1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Nghiên cứu khu hệ chim, đề xuất các biện pháp quản lý và sử dụng bền vững tài nguyên chim ở khu bảo tồn thiên nhiên hang kia pà cò, huyện mai châu, tỉnh hòa bình

68 338 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 68
Dung lượng 1,45 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

PHẠM ANH TUẤN NGHIÊN CỨU KHU HỆ CHIM, ĐỀ XUẤT CÁC BIỆN PHÁP QUẢN LÝ VÀ SỬ DỤNG BỀN VỮNG TÀI NGUYÊN CHIM Ở KHU BẢO TỒN THIÊN NHIÊN HANG KIA-PÀ CÒ, HUYỆN MAI CHÂU, TỈNH HÒA BÌNH Chuyên n

Trang 1

PHẠM ANH TUẤN

NGHIÊN CỨU KHU HỆ CHIM, ĐỀ XUẤT CÁC BIỆN PHÁP QUẢN LÝ VÀ

SỬ DỤNG BỀN VỮNG TÀI NGUYÊN CHIM Ở KHU BẢO TỒN THIÊN NHIÊN HANG KIA-PÀ CÒ, HUYỆN MAI CHÂU, TỈNH HÒA BÌNH

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC LÂM NGHIỆP

Hà Nội, 2010

Trang 2

PHẠM ANH TUẤN

NGHIÊN CỨU KHU HỆ CHIM, ĐỀ XUẤT CÁC BIỆN PHÁP QUẢN LÝ VÀ

SỬ DỤNG BỀN VỮNG TÀI NGUYÊN CHIM Ở KHU BẢO TỒN THIÊN NHIÊN HANG KIA-PÀ CÒ, HUYỆN MAI CHÂU, TỈNH HÒA BÌNH

TÀI LIỆU GỐC

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC LÂM NGHIỆP

Hà Nội, 2010

Trang 3

PHẠM ANH TUẤN

NGHIÊN CỨU KHU HỆ CHIM, ĐỀ XUẤT CÁC BIỆN PHÁP QUẢN LÝ VÀ

SỬ DỤNG BỀN VỮNG TÀI NGUYÊN CHIM Ở KHU BẢO TỒN THIÊN NHIÊN HANG KIA-PÀ CÒ, HUYỆN MAI CHÂU, TỈNH HÒA BÌNH

Chuyên ngành: Quản lý bảo vệ tài nguyên rừng

Mã số: 60.62.68

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC LÂM NGHIỆP

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC

PGS.TS Lê Đình Thủy

Hà Nội, 2010

Trang 4

Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Lê Đình Thủy

Trang 6

ĐẶT VẤN ĐỀ

Khu bảo tồn thiên nhiên (KBTTN) Hang Kia - Pà Cò thuộc địa phận hành chính của 5 xã: Hang Kia, Pà Cò, Tân Sơn, Bao La, Cun Pheo, thuộc huyện Mai Châu, tỉnh Hoà Bình Khu BTTN có tổng diện tích 6.462 ha, là vùng rừng thượng nguồn sông Mã và sông Đà, là vùng tiếp giáp của tỉnh Hòa Bình với Sơn La và Thanh Hóa Khu vực có địa hình hiểm trở, nhiều núi cao, nhiều thung lũng nhỏ bị chia cắt nên rừng trong Khu bảo tồn cũng bị chia cắt thành nhiều mảnh, nhiều kiểu rừng, nhiều trạng thái khác nhau Theo những công trình đã công bố nghiên cứu bước đầu ở khu BTTN thì khu vực này rất phong phú về tài nguyên rừng, kể cả động vật và thực vật, đặc biệt là sự có mặt của các loài động thực vật đặc hữu, quý hiếm như: Thông Pà Cò

Cho tới nay, chỉ có rất ít tài liệu điều tra, đánh giá về tài nguyên sinh vật của khu BTTN Hang Kia-Pà Cò Các công trình nghiên cứu này phần lớn mới dừng lại ở mức độ điều tra đánh giá sơ bộ nhằm phục vụ cho việc xây dựng Luận chứng, chưa đánh giá một cách đầy đủ, có hệ thống và toàn diện tài nguyên động vật trong khu vực Cũng chính vì vậy mà chưa có công trình nào chuyên nghiên cứu về chim của khu vực, đặc biệt là đánh giá một cách toàn diện về các yếu tố ảnh hưởng, tác động đến thành phần loài và cấu trúc của khu hệ chim ở khu BTTN Hang Kia - Pà Cò

Nhằm cung cấp thêm cơ sở khoa học cho việc đề xuất các giải pháp quản lý bền vững tài nguyên động vật, trong đó có tài nguyên chim rừng của khu vực, được sự phê duyệt của khoa Sau đại học, trường Đại học Lâm Nghiệp, chúng tôi đã tiến hành thực hiện đề tài: "Nghiên cứu khu hệ chim, đề xuất các biện pháp quản lý và sử dụng bền vững tài nguyên chim ở khu Bảo tồn thiên nhiên Hang Kia - Pà Cò, huyện Mai Châu, tỉnh Hòa Bình"

Trang 7

Mục đích của đề tài nhằm đánh giá một cách tương đối hoàn thiện đặc điểm Khu hệ Chim rừng khu BTTN bao gồm:

- Đánh giá đầy đủ về thành phần loài; tính đa dạng của khu hệ trong cấu trúc thành phần loài

- Giá trị bảo tồn nguồn gen và giá trị kinh tế của các loài trong khu hệ

- Các nhân tố ảnh hưởng đến khu hệ

- Đề xuất các giải pháp quản lý bền vững tài nguyên chim của khu BTTN

Trang 8

Chương 1 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1.1 Lược sử nghiên cứu chim ở miền Bắc Việt Nam

Trước năm 1945, hầu hết các nghiên cứu về chim đều được thực hiện bởi các nhà khoa học nước ngoài Đặc biệt là các tác giả người Pháp, trong đó

có 2 tác giả đáng quan tâm nhất là Delacour và P.Jabouille (1939) Từ năm

1945 đến 1954, nghiên cứu về chim đều bị gián đoạn do chiến tranh

Sau 1954, các công trình nghiên cứu về chim mới được thực hiện trở lại Đáng chú ý là các công trình nghiên cứu của các tác giả:

Năm 1971, Võ Quý đã công bố công trình “Sinh học các loài chim thường gặp ở Việt Nam”[9], đó là kết quả tổng hợp nghiên cứu hơn 7 năm về đời sống của các loài chim phổ biến ở miền Bắc Việt Nam Trong cuốn sách này tác giả đã trình bày đầy đủ các đặc điểm về nơi ở, thức ăn, sinh sản và một số tập tính khác của gần 200 loài chim ở miền Bắc Việt Nam

Năm 1975 và 1981, Võ Quý đã xuất bản công trình: “Chim Việt Nam, hình thái và phân loại (tập I, II)” [11] Đây là công trình nghiên cứu về hình thái và phân loại chim Việt Nam đầy đủ nhất từ trước đến nay Năm 1983, Võ Quý đã cho xuất bản công trình: “Danh sách Chim Việt Nam Khu hệ và sinh thái động vật Việt Nam” bằng tiếng Nga

Năm 1999 Võ Quý, Nguyễn Cử đã xuất bản “Danh lục chim Việt Nam” [10], bảng danh lục gồm 19 bộ, 81 họ và 828 loài chim đã tìm thấy ở Việt Nam tính đến năm 1995 Với mỗi loài, các tác giả đã đưa ra các đặc điểm về hiện trạng và vùng phân bố của chúng

Năm 2000, cuốn “Chim Việt Nam” [7], của tập thể các tác giả Nguyễn

Cử, Lê Trọng Trải, Karren Phillips được biên soạn trên cơ sở “Chim Hồng Kông và Nam Trung Quốc” (1994) của các tác giả Clive Viney, Lam Chin

Trang 9

Ying và Karren Phillips Trong sách, các tác giả đã giới thiệu khoảng 500 loài chim trong tổng số khoảng 850 loài chim hiện ghi nhận ở Việt nam Mỗi loài tác giả trình bày các nội dung: Mô tả, phân bố, tình trạng, nơi ở và có kèm theo ảnh minh hoạ Đây là một trong những cuốn sách được sử dụng phổ biến

để nhận dạng các loài chim ngoài thực địa hiện nay

Năm 2007, Lê Đình Thuỷ đã công bố 164 loài chim trong 5 bộ của 19

bộ chim Việt Nam, bao gồm: Bồ nông Pelecaniformes, Hạc Ciconiiformes, Ngỗng Anseriformes, Sếu Gruiformes, Rẽ Charadriiformes Công trình này được xuất bản trong bộ sách Động vật chí Việt Nam: “Chim Việt Nam-Aves" (Nxb Khoa học và Kỹ thuật, Hà Nội, 2007” Trong đó có nhiều loài chim phân bố ở miền Bắc Việt Nam

Những năm gần đây, nhiều dự án bảo tồn đa dạng sinh học ở Việt Nam được tài trợ từ quỹ hỗ trợ của chính phủ nước như: Hà Lan, Úc, Đức từ các

tổ chức phi chính phủ: Tổ chức bảo tồn chim Quốc tế (Birdlife international),

tổ chức bảo vệ động thực vật Quốc tế (IUCN), quỹ Quốc tế về bảo vệ thiên nhiên (WWF), Ngân hàng Thế giới (WB)…Do vậy mà công tác nghiên cứu, bảo tồn đa dạng sinh học ở nước ta ngày càng được quan tâm Cho đến nay tại hầu hết các Vườn quốc gia (VQG), khu BTTN của Việt Nam, công tác điều tra cơ bản tài nguyên sinh vật, trong đó có tài nguyên chim đã được tiến hành

1.2 Những công trình nghiên cứu đã công bố về tài nguyên sinh vật nói chung, nghiên cứu chim nói riêng ở khu bảo tồn thiên nhiên Hang Kia-

Pà Cò

Cho tới nay, chỉ có rất ít tài liệu điều tra, đánh giá về Tài nguyên sinh vật của khu BTTN Hang Kia-Pà Cò Cơ sở dữ liệu đầu tiên về tài nguyên sinh vật được trình bày trong “Luận chứng kinh tế kỹ thuật khu BTTN Hang Kia-

Pà Cò huyện Mai Châu, tỉnh Hoà Bình” do Chi cục Kiểm lâm tỉnh Hoà Bình

Trang 10

và Liên đoàn qui hoạch thiết kế tổng hợp -Viện Điều tra qui hoạch rừng thực hiện tháng 3 năm 1993

Gần đây tài nguyên sinh vật của khu BTTN Hang Kia-Pà Cò được điều tra bổ sung trong dự án: “Đầu tư, xây dựng và phát triển rừng khu BTTN Hang Kia- Pà Cò, huyện Mai Châu thuộc dự án trồng mới 5 triệu ha rừng năm 2005-2010” do Chi cục Kiểm lâm tỉnh Hoà Bình thực hiện

Kết quả đã ghi nhận tại khu vực có 64 loài thú thuộc 8 bộ và 24 họ; 146 loài chim, thuộc 15 bộ, 46 họ Trong công trình này các tác giả đã sơ bộ đánh giá hiện trạng và phân bố của một số loài theo các dạng sinh cảnh của khu vực Đặc biệt đã ghi nhận 8 loài chim quý hiếm và có giá trị kinh tế có mặt trong khu vực, như: Diều hoa Miến Điện (Spilornis cheela); Gà so ngực gụ (Arborophila charltonii); Gà lôi trắng (Lophura nycthemera) Mặc dù các thông tin thu được về hiện trạng, phân bố của các loài quý hiếm chủ yếu là qua thông tin từ thợ săn, danh sách các loài ghi nhận còn hạn chế, có thể nói đây là công trình khá đầy đủ về Khu hệ chim khu vực cho đến nay Nhìn chung, các công trình trên còn chưa đề cập đến các nhân tố ảnh hưởng tới tài nguyên rừng, đặc biệt là chim rừng của khu vực Vì vậy những nghiên cứu bổ sung của đề tài này là hết sức cần thiết, đáp ứng nhu cầu thực tế đặt ra

Trang 12

Chương 2

ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN, KINH TẾ - XÃ HỘI KHU VỰC NGHIÊN CỨU

2.1 Sơ lược lịch sử hình thành và phát triển Khu BTTN Hang Kia- Pà cò

Khu BTTN Hang Kia - Pà Cò là một trong các khu BTTN của hệ thống rừng đặc dụng Việt Nam, được thành lập theo Quyết định số 194/CT ngày 9/8/1986 của Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng (nay là Thủ tướng Chính phủ) và

Uỷ ban nhân dân tỉnh Hà Sơn Bình ra quyết định 330 QĐ/UB ngày 16 tháng

10 năm 1990 về việc thành lập Trạm Quản lý bảo vệ rừng Hang Kia - Pà Cò

2.2 Điều kiện tự nhiên

2.2.1 Vị trí địa lý

+ Địa giới:

Khu BTTN Hang Kia - Pà Cò nằm về phía tây bắc tỉnh Hòa Bình thuộc phạm vi của 5 xã là: Hang Kia, Pà Cò, Cun Pheo, Bao La và Tân Sơn thuộc huyện Mai Châu tỉnh Hòa Bình Khu BTTN nằm trọn trong hai xã vùng cao Hang Kia, Pà cò và một dải rừng trên núi đá vôi còn sót lại (có diện tích không đáng kể) của ba xã Tân Sơn, Cun Pheo và Bao La, chạy dọc theo ranh giới với khu bảo tồn thuộc địa phận xã Tân Sơn và Hang Kia

Trang 13

Phía Tây giáp Xuân Nha, Lóng Luông của huyện Mộc Châu, tỉnh Sơn La

Khu vực phía Tây Bắc khu bảo tồn có độ cao trung bình trên 1.100m, đỉnh Pà Khốm 1.526m là đỉnh cao nhất của khu bảo tồn Vùng giữa và phía Đông Khu bảo tồn có độ cao thấp hơn, trung bình 800 - 1.000m

Địa hình khu bảo tồn phần lớn là sườn và dông của 4 hệ thống núi chính: + Hệ thống núi đá vôi xen núi đất chạy từ Pà Háng lớn tới xóm Cang, chạy dọc ranh giới xã Pà Cò với xã Lóng Luông của tỉnh Sơn La

+ Hệ thống núi đá vôi là ranh giới giữa xã Pà Cò và xã Hang Kia + Hệ thống núi đá vôi xen núi đất chạy theo hướng từ Bản Cang tới Thung Ẩn, Thung Mặn

+ Hệ thống núi đá vôi xen núi đất chạy theo hướng từ Xà Lính xã Pà

Cò tới Bò Báu của xã Tân Sơn và Bao La, Piềng Vế

Các hệ thống núi trên có hướng từ Tây Bắc xuống Đông Nam Xen

kẽ các dông núi là các thung lũng hẹp và các dải đất dốc tụ chân núi đá, đây là phần đất canh tác quan trọng của đồng bào H’Mông, Thái, Mường của các xã vùng cao này

Địa hình trong Khu bảo tồn không chỉ bị chia cắt do các dãy núi mà còn bị chia cắt bởi nhiều dông núi phụ xuất phát từ các dãy núi trên phát triển

Trang 14

về hai bên tạo ra các thung, áng, khe suối cạn và các hố hút nước (do hiện tượng Caster) của vùng núi đá vôi tạo nên

Khu bảo tồn có độ dốc trung bình 20-250, nhiều nơi có độ đốc >350, rất khó đi lại

Nhìn chung, địa hình khu bảo tồn thuộc loại trung và tiểu địa hình vùng núi Càng vào sát các đỉnh núi đá vôi, núi càng cao và độ dốc càng lớn, có nhiều sườn núi đá, vách đá dựng đứng Địa hình phức tạp và bị chia cắt mạnh

là yếu tố quan trọng tạo nên sự đa dạng về địa hình, dạng sinh cảnh và thảm thực vật là cơ sở tạo nên tính đa dạng sinh học cao của khu BTTN

b Đá mẹ

Đá mẹ trong khu BTTN có 3 nhóm chính:

- Đá Trầm tích, Đá vôi, Cuội sỏi kết là đại diện cơ bản, phân bố rộng khắp

- Đá Mácma axít, với các loại đá phổ biến như Granit, Sa thạch khối, Phấn sa, Đá sét… phân bố rải rác trong KBT

- Đá biến chất với nhiều loại khác nhau, chiếm diện tích nhỏ

Trang 15

Trừ hệ thống núi đá vôi phân bố theo dải, còn các loại đá mẹ khác: Đá sét, Phiến thạch sét, Phấn sa, Sa thạch thô, Cuội kết thường không đại diện, thường phân bố theo vệt, theo vùng nhỏ trên nền Đá vôi cổ Sự đa dạng về đá

mẹ đã tạo ra các loại đất khác nhau, là điều kiện cho nhiều loài cây phát triển

c Thổ nhưỡng

Thổ nhưỡng trong KBTTN Hang Kia - Pà Cò có 5 nhóm đất chính:

- Đất Feralit mùn màu nâu xám trên núi đá vôi, nằm trên đỉnh các núi

đá vôi có diện tích nhỏ (chiếm khoảng 0,3% diện tích) Lớp thảm mục dày trung bình, đất tơi xốp, tầng đất mỏng (15-30cm) và giàu dinh dưỡng, tỉ lệ mùn từ 3 - 5%

- Đất dốc tụ chân núi đá vôi trong thung lũng (chiếm khoảng 4,9% diện tích) Đất được dồn tụ từ các sườn núi do quá trình rửa trôi và bào mòn tích tụ lại, tầng đất dầy ( >100cm), có nơi đất dầy 3 -5m mang theo các sản phẩm phong hóa từ đá vôi, đất giàu dinh dưỡng, tơi xốp, lớp mặt màu nâu đen, thành phần cơ giới thịt nhẹ

- Đất dốc tụ chân núi đá sét (chiếm khoảng 30,8% diện tích) Loại đất này phổ biến ở vùng chân núi đá, tầng mặt bị xói mòn, đất feralit màu đỏ vàng, thành phần cơ giới thịt nhẹ và trung bình, tỉ lệ đá lẫn cao 10 - 30%, tầng đất mỏng

- Đất Feralit xám trên đá mẹ Phiến sét (chiếm khoảng 59,1% diện tích) Nhóm đất này là sản phẩm của phong hóa từ Đá phấn sét, thành phần

cơ giới chủ yếu là thịt trung bình và thịt nặng, đất tương đối tơi xốp, không rời rạc, có tính dính Tuy nhiên vì bị khô liên tục đất thường cứng, khó canh tác Đất này thường phù hợp với một số cây trồng Lâm nghiệp như Lát, Thông tầng đất thường mỏng ở những nơi dốc lớn và đỉnh Tỉ lệ đá lẫn 10

- 30%, tỉ lệ mùn 1 - 1,5%

Trang 16

- Đất Feralit xám trên nền Sa thạch (chiếm khoảng 4,9%) Nhóm đất này có màu sắc đặc trưng xám trắng, sản phẩm của khoáng vật: Thạch anh, Fenspat, Limonit Thành phần cơ giới chủ yếu thịt nhẹ và thịt pha cát, đất tơi xốp, dễ canh tác, tính thấm nhanh, tính giữ nước khá, hơi rời rạc, dễ bị rửa trôi và xói mòn mặt Tỉ lệ đá lẫn 10 - 30%, tỉ lệ mùn 1 - 2%

Nhìn chung đất trong khu vực là đất sét nhẹ tới đất thịt nhẹ, màu nâu vàng hay vàng nhạt, tầng đất dày, có thành phần cơ giới từ nhẹ đến trung bình Đất tơi, xốp, có độ ẩm thấp tới trung bình; kết cấu viên nhỏ và có tầng mùn trung bình, dễ bị rửa trôi, dễ khô cứng

Đất ở nơi mất rừng rất dễ bị rửa trôi, thoái hoá nhanh đặc biệt trên núi

đá vôi, rất khó cho quá trình và phục hồi phát triển thảm thực vật rừng

Đất ở nơi còn rừng, hay nơi đất còn tính chất đất rừng rất thuận lợi cho quá trình phát triển và phục hồi thảm thực vật rừng

2.2.4 Khí hậu thuỷ văn

a Khí hậu

Theo tài liệu của trạm khí tượng thủy văn huyện Mai Châu thì khu BTTN nằm trong khu vực nhiệt đới gió mùa vùng núi cao có:

+ Khí hậu khu vực chia 2 mùa rõ rệt Mùa nóng từ tháng 5 tới tháng 9

có nhiệt độ bình quân 20 - 250C, Mưa to thường tập trung vào mùa nóng, chiếm 85 - 90% lượng mưa cả năm, độ ẩm mùa nóng trung bình 80 - 85%

Mùa lạnh từ tháng 10 tới tháng 4 năm sau, trong mùa lạnh nhiệt độ thường thấp hơn 200C Trong các đợt rét nhiệt độ thường xuống dưới 130C và

cá biệt có khi xuống tới 3 - 50C Mùa lạnh tuy có lượng mưa chỉ chiếm 15% lượng mưa cả năm nhưng không khô, độ ẩm khá cao, thường 70 - 80%

10-và nhiều ngày có sương mù, ẩm ướt

Trang 17

+ Lượng mưa trung bình 1.700 - 2.000 mm Mùa mưa tập trung thường gây ra ngập úng cục bộ trong thời gian ngắn ở các thung, khe hoặc quanh các

lỗ hút xuống sông suối ngầm Mùa lạnh, nước ở các khe suối thường cạn kiệt, đôi chỗ còn các đám sình lầy, nước ngọt chủ yếu còn trong các mỏ

+ Sương mù: Thường xuất hiện trong tháng 1 và 2 hàng năm

+ Sương muối: Rất ít xuất hiện trong khu vực

+ Gió: Hướng gió thịnh hành là Đông Bắc, Đông Nam Hàng năm vào các tháng 4 – 8, đôi khi có gió Tây khô nóng xuất hiện mỗi đợt 2 - 4 ngày với tốc độ gió 10 - 15m/g

+ Mưa đá: Tần suất xuất hiện mưa đá rất nhỏ

b Thuỷ văn

Trong khu bảo tồn không có sông, suối lớn Đáng chú ý là hệ thống các suối nhỏ đón nước từ dãy núi ranh giới với tỉnh Sơn La và giữa các xã Pà Cò với Hang Kia đổ xuống vùng trung tâm Các suối kể trên có đoạn lộ, đoạn mất, không thường xuyên có nước Mật độ suối thấp, do độ dốc lớn và có nhiều hút nước, sông ngầm, hang động vùng đá vôi nên chỉ có lũ cục bộ trong những ngày mưa lớn và rất ít nước vào mùa khô

Tóm lại : Khu bảo tồn thuộc vùng cao núi đá vôi của huyện Mai Châu,

có khí hậu nhiệt đới gió mùa Có hai mùa trong năm, mùa nóng nhiệt độ cao và mưa nhiều, mùa đông có nhiệt độ thấp, lạnh và ẩm, riêng mùa đông lại có sương mù nên ít gây hại tới sinh trưởng và phát triển của của các loài thực vật

2.2.5 Thực vật rừng

a Thảm thực vật

Dựa trên kết quả điều tra thực tế, kết hợp với Luận chứng kinh tế kỹ thuật của khu bảo tồn, theo thang phân loại thảm thực vật rừng của Thái Văn

Trang 18

Trừng (1978), có thể thống kê trong Khu BTTN Hang Kia - Pà Cò có 8 kiểu rừng chính:

- Rừng kín thường xanh mưa ẩm nhiệt đới

Kiểu rừng này có diện tích nhỏ, phân bố tập trung ở phía Đông Bắc xã Tân Sơn, sát với xã Đồng Bảng, phía Đông Bắc của KBT, nằm trên đỉnh các núi thấp, dọc bên trái theo tuyến đường ô tô từ trụ sở Ban quản lý (BQL) khu BTTN tới ranh giới với xã Đồng Bảng Thành phần thực vật đa dạng, với nhiều loài có giá trị như:

+ Cây gỗ gồm: Bời lời nhớt, Gội nếp, Trường sâng, Giổi lá mỡ, Gáo bi, Chò nhai, Chò xanh, Côm tầng, Ong bù, Dạ nâu, Vàng anh, Cứt ngựa, Cà Muối, Chò đãi, Chẹo, Cà lồ, Dẻ gai bắc bộ, Dâu da xoan, Dung Giấy, Đỏm gai, Đại phong tử, Gạo, Mãi táp, Hoắc quang, Hà nu, Đáng, Sồi Hồng, Kiêng quang, Dẻ gai ấn độ, Lim xẹt, Kháo tầng, Gội gác, Dẻ cau, Lòng mang, Dền, Màu cau the, Màu cau quạ, Mùng quân rừng, Nhò vàng (Mạy tèo), Thôi ba, Thẩu tấu, Thanh thất, Xoan nhừ, Sấu Đôi nơi còn có những cây gỗ tốt điển hình như: Đinh, Trai, Giổi, Táu mật, Vàng tâm, Rè vàng

+ Cây bụi gồm: Lá han, Gai dại, Bọ mắm, Cây áng sơn, Lấu, Găng gai,

Bồ cu vẽ, Bọt ếch, Hèo gân dày, Phèn đen, Quanh châu, Mua, Bỏng nổ và nhiều loài cây khác

+ Tầng thảm tươi có: Thu hải đường, Ráy, Gai dại, Tắc kè đá, nhiều loài Quyết thực vật, Cỏ lá, Cao cẳng, Cỏ đĩ, Nứa đặc phân bố thưa thớt

+ Thực vật ngoài tầng gồm: Đùng đình, Cọ xẻ, dây Đồng tiền, dây Muồng, dây Mỏ quạ, dây Móc câu, dây Sống rắn, dây Dất na, Dất nhung, Móc hùm, Móc mèo, Dây gắm, Móng bò, Dây bướm, dây Móng bò, một số loài phong lan

Ưu hợp thực vật điển hình ở loại rừng này bao gồm:

Trang 19

+ Ưu hợp: Kháo, Re hương, Dẻ, Lim xẹt, Trường, Dâu da

+ Ưu hợp: Chẹo, Xoan hương, Ba soi, Nóng sổ, Ong bù, Hoắc quang

- Rừng kín thường xanh nhiệt đới trên đá vôi xương xẩu

Kiểu rừng này nằm ở các thung lũng hẹp dưới chân núi đá vôi, hoặc trên sườn, đỉnh các dải núi đá vôi có độ cao < 700m thuộc các xã trong khu bảo tồn

Đặc điểm chung của kiểu rừng này là tuy rừng còn nhưng trữ lượng thấp vì những cây tốt, cây to đã bị khai thác, mật độ cây trung bình 500 – 700 cây/ha, độ khép tán đạt từ 0,5 - 0,7 Cây có kích thước tương đối nhỏ, Hvn

=10 - 15m, D1.3 = 18 - 25 cm

Quần xã thực vật điển hình ở kiểu rừng này là:

+ Ưu hợp: Nghiến - Trai lý - Chò nhai - Gội - Thôi chanh - Mạy tèo -

Ô rô Hiện nay chỉ còn ở phía Bắc bản Thung Ản, trạng thái rừng ở đây được ghi nhận IIIA1 và IIIA2

+ Ưu hợp: Trai - Trường sâng - Dẻ - Kháo - Mạy tèo - Tiêng Ưu hợp này phân bố khá rộng ở Tân Sơn, Pà Cò, trạng thái rừng ở đây được ghi nhận IIIA1 và IIIA2, tầng rừng có kết cấu 3 tầng khá rõ

+ Ưu hợp: Cà Lồ - Trường sâng - Đa - Dẻ - Kháo - Ong bù - Nóng sổ

Ưu hợp này phân bố ở chân các núi đá vôi trong khu vực Tân Sơn, Hang Kia

và tập trung nhiều quanh thung Nước Lụt, Thung Mái, Trạng thái rừng ở đây được ghi nhận IIIA1, tầng rừng có kết cấu 2 tầng khá rõ

+ Thị rừng - Dẻ - Kháo - Xoan nhừ - Dâu da xoan - Mạy tèo Ưu hợp này phân bố xen kẽ với ưu hợp Cà Lồ và thường ở chân - sườn hay đỉnh các núi đá vôi trong khu vực Tân Sơn, Hang Kia Trạng thái rừng ở đây được ghi nhận IIIA1, tầng rừng có kết cấu 2 tầng khá rõ Tầng cây bụi thảm tươi dày, xuất hiện Ráy, Chàm, Đơn buốt

Trang 20

+ Ưu hợp Dẻ, Trâm, Kháo, Sơn rừng, Trương vân, Thông Pà Cò, Thông Tre, Đỗ quyên Ưu hợp này hiện nay chỉ còn ở khu vực đỉnh dông núi

đá vôi từ bản Cang chạy lên Pà Háng Lớn mà trung tâm là quanh đỉnh Pà Cò rừng ở đây còn khá tốt, trạng thái rừng ở đây được ghi nhận IIIA1

- Rừng kín thường xanh á nhiệt đới núi thấp trên đá vôi xương xẩu

Kiểu rừng này phân bố khá rộng, nhưng tập trung nhiều quanh khu vực

từ bản Hang Kia đi bản Thung Ẳng, Thung Mặn và chạy dọc ranh giới xã Pà

Cò với xã Lóng Luông tỉnh Sơn La

Đặc điểm chung của kiểu rừng này là: Có độ khép tán đạt TB 0,5 - 0,8 Chiều cao tầng cây gỗ 10 - 15m Đường kính cây phần lớn 20 - 22cm, nhiều cây cá biệt gỗ xấu còn lại có đường kính 50 - 80cm Rừng non có thành phần cây chính không khác nhiều so với rừng loại IIIA1 nhưng kích thước đường kính, chiều cao, mật độ nhỏ hơn, tỷ lệ cây ưa sáng nhiều hơn Các chỉ số D1.3, Hvn, mật độ cây tăng dần theo chiều tăng trạng thái rừng Tầng A1 bao gồm một số loài cây cao, to như: Trường sâng, Dâu da xoan, Giổi găng, Re hương, Re bầu, Bạc tán Tầng A2 gồm nhiều loài cây phổ biến của vùng núi Sơn La, phân bố ở đây như: Tô hạp, Vối thuốc, Súm đá, Giổi găng, Giổi bà,

Dẻ gai Trung quốc, Dẻ gai ấn độ, Dẻ cau, Re hương, Lòng Trứng, Chắp xanh, Thôi chanh, Chè lá ròn, Chè Sim, Cà muối

- Rừng kín thường xanh mưa ẩm á nhiệt đới núi thấp

Kiểu rừng này phân bố trên độ cao 700 m trở lên ở các xã Tân Sơn, Bao La

và Cun Pheo Thực vật bao gồm các loài thuộc các họ Alangiaceae, Araliaceae, Juglandaceae, Juglandaceae Magnoliaceae, Theaceae, Lauraceae, Fagaceae

Đặc điểm chung của trạng thái rừng: Độ khép tán đạt TB 0,5 - 0,8 Chiều cao tầng cây gỗ 12 - 15m Đường kính cây phần lớn 20 - 25cm, nhiều

Trang 21

cây cá biệt còn lại có đường kính 50-80cm Bao gồm một số loài cây: Re hương, Re bầu, Bạc tán, Kháo nhớt, Kháo tầng, Trường sâng, Dâu da xoan, Giổi găng, Dẻ cau, Sồi bànĐinh, Nhội, Lòng mang, Trâm, Trám trắng, Trám

ba cạnh, Thị đá, Nanh chuột, Đa, Si

- Rừng thứ sinh phục hồi sau nương rẫy và sau khai thác

Phân bố chủ yếu ở xã Tân Sơn Bao gồm rừng thứ sinh phục hồi sau nương rẫy nhiệt đới và rừng thứ sinh phục hồi sau khai thác á nhiệt đới núi thấp Mặc dù chúng được hình thành ở 2 kiểu rừng khí hậu khác nhau nhưng đều là sản phẩm sau sự tác động mạnh của con người nên cấu trúc của rừng không khác nhau nhiều Thành phần loài và cấu trúc rừng đơn giản, bao gồm các loài sau : Trường sâng, Cứt ngựa, Cà Muối, Chò đãi, Chẹo, Cà lồ, Dẻ gai bắc bộ, Dâu da xoan, Dung giấy, Đỏm gai, Đại phong tử, Gạo, Mãi táp, Hoắc quang, Hà nu, Đáng, Sồi hồng, Kiêng quang, Dẻ gai ấn độ, Lim xẹt, Kháo tầng, Gôi gác, Dẻ cau, Lòng mang, Dền, Màu cau the, Màu cau quạ, Mùng quân rừng, Nhò Vàng (Mạy tèo), Thôi ba, Thẩu tấu, Sung quả nhỏ, Sảng lá to, Sâng xoan, Thị rừng, Thôi ba, Thẩu tấu, Thanh thất, Xoan nhừ, Sấu, Ngái, Thành ngạnh, Re bầu, Re hương, Vả, Dâu rừng, Trám trắng, Trám ba cạnh

- Rừng trồng

Rừng trồng có diện tích 10,3 ha, chiếm 0,2% diện tích tự nhiên, phân

bố trên địa phận xã Cun Pheo, Pà Cò và Tân Sơn Loài cây trồng chủ yếu là Keo và Bạch đàn Do mới được gây trồng nên cây rừng còn nhỏ Đường kính bình quân 5-7 cm, chiều cao bình quân 7-9 m với tầng tán liên tục Việc phục hồi lại rừng ở đây ngoài biện pháp khoanh nuôi, bảo vệ lợi dụng tái sinh tự nhiên, có thể tiến hành trồng rừng bằng các loài cây bản địa như Thông pà cò, Chò chỉ, Giổi xanh, Trai, Nghiến

Trang 22

- Trảng cỏ, cây bụi, cây gỗ rải rác

Kiểu thảm này có 235,0 ha, chiếm 3,6% tổng diện tích tự nhiên của khu bảo tồn và phân bố rải rác khắp các khu vực, ở cả 2 vành đai độ cao, nhưng tập trung hơn cả vẫn là ở đai rừng á nhiệt đới Các loài cỏ phổ biến trong kiểu thảm này là: Cỏ tranh, Cỏ rác, Cỏ lá tre cao, Cỏ chân nhện, Cỏ lau, Cỏ chít,

Cỏ lào, Đơn buốt, Ngải cứu Do bị tàn phá nặng nên nguồn cây mẹ và nguồn giống tái sinh của các loài cây gỗ rất ít Bởi vậy, khả năng phục hồi rừng tự nhiên trên những diện tích này đòi hỏi phải có một thời gian dài

- Khu nông nghiệp và dân cư

Diện tích 1.334,4 ha, chiếm 21,3% tổng diện tích tự nhiên Hệ sinh thái đồng ruộng nương rẫy trong khu vực nghiên cứu nằm rải rác Ruộng nước bậc thang ở dọc các mỏ nước, dọc các suối gần dân cư Nương lúa, sắn, rong riềng

ở rất xa và thường bám vào chân các núi đá có rừng, ở sâu trong rừng của khu bảo tồn Cây trồng chủ yếu ở đây là cây lương thực ngắn ngày như: Lúa nước, Lúa nương, Ngô, Lạc, Đỗ xanh, Khoai sọ, Khoai lang, Vừng, Rong riềng, Đỗ tương, Dưa, Dứa, Mía, Vừng, Rau cải Cây công nghiệp không đáng kể

Các làng xóm nằm rải rác trong tất cả các xã, nhưng chủ yếu nằm ở thung lũng chân các dải núi đá vôi hay núi đất nơi có các mó nước Làng bản nằm rải rác trong rừng, không tập trung trừ hai bản Thung Ẳng, Thung Mặn là dân cư ở tập trung đông đúc Trong khu đan cư làng xóm, người dân thường chăn nuôi gia súc thả rông và trồng nhiều các loài cây nông nghiệp, cây ăn quả, cây làm thuốc như: Nhãn Vải, Cam, Chanh, Mía, ổi, Xoài, Mận, Mít, Hồng, Vông nem, Bưởi, Chuối, Cây hoa, Cây cảnh Quanh các miếu thờ của các gia đình, dòng họ, làng xóm còn giữ được một số cây rừng như: Nghiến, Đăng, Đinh, Bồ hòn, Đa, Sanh, Dẻ, Giổi, Xoan nhừ, Ruối

Trang 23

b Hệ thực vật

Qua các tài liệu đã công bố của các tác giả nghiên cứu về thực vật Hệ thực vật bậc cao ở khu BTTN Hang Kia - Pà Cò được chúng tôi thồng kê ở bảng 2.1 sau đây:

Bảng 2.1: Tài nguyên thực vật rừng KBTTN Hang Kia - Pà Cò

Theo Sách đỏ Việt Nam, 2007 (phần thực vật), KBTTN Hang Kia –

Pà Cò có 50 loài có tên trong danh sách các loài thực vật quý hiếm Trong

đó gồm 18 loài đang nguy cấp (EN), 29 loài ở mức độ sẽ nguy cấp (VU), 3 loài rất nguy cấp (CR)

Những loài đặc trưng của khu vực là Thông đỏ, Thông Pà Cò, Nghiến, Trai, Đinh, Thông tre, Pơ mu… Các loài cây quí, hiếm, bị đe dọa này cần có

sự bảo vệ đặc biệt góp phần làm tăng giá trị của hệ thực vật và vai trò của công tác bảo vệ và phát triển tài nguyên rừng

Trang 24

2.2.6 Khu hệ động vật

Theo kết quả điều tra năm 1993, 2008 của Chi cục Kiểm Lâm Hoà Bình, Viện ĐTQH rừng thuộc Bộ nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Viện Sinh thái & Tài nguyên sinh vật, thành phần phân loại học của 4 lớp (Thú, Chim, Bò sát, ếch nhái) tại khu BTTN Hang Kia - Pà Cò được chúng tôi thống kê trong bảng 2.2 sau đây:

Nguồn: ( Báo cáo đa dạng sinh học khu bảo tồn thiên nhiên Hang Kia-Pà Cò năm 2008)

2.3 Kinh tế, văn hóa và xã hội

2.3.1 Dân tộc, dân số và lao động

Khu BTTN nằm trên địa bàn 5 xã bao gồm Hang Kia, Pà Cò, Tân Sơn, Cun Pheo và xã Bao La Theo số liệu thống kê đến tháng 5 năm 2010 toàn khu có tổng số dân là 11.188 người sống trong 2.230 hộ gia đình Nơi đây tập trung 4 dân tộc cùng chung sống Dân tộc H’Mông chiếm tỷ lệ nhiều nhất với 44,4%; tiếp đến là dân tộc Mường 43,2%; dân tộc Thái chiếm 8,7%, dân tộc kinh chiếm 3,7%.Trong những năm qua, do thực hiện tốt công tác kế hoạch hóa gia đình nên mức độ gia tăng dân số tự nhiên đạt ở mức 1,2% Mật

Trang 25

độ dân số bình quân đạt 85,5 người/km2 Dân số phân bố không đều, tập trung chủ yếu ở trung tâm các xã

Tổng số lao động là 5.301 người chiếm 47,4% tổng số nhân khẩu, trong

đó lao động nông lâm nghiệp là chủ yếu (92,5% tổng số lao động) Lực lượng lao động qua đào tạo, có trình độ chuyên môn kỹ thuật chiếm tỷ lệ thấp khoảng 5% Điều đó đã ảnh hưởng đến hiệu quả lao động trong các ngành nghề trên địa bàn

2.3.2 Các hoạt động kinh tế chủ yếu

a, Trồng trọt

Sản xuất nông nghiệp là ngành sản xuất chính chiếm vị trí quan trọng trong cơ cấu kinh tế của các xã có khu bảo tồn, là nguồn thu nhập chủ yếu của các hộ sản xuất nông nghiệp, trong nông nghiệp trọng tâm là trồng trọt

và chăn nuôi gia súc gia cầm Cây trồng chủ yếu là cây lương thực, cây màu các loại và một số cây ăn quả dài ngày: cây mận, cây đào Diện tích đất nông nghiệp toàn Khu bảo tồn thiên nhiên là: 2899,5 ha chiếm 21,5 % diện tích tự nhiên Trong đó diện tích trồng cây ăn quả là: 699,2 ha, (riêng xã Hang Kia-Pà Cò là 320 ha) trồng cây lương thực (ngô, lúa) là 2.200,3 ha chiếm 75,8% diện tích đất nông nghiệp, bình quân 1,3 ha/hộ Lương thực đạt 360kg/người /năm

Do đặc điểm địa hình nên nước cho sản xuất nông nghiệp thường bị thiếu về mùa khô nên 85-90% diện tích trồng cây lương thực là 1 vụ Bên cạnh đó, kỹ thuật canh tác còn lạc hậu, khoa học kỹ thuật áp dụng vào sản xuất còn hạn chế, quá trình canh tác còn phụ thuộc nhiều vào thiên nhiên nên năng suất trong trồng trọt tuy có tăng nhưng còn chậm

Trang 26

b, Chăn nuôi

Chăn nuôi đang ngày càng được đầu tư phát triển cả về số lượng và chất lượng theo hướng sản xuất hàng hóa Tuy nhiên, phương pháp chăn nuôi chưa mang tính công nghiệp, chưa có quy mô trang trại mà chủ yếu vẫn theo hình thức hộ gia đình là chủ yếu để giải quyết sức kéo cho sản xuất nông nghiệp và nhu cầu thực phẩm cho nhân dân địa phương

+ Tổng đàn gia súc trên địa bàn Khu BTTN hiện có 16.889 con Trong đó: Đàn Trâu: 2.135 con

Có khoảng 61km đường ô tô rải nhựa hoặc đường đá cấp phối, trong

đó có 10 km đường quốc lộ 6A chạy qua phân khu bảo vệ nghiêm ngặt của khu BTTN Ngoài ra còn hơn 55 km đường dân sinh Nhìn chung, hệ thống đường giao thông khá thuận lợi cho việc đi lại, vận chuyển giữa các xã trong khu BTTN

Trên địa bàn 2 xã Hang kia và Pà Cò, hệ thống thủy lợi hầu như không

có Việc canh tác nông nghiệp của người dân địa phương chủ yếu phụ thuộc vào tự nhiên nên rất bấp bênh Về nước sinh hoạt trong dân có 380 bể chứa

Trang 27

nước, 95 giếng nước, gần 14.000m ống dẫn nước các loại Riêng xã Hang Kia người dân không đào được giếng nước, nên về mùa khô nước sinh hoạt

Đặc điểm văn hóa trong khu bảo tồn là văn hóa mang tính cộng đồng, bản sắc địa phương của một vùng núi ở Tây Bắc Để phát triển cũng như duy trì bản sắc văn hóa của địa phương, thời gian qua, chính quyền các cấp cũng như ngành văn hóa đã quan tâm đầu tư cho các hoạt động văn hóa thông tin

b, Y tế

Các xã đó đều có trạm y tế xây dựng kiên cố hoặc bán kiên cố Hiện tại, các trạm y tế có đầy đủ các phòng chức năng, mạng lưới y tế dần dần được bổ sung: hầu hết các xã đã có Bác sĩ, Y sĩ, Y tá, hộ sinh và các cộng tác viên thôn bản Trang thiết bị để phục vụ cứu chữa bệnh nhân hãy còn thiếu và chưa đồng bộ Trạm xá chỉ đáp ứng được các bệnh nhân nhẹ và các bệnh thông thường còn các bệnh nhân nặng chỉ sơ cứu ban đầu và chuyển lên bệnh viện tuyến trên

Công tác tuyên truyền kế hoạch hoá gia đình đã có hiệu quả đến nay tỉ

lệ tăng dân số là 1,2%

Theo số liệu điều tra thì bình quân cứ 393 người có 1 giường bệnh, 367 người có 1 cán bộ y tế

Trang 28

c, Giáo dục

Hiện tại, các xã đã có trường tiểu học và trường phổ thông cơ sở Trường được xây dựng kiên cố và bán kiên cố, không còn trường, lớp tạm Hiện tượng học ca ba không còn

Duy nhất chỉ có 1 trường cấp II, III ở xã Pà Cò (có một số lớp phổ thông trung học học xen với các lớp Phổ thông cơ sở) Còn lại học sinh phổ thông trung học ở các xã khác phải ra huyện học

Trường mầm non cũng được các cấp chính quyền quan tâm, phần lớn các xã đã có trường mầm mon thu hút ước tính khoảng 82,5% số trẻ trong độ tuổi đến trường Tỷ lệ trẻ em trong độ tuổi đi học giảm dần theo cấp học Tỷ

lệ tham gia theo học ở cấp I (tiểu học) đạt 89,7%, tỷ lệ đậu tốt nghiệp 97% so với đầu vào của học sinh, đến cấp II (phổ thông cơ sở) tỷ lệ theo học 82,5%

so với số em đỗ tốt nghiệp tiểu học, đến cấp III (Phổ thông trung học) thì số lượng theo học giảm hẳn chỉ còn 24,6% Độ tuổi học trung học cơ sở (lớp 8-9) là độ tuổi bỏ học nhiều nhất, do không tự giác trong học tập, do hoàn cảnh

ra đình, do trường xa, do đường đi lại khó khăn

Đội ngũ giáo viên thiếu, mới chỉ đảm bảo 70 - 80% nhu cầu về giáo viên Trình độ không đồng đều, các xã vùng xa chủ yếu là giáo viên địa phương và một số giáo viên tăng cường

2.3.5 Các hoạt động sản xuất khác

Trồng cây thuốc phiện là một tập quán lâu đời của đồng bào H’Mông ở

2 xã Hang Kia và Pà Cò Theo số liệu điều tra thì trước đây diện tích trồng cây thuốc phiện trên địa bàn 2 xã khoảng 350 ha, sản lượng khoảng 1.500kg nhựa Sau khi chính phủ có chương trình xóa bỏ trồng cây thuốc phiện năm

1995 thì hiện nay trên địa bàn không còn trồng nữa, người dân chuyển sang sản xuất nông nghiệp Trong đó phải kể đến cây đào, cây mận Đây là

Trang 29

những cây đã góp phần xóa đói giảm nghèo cho người dân khi xóa bỏ cây thuốc phiện

Các dịch vụ thương nghiệp trong khu vực hầu như không phát triển Ngành nghề truyền thống như thêu không được phát huy, người dân sản xuất nhỏ lẻ không mang tích chất hàng hoá, chủ yếu để sử dụng Năm 2009 được

sự quan tâm của các cấp chính quyền tỉnh và huyện, xã Hang Kia đã mở lớp dạy nghề thêu và dệt cho khoảng 400 chị em phụ nữ do tỉnh Hội phụ nữ thực hiện Ngoài ra chương trình nâng cao năng suất cây trồng cho bà con cũng được quan tâm và đang thực hiện như chương trình trồng cây ngô đông do trung tâm giống cây trồng tỉnh Hòa Bình đầu tư giống và kỹ thuật, Chi cục Định canh định cư hỗ trợ vốn sản xuất Năm 2008 đã trồng thử nghiệm thành công, năm 2009 đã đầu tư trồng khoảng 5,0 ha ngô thu đông

Trang 30

Chương 3 MỤC TIÊU, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 3.1 Mục tiêu

- Xác định tương đối đầy đủ một số đặc điểm cơ bản của Khu hệ chim KBTTN Hang Kia- Pà Cò về các mặt: Thành phần loài; Tính đa dạng phân loại học; Giá trị bảo tồn; Phân bố của các loài theo các dạng sinh cảnh;

- Xác định được các nhân tố ảnh hưởng chính tới tài nguyên chim khu vực Đề xuất các giải pháp bảo tồn tài nguyên chim ở khu BTTN Hang Kia - Pà Cò

3.2 Đối tượng, địa điểm và thời gian nghiên cứu

3.2.1 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của đề tài là các loài chim rừng tại KBTTN Hang Kia- Pà Cò và các dạng sinh cảnh sống của chúng

3.2.2 Địa điểm nghiên cứu

Đề tài được nghiên cứu tại Khu bảo tồn thiên nhiên Hang Kia- Pà

Cò (huyện Mai Châu, tỉnh Hòa Bình), tập trung chủ yếu tại 2 xã: Hang Kia và Pà Cò

3.2.3 Thời gian nghiên cứu

Thời gian thực hiện đề tài từ tháng 3 đến tháng 10 năm 2010, trong đó:

- Công tác chuẩn bị, thu thập tài liệu từ 15/3 đến 30/3/2010

- Khảo sát thực địa tại Khu BTTN Hang Kia-Pà Cò từ 30/3 đến 16/7/2010

- Xử lý số liệu và viết báo cáo từ 17/7 đến 15/9/2010

Trang 31

3.3 Nội dung nghiên cứu

Căn cứ vào mục tiêu nghiên cứu, điều kiện thời gian, nhân lực và đặc điểm của khu vực nghiên cứu, đề tài được tiến hành với cá nội dung sau:

1 Điều tra xác định thành phần loài chim tại KBTTN Hang Kia-Pà Cò;

2 Đánh giá tính đa dạng phân loại học của Khu hệ chim khu vực;

3 Đánh giá giá trị bảo tồn của tài nguyên chim khu vực;

4 Điều tra xác định đặc điểm phân bố của các loài theo các dạng sinh cảnh;

5 Xác định được các nhân tố ảnh hưởng chính tới tài nguyên chim khu vực;

6 Đề xuất các giải pháp bảo tồn và phát triển bền vững tài nguyên chim khu vực

3.4 Phương pháp nghiên cứu

Phương pháp nghiên cứu thu thập số liệu bao gồm các nội dung sau:

- Khảo sát thực địa, trực tiếp quan sát chim ngoài thiên nhiên

- Thu thập, phân tích các mẫu vật chim như: mỏ, lông đuôi, lông cánh trong rừng cũng như đang được lưu giữ trong các nhà dân

- Phỏng vấn dân địa phương, những người sống lâu năm ở khu bảo tồn, các cán bộ Kiểm lâm hàng ngày đi kiểm tra rừng Họ là những người có nhiều hiểu biết về rừng nói chung, các loài chim nói riêng

- Kế thừa có chọn lọc các tài liệu đã công bố về động vật nói chung, về chim nói riêng ở khu BTTN

Trang 32

+ Công tác chuẩn bị

Thu thập các thông tin, tài liệu có liên quan đến công tác điều tra, nghiên cứu cụ thể như sau:

- Chuẩn bị các loại bản đồ hiện trạng, quy hoạch khu vực nghiên cứu

- Tài liệu nhận dạng các loài chim ngoài thực địa

- Chuẩn bị các dụng cụ, trang thiết bị phục vụ cho công tác điều tra như: ống nhòm, thước dây, địa bàn, máy định vị GPS và các loại bảng biểu

- Điều tra sơ thám, xác định sơ bộ các dạng sinh cảnh chính và các tuyến điều tra ngoài thực địa và trên bản đồ sao cho các tuyến điều tra phải đi qua các dạng sinh cảnh và đai cao khác nhau

+ Kế thừa tài liệu

Tổng hợp tài liệu, kết quả nghiên cứu của các nhà khoa học, các cơ quan nghiên cứu về động vật trong những năm trước đây tại khu BTTN Hang Kia-Pà Cò:

- Luận chứng kinh tế kỹ thuật khu BTTN Hang Kia-Pà Cò huyện Mai Châu, tỉnh Hoà Bình” do Chi cục Kiểm Lâm tỉnh Hoà Bình và Liên đoàn qui hoạch thiết kế tổng hợp -Viện Điều tra qui hoạch rừng thực hiện tháng 3 năm 1993

- Dự án: “ Đầu tư, xây dựng và phát triển rừng khu BTTN Hang Kia-

Pà Cò huyện Mai Châu thuộc dự án trồng mới 5 triệu ha rừng năm 2010” do Chi cục Kiểm lâm tỉnh Hoà Bình thực hiện

2005 Báo cáo tổng hợp kết quả đề tài KH2005 CN của Viện Sinh thái và tài nguyên sinh vật thuộc Viện Khoa học và Công nghệ Việt Nam: “Điều tra, đánh giá hiện trạng tài nguyên sinh vật, bổ sung và hoàn thiện cơ sở dữ liệu

đề xuất kiến nghị về việc qui hoạch và biện pháp quản lý hữu hiệu hệ

Trang 33

thống khu BTTN trên đất liền ở nước ta Giai đoạn 1: Khu vực núi đá vôi Bắc Bộ và bắc Trung Bộ, 2001-2003”

+ Phân tích các mẫu vật

Phân tích các mẫu vật thu được tại khu vực nghiên cứu hiện đang lưu trữ tại các Phòng bảo tàng sinh vật Trường Đại học Khoa học tự nhiên, Trường Đại học Lâm nghiệp, Viện Sinh thái và Tài nguyên sinh vật

+ Phỏng vấn người dân và cán bộ quản lý

Phỏng vấn nhân dân địa phương và cán bộ quản lý, kết hợp với việc thu thập những mẫu vật mà người dân còn giữ lại làm kỷ niệm hoặc sử dụng cho một số mục đích khác trong nhà (lông, xương, mỏ, chim nuôi làm cảnh…) Phương pháp này cung cấp cho chúng ta những thông tin có ý nghĩa về tình hình tài nguyên động vật rừng của địa phương điều tra trên về thành phần loài, mức độ phong phú, phân bố tại các dạng sinh cảnh, thức ăn, sinh sản Mặt khác, các mẫu vật còn lưu giữ trong nhà người dân, thợ săn là bằng chứng trực tiếp về sự có mặt của loài đó trong khu vực

Trong khi trao đổi thu thập thông tin, chúng tôi đã sử dụng những ảnh màu chuẩn về hình thái bên ngoài của các loài Với hình thức các câu hỏi ngắn, gọn, dễ hiểu về những đặc điểm dễ nhận dạng của loài Gặp gỡ người dân địa phương hay đi rừng để thu thập thông tin về các loài động vật có mặt

ở địa phương và tìm hiểu về nơi ở, tập tính hoạt động, thành phần thức ăn, sinh cảnh, phân bố theo độ cao, thành phần và số lượng các loài động vật bị đánh bắt cũng như ý nghĩa kinh tế của các loài đó

Trong quá trình điều tra, chúng tôi đã trực tiếp phỏng vấn 31 người, trong đó 26 người dân (xã Hang Kia 12 người, xã Pà Cò 12 người, xã Tân Sơn 02 người) và 5 cán bộ Kiểm lâm Khu bảo tồn

Trang 34

+ Quan sát thực địa

Trong thời gian khảo sát thực địa, chúng tôi đã lập 5 tuyến điều tra Tuyến lập có chiều dài từ 3-6 km, đi qua các dạng sinh cảnh, đai cao khác nhau và bám theo hệ thống các đường mòn Việc phân chia các dạng sinh cảnh dựa trên cơ sở bản đồ địa hình và hiện trạng rừng của khu vực nghiên cứu Khu vực nghiên cứu được chia thành 5 dạng sinh cảnh chính như sau:

Trảng cỏ, cây bụi (1)

Rừng trên núi đất (2)

Rừng trên núi đá (3)

Đồng ruộng, nương rẫy (4)

Khu dân cư (5)

Tuyến được lập bằng cách: Đánh dấu bằng GPS, tọa độ đầu tuyến, các tọa độ tiếp theo ở những chỗ thay đổi hướng và tọa độ điểm cuối tuyến

- Tuyến 1: Từ bản Xà Lính đi qua bản Pà Cò Lớn tới khu vực UBND

xã Pà Cò Tuyến này dài khoảng 5 Km, thuộc phân khu bảo vệ nghiêm ngặt

và phục hồi sinh thái

- Tuyến 2: Từ ngã ba cách UBND xã Pà Cò 800 m đi vào trung tâm xã

Hang Kia (bản Hang Kia) Chiều dài tuyến này khoảng 4 Km, thuộc phân khu phục hồi sinh thái

- Tuyến 3: Từ trung tâm xã Hang Kia đi vào bản Thung Ắng Độ dài

tuyến khoảng 4 Km, thuộc phân khu phục hồi sinh thái

- Tuyến 4: Xuất phát từ điểm đầu tuyến 2 đi về hướng Tây Bắc vào

bản Pù Háng Lớn Chiều dài tuyến khoảng 3 Km, thuộc phân khu phục hồi sinh thái

Ngày đăng: 13/09/2017, 11:54

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w