc.
Xử lý hạt giống theo hướng dẫn trên bao bì, gieo hạt vào các cốc trồngcây có D=4cm, H=8cm, 5 cây/cốc Bắt đầu thả bọ nhảy để thử thuốc từ khi câyđạt 2 lá mầm Cho cốc đã trồng cây vào hộp lớn có D=11cm, H=20cm sau đócho bọ nhảy vào Tiến hành đánh giá hiệu lực của thuốc sau 3, 5, 7 ngày kể từngày thả bọ nhảy sau 7 ngày nếu bọ nhảy chết tiếp tục thả đợt 2 với 30 con/hộplớn để theo dõi hiệu lực của thuốc trong 1 tuần tiếp theo Định kỳ 3,5,7 ngày saukhi thả ghi lại số lượng bọ nhảy chết, bọ nhảy được coi là chết khi không có hoạtđộng (bất hoạt) hoặc không có phản ứng khi chạm bằng bút lông
0.1%
c Theo dõi và thử số liệu
Theo dõi tỷ lệ chết sau các ngày xử lý thuốc BVTV
Tính hiệu quả theo công thức Abbott:
Ca - TaHiệu quả (%) = x 100
Ca Trong đó: Ta : số cá thể sống ở công thức thí nghiệm sau xử lý
Ca : số cá thể sống ở công thức đối chứng sau xử lý
PHẦN 4 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN
Trang 374.1 Thành phần sâu hại và thiên địch trên một số giống rau họ hoa thập tự tại Giang Biên, Hà Nội vụ Xuân Hè năm 2017
Tiến hành điều tra trên một số giống rau cải ( cải ngọt, cải canh, cải bẹvàng…) từ tháng 3 đến tháng 7 năm 2017 tại phường Giang Biên, Long Biên,
Hà Nội Ta có bảng thành phần 4.1
Bảng 4.1 Thành phần sâu hại và thiên địch trên một số giống rau họ hoa
thập tự tại Giang Biên, Hà Nội vụ Xuân Hè năm 2017 S
Ghi chú: +++ rất phổ biến (tần suất bắt gặp > 50%)
++ phổ biến (tần suất bắt gặp >25 – 50%) + ít phổ biến (tần suất bắt gặp >5 – 25%)
- rất ít phổ biến (tần suất bắt gặp 5%)