ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINHTRƯỜNG ĐH KHXH & NV TPHCM KHOA NGÔN NGỮ VÀ VĂN HỌC Chuyên đề: Tư tưởng lí luận VHCĐ Việt Nam, Trung Quốc, Nhật Bản Đề tài: ẢNH HƯỞNG THI LUẬN TRUNG
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
TRƯỜNG ĐH KHXH & NV TPHCM KHOA NGÔN NGỮ VÀ VĂN HỌC
Chuyên đề:
Tư tưởng lí luận VHCĐ Việt Nam, Trung Quốc, Nhật Bản
Đề tài:
ẢNH HƯỞNG THI LUẬN TRUNG QUỐC
ĐỐI VỚI QUAN NIỆM VĂN HỌC CỦA NGUYỄN DU
GVHD: PGS.TS ĐOÀN LÊ GIANG HVTH: Nguyễn Thị Nhân
Lớp: CH Lí luận Văn học 2016-1
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH, THÁNG 1/2017
Trang 2MỞ ĐẦU
“Trong văn học của nhiều nước trên thế giới có những nhà văn mà sự xuất hiện của họ đánh dấu một trình độ mới của văn học dân tộc Đó là Đan tê của Ý, Púskin của Nga Mác và Ănghen gọi Đan tê là nhà thơ trung đại cuối cùng và là nhà thơ đầu tiên của thời cận đại Biêlinxki đã từng gọi Puskin là nhà thơ nghệ sĩ đầu tiên của nước Nga, người đã đem lại cho nước Nga thơ ca như là một nghệ thuật, chứ không phải chỉ là diễn đạt hay những tư tưởng cao cả Trong lịch sử văn học Việt Nam, Nguyễn Du (1765 – 1820) cũng là một nhà thơ có địa vị như thế”(Trần Đình Sử) Ông là đại thi hào, sáng tác
của ông được coi là kiệt tác, là quốc bảo của văn hóa dân tộc
Nghiên cứu về Nguyễn Du đã trở thành một khuynh hướng thu hút nhiều nhànghiên cứu uy tín nhưng điều đó không khiến người đời sau thôi bị thu hút bởi nhữngsáng tác của bậc kì tài này Trong khuôn khổ bài tiểu luận kết thúc chuyên đề “Tư tưởng
lí luận văn học cổ điển Việt Nam, Trung Quốc, Nhật Bản”, người viết xin góp phần tìmhiểu “Những ảnh hưởng của thi luận Trung Quốc nói chung đến quan niệm sáng tác vănchương của Nguyễn Du” nhằm hiểu thêm về lí luận phê bình văn học cổ điển với trường
hợp Nguyễn Du nói riêng và văn học Việt Nam nói chung
Trang 3CHƯƠNG I: VÀI NÉT VỀ TÁC GIẢ NGUYỄN DU - CUỘC
ĐỜI VÀ SỰ NGHIỆP VĂN CHƯƠNG
I. CUỘC ĐỜI:
Nguyễn Du sinh năm 1765 tại Thăng Long, tên chữ là Tố Như, hiệu là Thanh Hiên Tổ tiên Nguyễn Du vốn từ làng Canh Hoạch, huyện Thanh Oai, trấn Sơn Nam (naythuộc Hà Tây) sau di cư vào xã Nghi Xuân, huyện Tiên Điền (nay là làng Tiên Điền, huyện Nghi Xuân, tĩnh Hà Tĩnh) Cha Nguyễn Du là Nguyễn Nghiễm (1708 – 1775) và
mẹ là Trần Thị Tần (1740 -1778), quê Bắc Ninh VợNguyễn Du là con gái Đoàn Nguyễn Thục, quê ở Quỳnh Côi, trấn Sơn Nam (nay thuộc tỉnh Thái Bình) Nguyễn Du may mắn được tiếp nhận truyền thống văn hóa của nhiều vùng quê khác nhau Đó là một tiền đề thuận lợi cho sự tổng hợp nghệ thuật của nhà đại thi hào dân tộc
Thời thơ ấu và niên thiếu, Nguyễn Du sống tại Thăng Long trong một gia đình phong kiến quyền quý Thân phụ ông đã có lúc giữ chức Tể tướng trong triều đình Lê – Trịnh Nhưng mới 10 tuổi đã mồ côi cha, năm 13 tuổi, mồ côi mẹ, Nguyễn Du đến sống với người anh cùng cha khác mẹ là Nguyễn Khản (1734 – 1786) Nguyễn Khản từng làm quan tới chức Tham tụng, nỗi tiếng phong lưu một thời, thân với chúa Trịnh Sâm và là người rất mê hát xướng Trong thời gian này Nguyễn Du có nhiều điều kiện thuận lợi để mài kinh sử, có dịp hiểu biết về cuộc sống phong lưu, xa hoa của giới quý tốc phong kiến – những điều đó đã để lại dấu ấn trong sáng tác văn học của ông sau này Sự xuất hiện khá đậm nét hình tượng những người ca nhi, kĩ nữ với tiếng đàn giọng hát và thân phận đau khổ của họ trong sáng tác của Nguyễn Du rất có thể là sự ám ảnh từ những gì ông đã chứng kiến trong gia đình người anh Năm 1783, Nguyễn Du thi Hương đỗ tam trường (tú tài) và được tập ấm nhận một chức quan võ nhỏ ở Thái Nguyên Nhưng cuộc đời yên
ả không kéo dài được bao lâu Do nhiều biến cố lịch sử, từ năm 1789, Nguyễn Du đã rơi vào cuộc sống đầy khó khăn gian khổ hơn chục năm trước khi ra làm quan cho nhà Nguyễn Những trãi nghiệm trong môi trường quý tộc và cuộc sống phong trần đem lại cho Nguyễn Du một vốn sống thực tế phong phú, đã thôi thúc ông suy ngẫm nhiều về xã
Trang 4hội, về thân phận con người, tạo tiền đề quan trọng cho sự hình thành tài năng và bản lĩnhsáng tạo văn chương Hơn mười năm lăn lộn chật vật ở các vùng nông thôn khác nhau
cũng là dịp Nguyễn Du học hỏi, nắm vững ngôn ngữ nghệ thuận dân giang: “ Thôn ca sơ
học tang ma nữ” (Tiếng hát nơi thôn dã giúp ta biết ngôn ngữ trong nghề trồng dâu trồng
gai) Đây là vốn hiểu biết rất cần thiết cho sự hình thành phong cách ngôn ngữ của các
sáng tác bằng chữ Nôm, đặc biệt là Truyện Kiều.
Sau nhiều năm sống hết sức khó khăn chật vật ở các vùng quê khác nhau, đến năm
1802, Nguyễn Du đã ra làm quan cho nhà Nguyễn Hoạn lộ của Nguyễn Du khá thuận lợi Năm 1802, ông nhận chức Tri huyện tại huyện Phù Dung (nay thuộc Khoái Châu, Hưng Yên), sau đổi sang Tri phủ Thường Tín (nay thuộc Hà Tây) Từ năm 1805 đến
1809, ông được thăng chức Đông Các điện học sĩ, năm 1809, được bổ nhiệm làm Cai bạ dinh Quảng Bình Năm 1813, ông được thăng Cần chánh điện học sĩ và giữ chức Chánh
sứ đi Trung Quốc sang Trung Quốc, Nguyễn Du trực tiếp tiếp xúc với một nền văn hóa
mà từ nhỏ ông đã quen thuộc qua nhiều sử sách và thơ văn Chuyến đi sứ để lại những dấu ấn sâu đậm trong thơ văn, đặc biệt góp phần nâng tầm khái quát của những tư tưởng
về xã hội và thân phận con người trong sáng tác của ông Năm 1820, Nguyễn Du lại được
cử làm Chánh sứ đi Trung Quốc nhưng lần này chưa kịp lên đường thì ông đã mất vào ngày 10 tháng 08 năm Canh Thìn (18 – 9 -1820)
Năm 1965, Hội đồng Hòa bình Thế giới đã công nhận Nguyễn Du là danh nhân văn hóa thế giới và ra quyết định kỉ niệm trọng thể nhân dịp 200 năm năm sinh của ông
II. SỰ NGHIỆP VĂN CHƯƠNG
1/ Sáng tác bằng chữ Hán: Hiện nay giới nghiên cứu đã sưu tầm được 249 bài thơ
chữ Hán do Nguyễn Du viết vào các thời kỳ khác nhau :
- Thanh hiên Thi tập (tập thơ của Thanh Hiên) gồm 78 bài viết chủ yếu trong những
năm tháng trước khi ra làm quan nhà Nguyễn
Trang 5- Nam trung tạp ngâm (Các bài thơ ngâm khi ở phương Nam) có 40 bài viết thời gian
làm quan ở Huế và Quảng Bình, những địa phương ở phía nam Hà Tĩnh, quê hươngông
- Bắc hành tạp lục: (Ghi chép trong chuyến đi sang phương Bắc) gồm 131 bài thơ
sáng tác trong chuyến đi sứ Trung Quốc
Thơ chữ Hán của Nguyễn Du thể hiện tư tưởng, tình cảm, nhân cách của ông Các
bài thơ trong Thanh Hiên thi tập và Nam trung tạp ngâm tuy biểu hiện một tâm trạng
buồn đau, day dứt nhưng đã cho thấy rõ khuynh hướng quan sát, suy ngẫm về cuộc
đời, về xã hội của tác giả Trong Bắc hành tạp lục, những điểm đặc sắc của tư tưởng,
tình cảm Nguyễn Du được thể hiện rõ ràng hơn Thơ Nguyễn Du viết khi đi sứ TrungQuốc có ba nhóm đáng chú ý:
- Ca ngợi, đồng cảm với các nhân cách cao thượng và phê phán những nhân vật phản
diện;
- Phê phán xã hội phong kiến chà đạp quyền sống con người;
- Cảm thông với những nhân vật nhỏ bé dưới đáy xã hội, bị đọa đày hắt hủi Xét về
đề tài và cảm hứng sáng tác, có nhiều điểm tương đồng giữa Truyện Kiều và các bài thơ chữ Hán trong Bắc hành tạp lục.
2/ Sáng tác bằng chữ Nôm: Nguyễn Du có Đoạn trường tân thanh (còn gọi là Truyện
Kiều) và Văn tế thập loại chúng sinh (Văn chiêu hồn)
-Truyện Kiều là truyện thơ viết bằng thể thơ lục bát, được sáng tác trên cơ sở cốt
truyện của tiểu thuyết chương hồi Trung Quốc Kim Vân Kiều truyện Tuy nhiên,
Nguyễn Du đã sáng tạo nên một tác phẩm mới, với cảm hứng mới, nhận thức lí giải
nhân vật theo cách của riêng ông, với thể loại truyện thơ khác hẳn Kim Vân Kiều
truyện là tác phẩm tự sự văn xuôi Trên một nền tảng nhân đạo chủ nghĩa vững chãi,
với tài năng điêu luyện, với sự lựa chọn thể loại truyện thơ kết hợp nhuần nhuyễn cảchất tự sự và chất trữ tình, với sự am hiểu đồng thời cả ngôn ngữ bình dân cũng nhưngôn ngữ văn học bác học, Nguyễn Du đã sáng tạo nên một kiệt tác độc nhất vô nhịcủa văn học trung đại Việt Nam
Trang 6-Văn chiêu hồn nguyên tên là Văn tế thập loại chúng sinh (Văn tế mười loại chúng
sinh) viết bằng thể thơ song thất lục bát Bài văn tế thể hiện một phương diện quantrọng của chủ nghĩa nhân đạo trong sáng tác Nguyên Du Theo quan niệm xưa, hồn củanhững người chết bất hạnh cần được siêu sinh tịnh độ Nguyễn Du viết bài thơ chiêuhồn cho nhiều hạng người khác nhau, kể cả những những người thuộc tầng lớp phongkiến quý tộc Song tấm lòng nhân ái của nhà thơ vẫn hướng về những thân phận nhỏ
bé, dưới đáy xã hội như các em nhỏ, các kĩ nữ, những anh học trò nghèo Do giá trị
nhân đạo sâu sắc mà Văn chiêu hồn đã được phổ biến rộng rãi, kể cả trong phạm vi nhà
chùa
Trang 7CHƯƠNG II: TÌM HIỂU CHUNG VỀ LỊCH SỬ THI LUẬN CỔ
ĐIỂN TRUNG QUỐC
Nền văn học cổ điển Trung Quốc với bề dày lịch sử có những ảnh hưởng quan trọng đến văn học khu vực Thậm chí có thể nói, sẽ không thể hiểu được thấu đáo bản thân nền văn học các nước chịu ảnh hưởng sâu đậm như Việt Nam, Nhật Bản, Hàn Quốc,Triều Tiên,… nếu tách rời với văn học cổ điển Trung Quốc Lí luận văn học cổ Trung Quốc cũng đã đạt những thành tựu vĩ đại với những tên tuổi nổi tiếng như : Khổng Tử, Lão Tử, Trang Tử thời Tiên Tần; Tư Mã Thiên, Tào Phi, Lục Cơ, Lưu Hiệp thời Hán và Ngụy, Tấn, Nam Bắc Triều; thời Tùy, Đường có Lý Bạch, Đỗ Phủ, Bạch Cư Dị; hay Nghiêm Vũ, Viên Mai ở các đời sau
Chung qui lại, người viết tán đồng với cách phân chia lịch sử thi luận cổ điển Trung Quốc của tác giả Đoàn Lê Giang Theo đó, lịch sử thi luận cổ điển Trung Quốc có ba khuynh hướng:
1 Khuynh hướng đề cao đạo đức, chính trị, xã hội trong sáng tác văn học Ở dòng
Nho gia, nó thể hiện trong quan niệm “quan chí”, “quan phong” (Kinh Thi), “thi ngôn chí” (Thượng thư), theo đó thơ ca không phải là phương tiện để bộc lộ nỗi
lòng tự nhiên của con người mà là phương tiện để thể hiện cái chí của kẻ sĩ, gắn bóvới những vấn đề chính trị, xã hội Ở dòng Văn gia, Tư Mã Thiên quan niệm
“phát phẫn trứ thư” – văn chương được sáng tác từ sự phẫn uất của người nghệ sĩ; Hàn Dũ cho rằng “ Vật bất bình tắc minh”- mọi vật vì bất bình mà phải kêu lên, văn chương là tiếng kêu của người nghệ sĩ vì sự bất bình với thực tại; Âu Dương
Tu lại khẳng định “Thi cùng nhi hậu công”- người cùng thì thơ mới hay Nói chung, dòng Văn gia có xu hướng nhấn mạnh vào sự trải nghiệm cuộc sống và sự bất bình của nghệ sĩ với thực tại xã hội
Trang 82 Khuynh hướng đề cao tự nhiên, hư tĩnh trong văn học chịu ảnh hưởng sâu sắc của
tư tưởng Lão Trang Họ sùng thượng tự nhiên, đề cao cái đẹp Giản, Phác Đề cao cái Vô, Hư tĩnh Nhấn mạnh phải luyện tâm pháp đến trình độ Thần hóa Trong sáng tác, cần “đắc ý vong ngôn” (Trang Tử)- sau này phát triển thành thuyết “ngônbất tận ý”hay “ý tại ngôn ngoại” Tóm lại, khuynh hướng sáng tác này để cao trực giác, cái linh diệu trong sáng tạo nghệ thuật của nghệ sĩ
3 Khuynh hướng đề cao cái tự ngã, thuyết tôn tình và văn chương thông tục.Khuynhhướng này nêu cao quan niệm “Tôn tình”- đề cao tình cảm, đây là bước đầu khẳng
định cái tôi cá nhân của người nghệ sĩ như một cá thể sáng tạo.Thuyết tính linh của
Viên Hoằng Đạo được Viên Mai làm sống lại với hàm nghĩa tình cảm chân thực của con người, sự linh diệu trong tâm hồn, tài năng của người làm thơ Kim ThánhThán lại chú ý đến các thể văn thông tục, vốn bị xếp hạng thấp trong quan niệm trước đây Nói chung, khuynh hướng này đã đặt nền móng cho sự chuyển mình của văn học từ thời Trung đại bước sang Hiện đại
Trang 9CHƯƠNG III: ẢNH HƯỞNG THI LUẬN TRUNG QUỐC VỚI
QUAN NIỆM SÁNG TÁC CỦA NGUYỄN DU
I NGUỒN GỐC VĂN CHƯƠNG: NHỮNG ĐIỀU TRÔNG THẤY
Trong sáng tác Nguyễn Du, có lần ta bắt gặp những phút giây thảnh thơi của bậc hiền triết ẩn cư, tìm niềm vui trong việc đi săn:
Y quan đạt giả chí thanh vân Ngô diệc lạc ngô mi lộc quần Giải thích nhàn tình an tại hoạch Bính trừ dị loại bất phương nhân
(Liệp)
(Những người làm quan hiển đạt, chí ở đường mây Còn ta, ta vui với lũ hươu nai
Đi săn, cốt sao tâm tình thư thái, chứ không cốt bắt được nhiều thú
Mà dù có giết giống khác, cũng chẳng hại đến lòng nhân).
Hay phong vị Lão Trang khi tìm về với thiên nhiên:
Trần thế bách niên khai nhãn mộng, Hồng sơn thiên lý ỷ lan tâm
(Cuộc trần thế trăm năm chỉ là giấc mộng khi mắt mở, Tựa lan can, lòng nhớ núi Hồng nơi ngàn dặm)
(La Phù giang thuỷ các độc toạ)Thế nhưng nét nổi bật trong sáng tác Nguyễn Du lại khác Là một nhà Nho, được nuôi dưỡng trong bầu không khí Hán học ngay từ nhỏ, nếu như những nhà nho Việt Nam thời trung đại, thường làm thơ để nói “chí”, để “tỏ lòng”, Nguyễn Du lại đề cao xúc cảm,
đề cao “tình” trong sáng tác văn chương Tiếng thơ Nguyễn Du cất lên từ “Những điều trông thấy mà đau đớn lòng” Tư tưởng này chịu ảnh hưởng từ tư tưởng của dòng Văn gia
mà đậm nét nhất là ở nhà văn, nhà sử học thời Tây Hán- Tư Mã Thiên với quan niệm
“Phát phẫn trứ thư”- văn chương được sáng tác từ sự phẫn uất của người nghệ sĩ Hàn
Trang 10Dũ thời Trung Đường cũng phát triển nguyên lí sáng tác này bằng quan niệm “Vật bất bình tắc minh”, xem văn chương là tiếng kêu lên của người nghệ sĩ vì sự bất bình với thực tại Quả thực trong trang viết Nguyễn Du từ thơ chữ Hán đến những sáng tác chữ Nôm, ta bắt gặp hiện thực cuộc đời hiện lên rõ mồn một Đó chính là nguồn cơn cho xúc cảm để ông viết nên những kiệt tác.
Bản thân đời ông từng trải qua những cảnh cùng cực Những năm lưu lạc từ nơi này đến nơi khác, ăn nhờ ở đậu nhà anh trai rồi đến nhà anh vợ, lại có những lúc đói rét phải nhận lòng thương hại của mọi người nên Nguyễn Du, hơn ai hết, ý thức cái nghèo rất rõ:
Tam xuân tích bệnh bần vô dược,Táp tải phù sinh hoạn hữu thân
(Ba xuân mang bệnh, nghèo không thuốc Cuộc phù sinh ba mươi năm, vì có thân mà phải lo)
(Văn chương chữ nghĩa nào đã từng ích gì cho ta?
Không dè đói rét phải nhận lòng thương hại của người)
Vì lẽ đó, ông thông cảm với nỗi đau của quần chúng lao khổ:
Thôn ca sơ học tang ma ngữ,
Dã khốc thời văn chiến phạt thanh
(Trong tiếng hát nơi thôn xóm, ta bắt đầu học được những câu chuyện về trồng dâu,
trồng gai,
Trong tiếng khóc nơi đồng ruộng, ta nghe có tiếng dội của chiến tranh).
Trang 11Nguyễn Du khi đã là một ông quan đường bệ, vẫn đồng cảm được với cái vất vả,
cơ cực của người phu đẩy xe mà không hề cách biệt :
Hà xứ thôi xa hán Tương khan lục lục đồng
(Bác phu xe kia ở đâu?
Nhìn ra thấy vất vả như nhau)
(Hà Nam đạo trung khốc thử)
Bài “Sở kiến hành” là nỗi xót xa của tác giả trước cảnh khốn cùng của mấy mẹ con tha hương sắp chết đói mà ông gặp bên đường lúc đi sứ sang Tàu :
Mẫu tử bất túc xuất, Phủ nhi tăng đoạn trường
Kỳ thống tại tâm đầu,Thiên nhật giai vị hoàng
(Mẹ chết đã đành rồi Trông con thêm đứt ruột.
Nỗi lòng đau đớn lạ thường Mặt trời cũng vì người mà vàng úa)
Đối lập với những con người nghèo khổ phải chết đói thê thảm là hình ảnh yến tiệc linh đình chốn dinh thự nhà quan:
Trướng quan bất hạ trợ, Tiểu môn chỉ lược thường
Bất khí vô cô tích,Lân cẩu yếm cao lương
(Quan trên không chọc đũa,
Kẻ dưới chỉ nếm qua.
Bỏ mứa không đoái tiếc, Chó hàng xóm chán cao lương.)
Trang 12Bài thơ khiến ta bất giác nhớ đến hai câu thơ của Đỗ Phủ:
Quan lớn trong triều ngấy rượu thịt Bọn dân mảnh vải tấm tranh không (Tuế án hành)
Hay cái hiện thực khốc liệt tương tự trong bài thơ Khinh phì của Bạch Cư Dị
Uống, toàn là rượu quý,
Ăn, bày đủ món ngon
Quít Động Đình trái ngọt,
Cá Thiên Trì gỏi thơm, Ních no lòng thấy khoái Năm ấy Giang Nam hạn,
Cổ Châu người ăn người
Chén khướt khí thêm oai!
Khác nhau về thời đại vẫn khiến Nguyễn Du gặp gỡ tiền nhân ở tấm lòng chân thành, trân trọng, thương yêu dành cho những phận đời bất hạnh- một mạch chủ lưu trongsáng tác của mình
Không chỉ quan tâm người sống, Nguyễn Du còn quan tâm đến cả những linh hồn
đã khuất Trong tác phẩm Văn chiêu hồn, một tác phẩm dành riêng cho các cô hồn không
ai hương khói, không có nơi nương tựa, lay lắt nơi bờ bụi, ngòi khe Với 184 câu thơ song thất lục bát, tác phẩm khởi hành từ cõi dương thế, trong bối cảnh đầu thu “mưa dầm sùi sụt” để nhìn về âm phủ Não nùng trước bao khổ nạn, nhà thơ kêu gọi những linh hồn vất vưởng cùng về dự đàn giải thoát Cảm xúc ngày càng thống thiết, Tố Như khóc
thương cho hơn mười loại người bất hạnh khi chết phải chịu cảnh“hồn đơn phách chiếc lênh đênh quê người” Cái nhìn thấu hết sáu cõi của nhà thơ đã bao quát cõi nhân sinh màkhóc thương cho đủ hạng người: từ những kẻ "tính đường kiêu hãnh" tham danh vọng màquên mạng sống, những kẻ giàu sang sống trong "màn loan trướng huệ" tự kiêu, tự mãn
về nhan sắc, những kẻ làm quan to "mũ cao áo rộng" khi sống nắm quyền sinh sát trong tay, những tướng sĩ "bài binh bố trận" "đem mình vào cướp ấn nguyên nhung" đến những