Hàng năm có hàng nghìn ha rừng trên đất nước ta, đặc biệt là rừng trồng bị các trận dịch sâu bệnh tàn phá, ảnh hưởng lớn đến sinh trưởng, phát triển của rừng mà chưa có biện pháp phòng t
Trang 1-
NGUYỄN THÀNH HƯNG
NGHIÊN CỨU BỆNH HẠI RỄ
KEO TAI TƯỢNG (Acacia mangium) LÀM CƠ SỞ ĐỀ XUẤT
CÁC BIỆN PHÁP QUẢN LÝ DỊCH BỆNH TẠI YÊN BÁI
LUẬN VĂN THẠC SỸ KHOA HỌC LÂM NGHIỆP
Hà Nội, 2010
Trang 2-
NGUYỄN THÀNH HƯNG
NGHIÊN CỨU BỆNH HẠI RỄ
KEO TAI TƯỢNG (Acacia mangium) LÀM CƠ SỞ ĐỀ XUẤT
CÁC BIỆN PHÁP QUẢN LÝ DỊCH BỆNH TẠI YÊN BÁI
Chuyên ngành: Quản lí bảo vệ tài nguyên rừng
Mã số: 60.62.68
LUẬN VĂN THẠC SỸ KHOA HỌC LÂM NGHIỆP
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC PGS.TS Phạm Quang Thu
Hà Nội, 2010
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Rừng bị suy thoái có rất nhiều nguyên nhân khác nhau, một trong những nguyên nhân không kém phần quan trọng là công tác quản lí, bảo vệ rừng Chính vì vậy để có thể ngăn chặn, hạn chế sự phát dịch của bệnh, yêu cầu phải tìm hiểu nguyên nhân gây bệnh, đặc điểm sinh thái học của vật gây bệnh làm cơ sở khoa học đề xuất các giải pháp phòng trừ và quản lí dịch bệnh có hiệu quả
Để hoàn thành chương trình đào tạo cao học tại trường Đại học Lâm nghiệp, gắn việc đào tạo với thực tiễn sản xuất Được sự nhất trí của Khoa đào tạo sau đại học, Trường Đại học Lâm nghiệp, đặc biệt là PGS.TS Phạm Quang Thu - Viện khoa học lâm nghiệp Việt Nam, tôi thực hiện luận văn:
“Nghiên cứu bệnh hại rễ keo tai tượng (Acacia mangium) làm cơ sở đề xuất các biện pháp quản lý dịch bệnh tại Yên Bái”
Trong quá trình thực hiện và hoàn thành luận văn tôi xin chân trọng cảm ơn Ban giám hiệu trường Đại học Lâm nghiệp, Khoa đào tạo sau đại học, các thầy cô giáo, đặc biệt là thầy PGS.TS Phạm Quang Thu, người trực tiếp hướng dẫn khoa học, đã tận tình giúp đỡ
Nhân dịp này tôi cũng xin bày tỏ lòng biết ơn tới ban lãnh đạo, các cán
bộ Sở nông nghiệp và phát triển nông thôn, Chi cục bảo vệ thực vật tỉnh Yên Bái, các đồng chí phụ trách kinh tế hạ tầng các huyện Văn Chấn, Trấn Yên và Văn Yên cùng toàn thể các đồng nghiệp và bạn bè đã giúp đỡ tôi hoàn thành bản luận văn này
Mặc dù đã làm việc với tất cả sự nỗ lực, nhưng luận văn không tránh khỏi những thiếu sót Tác giả rất mong nhận được ý kiến đóng góp xây dựng quý báu của các nhà khoa học và bạn bè đông nghiệp Tôi xin cam đoan Luận văn này do tôi thực hiện dưới sự hướng dẫn của người hướng dẫn khoa học, đây là công trình riêng của tôi, chưa từng xuất bản hay sao chép của ai Nếu sai tôi hoàn toàn chịu trách nhiệm
Hà Nội, tháng 9 năm 2010
Tác giả
Trang 4MỤC LỤC
Trang phụ bìa
Lời cảm ơn: i
Mục lục ii
Danh mục các bảng iv
Danh mục các hình v
ĐẶT VẤN ĐỀ 1
Chương 1: TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 4
1.1.Trên thế giới
1.2 Ở Việt Nam 7
1.3 Nhận xét chung 10
Chương 2: ĐỐI TƯỢNG, MỤC TIÊU, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 12
2.1 Đối tượng nghiên cứu 12
2.2 Địa điểm nghiên cứu 12
2.3 Mục tiêu nghiên cứu 12
2.4 Nội dung nghiên cứu 12
2.5 Phương pháp nghiên cứu 13
2.5.1 Phương pháp điều tra thu mẫu và xác định ảnh hưởng của một số yếu tố sinh thái đến tỷ lệ bị hại 13
2.5.2 Phương pháp xác định nguyên nhân gây bệnh 14
2.5.3 Phương pháp nghiên cứu một số đặc điểm sinh học của vật gây bệnh trong phòng thí nghiệm 18
2.5.4 Đề xuất biện pháp phòng trừ 20
Chương 3: ĐẶC ĐIỂM KHU VỰC NGHIÊN CỨU 22
3.1 Điều kiện tự nhiên 22
3.2 Đời sống kinh tế - xã hội 28
3.3 Đánh giá chung 31
Trang 5Chương 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 33
4.1 Xác định nguyên nhân gây bệnh và tỉ lệ bị bệnh hại rễ trong khu vực nghiên cứu 33 4.1.1 Mô tả triệu chứng 33
4.1.2 Phân lập mẫu bệnh, giám định sinh vật gây bệnh, mô tả đặc điểm các loại bào tử của vật gây bệnh 36
4.1.3 Xác định tỉ lệ bị bệnh (P%) Keo tai tượng trong khu vực nghiên cứu 39
4.2 Nghiên cứu ảnh hưởng của một số nhân tố sinh thái đến tỷ lệ bị bệnh tại khu vực nghiên cứu 40
4.2.1 Ảnh hưởng của địa hình đến tỉ lệ bị bệnh 40
4.2.2 Ảnh hưởng của độ tàn che đến tỉ lệ bị bệnh 51
4.2.3 Ảnh hưởng của mật độ trồng đến tỉ lệ bị bệnh 53
4.2.4 Ảnh hưởng của tuổi cây đến tỉ lệ bị bệnh 55
4.3 Đặc điểm sinh học của vật gây bệnh trong nuôi cấy thuần khiết 56
4.3.1 Nghiên cứu ảnh hưởng của nhiệt độ đến sinh trưởng và phát triển của khuẩn lạc 57
4.3.2 Nghiên cứu ảnh hưởng của ẩm độ đến sinh trưởng phát triển của khuẩn lạc 59
4.3.3 Nghiên cứu ảnh hưởng của pH môi trường đến sinh trưởng phát triển của khuẩn lạc 61
4.4 Đề xuất các biện pháp phòng trừ và quản lý dịch bệnh 63
4.4.1 Biện pháp kỹ thuật lâm sinh và cơ giới vật lý 64
4.4.2 Biện pháp kiểm dịch thực vật 65
4.4.3 Biện pháp hoá học 66
Chương 5: KẾT LUẬN - KIẾN NGHỊ - TỒN TẠI 69
5.1 Kết luận 69
5.2 Tồn tại 70
5.3 Kiến nghị 71
TÀI LIỆU THAM KHẢO 72
Trang 6DANH MỤC CÁC BẢNG
4-1 Tỷ lệ bị bệnh hại rễ keo tai trượng tại một số khu vực tỉnh Yên Bái 39
4-4 Kiểm tra sự sai khác của từng cặp về tỷ lệ bị bệnh theo địa hình 43 4-5 So sánh tỷ lệ bị bệnh ở các vị trí địa hình 43
4-7 So sánh tỷ lệ bị bệnh ở các hướng phơi bằng trắc nghiệm Duncan 46
4-10 Kiểm tra sự sai khác của từng cặp về tỷ lệ bị bệnh theo độ dốc 49 4-11 So sánh tỷ lệ bị bệnh ở các cấp độ dốc bằng trắc nghiệm Duncan 49
khuẩn lạc
60
4-19 Tốc độ phát triển của khuẩn lạc ở các pH môi trường khác nhau 62
Trang 7DANH MỤC CÁC HÌNH
khác nhau
62
Trang 8ĐẶT VẤN ĐỀ
Rừng là nguồn tài nguyên thiên nhiên vô cùng quý giá của đất nước ta Ngoài chức năng là cơ sở phát triển kinh tế - xã hội, rừng còn giữ chức năng sinh thái cực kỳ quan trọng: rừng điều hòa khí hậu toàn cầu, đảm bảo chu chuyển ôxy và các nguyên tố cơ bản khác trên hành tinh, duy trì tính ổn định
và độ màu mỡ của đất, hạn chế lũ lụt, hạn hán, ngăn chặn xói mòn đất, làm giảm nhẹ sức tàn phá khốc liệt của các thiên tai, bảo tồn nguồn nước mặt
Theo thống kê của tổ chức Nông lương thực Liên hợp quốc (FAO), trong mấy chục năm gần đây trên thế giới đã có trên 200 triệu ha rừng tự nhiên bị mất Ở Việt Nam tình hình diễn biến tài nguyên rừng cũng xảy ra tương tự Năm 1943, diện tích rừng toàn quốc là 14,3 triệu ha, tương ứng độ che phủ là 43%, đến ngày 31/12/2007 diện tích rừng toàn quốc là 12.837.333
Diện tích rừng bị suy giảm do nhiều nguyên nhân khác nhau như: Quản
lý rừng không chặt chẽ, kinh doanh rừng không đúng mục đích, khai thác rừng bừa bãi: du canh du cư, đốt rừng làm nương rẫy; công tác phòng chống cháy rừng chưa tốt… Một trong những nguyên nhân chính là công tác bảo vệ rừng, phòng chống sâu bệnh hại chưa được quan tâm đúng mức Hàng năm có hàng nghìn ha rừng trên đất nước ta, đặc biệt là rừng trồng bị các trận dịch sâu bệnh tàn phá, ảnh hưởng lớn đến sinh trưởng, phát triển của rừng mà chưa có biện pháp phòng trừ hữu hiệu
Trước những thực trạng trên, nhiệm vụ chính và quan trọng hiện nay của ngành Lâm Nghiệp và toàn xã hội là việc bảo vệ và duy trì vốn rừng hiện
có, đi đôi với công tác cải tạo và xây dựng vốn rừng Đảng và nhà Nước thông qua chiến lược phát triển Lâm nghiệp Việt Nam giai đoạn 2006 – 2020
Trang 9nhằm quản lý rừng hợp lý, đẩy nhanh tốc độ trồng rừng, phủ xanh đất trống đồi núi trọc, bảo vệ vốn rừng Phấn đấu đến năm 2010 nâng tỷ lệ đất có rừng lên 42 - 43% và 47% vào năm 2020 [2]
Sau 2 năm thực hiện chiến lược phát triển Lâm Nghiệp, đến 31/12/
2008 cả nước đã nâng được độ che phủ của rừng lên 38,7%, với tổng diện tích
rừng là 13.118.800 ha (Theo QĐ số 1267/QĐ – BNN – KL ngày 04/5/2009 về
việc công bố hiện trạng rừng toàn quốc năm 2008 của Bộ NN&PTNT).[4]
Công tác chọn loài cây trồng phù hợp với mục đích kinh doanh và yêu cầu phòng hộ là một vấn đề quan trọng, Cây Keo tai tượng được coi là một trong các loài cây trồng chủ yếu cùng với Bạch đàn và Thông ở các chương trình, dự án tạo rừng Theo tổng cục thống kê, đến đến 31/12/ 2008 nước ta trồng được 342.700 ha rừng, trong đó tỉnh Yên Bái trồng được 19.300 ha rừng
và chủ yếu trồng các loài cây nhập nội như Keo, Bạch đàn, Thông [3]
Keo tai tượng là loài cây có phạm vi sinh thái rộng, sinh trưởng nhanh, thích ứng với các điều kiện lập địa khác nhau, có khả năng đảm bảo thành công trong công tác trồng rừng và đã được khẳng định Là loài cây được sử dụng chủ yếu trong các chương trình phủ xanh đất trống đồi núi trọc, cải tạo đất Keo tai tượng được trồng với mục đích cải tạo môi trường sinh thái, chống xói mòn, bảo vệ đất, giữ và điều tiết nguồn nước, tạo cảnh quan trong các khu du lịch, danh lam thắng cảnh, ; có giá trị sử dụng nhiều mặt, chúng cung cấp nguyên vật liệu cho ngành chế biến bột giấy, gỗ ván dăm, ngành xây dựng, tận dụng lá và hạt keo tai tượng trong công nghiệp chế biến thức ăn gia súc, chế biến phân vi sinh,
Hiện nay việc kinh doanh rừng Keo tai tượng gặp phải nhiều khó khăn
do sâu bệnh thường xuyên xảy ra ở vườn ươm và rừng trồng, gây ảnh hưởng đến sản lượng và chất lượng rừng Bệnh nghiêm trọng có thể làm chết cây trên diện rộng Trong đó nguy hiểm nhất là bệnh hại thân, cành Keo tai tượng
Trang 10Bệnh hại thân cành Keo tai tượng ở các tỉnh Yên Bái, Hoà Bình, Hà Tây, Vĩnh Phúc, Phú Thọ, gây nguy hiểm và ảnh hưởng lớn đến sản lượng, chất lượng rừng trồng Tuy nhiên cho đến nay những công trình nghiên cứu
và số liệu thống kê cụ thể về bệnh hại này còn hạn chế
Mới đây tại nhiều địa phương tỉnh Yên Bái keo trồng bỗng nhiên héo ngọn, chết dần đã khiến cho người trồng rừng hết sức lo lắng Trong khi nguyên nhân chưa được làm rõ, còn người dân xót xa khi rừng thay nhau héo
và chết nên đã bất chấp dùng nhiều biện pháp nguy hiểm như phun thuốc bừa bãi ảnh hưởng nghiêm trọng đến môi trường với mong cứu rừng
Qua điều tra sơ bộ tìm hướng nghiên cứu, chúng tôi phát hiện nguyên nhân chủ yếu của hiện tượng cây Keo tai tượng héo ngọn, lá là do bị thối rễ làm cây không hút được chất dinh dưỡng dẫn tới cây ngừng sinh trưởng
Xuất phát từ yêu cầu thực tiễn để tìm hiểu rõ nguyên nhân và đề xuất các biện pháp quản lý dịch bệnh, chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài:
“Nghiên cứu bệnh hại rễ Keo tai tượng (Acacia mangium) làm cơ sở
đề xuất các biện pháp quản lý dịch bệnh tại Yên Bái”
Trang 11Chương 1
TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1.1.Trên thế giới
1.1.1 Nghiên cứu về bệnh hại cây rừng
Bệnh cây rừng đã được bắt đầu nghiên cứu trên 150 năm nay, là một môn khoa học còn rất non trẻ nhưng sự cống hiến cho công tác nghiên cứu khoa học, phục vụ cho đời sống sản xuất thực tiễn của các nhà bệnh cây hết sức to lớn
Năm 1874 ở châu Âu, Hartig.R (1839- 1901) là người đặt nền móng cho việc nghiên cứu môn khoa học bệnh cây rừng Ông đã phát hiện ra sợi nấm nằm trong gỗ và công bố nhiều công trình nghiên cứu, đến nay đã trở thành môn khoa học không thể thiếu được Kể từ đó đến nay trên thế giới đã có nhiều nhà khoa học nghiên cứu về bệnh lý cây rừng như: G.H.Hapting nhà bệnh lý cây rừng người Mỹ trong 30 năm nghiên cứu bệnh cây (1940- 1970)
đã đặt nền móng cho công việc điều tra chủng loại và mức độ bị hại liên quan đến sinh lý, sinh thái cây chủ và vật gây bệnh 46
Những năm ở thập kỷ 50 của thế kỷ XX, nhiều nhà bệnh cây đã tập trung vào việc xác định loài, mô tả nguyên nhân gây bệnh và điều kiện phát sinh, phát triển của bệnh Đặc biệt ở các nước nhiệt đới, L Roger (1953) đã nghiên cứu các loại bệnh hại cây rừng được mô tả trong cuốn sách bệnh cây rừng các nước nhiệt đới (Phytopathologie des pays chauds) Trong đó có một số bệnh hại lá của Thông, Keo, Bạch đàn …52
John Boyce năm 1961 xuất bản sách Bệnh cây rừng (Forest pathology)
đã mô tả một số bệnh hại cây rừng Cuốn sách này được xuất bản ở nhiều
1.1.2 Nghiên cứu về bệnh hại Keo
Trang 12Với tổng số trên dưới 1200 loài, chi Keo Acacia là một chi thực vật quan
trọng đối với đời sống xã hội của nhiều nước (Boland, 1989; Boland et al., 1984; Pedley, 1987) [33][55] Theo các ghi chép của Trung tâm giống cây rừng Ôxtrâylia (dẫn từ Maslin và McDonald, 1996) [53] thì các loài keo
Acacia của Ôxtrâylia đã được gây trồng ở trên 70 nước với diện tích khoảng
1.750.000 ha vào thời điểm đó Nhiều loài trong số đó đã đáp ứng được các yêu cầu về sử dụng cho các mục tiêu công nghiệp, xã hội và môi trường Các
loài có tiếng về cung cấp nguyên liệu gỗ và bột giấy là Keo lá tràm (A
auriculiformis), Keo lá liềm (A crassicarpa), Keo tai tượng (A mangium),
Keo đa thân (A aulacocarpa), còn các loài khác như A colei, A tumida lại
có tiềm năng cung cấp gỗ củi, chống gió và hạt làm thức ăn cho người ở một
Năm 1961 – 1968 John Boyce, nhà bệnh cây rừng người Mỹ đã mô tả một số bệnh cây rừng, trong đó có bệnh hại Keo36
Năm 1953, Roger đã nghiên cứu một số bệnh hại trên cây Bạch đàn và Keo G.F Brown (người Anh, 1968) cũng đề cập đến một số bệnh hại Keo 52, 35 Theo nghiên cứu của Sharma J.K (1994) [31]: Cây trồng bị khô héo, rụng lá và tàn lụi từ trên xuống dưới (chết ngược) do loài nấm hại lá
Glomerlla cingulata (giai đoạn vô tính là nấm Colletotrichum gleosporioides.) đó là nguyên nhân chủ yếu của sự thiệt hại với loài Keo Acacia mangium trong vườn giống ở Papua New Guinea (FAO 1981) và Ấn
Độ Theo nghiên cứu của Lee và Goh năm 1989 loài nấm này còn gây hại với
các loài Acacia ssp Đặc biệt dưới điều kiện khí hậu ẩm ướt lá và thân cây keo bị bệnh nguyên nhân do loài Cylindroladium quinqueseptatum [51]
Nhiều nhà nghiên cứu của Ấn Độ, Malaysia, Philipin, Trung Quốc như Roger L (1953), Spaulding.P (1961), Peace (1962), Bakshi (1964) cũng được công bố nhiều loại nấm bệnh gây hại các loài keo [52][61][56][32]
Trang 13Tại hội nghị lần thứ III họp tại Đài Loan cuối tháng 6 năm 1964, nhóm tư
vấn nghiên cứu và phát triển của các loài Acacia, nhiều đại Biểu kể cả các tổ
chức Quốc tế như CIFOR (Trung tâm nghiên cứu Lâm nghiệp Quốc tế) cũng
đã đề cập đến các vấn đề sâu bệnh hại các loài Acacia (Zhou Zaizhi.1964)
[66]
Trong thực tế có một số nấm bệnh đã được phân lập từ một số loài keo
Đó là nấm Glomerella cingulata gây bệnh đốm lá ở A simsii; nấm
Uromycladium robinsonii gây bệnh rỉ sắt ở lá giả loài A melanoxylon; nấm Oidium sp có trên các loài A mangium và A auriculiformis ở Trung Quốc
nhưng loài A confusa (Đài Loan tương tư) địa phương lại không bị bệnh
Chris Lang 1996 37
Các nghiên cứu về các loại bệnh ở keo Acacia cũng đã được tập hợp khá
đầy đủ vào cuốn sách “Cẩm nang bệnh keo nhiệt đới ở Ôxtrâylia, Đông Nam Á
và ấn Độ” (Old et al., 2000) trong đó có các bệnh khá quen thuộc đã từng gặp ở nước ta như bệnh bệnh phấn trắng (Powdery mildew), bệnh đốm lá, bệnh phấn hồng và rỗng ruột (Heart rot) [58]
1.1.3 Một số nghiên cứu về sử dụng biện pháp phòng trừ tổng hợp IPM
Về phòng trừ vật gây hại nói chung, bệnh cây nói riêng, trong những năm gần đây các nhà khoa học đã kết hợp việc khống chế sinh vật với lợi ích kinh tế và cân bằng sinh thái đã đưa ra khái niệm về quản lý vật gây hại tổng hợp hay phòng trừ tổng hợp IPM (Integrated Pest Management)
Năm 1976, Water đã định nghĩa IPM như sau: “Quản lý vật gây hại tổng hợp là sách lược thông qua việc vận dụng nguyên lý sinh thái học phù hợp với hiệu quả kinh tế và xã hội, bao gồm các biện pháp đề phòng vật gây hại phát sinh, làm giảm bớt và điều chỉnh quần thể vật gây hại, giữ mật độ quần thể ở mức độ có thể chịu đựng được, nghĩa là từ thiết kế đến thi công, trong quá trình quản lý tài nguyên rừng phải hoàn toàn tổng hợp” [65]
Trang 14Saarenmaa H (1992) [62 ] đã đề ra các bước nghiên cứu IPM như sau:
- Phân tích vị trí vật gây hại trong hệ sinh thái rừng, xác định ngưỡng gây hại kinh tế của vật gây hại
- Lập phương án làm giảm sâu bệnh hại chủ yếu bao gồm cả việc tạo sinh vật thiên địch mới trong tự nhiên, chọn cây chống chịu, thay đổi môi trường sống của vật gây hại
- Trong tình hình khẩn cấp, tìm biện pháp phòng trừ ít ảnh hưởng đến
hệ sinh thái Nếu cần có thể dùng thuốc hoá học nhưng phải nghiên cứu tỷ mỷ đến loại thuốc, liều lượng, nồng độ, thời gian và phạm vi sử dụng
- Xây dựng phương án kỹ thuật khống chế sâu bệnh hại
L Araujo và cộng sự đã tiến hành biện pháp phòng trừ sinh học bằng
việc sử dụng sản phẩm trao đổi chất của vi khuẩn Bacillus sp., được phân lập
từ mô thực vật Ông và cộng sự đã đi sâu vào nghiên cứu các loài vi khuẩn sống trong mô của thực vật để tìm ra các chất kháng sinh có khả năng kiềm chế các nguồn gây bệnh ở cây trồng bằng phương pháp sinh học nhằm làm giảm bớt tác động đến môi trường, bởi hiện nay con người đang sử dụng rất nhiều chất hoá học để phòng trừ bệnh cây và côn trùng gây hại trên các cánh đồng Phương pháp phòng trừ sinh học của ông tạo nên từ các vi sinh vật sống nội sinh Đó là những tổ chức vi sinh vật mà có ít nhất có một pha đời sống của chúng sống ở trong cây chủ mà chúng không làm ảnh hưởng đến sinh trưởng của cây Với phương pháp này nhóm của ông đã phân lập và tuyển chọn một số mẫu vi khuẩn nội sinh được lựa chọn trong các giống cam, quýt nghiên cứu để tìm ra các chất kháng sinh mới có hiệu lực cao trong việc phòng trừ nấm bệnh [30]
1.2 Ở Việt Nam
1.2.1 Những nghiên cứu về bệnh trong nước
Nghiên cứu về bệnh cây rừng ở nước ta bắt đầu muộn hơn so với các
nước trên thế giới
Trang 15Theo Trần Văn Mão, 1997 [13] môn Bệnh cây rừng ở Việt Nam không
có ngày sinh Môn học bệnh cây rừng được bắt đầu giảng dạy ở trường Đại học Lâm nghiệp từ năm 1963 Từ đó đến nay các nhà khoa học bệnh cây rừng
đã đóng góp đáng kể cho nền khoa học chung trong cả nước, nhiều công trình điều tra bệnh cây rừng đã được công bố Năm 1974 giáo trình bệnh cây rừng
đã được xuất bản lần đầu tiên ở nước ta Cùng với sự phát triển khoa học côn trùng rừng khoa học bệnh cây rừng đã có những bước phát triển từ khi thành lập bộ môn gỗ sâu bệnh 1964, bộ môn bảo vệ thực vật năm 1968 tại trường Đại học Lâm nghiệp Trải qua gần 40 năm, chúng ta đang ở giai đoạn đầu của giai đoạn thứ ba của lịch sử phát triển bệnh cây rừng.[12]
Từ năm 1971, với nhiều công trình nghiên cứu của mình, Trần Văn Mão đã bắt đầu công bố một số bệnh trên các loài cây: Trẩu, Sở, Quế, Hồi, Thông … Bệnh hại thân cành đã được các tác giả: Lê Văn Liễu, Nguyễn Sỹ Giao, Phạm Văn Mạch [11]
Năm 1994, trên Tạp chí Lâm nghiệp, Trần Văn Mão đã đưa ra một số biện pháp phòng trừ bệnh hại thân cành Keo và Bạch đàn.[16] [17]
Năm 2002, Trên tạp chí Nông nghiệp & PTNT, Phạm Quang Thu đã điều tra bệnh hại Keo tai tượng ở Lâm trường Đạ Tẻh, Lâm Đồng và đưa ra một số biện pháp phòng trừ, quản lí bệnh hại tại địa phương [21]
Năm 2003, Bài giảng chuyên môn hoá, Trường đại học Lâm nghiệp, Phạm Quang Thu đã nghiên cứu và nêu ra bệnh hại một số loài cây trồng chính ở
1.2.2 Những nghiên cứu về bệnh hại Keo
Từ đầu những năm 1980 trở lại đây, nhiều loài Keo đã được nhập về
thử nghiệm ở nước ta như Keo tai tượng (A mangium), Keo lá liềm (A
crassicarpa), Keo đa thân (A aulacocarpa), Keo bụi (A cincinnata), Keo lá
Trang 16sim (A holosericea) và sau này là Keo lai tự nhiên được phát hiện và chủ
động lai tạo (Sedgley et al., 1992) 63]
Trong những năm gần đây nhiều nhà nghiên cứu bệnh cây rừng nước ngoài đã tiến hành nghiên cứu lâu năm ở nước ta về bệnh hại keo như Sharma J.K (1994) đã công bố trong báo cáo chuyên đề bệnh cây ở Việt Nam [29] Một vài năm gần đây khi diện tích gây trồng keo đã tăng lên đáng kể (gần 230.000 ha vào cuối năm 1999) thì cũng đã xuất hiện bệnh ở rừng trồng Tại Đạ Tẻh (Lâm Đồng) Keo tai tượng trồng thuần loài trên diện tích 400 ha
đã có 118,5 ha bị bệnh với tỷ lệ từ 7 đến 59% trong đó có một số diện tích bị
khá nặng (Phạm Quang Thu, 2002) [23] Tại Bầu Bàng, một số dòng Keo lai
đã bị mắc bệnh phấn hồng (Pink Disease) với tỷ lệ mắc và mức độ bệnh khá cao gây thiệt hại cho sản xuất Tại Kon Tum năm 2001, có khoảng 1000 ha rừng keo lai 2 tuổi bị nhiễm bệnh loét thân, thối vỏ và dẫn đến khô ngọn Tỷ
lệ nặng nhất là ở Ngọc Tụ, Ngọc Hồi (Kon Tum) lên đến 90% số cây bị chết ngọn 21
Theo Nguyễn Hoàng Nghĩa (2001 – 2005) thực hiện đề tài: “Chọn giống kháng bệnh cho năng xuất cao, kháng bệnh cho bạch đàn và keo”, tác giả đã tiến hành điều tra bệnh hại các loài keo ở vườn ươm và rừng trồng, một số
bệnh quan trọng được tác giả nhắc đến là: bệnh phấn hồng do nấm Corticium
salmonicolor, bệnh loét thân do nấm Colletotrichum gloeosporioides và nấm Pestalotiopsis neglecta và Pestalotiopsis acaciae, bệnh rỗng ruột do nấm Ganoderma spp [19]
Bệnh hại thân cành keo được nghiên cứu đề cập đến về các mặt như phát hiện bệnh, mô tả triệu chứng của bệnh, Trần Văn Mão, Phạm Quang Thu[17], [24]
1.2.3 Một số nghiên cứu về sử dụng biện pháp phòng trừ tổng hợp IPM ở Việt Nam
Trang 17Năm 1988, Biện pháp phòng trừ các loại nấm bệnh bằng các chế phẩm sinh học có nguồn gốc từ nấm và vi khuẩn đã được rất nhiều nhà khoa học trong nước nghiên cứu và áp dụng GS Nguyễn Lân Dũng, TS Phạm Văn Ty và Lê Mai Hương đã sử dụng xạ khuẩn để phòng chống bệnh thối cổ rễ cây thông con ở
vườn ươm do nấm Fusarium oxysporum gây ra 8
TS Phạm Văn Mạch, năm 1991 trong công trình nghiên cứu của mình đã
sử dụng các chủng Tricoderma spp, xạ khuẩn Streptomyces spp để phòng chống
bệnh thối cổ rễ cây thông con vườn ươm Tuy nhiên những nghiên cứu này mới dừng lại ở những thí nghiệm các chủng nấm và xạ khuẩn đều được phân lập từ
đất 11
Sử dụng vi sinh vật nội sinh thực vật có khả năng ức chế sự phát triển của nấm gây bệnh cây rừng đã được nghiên cứu ở Việt Nam từ năm 2002 (Phạm Quang Thu, 2002) 24 Các tác giả đã đi sâu vào nghiên cứu khả năng tương tác của các vi sinh vật có khả năng ức chế sinh vật gây bệnh với các loài sinh vật đặc thù khác nhau như vi sinh vật phân giải lân, vi sinh vật kích thích sinh trưởng, vi sinh vật cố định đạm nội sinh và cộng sinh, vi sinh vật đối kháng với nấm gây bệnh…để tạo ra chế phẩm hỗn hợp được gọi là “phân vi sinh chức năng” Phân
vi sinh chức năng này đã được nghiên cứu và sản xuất thử cho từng đối tượng cây trồng như: cây Bông, cây Đậu, cây Cà chua, cây Điều và một số cây khác như cây keo, cây Thông nhựa, Thông mã vĩ (Phạm Văn Toản, Nguyễn Phương Chi, Phạm Việt Cường, Phạm Quang Thu, 2004) [25]
Trang 18bệnh, đặc tính sinh thái học và sinh vật học của vật gây bệnh, đề xuất các giải pháp phòng trừ và quản lý dịch bệnh hại nhằm phát triển tốt loài Keo tai tượng phục vụ nhu cầu kinh doanh và sinh thái của người trồng rừng
Trang 19Chương 2 ĐỐI TƯỢNG, MỤC TIÊU, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2.1 Đối tượng nghiên cứu
Bệnh hại rễ gây chết Keo tai tượng (Acacia mangium)
2.2 Địa điểm nghiên cứu
Yên Bái có 7 huyện bao gồm Yên Bình, Trấn Yên, Văn Yên, Lục Yên, Văn Chấn, Trạm Tấu và Mù Cang Chải trong đó huyện Trấn Yên, huyện Văn
Yên, huyện Văn Chấn là khu vực rừng trồng Keo tai tượng (Acacia
mangium) phổ biến nhất nên đề tài được tiến hành nghiên cứu chủ yếu ở ba
huyện trên
Đề tài được thực hiện tại Phòng Nghiên cứu bảo vệ thực vật rừng, Viện Khoa học Lâm nghiệp Việt Nam
2.3 Mục tiêu nghiên cứu
Đánh giá thực trạng về bệnh hại rễ gây chết keo tai tượng (Acacia
mangium) ở Yên Bái
Xác định được sinh vật gây bệnh hại rễ gây chết Keo tai tượng
2.4 Nội dung nghiên cứu
2.4.1 Xác định nguyên nhân gây bệnh và tỉ lệ bị bệnh hại rễ trong khu vực nghiên cứu
+ Mô tả triệu chứng của bệnh
+ Phân lập mẫu bệnh, mô tả đặc điểm các loại bào tử của vật gây bệnh
+ Giám định sinh vật gây bệnh
+ Xác định tỷ lệ bị bệnh hại rễ làm chết cây tại các khu vực điều tra
2.4.2 Nghiên cứu ảnh hưởng của một số nhân tố sinh thái đến tỷ lệ bị bệnh tại khu vực nghiên cứu
+ Ảmh hưởng của địa hình (Độ dốc, hướng dốc và vị trí) đến tỷ lệ bị bệnh
Trang 20+ Ảnh hưởng của độ tàn che đến tỷ lệ bị bệnh
+ Ảnh hưởng của mật độ trồng đến tỷ lệ bị bệnh
+ Ảnh hưởng của tuổi cây đến tỷ lệ bị bệnh
2.4.3 Nghiên cứu đặc điểm sinh học của vật gây bệnh trong nuôi cấy thuần khiết
+ Ảnh hưởng của nhiệt độ đến sinh trưởng và phát triển của khuẩn lạc + Ảnh hưởng của ẩm độ đến sinh trưởng và phát triển của khuẩn lạc + Ảnh hưởng của pH môi trường đến sinh trưởng và phát triển của khuẩn lạc
2.4.4 Đề xuất biện pháp quản lý dịch bệnh
+ Biện pháp lâm sinh
+ Biện pháp kiểm dịch thực vật
+ Biện pháp hoá học
2.5 Phương pháp nghiên cứu
2.5.1 Phương pháp điều tra thu mẫu và xác định ảnh hưởng của một số yếu tố sinh thái đến tỷ lệ bị hại
2.5.1.1 Điều tra sơ bộ
Phương pháp điều tra sơ bộ: Lập các tuyến điều tra đại diện cho các dạng địa hình, loài cây, đất đai, thực bì Tuyến điều tra đi theo đường đồng mức, đường mòn Trên tuyến, cứ cách 100 m lại xác định một điểm điều tra vuông góc với tuyến và cách tuyến điều tra 20 m Căn cứ vào kết quả điều tra
để xác định điểm bị bệnh hại rễ Keo, khoanh trên bản đồ địa hình hoặc bản đồ hiện trạng sử dụng đất những diện tích bị bệnh hại làm cơ sở cho điều tra tỷ mỉ
2.5.1.2 Điều tra tỷ mỉ
Mục đích là để nắm vững tình hình phân bố, tỷ lệ bị hại đồng thời nghiên cứu mối quan hệ giữa vật gây bệnh và các nhân tố sinh thái xung quanh ảnh hưởng tới sự phát sinh, sinh trưởng và phát triển của bệnh
Trang 21Trong khu vực nghiên cứu tại các vị trí địa hình như chân, sườn, đỉnh; hướng phơi, loài cây, tuổi cây chúng tôi lập các ô tiêu chuẩn đại diện để điều
tra đủ lớn n 30) Sau khi điều tra trên ô tiêu chuẩn tỷ lệ bị bệnh được tính toán như sau :
* Điều tra tỷ lệ bị bệnh (P%)
Trong mỗi ô tiêu chuẩn, đếm tổng số cây điều tra và số cây bị bệnh hại
rễ trong ô Tỷ lệ bị bệnh trong ô tiêu chuẩn được tính theo công thức của James năm 1974 như sau [49]:
Xử lý số liệu bằng phần mềm SPSS 15.0; vẽ biểu đồ bằng Excel chart
và phân tích số liệu dựa vào một số tài liệu thống kê của Nguyễn Hải Tuất (2003)[26]
2.5.2 Phương pháp xác định nguyên nhân gây bệnh
- Mô tả triệu chứng của vật gây bệnh, đặc điểm của rễ bị bệnh
Trang 22Chụp ảnh và quan sát bằng mắt thường mô tả các Biểu hiện bên ngoài như: màu sắc lá, tình trạnh thân, rễ
Lấy mẫu rễ quan sát trên kính soi nổi, mô tả các triệu chứng như: thối, loét…(nếu có)
- Phân lập trực tiếp từ rễ:
Chọn những rễ con có cả phần khỏe và phần bị bệnh, rửa bằng nước vô trùng nhiều lần, nhúng qua các rễ con trong cồn 70%, rửa nhanh và hơ khô trên đèn cồn Dùng dụng cụ đã khử trùng cắt rễ thành từng miếng dài 1-2mm ở phần ranh giới giữa mô khỏe và mô bệnh sau đó cấy lên môi trường PDA và môi trường trường CMA (Corn Meal Agar) có kháng sinh NARPH ((Nilstat 1ml; Ampicillin 0.1g; Rifadin 0.5ml; Terraclor (PCNB) 0.1g; Hymexazol
lúp soi nổi để kiểm tra nấm mọc từ các miếng rễ cây
Cấy truyền từng tản nấm lên môi trường PDA hoặc môi trường CMA Làm thuần nấm bằng cách cấy đỉnh sinh trưởng của sợi nấm
- Phương pháp bẫy đất:
Đây là phương pháp chọn lọc bởi vì nó thích hợp cho việc phân lập các
+ Cho khoảng 200g đất vào một hộp nhựa
+ Đổ nước vô trùng hoặc nước cất vào hộp đựng sao cho ngập đất khoảng 5-10cm
+ Để lắng và vớt sạch rác nổi trên bề mặt nước
+ Thả vào hộp nhựa những lá non, tươi của cây trồng mẫn cảm với các bệnh, các vật liệu bẫy này sẽ nổi trên mặt nước (Hình 2-1)
+ Đặt cốc nguyên vị trí trong vòng 2-4 ngày
+ Phân lập nấm sau 1-3 ngày từ mép vết bệnh đã phát triển trên vật liệu bẫy
Trang 23sau khi rửa trong nước vô trùng và khử trùng bề mặt, dùng môi trường
nấm lên môi trường PDA hoặc môi trường CMA Làm thuần nấm bằng cách cấy đỉnh sinh trưởng của sợi nấm
Vật liệu có thể dùng để bẫy bao gồm lá cà ổi, lá cây có múi, lá đỗ quyên, lá keo
Hình 2-1: Bẫy đất
- Giám định loài nấm gây bệnh
Dựa vào đặc điểm hình thái, giải phẫu của bào tử áo (Chlamydospore), bào tử noãn (Oogonia) và túi bào tử động (Sporangia), định loại nấm dựa trên hai khóa phân loại nấm thuộc 2 chi Phytophthora và Pythium sau: chuyên
khảo về Phytophthora của Hamm B.P and Hansen M.E (1987).[47]; chuyên
Định loại nấm gây bệnh cũng được thực hiện dựa trên kỹ thuật sinh học phân tử, cụ thể như sau:
- Tách chiết AND: Nghiền mẫu: mẫu nấm đựng trong ống ependoff 2,0ml,
cho 1 thìa hạt thủy tinh và lắc trong máy lắc từ 1 dến 2 phút; cho vào bột mẫu vừa nghiền 400l dung dịch AP1; cho tiếp 4 l RnaseA và lắc đều trên máy
Trang 24votex; ủ nóng dung dịch mẫu ở 650C trong 10 phút; thêm vào dung dịch mẫu dung dịch đệm 130l AP2; ly tâm ở 14.000 vòng/phút trong 5 phút; lấy 400
l dung dịch mẫu sang ống ependoff mới; thêm 1,5 thể tích dung dụng đệm AP3 vào ống chứa 400 l dung dịch mẫu (600 l dung dịch AP3); lấy 650 l dung dịch mẫu vào cột lọc DNeasy Mini Spin Column, ly tâm ở 8000 vòng phút trong 1 phút, đổ bỏ dung dịch chảy qua màng lọc, lấy tiếp dung dịch mẫu còn lại vào cột lọc DNeasy Mini Spin Column, ly tâm ở 8000 vòng phút trong
1 phút; đặt cột lọc DNeasy Mini Spin Column vào ống ly tâm mới và lấy 500l dung dịch đệm AW đổ trên cột lọc để rửa ADN và ly tâm ở 8000 vòng phút trong 1 phút, đổ bỏ dung dịch chảy qua màng lọc; thêm 500l dung dịch vào cột lọc để tiếp tục rửa ADN trên màng lọc, ly tâm ở 14000 vòng phút trong 2 phút, ADN nằm trên màng lọc của cột lọc DNeasy Mini Spin Column; chuyển cột lọc sang ống ependoff mới, ghi ký hiệu mẫu và dùng 50 l dung dịch đệm AE đổ vào cột lọc DNeasy Mini Spin Column, ly tâm ở 8000 vòng phút trong 1 phút; thu ADN đã chảy từ cột lọc vào ống ependoff
- Quy trình PCR: Hóa chất và công thức cho PCR đối với 1 ống ependoff
nhỏ: nước không ion (14l), 10x EX Taq buffer (2l), dNTP mix (2l), primer 1- ITS1 10M (0,5l), primer 2-ITS4 10M (0,5l), EX taq (0,1l) Tất cả các hóa chất trên được lấy 1 lượng gấp 9 lần cho vào 1 ống ependoff với tổng số 172l gồm các thành phần sau: nước (126l), 10x EX Taq buffer (18l), dNTP mix (18l), primer 1 (ITS1) (4,5 l) ), primer 2 (ITS4) (4,5 l), EX taq (1l) Lấy 19 l từ ống ependoff chứa 172 l cho vào 8 ống ependoff Thêm 1 l ADN cần thực hiện phản ứng PCR của từng mẫu vào từng ống Đánh số 1 đến 8 Ống ependoff từ 1 đến 7 chứa ADN còn ống thứ 8
là đối chứng Chạy phản ứng PCR trên máy với quy trình: bước 1: cycle 1
Trang 25bước 2: ở 500C trong 00.30 phút; bước 3: ở 720C trong 01.00 phút; bước 1:
phút
- Quy trình chạy điện di: pha bản thạch: bản thạch 1% Agarose S (1 gam
đã cắm lược; để nguội thạch, rút lược và đặt khay thạch vào máy điện di đã đổ dung dịch ATE, chiều lỗ lược quay về phía cực âm, cho 2l dung dịch đánh dấu vào lỗ lược 1 ADN của các mẫu được lấy 1.5 l trộn vói 1 l chất nhuộm cho vào các lỗ lược, lỗ lược thứ 8 là đối chứng không có DNA; chạy chương trình 22 phút ở 100V, nhúng trong dung dịch dịnh hình và quan sát ADN trên bản thạch dưới ánh sáng tử ngoại, những mẫu có ADN đủ lớn để sequencing phải thể thiện trên bản gel
- Đọc trình tự AND và định loại các chủng nấm: Trình tự AND được đọc
bằng phương pháp “Dideoxy Chain Termination” Sử dụng máy đọc trình tự model 377 của hãng Applied Biosystem Sữa chữa chuỗi AND bằng phần mền BioEdit Các chuỗi AND của các mẫu nấm được so sánh với chuỗi AND trên ngân hàng gen thông qua giao diện tìm kiếm Blast (Basic Local Alignment Search Tool) trên website: http://ncbi.nlm.nih.gov
2.5.3 Phương pháp nghiên cứu một số đặc điểm sinh học của vật gây bệnh trong phòng thí nghiệm
2.5.3.1 Nghiên cứu ảnh hưởng của nhiệt độ đến tốc độ sinh trưởng và phát triển của khuẩn lạc
Thí nghiệm được thực hiện trên môi trường dinh dưỡng PDA, đặt trong
tủ định ôn có các mức nhiệt độ khác nhau Phương pháp thí nghiệm được tiến hành như sau:
Trang 26Đổ môi trường dinh dưỡng PDA đã nấu vào đĩa petri được khử trùng dầy 2 – 3 mm, để nguội cho môi trường đông cứng lại, cấy giống nấm đã được phân lập từ 10 – 12 ngày tuổi vào chính giữa hộp lồng rồi băng lại cho
theo hai chiều vuông góc, lấy trị số trung bình và đo ở ngày thứ 3 - 6 Thí nghiệm được lập lại 2 lần và lấy trị số bình quân làm đại diện cho thí nghiệm
2.5.3.2 Nghiên cứu ảnh hưởng của độ ẩm đến tốc độ sinh trưởng và phát triển của khuẩn lạc
Thí nghiệm được tiến hành theo phương pháp của Both.C Dung dịch NaCl được pha với các nồng độ khác nhau trong bình hút ẩm tạo cho chúng
ta có được các độ ẩm như sau:
Dung dịch pha xong đổ vào bình hút ẩm loại lớn, đậy nắp lại để ở
ngày trong các bình hút ẩm khác nhau sẽ có độ ẩm không khí khác nhau, phụ thuộc vào nồng độ của NaCl, khi nồng độ của NaCl càng lớn thì độ ẩm của môi trường càng nhỏ và ngược lại nồng độ của NaCl càng nhỏ thì độ ẩm của môi trường càng lớn Môi trường PDA sau khi hấp khử trùng được đổ vào hộp lồng đã được khử trùng một lớp dày 2 - 3 mm Cấy giống nấm đã được phân lập từ 10 - 12 ngày tuổi vào chính giữa hộp lồng bằng que cấy.Đặt hộp lồng vào các bình hút ẩm có độ ẩm không khí khác nhau, mỗi bình ta đặt 2 hộp Sau 3 ngày lấy hộp lồng đo đường kính khuẩn lạc theo hai chiều vuông góc, lấy trị số bình quân của các hộp lồng đặt trong mỗi bình hút ẩm Thí
nghiệm được lặp lại 2 lần
Trang 272.5.3.3 Nghiên cứu ảnh hưởng của pH môi trường đến tốc độ sinh trưởng phát triển của khuẩn lạc
Thí nghiệm được tiến hành trên môi trường dinh dưỡng PDA có độ pH khác nhau Dùng máy đo pH để xác định trị số pH của môi trường Dung dịch gốc có pH = 6.0, dùng HCl 10% để điều chỉnh các mức pH của môi trường là: 4.0, 5.0 và NaOH để điều chỉnh pH môi trường theo các mức: 7.0, 8.0 Sau đó nút miệng bình tam giác bằng bông sạch và quấn giấy báo phía trên, môi
trường có các mức pH khác nhau vào 3 hộp lồng đã được khử trùng dày 2 - 3
mm Sau khi mặt thạch khô, đông cứng lại rồi tiến hành cấy vào chính giữa hộp lồng 1 điểm giống nhau đúng bằng que cấy Băng kín hộp lồng lại và để
chiều vuông góc rồi lấy trị số trung bình, đo ở ngày thứ 3 - 7 Thí nghiệm được lặp lại 2 lần và lấy trị số đường kính khuẩn lạc bình quân làm đại diện cho thí nghiệm
2.5.4 Đề xuất biện pháp phòng trừ
Biện pháp phòng trừ bệnh được tiến hành bằng biện pháp phòng trừ tổng hợp, bao gồm các biện pháp: biện pháp kỹ thuật lâm sinh, biện pháp sinh học và biện pháp hóa học Biện pháp kỹ thuật lâm sinh, biện pháp sinh học được đề xuất dựa trên các tài liệu tham khảo Schmitthenner, A.F and R.G Bhat 1994; Phytophthora Technical Group, 2006 và cẩm nang chuẩn
đoán bệnh cây [60],[54],[28] và những kết quả nghiên cứu về đặc điểm sinh
học, sinh thái của vật gây bệnh Biện pháp hóa học được đề xuất dựa trên thí nghiệm xác định loại thuốc đặc hiệu được tiến hành trong phòng thí nghiệm Phương pháp xác định loại thuốc hóa học được thực hiện như sau:
Dựa theo một số tài liệu nghiên cứu về kiểm soát nấm Pythium bằng thuốc hóa học theo JJ Bezuidenhout, JM Darvas &JC Toerien,1987 [50]
Trang 28và Coffey, M D & Joseph, M C 1985[39] Thử nghiệm trên 3 loại thuốc là: Agri-Fos 400; Phos-inject 200; Ridomil Nồng độ pha lần lượt như sau Agri-Fos 400 pha 2,5- 5ml/l; Phos-inject 200 pha 5-10ml/l; Ridomil pha 5g/l
Mỗi loại cấy trên 3 đĩa petri và có đĩa petri đối chứng Trước tiên đục một lỗ thạch có đường kính 1cm ở giữa hộp lồng, cấy nấm ở ba điểm góc hộp lồng tạo thành một tam giác Dùng pipét hút dịch thuốc đã pha theo đúng
giờ; 48h và 60h kiểm tra và đo vòng kháng nấm của thuốc so với đối chứng
Phương pháp kiểm tra khả năng kháng nấm bằng cách đo khoảng cách
từ tâm đĩa petri cho đến đỉnh sinh trưởng của sợi nấm Khoảng cách càng lớn thì khả năng kháng nấm càng cao Làm cơ sở cho việc lựa chọn và sử dụng thuốc phòng trừ
Trang 29Chương 3 ĐẶC ĐIỂM KHU VỰC NGHIÊN CỨU
3.1 Điều kiện tự nhiên
Phía bắc giáp tỉnh Lào Cai và Hà Giang
Phía nam giáp tỉnh Phú Thọ
Phía đông giáp tỉnh Tuyên Quang
Phía tây giáp tỉnh Sơn La và Lai Châu
3.1.2 Địa hình - địa thế
Yên Bái là vùng chuyển tiếp từ vùng núi cao tây bắc thuộc dãy núi Hoàng Liên Sơn - Púng Luông và dãy Con Voi xuống vùng đồi trung du Phú Thọ đồng thời Yên Bái cũng là vùng chuyển tiếp giữa vùng núi Tây Bắc và vùng núi Đông Bắc, các dãy núi dựu chạy theo hướng tây bắc - đông nam
Độ cao bình quân toàn tỉnh là: 600 m, nơi thấp nhất tại xã Minh quân có cao độ 20 m Cao nhất là đỉnh Pú Luông 2.986 m so với mặt nước biển Do mang đặc trưng địa hình miền núi nên địa hình rất phức tạp bị chia cắt mạnh bởi các dãy núi cao, sông suối và thung lũng, có thể chia ra thành 4 kiểu chính sau:
* Địa hình núi trung bình và núi cao (400 - 2.800m)
Đây là kiểu địa hình chủ yếu và đặc trưng cho phần lớn đất đai của tỉnh Yên Bái, kiểu địa hình này được phân bố chủ yếu ở các huyện: Mù Cang Chải, Trạm Tấu, Văn Chấn, Trấn Yên, Văn Yên và phía tây của huyện Lục Yên, được đặc trưng bởi 2 dãy núi chính là dãy núi Hoàng Liên Sơn và dãy
Trang 30núi Con Voi Phần lớn các dãy núi được sắp xếp theo hướng tây bắc - đông nam, độ cao từ 700m trở lên, địa hình bị chia cắt mạnh, độ dốc lớn
* Địa hình núi đá vôi xen núi đất cao (400 - 800 m)
Gồm các dãy núi đá vôi vách đứng, xen lẫn với các dãy núi đất thấp và đồi cao Kiểu địa hình này được phân bố ở phía đông và phía đông bắc của tỉnh chủ yếu tập trung ở vùng phía nam huyện Lục Yên và phía bắc huyện Yên Bình
* Kiểu địa hình đồi :
Phân bố chủ yếu ở phía đông nam của tỉnh gồm các huyện: Yên Bình, Thành phố Yên Bái, phía nam và phía đông nam huyện Trấn yên, gồm các dải đồi sườn thoải độ cao trung bình < 300 m, địa hình ít bị chia cắt, độ dốc không lớn mang nét đặc trưng của địa hình trung du, thuận lợi cho việc sản xuất nông lâm nghiệp
* Địa hình thung lũng
Nằm xen kẽ giữa kiểu địa hình núi và đồi, là các thung lũng lòng chảo đất đai được hình thành do sản phẩm bồi đắp của phù sa sông suối, phù sa cổ, địa hình tương đối bằng phẳng, độ dốc thấp Điển hình cho kiểu địa hình này là các thung lũng thuộc lưu vực sông Hồng, sông Chảy và lòng chảo Văn Chấn, Nghĩa Lộ tạo những cánh đồng lớn tương đối độc lập nằm rải rác trong toàn tỉnh Lớn nhất là cánh đồng Mường Lò (Văn Chấn) rồi đến các cánh đồng Đông Cuông, Văn Yên) là vùng có tiềm năng sản xuất lương thực lớn của tỉnh Ngoài ra còn phải kể tới vùng hồ Thác Bà được tạo nên từ những năm 1971 với diện tích mặt hồ rộng 23.400 ha bao gồm diện tích mặt nước là 19.050 ha và 1.330 hòn đảo lớn, nhỏ Trong đó có nhà máy thuỷ điện Thác Bà với công suất lắp máy 108 MW và mỗi năm sản xuất được 424 triệu KWgiờ Ngoài ra hồ Thác
Bà có tiềm năng phát triển thuỷ sản, thuỷ cầm, phát triển du lịch và có tác dụng tốt trong việc cải thiện điều kiện khí hậu môi trường của khu vực
Trang 31Tóm lại: Với nhiều dạng địa hình, Yên Bái có nhiều thuận lợi để phát triển đa dạng các loài cây trồng, vật nuôi Tuy nhiên do địa hình chia cắt mạnh bởi dãy núi cao và hệ thống sông ngòi suối dày đặc, vào mùa mưa dễ xẩy ra lũ ống, lũ quét, sạt lở bò sông, bờ suối, gây thiệt hại đến tính mạng và tài sản của nhân dân, khó khăn trong việc phát triển giao thông giữa các vùng, miền, ảnh hưởng đến việc phân chia các vùng sản xuất
3.1.3 Khí hậu thời tiết
Đặc trưng của khí hậu Yên Bái là khí hậu nhiệt đới gió mùa, nóng ẩm, mưa nhiều, nền nhiệt cao Do ảnh hưởng của địa hình nên khí hậu hình thành
2 mùa rõ rệt
- Mùa mưa: (Nóng ẩm) từ tháng 4 đến tháng 10, nhiệt độ trung bình
mưa 1500-2.200 mm, chiếm 80-85 % lượng mưa cả năm, số ngày mưa nhiều, cường độ lớn đặc biệt trong các tháng 6,7,8 thường có mưa lớn kèm theo gió xoáy, mưa đá, lũ ống, lũ quét ở các triền sông suối, gây thiệt hại về tài sản và
tính mạng của nhân dân, ảnh hưởng tới sản xuất nông lâm nghiệp
- Mùa khô (lạnh) từ tháng 11 đến tháng 3 năm sau, nhiệt độ trung bình
này ít không đủ cung cấp nước cho sản xuất, đời sống nên hay xẩy ra hạn hán Bên cạnh đó tình trạng sương muối, sương mù ít ánh sáng mặt trời cũng gây ảnh hướng đến sinh trưởng phát triển của cây trồng, đặc biệt là ở 2 huyện vùng cao: Trạm Tấu, Mù Cang Chải
Yên Bái được chia thành các tiểu vùng khí hậu:
+ Vùng núi cao Mù Cang Chải: ở độ cao 800-1.200 m, nhiệt độ trung
lượng mưa trung bình 1.652,6 mm, độ ẩm 81%, lượng bốc hơi 911 mm, tổng
số giờ nắng bình quân năm 1.696 giờ Có sương muối, băng giá vào giữa mùa
Trang 32đông, mùa hè có gió Lào Khí hậu thích hợp cho trồng cây dược liệu quý và chăn nuôi gia súc có sừng
+ Vùng Lục Yên-Yên Bình: ở độ cao trung bình 100-300 m Nhiệt độ
hơi 636 mm, độ ẩm 86%, tổng số giờ nắng trong năm 1.327 giờ Đây là tiểu vùng chịu nhiều ảnh hưởng của hồ Thác Bà, nên lượng mưa rất phong phú, nguồn nước dồi dào, thích hợp cho cây lương thực và cây công nghiệp lâu năm, cây ăn quả phát triển
+ Vùng Trấn Yên - Thành phố Yên Bái: ở độ cao trung bình 100-300 m,
778 mm, tổng số giờ nắng trong năm 1.327 giờ Tiểu vùng này thường chịu ảnh hưởng của gió mùa đông bắc theo thung lũng sông tràn tới
1.035,1 mm, độ ẩm bình quân 84%, tổng số giờ nắng trong năm 1.473 giờ Khí hậu vùng này thích hợp với cây lương thực, cây ăn quả và cây chè
Tóm lại: Khí hậu trong vùng rất đa dạng, có nhiều tiểu vùng khí hậu
khác nhau thích hợp với việc phát triển đa dạng các loài cây trồng vật nuôi ở vùng nhiệt đới, á nhiệt đới và ôn đới song cũng cần phải chú ý đến những đặc thù của từng vùng để quy hoạch, bố trí sản xuất nông lâm nghiệp với cơ cấu cây con, thời vụ thích hợp
3.1.4 Đặc điểm thuỷ văn:
Yên Bái có nền địa hình phức tạp, chia cắt mạnh và lượng mưa tương đối lớn, đã tạo ra một mạng lưới sông ngòi, hồ, đầm khá dày đặc, lượng dòng chảy phong phú
* Hệ thống sông ngòi: Có 2 hệ thuỷ chính là: Sông Hồng và sông Chảy
Trang 33- Sông Hồng bắt nguồn từ Trung Quốc chảy theo hướng tây bắc đông nam Sông Hồng chảy qua địa phận tỉnh Yên Bái với chiều dài 100 km bắt đầu
xã Lang Thíp (VănYên) đến xã Văn Tiến (Thành phố Yên Bái) có diện tích,
trong đó có 4 phụ lưu lớn là: Ngòi Thia, Ngòi Hút, Ngòi Lâu, Ngòi Lao
- Sông Chảy bắt nguồn từ dãy núi Tây Côn Lĩnh, chảy theo hướng tây bắc đông nam Tổng chiều dài 300 km chảy qua địa phận Yên Bái 95 km bắt đầu từ
xã Minh Chuẩn (Lục Yên) đến xã Hán Đà (Yên bình), diện tích lưu vực là
Chảy có 32 ngòi suối thuộc hệ thống sông Chảy với tổng chiều dài 117 km
Hồ Thác Bà nằm trong lưu vực sông Chảy, là hồ chứa nước phục vụ trực tiếp cho nhà máy thuỷ điện Thác Bà với diện tích mặt hồ rộng 23.400 ha Hồ Thác Bà có tiềm năng phát triển thuỷ sản, du lịch và có tác dụng tốt trong việc cải thiện điều kiện khí hậu môi trường của khu vực
Tóm lại: Mạng lưới sông suối trong vùng dự án khá dày đặc phân bố khắp lãnh thổ, rất thuận tiện cho việc xây dựng các công trình thuỷ lợi cung cấp nước phục vụ cho sản xuất nông lâm nghiệp, góp phần điều hoà khí hậu, tạo mạng lưới giao thông đường thuỷ thuận lợi cho vận chuyển hàng hoá, phát triển chăn nuôi thuỷ sản, các ngòi suối có độ dốc lớn nên có tiềm năng phát triển thuỷ điện Bên cạnh những mặt thuận lợi thì về mùa lũ hệ thống sông ngòi thường gây ra lũ ống, lũ quét, ngập úng khu vực ven sông và các phụ lưu lớn gây thiệt hại về người và tài sản của nhân dân, ách tắc giao thông, thiệt hại đáng kể cho sản xuất nông lâm nghiệp Để khắc phục tình trạng trên cần tiếp tục bảo vệ tốt diện tích rừng phòng hộ hiện có, đầu tư mở rộng diện tích rừng nhất là rừng phòng hộ ở các khu vực rất xung yếu và xung yếu Cải tạo, nâng cấp, làm mới các công trình giao thông, trình thuỷ lợi
Trang 343.1.5 Thực trạng về phát triển kinh tế
Tình hình sử dụng đất đai:
Tổng diện tích tự nhiên: 689.949,05 ha, trong đó:
- Đất nông nghiệp
Đất nông nghiệp: 533.796,28 ha chiếm 77,36 % tổng diện tích tự nhiên, trong đó
1 Đất sản xuất nông nghiệp:78.608,81 ha
Đất trồng cây hàng năm: 47.403,89 ha
(Trong đó: Đất trồng lúa: 28.528,22 ha;
Đất cỏ dùng vào chăn nuôi: 1.932,93 ha
Đất trồng cây hàng năm khác: 16.946,74 ha)
Đất trồng cây lâu năm: 31.204,92 ha
2 Đất sản xuất lâm nghiệp: 453.670,92 ha
- Đất phi nông nghiệp:
Đất phi nông nghiệp có 46.417,90 ha chiếm 6,72% tổng diện tích tự nhiên
1 Đất ở: 4.456,52 ha
2 Đất chuyên dùng: 00.166,8 ha
3 Đất tôn giáo tín ngưỡng: 23,83 ha
4 Đất nghĩa trang nghĩa địa: 617,13 ha
5 Đất sông suối và mặt nước chuyên dùng: 11.123,68 ha
6 Đất phi nông nghiệp khác: 29,94 ha
- Đất chưa sử dụng
Đất chưa sử dụng: 109.734,87 ha, chiếm 15,9 % tổng diện tích tự nhiên,
Trang 35Trong đó:
+ Đất bằng chưa sử dụng: 934,60 ha
+ Đất đồi núi chưa sử dụng: 102.665,99 ha
+ Núi đá không có cây rừng: 6.134,28 ha
(Theo số liệu thống kê 1/1/2008)
3.2 Đời sống kinh tế - xã hội
3.2.1 Kinh tế:
* Nông nghiệp: Tập trung chủ yếu vào phát triển cây lương thực, cây công nghiệp, cây ăn quả, chăn nuôi gia súc, gia cầm và hình thành một số vùng nguyên liệu Từng bước đầu tư thâm canh, tăng vụ, đưa các loại giống mới có năng suất, chất lượng cao, áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất
- Về sản xuất lương thực:
Các loại cây lương thực được trồng chủ yếu trong vùng là: lúa, ngô, sắn, khoai, đậu tương Nhiều giống lúa lai, ngô lai đã được nhân dân đưa vào trồng thành công đạt năng suất cao Qua số liệu thu thập ở địa phương cho thấy: Diện tích lúa vụ đông xuân: 17.134 ha - Năng suất đạt 48,20 tạ/ha
Diện tích lúa vụ mùa: 19.662 ha - Năng suất đạt 45,64 tạ/ha
Diện tích lúa nương: 4.606 ha - năng suất đạt 10,99 tạ/ha
Diện tích ngô: 15.770 ha - Sản lượng đạt 39,865 tấn
Diện tích sắn: 14.456 ha - Sản lượng đạt 272,524 tấn
- Cây công nghiệp dài ngày: Chủ yếu là cây chè Trong trong những năm qua cây chè luôn được chú trọng phát triển, được xác định là cây phát triển kinh tế trong các hộ gia đình Giống chè trung du, chè nhập nội thường được trồng ở các xã vùng thấp, chè shan trồng ở các xã vùng cao Hiện nay toàn vùng có tổng diện tích chè: 12.516 ha (trong đó: diện tích chè kinh doanh là 10.671,0 ha), tổng sản lượng là 70.072 tấn chè búp tươi/năm
- Cây công nghiệp ngắn ngày: Qua điều tra trong vùng hiện có: 737,0 ha mía tập trung chủ yếu huyện Văn Yên, 1.929,0 ha lạc tập trung chủ yếu huyên
Trang 36Lục Yên, Yên Bình; 3.329,0 ha đậu tương tập trung chủ yếu ở huyện Văn Yên, Lục Yên Sản lượng đạt 29.312 tấn/năm
- Cây ăn quả: Hiện nay trên địa bàn tỉnh đã hình thành một số vùng cây ăn quả truyền thống có giá trị kinh tế cao như: Bưởi Đại Minh, nhãn vải, cam, hồng, Lục Yên, dứa Văn yên… Văn Chấn Qua số liệu thu thập toàn tỉnh có 7.613,0 ha
- Tình hình chăn nuôi: Thực hiện các dự án cải tạo đàn bò bằng giống lai sind, phát triển đàn lợn theo hướng nạc hoá Phát triển chăn nuôi theo hướng công nghiệp và bán công nghiệp
Qua số liệu điều tra cho thấy, trong toàn tỉnh hiện có:
Trâu: 111.720 con- bình quân ≈ 0,65 con/hộ
Bò: 38.770 con- bình quân ≈ 0,20 con/hộ
Lợn: 375.965 con - bình quân ≈ 2,17 con/hộ
Ngựa: 5.123 con ; Dê: 25.142 con
Gia cầm (gà, vịt, ngan): 2.748.360 con - bình quân ≈ 16,18 con/hộ
* Lâm nghiệp: Công tác quản lý bảo vệ và phát triển rừng đã thực hiện tốt Qua số liệu thu thập diện tích rừng hiện có trên địa bàn là: 453.670,92 ha,
- Rừng đặc dụng: 26.369,26 ha tập trung ở huyện Văn Yên, Mù Cang Chải
* Bình quân thu nhập trên đầu người năm 2007: 6 triệu đồng
- Bình quân lương thực quy thóc: 289 kg/người/năm
Trang 37- Tỷ lệ hộ trung bình + khá: 75,84 %
- Tỷ lệ hộ nghèo năm 2007 là 24,16 %, năm 2008 giảm xuống còn: 24,16
%, trong đó các huyện có tỷ lệ rất cao là: Mù Cang chải, Trạm Tấu
Nguyên nhân chính dẫn đến đói nghèo:
Hộ nghèo thường là những hộ cư trú ở những nơi xa trung tâm, trình độ dân trí thấp, khả năng tiếp thu tiến bộ khoa học chậm, làm ăn theo nếp cũ, lạc hậu, thiếu vốn đầu tư cho sản xuất, thiếu đất sản xuất Chuyển đổi cơ cấu cây trồng chậm, chưa đầu tư thâm canh vì vậy năng suất, chất lượng một số loài cây trồng còn thấp, hiệu quả không cao
Do chưa có ý thức vươn lên trong cuộc sống còn ỷ lại, trông chờ vào Nhà nước
Do một số hộ dân gặp rủi ro do ốm đau, bệnh tật, bị lũ ống, lũ quét làm thiệt hại nhà cửa, tài sản, ruộng nương,…
Do chưa thực hiện sinh đẻ có kế hoạch
3.2.2 Văn hoá xã hội
Năm 2007 đã có 180 xã phường đã hoàn thành chương trình xoá mù chữ
và phổ cập giáo dục tiểu học Năm 2007 có 164 số xã, phường, thị trấn đã hoàn thành chương trình phổ cập giáo dục phổ thông cơ sở Với mục tiêu của ngành giáo dục là nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện cho học sinh vì vậy trong những thời gian tới cần tiếp tục bồi dưỡng nâng chuẩn đội ngũ giáo viên các cấp nhất là giáo viên mầm non và cấp tiểu học
Trang 38- Y tế: Mạng lưới y tế từ tỉnh đến cơ sở tiếp tục được củng cố, cơ sở vật chất và các trang thiết bị y tế các bệnh viện được quan tâm đầu tư; tình hình dịch bệnh được khống chế, không có phát sinh lớn Đến năm 2007: 64/180
xã phường đạt chuẩn quốc gia về y tế Tỷ lệ trẻ em dưới 5 tuổi suy dinh dưỡng giảm còn 26,22% Tỷ lệ tăng dân số, kế hoạch hoá gia đình, bảo vệ chăm sóc trẻ em có nhiều chuyển biến tích cực Năm 2007 tỷ lệ tăng dân số
tự nhiên là 1,28%
- Tỉ lệ dân thành thị được dùng nước hợp vệ sinh: 78% so với tổng dân số
- Tỉ lệ dân nông thôn được dùng nước hợp vệ sinh: 56% so với tổng dân số
3.3 Đánh giá chung
3.3.1 Thuận lợi
- Điều kiện tự nhiên về khí hậu thời tiết, thổ nhưỡng, quỹ đất đai thuận lợi cho Yên Bái phát triển đa dạng các loài cây nông lâm nghiệp, hình thành các vùng sản xuất hàng hoá tập trung, thâm canh cao như : vùng chè, vùng quế, vùng cây ăn quả, vùng nguyên liệu giấy,… theo đó tạo điều kiện cho các ngành chế biến sản phẩm nông lâm nghiệp phát triển
- Hệ thống sông, ngòi, hồ, đầm phân bố tương đối dựu trên địa bàn tạo nên nguồn nước mặt rất quan trọng phục vụ sản xuất và đời sống Ngoài ra các sông, ngòi lớn như: sông Hồng, sông Chảy, ngòi Thia là đường giao thông thuỷ rất thuận lợi cho việc đi lại và vận chuyển hàng hoá
- Hệ thống cơ sở hạ tầng thiết yếu: Đường giao thông, các công trình thuỷ lợi, nước sinh hoạt, công trình văn hoá xã hội, nói chung đã có đến các
xã, tuy chưa đầy đủ, đồng bộ và hoàn thiện nhưng đã phục vụ sản xuất và đời sống sinh hoạt của người dân có hiệu quả
- Về lực lượng lao động chiếm 55% tổng dân số trong vùng dự án, đây là nguồn nhân lực dồi dào đáp ứng cho các nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội Nhân dân các dân tộc sống đoàn kết, lao động cần cù, sáng tạo, có kinh nghiệm trong sản xuất nông lâm nghiệp nhất là kinh nghiệm canh tác trên đất
Trang 39dốc Khả năng tiếp thu tiến bộ và ứng dụng khoa học kỹ thuật của nhiều dân tộc nhanh, là điều kiện thuận lợi cho công tác xây dựng dự án hỗ trợ người dân vùng cao, để các dân tộc giúp đỡ nhau trong cuộc sống, hiểu nhau hơn, tạo được khối đại đoàn kết các dân tộc
- Hệ thống thông tin phát triển rộng khắp, dưới nhiều hình thức giúp cho người dân tiếp nhận thông tin dễ dàng, nhanh chóng, thuận lợi cho công tác tuyên truyền chủ trương chính sách của Đảng và Nhà nước về quy hoạch, xây dựng dự án hỗ trợ người dân vùng cao, giai đoạn 2008 - 2012
3.3.2 Khó khăn
- Địa hình, thời tiết khí hậu phức tạp gây rất nhiều khó khăn cho phát triển sản xuất, xây dựng hệ thống thông tin liên lạc, điện dân dụng,… nhất là giao thông vận tải vùng dự án nói chung và cho khu vực vùng đồng bào vùng cao nói riêng
- Mạng lưới giao thông chưa hoàn chỉnh, chất lượng phần đa là xấu và rất xấu, vận tải phụ thuộc theo mùa ảnh hưởng rất lớn đến đi lại, vận chuyển hàng hoá, nguyên vật liệu xây dựng,…dẫn đến xây dựng cơ sở hạ tầng gặp nhiều khó khăn
- Trên địa bàn vùng dự án nhiều dân tộc chung sống, mỗi dân tộc mang một phong tục tập quán sinh hoạt riêng, một số hủ tục lạc hậu chưa được xoá bỏ, trình độ dân trí còn thấp, khả năng nhận thức của các dân tộc không đồng nhất
- Tỷ lệ hộ đói, nghèo còn cao, mức thu nhập của người dân còn thấp, số
hộ canh tác nương rẫy chủ yếu là hộ đói nghèo
- Nguồn vốn đầu tư của Nhà nước, các tổ chức cho còn hạn chế, chưa đồng bộ
Vì vậy để công tác quy hoạch, xây dựng dự án được thành công cần khai thác các yếu tố thuận lợi, có tính đến các khó khăn của điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội của tỉnh, vận dụng các cơ chế chính sách phù hợp, linh hoạt, tạo điều kiện để người dân ổn định được đời sống, phát triển sản xuất
Trang 40Chương 4 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN
4.1 Xác định nguyên nhân gây bệnh và tỉ lệ bị bệnh hại rễ trong khu vực nghiên cứu
4.1.1 Mô tả triệu chứng
Cây bị bệnh lá ban đầu vẫn có màu xanh nhưng dần dần héo và rũ xuống sau cùng chuyển sang màu vàng và rụng lá (Hình 4-1; 4-2) Thân ban đầu tươi tròn nhẵn sau chuyển sang héo khô lại, đặc biệt với bộ rễ phía bên ngoài vỏ rễ một số phần đã bị thối nhũn Rễ dễ bị đứt và khi đào bộ rễ thấy có mầu nâu sậm (Hình 4-4)
Bệnh hại rễ Keo tai tượng dẫn đến cây bị mất dần khả năng dẫn truyền dinh dưỡng và hút nước nuôi cây, làm lá cây bị héo dần và chết héo từ ngọn xuống (Hình 4-3)
Hình 4- 1: Lá bị héo rũ