1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Nghiên cứu cơ sở lý luận và thực tiễn, làm cơ sở đề xuất những nội dung cơ bản quy hoạch lâm nghiệp huyện tân sơn tỉnh phú thọ

124 208 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 124
Dung lượng 1,07 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Với lợi thế về đất đai của huyện rừng có vai trò quan trọng không những phòng hộ đầu nguồn, phòng hộ môi trường, làm đẹp cảnh quan mà còn cung cấp các sản phẩm hàng hoá gỗ nguyên liệu, g

Trang 1

-

NGUYỄN HỮU NAM

NGHIÊN CỨU CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN, LÀM CƠ SỞ ĐỀ XUẤT NHỮNG NỘI DUNG CƠ BẢN QUY HOẠCH LÂM NGHIỆP

HUYỆN TÂN SƠN - TỈNH PHÚ THỌ

LUẬN VĂN THẠC SỸ KHOA HỌC LÂM NGHIỆP

Hà Nội - 2010

Trang 2

-

NGUYỄN HỮU NAM

NGHIÊN CỨU CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN, LÀM CƠ SỞ ĐỀ XUẤT NHỮNG NỘI DUNG CƠ BẢN QUY HOẠCH LÂM NGHIỆP

HUYỆN TÂN SƠN - TỈNH PHÚ THỌ

Chuyên ngành: Lâm Học

Mã số: 60.62.60

LUẬN VĂN THẠC SỸ KHOA HỌC LÂM NGHIỆP

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:

PGS TS TRẦN HỮU VIÊN

Hà Nội - 2010

Trang 3

PHỤ BIỂU

Trang 5

ĐẶT VẤN ĐỀ

Trong những thập kỷ qua, vốn rừng của Việt Nam đã và đang bị suy giảm nghiêm trọng, nạn khai thác rừng trái phép, đốt phát nương làm rẫy làm cho môi trường sinh thái bị hủy hoại, diện tích đất trống đồi núi trọc ngày càng tăng Chính vì vậy, việc quản lý, bảo vệ, khôi phục và phát triển tài nguyên rừng, phấn đấu hạn chế và tiến tới chấm dứt nạn mất rừng, nâng cao

độ che phủ của rừng là mục tiêu của Đảng và Nhà nước trong thời kỳ đổi mới Hiện nay, vai trò của rừng nói riêng hay ngành Lâm nghiệp nói chung không những được đánh giá ở khía cạnh kinh tế thông qua những sản phẩm trước mắt thu được từ rừng mà còn tính đến những lợi ích to lớn về xã hội, môi trường mà rừng và nghề rừng mang lại Sự tác động đến rừng và đất rừng không chỉ ảnh hưởng trực tiếp đến nghề rừng và sự phát triển kinh tế - xã hội tại khu vực có rừng mà còn tác động nhiều mặt đến các khu vực phụ cận cũng như nhiều ngành sản xuất khác Do vậy, để sử dụng tài nguyên rừng một cách bền vững và lâu dài, việc xây dựng phương án quy hoạch hợp lý là yêu cầu cấp thiết đối với các nhà quản lý

Tân Sơn là huyện miền núi nằm ở phía Tây Nam của tỉnh Phú Thọ.Tổng diện tích tự nhiên là 68.984,6ha Diện tích đất lâm nghiệp là 61.089,0ha, chiếm 88,6% diện tích tự nhiên, trong đó rừng đặc dụng là 15.048,0ha, chiếm 21,8%; rừng phòng hộ là 29.050,9ha, chiếm 42,1%; rừng sản xuất 16.990,1ha, chiếm 24,6% diện tích đất tự nhiên Với lợi thế về đất đai của huyện rừng có vai trò quan trọng không những phòng hộ đầu nguồn, phòng hộ môi trường, làm đẹp cảnh quan mà còn cung cấp các sản phẩm hàng hoá gỗ nguyên liệu, góp phần ổn định đời sống, thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội, quy hoạch sắp xếp lại diện tích đất lâm nghiệp của huyện một cách hợp lý là nhiệm vụ cấp thiết trong thời gian tới

Trang 6

Trong quá trình bảo vệ và phát triển rừng cũng như trong quản lý sử dụng rừng ở địa phương còn nhiều tồn tại, bất cập: Những diện tích rừng và đất lâm nghiệp đã được giao, khoán ổn định lâu dài theo qui định của Nhà nước sử dụng kém hiệu quả, năng suất và chất lượng rừng chưa cao, tình trạng khai thác rừng trái phép vẫn diễn ra Công tác quy hoạch phân chia ba loại rừng chưa phù hợp với điều kiện thực tế của địa phương, việc sử dụng rừng chưa đúng mục đích Những tồn tại này làm cho công tác quản lý, bảo

vệ và phát triển rừng gặp rất nhiều khó khăn Do vậy, việc lập và triển khai lập phương án quy hoạch lâm nghiệp hợp lý, có cơ sở khoa học sẽ góp phần tăng thu nhập, cải thiện đời sống của người dân địa phương, thực hiện xoá đói giảm nghèo và đưa kinh tế - xã hội miền núi phát triển hoà nhập với tiến trình công nghiệp hoá hiện đại hoá đất nước

Xuất phát từ nhận thức và thực tiễn trên, mục tiêu làm quen với công tác nghiên cứu khoa học, áp dụng những kiến thức đã được học, để góp phần bảo

vệ phát triển tài nguyên rừng, ổn định đời sống người dân địa phương cũng như

cải thiện điều kiện môi trường sinh thái Tôi tiến hành thực hiện đề tài:

“Nghiên cứu cơ sở lý luận và thực tiễn, làm cơ sở đề xuất những nội dung

cơ bản quy hoạch lâm nghiệp huyện Tân Sơn - tỉnh Phú Thọ”

Trang 7

Chương 1: TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU

Quy hoạch nói chung và quy hoạch lâm nghiệp nói riêng là một hoạt động định hướng nhằm sắp xếp, bố trí sử dụng đất một cách hợp lý vào thời điểm hiện tại và phù hợp với mục tiêu trong tương lai Vấn đề quy hoạch sử dụng đất có ý nghĩa cực kỳ quan trọng đối với nền kinh tế xã hội Nếu quy hoạch sử dụng đất hợp lý thì nền kinh tế xã hội sẽ phát triển bền vững, trong điều kiện ngược lại thì sự phát triển của nền kinh tế xã hội sẽ gặp những cản trở, khó khăn Ngày nay, trong điều kiện nhu cầu của xã hội về đất đai canh tác, đất xây dựng cơ sở hạ tầng, nguyên liệu gỗ củi, vv … ngày càng cao, tạo

áp lực ngày càng lớn vào tài nguyên rừng và đất rừng Chính vì vậy, việc quy hoạch sử dụng hợp lý và bền vững tài nguyên rừng cũng như xây dựng nền lâm nghiệp bền vững không còn là trách nhiệm riêng của một quốc gia nào

mà là công việc chung của toàn nhân loại

1.1 Trên thế giới

Quy hoạch lâm nghiệp là một bộ phận cấu thành của quy hoạch tổng thể phát triển nông thôn Do đó, công tác quy hoạch lâm nghiệp cần có sự phối hợp chặt chẽ với quy hoạch phát triển nông thôn nhằm tránh sự chồng chéo, hạn chế lẫn nhau giữa các ngành Thực chất của công tác quy hoạch là tổ chức không gian và thời gian phát triển cho một ngành hoặc lĩnh vực sản xuất trong từng giai đoạn cụ thể Mỗi ngành kinh tế muốn tồn tại, phát triển thì nhất thiết phải tiến hành quy hoạch, sắp xếp một cách hợp lý, mà trong đó công tác điều tra cơ bản phục vụ cho quy hoạch phát triển phải được đi trước một bước

1.1.1 Quy hoạch vùng lãnh thổ

Quy hoạch vùng lãnh thổ tuân theo học thuyết Mác - Lê Nin về phân bố

và phát triển lực lượng sản xuất theo lãnh thổ và sử dụng các phương pháp của chủ nghĩa duy vật biện chứng

Trang 8

- Các Mác và Ăng Ghen đã chỉ ra “Mức độ phát triển lực lượng sản xuất của một dân tộc thể hiện rõ nét hơn hết ở sự phân công lao động của dân tộc

đó được phát triển đến mức độ nào”

- Lê Nin đã chỉ ra “Sự nghiên cứu tổng hợp tất cả các đặc điểm tự nhiên kinh tế xã hội của mỗi vùng là nguyên tắc quan trọng để phân bố sản xuất”

Vì vậy, nghiên cứu các đặc điểm đặc trưng cho sự phân bố lực lượng sản xuất cho một vùng trong quá khứ và hiện tại để xác định khả năng tiềm tàng và

tương lai phát triển của vùng đó

Dựa trên học thuyết của Mác và Ăng Ghen, V.I Lê Nin đã nghiên cứu các hướng cụ thể về kế hoạch hóa phát triển lực lượng sản xuất trong xã hội chủ nghĩa Sự phân bố lực lượng sản xuất được xác định theo các nguyên tắc sau:

- Phân bố lực lượng sản xuất có kế hoạch trên toàn bộ lãnh thổ của đất nước, tỉnh, huyện nhằm thu hút các nguồn tài nguyên thiên nhiên và lao động của tất cả các vùng và quá trình tái sản xuất mở rộng

- Đưa các xí nghiệp, công nghiệp đến gần nguồn tài nguyên để hạn chế chi phí vận chuyển

- Kết hợp tốt lợi ích Nhà nước và nhu cầu kinh tế của từng tỉnh, vùng

- Tăng cường toàn diện tiềm lực kinh tế…

- Kết hợp chặt chẽ các ngành kinh tế từng vùng, từng huyện nhằm nâng cao năng suất lao động và sử dụng hợp lý tài nguyên thiên nhiên [19]

1.1.1.1 Quy hoạch vùng lãnh thổ ở Bungari

1.Mục đích

- Sử dụng hiệu quả nhất lãnh thổ của đất nước

- Lãnh thổ là môi trường thiên nhiên phải bảo vệ

- Lãnh thổ thiên nhiên không có vùng nông thôn, sự tác động của con người vào đây rất ít

Trang 9

- Lãnh thổ là môi trường thiên nhiên có mạng lưới nông thôn, ít có sự can thiệp của con người, thuận lợi cho kinh doanh về du lịch

- Lãnh thổ là môi trường nông nghiệp có mạng lưới nông thôn và có sự can thiệp của con người, thuận lợi cho sản xuất nông nghiệp

- Lãnh thổ là môi trường nông nghiệp không có mạng lưới nông thôn nhưng có sự tác động của con người

- Lãnh thổ là môi trường công nghiệp với sự can thiệp tích cực của con người

2 Nội dung của quy hoạch

- Cụ thể hóa, chuyên môn hóa sản xuất nông nghiệp

- Phối hợp giữa sản xuất công nghiệp và sản xuất nông nghiệp theo ngành dọc

- Xây dựng các mạng lưới công trình phục vụ công cộng và sản xuất

- Tổ chức đúng đắn mạng lưới khu dân cư và phục vụ công cộng liên hợp trong phạm vi hệ thống nông thôn

- Bảo vệ môi trường thiên nhiên, tạo điều kiện tốt cho nhân dân lao động, sinh hoạt [19]

- Hoạt động đô thị, khai thác chế biến …

2 Nhân lực theo các dạng thuế thời vụ, các loại lao động nông - lâm nghiệp

3 Cân đối xuất nhập, thu chi và các cân đối khác

Quy hoạch nhằm mục đích khai thác lãnh thổ theo hướng tăng thêm giá trị sản phẩm của xã hội.[19]

Trang 10

1.1.1.3 Quy hoạch vùng lãnh thổ của Thái Lan

Công tác quy hoạch vùng lãnh thổ được chú ý từ những năm 1970 Hệ thống quy hoạch được tiến hành theo 3 cấp: (Quốc gia, vùng, địa phương) (1)Vùng (Region) được coi như là một á miền (Supdivision) của đất nước, đó là điều cần thiết để phân chia Quốc gia thành các á miền theo các phương diện khác nhau như : phân bố dân cư, địa hình, khí hậu …

- Quy mô diện tích của vùng phụ thuộc vào diện tích của đất nước

- Quy hoạch phát triển vùng tiến hành ở cấp á miền được xây dựng theo

1.1.2 Quy hoạch vùng nông nghiệp

- Quy hoạch vùng nông nghiệp là một biện pháp tổng hợp của Nhà nước

về phân bố và phát triển lực lượng sản xuất trên lãnh thổ các vùng hành chính, nông nghiệp, nhằm đáp ứng các nhu cầu về phát triển tất cả các ngành kinh tế trong vùng

- Quy hoạch vùng nông nghiệp là giai đoạn kết thúc của kế hoạch hóa tương lai của Nhà nước một cách chi tiết sự phát triển và phân bố lực lượng sản xuất theo lãnh thổ của các vùng là biện pháp xác định các xí nghiệp chuyên môn hóa một cách hợp lý Là biện pháp sử dụng đất đai, lợi dụng các yếu tố tự nhiên, áp dụng các thành tựu khoa học kỹ thuật…

Trang 11

- Vùng hành chính là đối tượng quy hoạch vùng nông nghiệp, đồng thời cũng là vùng lãnh thổ mà ở đó có các điều kiện kinh tế, vùng tổ chức lãnh thổ thuận lợi cho việc phát triển tất cả các ngành kinh tế - quốc dân

1.1.3 Quy hoạch vùng lâm nghiệp

- Sự phát triển của quy hoạch lâm nghiệp gắn liền với sự phát triển kinh tế

Tư bản chủ nghĩa Do công nghiệp và giao thông vận tải phát triển, nên nhu cầu khối lượng gỗ ngày càng tăng Sản xuất gỗ đã tách khỏi nền kinh tế địa phương của chế độ phong kiến và bước vào thời đại kinh tế hàng hoá Tư bản chủ nghĩa Thực tế sản xuất lâm nghiệp đã không còn bó hẹp trong việc sản xuất gỗ đơn thuần mà cần phải có ngay những lý luận và biện pháp nhằm đảm bảo thu hoạch lợi nhuận lâu dài cho các chủ rừng Chính hệ thống hoàn chỉnh về lý luận quy hoạch lâm nghiệp đã được hình thành trong hoàn cảnh như vậy

- Đầu thế kỷ 18, phạm vi quy hoạch lâm nghiệp mới chỉ giải quyết việc “ Khoanh khu chặt luân chuyển”, có nghĩa đem trữ lượng hoặc diện tích tài

nguyên rừng chia đều cho từng năm của chu kỳ khai thác và tiến hành khoanh khu chặt luân chuyển theo trữ lượng hoặc diện tích Phương thức này phục vụ cho phương thức kinh doanh rừng chồi, chu kỳ khai thác ngắn

- Sau Cách mạng công nghiệp, vào thế kỷ 19 Phương thức kinh doanh rừng chồi được thay bằng Phương thức kinh doanh rừng hạt với chu kỳ khai

thác dài Và phương thức “Khoanh khu chặt luân chuyển” nhường chỗ cho phương thức “Chia đều” của Hartig Hartig đã chia đều chu kỳ khai thác

thành nhiều thời kỳ lợi dụng và trên cơ sở đó khống chế lượng chặt hàng năm Đến năm 1816, xuất hiện Phương thức luân kỳ lợi dụng của H Cotta, Cotta chia chu kỳ khai thác thành 20 thời kỳ lợi dụng và cũng lấy đó để khống chế lượng chặt hàng năm

- Sau đó phương pháp “Bình quân thu hoạch” ra đời, quan điểm phương

pháp này là giữ đều mức thu hoạch trong chu kỳ khai thác hiện tại, đồng thời vẫn

Trang 12

đảm bảo thu hoạch được liên tục trong chu kỳ sau Và đến cuối thế kỷ 19, xuất

hiện phương pháp “Lâm phần kinh tế” của Judeich Phương pháp này khác với phương pháp “Bình quân thu hoạch” về căn bản, Judeich cho rằng những lâm

phần nào đảm bảo thu hoạch được nhiều tiền nhất sẽ được đưa vào diện khai

thác Hai phương pháp “Bình quân thu hoạch” và “Lâm phần kinh tế” chính là

tiền đề của hai phương pháp tổ chức kinh doanh và tổ chức rừng khác nhau

- Phương pháp “Bình quân thu hoạch” và sau này là phương pháp “Cấp tuổi” chịu ảnh hưởng của “Lý luận rừng tiêu chuẩn”, có nghĩa là rừng phải có

kết cấu tiêu chuẩn về tuổi cũng như về diện tích, trữ lượng, vị trí và đưa các cấp tuổi cao vào diện tích khai thác Hiện nay, phương pháp kinh doanh rừng này được dùng phổ biến ở các nước có tài nguyên rừng phong phú Còn

phương pháp “Lâm phần kinh tế” và hiện nay là phương pháp “Lâm phần”

không căn cứ vào tuổi rừng mà dựa vào đặc điểm cụ thể của mỗi lâm phần tiến hành phân tích, xác định sản lượng và biện pháp kinh doanh Cũng từ

phương pháp này, còn phát triển thành “Phương pháp kinh doanh lô” và

“Phương pháp kiểm tra” [21]

Tại châu Âu, vào thập kỷ 30 và 40 thế kỷ XX, quy hoạch ngành giữ vai trò lấp chỗ trống của quy hoạch vùng được xây dựng vào đầu thế kỷ Năm

1946, Jack G.V đã cho ra đời chuyên khảo đầu tiên về phân loại đất đai với tên “phân loại đất đai cho quy hoạch sử dụng đất” Đây cũng là tài liệu đầu tiên đề cập đến đánh giá khả năng của đất cho quy hoạch sử dụng đất Tại vùng Rhodesia trước đây, nay là cộng hoà Zimbabwe, Bộ Nông nghiệp đã xuất bản cuốn sổ tay hướng dẫn quy hoạch sử dụng đất hỗ trợ cho quy hoạch

cơ sở hạ tầng cho trồng rừng Vào đầu những năm 60 của thế kỷ XX, Tạp chí

“East African Journal for Agriculture Forestry” đã xuất bản nhiều bài báo về quy hoạch cơ sở hạ tầng ở Nam châu Phi Năm1966, Hội Đất học của Mỹ và Hội Nông học Mỹ cho ra đời chuyên khảo về hướng dẫn điều tra đất, đánh giá khả năng của đất và ứng dụng trong qui hoạch sử dụng đất

Trang 13

1.2 Ở Việt Nam

1.2.1 Quy hoạch vùng chuyên canh

Trong quá trình xây dựng nền kinh tế, đã quy hoạch các vùng chuyên canh lúa ở đồng bằng sông Hồng và đồng bằng sông Cửu Long, các vùng rau thực phẩm cho các thành phố lớn, các vùng cây công nghiệp ngắn ngày (hàng năm): Vùng bông Thuận Hải, vùng đay Hưng Yên, vùng thuốc lá Quảng An - Cao Bằng, Ba vì - Hà Tây, Hữu Lũng - Lạng Sơn, Nho Quan – Ninh Bình, vùng mía Vạn Điểm, Việt Trì, Sông Lam, Quảng Ngãi Các vùng cây công nghiệp dài ngày (lâu năm): Vùng cao su Sông Bé, Đồng Nai, Buôn Hồ - Đắc Lắc, Chư Pả - Gia Lai Kon Tum, vùng cà phê Krông Búc, Krông Bách - Đắc Lắc, Chư Pả, Ninh Đức - Gia Lai Kon Tum (hợp tác với Liên Xô trước đây, Cộng hoà dân chủ Đức, Tiệp Khắc, Bungari), vùng chè ở Lai Châu, Lào Cai, Sơn La, Thái Nguyên, Phú Thọ, Hà Giang, Lâm Đồng, Gia Lai Kom Tum, vùng dâu tằm Bảo Lộc - Lâm Đồng [19]

Quy hoạch vùng chuyên canh đã có tác dụng:

- Xác định phương hướng sản xuất, chỉ ra những vùng chuyên môn hoá

- Cơ sở để xây dựng kế hoạch phát triển nghiên cứu tổ chức quản lý kinh doanh theo ngành và theo lãnh thổ

Quy hoạch vùng chuyên canh đã thực hiện nhiệm vụ chủ yếu là bố trí cơ cấu cây trồng được chọn với quy mô và chế độ canh tác hợp lý, theo hướng tập trung để ứng dụng tiến bộ kỹ thuật nhằm nâng cao năng xuất, sản lượng

Trang 14

và chất lượng sản phẩm cây trồng đồng thời phân bố các chỉ tiêu nhiệm vụ cụ thể cho từng cơ sở sản xuất, làm cơ sở cho công tác quy hoạch, kế hoạch của các cơ sở sản xuất

Quy hoạch vùng chuyên canh có các nội dung chủ yếu sau:

- Xác định quy mô, ranh giới vùng

- Xác định phương hướng, chỉ tiêu nhiệm vụ sản xuất

- Ước tính đầu tư và hiệu quả kinh tế

- Dự kiến tiến độ thực hiện quy hoạch

1.2.2 Quy hoạch nông nghiệp huyện

1.2.2.1.Nhiệm vụ chủ yếu của quy hoạch nông nghiệp huyện

(1) Trên cơ sở điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội của huyện căn cứ vào

dự án phát triển, phân bố lực lượng sản xuất và phân vùng nông nghiệp tỉnh hoặc thành phố đã được phê duyệt, xác định phương hướng nhiệm vụ, mục tiêu phát triển nông nghiệp và xây dựng các biện pháp nhằm thực hiện được các mục tiêu đó theo hướng chuyên môn hoá tập trung hoá kết hợp phát triển tổng hợp nhằm thực hiện 3 mục tiêu nông nghiệp là giải quyết lương thực, thực phẩm, nguyên liệu cho công nghiệp và nông sản xuất khẩu ổn định (2) Hoàn thiện phân bổ sử dụng đất đai cho các đối tượng sử dụng đất nhằm sử dụng đất đai được hiệu quả cao, đồng thời bảo vệ và nâng cao được

độ phì nhiêu của đất

(3) Tạo điều kiện để ứng dụng các tiến bộ kỹ thuật vào sản xuất nông nghiệp

Trang 15

(4) Tính vốn đầu tư cơ bản và hiệu quả của sản xuất nông nghiệp theo quy hoạch

1.2.2.2.Nội dung chủ yếu của quy hoạch nông nghiệp huyện

- Xác định phương hướng và mục tiêu phát triển nông nghiệp

- Bố trí sử dụng đất đai

- Xác định cơ cấu và quy mô sản xuất nông nghiệp (phân chia và tính toán quy mô các vùng sản xuất chuyên môn hoá, xác định vùng sản xuất thâm canh cao sản, các tổ chức liên kết nông - công nghiệp, các cở sở dịch vụ nông nghiệp, bố trí trồng trọt, bố trí chăn nuôi)

- Tổ chức các cơ sở sản xuất nông nghiệp

- Tổ chức công nghiệp chế biến nông sản và tiểu thủ công nghiệp trong nông nghiệp

- Giải quyết mối quan hệ giữa các ngành sản xuất có liên quan trong và ngoài nông nghiệp

- Bố trí cơ sở vật chất, kỹ thuật phục vụ nông nghiệp (thuỷ lợi, giao thông, cơ khí điện, cơ sở dịch vụ thương nghiệp)

- Tổ chức sử dụng lao động nông nghiệp, phân bố các điểm dân cư nông thôn

- Những cân đối chính trong sản xuất nông nghiệp (lương thực, thực phẩm), thức ăn gia súc, phân bón, vật tư kỹ thuật nông nghiệp, nguyên liệu cho các xí nghiệp chế biến

- Tổ chức các cụm kinh tế xã hội

- Bảo vệ môi trường

- Vốn đầu tư cơ bản

- Hiệu quả sản xuất và tiến độ thực hiện quy hoạch

Đối tượng của quy hoạch nông nghiệp huyện là toàn bộ đất đai, ranh giới hành chính huyện [19]

1.2.3 Quy hoạch lâm nghiệp

Trang 16

Quy hoạch lâm nghiệp là tiến hành phân chia, sắp xếp hợp lý về mặt không gian tài nguyên rừng và bố trí cân đối các hạng mục sản xuất kinh doanh theo các cấp quản lý lãnh thổ và các cấp quản lý sản xuất khác nhau, làm cơ sở cho việc lập kế hoạch sản xuất kinh doanh lâm nghiệp đáp ứng nhu cầu lâm sản cho nền kinh tế quốc dân, cho kinh tế địa phương, đồng thời phát huy những tác dụng có lợi khác của rừng

Quy hoạch lâm nghiệp áp dụng ở nước ta ngay từ thời kỳ Pháp thuộc Như việc xây dựng phương án điều chế rừng chồi, sản xuất củi Điều chế rừng Thông theo phương pháp hạt đều

Đến năm 1955-1957, tiến hành sơ thám và mô tả ước lượng tài nguyên rừng Năm 1958-1959 tiến hành thống kê trữ lượng rừng miền Bắc Mãi đến năm 1960 - 1964, công tác quy hoạch lâm nghiệp mới áp dụng ở miền Bắc

Từ năm 1965 đến nay, lực lượng quy hoạch lâm nghiệp ngày càng được tăng cường và mở rộng Viện điều tra - Quy hoạch rừng kết hợp chặt chẽ với lực lượng điều tra quy hoạch của các Sở Lâm nghiệp (nay Sở NN &PTNT) không ngừng cải tiến phương pháp điều tra, quy hoạch lâm nghiệp của nước ngoài cho phù hợp với trình độ và điều kiện tài nguyên rừng ở nước ta Tuy nhiên,

so với lịch sử phát triển của các nước khác thì quy hoạch lâm nghiệp nước ta hình thành và phát triển muộn hơn nhiều Vì vậy, những nghiên cứu cơ bản về kinh tế, xã hội, kỹ thuật và tài nguyên rừng làm cơ sở cho công tác này ở nước ta đang trong giai đoạn vừa tiến hành vừa nghiên cứu áp dụng [21] Theo Chiến lược Phát triển Lâm nghiệp quốc gia giai đoạn 2006 - 2020

một trong những tồn tại mà Bộ Nông nghiệp & PTNT đánh giá là: “Công tác quy hoạch nhất là quy hoạch dài hạn còn yếu và chậm đổi mới, chưa kết hợp chặt chẽ với quy hoạch của các ngành khác, còn mang nặng tính bao cấp và thiếu tính khả thi Chưa quy hoạch 3 loại rừng hợp lý và chưa thiết lập được

Trang 17

lâm phần ổn định trên thực địa ” Đây cũng là nhiệm vụ nặng nề và cấp bách

đối với ngành lâm nghiệp của nước ta hiện nay [18]

1.2.3.1 Đặc thù của công tác quy hoạch lâm nghiệp

- Địa bàn quy hoạch lâm nghiệp rất đa dạng, phức tạp (bao gồm cả vùng ven

biển, trung du, núi cao và biên giới, hải đảo), thường có địa hình cao, dốc, chia cắt phức tạp, giao thông đi lại khó khăn và có nhiều ngành kinh tế hoạt động

- Là địa bàn cư trú của đồng bào các dân tộc ít người, trình độ dân trí thấp, kinh tế xã hội chậm phát triển, đời sống vật chất và tinh thần còn gặp nhiều khó khăn Đối tượng của công tác quy hoạch lâm nghiệp là rừng và đất

lâm nghiệp, từ bao đời nay là “của chung” của đồng bào các dân tộc, nhưng

- Quy mô của công tác quy hoạch lâm nghiệp bao gồm cả tầm vĩ mô và

vi mô: Quy hoạch toàn quốc, từng vùng lãnh thổ, từng tỉnh, huyện, xí nghiệp, lâm trường, quy hoạch phát triển lâm nghiệp xã và làng lâm nghiệp

- Lực lượng tham gia làm công tác quy hoạch lâm nghiệp thường luôn phải lưu động, điều kiện sinh hoạt khó khăn, cơ sở vật chất thiếu thốn về mọi mặt Đội ngũ cán bộ xây dựng phương án quy hoạch cũng rất đa dạng, bao gồm cả lực lượng của Trung ương và địa phương, thậm chí các ngành khác cũng tham gia làm quy hoạch lâm nghiệp (nông nghiệp, công an, quân đội );

Trang 18

Trong đó, có một bộ phận được đào tạo bài bản qua các trường lớp, song phần lớn chỉ dựa vào kinh nghiệm hoạt động lâu năm trong ngành lâm nghiệp [21]

Những yêu cầu của công tác quy hoạch lâm nghiệp phục vụ chuyển đổi

cơ cấu nông nghiệp nông thôn

Công tác quy hoạch lâm nghiệp được triển khai dựa trên những chủ trương, chính sách và định hướng phát triển kinh tế - xã hội của Nhà nước và chính quyền các cấp trên từng địa bàn cụ thể Với mỗi phương án quy hoạch lâm nghiệp phải đạt được:

- Hoạch định rõ ranh giới đất nông nghiệp - đất lâm nghiệp và đất do các ngành khác sử dụng; Trong đó, đất nông nghiệp, đất lâm nghiệp được quan tâm hàng đầu vì là hai ngành chính sử dụng đất đai

- Trên phần đất lâm nghiệp đã được xác định, tiến hành hoạch định 3 loại rừng (phòng hộ, đặc dụng và sản xuất) Từ đó xác định các giải pháp lâm sinh thích hợp với từng loại rừng và đất rừng (bảo vệ, làm giàu rừng, khoanh nuôi phục hồi rừng, trồng rừng mới, nuôi dưỡng rừng, nông lâm kết hợp khai thác lợi dụng rừng)

- Tính toán nhu cầu đầu tư (chủ yếu nhu cầu lao động, vật tư thiết bị và nhu cầu vốn) Vì là phương án quy hoạch nên việc tính toán nhu cầu đầu tư chỉ mang tính khái quát, phục vụ cho việc lập kế hoạch sản xuất ở những bước tiếp theo

- Xác định một số giải pháp đảm bảo thực hiện những nội dung quy hoạch (giải pháp lâm sinh, khoa học công nghệ, cơ chế chính sách, giải pháp về vốn, lao động )

- Đổi mới một số phương án quy hoạch có quy mô lớn (cấp toàn quốc, vùng, tỉnh) còn đề xuất các chương trình, dự án cần ưu tiên để triển khai bước tiếp theo là lập Dự án đầu tư hoặc báo cáo nghiên cứu khả thi

1.2.3.2 Quy hoạch lâm nghiệp cho các cấp

Trang 19

(1) Quy hoạch lâm nghiệp cho các cấp quản lý SXKD

Quy hoạch lâm nghiệp cho các cấp quản lý SXKD bao gồm: Quy hoạch tổng công ty lâm nghiệp, công ty lâm nghiệp; Quy hoạch lâm trường; Quy hoạch lâm nghiệp cho các đối tượng khác (quy hoạch cho các khu rừng phòng

hộ Quy hoạch các khu rừng đặc dụng và quy hoạch phát triển sản xuất lâm nông nghiệp cho các cộng đồng làng bản và trang trại lâm nghiệp hộ gia đình) Các nội dung quy hoạch lâm nghiệp cho các cấp quản lý sản xuất kinh doanh là khác nhau tuỳ theo điều kiện cụ thể của mỗi đơn vị và thành phần kinh tế tham gia vào sản xuất lâm nghiệp mà lựa chọn các nội dung quy hoạch

cho phù hợp [21]

(2) Quy hoạch lâm nghiệp cho các cấp quản lý lãnh thổ

Ở nước ta, các cấp quản lý lãnh thổ bao gồm các đơn vị quản lý hành chính: Từ toàn quốc tới tỉnh (thành phố trực thuộc trung ương), huyện (thành phố trực thuộc tỉnh, thị xã, quận) và xã (phường) Để phát triển, mỗi đơn vị đều phải xây dựng phương án quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế xã hội, quy hoạch phát triển các ngành sản xuất và quy hoạch dân cư, phát triển xã hội…

Ở những đối tượng có tiềm năng phát triển lâm nghiệp thì quy hoạch lâm nghiệp là một vấn đề quan trọng, làm cơ sở cho việc phát triển sản xuất nghề rừng nói riêng và góp phần phát triển kinh tế - xã hội nói chung trên địa bàn

Quy hoạch lâm nghiệp toàn quốc

Quy hoạch lâm nghiệp toàn quốc là quy hoạch phát triển sản xuất lâm nghiệp trên phạm vi lãnh thổ quốc gia nhằm giải quyết một số vấn đề cơ bản, bao gồm: Xác định phương hướng nhiệm vụ chiến lược phát triển lâm nghiệp toàn quốc Quy hoạch đất đai tài nguyên rừng theo các chức năng (sản xuất, phòng hộ và đặc dụng) Quy hoạch bảo vệ, nuôi dưỡng và phát triển tài nguyên rừng hiện có Quy hoạch tái sinh rừng (bao gồm tái sinh tự nhiên và trồng rừng), thực hiện nông lâm kết hợp Quy hoạch lợi dụng rừng, chế biến

Trang 20

lâm sản gắn với thị trường tiêu thụ Quy hoạch tổ chức sản xuất, phát triển nghề rừng, phát triển lâm nghiệp xã hội Quy hoạch xây dựng cơ sở hạ tầng, giao thông vận tải Xác định tiến độ thực hiện

Do đặc thù khác với những ngành kinh tế khác, cho nên thời hạn quy hoạch lâm nghiệp thường được thực hiện trong thời gian 10 năm và các nội dung quy hoạch được thực hiện tuỳ theo các vùng kinh tế lâm nghiệp

Quy hoạch lâm nghiệp cấp tỉnh

Quy hoạch lâm nghiệp cấp tỉnh giải quyết những vấn đề: Xác định

phương hướng nhiệm vụ phát triển lâm nghiệp trong phạm vi tỉnh căn cứ vào phương hướng nhiệm vụ phát triển kinh tế xã hội của tỉnh, căn cứ quy hoạch lâm nghiệp toàn quốc đồng thời căn cứ vào điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội của tỉnh Tiến hành quy hoạch đất lâm nghiệp trên địa bàn tỉnh theo ba chức năng: Rừng sản xuất, rừng phòng hộ và rừng đặc dụng, căn cứ vào phương hướng nhiệm vụ phát triển kinh tế xã hội của tỉnh, căn cứ vào điều kiện đất đai tài nguyên rừng, đồng thời căn cứ vào nhu cầu phòng hộ và các nhu cầu đặc biệt khác.Quy hoạch bảo vệ, nuôi dưỡng và phát triển tài nguyên rừng hiện có Quy hoạch tái sinh rừng (bao gồm tái sinh tự nhiên và trồng rừng), thực hiện nông lâm kết hợp Quy hoạch lợi dụng rừng, chế biến lâm sản gắn với thị trường tiêu thụ Quy hoạch tổ chức sản xuất, phát triển nghề rừng, phát triển lâm nghiệp xã hội Quy hoạch xây dựng cơ sở hạ tầng, giao thông vận tải Xác định tiến độ thực hiện

Quy hoạch lâm nghiệp cấp huyện

Quy hoạch lâm nghiệp cấp huyện về cơ bản các nội dung quy hoạch lâm nghiệp cũng tương tự như quy hoạch lâm nghiệp tỉnh, tuy nhiên nó được thực hiện cụ thể, chi tiết hơn và được tiến hành trên phạm vi địa bàn huyện Quy hoạch lâm nghiệp huyện đề cập giải quyết các vấn đề sau:

Trang 21

- Căn cứ vào phương hướng, nhiệm vụ phát triển tổng thể kinh tế - xã hội của huyện

- Căn cứ vào phương án phát triển lâm nghiệp của tỉnh và điều kiện tự nhiên kinh tế - xã hội, đặc biệt là điều kiện tài nguyên rừng của huyện để xác định phương hướng nhiệm vụ phát triển trên địa bàn huyện

- Căn cứ phương hướng phát triển lâm nghiệp huyện và điều kiện đất đai tài nguyên rừng, nhu cầu phòng hộ và các nhu cầu đặc biệt khác Tiến hành quy hoạch đất lâm nghiệp trong huyện theo 3 chức năng: Phòng hộ, đặc dụng

và sản xuất

- Quy hoạch bảo vệ, nuôi dưỡng tài nguyên rừng hiện có

- Quy hoạch các biện pháp tái sinh rừng: Trồng rừng, khoanh nuôi phục hồi rừng tự nhiên Quy hoạch thực hiện nông lâm kết hợp và sản xuất hỗ trợ trên đất lâm nghiệp

- Quy hoạch khai thác lợi dụng lâm đặc sản, chế biến lâm sản gắn liền với thị trường tiêu thụ

- Quy hoạch tổ chức sản xuất lâm nghiệp, quy hoạch đất lâm nghiệp cho các thành phần kinh tế trong huyện, tổ chức phát triển lâm nghiệp xã hội

- Quy hoạch xây dựng cơ sở hạ tầng, giao thông vận tải

- Xác định tiến độ thực hiện

Thời gian quy hoạch lâm nghiệp cấp huyện thường là 10 năm Các nội dung quy hoạch lâm nghiệp cũng cần phải phù hợp với phương hướng phát triển kinh tế - xã hội chung của từng tiểu vùng trong huyện

Quy hoạch lâm nghiệp cấp xã

Xã là đơn vị hành chính nhỏ nhất, là đơn vị cơ bản quản lý và tổ chức sản xuất lâm nghiệp trong các thành phần kinh tế tập thể và tư nhân.Quy hoạch lâm nghiệp xã thường tiến hành các nội dung sau:

Trang 22

- Điều tra các điều kiện cơ bản của xã hội có liên quan đến sản xuất lâm nghiệp như: Điều kiện tự nhiên, điều kiện kinh tế xã hội, điều kiện tài nguyên rừng Căn cứ vào quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế xã hội, căn cứ vào quy hoạch cấp huyện và các điều kiện cơ bản của xã, xác định phương hướng nhiệm vụ phát riển lâm nghiệp trên địa bàn xã

- Quy hoạch đất đai trong xã theo ngành và theo đơn vị sử dụng Xác định rõ mối quan hệ giữa các ngành sử dụng đất đai trên địa bàn xã Căn cứ vào phương hướng phát triển, các điều kiện về nhu cầu phòng hộ và các nhu cầu đặc biệt khác (nếu có) phân chia đất lâm nghiệp theo ba chức năng sử dụng: Sản xuất, phòng hộ, đặc dụng

- Quy hoạch các nội dung sản xuất kinh doanh lợi dụng rừng, bố trí không gian, tổ chức các biện pháp kinh doanh lợi dụng rừng: bảo vệ và nuôi dưỡng rừng hiện có, trồng rừng và tái sinh phục hồi rừng, nông lâm kết hợp, khai thác, chế biến các loại lâm sản, đặc sản phục vụ nhu cầu của địa phương

và thị trường, quy hoạch các nội dung sản xuất hỗ trợ

- Quy hoạch tổ chức sản xuất lâm nghiệp cho các thành phần kinh tế trong xã gắn với phát triển lâm nghiệp xã hội

- Quy hoạch xây dựng cơ sở hạ tầng giao thông vận tải, các công trình phục vụ sản xuất và đời sống Ước tính đầu tư và hiệu quả: ước tính đầu tư lao động tiền vốn, vật tư thiết bị Hiệu quả đầu tư cần được đánh giá đầy đủ trên các mặt kinh tế - xã hội, môi trường Xác định tiến độ thực hiện

Về cơ bản nội dung quy hoạch lâm nghiệp cho các cấp quản lý lãnh thổ

từ toàn quốc đến tỉnh, huyện, xã là tương tự như nhau Tuy nhiên mức độ giải quyết khác nhau về chiều sâu và chiều rộng tuỳ theo các cấp

1.2.3.3 Các văn bản chính sách Nhà nước liên quan đến quy hoạch lâm nghiệp

- Hiến pháp của nước cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1992

nêu: “Nhà nước thống nhất quản lý toàn bộ đất đai theo quy hoạch và pháp

Trang 23

luật, đảm bảo sử dụng đúng mục đích và hiệu quả Nhà nước giao đất cho các

tổ chức, hộ gia đình và cá nhân sử dụng ổn định lâu dài”

- Luật Đất đai năm 2003 quy định rõ 3 loại đất (đất nông nghiệp; đất phi nông nghiệp; đất chưa sử dụng) và 6 quyền sử dụng (được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất; hưởng thành quả lao động, kết quả đầu tư trên đất; hưởng các lợi ích do công trình của Nhà nước về bảo vệ, cải tạo đất nông nghiệp; được Nhà nước hướng dẫn và giúp đỡ trong việc cải tạo, bồi bổ đất nông nghiệp; được Nhà nước bảo hộ khi bị người khác xâm phạm đến quyền

sử dụng đất hợp pháp của mình; khiếu nại, tố cáo, khởi kiện về những hành vi

vi phạm quyền sử dụng đất hợp pháp của mình và những hành vi khác vi phạm pháp luật về đất đai) [9]

- Luật Bảo vệ và phát triển rừng năm 2004 phân định rõ 3 loại r ừng (rừng phòng hộ; rừng đặc dụng; rừng sản xuất) làm cơ sở cho quy hoạch lâm nghiệp [10]

- Quy chế quản lý rừng năm 2006 quy định về việc tổ chức quản lý, bảo

vệ, phát triển và sử dụng rừng đặc dụng, rừng phòng hộ và rừng sản xuất, bao gồm diện tích có rừng và diện tích không có rừng đã được Nhà nước giao, cho thuê hoặc quy hoạch cho lâm nghiệp [14]

- Quyết định số 61/2005/QĐ–BNN ngày 12/10/2005 của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn về việc ban hành bản quy định về tiêu chí phân cấp rừng phòng hộ;

- Quyết định số 62/2005/QĐ–BNN ngày 12/10/2005 của Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn về việc ban hành bản quy định về tiêu chí phân cấp rừng đặc dụng;

- Chỉ thị số 38/CT - TTg ngày 05/12/2005 của Thủ tướng chính phủ về việc rà soát quy hoạch lại 3 loại rừng;

Trang 24

Từ trước tới nay, công tác quy hoạch lâm nghiệp đã được triển khai trên toàn quốc ở nhiều cấp độ, quy mô khác nhau phục vụ cho mục tiêu phát triển ngành Song căn cứ vào yêu cầu, trong mỗi giai đoạn cụ thể, trong từng thời điểm, căn cứ vào nguồn vốn được cấp và yêu cầu mức độ kỹ thuật khác nhau

mà nội dung các phương án quy hoạch, dự án đầu tư cũng được điều chỉnh cho phù hợp

Trang 25

Chương 2: MỤC TIÊU, ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP

NGHIÊN CỨU 2.1 Mục tiêu

- Phân tích điều kiện cơ bản ảnh hưởng đến phát triển lâm nghiệp huyện

- Đánh giá tình hình sản xuất Lâm nghiệp và dự báo nhu cầu lâm sản

- Xác định được định hướng, nhiệm vụ phát triển lâm nghiệp huyện

- Đề xuất các nội dung cơ bản cho quy hoạch lâm nghiệp huyện

- Phân tích hiệu quả kinh tế, xã hội, môi trường của phương án quy hoạch

- Đề xuất giải pháp thực hiện

- Đề xuất, kiến nghị liên quan đến công tác quy hoạch bảo vệ phát triển rừng tại địa phương

2.2 Đối tượng, phạm vi và giới hạn nghiên cứu

2.2.1.Đối tượng nghiên cứu

- Diện tích đất lâm nghiệp huyện Tân Sơn – tỉnh Phú Thọ

- Điều kiện tự nhiên, dân sinh kinh tế xã hội huyện Tân Sơn – tỉnh Phú Thọ

- Một số văn bản pháp quy của Nhà nước về đất đai, chính sách phát triển lâm nghiệp, các cơ chế đã và đang thực hiện liên quan đến quy hoạch sử dụng đất lâm nghiệp

2.2.2.Phạm vi nghiên cứu

Toàn bộ diện tích rừng và đất lâm nghiệp thuộc huyện Tân Sơn - tỉnh Phú Thọ

Trang 26

2.2.3.Giới hạn nghiên cứu

Đề tài tập trung đi sâu nghiên cứu, đề xuất những nội dung cơ bản quy hoạch phát triển lâm nghiệp huyện Tân Sơn

2.3 Nội dung nghiên cứu

2.3.1 Cơ sở quy hoạch phát triển lâm nghiệp huyện Tân Sơn

- Cơ sở pháp lý: Tìm hiểu các luật, văn bản dưới luật và các chủ trương chính sách của Đảng và pháp luật của Nhà nước có liên quan đến quy hoạch phát triển lâm nghiệp

- Phân tích điều kiện tự nhiên và tài nguyên rừng ảnh hưởng đến quy hoạch lâm nghiệp huyện Tân Sơn

- Phân tích điều kiện kinh tế - xã hội huyện Tân Sơn: Thực trạng phát triển kinh tế - xã hội của huyện Tân Sơn; Vấn đề phát triển kinh tế -xã hội và

áp lực đối với sử dụng đất đai; Những dự báo cơ bản

- Đánh giá chung về hiện trạng sử dụng đất đai của huyện: Đánh giá diện tích các loại đất đai; Đánh giá hiện trạng sử dụng đất lâm nghiệp theo đơn vị chủ quản lý; Đánh giá độ che phủ của rùng; Những tồn tại và thách thức

- Thực trạng hoạt động sản xuất lâm nghiệp của huyện

- Định hướng, quan điểm và nhiệm vụ phát triển lâm nghiệp huyện Tân Sơn đến năm 2020

2.3.2 Đề xuất các nội dung cơ bản của QHLN huyện Tân Sơn

- Phương hướng phát triển kinh tế -xã hội và quy hoạch sử dụng đất đai huyện Tân Sơn

- Quy hoạch 3 loại rừng huyện Tân Sơn

- Quy hoạch 3 loại rừng theo chủ quản lý huyện Tân Sơn

- Quy hoạch phát triển lâm nghiệp huyện Tân Sơn giai đoạn 2011-2020

- Quy hoạch các biện pháp kinh doanh rừng

- Quy hoạch cơ sở hạ tầng phục vụ sản xuất

Trang 27

- Công tác phòng cháy chữa cháy rừng

- Tiến độ thực hiện quy hoạch 3 loại rừng huyện Tân Sơn giai đoạn

2011 – 2020

2.3.3 Đề xuất một số giải pháp thực hiện quy hoạch

- Giải pháp về tổ chức

- Giải pháp khoa học công nghệ

- Giải pháp đào tạo nguồn nhân lực

- Giải pháp về cơ chế chính sách

- Giải pháp về vốn đầu tư

- Giải pháp về quản lý, sử dụng tài nguyên rừng

- Những kiến nghị và đề xuất liên quan đến công tác quy hoạch lâm nghiệp tại địa phương

2.3.4 Dự tính vốn đầu tư, hiệu quả đầu tư

- Dự tính vốn đầu tư

- Hiệu quả đầu tư

2.4 Phương pháp nghiên cứu

2.4.1 Phương pháp điều tra thu thập số liệu

2.4.1.1 Những thông tin cần thu thập

- Các thông tin liên quan đến các điều kiện tự nhiên như:

+ Vị trí địa lý + Đặc điểm điều kiện khí hậu thủy văn + Điều kiện địa hình

+ Điều kiện đất đai, thổ nhưỡng + Hiện trạng sử dụng tài nguyên đất đai tài nguyên rừng

- Các thông tin về điều kiện kinh tế xã hội như:

+ Dân số, mật độ dân số + Cơ cấu lao động, tập quán canh tác

Trang 28

+ Cơ sở hạ tầng (Y tế, giáo dục, giao thông, thuỷ lợi ) + Thực trạng sản xuất lâm nghiệp trên địa bàn huyện + Những kết quả thực hiện từ trước đến nay

2.4.1.2 Phương pháp thu thập số liệu

- Sử dụng phương pháp kế thừa có chọn lọc các nguồn tài liệu từ các cơ quan chuyên ngành như: Chi cục kiểm lâm, Chi cục lâm nghiệp, Uỷ ban nhân dân huyện Tân Sơn, Phòng Nông nghiệp và phát triển nông thôn huyện, Phòng Tài nguyên - Môi trường huyện, Hạt kiểm lâm huyện và một số cơ quan hữu quan khác, bao gồm:

+ Báo cáo quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế xã hội tỉnh Phú Thọ + Báo cáo quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế xã hội huyện Tân Sơn + Báo cáo kết quả rà soát quy hoạch 3 loại rừng tỉnh Phú Thọ giai đoạn

2006 -2010, định hướng đến năm 2015

+ Báo cáo quy hoạch sử dụng đất đai huyện Tân Sơn

+ Báo cáo quy hoạch phát triển nông lâm nghiệp huyện Tân Sơn

+ Một số hoạt động sản xuất kinh doanh lâm nghiệp trên địa bàn huyện, các tài liệu, văn bản về chủ trương chính sách của Đảng và Nhà nước cũng như các chính sách của địa phương, các ngành có liên quan đến ngành lâm nghiệp + Các chương trình, công trình điều tra cơ bản về tài nguyên rừng, động vật rừng, tài nguyên đất, khí hậu như chương trình 5 triệu ha rừng

2.4.1.3 Khai thác, sử dụng các loại bản đồ

- Bản đồ dạng đất

- Bản đồ hiện trạng sử dụng đất

- Bản đồ hiện trạng tài nguyên rừng

2.4.1.4 Sử dụng phương pháp khảo sát thực địa, bổ sung, kiểm tra thông tin

Trang 29

* Thu thập số liệu ở các công ty lâm nghiệp trong huyện và các xã có đất lâm nghiệp của huyện Tân Sơn - tỉnh Phú Thọ về các hoạt động sản xuất kinh doanh lâm nghiệp

- Điều tra trữ lượng rừng tự nhiên: Lập ô tiêu chuẩn có diện tích (S= 1000m2) sau đó thống kê các chỉ tiêu D1.3, Hvn

- Điều tra trữ lượng rừng trồng: Lập ô tiêu chuẩn (S= 500m2)sau đó tính các chỉ tiêu về D1.3, Hvn

- Điều tra tình hình tái sinh, nguồn gốc tái sinh: Lập ô tiêu chuẩn điển hình (S=25m2) 4 ô bốn góc, 1 ô ở giữa và tiến hành đo đếm các chỉ tiêu như: chiều cao, chất lượng

2.4.2 Phương pháp phân tích, xử lý số liệu

2.4.2.1 Xử lý số liệu bằng phần mềm Microsoft Excel, soạn thảo trình bày văn bản bằng Microsoft Word

2.4.2.2 Xây dựng các loại bản đồ của huyện Tân Sơn

- Bản đồ dạng đất huyện Tân Sơn

- Bản đồ hiện trạng đất đai tài nguyên rừng huyện Tân Sơn

- Bản đồ quy hoạch 3 loại rừng huyện Tân Sơn

- Bản đồ quy hoạch phát triển lâm nghiệp huyện Tân Sơn giai đoạn

2011 – 2020

Sử dụng phần mềm Mapinfo 9.0

2.4.2.3 Đánh giá hiệu quả kinh tế

Để đánh giá hiệu quả kinh tế của phương án quy hoạch chúng tôi sử dụng phương pháp CBA được vận dụng phân tích hiệu quả kinh tế mô hình sản xuất, trên cơ sở đó để lựa chọn mô hình sử dụng đất có hiệu quả kinh tế nhất để làm

cơ sở tiến hành quy hoạch phát triển sản xuất Các số liệu được tập hợp và tính bằng các hàm kinh tế trong chương trình EXCEL Các chỉ tiêu kinh tế sau đây được vận dụng trong phân tích CBA

Trang 30

- Giá trị hiện tại của thu nhập ròng (NPV) là hiệu số giữa giá trị thu nhập và

chi phí thực hiện các hoạt động sản xuất trong các mô hình khi đã tính chiết

khấu để quy về thời điểm hiện tại

C B

0 ( 1 ) (2 -1)

Trong đó:

NPV: là giá trị hiện tại thu nhập ròng (đồng)

Bt:là giá trị thu nhập ở năm thứ t (đồng)

Ct : là giá trị chi phí ở năm t (đồng)

(Bt –Ct)- lợi nhuận đạt được ở kỳ thứ t

i : là tỷ lệ chiết khấu hay lãi suất (%)

t : là thời gian thực hiện các hoạt động sản xuất (năm)

NPV dùng để đánh giá hiệu quả kinh tế của các mô hình kinh tế hay các

phương thức canh tác NPV càng lớn thì hiệu quả càng cao

- Tỷ lệ thu hồi nội bộ (IRR) là chỉ tiêu đánh giá khả năng thu hồi vốn đầu

tư có kể đến yếu tố thời gian thông qua tính chiết khấu

IRR chính là tỷ lệ chiết khấu khi tỷ lệ này làm cho NPV = 0, tức là khi

)i1(

CB

= 0 thì i = IRR (2 - 2)

- Tỷ lệ thu nhập so với chi phí BCR

BCR sẽ là hệ số sinh lãi thực tế, phản ánh chất lượng đầu tư và cho biết

mức thu nhập trên một đơn vị chi phí sản xuất

BCR =

CPVBPV)

i1(C

)i1(B

Trang 31

BCR là tỷ suất thu nhập và chi phí (đồng/đồng)

BPV là giá trị hiện tại của thu nhập (đồng)

CPV là giá trị hiện tại của chi phí (đồng)

n là số đại lượng tham gia vào tính toán

Nếu mô hình nào hoặc phương thức canh tác nào có BCR > 1 thì có hiệu quả kinh tế BCR càng lớn thì hiệu quả kinh tế càng cao Ngược lại BCR < 1 thì kinh doanh không có hiệu quả

Trang 32

TỜ BẢN ĐỒ BẢN ĐỒ HÀNH CHÍNH HUYỆN TÂN SƠN

Hình 2.1

Trang 33

Chương 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN

3.1 Cơ sở quy hoạch phát triển lâm nghiệp huyện Tân Sơn

3.1.1 Cơ sở pháp lý

3.1.1.1 Cấp Trung ương

- Luật Đất đai năm 2003, ban hành theo Quyết định số 23/2003/L/CTN ngày 10/12/2003 của Chủ tịch nước CHXHCN Việt Nam;

- Luật Bảo vệ và phát triển rừng năm 2004 và Nghị định số

23/2006/NĐ-CP ngày 03/3/2006 hướng dẫn thi hành Luật bảo vệ và phát triển rừng;

- Nghị định số 163/1999/NĐ-CP ngày 16/11/1999 của Thủ tướng Chính phủ về giao đất, cho thuê đất lâm nghiệp cho các tổ chức hộ gia đình và cá nhân sử dụng ổn định lâu dài vào mục đích lâm nghiệp;

- Nghị định 61/2007/NĐ-CP ngày 09/4/2007 của Chính phủ về việc điều chỉnh địa giới hành chính huyện Thanh Sơn để thành lập huyện Tân Sơn tỉnh Phú Thọ;

- Quyết định số 245/1998/QĐ-TTg ngày 21/12/1998 của Thủ tướng Chính phủ về việc thực hiện quản lý Nhà nước của các cấp về rừng và đất lâm nghiệp;

- Quyết định số 61/2005/QĐ-BNN ngày 12/10/2005 về việc ban hành bản quy định về tiêu chí phân cấp rừng phòng hộ;

- Quyết định số 62/2005/QĐ –BNN ngày 12/10/2005 V/v Ban hành qui định về tiêu chí phân loại rừng đặc dụng;

- Chỉ thị số 38/2005/CT-TTg ngày 05/12/2005 của Thủ tướng Chính phủ

về việc rà soát, quy hoạch lại 3 loại rừng (rừng phòng hộ, rừng đặc dụng, rừng sản xuất);

- Quyết định 186/2006/QĐ-TTg ngày 14/8/2006 về việc ban hành quy chế quản lý rừng;

Trang 34

- Quyết định số 18/2007/QĐ-TTg ngày 05/02/2007 của Thủ tướng Chính phủ về việc phê duyệt Chiến lược phát triển lâm nghiệp Việt Nam giai đoạn 2006-2020;

- Quyết định số 164/2008/QĐ-TTg ngày 11/12/2008 của Thủ tướng chính phủ về mục tiêu, nhiệm vụ, chính sách và tổ chức thực hiện Dự án trồng mới 5 triệu ha rừng;

- Quyết định số 100/2007/QĐ-TTg ngày 06/7/2007 về việc sửa đổi một

số điều của Quyết định số 661/QĐ-TTg ngày 29/7/1998 về mục tiêu, nhiệm

vụ ,chính sách và tổ chức thực hiện Dự án trồng mới 5 triệu ha rừng;

- Quyết định số 147/2007/QĐ-TTg ngày 10/9/2007 về một số chính sách phát triển rừng sản xuất giai đoạn 2007-2015;

- Thông tư số 05/2008/TT-BNN ngày 14/01/2008 của Bộ Nông nghiệp

và PTNT Hướng dẫn lập quy hoạch, kế hoạch bảo vệ và phát triển rừng;

- Thông tư số 24/2009/TT-BNN ngày 05/5/2009 của Bộ Nông nghiệp và PTNT Ban hành để hướng dẫn chuyển đổi rừng phòng hộ, rừng đặc dụng được quy hoạch sang rừng sản xuất và ngược lại từ rừng sản xuất được quy hoạch thành rừng phòng hộ, đặc dụng sau rà soát quy hoạch lại 3 loại rừng theo chỉ thị số 38/2005/CT-TTg của Thủ tướng Chính phủ;

- Thông tư số 58/2008/TTLT-BKH-NN-TC ngày 02/5/2008 của Bộ Nông nghiệp, kế hoạch, tài chính hướng dẫn thực hiện quyết định 100/2007/QĐ-TTg ngày 06/7/2007 của Thủ tướng Chính phủ về mục tiêu, nhiệm vụ, chính sách tổ chức thực hiện dự án trồng mới 5 triệu ha rừng;

- Thông tư liên tịch số 70/2009/TTLT-BNN-KHĐT-TC ngày 4/11/2009 của Bộ NN&PTNT, Bộ Kế hoạch đầu tư, Bộ Tài chính về việc: Sửa đổi và bổ sung một số điểm của Thông tư liên tịch số 58/2008/TTLT-BNN-KHĐT-TC

về hướng dẫn thực hiện Quyết định số 100/2007/QĐ-TTg ngày 6/7/2007 và

Trang 35

Thông tư liên tịch số 02/2008/TTLT-KH-NN-TC về hướng dẫn thực hiện Quyết định số 147/QĐ-TTg ngày 10/9/2007 của Thủ tướng Chính phủ

3.1.1.2 Căn cứ báo cáo, chiến lược, quyết định, nghị quyết, văn bản của địa phương

- Báo cáo quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế xã hội tỉnh Phú Thọ đến năm 2020;

- Báo cáo quy hoạch phát triển lâm nghiệp tỉnh Phú Thọ giai đoạn

- Báo cáo đánh giá, phân hạng đất huyện Tân Sơn năm 2008;

- Báo cáo đánh giá tình hình thực hiện nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội năm 2009; Phương hướng, nhiệm vụ năm 2010 của UBND huyện Tân Sơn;

- Báo cáo chính trị Đại hội đại biểu Đảng bộ huyện Tân Sơn lần thứ II nhiệm kỳ 2010-2015;

- Quyết định số 1656/QĐ-UBND-NL ngày 05/7/2007 của Chủ tịch UBND tỉnh Phú Thọ V/v phát triển rừng sản xuất tỉnh Phú Thọ giai đoạn 2007-2010 và định hướng đến năm 2015;

- Quyết định số 727/QĐ-UBND ngày 04/4/2007 của UBND tỉnh Phú Thọ về việc duyệt báo cáo kết quả rà soát, quy hoạch và định hướng phát triển

3 loại rừng tỉnh Phú Thọ giai đoạn 2006 - 2010 và định hướng đến 2015;

- Nghị quyết số 03/NQ/HU ngày 6/10/2008 của ban Thường vụ Huyện ủy về thực hiện Đề án phát triển kinh tế đồi rừng giai đoạn 2008-2010, định hướng đến năm 2015;

- Nghị quyết số 05/NQ/ĐH ngày 20/7/2010 Nghị quyết Đại hội đại biểu Đảng bộ huyện Tân Sơn lần thứ II, nhiệm kỳ 2010-2015;

Trang 36

- Văn bản số 4157/KH-UBND ngày 25/12/2009 của UBND tỉnh Phú Thọ

về kế hoạch chuyển đổi rừng trên địa bản tỉnh Phú Thọ;

3.1.2.Phân tích điều kiện tự nhiên và tài nguyên rừng ảnh hưởng đến quy hoạch lâm nghiệp huyện Tân Sơn

3.1.2.1 Vị trí địa lý

Tân Sơn là huyện miền núi nằm ở phía Tây Nam của tỉnh Phú Thọ được thành lập theo Nghị định số 61/2007/NĐ-CP ngày 9/4/2007 của Chính phủ có tổng diện tích tự nhiên 68.984,6ha, bao gồm 17 xã (Thạch Kiệt, Tân Sơn, Xuân Đài, Minh Đài, Lai Đồng, Đồng Sơn, Kiệt Sơn, Thu Cúc, Văn Luông, Vinh Tiền, Kim Thượng, Xuân Sơn, Thu Ngạc, Mỹ Thuận, Tam Thanh, Long Cốc và Tân Phú) Có tọa độ và ranh giới hành chính như sau:

Tọa độ địa lý

- Từ 2109’20’’ đến 21025’20’’ Vĩ độ Bắc

- Từ 105015’56’’ đến 105020’16’’ Kinh độ Đông

Ranh giới hành chính

- Phía Bắc giáp huyện Yên Lập

- Phía Đông giáp huyện Thanh Sơn

- Phía Nam giáp huyện Đà Bắc, tỉnh Hòa Bình

- Phía Tây giáp huyện Phù Yên, tỉnh Sơn La và huyện Văn Chấn, tỉnh Yên Bái

Trung tâm huyện Tân Sơn là xã Tân Phú, cách Thành phố Việt Trì khoảng 75km, trên địa bàn huyện có các tuyến Quốc lộ 32A,32B chạy qua, là tuyến giao thông nối liền với trung tâm huyện Thanh Sơn và các tỉnh như: Sơn La, Yên Bái mang lại nhiều điều kiện thuận lợi trong giao lưu phát triển kinh tế-xã hội

3.1.2.2 Địa hình, địa thế

Trang 37

Địa hình huyện Tân Sơn dạng lòng chảo và thấp dần từ Tây Bắc xuống Đông Nam với độ cao so với mặt nước biển từ 65 đến 1.500m, độ dốc trung bình từ 25 – 300 Nơi địa hình thấp phía Đông Nam của huyện bao gồm các xã Minh Đài, Long Cốc, Văn Luông, Mỹ Thuận, đây được coi là cửa thoát nước của cả huyện (Sông Bứa)

Địa hình bị chia cắt, dốc kéo dài, phần lớn là rừng núi, nằm trong vùng địa hình đồi núi thấp và trung bình thuộc lưu vực sông Bứa, nơi kết thúc dãy Hoàng Liên Sơn Đặc điểm kiến tạo của tự nhiên đã tạo nên sự đa dạng và phức tạp cho địa hình Nhìn chung địa hình Tân Sơn được chia thành 4 dạng chính sau:

- Địa hình núi thấp: Có độ cao trung bình từ 700-1.000m, với độ dốc lớn trên 300, chiếm 20,8% diện tích tự nhiên Đây là dạng địa hình vùng trung du,

là vùng được khai thác sử dụng lâu đời, đất bị xói mòn rửa trôi nhiều, đồng ruộng lầy lụt chua úng Vùng này thuận lợi cho việc trồng rừng nguyên liệu tập trung với quy mô lớn và cây công nghiệp dài ngày như: Chè, cây ăn quả…bao gồm các xã Thu Cúc, Đồng Sơn, Xuân Sơn, Kim Thượng, Thu Ngạc, Thạch Kiệt

- Địa hình núi trung bình: Kiểu địa hình này chiếm 54,3% tổng diện tích

tự nhiên toàn huyện, phân bố hầu khắp các xã trong huyện Trong kiểu địa hình này có nhiều dãy núi cao trên 1.000m như: Núi Cẩn 1.462m, núi Ten 1.244m, núi Voi 1.360m, tạo nên những khe sâu và những đỉnh dông cao, dốc Kiểu địa hình này chủ yếu nằm ở đầu nguồn song bứa, được sắp xếp theo hướng Tây Bắc – Đông Nam Do ảnh hưởng địa hình núi chia cắt, đây là vùng khó khăn trong việc đi lại, giữa các xã và vùng lân cận Tuy nhiên, vùng này còn nhiều tiềm năng phát triển, nhất là về lâm nghiệp và du lịch sinh thái

- Địa hình trung du, đồi thấp: Độ cao trung bình từ 150-300m, độ dốc trung bình từ 15-250, chiếm 13% diện tích tự nhiên, bao gồm các đồi thoải là

Trang 38

chủ yếu, thung lũng được mở rộng, phân bố chủ yếu ở các xã Minh Đài, Long Cốc, Mỹ Thuận, Tam Thanh

- Địa hình thung lũng, đồng bằng: Thung lũng lòng chảo như Cọ Sơn (Thu Ngạc), cánh đồng bằng phẳng rất thuận lợi cho sản xuất NLN, chiếm 11,9% diện tích tự nhiên, phân bố chủ yếu ở các thung lũng hẹp và ven các suối trong huyện Với dải đồng bằng phù sa mới tương đối bằng phẳng, đây là vùng có nhiều tiềm năng thâm canh lúa, hoa màu và cây công nghiệp ngắn ngày Tuy nhiên, vùng này có nhiều khu vực thấp, trũng, thường xuyên úng ngập

3.1.2.3 Khí hậu, thủy văn

1 Khí hậu

Tân Sơn mang đặc trưng của khí hậu nhiệt đới gió mùa, có những đặc điểm phức hợp của khí hậu nhiệt đới nóng ẩm, hàng năm chia thành hai mùa rõ rệt

- Mùa hè trùng với gió Đông Nam từ tháng 4 đến tháng 10, trời nắng gắt, lượng mưa cao, cường độ mạnh, đôi khi có những đợt lốc xoáy cục bộ và mưa đá

- Mùa đông trùng với gió Đông Bắc từ tháng 11 đến tháng 3 năm sau Trời rét, ít mưa, nhiệt độ thấp, về mùa Đông thường có những đợt gió mùa tràn về cách nhau từ nhau từ 6-10 ngày, giữa đợt có xen 1 số ngày nắng ấm Trong 3 tháng 11,12 và tháng 1 độ ẩm không khí thấp, nắng hanh đôi khi kèm theo sương muối Ngoài ra còn có gió Tây Nam (gió Lào) xuất hiện vào tháng 5-6 thường khô hanh và nóng

Theo số liệu khí tượng thủy văn tại trạm Minh Đài cho thấy:

- Nhiệt độ không khí trung bình năm là 23,3oC, nóng nhất vào các tháng 5,6 có nhiệt độ lên đến 39-400C Nhiệt độ mùa đông không ổn định, xuống dưới 50C và kéo dài 3-4 ngày và xuất hiện xương muối, sương mù từng đợt

Sự giao động này biểu hiện sự sai lệch về cường độ trị số giữa các năm và các tháng trong năm

Trang 39

- Số giờ nắng trung bình qua các năm là 1.453 giờ Tổng tích ôn đạt khoảng 84000C

- Lượng mưa trung bình qua các năm là 1808,8mm, nhưng chủ yếu tập chung vào các tháng 6,7,8,9 trong năm.Có những đợt mưa kéo dài 2-3 ngày gây lũ lớn ở các sông, suối gây cản trở giao thông Nhiều năm xảy ra mưa đá, lốc gây thiệt hại cho sản xuất nông lâm nghiệp

- Độ ẩm không khí trung bình trên năm là 86,8%, tốc độ gió trung bình 1,8m/s, hướng gió chính: Đông, Đông Nam và Tây Nam

- Lượng bốc hơi: Tổng lượng bốc hơi trung bình hàng năm là 824 mm, có giá trị cực đại trung bình vào tháng 5 (86mm) và cực tiểu vào tháng 3 (52 mm) Nhìn chung khí hậu huyện Tân Sơn có nhiều thuận lợi cho phát triển Nông – Lâm nghiệp, phù hợp cho sinh trưởng và phát triển tập đoàn cây trồng, vật nuôi phong phú, nhất là cây lâm nghiệp, cây công nghiệp lâu năm

2.Thủy văn

Do địa hình chia cắt, độ chênh cao trong vùng lớn đã hình thành hệ thống sông suối dày đặc, các suối nhánh thường ngắn và dốc đổ về các suối và sông chính trong huyện như Sông Bứa, Sông Giày, Sông Côm Do đó, trong mùa mưa đặc biệt những tháng mưa tập trung thường xảy ra các hiện tượng ngập úng, thậm chí cả lũ quét cục bộ, gây cản trở cho hoạt động sản xuất và sinh hoạt của cộng đồng người dân Ngoài ra, trong vùng có một số ao, hồ, đầm chứa nước tự nhiên và nhân tạo, đóng vai trò quan trọng trong việc cung cấp nước tưới tiêu cho sản xuất nông nghiệp và nuôi trồng thủy sản

Bên cạnh việc cung cấp nước cho sản xuất, phục vụ đời sống, nước mặt còn có tác dụng điều hòa tiểu khí hậu, cải thiện môi trường sinh thái phát triển nguồn lợi thủy sản

Nguồn nước ngầm của huyện Tân Sơn dồi dào, chất lượng tốt và đảm bảo sinh hoạt, nhưng phân bố nước ngầm không đều, những vùng

Trang 40

núi, vùng đồi cao, xa sông thường có trữ lượng và lưu lượng thấp, khó khai thác, hình thức chủ yếu là giếng khơi

3.1.2.4 Địa chất, thổ nhưỡng

Theo số liệu báo cáo đánh giá phân hạng đất năm 2008 của UBND

huyện Tân Sơn [23] như sau:

Theo tài liệu thổ nhưỡng, huyện Tân Sơn có 5 nhóm đất chính sau:

Nhóm I: Đất phù sa P (Fluisols-FL): Với diện tích 264,0ha, chiếm 0,4% diện

tích đất điều tra, phân bố ở các xã Thu Cúc, Thạch Kiệt, Lai Đồng, Tân Sơn, Minh Đài, Văn Luông, Kim Thượng Được hình thành do bồi tụ sản phẩm phù

sa của sông, suối là nhóm đất quan trọng trong sản xuất lương thực và các cây ngắn ngày khác Phân làm 1 đơn vị đất cấp II là:

Đất phù sa trung tính ít chua P(Eutric-Fluvisols-Fle): Diện tích 264,0ha

Đất hình thành bởi sự bồi đắp phù sa của sông Bứa và phù sa suối Đất có màu nâu, nâu đỏ, xám xanh Thành phần cơ giới trung bình và nhẹ; phản ứng từ ít chua đến trung tính; lân tổng số tầng mặt giàu và ở các tầng kế tiếp trung bình; kali tổng số trun bình đến nghèo; lân dễ tiêu giàu Nhìn chung đất có độ phì trung bình, đây là loại đất thích hợp với nhiều loại cây trồng như: Lúa, ngô, lạc, đậu góp phần tích cực vào việc bảo đảm an toàn lương thực

- Đất phù sa trung tính ít chua điển hình P-h (Hapli-Eutric- Fluvisols):

- Đất phù sa trung tính ít chua thành phần cơ giới nhẹ P-a (Areni- Fluvisols)

Ngày đăng: 14/09/2017, 09:13

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w