Là một bộ phận hữu cơ của sách giáo khoa, bài tập vật lí vừa giúp thực hiện nhiệm vụ dạy học vật lí, vừa là một phương tiện để ôn tập, củng cố kiến thức lí thuyết đã học, vừa là phương t
Trang 1ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
CỦA HỌC SINH
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
THÁI NGUYÊN - 2015
Trang 2ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
CỦA HỌC SINH Chuyên ngành: LL&PPDH Bộ Môn Vật lý
Mã số: 60.14.01.11
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Vũ Thị Kim Liên
THÁI NGUYÊN - 2015
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu, kết quả nghiên cứu trong luận văn là trung thực và chƣa có ai công bố trong một công trình nào khác
Thái Nguyên, tháng 11 năm 2015
Tác giả
Đào Hồng Nghiệp
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Tác giả luận văn xin chân thành cảm ơn:
Cô giáo PGS.TS Vũ Thị Kim Liên đã tận tình chỉ dẫn, giúp đỡ trong suốt thời gian thực hiện đề tài
Ban giám hiệu trường Đại học Sư phạm Thái Nguyên, các thầy cô giáo trong khoa Sau đại học, khoa Vật lí, thư viện trường Đại học Sư phạm đã tạo mọi điều kiện cho việc học tập, nghiên cứu và hoàn thành luận văn
Các trường: THPT Ngô Quyền; THPT Trại Cau và các đồng nghiệp, các em học sinh đã tận tình giúp đỡ trong quá trình tìm hiểu thực tế và kiểm nghiệm đề tài
Toàn thể gia đình, bạn bè, đồng nghiệp đã quan tâm, giúp đỡ và động viên để tôi hoàn thành đề tài này
Trang 5MỤC LỤC
Lời cam đoan i
Lời cảm ơn ii
Mục lục iii
Danh mục các chữ viết tắt iv
Danh mục các bảng v
Danh mục các hình vi
MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Mục đích nghiên cứu 2
3 Khách thể và đối tượng nghiên cứu 3
4 Phạm vi nghiên cứu 3
5 Giả thiết khoa học 3
6 Nhiệm vụ nghiên cứu 3
7 Các phương pháp nghiên cứu 4
8 Những đóng góp của luận văn 4
9 Cấu trúc luận văn 4
Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC XÂY DỰNG TIẾN TRÌNH DẠY HỌC BÀI TẬP VẬT LÍ THEO HƯỚNG PHÁT HUY TÍNH TÍCH CỰC, TỰ LỰC CỦA HỌC SINH 5
1.1 Tổng quan vấn đề cần nghiên cứu 5
1.2 Bài tập trong dạy học vật lí 7
1.2.1 Khái niệm bài tập vật lí [6,19] 7
1.2.2 Vai trò của bài tập vật lí [6,20 ] 7
1.2.3 Phân loại bài tập vật lí [6, 9] 11
1.2.4 Phương pháp giải bài tập vật lí 14
1.2.5 Các nguyên tắc lựa chọn hệ thống bài tập 16
1.2.6 Một số điểm cần lưu ý học sinh khi dạy học bài tập vật lí 17
1.3 Vấn đề phát huy tính tích cực, tự lực của học sinh 18
1.3.1 Phát huy tính tích cực của học sinh trong dạy học vật lí [7,21,25] 18
Trang 61.3.2 Vấn đề phát huy tính tự lực của học sinh 22
1.3.3 Mối liên hệ giữa tính tích cực và tính tự lực [2] 24
1.4.1 Nội dung điều tra 25
1.4.2 Phương pháp điều tra 25
1.4.3 Kết quả điều tra 26
1.5 Một số biện pháp nhằm phát huy tính tích cực và tự lực của học sinh qua rèn luyện giải bài tập vật lí 28
1.5.1 Lựa chọn bài tập phù hợp vừa sức với học sinh 29
1.5.2 Phương pháp dạy học phải đa dạng 30
1.5.3 Tổ chức hoạt động học tập tích cực, tự lực giải bài tập vật lí 30
1.5.4 Chú trọng rèn luyện những kĩ năng cơ bản, cần thiết trong quá trình giải bài tập 31
1.5.5 Kiểm tra, đánh giá và khuyến khích sự tự kiểm tra, đánh giá của học sinh khi giải bài tập vật lí 32
KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 33
Chương 2: XÂY DỰNG TIẾN TRÌNH DẠY HỌC BÀI TẬP VẬT LÍ CHƯƠNG “ĐIỆN TÍCH - ĐIỆN TRƯỜNG”(VL 11) 34
2.1 Vị trí, vai trò của chương ''Điện tích - Điện trường”trong chương trình vật lí THPT 34
2.2 Mục tiêu cần đạt khi dạy học bài tập chương “Điện tích- Điện trường” 36
2.2.1 Về kiến thức 36
2.2.2 Về kĩ năng 36
2.2.3 Về thái độ 36
2.3 Đề xuất tiến trình dạy học bài tập vật lí theo hướng phát huy tính tích cực, tự lực của học sinh 37
2.4 Thiết kế tiến trình dạy học bài tập chương ''Điện tích- Điện trường” theo hướng phát huy tính tích cực, tự lực của học sinh 39
2.4.1 Ý tưởng sư phạm 40
2.4.2 Xây dựng tiến trình dạy học bài tập một số kiến thức của chương 42
KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 67
Trang 7Chương 3: THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM 68
3.1 Mục đích, nhiệm vụ, đối tượng của thực nghiệm sư phạm (TNSP) 68
3.1.1 Mục đích của thực nghiệm sư phạm 68
3.1.2 Nhiệm vụ của thực nghiệm sư phạm 68
3.1.3 Đối tượng của thực nghiệm sư phạm 68
3.2 Phương pháp thực nghiệm sư phạm 69
3.3 Đánh giá kết quả thực nghiệm sư phạm 69
3.4 Tiến hành TNSP 70
3.5 Kết quả TNSP 71
3.5.1 Kết quả quan sát các biểu hiện của mức độ tích cực, tự lực trong hoạt động học tập 71
3.5.2 Kết quả các bài kiểm tra 72
KẾT LUẬN CHƯƠNG 3 79
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 80
1 Kết luận 80
2 Kiến nghị 80
TÀI LIỆU THAM KHẢO 81
PHỤ LỤC
Trang 9DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 3.1: Biểu hiện của mức độ tích cực trong hoạt động học tập 71
Bảng 3.2: Biểu hiện của mức độ tự lực trong hoạt động học tập 72
Bảng 3.3: Kết quả kiểm tra lần 1 72
Bảng 3.4: Xếp loại học tập lần 1 73
Bảng 3.5: Bảng phân phối tần suất lần 1 73
Bảng 3.6: Kết quả kiểm tra lần 2 75
Bảng 3.7: Xếp loại học tập lần 2 75
Bảng 3.8: Bảng phân phối tần suất lần 2 76
Trang 10DANH MỤC CÁC HÌNH
Hình 2.1 Cấu trúc nội dung chương “Điện tích - Điện trường” 35
Hình 2.2: Sơ đồ tiến trình dạy học bài tập vật lí 38
Hình 2.3 Sơ đồ chủ đề bài tập chương “Điện tích - Điện trường” 39
Hình 2.4 Sơ đồ định hướng giải bài tập chương Điện tích - Điện trường 40
Hình 2.5 Sơ đồ tóm tắt kiến thức phần bài tập về điện tích, điện trường 46
Hình 2.6 Sơ đồ tóm tắt kiến thức về công của lực điện trường 61
Hình 3.1 Biểu đồ xếp loại học tập 73
Hình 3.2 Đồ thị phân phối tần suất lần 1 74
Hình 3.3 Biểu đồ xếp loại học tập lần 2 75
Hình 3.4 Biểu đồ tần suất lần 2 76
Trang 11MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Bài tập vật lí luôn giữ một vị trí đặc biệt quan trọng trong dạy học vật lí ở trường phổ thông Là một bộ phận hữu cơ của sách giáo khoa, bài tập vật lí vừa giúp thực hiện nhiệm vụ dạy học vật lí, vừa là một phương tiện để ôn tập, củng cố kiến thức lí thuyết đã học, vừa là phương tiện để rèn luyện tư duy, bồi dưỡng tính tích cực,
tự lực cho học sinh Ngoài ra, bài tập vật lí cũng là một phương tiện rèn luyện cho học sinh khả năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn đời sống, phương tiện để kiểm tra đánh giá kiến thức, kỹ năng của học sinh, có thể được sử dụng như là một phương tiện nghiên cứu tài liệu mới trong giai đoạn hình thành kiến thức mới cho học sinh, giúp cho học sinh lĩnh hội được kiến thức mới một cách sâu sắc và vững chắc Đồng thời với hệ thống hợp lý, bài tập vật lý cũng hỗ trợ tích cực cho khả năng phát triển tư duy suy luận và hiểu biết tiến trình khoa học của các hiện tượng tự nhiên
Chương “ Điện tích - Điện trường” là chương đầu tiên của sách Vật lí 11 (NC), cung cấp những kiến thức mở đầu và cơ bản nhất về phần điện học - điện từ học, cũng là cơ sở lý thuyết của nhiều ứng dụng quan trọng trong đời sống và trong các ngành kĩ thuật hiện đại Tuy nhiên, do nội dung chương có những khái niệm trừu tượng, nên việc hiểu biết sâu sắc các kiến thức của chương đối với nhiều học sinh còn khó khăn, đặc biệt là việc vận dụng để giải bài tập cũng như giải thích các hiện tượng thực tế đối với các em còn khó khăn hơn Nhằm nâng cao chất lượng dạy học, trong thời gian qua đã có một số đề tài nghiên cứu dạy học theo hướng tích cực chương “ Điện tích - Điện trường” như:
1 Xây dựng tài liệu hướng dẫn tự học chương ''Điện tích - Điện trường" Vật lí
11 NC (Nguyễn Thị Cúc - ĐHGD)
2 Tổ chức thí nghiệm trực diện nhằm kích thích hứng thú học tập, phát huy tính tích cực, tự lực cho học sinh dân tộc nội trú khi dạy phần “Điện tích, điện trường” và
“Dòng điện không đổi” (Vật lý 11) (Phùng Mạnh Tường - ĐHSP Thái Nguyên)
3 Tổ chức hoạt động ngoại khóa về các kiến thức “Điện tích-Điện trường” - Vật lí 11 theo hướng phát huy tính tích cực, năng lực sáng tạo của học sinh” (Nguyễn Tiến Vinh - ĐHSP Thái Nguyên)
Trang 124 Nâng cao chất lượng dạy học vật lý chương “Điện tích - Điện trường” lớp
11 nâng cao THPT nhờ việc sử dụng thí nghiệm nhờ máy vi tính (Nguyễn Đình Khang - ĐH Vinh)
Và một số đề tài nghiên cứu về dạy bài tập theo hướng tích cực hoá hoạt động học tập và hệ thống hóa kiến thức và bồi dưỡng năng lực cho học sinh như:
1 Nghiên cứu dạy và học bài tập chương “Điện tích - Điện trường” Vật lí 11 THPT theo hướng phát triển nhận thức tích cực của học sinh (Phạm Thanh Hoài 2008
- Luận văn thạc sĩ giáo dục học - Đại học Vinh)
2 Xây dựng và sử dụng bài tập chương Điện tích - Điện trường, Vật lý 11 THPT theo hướng cũng cố, hệ thống hóa kiến thức và bồi dưỡng năng lực cho học sinh (Nguyễn Đăng Nhật - ĐH Huế)
Các đề tài này cho thấy việc vận dụng các phương pháp dạy học tích cực trong dạy học ở bậc học phổ thông là rất đa dạng và phong phú Việc dạy bài tập theo hướng tích cực hoá có thể giúp nâng cao chất lượng nắm vững kiến thức của học sinh Tuy nhiên các đề tài trên chủ yếu tập trung về hoạt động ngoại khóa hoặc bài giảng điện tử, còn đề tài về bài tập thường áp dụng cho đối tượng là học sinh ban cơ bản và học sinh khu vực miền núi Do đó việc giúp học sinh có một hệ thống các bài tập từ cơ bản đến nâng cao phù hợp với chương trình sách giáo khoa nâng cao với phương pháp giải cụ thể, hướng dẫn chi tiết để các em có thể học tốt môn Vật Lí ngay
từ những bài đầu tiên của một chủ đề mới là hết sức cần thiết Bên cạnh đó, một số bài toán hay về phương pháp cũng như thuật giải sẽ góp phần nào đó trong việc tạo nguồn cảm hứng học tập, tư duy sáng tạo của học sinh
Chính vì những lí do đó nên chúng tôi quyết định lựa chọn đề tài: “Xây dựng
tiến trình dạy học bài tập chương “Điện tích - Điện trường” (VL 11 NC) theo hướng phát huy tính tích cực, tự lực của học sinh”
2 Mục đích nghiên cứu
Nghiên cứu xây dựng tiến trình dạy học bài tập chương “Điện tích - Điện
trường” (VL 11 NC) nhằm phát huy tính tích cực, tự lực của học sinh trong học tập
Trang 133 Khách thể và đối tượng nghiên cứu
* Khách thể nghiên cứu:
• Nhiệm vụ, mục đích dạy học và phương pháp dạy học bài tập vật lí ở trường phổ thông
• Tổ chức dạy học vật lí ở trường phổ thông
• Phương pháp và kĩ thuật thực nghiệm vật lí ở trường phổ thông
• Học sinh lớp 11 khi học tập chương “Điện tích - Điện trường”
*Đối tượng nghiên cứu: Tổ chức các hoạt động dạy và học bài tập Vật lí cho
học sinh lớp 11 trường THPT
4 Phạm vi nghiên cứu
• Kiến thức: Chương “Điện tích - Điện trường” Vật lí 11 (NC)
• Địa điểm: Một số trường THPT tỉnh Thái Nguyên
5 Giả thiết khoa học
Nếu xây dựng tiến trình dạy học bài tập chương ''Điện tích - Điện trường” (VL
11 NC) phù hợp với quan điểm hiện đại về dạy học vật lí thì có thể phát huy tính tích
cực, tự lực của học sinh trong học tập
6 Nhiệm vụ nghiên cứu
• Nghiên cứu cơ sở lý luận dạy học hiện đại trong dạy học bài tập vật lí, tính tích cực, tự lực của HS
• Nghiên cứu về thực trạng dạy học ở một số trường THPT hiện nay
• Phân tích nội dung, kiến thức cần dạy của chương
• Nghiên cứu những yêu cầu chung đối với việc dạy học bài tập vật lí, đề xuất những biện pháp nhằm góp phần phát huy tính tích cực, tự lực của HS trong việc dạy học bài tập vật lí
• Xây dựng tiến trình dạy học bài tập chương “Điện tích- Điện trường” theo
hướng phát huy tính tích cực, tự lực của HS
• Tiến hành thực nghiệm sư phạm các bài tập đã xây dựng nhằm đánh giá và rút ra kết luận
Trang 147 Các phương pháp nghiên cứu
7.1 Phương pháp nghiên cứu lí luận
• Nghiên cứu mục tiêu đổi mới trong dạy học nói chung và trong dạy học vật lí nói riêng
• Nghiên cứu cơ sở lý luận về việc dạy học bài tập vật lí theo tinh thần đổi mới phương pháp dạy học
• Nghiên cứu những chính sách, văn kiện của Đảng, Nhà nước, Bộ giáo dục về việc nâng cao chất lượng giáo dục, đổi mới phương pháp dạy học
7.2 Phương pháp thực nghiệm sư phạm
Tiến hành thực nghiệm sư phạm có đối chứng để đánh giá hiệu quả của việc dạy học bài tập vật lí ở trường THPT
7.3 Phương pháp điều tra giáo dục
Điều tra thực trạng của việc dạy học bài tập vật lý: những thuận lợi, khó khăn của việc dạy học bài tập vật lí ở trường THPT
7.4 Phương pháp thống kê toán học
Sử dụng phương pháp này nhằm xử lý các số liệu thu thập được từ đó có cơ sở rút ra những kết luận phù hợp
8 Những đóng góp của luận văn
• Làm sáng tỏ cơ sở lý luận của việc dạy học BTVL theo hướng phát huy tính
tích cực, tự lực của học sinh
• Xây dựng được tiến trình dạy học bài tập chương “Điện tích - Điện trường (VL- 11 NC) nhằm phát huy tính tích cực, tự lực của học sinh
• Có thể sử dụng làm tài liệu tham khảo cho giáo viên vật lí THPT
9 Cấu trúc luận văn
Ngoài phần mở đầu, mục lục, danh mục tài liệu tham khảo, danh mục các bảng, các hình, các biểu đồ, các chữ viết tắt, phần chính của luận văn được trình bày theo 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lí luận và thực tiễn của việc xây dựng tiến trình dạy học bài tập vật lí theo hướng phát huy tính tích cực, tự lực của học sinh
Chương 2: Xây dựng tiến trình dạy học bài tập vật lí chương “Điện tích - Điện trường” (VL 11)
Chương 3: Thực nghiệm sư phạm
Trang 15Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC XÂY DỰNG TIẾN
TRÌNH DẠY HỌC BÀI TẬP VẬT LÍ THEO HƯỚNG
PHÁT HUY TÍNH TÍCH CỰC, TỰ LỰC CỦA HỌC SINH
1.1 Tổng quan vấn đề cần nghiên cứu
Trong dạy học vật lí, việc giảng dạy bài tập vật lí trong nhà trường không chỉ giúp học sinh hiểu được một cách sâu sắc và đầy đủ những kiến thức đã học mà còn làm phát triển khát vọng học tập, cố gắng trí tuệ và nghị lực cao của học sinh trong quá trình nắm vững kiến thức Từ đó, giúp các em vận dụng những kiến thức đó để giải quyết tốt những nhiệm vụ của học tập và những vấn đề mà thực tiễn đã đặt ra
Bản thân mỗi bài tập vật lí là một tình huống vận dụng vật lí tích cực Song tính tính cực của nó còn được nâng cao hơn khi nó được sử dụng như là nguồn kiế n thức để học sinh rèn luyện khả năng tự học, tự tìm tòi, trau dồi kiến thức Theo tác giả Thái Duy Tuyên: “Cần phát động phong trào cải tiến dạy học theo hướng phát triển tính tích cực, độc lập, sáng tạo của học sinh vì đó là phẩm chất nhân cách rất cơ bản
mà ta muốn hình thành”
Nghiên cứu các vấn đề về BTVL đã có một số công trình đề cập đến, nhưng đa
số các công trình đề cập đến các phương án giải quyết bài tập, xây dựng và sử dụng BTVL như: “Xây dựng phương án giải quyết bài tập Vật lý bằng thí nghiệm ở PTTH miền núi [10], “Xây dựng và sử dụng bài tập vật lý trong quá trình tổ chức hoạt động dạy, học kiến thức mới chương “Các định luật bảo toàn” Vật lý 10 nâng cao” [15]
Cũng có một vài công trình đề cập đến một số biện pháp tích cực hóa hoạt động nhận thức của học sinh, phát triển tư duy sáng tạo cho học sinh thông qua hoạt động dạy - học bài tập vật lí như: “Một số biện pháp tích cực hoá hoạt động nhận thức của học sinh THPT miền núi khi giảng dạy bài tập vật lí” [18], “Phát huy tính tích cực hoạt động nhận thức của học sinh lớp 10 THPT qua giải bài tập vật lí bằng phương pháp vectơ” [1] hay “Lựa chọn và phối hợp các giải pháp nhằm tích cực hoá hoạt động học tập của học sinh THPT trong giờ giải bài tập vật lí [12], hoặc “Sử dụng
hệ thống bài tập chương “Các định luật bảo toàn” Vật lí lớp 10 nâng cao theo hướng
Trang 16phát huy tính tính cực và sáng tạo của học sinh [5] và “Lựa chọn và xây dựng tiến trình dạy học bài tập vật lí chương “Các định luật bảo toàn” (Vật lí 10 - Cơ bản) nhằm phát triển tư duy, năng lực sáng tạo cho học sinh trường dân tộc nội trú Trung học phổ thông” [13], kể cả đề tài “Định hướng tìm tòi giải quyết vấn đề khi dạy bài tập định lượng chương “Các định luật bảo toàn” Vật lý 10 - Cơ bản nhằm phát huy tính tích cực của học sinh miền núi [14], và “Phát triển năng lực tự lực, sáng tạo của học sinh miền núi thông qua tổ chức hoạt động giải bài tập Vật lí phân tử và nhiệt hóa học ở lớp 10 Trung học phổ thông”[11]
Việc hướng dẫn giải các bài tập Vật lí không chỉ dừng lại ở các công trình nghiên cứu, hay các báo cáo khoa học, mà đã được viết thành sách sử dụng phổ biến trong hoạt động dạy học, đó là bộ sách “Giải toán Vật lí - lớp 10, 11, 12” của tác giả Bùi Quang Hân (Chủ biên) [4]; hay cuốn “Bài tập Vật lí sơ cấp” của tác giả Vũ Thanh Khiết và Phạm Quý Tư [8];…Các tác giả đã thể hiện được cơ bản sự phân loại
và đưa ra phương pháp giải chung, và phương pháp giải cụ thể cho từng phần, từng nội dung kiến thức, và từng bài tập
Vấn đề phát huy tính tích cực, tự lực trong hoạt động nhận thức của học sinh khi dạy học bài tập Vật lí cũng được nhiều tác giả quan tâm và nghiên cứu như những
đề tài luận văn: “Xây dựng tiến trình hướng dẫn giải bài tập phần Từ trường (Vật Lý 11) theo hướng phát huy tính tích cực và tự lực của học sinh THPT miền núi [23], hay “Xây dựng tiến trình hướng dẫn giải bài tập phần Chất khí (Vật lý 10- nâng cao) theo hướng phát huy tính tích cực và tự lực của học sinh” [16] hoặc “Phát huy tính tích cực, tự lực của học sinh miền núi khi dạy học bài tập Vật lí chương “Động lực học vật rắn”(Vật lí 12 - Nâng cao) [3]
Tuy nhiên, về vấn đề xây dựng tiến trình dạy học bài tập vật lí ở các nội dung kiến thức cụ thể nhằm phát huy tính tích cực, tự lực của học sinh vẫn cần được nghiên cứu một cách đầy đủ hơn.Để bổ sung những phần mà các tác giả trên chưa đề cập nghiên cứu chúng tôi lựa chọn đề tài theo hướng phát huy tính tích cực, tự lực của học sinh khi dạy học bài tập vật lí chương “Điện tích - Điện trường” (VL 11 NC)
Trang 171.2 Bài tập trong dạy học vật lí
1.2.1 Khái niệm bài tập vật lí [6,19]
Trong thực tế dạy học, người ta thường gọi một vấn đề hay một câu hỏi cần được giải đáp nhờ lập luận lôgic, suy luận toán học hay thực nghiệm vật lí trên cơ sở
sử dụng các định luật và các phương pháp của vật lí học là bài toán vật lí
Bài toán vật lí, hay đơn giản gọi là các bài tập vật lí, là một phần hữu cơ của quá trình dạy học vật lí vì nó cho phép hình thành và làm phong phú các khái niệm vật lí, phát triển tư duy vật lí và thói quen vận dụng kiến thức vật lí vào thực tiễn
1.2.2 Vai trò của bài tập vật lí [6,20 ]
1.2.2.1 Bài tập giúp cho việc ôn tập đào sâu, mở rộng kiến thức
Trong giai đoạn xây dựng kiến thức, học sinh đã nắm được cái chung, cái khái quát của các khái niệm, định luật và cũng là cái trừu tượng Trong các bài tập, học sinh phải vận dụng những kiến thức khái quát, trừu tượng đó vào những trường hợp
cụ thể rất đa dạng; nhờ thế mà học sinh nắm được những biểu hiện cụ thể của chúng trong thực tế, phát hiện ngày càng nhiều những hiện tượng thuộc ngoại diên của các khái niệm hoặc chịu sự chi phối của các định luật hay thuộc phạm vi ứng dụng của chúng Quá trình nhận thức các khái niệm, định luật vật lí không kết thúc ở việc xây dựng nội hàm của các khái niệm, định luật vật lí mà còn tiếp tục ở giai đoạn vận dụng vào thực tế Ngoài những ứng dụng quan trọng trong kĩ thuật, bài tập vật lí sẽ giúp học sinh thấy được những ứng dụng muôn hình, muôn vẻ trong thực tiễn của các kiến thức đã học
Vật lí học không phải chỉ tồn tại trong óc chúng ta dưới dạng những mô hình trừu tượng do ta nghĩ ra, mà là sự phản ánh vào trong óc chúng ta thực tế phong phú, sinh động Tuy nhiên, các khái niệm, định luật vật lí thì rất đơn giản, còn biểu hiện của chúng trong tự nhiên thì lại rất phức tạp, bởi vì các sự vật, hiện tượng có thể bị chi phối bởi nhiều định luật, nhiều nguyên nhân đ̀ồng thời hay liên tiếp chồng chéo lên nhau Bài tập sẽ giúp luyện tập cho học sinh phân tích để nhận biết được những trường hợp phức tạp đó Ví dụ: Định luật thứ hai của Niutơn có dạng rất đơn giản F = ma nhưng qua bài tập, học sinh sẽ thấy được rằng định luật này có thể áp dụng để nghiên cứu chuyển động của tất cả các vật ta gặp hàng ngày từ các vật cực
Trang 18nhỏ như hạt bụi đến các vật cực lớn như các hành tinh, các thiên thể , những vật chịu tác dụng của một lực hay đồng thời của nhiều lực
Bài tập vật lí là một phương tiện củng cố, ôn tập kiến thức sinh động Khi giải bài tập, học sinh phải nhớ lại các kiến thức đã học, có khi phải sử dụng tổng hợp những kiến thức thuộc nhiều chương, nhiều phần của chương trình
1.2.2.2 Bài tập có thể là điểm khởi đầu để dẫn dắt đến kiến thức mới
Ở những lớp trên của bậc trung học phổ thông, với trình độ toán học đã khá phát triển, nhiều khi các bài tập được sử dụng khéo léo có thể dẫn học sinh đến những suy nghĩ về một hiện tượng mới hoặc xây dựng một khái niệm mới để giải thích hiện tượng mới do bài tập phát hiện ra
1.2.2.3 Bài tập vật lí là một trong những phương tiện rất quí báu để rèn luyện kĩ năng, kĩ xảo vận dụng lí thuyết vào thực tiễn, rèn luyện thói quen vận dụng kiến thức khái quát đã thu nhận được để giải quyết các vấn đề của thực tiễn Có thể xây dựng rất nhiều bài tập có nội dung thực tiễn, trong đó yêu cầu học sinh phải vận dụng kiến thức lí thuyết để giải thích các hiện tượng thực tiễn hoặc dự đoán các hiện tượng có thể xảy ra trong thực tiễn ở những điều kiện cho trước
1.2.2.4 Thông qua dạy học về bài tập vật lí, người học có thể nắm vững một cách chính xác, sâu sắc và toàn diện hơn những quy luật vật lí, những hiện tượng vật lí,
ứng dụng chúng vào thực tiễn
Trong nhiều trường hợp, dù GV cố gắng trình bày tài liệu một cách mạch lạc,
lô gíc, phát biểu định luật chính xác, làm thí nghiệm đúng các yêu cầu và cho kết quả chính xác thì đó mới chỉ là điều kiện cần chứ chưa phải là điều kiện đủ để học sinh hiểu sâu và nắm vững kiến thức Chỉ có thông qua các BTVL ở hình thức này hay hình thức khác nhằm tạo điều kiện cho HS vận dụng linh hoạt các kiến thức để tự lực giải quyết thành công những tình huống cụ thể khác nhau thì kiến thức đó mới trở nên sâu sắc, hoàn thiện và trở thành vốn riêng của người học Chẳng hạn với bài tập
“Tại sao khi mở cửa tủ lạnh thì không khí trong phòng lại nóng lên” có thể rèn cho
HS thói quen quan sát, tập giải thích các hiện tượng xảy ra xung quanh bằng kiến thức đã học
Trang 19Vật lí là môn học có tính tương tác và ứng dụng rất cao trong đời sống Khi dạy học đến một vấn đề nào đó, GV cố gắng yêu cầu vận dụng kiến thức vào những hiện tượng, các vật dụng trong cuộc sống Điều này những giúp HS biến các kiến thức lí thuyết khô khan thành những kiến thức có nghĩa trong cuộc sống
Kĩ năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn là thước đo mức độ sâu sắc và vững vàng của những kiến thức HS thu nhận được
1.2.2.5 Giải bài tập là một trong những hình thức làm việc tự lực cao của học sinh Trong khi làm bài tập, do phải tự mình phân tích các điều kiện của đầu bài, tự xây dựng những lập luận, kiểm tra và phê phán những kết luận mà học sinh rút ra được nên tư duy học sinh được phát triển, năng lực làm việc tự lực của họ được nâng cao, tính kiên trì được phát triển
Cần lưu ý rằng việc rèn luyện cho học sinh giải các bài tập vật lí không phải là mục đích của dạy học Mục đích cơ bản đặt ra khi giải bài tập vật lí là làm sao cho học sinh hiểu sâu sắc hơn những qui luật vật lí, biết phân tích và ứng dụng chúng vào những vấn đề thực tiễn, vào tính toán kĩ thuật và cuối cùng phát triển được năng lực
tư duy, năng lực giải quyết vấn đề
1.2.2.6 Giải bài tập vật lí góp phần làm phát triển tư duy sáng tạo của học sinh
Có nhiều bài tập vật lí không chỉ dừng lại trong phạm vi vận dụng những kiến thức đã học mà còn giúp bồi dưỡng cho học sinh tư duy sáng tạo Đặc biệt là những bài tập giải thích hiện tượng, bài tập thí nghiệm, bài tập thiết kế dụng cụ rất có ích về mặt này
1.2.2.7 Bài tập vật lí cũng là một phương tiện có hiệu quả để kiểm tra mức độ nắm vững kiến thức của học sinh Tùy theo cách đặt câu hỏi kiểm tra, ta có thể phân loại được các mức độ nắm vững kiến thức của học sinh, khiến cho việc đánh giá chất lượng kiến thức của học sinh được chính xác
1.2.2.8 Bài tập vật lí còn có ý nghĩa to lớn trong việc giáo dục kĩ thuật tổng hợp
Các BTVL có thể đề cập đến các lĩnh vực khác nhau trong cuộc sống:
khoa học kĩ thuật, thông tin liên lạc, giao thông vận tải, sản xuất công nghiệp …Các bài tập này là phương tiện thuận lợi để HS liên hệ lí thuyết với thực hành, học tập với đời sống, vận dụng kiến thức đã học vào thực tế sản xuất và cuộc sống
Trang 201.2.2.9 Thông qua việc giải bài tập vật lí có thể rèn luyện cho học sinh những đức tính tốt như tinh thần tự lực, tính cẩn thận, tính kiên trì và tinh thần vượt khó
Trong quá trình giải BTVL khi gặp những khó khăn trong bài toán, mà HS cố gắng nỗ lực vượt qua thì sẽ giúp HS rèn luyện được tính kiên trì cũng như tinh thần vượt khó Việc tự giải được bài tập giúp cũng cho HS rèn giũa đức tính tự lập
1.2.2.10 Nhờ dạy học về bài tập vật lí giáo viên có thể giới thiệu cho học sinh biết sự xuất hiện những tư tưởng và quan điểm tiên tiến hiện đại, các phát minh làm thay đổi thế giới
Để có được nền khoa học vật lí như ngày nay, lịch sử vật lí đã trải qua bao cuộc thăng trầm, đấu tranh quyết liệt chống lại tư tưởng bảo thủ, lạc hậu, phản động Nhờ dạy học về BTVL GV có thể giới thiệu cho HS biết sự xuất hiện những tư tưởng
và quan điểm tiên tiến hiện đại, các phát minh làm thay đổi thế giới Tiếp xúc với các hiện tượng trong đời sống hàng ngày qua các BTVL giúp HS nhìn thấy khoa học vật
lí ở xung quanh mình, qua đó kích thích hứng thú, đam mê của các em với môn học, bồi dưỡng khả năng quan sát BTVL góp phần xây dựng một thế giới quan duy vật biện chứng cho HS, làm cho họ hiểu rõ thế giới tự nhiên là vật chất, vật chất luôn ở trạng thái vận động, họ tin vào sức mạnh của mình, mong muốn đem tài năng và trí tuệ cải tạo thiên nhiên
Giải BTVL không phải là một công việc nhẹ nhàng, nó đòi hỏi sự làm việc căng thẳng, tích cực của HS, một sự vận dụng tổng hợp những kiến thức, kinh nghiệm đã có để tìm lời giải nêu ra trong bài tập Khi giải thành công một bài tập nó
sẽ đem đến cho HS niềm phấn khởi sáng tạo, sẵn sàng đón nhận những bài tập mới ở mức độ cao hơn
Tuy nhiên không phải cứ cho HS làm bài tập là chúng ta đạt ngay được các yêu cầu mong muốn BTVL chỉ phát huy tác dụng to lớn của nó trong những điều kiện sư phạm nhất định Kết quả rèn luyện kĩ năng, kĩ xảo giải bài tập phụ thuộc rất nhiều vào việc có hay không có một hệ thống bài tập được lựa chọn và sắp xếp phù
hợp với mục đích dạy học, với yêu cầu rèn luyện kĩ năng, kĩ xảo cho người học
Trang 211.2.3 Phân loại bài tập vật lí [6, 9]
1.2.3.1 Phân loại theo phương thức giải
* Bài tập định tính
- Bài tập định tính là những bài tập mà khi giải học sinh không cần thực hiện các phép tính phức tạp hay chỉ làm những phép tính đơn giản, có thể tính nhẩm được Muốn giải những bài tập định tính, học sinh phải thực hiện những phép suy luận logic, do đó phải hiểu rõ bản chất của các khái niệm, định luật vật lý, nhận biết được những biểu hiện của chúng trong những trường hợp cụ thể Đa số các bài tập định tính yêu cầu học sinh giải thích hoặc dự đoán một hiện tượng xảy ra trong những điều kiện cụ thể
Thí dụ: Có thể dùng một vật A đã tích điện âm để làm nhiễm điện dương cho
một vật dẫn B, mà không làm thay đổi điện tích của A được không? Vì sao? Hay: Có thể làm cho hai vật dẫn B, C nhiễm điện trái dấu nhau được không? Vì sao?
- Bài tập định tính làm tăng sự hứng thú của học sinh đối với môn học, tạo điều kiện phát triển óc quan sát ở học sinh, là phương tiện rất tốt để phát triển tư duy của học sinh, và dạy cho học sinh biết áp dụng kiến thức vào thực tiễn
* Bài tập định lượng
Bài tập định lượng là loại bài tập mà khi giải học sinh phải thực hiện một loạt các phép tính để xác định mối liên hệ phụ thuộc về lượng giữa các đại lượng và kết quả thu được là một đáp án định lượng Có thể chia bài tập định lượng làm hai loại: bài tập tính toán tập dượt và bài tập tính toán tổng hợp
- Bài tập tính toán tập dượt: là loại bài tập tính toán đơn giản, trong đó chỉ đề cập đến một hiện tượng, một định luật và sử dụng một vài phép tính đơn giản nhằm củng cố kiến thức cơ bản vừa học, làm học sinh hiểu rõ ý nghĩa của các định luật và các công thức biểu diễn chúng
Thí dụ: Sau khi học xong định luật Cu - lông, GV có thể đưa ra bài tập “Tính
độ lớn của hai điện tích điểm giống nhau đặt trong chân không cách nhau r1 = 4cm Lực đẩy tĩnh điện giữa chúng là F1 = 105 N”
- Bài tập tính toán tổng hợp: là loại bài tập mà khi giải thì phải vận dụng nhiều khái niệm, định luật, nhiều công thức Loại bài tập này có tác dụng đặc biệt giúp học
Trang 22sinh đào sâu, mở rộng kiến thức, thấy rõ những mối liên hệ khác nhau giữa các phần của chương trình vật lí Ngoài ra bài tập tính toán tổng hợp cũng nhằm mục đích làm sáng tỏ nội dung vật lí của các định luật, quy tắc biểu hiện dưới các công thức
Vì vậy, giáo viên cần lưu ý học sinh chú ý đến ý nghĩa và bản chất hiện tượng vật lí của chúng trước khi đi vào lựa chọn các công thức và thực hiện phép tính toán
Thí dụ: Hai quả cầu kim loại giống nhau, mang điện tích q1, q2 đặt cách nhau 20cm thì hút nhau bợi một lực F 1 = 5.10-7N Nối hai quả cầu bằng một dây dẫn, xong
bỏ dây dẫn đi thì hai quả cầu đẩy nhau với một lực F2 = 4.10-7 N Tính q1, q2
* Bài tập thí nghiệm
- Bài tập thí nghiệm là bài tập đòi hỏi phải làm thí nghiệm để kiểm chứng lời giải lý thuyết hoặc để tìm những số liệu cần thiết cho việc giải bài tập Những thí nghiệm này thường là những thí nghiệm đơn giản Bài tập thí nghiệm cũng có thể có dạng định tính hoặc định lượng
- Bài tập thí nghiệm có nhiều tác dụng về cả ba mặt giáo dưỡng, giáo dục, và giáo dục kĩ thuật tổng hợp, đặc biệt giúp làm sáng tỏ mối quan hệ giữa lý thuyết và thực tiễn
- Lưu ý: trong các bài tập thí nghiệm thì thí nghiệm chỉ cho các số liệu để giải bài tập, chứ không cho biết tại sao hiện tượng lại xảy ra như thế Cho nên phần vận dụng các định luật vật lí để lý giải các hiện tượng mới là nội dung chính của bài tập thí nghiệm
* Bài tập đồ thị
- Bài tập đồ thị là bài tập trong đó các số liệu được dùng làm dữ kiện để giải phải tìm trong các đồ thị cho trước hoặc ngược lại, đòi hỏi học sinh phải biểu diễn quá trình diễn biến của hiện tượng nêu trong bài tập bằng đồ thị
1.2.3.2 Phân loại theo nội dung
Người ta dựa vào nội dung chia các bài tập theo các đề tài của tài liệu vật lí
Sự phân chia như vậy có tính chất quy ước vì bài tập có thể đề cập tới những kiến thức của những phần khác nhau trong chương trình vật lí Theo nội dung, người ta phân biệt các bài tập có nội dung trừu tượng, bài tập có nội dung cụ thể, bài tập có nội dung thực tế, bài tập vui
Trang 23- Bài tập có nội dung trừu tượng là trong điều kiện của bài toán, bản chất vật lí được nêu bật lên, những chi tiết không bản chất đã được bỏ bớt
- Bài tập có nội dung cụ thể có tác dụng tập dượt cho học sinh phân tích các hiện tượng vật lí cụ thể để làm rõ bản chất vật lí
- Bài tập có nội dung thực tế là loại bài tập có liên quan trực tiếp tới đời sống,
kỹ thuật, sản xuất và đặc biệt là thực tế lao động của học sinh, có tác dụng rất lớn về mặt giáo dục kĩ thuật tổng hợp
Thí dụ: Vào mùa đông khi chải tóc hoặc cởi áo len ta thấy có tiếng lách tách và
có thể lóe sáng, em hãy giải thích vì sao lại như vậy?
- Bài tập vui là bài tập có tác dụng làm giảm bớt sự khô khan, mệt mỏi, ức chế
ở học sinh, nó tạo sự hứng thú đồng thời mang lại trí tuệ cao
1.2.3.3 Phân loại theo mục đích lí luận dạy học: có thể phân biệt thành bài tập luyện tập, bài tập sáng tạo (bài tập nghiên cứu, bài tập thiết kế)
- Bài tập luyện tập: là loại bài tập mà việc giải chúng không đòi hỏi tư duy sáng tạo của học sinh, chủ yếu chỉ yêu cầu học sinh nắm vững cách giải đối với một loại bài tập nhất định đã được chỉ dẫn
- Bài tập sáng tạo: Trong loại bài tập này, ngoài việc phải vận dụng một số kiến thức đã học, học sinh bắt buộc phải có những ý kiến độc lập, mới mẻ, không thể suy ra một cách logic từ những kiến thức đã học
+ Bài tập nghiên cứu: là dạng bài tập trả lời những câu hỏi “tại sao”
+ Bài tập thiết kế: là dạng bài tập trả lời cho những câu hỏi “phải làm như thế nào”
1.2.3.4 Phân loại theo hình thức làm bài
* Bài tập tự luận: đó là những bài yêu cầu học sinh giải thích, tính toán và hoàn thành theo một logic cụ thể Nó bao gồm những loại bài đã trình bày ở trên
* Bài tập trắc nghiệm khách quan: là loại bài tập cho câu hỏi và đáp án Các đáp án có thể là đúng, gần đúng hoặc sai Nhiệm vụ của học sinh là tìm ra câu trả lời đúng nhất, cũng có khi đó là những câu bỏ lửng yêu cầu điền vào những chỗ trống để
có câu trả lời đúng Bài tập loại này gồm:
- Câu đúng - sai: câu hỏi là một phát biểu, câu trả lời là một trong hai lựa chọn;
- Câu nhiều lựa chọn: một câu hỏi, nhiều phương án lựa chọn, yêu cầu học sinh tìm câu trả lời đúng nhất;
Trang 24- Câu điền khuyết: nội dung trong câu bị bỏ lửng, yêu cầu học sinh điền từ ngữ hoặc công thức đúng vào chỗ bị bỏ trống;
- Câu ghép hình thức: nội dung của các câu được chia thành hai phần, học sinh phải tìm các phần phù hợp để ghép thành câu đúng
1.2.4 Phương pháp giải bài tập vật lí
Việc rèn luyện cho học sinh biết cách giải bài tập một cách khoa học, đảm bảo
đi đến kết quả một cách chính xác là một việc rất cần thiết Nó không những giúp học sinh nắm vững kiến thức mà còn rèn luyện kĩ năng suy luận logic, làm việc một cách khoa học, có kế hoạch Cần biết cách thể hiện bài tập vật lí để học sinh dễ dàng trong việc tìm ra lời giải cho bài toán Các cách thể hiện bài tập vật lí có thể là:
rõ được bản chất của hiện tượng, tránh sự áp dụng máy móc công thức
Bước 2: Tìm hiểu đầu bài, tóm tắt các dữ kiện
Trang 25- Đọc kĩ đề bài, tìm hiểu ý nghĩa của những thuật ngữ quan trọng, xác định đâu
* Đối với những bài tập tổng hợp phức tạp, có hai phương pháp xây dựng lập luận để giải:
- Phương pháp phân tích: xuất phát từ ẩn số cần tìm, tìm ra mối liên hệ giữa ẩn
số đó với một đại lượng nào đó theo một định luật đã xác định, diễn đạt bằng một công thức có chứa ẩn số Sau đó tiếp tục phát triển lập luận hoặc biến đổi công thức này theo các dữ kiện đã cho Cuối cùng đi đến công thức sau cùng chứa ẩn số và các
dữ kiện đã cho
- Phương pháp tổng hợp: xuất phát từ dữ kiện đã cho của đầu bài, xây dựng lập luận hoặc biến đổi công thức diễn đạt mối quan hệ giữa các dữ kiện đã cho với các đại lượng khác để tiến dần đến công thức cuối cùng có chứa ẩn số và các dữ kiện đã cho
* Đối với bài tập định tính: ta không cần tính toán nhiều mà chủ yếu sử dụng lập luận, suy luận logic dựa vào kiến thức vật lí để giải thích hoặc dự đoán hiện tượng xảy ra
* Đối với bài tập trắc nghiệm trách quan: cần nắm thật vững kiến thức trong sách giáo khoa, nếu không sẽ không nhận biết được trong các phương án để lựa chọn đâu là phương án đúng Để làm tốt bài thi trắc nghiệm, ta nên chia quỹ thời gian phù hợp với thời gian làm bài, đọc lướt qua toàn bộ câu trắc nghiệm câu nào chắc chắn thì trả lời luôn, và theo nguyên tắc dễ làm trước, khó làm sau Quay lại những câu chưa làm, đọc kĩ lại phần đề và gạch dưới những chữ quan trọng, và không nên dừng lại tìm lời giải cho một câu quá lâu Cần lưu ý là không nên bỏ trống câu nào vì ta sẽ được xác suất ¼ số câu trả lời đúng trong số đó
Trang 26Bước 5: Lựa chọn cách giải cho phù hợp
Bước 6: Kiểm tra, xác nhận kết quả và biện luận
- Từ mối liên hệ cơ bản, lập luận giải để tìm ra kết quả
- Phân tích kết quả cuối cùng để loại bỏ những kết quả không phù hợp với điều kiện đầu bài tập hoặc không phù hợp với thực tế Việc biện luận này cũng là một cách
để kiểm tra sự đúng đắn của quá trình lập luận Đôi khi, nhờ sự biện luận này mà học sinh có thể tự phát hiện ra những sai lầm của quá trình lập luận, do sự vô lý của kết quả thu được
1.2.5 Các nguyên tắc lựa chọn hệ thống bài tập
Trong dạy học bất cứ một đề tài nào, giáo viên cần phải lựa chọn một hệ thống bài tập thoả mãn các yêu cầu sau:
- Các bài tập phải đi từ dễ đến khó, từ đơn giản đến phức tạp (phạm vi và số lượng các kiến thức, kĩ năng cần vận dụng từ trong một đề tài đến trong nhiều đề tài,
số lượng các đại lượng cho biết và các đại lượng phải tìm…) giúp học sinh nắm được phương pháp giải các loại bài tập điển hình
- Mỗi bài tập phải là một mắt xích trong hệ thống bài tập, đóng góp một phần nào đó vào việc củng cố, hoàn thiện và mở rộng kiến thức
- Hệ thống bài tập cần bao gồm nhiều loại bài tập: Bài tập giả tạo và bài tập có nội dung thực tế, bài tập luyện tập và bài tập sáng tạo, bài tập cho thừa hoặc thiếu dữ kiện, bài tập mang tính chất ngụy biện và nghịch lí, bài tập có nhiều cách giải khác nhau và bài tập có nhiều lời giải tuỳ theo những điều kiện cụ thể của bài tập mà giáo viên không nêu lên hoặc chỉ nêu lên một điều kiện nào đó mà thôi Bài tập giả tạo là bài tập mà nội dung của nó không sát với thực tế, các quá trình tự nhiên được đơn giản hoá đi nhiều hoặc ngược lại, cố ý ghép nhiều yếu tố thành một đối tượng phức tạp để luyện tập nghiên cứu Bài tập giả tạo thường là bài tập định lượng, có tác dụng giúp học sinh sử dụng thành thạo các công thức để tính đại lượng nào đó khi biết các đại lượng khác có liên quan, mặc dù trong thực tế, ta có thể đo nó được trực tiếp Ví
dụ như: sau khi học sinh nghiên cứu định luật Ôm trong mạch kín, giáo viên có thể ra cho học sinh một bài tập về mạch điện do mình nghĩ ra, không có trong thực tế, để tập cho học sinh quen áp dụng các công thức nhất định Bài tập có nội dung thực tế
Trang 27là bài tập đề cập tới những vấn đề có liên quan trực tiếp tới đối tượng có trong đời sống, kĩ thuật Dĩ nhiên, những vấn đề đó cần được thu hẹp và đơn giản hoá đi nhiều so với thực tế Trong các bài tập có nội dung thực tế, những bài tập có nội dung kĩ thuật có tác dụng lớn về mặt giáo dục kĩ thuật tổng hợp Nội dung của các bài tập này phải thoả mãn những yêu cầu chính sau:
+ Nguyên tắc hoạt động của đối tượng kĩ thuật nói đến trong bài tập phải gắn
bó mật thiết với những khái niệm và định luật vật lí đã học
+Đối tượng kĩ thuật này phải có ứng dụng khá rộng rãi trong thực tiễn sản xuất của nước ta hoặc của địa phương nơi trường đóng Số liệu trong bài tập phải phù hợp với thực tế sản xuất
+Kết quả của bài tập phải có tác dụng thực tế, tức là phải đáp ứng một vấn đề thực tiễn nào đó Khi ra cho học sinh những bài tập vật lí có nội dung kĩ thuật, cần có bài tập không cho đầy đủ dữ kiện và để giải nó, học sinh có nhiệm vụ phải tìm những
dữ kiện đó bằng cách tiến hành các phép đo hoặc tra cứu ở các tài liệu
Bài tập luyện tập được dùng để rèn luyện cho học sinh áp dụng các kiến thức
đã học để giải từng loại bài tập theo mẫu xác định Việc giải những bài tập loại này không đòi hỏi tư duy sáng tạo của học sinh mà chủ yếu cho học sinh luyện tập để nắm vững cách giải đối với một loại bài tập nhất định
- Khác với bài tập luyện tập, bài tập sáng tạo là bài tập mà các điều kiện cho trong đầu bài không chỉ dẫn trực tiếp hay gián tiếp cách giải bài tập Các bài tập sáng tạo có tác dụng rất lớn trong việc phát triển tính tự lực và sáng tạo của học sinh, giúp học sinh nắm vững kiến thức chính xác, sâu sắc và mềm dẻo Bài tập sáng tạo có thể
là bài tập giải thích một hiện tượng chưa biết trên cơ sở các kiến thức đã biết (trả lời câu hỏi “Tại sao”) hoặc là bài tập thiết kế, đi hỏi thực hiện một hiện tượng thực đáp ứng những yêu cầu đă cho (trả lời câu hỏi “Làm như thế nào”)
1.2.6 Một số điểm cần lưu ý học sinh khi dạy học bài tập vật lí
- Phải ghi rõ đơn vị ở kết quả sau cùng: Mỗi đại lượng vật lí luôn gắn với một đơn vị tương ứng Không có đơn vị thì đại lượng không có ý nghĩa
- Cần phân biệt các loại đơn vị khác nhau: Một số sai lầm phổ biến hiện nay là: Không phân biệt kW (công suất) và kWh (công), MeV (năng lượng) và MeV/c2
(khối lượng),…
Trang 28- Tập thói quen biến đổi rad ra độ hoặc ngược lại Biến đổi các đại lượng đo chiều dài, diện tích, thể tích Chú ý tên gọi của các bội số hay ước số của các đơn vị như micro (µ), nanô (η), picô (p), kilô (k), mêga (M), giga (G),…
- Tập thói quen kiểm tra giá trị của các đại lượng sao cho nó có ý nghĩa và phù hợp trong thực tế Nhiều em thường không yên tâm với kết quả nếu con số ra quá lớn hay quá nhỏ Vấn đề giá trị ấy có phù hợp với thực tế hay không Ví dụ: Vận tốc các vật luôn nhỏ hơn vận tốc ánh sáng Không có tụ điện có điện dung vài Fara, điện tích trong chương trình vật lý 11 hầu như được coi là điện tích điểm vì vậy độ lớn các điện tích thường rất nhỏ…
- Tâm lí sợ số lẻ: Thực tế các đại lượng vật lí có giá trị tuỳ ý, nếu kết quả là số thập phân là điều hết sức bình thường
- Cách ghi kết quả: Thông thường, sau khi có kết quả, các em thường giữ lại rất nhiều số thập phân mà không làm tròn theo qui tắc, điều này là thiếu khoa học trong cách ghi kết quả của các bài tập vật lý
- Nếu bài toán không yêu cầu chỉ nên giữ lại một hoặc hai con số có ý nghĩa sau dấu phẩy Ngoài ra, đối với các con số quá lớn hay quá nhỏ, nên viết kết quả dưới dạng chuẩn, nghĩa là dấu phẩy được đặt ngay sau con số có nghĩa đầu tiên Cách viết này rất tiện khi so sánh các số quá lớn hoặc quá nhỏ với nhau
- Một điểm cần lưu ý nữa là trình bày bài làm sạch sẽ, sáng sủa, khoa học Không nên viết liền một mạch mà nên phân đoạn xuống dòng sau mỗi ý Nếu cần thiết có thể bổ sung thêm hình vẽ để truyền đạt thông tin một cách ngắn gọn nhưng súc tích, hiệu quả
1.3 Vấn đề phát huy tính tích cực, tự lực của học sinh
1.3.1 Phát huy tính tích cực của học sinh trong dạy học vật lí [7,21,25]
* Khái niệm về tính tích cực của học sinh trong học tập
Tính tích cực trong học tập là một hiện tượng sư phạm biểu hiện ở sự cố gắng cao về nhiều mặt trong học tập Học tập là một trường hợp riêng của nhận thức “một
sự nhận thức làm cho dễ dàng đi và được thực hiện dưới sự chỉ đạo của giáo viên” (P.N.Erddơniev, 1974) Vì vậy, nói tới tích cực học tập thực chất là nói đến tích cực nhận thức Tính tích cực nhận thức là trạng thái hoạt động nhận thức của học sinh,
Trang 29đặc trưng ở khát vọng học tập, cố gắng trí tuệ và nghị lực cao trong quá trình nắm vững kiến thức
* Các biểu hiện của tính tích cực trong học tập
Tính tích cực của học sinh trong học tập biểu hiện qua các hành động cụ thể như:
- Học sinh sẵn sàng, hồ hởi đón nhận các nhiệm vụ mà giáo viên giao cho
- Học sinh tự nguyện tham gia vào các hoạt động học tập
- Học sinh tự giác thực hiện các nhiệm vụ mà mình đã nhận mà không cần phải để giáo viên đôn đốc, nhắc nhở
- Học sinh yêu cầu được giải đáp thắc mắc về những lĩnh vực còn chưa rõ
- Học sinh mong muốn được đóng góp ý kiến với giáo viên, với bạn bè những thông tin mới mẻ hoặc những kinh nghiệm có được ngoài sách vở, từ những nguồn khác nhau
- Học sinh tận dụng thời gian rỗi của mình để cố gắng hoàn thành công việc, hoặc hoàn thành công việc sớm hơn thời hạn hoặc xin nhận thêm nhiệm vụ
- Học sinh thường xuyên trao đổi, tranh luận với bạn bè để tìm phương án giải quyết vấn đề, mong muốn được giáo viên giúp đỡ, chỉ dẫn mà không nản chí khi gặp khó khăn
Ngoài ra, tính tích cực của học sinh trong hoạt động học tập cũng như trong hoạt động ngoại khoá còn có thể nhận thấy trong biểu hiện về mặt ý chí, như: sự tập trung vào vấn đề đang nghiên cứu, kiên trì theo đuổi mục tiêu, không nản chí trước những khó khăn hoặc thái độ phản ứng trong những buổi học, buổi hoạt động nhóm
là hào hứng, sôi nổi hay chán nản
* Các cấp độ của tính tích cực học tập
Có thể phân biệt tính tích cực ở ba cấp độ khác nhau như sau:
+ Cấp độ 1 - Tích cực tái hiện: Số học sinh trả lời đúng các câu hỏi ôn tập, củng cố kiến thức
+ Cấp độ 2 - Tích cực tìm tòi:
- HS phân tích được các hiện tượng vật lí trong nội dung bài tập đề cập đến
- HS nêu được các kiến thức áp dụng giải bài tập
- HS phân tích đi đến cách giải các bài toán
Trang 30- HS trình bày được lời giải bài tập
- HS nêu được nhận xét về kết quả của bài toán
+ Cấp độ 3 - Tích cực sáng tạo: Số học sinh có thể mở rộng bài toán và vận dụng kiến thức vào các vấn đề thực tiễn trong cuộc sống Số học sinh tự giác trong hoạt động cá nhân, số học sinh giải hết hoặc không hết các bài tập được giao về nhà,
số học sinh giải thêm các bài tập ngoài các bài tập được giao về nhà,
Những biểu hiện và các cấp bậc của tính tích cực trong học tập của học sinh nêu trên chính là những căn cứ để chúng tôi đánh giá hiệu quả của việc xây dựng tiến trình dạy học bài tập chương “Điện tích - Điện trường” đối với việc phát huy tính tích cực của học sinh trong thực nghiệm sư phạm
1.3.1.1 Những đặc trưng cơ bản của phương pháp dạy học tích cực [6,7]
* Dạy và học chú trọng rèn luyện phương pháp tự học
Phương pháp tích cực xem việc rèn luyện phương pháp học tập cho học sinh không chỉ là một biện pháp nâng cao hiệu quả dạy học mà còn là một mục tiêu dạy học hiện nay Trong các phương pháp học thì cốt lõi là phương pháp tự học, biến từ học thụ động sang tự học chủ động, phát triển tự học ngay trong trường phổ thông, không chỉ tự học ở nhà sau bài lên lớp mà tự học cả trong tiết học có sự hướng dẫn của giáo viên
* Dạy học thông qua tổ chức các hoạt động học tập của học sinh
Trong phương pháp tổ chức người học được cuốn hút vào các hoạt động học tập do giáo viên tổ chức và chỉ đạo, thông qua đó tự lực khám phá những điều mình chưa rõ chứ không phải thụ động tiếp thu những tri thức đã được giáo viên sắp đặt Người học không rập theo những khuôn mẫu sẵn có, được bộc lộ và phát huy tiềm năng sáng tạo của mình Theo cách dạy học này người giáo viên không chỉ truyền đạt tri thức mà còn hướng dẫn hành động
* Tăng cường học tập cá thể, phối hợp với học tập hợp tác
Phương pháp tích cực đòi hỏi sự cố gắng trí tuệ và nghị lực cao của mỗi học sinh trong quá trình tự lực dành lấy kiến thức mới Tuy nhiên, trong học tập không phải mọi tri thức, kĩ năng, thái độ đều được hình thành bằng con đường thuần tuý cá nhân mà con đường đi tới chân lí còn được tạo nên qua mối quan hệ hợp tác giữa các
Trang 31cá nhân trong tập thể Thông qua thảo luận, tranh luận trong tập thể, ý kiến của mỗi
cá nhân được điều chỉnh, khẳng định hay bác bỏ, qua đó bài học vận dụng được vốn hiểu biết, kinh nghiệm của mỗi cá nhân và của cả lớp
* Kết hợp đánh giá của thầy với tự đánh giá của trò
Trong học tập, việc đánh giá học sinh không chỉ nhằm mục đích nhận định thực trạng và điều chỉnh hoạt động học của trò mà còn tạo điều kiện nhận định thực trạng và điều chỉnh hoạt động dạy của thầy Trong phương pháp dạy học tích cực, giáo viên phải hướng dẫn học sinh phát triển kĩ năng tự đánh giá và tạo điều kiện để học sinh được tham gia đánh giá lẫn nhau từ đó để tự điều chỉnh cách học
Thực hiện phương pháp dạy học tích cực, vai trò của giáo viên không hề giảm bớt
mà lại có yêu cầu cao hơn, giáo viên phải có trình độ chuyên môn sâu rộng, có kinh nghiệm sư phạm, có óc sáng tạo và nhạy cảm mới có thể tổ chức, hướng dẫn các hoạt động độc lập của học sinh mà nhiều khi diễn biến ngoài tầm dự kiến của giáo viên
1.3.1.2 Các biện pháp phát huy tính tích cực hoạt động nhận thức của học sinh [11,17,24,]
Trong đa số các tài liệu nghiên cứu, các biện pháp để phát huy tính tích cực hoạt động nhận thức của học sinh có thể được tóm tắt như sau:
- Nói lên ý nghĩa lí thuyết và thực tiễn, tầm quan trọng của vấn đề nghiên cứu
- Nội dung dạy học phải mới, cái mới ở đây không phải là xa lạ quá đối với học sinh, cái mới phải liên hệ với cái cũ; kiến thức phải có tính thực tiễn, gần gũi với sinh hoạt, với suy nghĩ hàng ngày, thỏa mãn nhu cầu nhận thức của các em
- Phương pháp dạy học phải đa dạng (phát hiện và giải quyết vấn đề, thí nghiệm, thực hành, so sánh, làm việc độc lập…) và phối hợp chúng với nhau
- Sử dụng các phương tiện dạy học, đặc biệt là các dụng cụ trực quan có tác dụng tốt trong quá trình kích thích hứng thú của học sinh
- Sử dụng các hình thức tổ chức dạy học khác nhau: Cá nhân, nhóm, tập thể, làm việc trong phòng thí nghiệm…
- Thầy giáo, bạn bè động viên, khen thưởng kịp thời khi có thành tích học tập tốt
- Luyện tập dưới các hình thức khác, vận dụng kiến thức vào thực tiễn, các tình huống mới
- Kích thích tính tích cực qua thái độ, cách ứng xử giữa thầy và trò
Trang 32- Phát triển kinh nghiệm sống của học sinh trong học tập
1.3.2 Vấn đề phát huy tính tự lực của học sinh
1.4.2.2 Biểu hiện của tính tự lực nhận thức [2]
- Ý thức được nhu cầu học tập của mình, yêu cầu của xã hội, của tập thể hoặc nhiệm vụ do người khác đề ra đối với việc học tập của mình
- Ý thức được mục đích học tập, thực hiện được mục đích đó, làm thoả mãn nhu cầu nhận thức của mình
- Suy nghĩ kĩ, đánh giá đúng những điều kiện hoạt động học tập của mình, tích cực hoá những kiến thức, kinh nghiệm đã tích luỹ được có liên quan tới việc giải quyết nhiệm vụ và yêu cầu học tập Trên cơ sở đó, xác định những cách thức hợp lí
để giải quyết nhiệm vụ và yêu cầu học tập
- Dự đoán trước những diễn biến tâm lí: cảm xúc, động cơ, ý chí … đánh giá đúng mối tương quan giữa khả năng, nguyện vọng và sự cần thiết phải đạt được kết quả học tập nhất định
- Động viên mọi sức lực phù hợp với điều kiện và nhiệm vụ đòi hỏi
1.3.2.3 Cấu trúc của tính tự lực nhận thức [2]
Tính tự lực nhận thức có các thành phần cấu trúc như sau:
- Động cơ nhận thức: thể hiện ở nhu cầu nhận thức, hứng thú nhận thức, động
cơ có tính chất xã hội Thiếu động cơ nhận thức thì không thể diễn ra hoạt động nhận thức học tập
- Năng lực học tập: Được đặc trưng bằng tri thức, kĩ năng, kĩ xảo vững vàng làm chỗ dựa cho hoạt động nhận thức (thể hiện bằng sự phát triển trí tuệ, phương pháp suy nghĩ) nhờ đó mà người học có thể dễ dàng tự mình xác định được nhiệm vụ nhận thức của mình, thay đổi những cách thức hành động của mình để phù hợp với những hoàn cảnh mới, biết đánh giá đúng những yêu cầu, nhiệm vụ đề ra Từ đó mà
Trang 33người học có thể tự lực lĩnh hội tri thức mới từ nguồn nhận thức khác nhau, có thái độ phê phán, bình phẩm trong học tập, biết vận dụng tri thức đã tiếp thu được để tự học,
để giải quyết những nhiệm vụ do thực tiễn học tập và thực tiễn cuộc sống đặt ra Nhờ
đó, đủ niềm tin để bảo vệ ý kiến của mình và bảo vệ chân lí
- Tổ chức học tập: là sự thống nhất giữa phương pháp suy nghĩ và phương pháp lao động chung của hoạt động tự lực nhận thức (phương pháp lao động chung bao gồm việc lập kế hoạch, tổ chức lao động học tập và tự kiểm tra kết quả học tập)
Tự kiểm tra là phương tiện kích thích phát triển hơn nữa hoạt động tự lực nhận thức Học sinh càng nắm được cách thức kiểm tra thì càng lĩnh hội được tri thức và việc hình thành kĩ năng, kĩ xảo đạt được kết quả Từ đó mà tạo cho học sinh phát triển hứng thú học tập, kích thích nhu cầu hiểu sâu và rộng tri thức Tự kiểm tra cũng
là sự thể hiện năng lực học tập, tự mình nhận thấy những sai lầm của mình
- Hành động ý chí: Thể hiện ở tính mục đích, tính kiên trì, tinh thần khắc phục khó khăn nhằm thực hiện có kết quả nhiệm vụ học tập
Bốn thành phần cấu trúc của tính tự lực nhận thức liên hệ mật thiết với nhau, phụ thuộc và qui định lẫn nhau Thiếu một trong những thành tố đó thì không biểu hiện được tính tự lực nhận thức
1.3.2.4 Các biện pháp phát huy tính tự lực nhận thức của học sinh [11]
- Tác động vào ý thức, nhu cầu, động cơ, hứng thú học tập của học sinh:
Giáo viên giúp học sinh hiểu ý nghĩa, lợi ích của việc học tập đối với bản thân Động viên, khen thưởng kịp thời học sinh bằng những điểm số hoặc lời khen, chú ý đến học sinh kém nhưng có tiến bộ dù nhỏ Xây dựng tình huống có vấn đề, đề ra hệ thống các nhiệm vụ học tập để kích thích nhu cầu nhận thức của học sinh Xây dựng tâm thế hướng tâm lí tích cực cho học sinh khi bắt đầu giờ học Tổ chức các câu lạc
bộ bộ môn
- Hình thành phương pháp tự học cho học sinh: Giáo viên hướng dẫn học sinh cách thu nhận kiến thức, cách vận dụng kiến thức để giải quyết vấn đề và biến tri thức thành kiến thức của chính mình
- Tạo lập thói quen tự lực trong học tập cho học sinh: Giúp học sinh tự thể hiện trong học tập theo tinh thần hợp tác: tổ chức thảo luận nhóm, trao đổi trò -trò, thầy - thầy
Trang 34- Giáo viên kiểm tra, định hướng các hoạt động học tập của học sinh và giúp học sinh tự kiểm tra, tự đánh giá kết quả học tập của mình
1.3.3 Mối liên hệ giữa tính tích cực và tính tự lực [2]
Theo lí luận dạy học: Cơ sở để hình thành tính tích cực là tính tự giác, tính tích cực phát triển đến mức nào đó thì nảy sinh tính tự lực Như vậy, tính tự lực chứa đựng trong nó cả tính tự giác và tính tích cực, chúng được hình thành và phát triển dưới ảnh hưởng chủ đạo của giáo viên
Từ đây ta thấy, tính tích cực nhận thức liên hệ mật thiết với tính tự lực nhận thức, tính tích cực nhận thức là điều kiện cần thiết của tính tự lực nhận thức, không thể có tính tự lực nhận thức mà thiếu tính tích cực nhận thức được Tính tích cực nhận thức là kết quả và biểu hiện của sự nảy sinh, phát triển tính tự lực nhận thức Trong tính tự lực nhận thức đã thể hiện tính tích cực nhận thức, đồng thời trong sự thể hiện
đó lại có tác dụng hướng cá nhân đến tính tự lực nhận thức ở mức độ cao hơn
1.3.4 Xây dựng tiêu chí đánh giá tính tích cực, tự lực của học sinh
Để đánh giá tính tích cực, tự lực của HS chúng tôi dựa vào những biểu về tính tích cực, tự lực theo mục 1.3 và dựa vào kết quả học tập của HS Trên cơ sở đó chúng
tôi đưa ra hai tiêu chí đánh giá: định tính và định lượng
*Tiêu chí đánh giá định tính: Gồm 2 tiêu chí:
* Tiêu chí về tính tích cực: Dựa vào ba cấp độ của tính tích cực đã nêu trong
mục 1.3.1 và những dấu hiệu sau:
- Đa số học sinh sẵn sàng, hồ hởi đón nhận các nhiệm vụ mà giáo viên giao cho
- Đa số học sinh tự nguyện tham gia vào các hoạt động học tập
- Đa số học sinh tự giác thực hiện các nhiệm vụ mà mình đã nhận mà không cần phải để giáo viên đôn đốc, nhắc nhở
- Đa số học sinh mong muốn được đóng góp ý kiến với giáo viên, với bạn bè những thông tin mới mẻ hoặc những kinh nghiệm có được ngoài sách vở, từ những nguồn khác nhau
- Phần lớn học sinh tận dụng thời gian rỗi của mình để cố gắng hoàn thành công việc, hoặc hoàn thành công việc sớm hơn thời hạn hoặc xin nhận thêm nhiệm vụ
Trang 35* Tiêu chí về tính tự lực:
- Đa số học sinh tự làm bài tập về nhà,
- Đa số học sinh tham gia thảo luận nhóm
- Đa số học sinh tự trình bày được lời giải của bài toán (Sau khi GV đã phân tích cách giải)
- Khoảng 20% học sinh đề xuất được BT hay phương pháp giải khác
*Tiêu chí đánh giá định lượng:
Để đánh giá định lượng về tính tích cực và tự lực của HS lớp thực nghiệm, chúng tôi đánh giá thông qua kết quả học tập (căn cứ điểm kiểm tra), cách xếp loại như sau:
+ Giỏi: điểm 9, 10 + Khá: điểm 7, 8
+ Trung bình: điểm 5, 6 + Yếu: điểm 3, 4
+ Kém: điểm 0, 1, 2
Trong đó chúng tôi đưa ra tiêu chí định lượng về phát huy tính tích cực, tự lực là: Điểm kiểm tra ngay sau khi học có ít nhất 85% học sinh đạt điểm từ trung bình trở lên, trong đó có 40% HS đạt điểm khá, giỏi
1.4 Thực trạng dạy học bài tập vật lý ở một số trường THPT hiện nay
1.4.1 Nội dung điều tra
Nhằm mục đích xây dựng được tiến trình dạy học bài tập vật lí chương “Điện tích - Điện trường” theo hướng phát huy tính tích cực, tự lực của học sinh, chúng tôi
đã điều tra, tìm hiểu thực trạng một số trường PTTH về các nội dung sau:
- Tìm hiểu việc sử dụng các phương pháp dạy học bài tập Vật lí, các hoạt động hướng dẫn HS giải BT của GV, những thuận lợi và khó khăn trong dạy và học bài tập vật lí của giáo viên và học sinh THPT;
- Tìm hiểu tính tích cực và tự lực giải bài tập vật lí của học sinh THPT;
Trên cơ sở điều tra thực tế, phân tích hạn chế, khó khăn để tìm ra nguyên nhân, biện pháp khắc phục nhằm phát huy tính tích cực và tính tự lực học tập của học sinh qua các giờ giải bài tập Vật lí
1.4.2 Phương pháp điều tra
Để đạt được mục đích nói trên, chúng tôi đã sử dụng các phương pháp:
Trang 36- Điều tra qua giáo viên: Trao đổi trực tiếp, dùng phiếu điều tra, hỏi ý kiến, xem giáo án, dự giờ;
- Trao đổi với lãnh đạo nhà trường, tổ trưởng tổ chuyên môn, tham quan các phòng dạy học bộ môn;
- Điều tra qua học sinh: trao đổi trực tiếp, dùng phiếu điều tra
1.4.3 Kết quả điều tra
Chúng tôi đã thực hiện điều tra, trao đổi với giáo viên và học sinh lớp 11 THPT ở các trường trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên: Trường THPT Ngô Quyền; Trường THPT Trại Cau
Kết quả điều tra như sau:
1.5.3.1 Điều tra học sinh
- Số học sinh tham gia trả lời phiếu điều tra: 180
- Số học sinh thích học môn Vật lí: 150/180; Số học sinh không thích học môn Vật lí: 30/180
- Trong giờ học bài tập vật lí, số học sinh tích cực tham gia xây dựng bài: 100/180; Số học sinh không tích cực tham gia xây dựng bài: 80/180; Số học sinh không tập trung nghe giảng: 50/180;
- Số HS có khả năng tự lực giải bài tập môn Vật lí Tốt là: 15/180; Khá là: 45/180; trung bình là: 80/180; yếu là: 30/180; kém là 10/180
- Trước khi đến lớp số HS chuẩn bị bài tốt là: 100/180; số HS chuẩn bị bài chưa tốt là: 80/180
- Trong giờ học vật lý, số HS thích có sử dụng các thiết bị dạy học hiện đại (máy vi tính, máy chiếu, phần mềm, phim học tập ) là 170/180; số HS không thích hoặc không quan tâm là 10/180
- Số HS cho rằng Phương pháp giảng dạy của GV ảnh hưởng đến quá trình giải bài tập Vật lí của các em là 150/180; trong khi Số HS cho rằng mục đích và hứng thú học tập ảnh hưởng đến quá trình giải bài tập Vật lí của các em là 100/180
1.5.3.2 Điều tra giáo viên
Số giáo viên tham gia trả lời phiếu điều tra: 13
Về cách dạy mà GV áp dụng để phát huy tính tích cực, tự lực của học sinh trong giờ bài tập Vật Lí:
- Số GV sử dụng cách gọi học sinh chữa bài tập: 12/13
Trang 37- Số GV sử dụng cách thầy cô chữa bài tập, học sinh ghi chép 11/10
- Số GV sử dụng cách giáo viên nêu bài toán, cho học sinh suy nghĩ, thảo luận, phân tích để giải 6/13
Trong giờ bài tập vật lý:
- Số GV chỉ cho HS giải các bài tập trong SGK, sách bài tập 9/13
- Số GV cho HS giải phối hợp cả bài tập trong sách giáo khoa, sách bài tập và một số dạng bài tập tổng hợp kiến thức khác 6/13
- Số GV yêu cầu HS giải các dạng bài tập liên quan đến kiến thức của các chương đã từng học qua 13/13
Số GV cho rằng mục tiêu chính của giờ bài tập là:
- Chữa được nhiều bài tập 2/13
- Củng cố, khắc sâu kiến thức lí thuyết và vận dụng giải bài tập 13/13
- Rèn luyện cho học sinh phương pháp giải bài tập 13/13
Số học sinh mà GV (đang giảng dạy) cho rằng có khả năng tự lực trong học tập môn Vật lí là 50%
Số GV cho rằng nguyên nhân có thể dẫn đến học sinh thiếu hứng thú trong các giờ bài tập Vật lí:
- Do học sinh chưa nắm vững kiến thức 13/13
- Do học sinh chưa thấy được ý nghĩa của các kiến thức trong đời sống 8/13
- Do thói quen ỷ lại, lười suy nghĩ 13/13
- Do giáo viên chưa có phương pháp hợp lí 4/13
- Do các yếu tố tác động khác (gia đình, xã hội ) 5/13
Về các yếu tố gây nên những khó khăn đối với HS khi giải BT chương “Điện tích - Điện trường”:
- 10/13 GV cho rằng kĩ năng tính toán của HS còn kém
- 13/13 GV cho rằng HS không học lí thuyết trước giờ bài tập
- 12/13 GV cho rằng kĩ năng vẽ hình của HS còn kém
- Về khái niệm nào trong chương “Điện tích - Điện trường” học sinh không hiểu rõ
Trang 38- 10/13 GV cho rằng khái niệm điện trường và điện thế trong chương “Điện tích - Điện trường” học sinh không hiểu rõ 3/13 GV cho rằng khái niệm tụ điện trong chương “Điện tích - Điện trường” học sinh không hiểu rõ
1.4.3.3 Kết luận
Căn cứ vào thông tin thu nhận được qua điều tra, chúng tôi rút ra kết luận sau đây:
- Có thể thấy còn một tỷ lệ lớn HS chưa tích cực học tập môn vật lý, nhất là trong học bài tập vật lý Khả năng chủ động chuẩn bị bài của nhiều HS còn yếu, khả năng tự lực giải bài tập của HS chưa nhiều, kĩ năng tính toán, vẽ hình còn kém Một trong những lí do dẫn đến tình trạng này là phương pháp dạy học của giáo viên còn đơn điệu, ít sử dụng phương tiện DH hiện đại Nội dung bài tập mà GV sử dụng chủ yếu là BT SGK và BT SBT, việc hướng dẫn của GV còn chung chung, chưa kiểm tra một cách toàn diện xem HS làm BT như thế nào đã tích cực tự lực chưa, một số GV chỉ chú trọng đến việc chủ động giải BT ở HS mà chưa chú trọng đến vai trò của HS trong quá trình giải BT Ngoài ra khi trao đổi về bài tập của phần Điện tích - Điện trường, nhiều GV cho rằng do kiến thức phần này không liên quan đến thi tốt nghiệp, thi tuyển sinh đại học, cho nên không đi sâu vào nghiên cứu, phân loại các dạng bài tập, sưu tầm bài tập của phần Điện tích - Điện trường
Về phía HS: Các em chưa nắm được phương pháp giải bài tập, chưa tích cực chuẩn bị bài và làm BTVN, còn ỷ lại vào sách giải sẵn, làm bài tập mang tính chống đối và hình thức Các em chưa có hiểu biết đúng đắn về vai trò của bộ môn Vật lí trong thực tiễn cuộc sống Sự phát triển của các quán điện tử, Internet làm phân tán mạnh mẽ tư tưởng của học sinh, nhất là học sinh THPT
Do đó cần thiết phải áp dụng các phương pháp dạy học tích cực trong dạy học
Trang 39pháp nhằm phát huy tính tích cực và tự lực của học sinh qua rèn luyện giải bài tập vật
lí như sau:
1.5.1 Lựa chọn bài tập phù hợp vừa sức với học sinh
- Hệ thống bài tập được lựa chọn cần chú ý đến yêu cầu đảm bảo cho học sinh nắm vững kiến thức, rèn luyện kĩ năng vận dụng thực hành giải bài tập; đồng thời phải chú ý sao cho vừa sức với học sinh để gây được hứng thú cho học sinh đối với công việc giải bài tập Từ đó phát huy được tính tích cực và tự lực trong học tập của học sinh
- Để kích thích hứng thú cho học sinh nên chọn những bài tập có nội dung thực tế, gần gũi với đời sống, sản xuất của các em Ngoài ra cũng cần lựa chọn những bài tập mang những yếu tố nghiên cứu, mở rộng, nâng cao nhằm phát triển năng lực
tư duy và sáng tạo cho học sinh, để học sinh không chỉ áp dụng một cách máy móc các công thức vật lí mà cần suy nghĩ sâu sắc, cẩn thận, vận dụng linh hoạt các kiến thức để giải bài tập Khi học sinh đã tìm ra phương hướng giải thì sẽ gây được hứng thú cho bản thân, từ đó phát huy được năng lực tự lực giải bài tập
- Hệ thống bài tập được lựa chọn phải thoả mãn các yêu cầu sau:
+ Số lượng bài tập trong hệ thống phải phù hợp với thời lượng của chương trình học, thời gian học ở nhà của học sinh Tránh sự quá tải để học sinh ngại học
+ Các bài tập được sắp xếp trong mỗi chủ đề phải từ dễ đến khó, phù hợp với nội dung kiến thức cần vận dụng và trình độ tư duy của học sinh
+ Hệ thống bài tập phải góp phần khắc phục những khó khăn chủ yếu, những sai lầm phổ biến của học sinh trong học tập, làm rõ được những kiến thức mà lí thuyết đề cập chưa đầy đủ
+ Mỗi bài tập phải đóng góp một phần nào đó vào việc nắm vững kiến thức và rèn luyện kĩ năng vận dụng kiến thức đã chiếm lĩnh được, phát triển được năng lực của học sinh trong việc giải quyết các vấn đề học tập và thực tiễn Mỗi bài tập phải đem lại cho học sinh một điều mới lạ nhất định và một khó khăn vừa sức
- Để lựa chọn được hệ thống bài tập phù hợp với học sinh, giáo viên có thể tiến hành như sau: xác định kiến thức cơ bản học sinh cần nắm vững, các kĩ năng cần rèn luyện cho học sinh trong mỗi chủ đề Từ đó lựa chọn các bài tập cho mỗi chủ đề
Trang 40có yếu tố mới cần vận dụng giải bài tập mà trước khi học kiến thức ấy học sinh không thể nghĩ ra được
1.5.2 Phương pháp dạy học phải đa dạng
- Sử dụng phương pháp mô hình, phương pháp tương tự trong dạy học bài tập vật lí với sự hỗ trợ của phương tiện dạy học hiện đại: sử dụng máy vi tính, máy chiếu
dễ dàng đưa ra các bảng so sánh, đối chiếu một cách nhanh chóng; hoặc trình chiếu đồng thời các hiện tượng, các quá trình có tính tương tự để học sinh dễ dàng thực hiện các thao tác tư duy tương tự Ngoài ra sử dụng máy vi tính có thể tạo ra các mô hình: hình vẽ tĩnh, hình động, phần mềm mô phỏng, có thể giúp học sinh dễ nhận ra bản chất của hiện tượng nêu ra trong bài toán, thay vì dùng lời để mô tả học sinh khó tưởng tượng hơn Từ đó giúp cho các em định hướng và tìm tòi cách giải quyết bài toán nhanh chóng và chính xác hơn
- Sử dụng phương pháp thí nghiệm lí tưởng với sự hỗ trợ của phương tiện dạy học hiện đại khi giải bài tập vật lí: các thí nghiệm lí tưởng thường khó thực hiện trong điều kiện phòng thí nghiệm ở trường phổ thông, nên giáo viên thường dùng lời để mô
tả cùng với các hình vẽ tĩnh Để tăng cường tính hiệu quả của phương pháp thí nghiệm lí tưởng giáo viên có thể sử dụng các phần mềm dạy học để giới thiệu các thí nghiệm với tính trực quan cao
- Nhờ phối hợp các phương pháp và phương tiện dạy học hiện đại để hỗ trợ trong quá trình dạy học đã phát huy tốt tính tích cực và tự lực giải bài tập vật lí của học sinh
1.5.3 Tổ chức hoạt động học tập tích cực, tự lực giải bài tập vật lí
* Tạo tình huống có vấn đề trong giải bài tập vật lí
Giáo viên soạn thảo những nhiệm vụ có tiềm ẩn vấn đề tương ứng với nhiệm
vụ cần thực hiện giải bài tập để giao cho học sinh, sao cho nhiệm vụ đó được học sinh hăng hái đảm nhận thực hiện theo sự suy nghĩ của mình Tất yếu học sinh sẽ gặp khó khăn, ý thức được vấn đề và do khó khăn là vừa sức nên học sinh có thể tự chủ, tích cực suy nghĩ tìm tòi để vượt qua khó khăn để giải quyết vấn đề Trong sự khó khăn
đó, cùng với sự định hướng giúp đỡ của giáo viên, học sinh sẽ xây dựng được cho mình tri thức khoa học sâu sắc, vững chắc và có thể vận dụng được ở những giai đoạn sau Từ đó năng lực tự lực cùng với sự tích cực của học sinh sẽ được nâng cao