Cái nơi cần giữ lập trường duy vật nhất thì ông ta lại duy tâm sa lầy trong cái trừu tượng về con người và không bao giờ đi tới được con người hiện thực, con người xã hội: “Đành rằng so
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC
HUẾ
KHOA MÁC-LÊNIN
Trang 2MỤC LỤC
LỜI NÓI ĐẦU 4
GIỚI THIỆU TÁC PHẨM “HỆ TƯ TƯỞNG ĐỨC” CỦA C.MÁC VÀ F.ENGHEN 5
I Hoàn cảnh ra đời và ý nghĩa của tác phẩm 5
II Bố cục của tác phẩm (Tái bản 10/1986) 7
III NHỮNG NỘI DUNG QUAN TRỌNG CỦA TÁC PHẨM 8
1.Phê phán triết học Đức sau Heghen 8
2 Hệ thống quan niệm duy vật về lịch sử tương đối hoàn chỉnh của C.Mac và F.Enghen trong tác phẩm 13
IV KẾT LUẬN: 28
GIỚI THIỆU TÁC PHẨM “TUYÊN NGÔN CỦA ĐẢNG CỘNG SẢN” CỦA CÁC MÁC VÀ PHRI-ĐRÍCH ĂNG-GHEN 29
I HOÀN CẢNH RA ĐỜI VÀ NHỮNG Ý NGHĨA CƠ BẢN CỦA TÁC PHẨM 30
1.Hoàn cảnh ra đời: 30
2.Ý nghĩa của tác phẩm 31
3.Những tư tưởng cơ bản của tác phẩm 33
II BỐ CỤC CỦA TÁC PHẨM (cuốn tái bản năm 1976) 34
III NỘI DUNG CƠ BẢN TRONG CÁC CHƯƠNG, MỤC CỦA TÁC PHẨM 35
1.Các lời tựa 35
2.Mở đầu 39
3.Chương 1: Tư sản và Vô sản 40
4.Chương 2: Những người vô sản và những người cộng sản 42
5.Chương 3: Văn học xã hội chủ nghĩa và cộng sản chủ nghĩa 46
6.Chương 4: Thái độ của những người cộng sản đối với các đảng đối lập 49
IV KẾT LUẬN 50
GIỚI THIỆU TÁC PHẨM “LUDWIG FEUER BACH - SỰ CÁO CHUNG CỦA TRIẾT HỌC CỔ ĐIỂN ĐỨC” CỦA F.ENGHEN 53
I Hoàn cảnh ra đời và ý nghĩa của tác phẩm 53
II Bố cục của tác phẩm 53
III Những nội dung cơ bản của tác phẩm 54
1.Lời tựa viết năm 1888 54
2.Phần I 56
3.Phần II 62
4.Phần III 67
5.Phần IV 71
IV KẾT LUẬN: 78
GIỚI THIỆU TÁC PHẨM “CHỐNG ĐUY RINH (ĐIIH RING)” CỦA F.ENGHEN 80
1 Hoàn cảnh ra đời và ý nghĩa của tác phẩm 80
II Bố cục của tác phẩm 82
III Nội dung cơ bản về triết học của các chương trong tác phẩm 86
1.Lời mở đầu gồm hai chương: 89
2.Phần 1: Triết học 93
3.Phần 2: Kinh tế chính trị học (Tr 207 - 360; 243 - 422) 106
4.Phần 3: Chủ nghĩa xã hội (Tr 361 - 462; 423 - 556) 109
IV KẾT LUẬN: 110
GIỚI THIỆU TÁC PHẨM “CHỦ NGHĨA DUY VẬT VÀ CHỦ NGHĨA KINH NGHIỆM PHÊ PHÁN” CỦA V I LÊNIN 112
I Hoàn cảnh ra đời và ý nghĩa của tác phẩm 112
II Bố cục của tác phẩm (Tác phẩm in riêng 1960) 113
III Nội dung cơ bản về triết học của các chương trong tác phẩm 114
1.Lời tựa cho hai lần xuất bản 114
2.Thay lời dẫn “Một số người “mác-xít” 1908 và một số nhà duy tâm 1710 đã bài xích chủ nghĩa duy vật như thế nào?” 115
3.Chương 1: Lý luận về nhận thức của chủ nghĩa kinh nghiệm phê phán và của chủ nghĩa duy vật biện chứng (I) Tr 35 - 120 116
Trang 34.Chương 2: Lý luận về nhận thức của chủ nghĩa kinh nghiệm phê phán và của chủ nghĩa
duy vật biện chứng (II) Tr 121-187 120
5.Chương 3: Lý luận về nhận thức của chủ nghĩa kinh nghiệm phê phán và của chủ nghĩa duy vật biện chứng(III) Tr 188-262 123
6.Chương 4: Các nhà duy tâm, bạn chiến đấu và kế thừa của những người kinh nghiệm phê phán Tr 263 - 346 126
7.Chương 5: Cuộc cách mạng cận đại trong khoa học tự nhiên và chủ nghĩa duy tâm triết học Tr 347 - 436 127
8.Chương 6: Chủ nghĩa kinh nghiệm phê phán và chủ nghĩa duy vật lịch sử Tr 437 - 500 130
9.Kết luận Tr 501 - 502 135
10 Bổ sung mục 1 chương IV: Tsecnưsepxky phê phán chủ nghĩa Cant từ phía nào Tr 503 - 506 136
IV KẾT LUẬN: 137
GIỚI THIỆU TÁC PHẨM “BIỆN CHỨNG CỦA TỰ NHIÊN” CỦA F.ENGHEN 139
I Hoàn cảnh ra đời và ý nghĩa của tác phẩm 140
II Bố cục của tác phẩm (Tác phẩm in riêng năm 1964 của Nhà xuất bản Sự Thật) 141
III Nội dung cơ bản về triết học của các chương trong tác phẩm 142
1.Những sơ thảo đề cương [31-36] 142
2.Lời nói đầu [37- 69] 144
3.Bài tựa cũ của cuốn “Chống Đuy Rinh” về biện chứng (Tr 70-84) 144
4.Khoa học tự nhiên trong thế giới thần linh (Tr 85 - 103) 145
5.Phép biện chứng (Tr 104 - 114) 145
6.Những hình thái vận động cơ bản (Tr 115 - 142) 146
7.Sự đo lường vận động - Công (Tr 143 - 165) 146
8.Sự ma sát của nước thuỷ triều Cant và Tômxơnte Sự quay của quả đất và sức hút của mặt trăng (Tr 166 - 174) Nhiệt (Tr 175 - 182) Điện (Tr 183 - 265) 147
9.Tác dụng của lao động trong sự chuyển biến từ vượn thành người (Tr 266 - 289) 147
10.Trích yếu lịch sử khoa học (Tr 290 - 316) 147
11.Khoa học tự nhiên và triết học (Tr 317 - 332) 149
12.Phép biện chứng (Tr 333 - 388) 150
13.Những hình thái vận động của vật chất Phân loại các ngành khoa học (Tr 389 - 414) .153 14.Toán học (Tr 415 - 442) Cơ học và thiên văn học (Tr 443 - 452) Vật lý học (Tr 453 - 478) Hoá học (Tr 479 - 481) Sinh vật học (Tr 482 - 512) 154
IV KẾT LUẬN: NHỮNG NỘI DUNG CƠ BẢN CỦA TÁC PHẨM 155
1 Lịch sử phát triển của khoa học tự nhiên 155
2.Mối quan hệ giữa triết học và khoa học tự nhiên 157
3.Vật chất và vận động 159
4.Ý thức 160
5.Phép biện chứng 161
6.Một số vấn đề về lý luận nhận thức và lôgíc học 163
GIỚI THIỆU TÁC PHẨM “BÚT KÝ TRIẾT HỌC” CỦA V.I.LÊNIN (V.I LÊNIN TOÀN TẬP - TẬP 29 - NXB TIẾN BỘ - MÁTXCƠVA 1981) 165
I Hoàn cảnh ra đời và ý nghĩa của tác phẩm 165
II Bố cục của tác phẩm 166
III Các nội dung cơ bản về triết học của các chương trong tác phẩm 168
1.Phần I Các bản tóm tắt và các đoạn trích (03 - 400) 168
2.Phần II Những ghi chú về các sách, các bài báo và các bài phê bình (401 - 436) 176
3.Phần III Những ý kiến và bút tích ghi trong các sách (437-503) 177
IV KẾT LUẬN: 182
TÀI LIỆU THAM KHẢO: 186
Trang 4LỜI NÓI ĐẦU
-***-Trong khi chờ đợi giáo trình có tầm cỡ quốc gia, chúng tôi biên soạn cuốn sách “Giới thiệu các tác phẩm kinh điển triết học” nhằm phục vụ cho việc học tập của sinh viên chuyên ngành Triết học của Đại học Khoa học Huế, sinh viên ngành Giáo dục Chính trị của Đại học Sư phạm Huế và Trung tâm Đào tạo Từ xa Đại học Huế cùng những bạn đọc quan tâm đến nội dung cuốn sách
Nội dung cuốn sách được hoàn thành dựa trên nội dung cuốn “Bài giảng các tác phẩm kinh điển triết học” mà chúng tôi đã biên soạn phục vụ cho việc học tập và nghiên cứu của sinh viên Đại học Khoa học Huế theo sự phân công của Bộ môn Triết học - Khoa Mác-Lênin - Trường Đại học Khoa học Huế tháng 02 năm 2000 và cuốn
“Giới thiệu các tác phẩm kinh điển triết học” chúng tôi đã biên soạn cho Trung tâm Giáo dục Từ
xa Đại học Huế năm 2002, đã được Nhà xuất bản Thuận Hóa-Huế cho ra mắt bạn đọc năm
2002 và được Nhà xuất bản Đà Nẵng tái bản năm
2005, đồng thời có sử dụng một số tư liệu của cuốn “Giới thiệu và hướng dẫn nghiên cứu các tác phẩm và chuyên đề Triết học Mác-Lênin - Bộ môn Triết đại học kinh tế quốc dân 1991”.
Mặc dù đã có nhiều cố gắng biên soạn theo quyết định số 3244/ GD - ĐT ngày 12/ 09/ 1995 của
Trang 5Bộ trưởng Bộ Giáo Dục và Đào Tạo, song cuốn sách cũng không tránh khỏi những thiếu sót Tác giả rất mong nhận được sự góp ý của các bạn đồng nghiệp, đọc giả xa gần để cuốn sách ngày càng hoàn thiện hơn Chân thành cảm ơn!
Huế, tháng 5 năm 2007
Th.s Hoàng Ngọc Vĩnh
GIỚI THIỆU TÁC PHẨM “HỆ TƯ TƯỞNG ĐỨC” CỦA C.MÁC VÀ F.ENGHEN
I Hoàn cảnh ra đời và ý nghĩa của tác phẩm.
Vào những năm 1845-1846, Tây Âu đang tiến nhanhđến một cuộc cách mạng mới Phong trào công nhânphát triển mạnh và rộng rãi khắp châu Âu nhưng chịunhiều ảnh hưởng của chủ nghĩa xã hội không tưởng
Lúc này C.Mac và F.Enghen đã đi sâu vào hoạt độngchính trị, hai ông nhận thấy cần phải xây dựng mộtlý luận chủ nghĩa xã hội khoa học để phân ranh giớirõ ràng giữa hệ tư tưởng của giai cấp vô sản với hệ
tư tưởng của giai cấp tư sản, tiểu tư sản, vạch conđường đi đến chủ nghĩa cộng sản một cách hiệnthực mà giai cấp vô sản đang đi vào một cách tựphát
Theo F.Enghen, lúc này (mùa xuân 1845) quan niệmduy vật ở C.Mac đã hình thành đầy đủ Hai ông nhất trílấy quan niệm đó để phê phán toàn bộ nền móngtriết học cổ điển Đức sau Heghen
Phê phán “Hệ tư tưởng Đức” là mục đích của tácphẩm: ”Muốn đánh giá đúng cái bịp bợm triết họcđó, nó thậm chí làm thức tỉnh trong lòng người thị dânĐức trung thực một tình cảm dân tộc dễ chịu, muốnhiểu rõ tính nhỏ nhen, tính thiển cận địa phương củatoàn bộ phong trào của phái Hêghen trẻ đó, và đặc
Trang 6biệt muốn hiểu rõ sự trái ngược vừa bi đát vừabuồn cười giữa những chiến công hiện thực của các
vị anh hùng đó, với những ảo tưởng của họ về chínhnhững chiến công ấy thì cần phải xem xét tất cả sựầm ĩ đó theo một quan điểm ở bên ngoài nước Đức”1
“Hệ tư tưởng Đức” là tác phẩm viết chung củaC.Mac và F.Enghen vào cuối giai đoạn hình thành chủnghĩa Mác: Lúc mà hai ông đã khắc phục chủ nghĩa duytâm trong lĩnh vực xã hội và xây dựng những nguyênlý của chủ nghĩa duy vật, đặt nền móng triết học cholý luận chủ nghĩa xã hội khoa học
Tác phẩm này viết từ tháng 08/1845 đến tháng05/1846 Nó gồm hai tập, nhưng nội dung quan trọngnhất của tác phẩm là ở chương 1 của tập I
- Trong tác phẩm, hai ông trình bày quan niệm duyvật lịch sử của mình và đấu tranh với triết học duytâm về lịch sử của Ludwig Feuerbach, Bauer, Xtiêc-nơ vànhững nhà Xã hội chủ nghĩa “chân chính”
- Nội dung của tác phẩm “Hệ tư tưởng Đức” rấtphong phú Trong đó, C.Mac và F.Enghen đã trình bày mộtcách rõ ràng, hoàn chỉnh những nguyên lý cơ bản củachủ nghĩa duy vật về lịch sử “Hệ tư tưởng Đức”thực sự là tác phẩm lớn nhất của thời kỳ hình thànhchủ nghĩa Mác (1842-1848)
- Thời C.Mác, tác phẩm này không được xuất bản
vì bị kiểm duyệt nghiêm ngặt Nó được xuất bản lầnđầu tiên tại Matxcơva năm 1932 Tại Việt Nam nó đãđược tái bản bốn lần:
Lần 1 có tựa đề “Hệ tư tưởng Đức - Phần thứnhất: Phơ bách
Lần thứ hai và ba có tựa đề “Ludwig Feuerbach Sự đối lập giữa quan điểm duy vật chủ nghĩa và
-1 C.Mác F.Enghen Hệ tư tưởng Đức Nhà xuất bản Sự Thật Hà Nội 1987 Trang 9.
Trang 7-quan điểm duy tâm chủ nghĩa” (Chương 1 Hệ tư tưởngĐức)
Lần thứ tư, trước khi bước vào thời kỳ đổi mới,tác phẩm được xuất bản vào tháng 10/1986, do Nhàxuất bản Sự Thật - Hà Nội ấn hành - có tựa đề
“Hệ tư tưởng Đức - Chương 1 Ludwig Feuerbach sự đốilập giữa quan điểm duy vật và quan điểm duy tâm”,đúng như trong C.Mac và F.Enghen tuyển tập - Nhà xuấtbản Sự Thật - Hà Nội 1980 - Tập 1 - Trang 259 đến369
- Tất cả các lần xuất bản thành tác phẩm riêngbằng tiếng Việt và cả trong C.Mac và F.Enghen tuyểntập - Tập 1 nói trên, đều chỉ là Chương 1 trong tập Icủa tác phẩm “Hệ tư tưởng Đức” của C.Mác vàF.Enghen
II Bố cục của tác phẩm (Tái bản 10/1986).
- I Phơ bách Sự đối lập giữa quan điểm duy vậtvà duy tâm Trang 7-9 (261-263 trong C.Mac và F.Enghentuyển tập - Nhà xuất bản Sự Thật - Hà Nội 1980 -Tập 1)
- Phơ bách A Hệ tư tưởng nói chung, hệ tư tưởngĐức nói riêng Trang 10-13 (264-267 trong C.Mac vàF.Enghen tuyển tập - Nhà xuất bản Sự Thật - Hà Nội
1980 - Tập 1)
- [1] Hệ tư tưởng Đức nói chung, triết học Đứcnói riêng Trang 13-26 (267-279 trong C.Mac và F.Enghentuyển tập - Nhà xuất bản Sự Thật - Hà Nội 1980 -Tập 1)
- [2] Trang 26-64 (279-314 trong C.Mac và F.Enghentuyển tập - Nhà xuất bản Sự Thật - Hà Nội 1980 -Tập 1)
- [3] Trang 64-70 (314-321 trong C.Mac và F.Enghentuyển tập - Nhà xuất bản Sự Thật - Hà Nội 1980 -Tập 1)
Trang 8- [4] Trang 71 - 114 (321 - 362).
- Quan hệ của nhà nước và pháp quyền với sởhữu Trang 114-120 (363-369 trong C.Mac và F.Enghentuyển tập - Nhà xuất bản Sự Thật - Hà Nội 1980 -Tập 1)
III NHỮNG NỘI DUNG QUAN TRỌNG CỦA TÁC PHẨM.
Tác phẩm có hai nội dung chính: Phê phán triếthọc Đức sau Hêghen và Hệ thống quan niệm duy vậtvề lịch sử tương đối hoàn chỉnh của C.Mac và
F.Enghen
1 Phê phán triết học Đức sau Heghen.
- Trong tác phẩm hai ông đã chỉ rõ: Phái Heghen trẻ
om sòm tự xưng là cách mạng, nhưng trên thực tế họ không vượt qua chủ nghĩa duy tâm của Heghen Họ
“tin rằng, tôn giáo, khái niệm, cái phổ biến thống trịtrong thế giới hiện tại” Họ phê phán ý thức hiện nay
- cái mà họ cho là sai lầm - đòi thay thế nó bằng ýthức phê phán - những quan niệm của chính họ -nhưng trên thực tế họ là những kẻ bảo thủ, chỉ cáchmạng bằng lời lẽ mà thôi: “Mặc dù họ đã dùngnhững lời lẽ khoa trương dường như làm đảo lộn thếgiới, các nhà tư tưởng của phái Hêghen trẻ vẫn lànhững kẻ đại bảo thủ Những người trẻ nhất trongbọn họ đã tìm được những từ ngữ chính xác đểchỉ hoạt động của họ, khi họ tuyên bố rằng họ chỉđấu tranh chống lại “những câu nói” Không mộtngười nào trong những nhà triết học đó có ý nghĩ tựhỏi xem mối liên hệ giữa triết học Đức với hiệnthực Đức là như thế nào, mối liên hệ giữa sự phêphán của họ với hoàn cảnh vật chất của chính bảnthân họ là như thế nào”2
Sách đã dẫn - Trang 13.
Trang 9Trong lĩnh vực lịch sử, hai ông chỉ rõ phái Heghen trẻ cũng như chủ nghĩa duy tâm không biết đến cơ sở hiện thực của lịch sử Theo hai ông, họ chỉ coi mỗi
thời đại lịch sử là thể hiện của một tư tưởng, mộtquan niệm nào đó Chính thế, khi phân tích một thờiđại lịch sử nào đó ở họ suy cho cùng chỉ là sự “tánđồng ảo tưởng của thời đại đó”
Hai ông hoàn thành việc phê phán phái Heghen trẻ bằng cách phân tích và chỉ ra nguồn gốc xã hội của họ Theo hai ông, họ thuộc giai cấp thị dân Đức, một
giai cấp trung gian của một nước Đức chưa từngthực hiện một cuộc cách mạng tư sản triệt để
“Triết học Đức là hậu quả của những quan hệ tiểu
tư sản” Tính nghèo nàn, bất lực của tư tưởng Đứcphản ánh chính tính nghèo nàn, thảm hại của hiệnthực Đức Một nước Đức phong kiến bảo thủ tồn tạibên cạnh một nước Pháp tư sản triệt để của một xãhội phương Tây sục sôi cách mạng tư sản
- Như nhan đề của chương 1 đã chỉ rõ, hai ông
dành phần quan trọng để phê phán Ludwig Feuerbach, vạch rõ tính duy tâm về xã hội của triết học ấy Hai
ông viết “Feuerbach không bao giờ hiểu được rằng thếgiới cảm giác được là tổng số những hoạt độngsống và cảm giác được của những cá nhân hợpthành thế giới ấy, vì vậy ông không nhìn thấy chẳnghạn một đám người đói, còi cọc, kiệt quệ vì laođộng và ho lao, chứ không phải những người khoẻmạnh thì ông buộc phải lẩn trốn vào trong “quanniệm cao hơn” và trong “sự bù trừ” lý tưởng “trongloài” nghĩa là ông lại rơi vào chủ nghĩa duy tâm, đúng ởchỗ mà người duy vật cộng sản chủ nghĩa nhìn thấycả sự tất yếu lẫn điều kiện của một sự cải tạo
cả nền công nghiệp lẫn cơ cấu xã hội Khi Ludwig
Feuerbach là nhà duy vật thì ông không bao giờ vận dụng đến lịch sử, còn khi ông tính đến lịch sử thì ông không phải là nhà duy vật Ở Feuerbach, lịch sử và chủ
Trang 10nghĩa duy vật hoàn toàn tách rời nhau, điều này đãđược nói rõ ở bên trên”3.
+ Hai ông chỉ rõ, Ludwig Feuerbach duy tâm ở chỗông ta thừa nhận con người là đối tượng cảm tính,một thực thể có cảm giác và tình cảm (ở điểm nàyông hơn các nhà triết học duy vật máy móc), nhưngông ta không thấy giữa người với người một mối quanhệ nào khác ngoài tình bạn, tình yêu Thậm chí ông tacoi tình bạn, tình yêu là động lực quan trọng nhất
của lịch sử Cái nơi cần giữ lập trường duy vật nhất
thì ông ta lại duy tâm sa lầy trong cái trừu tượng về con người và không bao giờ đi tới được con người hiện thực, con người xã hội: “Đành rằng so với những nhà
duy vật thuần tuý thì Feuerbach có ưu điểm lớn là ôngthấy rằng con người cũng là một “đối tượng củacảm giác”; nhưng hãy gạt bỏ việc ông coi con ngườichỉ là “đối tượng của cảm giác” chứ không phải là
“hoạt động cảm giác được”, vì cả ở đây nữa, ôngvẫn còn bám vào lý luận và không xem xét con ngườitrong mối quan hệ xã hội nhất định của họ, trongnhững điều kiện sinh hoạt nhất định của họ, nhữngđiều kiện làm cho họ trở thành những con người đúngnhư họ đang tồn tại, thì Feuerbach cũng không bao giờ
đi tới được những con người đang tồn tại và hànhđộng thực sự, mà ông vẫn cứ dừng lại một sựtrừu tượng: “Con người” và có thể nhận ra con người
”hiện thực, cá thể, bằng xương bằng thịt” chỉ trongtình cảm thôi, nghĩa là ông không biết đến những “quanhệ con người”, “giữa người với người” nào khác,ngoài tình yêu và tình bạn, hơn nữa là tình yêu và tìnhbạn được lý tưởng hoá Ông không phê phán nhữngđiều kiện hiện tại”4
+ Hai ông cũng chỉ rõ, thái độ tĩnh quan của Ludwig
Feuerbach đã dẫn ông ta đến tự nhiên chủ nghĩa về
3 Sđd - Trang 33.
Sđd - Trang 32-33.
Trang 11lịch sử xã hội, coi con người là sản phẩm của tự nhiên, phục tùng những quy luật của tự nhiên, những quy luật sinh học Ông ta chỉ thấy cái tự nhiên mà không thấy cái xã hội ở con người Ông ta đã tách rời
tự nhiên với xã hội, không thấy mối quan hệ biệnchứng giữa tự nhiên với xã hội
Thật ra, con người không chỉ là đối tượng cảmtính mà còn hoạt động cảm tính Dĩ nhiên là từ tựnhiên tách ra con người, nhưng con người lại cải tạotự nhiên “Bao giờ con người cũng đứng trước mộtgiới tự nhiên lịch sử và một lịch sử tự nhiên” Tựnhiên có vị trí ưu tiên của nó, song không thể xem nó làcái chủ yếu, bất biến, không thay đổi Chính cái xãhội mới là cái cơ sở, cái tự nhiên phát triển, thành cáixã hội, trở thành cái xã hội, không biến mất mà chỉthay đổi hình thức của mình
- Quan điểm tự nhiên chủ nghĩa về lịch sử chỉthừa nhận quy luật tự nhiên, quy luật sinh học tácđộng trong xã hội Quan niệm ấy luôn luôn gặp cácmâu thuẫn không thể giải quyết được giữa tính quyluật khách quan và hoạt động có ý thức của conngười; hoặc quy luật tự nhiên quyết định lịch sử hay
ý thức con người quyết định lịch sử; hoặc hoàn cảnhquyết định con người hay con người quyết định hoàncảnh của họ Về điểm này, hai ông chỉ ra LudwigFeuerbach duy tâm khi ông ta cho rằng, bản thân conngười sáng tạo ra lịch sử của mình mà chỉ đóng khungcon người trong phạm vi thể chất, tình cảm - tức ông
ta chỉ thấy cái chủ quan mà không thấy cái khách quan,không thấy cái đặc thù của cái khách quan trong lĩnhvực xã hội, không thấy cái đặc thù của quy luật xãhội (Triết học duy vật biện chứng coi con người sángtạo ra hoàn cảnh lịch sử trong chừng mực nào, thìhoàn cảnh lịch sử cũng tạo ra con người trong chừngmực ấy) Ở đây, Ludwig Feuerbach đã thụt lùi hơn sovới Heghen Heghen cho rằng, kết quả hoạt động có
Trang 12mục đích của con người không phụ thuộc vào bản thânhoạt động ấy, tức kết quả ấy là cái khách quan Tuynhiên, Heghen đã giải thích tính khách quan ấy mộtcách tư biện (Quan niệm của Chủ nghĩa Mác-Lênin vềcon người và bản chất con người là: Con người là mộtchỉnh thể thống nhất của ba hệ thống các quy luật:Hệ thống các quy luật sinh học tạo nên phương diệnsinh học ở con người; Ý thức con người hình thành vàhoạt động trên cơ sở nền tảng sinh học của con người;Hệ thống các quy luật xã hội tạo nên cái xã hội củacon người, nó quy định mối quan hệ giữa người vớingười Trong đời sống hiện thực ba quy luật đó khôngtách rời nhau mà đan quyện hoà vào nhau, tạo nên bảnchất con người với tư cách là cái đồng nhất của cáitự nhiên sinh học và cái xã hội Con người trước hếtlà một động vật bậc cao Nhưng con vật chỉ tái sảnxuất ra chính mình, còn con người thì còn tái sản xuất
ra toàn bộ giới tự nhiên Nhu cầu tự nhiên của conngười được biểu hiện ở các mặt: nhu cầu ăn, ở,mặc ; nhu cầu sinh hoạt văn hoá tinh thần, nhu cầutái sản xuất xã hội; nhu cầu tình cảm và nhu cầuhiểu biết Để đáp ứng những nhu cầu đó con ngườicần phải lao động Trong lao động con người quan hệvới nhau, hình thành nên những quan hệ khác trong lĩnhvực đời sống tinh thần Chính thế Mác khẳng định
“trong tính hiện thực của nó, bản chất con người làtổng hoà các quan hệ xã hội” Bản chất con ngườikhông là cái bẩm sinh cũng không là cái chỉ sinh ra mộtlần là xong, mà nó là một quá trình được trải quahoạt động thực tiễn Trong quá trình đó con ngườivừa là sản phẩm của hoàn cảnh vừa cải biến hoàncảnh Con người vừa là sản phẩm của lịch sử vừa làchủ thể sáng tạo ra lịch sử của mình)
+ Hai ông chỉ rõ “toàn bộ suy diễn của LudwigFeuerbach về quan hệ giữa người với người chỉ nhằmchứng minh người ta cần có nhau và bao giờ cũng cần
Trang 13có nhau Cũng như những nhà duy lý khác, LudwigFeuerbach không phải là một nhà cách mạng, mà làmột nhà bảo thủ Lý luận của Ludwig Feuerbach chỉ làsự ca tụng tuyệt diệu cái đang tồn tại Ông ta viết
“Bản chất của tôi như thế nào thì tồn tại của tôi nhưthế ấy” Cái đang tồn tại mà Ludwig Feuerbach ca ngợichính là trật tự tư sản Là người có tấm lòng nhânđạo, Ludwig Feuerbach không thể thờ ơ với cảnh khổcủa người lao động Nhưng là nhà dân chủ tư sản ông
ta không thể nhìn thấy được nguyên nhân của tìnhcảnh ấy và lối thoát hợp quy luật khỏi tình cảnh đó.Ông ta không có ý thức bênh vực trật tự dân chủ tưsản, mà chính do hạn chế bản chất giai cấp của tưtưởng của ông ta tạo ra Ludwig Feuerbach không phủđịnh mà thừa nhận sự tồn tại của cái đang tồn tại.Mà cái đang tồn tại không là cái gì khác ngoài hơn làtrật tự dân chủ tư sản
- Như vậy, hai ông đã tiến hành hai bước làm cơ
sở để xây dựng quan niệm duy vật về lịch sử của mình là: Thứ nhất là phê phán chủ nghĩa duy tâm về
lịch sử của các nhà triết học duy tâm như Heghen vàphái Heghen trẻ Thứ hai là phê phán chủ nghĩa duy tâmvề lịch sử của các nhà triết học duy vật cũ mà đỉnhcao là Ludwig Feuerbach Đây là điểm mới trong xâydựng chủ nghĩa duy vật về lịch sử của Mác vàĂngghen
2 Hệ thống quan niệm duy vật về lịch sử tương đối hoàn chỉnh của C.Mac và F.Enghen trong
tác phẩm.
Quan niệm duy vật lịch sử của C.Mac và F.Enghen
có hai nội dung chính là Tiền đề và bản chất của
quan niệm duy vật lịch sử; Quan niệm duy vật về lịch sử
a) Tiền đề và bản chất của quan niệm duy vật lịch sử của C.Mác và F Enghen (Có năm tiền
Trang 14Theo C.Mác và F.Enghen, tiền đề đầu tiên của mọi
lịch sử là sự tồn tại của những cá nhân con người
“người ta phải có khả năng sống để rồi mới có khảnăng làm ra lịch sử” Con người muốn tồn tại ít nhấtphải ăn, ở và mặc Muốn vậy con người phải sản xuất
ra bản thân đời sống vật chất Trong sản xuất vật
chất thì sản xuất ra những tư liệu sinh hoạt là tiền đề cơ bản của mọi lịch sử, nó là sự thực lịch sử đầu tiên, là quan hệ lịch sử đầu tiên Hai ông viết “có
thể phân biệt con người với loài vật bằng ý thức, tôn
giáo, nói chung bằng cái gì cũng được Còn chính con
người thì bắt đầu tự phân biệt với loài vật khi con người bắt đầu sản xuất ra những tư liệu sinh hoạt cần thiết cho mình Khi sản xuất ra những tư liệu
sinh hoạt cần thiết cho mình con người gián tiếp sảnxuất ra chính đời sống vật chất của bản thân mình”
“Người ta phải có khả năng sống đã rồi mới có thể
“làm ra lịch sử” Nhưng muốn sống được thì trướchết cần phải có thức ăn, thức uống, nhà ở, quần áovà một vài thứ khác nữa Như vậy hành vi lịch sửđầu tiên là việc sản xuất ra những tư liệu để thoảmãn những nhu cầu ấy, việc sản xuất ra bản thân đờisống vật chất, và đó là một hành vi lịch sử, mộtđiều cơ bản của mọi lịch sử mà hiện nay cũng nhưhàng ngàn năm về trước người ta phải thực hiệnhàng ngày, hàng giờ chỉ nhằm để duy trì đời sống conngười”5 Như vậy tiền đề đầu tiên của mọi lịch sử
suy cho cùng là việc sản xuất ra những tư liệu sinh hoạt.
Hai ông chỉ ra quan hệ lịch sử thứ hai là sự thoả
mãn nhu cầu đầu tiên đưa tới những nhu cầu mới Vàsự sản sinh ra những nhu cầu mới này là hành vi lịchsử đầu tiên Nhưng muốn thỏa mãn nhu cầu thì phảisản xuất, nhưng chính sản xuất lại tạo ra những nhu
S đ d Trang 34.
Trang 15cầu mới Đến lượt nó, những nhu cầu mới lại trở
thành nguyên nhân của sự phát triển sản xuất “Bản
thân nhu cầu đầu tiên được thoả mãn - khi đã có được hành động được thoả mãn ấy và công cụ đạt được để thoả mãn nhu cầu ấy - đưa tới những nhu cầu mới”, chính là tiền đề quan hệ lịch sử thứ hai,
trong xây dựng quan niệm duy vật lịch sử của hai ông
Quan hệ lịch sử thứ ba là trong tái sản xuất ra đời sống vật chất của chính bản thân mình, thì con người cũng tái sản xuất ra con người thông qua quan hệ gia đình Tức là, trong khi tái sản xuất ra đời sống
của chính mình, thì con người cũng sản xuất ra nhữngcon người khác, con người luôn sinh sôi nảy nở Khinhững nhu cầu đã tăng lên sinh ra những nhu cầu mớithì quan hệ gia đình cũng là một quan hệ phụ thuộc.Gia đình lúc đầu là quan hệ xã hội duy nhất, về sautrở thành một quan hệ phụ thuộc khi mà những nhucầu đã tăng lên đẻ ra những quan hệ xã hội mới vàdân số đã tăng lên đẻ ra những nhu cầu mới Ba mặtđó của hoạt động xã hội là ba mặt hay ba yếu tốtồn tại đồng thời với nhau ngay từ buổi đầu của lịchsử, từ khi con người đầu tiên xuất hiện, và chúng cònbiểu hiện ra trong lịch sử
Thứ tư là sự sản xuất ra bản thân đời sống (vật chất) là một quan hệ hai mặt: Một mặt là quan hệ tự nhiên, một mặt là quan hệ xã hội Quan hệ tự
nhiên với ý nghĩa là hoạt động sản xuất để tái sảnxuất ra đời sống vật chất Quan hệ xã hội với ýnghĩa là hoạt động kết hợp của nhiều cá nhân bấtkể trong điều kiện nào, theo cách nào và nhằm mụcđích gì Một phương thức sản xuất nhất định hay mộtgiai đoạn công nghiệp nhất định bao giờ cũng thốngnhất với một phương thức hoạt động kết hợp nhấtđịnh, một giai đoạn xã hội nhất định Tức trong sảnxuất ra đời sống, hai mặt quan hệ này là cái thốngnhất với nhau trong một phương thức sản xuất Nói
Trang 16cách khác, tổng hợp những sức sản xuất mà conngười đã đạt được quyết định trạng thái xã hội.
Quan hệ giữa sức sản xuất (hay giai đoạn công nghiệp) với giai đoạn xã hội, trạng thái xã hội là quan hệ lịch sử thứ tư (phương thức sản xuất).
“Người ta phải luôn nghiên cứu và viết lịch sử loàingười gắn liền với lịch sử của công nghiệp và traođổi Ngay từ đầu đã có một hệ thống những mốiliên hệ vật chất giữa người với người, một hệthống quy định bởi những nhu cầu và phương thứcsản xuất và cũng lâu đời như bản thân loài người”6
Sau khi xem xét bốn nhân tố, bốn mặt của những
quan hệ lịch sử đầu tiên ấy mới thấy con người còn
có cả ý thức nữa - “Con người có một lịch sử, vì họ
phải sản xuất ra đời sống của họ và hơn nữa lại phảisản xuất như vậy theo một phương thức nhất định,đó là do tổ chức thể xác của họ quy định, ý thức củahọ cũng bị quy định giống như vậy”7 Bởi ý thức vàngôn ngữ “chỉ sinh ra từ nhu cầu, từ sự cần thiếtthực sự phải giao dịch giữa người với người” Ngaytừ đầu, ý thức (dù chỉ là ý thức cá nhân) đã là mộtsản phẩm của xã hội, là ý thức về hoàn cảnh gầngủi nhất có thể cảm giác được Ý thức này ban đầucòn mang tính hạn chế động vật (do quan hệ giữangười với tự nhiên, quan hệ giữa người với người cònmang tính hạn chế động vật), ý thức phát triển lênnhờ sự phát triển của sản xuất, sự phân công của laođộng Đặc biệt khi xuất hiện sự phân công lao độngvật chất với lao động tinh thần thì từ đó ý thứcthực sự có thể tưởng tượng rằng nó là một cái gìkhác chứ không phải là ý thức về thực tiễn hiện có.Phân tích mối quan hệ giữa ý thức với thực tiễn,đặc biệt từ sau khi có sự phân công lao động vậtchất với lao động tinh thần, C.Mác và F.Enghen khẳng
6 S đ d Trang 36.
S đ d Trang 37.
Trang 17định: ý thức (lý luận) chỉ mâu thuẫn với những quanhệ hiện có khi những quan hệ xã hội hiện có mâuthuẫn với sức sản xuất hiện có Hoạt động tinh thầnkhông tách rời với hoạt động vật chất Ý thức khôngđộc lập với đời sống vật chất, mà trái lại phải phụ
thuộc vào nó Như vậy, quan hệ lịch sử thứ năm mà
C.Mác và F.Enghen xét đến là quan hệ giữa hoạt động vật chất và hoạt động tinh thần; giữa đời sống vật chất và ý thức (hoạt động tinh thần, ý thức đã tách mình ra không thống nhất với hoạt động vật chất, đời sống vật chất) Ý thức ở con người ban
đầu dù chỉ là ý thức về giới tự nhiên thì tự nó tấtyếu phải quan hệ với những người xung quanh nó phảilà một ý thức xã hội Bước đầu dù mang tính độngvật thì con người khác với động vật ở chỗ trong conngười ý thức thay thế bản năng hoặc bản năng củacon người là bản năng được ý thức Phân công laođộng chỉ trở thành phân công lao động thực sự từ khixuất hiện sự phân chia thành lao động vật chất vàlao động tinh thần
C.Mac và F.Enghen đã hoàn thành việc xây dựngnăm tiền đề cho quan niệm duy vật về lịch sử củamình bằng cách: Từ sản xuất mà giải thích giao dịchvật chất và giao dịch tinh thần, từ giai đoạn côngnghiệp mà giải thích giai đoạn xã hội và giai đoạn tưtưởng Chính phương thức sản xuất vật chất quyếtđịnh hình thức giao dịch (xã hội công dân, cơ sở củatoàn bộ lịch sử), trên cơ sở đó xây dựng nên chế độnhà nước và mọi hình thái ý thức
C.Mac và F.Enghen toúm tắt “quan niệm đó về lịchsử là ở chỗ: xuất phát từ chính ngay sự sản xuấtvật chất ra đời sống trực tiếp mà xem xét quá trìnhhiện thực của sản xuất và lý giải hình thức giao dịch
- tức là xã hội công dân trong các giai đoạn khác nhaucủa nó - gắn liền với phương thức sản xuất nhấtđịnh và do phương thức sản xuất ấy sinh ra, coi như là
Trang 18cơ sở của toàn bộ lịch sử Sau đó, phải hình dung hoạtđộng của xã hội công dân trong lĩnh vực đời sống nhànước Đồng thời phải từ đó phải giải thích mọi sảnphẩm lý luận khác nhau và mọi hình thái ý thức, tôngiáo, triết học, đạo đức, v.v và theo dõi quá trình hìnhthành của chúng trên cơ sở đó Nhờ vậy mà tất nhiêncó thể hình dung được toàn bộ quá trình trong tínhhoàn chỉnh của nó.”
“Quan niệm đó về lịch sử không đi tìm một phạmtrù nào đó trong mỗi thời đại như quan niệm duy tâmvề lịch sử đã làm mà luôn luôn đứng trên miếng đấthiện thực của lịch sử; nó không căn cứ vào tư tưởngđể giải thích thực tiễn; nó giải thích sự hình thànhcủa tư tưởng căn cứ vào thực tiễn vật chất; và dođó nó đi tới kết luận rằng không thể đập tan đượcmọi hình thái và sản phẩm của ý thức bằng sự phêphán tinh thần, bằng việc quy chúng thành tự ý thứchay biến chúng thành những “u hồn”, “bóng ma”, “tínhkỳ quặc”, v.v mà chỉ bằng việc lật đổ một cáchthực tiễn những quan hệ xã hội hiện thực đã sinh
ra tất cả những điều nhảm nhí duy tâm đó; Rằngkhông phải sự phê phán mà cách mạng mới là độnglực của lịch sử, của tôn giáo, của triết học và củamọi lý luận khác”8
Bản chất của quan niệm duy vật lịch sử củaC.Mac và F.Enghen là không xuất phát từ tư tưởng đểgiải thích thực tiễn, mà giải thích sự hình thành của
tư tưởng từ thực tiễn vật chất Tư tưởng phụthuộc vào hoạt động vật chất và hoạt động giaodịch vật chất Ý thức không là cái gì khác hơn cái tồntại được ý thức (tồn tại của con người là quá trìnhhiện thực đời sống của con người) Ý thức là phảnánh, là tiếng vọng về mặt tư tưởng của quá trìnhsinh hoạt Chính đời sống con người quyết định ýthức của họ chứ không phải ngược lại
S đ d Trang 55
Trang 19“Trong mọi thời đại, những tư tưởng của giai cấpthống trị là những tư tưởng thống trị, nói một cáchkhác giai cấp nào là lực lượng vật chất thống trịtrong xã hội thì cũng là lực lượng tinh thần thốngtrị Giai cấp nào chi phối những tư liệu sản xuất vậtchất thì cũng chi phối luôn cả những tư liệu sản xuấttinh thần, thành thử nói chung tư tưởng của nhữngngười không có tư liệu sản xuất tinh thần cũng đồngthời bị giai cấp thống trị đó chi phối Những tư tưởngthống trị không phải là cái gì khác, mà chỉ là sự biểuhiện tinh thần của những quan hệ vật chất thốngtrị, chúng là những quan hệ vật chất thống trị đượcbiểu hiện dưới hình thức tư tưởng; Do đó là sự biểuhiện của chính ngay những quan hệ làm cho một giaicấp trở thành giai cấp thống trị; nói cách khác đó lànhững tư tưởng của sự thống trị của giai cấp ấy.”9
b)Quan niệm duy vật về lịch sử của C.Mac và F.Enghen
1- C.Mac và F.Enghen xuất phát từ sản xuất vậtchất mà lý giải “hình thức giao dịch” Hai ông đã phântích quá trình sản xuất vật chất từ chiếm hữu nô lệđến tư bản chủ nghĩa rồi phát hiện ra: Trình độ pháttriển của sức sản xuất biểu hiện trong trình độ pháttriển của phân công lao động, mà mỗi giai đoạn củaphân công lao động cũng quyết định những quan hệ cánhân với nhau phù hợp với những quan hệ của họ đốivới tư liệu, công cụ và sản phẩm lao động
Hai ông kết luận: Sức sản xuất (lực lượng sảnxuất) quyết định hình thức giao dịch (quan hệ sảnxuất) Cốt lõi của quan hệ sản xuất là quan hệ sởhữu Hai ông đã rút ra từ trong mối quan hệ xã hộimuôn màu muôn vẻ cái cơ bản nhất quyết định mốiquan hệ giữa người với người trong quá trình sản xuấtlà quan hệ sản xuất (quan hệ sản xuất được hai ông
9 S đ d Trang 64 - 65.
Trang 20gọi là hình thức giao dịch, hay quan hệ giao dịch, hayphương thức giao dịch, hay quan hệ sản xuất và giaodịch) Quan hệ sản xuất là mối quan hệ cơ bản nhất,quyết định nhất bởi lẽ nó trực tiếp quyết định toànbộ kết cấu bên trong của một dân tộc
Tức là, hai ông đã quy toàn bộ quan hệ xã hội(quan hệ giữa người với người trên cả hai bình diệnvật chất và tinh thần) về sự quyết định của quanhệ sản xuất (quan hệ giữa người với người trong quá
trình sản xuất vật chất), và khẳng định quan hệ sản
xuất là yếu tố quyết định toàn bộ kết cấu của đời sống xã hội.
2- C.Mac và F.Enghen cũng khẳng định, hình thức
giao dịch (quan hệ sản xuất) - mà cốt lõi là hình thức sở hữu (quan hệ sở hữu đối với tư liệu sản xuất) - quyết định kết cấu bên trong của xã hội Đó là kết cấu giai cấp trong xã hội có giai cấp Hai ông viết:
“Cho đến nay, xã hội bao giờ cũng phát triển trongkhuôn khổ đối lập, thời cổ đại là sự đối lập giữacông dân tự do và nô lệ, thời trung cổ là sự đối lậpgiữa quý tộc và nông nô, thời đại mới là giữa tư sảnvà vô sản.”
3- Theo hai ông, sự đối lập giai cấp tạo nên cơ sởthực tế của nhà nước Nhà nước là hình thức màcác cá nhân thuộc giai cấp thống trị dùng để thựchiện lợi ích chung của họ và là hình thức trong đótoàn bộ xã hội công dân của một thời đại được biểuhiện một cách tập trung Nhà nước là con đẻ của chếđộ tư hữu Pháp luật cũng là con đẻ của chế độ tư
hữu Tức các ông đã khẳng định chế độ tư hữu tư
nhân đối với tư liệu sản xuất là nguồn gốc thực sự của Nhà nước.
- Các tiền bối trước C.Mac và F.Enghen đã thấynhà nước và pháp luật là những công cụ bạo lực,cần thiết cho lợi ích chung, thể hiện ý chí chung của
Trang 21toàn xã hội (ví như Tômát Hốpxơ (1588-1679) chẳnghạn)
Hai ông gạt bỏ quan niệm chung chung ấy của giaicấp tư sản về nhà nước và pháp luật mà chỉ rõ bảnchất giai cấp của nó Nhà nước chỉ là cái vẻ bề ngoàilà hình thức tập thể Nó là tập thể giả tạo, trong đó
“tự do cá nhân chỉ tồn tại đối với những cá nhân đãphát triển trong khuôn khổ của giai cấp thống trị vàtrong chừng mực họ là những cá nhân của giai cấpấy , đối với giai cấp bị trị nó không những là tậpthể hoàn toàn ảo tưởng mà còn là những xiềng xích”.C.Mac và F.Enghen rút ra kết luận cực kỳ quan trọng:
giai cấp nào muốn nắm quyền thống trị thì trước tiên giai cấp ấy phải nắm lấy chính quyền để có thể nêu ra lợi ích của bản thân mình như là lợi ích phổ biến.
- Vạch ra bản chất giai cấp của nhà nước, C.Macvà F.Enghen cũng vạch rõ bản chất giai cấp các hệ tưtưởng, chỉ rõ sự khác biệt giữa hệ tư tưởng của giaicấp thống trị với hệ tư tưởng của giai cấp cáchmạng “Tư tưởng của giai cấp thống trị là tư tưởng
thống trị trong mỗi thời đại” Điều đó có nghĩa là giai
cấp nào là lực lượng vật chất thống trị trong xã hội thì đồng thời là lực lượng thống trị tinh thần trong xã hội Hệ tư tưởng của mỗi giai cấp là phản
ánh tồn tại xã hội của giai cấp đó vào ý thức chủquan của nó, là biểu hiện chủ quan của tồn tại kháchquan của nó Sự tồn tại của những tư tưởng cáchmạng trong mỗi thời đại nhất định phải đã có sựtồn tại của giai cấp cách mạng làm tiền đề
4- C.Mac và F.Enghen đã nêu ra và chứng minh rằng,tồn tại xã hội quyết định ý thức xã hội
- Quan niệm duy tâm cho rằng dường như mỗi giaiđoạn lịch sử có những tư tưởng nào đó thống trị xãhội vì nó chính xác hơn, hợp lý hơn
Trang 22- Hai ông bác bỏ quan niệm đó và chỉ ra rằng, mỗi
giai cấp mới thay thế cho giai cấp thống trị cũ, bao giờ cũng buộc phải nêu lợi ích của bản thân mình thành lợi ích chung của toàn xã hội Nói một cách trừu
tượng là làm cho những tư tưởng của bản thân mìnhmang hình thức phổ biến, nêu nó thành tư tưởng duynhất hợp lý, có ý nghĩa phổ biến Sở dĩ như thế là
vì, ban đầu lợi ích của nó gắn liền với lợi ích củacác giai cấp bị trị chưa phát triển thành lợi ích riêngbiệt của một giai cấp riêng biệt được
5- Xuất phát từ sự phát triển sức sản xuấtbiểu hiện trong trình độ của phân công lao động, C.Macvà F.Enghen chỉ ra các hình thức sở hữu trong lịch sử
rằng: “Những giai đoạn khác nhau của phân công lao
động đồng thời cũng là những hình thức khác nhau của sở hữu” Tức tương ứng với những giai đoạn khác
nhau của phân công lao động là những hình thức sởhữu tư liệu sản xuất khác nhau ứng với nó
- Hình thức sở hữu đầu tiên là sở hữu thị tộc.Đây là hình thức sở hữu tập thể (công xã) phù hợpvới giai đoạn chưa phát triển sản xuất, con người cònsống nhờ săn bắn, chăn nuôi và nhiều lắm là trồngtrọt Chế độ nô lệ gắn liền với gia đình phụ quyềnđã nảy sinh trong lòng nó hình thức sở hữu tư nhândưới hình thức che dấu
- Hình thức sở hữu thứ hai là hình thức sở hữucông xã - nhà nước cổ đại Trong nó, bên cạnh sở hữucông xã đã phát triển sở hữu tư nhân về động sản vàsau nữa là bất động sản Tùy theo sự phát triển củasở hữu tư nhân mà quan hệ giai cấp trong xã hội nôlệ phát triển đến hoàn bị
- Hình thức sở hữu thứ ba là sở hữu phong kiếnhay sở hữu đẳng cấp là sở hữu ruộng đất đối lậpgiữa quý tộc và nông nô trên địa bàn nông thôn Phù
Trang 23hợp với hình thức sở hữu này là chế độ phường hội
ở thành thị trong công nghiệp thủ công
- Hai ông đã chỉ ra một cách sâu sắc những đặcđiểm cơ bản của ba loại quan hệ sản xuất trước tưbản chủ nghĩa và dành nhiều trang để phân tích sự rađời của quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa: Sự pháttriển của thương nghiệp sinh ra tư bản lưu thông khácvới tư bản tự nhiên phường hội; Các thành thị đượcchuyên môn hóa sản xuất làm nảy sinh công trường thủcông: quan hệ hàng tiền thay thế cho quan hệ giatrưởng giữa thợ cả và thợ bạn; Máy móc xuất hiệnlàm nảy sinh thị trường thế giới; Công nghiệp lớn ra đờisinh ra tư bản hiện đại tạo ra ở khắp nơi những quanhệ giống nhau là sự đối lập giữa tư sản và vô sản
Nhờ sự phân tích “kể từ thời trung cổ, sở hữuthị tộc trải qua nhiều giai đoạn khác nhau - sở hữuruộng đất phong kiến sở hữu động sản phường hội,
tư bản công trường thủ công - trước khi chuyển hoáthành tư bản hiện đại thành sở hữu tư nhân thuần
tuý”, hai ông là người đầu tiên đã vạch rõ rằng: Lịch
sử là lịch sử nối tiếp những hình thức sở hữu - tức là những quan hệ sản xuất - khác nhau, những quan hệ này phụ thuộc vào những phương thức tiến hành lao động nông nghiệp, công nghiệp và thương nghiệp (gia trưởng, đẳng cấp nô lệ, giai cấp) Khi phân tích xã
hội tư bản, hai ông đã chỉ ra mâu thuẫn giữa lựclượng sản xuất và quan hệ sản xuất ngày càngquyết liệt dẫn đến nổ ra các cuộc cách mạng thaythế quan hệ sản xuất cũ bằng quan hệ sản xuất mớiphù hợp với tính chất và trình độ của lực lượng sảnxuất đang phát triển là động lực sâu xa nhất - độnglực kinh tế - của những biến đổi trong lịch sử, lànguồn gốc cơ bản của lịch sử (sự phát triển củalực lượng sản xuất là nguyên nhân dẫn đến sự thayđổi quan hệ sản xuất, nó là động lực kinh tế, lànguồn gốc cơ bản của lịch sử)
Trang 246- C.Mac và F.Enghen chỉ ra những đặc điểm củaphân công lao động trong xã hội có giai cấp:
- Phân công lao động luôn gắn liền với chế độ tưhữu Là sự phân công lao động ngay từ đầu đã baohàm sự phân chia không đồng đều về những điềukiện của lao động, là sự tách rời giữa lao động tíchlũy và lao động thực tại, do vậy cũng bao hàm luôncả sự phân phối không đồng đều những sản phẩm
của quá trình lao động tạo ra Theo nghĩa đó, phân công
lao động chỉ trở thành phân công lao động thực sự khi hoạt động tinh thần và hoạt động vật chất, hưởng thụ và lao động, sản xuất và tiêu dùng được chia phần cho những cá nhân khác nhau Tư hữu như vậy
là hậu quả của phân công lao động Tư hữu chính là
quyền chi phối sức lao động của người khác (Nhưng
tư hữu không phải là sở hữu cá nhân Bộ áo quần củacá nhân là sở hữu tư nhân chứ không là tư hữu, bởibộ áo quần cá nhân không cho cá nhân khả năng sửdụng bất kỳ một lực lượng lao động nào dù là nhỏnhất của kẻ khác Ở đây cũng cần phải lưu ý phân
biệt và không bao giờ được nhầm lẫn rằng: xoá bỏ
tư hữu cũng là xoá bỏ sở hữu tư nhân Chúng ta đang dần xóa bỏ tư hữu đối với tư liệu sản xuất, nhưng không xóa bỏ sở hữu tư nhân đối với tư liệu sản xuất.
Bởi lẽ, người lao động nếu không được sở hữu tưnhân đối với tư liệu sản xuất thì không thể tiến hànhsản xuất vật chất được.)
- Chính phân công lao động đã hình thành sự giaodịch giữa lợi ích cá nhân với lợi ích chung C.Mac vàF.Enghen chỉ ra trong xã hội có giai cấp, lợi ích chungdưới dạng nhà nước chỉ là một hình thức cộngđồng ảo tưởng, vì nó là công cụ bảo vệ lợi ích chỉcho giai cấp thống trị Chính vậy, nhà nước - cái “xalạ không phụ thuộc” vào cá nhân - trở nên cần thiếtđể trấn áp những lợi ích riêng biệt luôn luôn thực
Trang 25sự chống lại những lợi ích chung và chung một cáchảo tưởng.
- Phân công lao động trong xã hội có giai cấp đẻ ratình hình: hành động của con người trở nên một lựclượng xa lạ, chống đối chính con người, nô dịch conngười chứ không phải con người thống trị nó Conngười bị cột chặt vào một nghề lao động bó buộc
Ở đây con người cũng phụ thuộc vào giai cấp, tư cáchcá nhân của mỗi con người bị ràng buộc bởi tư cáchcá nhân giai cấp (cái hoàn toàn ngẫu nhiên ở bên ngoài
ý muốn con người) Quan hệ giữa người và ngườitrong xã hội lẽ ra chỉ là hoạt động kết hợp của họlại với nhau và không phụ thuộc vào ý chí của họ, thìphân công lao động trong xã hội có giai cấp lực lượngxã hội do họ tạo ra đã trở thành lực lượng xa lạ ởbên ngoài và thống trị lại chính con người Đó là sựtha hóa của hoạt động xã hội
- C.Mac và F.Enghen kết luận: Sự phân công laođộng không xảy ra một cách tự nguyện mà xảy ramột cách tự phát đã dẫn đến hậu quả các hoạt
động của con người bị tha hóa Nguyên nhân của sự
tha hóa đó chính là sự phân công lao động gắn liền với tư hữu Muốn khắc phục tình trạng tha hóa đó phải tiến hành cách mạng vô sản, xóa bỏ chế độ tư hữu, xây dựng chế độ công hữu thực hiện chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa cộng sản.
- Chủ nghĩa cộng sản xoá bỏ chế độ tư hữu, xâydựng chế độ công hữu, buộc lực lượng vật chất
do lao động tạo ra chịu sự kiểm soát của con người,phục tùng con người Chủ nghĩa cộng sản xoá bỏ sựđối lập giữa cá nhân và tập thể, nó là tập thểthực sự Trong đó mỗi cá nhân có khả năng pháttriển toàn diện những năng khiếu của mình, ở đây cáccá nhân đạt đến tự do đồng thời với sự kết hợpcủa họ, và nhờ vào sự kết hợp ấy Chủ nghĩa cộng
Trang 26sản loại bỏ tính tự phát của quá trình tiến hoá lịchsử mà nhảy vọt từ thế giới tất yếu sang thế giớitự do Dưới chủ nghĩa cộng sản mọi tư liệu sảnxuất đều thuộc công hữu của xã hội, mọi tư hữu tưnhân về tư liệu sản xuất đều bị xoá bỏ.
7- Cuối cùng hai ông chỉ ra tính tất yếu của cáchmạng Xã hội chủ nghĩa:
- Theo hai ông, cách mạng Xã hội chủ nghĩa có hai
tiền đề thực tiễn: Một là, đông đảo quần chúng trở
thành những người không có sở hữu đối lập với cáithế giới đương thời đầy của cải và học thức (sự thahóa đã trở thành một lực lượng không thể chịuđựng được, một lực lượng mà người ta phải làmcách mạng để chống lại nó) Tức, về xã hội là mâuthuẫn đối kháng ngày càng quyết liệt giữa giai cấp
tư sản với giai cấp công nhân và nhân dân lao động; Hai
là, sự phát triển của sức sản xuất làm cho sản xuất
và giao dịch có tính chất thế giới, lịch sử biến thànhlịch sử thế giới Tức, sự phát triển của đại côngnghiệp đã tạo ra một lực lượng sản xuất có tínhchất thế giới thì tất yếu với nó phải là một quan hệsở hữu đối với tư liệu sản xuất mang tính công cộng
Theo C.Mac và F.Enghen cả hai tiền đề này đều đãcó cùng với sự phân công lao động rộng nhất (đạicông nghiệp dưới chủ nghĩa tư bản) Ở đó, một mặtsức sản xuất vật thể hóa (tư hữu) với những ngườilao động bị tách rời khỏi sức sản xuất ấy là rất sâusắc Mặt khác, sự phát triển của chủ nghĩa tư bảnđã xóa bỏ những hàng rào dân tộc, tạo ra thị trườngthế giới, nền sản xuất thế giới, sự phụ thuộc toàndiện của các cá nhân vào lực lượng tự phát có khảnăng biến thành sự kiểm soát toàn diện và sựthống trị có ý thức đối với các lực lượng tự phátấy Chính ở đây, chủ nghĩa xã hội không còn là một
Trang 27tình trạng cần thiết lập, không là một lý tưởng màlà một tình trạng hiện thực phải khuôn theo
- Hai ông cũng phân biệt sự khác nhau về nguyêntắc giữa chủ nghĩa xã hội khoa học với chủ nghĩa xãhội không tưởng về việc xóa bỏ tình trạng hiệnthực hiện nay Người không tưởng lên án chủ nghĩa tưbản như là một xã hội không có đạo đức đồng thờilên án cả đấu tranh giai cấp (tức lên án phong trào đấutranh của giai cấp công nhân), tưởng tượng và miêu tả
rất tỷ mỷ về chủ nghĩa cộng sản C.Mac và F.Enghen
chỉ vạch ra những nét cơ bản về chủ nghĩa cộng sản và chứng minh rằng tiền đề vật chất (giai cấp công nhân và nền sản xuất đại công nghiệp) của những nét cơ bản đó đã hình thành trong lòng xã hội tư bản Chủ nghĩa cộng sản là khuynh hướng phát triển hiện thực của lịch sử thế giới.
8- Từ toàn bộ quan niệm duy vật lịch sử đó,C.Mac và F.Enghen đưa ra bốn kết luận:
1 Lực lượng sản xuất đã phát triển đến mộttrình độ, mà quan hệ sản xuất bắt đầu kìm hãm sựphát triển đó, gắn liền với nó giai cấp vô sản ra đờivà phát triển đối lập quyết liệt với trật tự hiện cóvà có ý thức về cuộc cách mạng cơ bản, ý thứccộng sản
2 Cho đến nay, lực lượng sản xuất vận độngtrong điều kiện thống trị của một giai cấp nhất định,biểu hiện trong hình thức nhà nước nên bất cứ cuộccách mạng nào cũng nhằm chống lại giai cấp thốngtrị cũ
3 Cách mạng Xã hội chủ nghĩa khác về chất sovới các cuộc cách mạng khác trong lịch sử trước nó:nó xóa bỏ tư hữu và xóa bỏ giai cấp
4 Cách mạng Xã hội chủ nghĩa không chỉ xóa bỏquan hệ kinh tế cũ, quan hệ chính trị cũ mà còn cải
Trang 28tạo đông đảo quần chúng kể cả giai cấp vô sản Do đócách mạng là cần thiết không chỉ vì chỉ có cáchmạng mới lật đổ được giai cấp thống trị cũ, mà còn
vì chỉ có cách mạng giai cấp lật đổ mới có thể dứtbỏ khỏi bản thân mình mọi sự thối nát cũ và trởthành có năng lực tạo ra cơ sở mới của xã hội
Với bốn kết luận đó, hai ông đã chứng minh rằng:quan niệm duy vật về lịch sử tất nhiên dẫn đến kếtluận cộng sản chủ nghĩa Kết luận cộng sản chủnghĩa là hệ quả đương nhiên của quan niệm duy vậtvề lịch sử
Bác lại luận điểm của Stiếcne đòi giai cấp vô sảnphải tự cải tạo mình trước khi cải tạo xã hội, C.Macvà F.Enghen cho rằng: chỉ có tiến hành cải tạo xã hộithì giai cấp vô sản mới có thể cải tạo mình một cáchtriệt để Chỉ trong những hoàn cảnh biến đổi thìngười vô sản mới không còn như cũ và đầy quyết tâmlàm biến đổi hoàn cảnh ngay khi nào có khả năng đầutiên Trong hoạt động cách mạng, sự biến đổi bảnthân mình trùng với sự cải tạo hoàn cảnh Quan điểmcách mạng triệt để này, đối lập với mọi quan điểmtiểu tư sản sẵn sàng điều hoà giai cấp hoặc lẩntránh cách mạng
IV KẾT LUẬN:
“Hệ tư tưởng Đức” có nội dung rất phong phú,nó thực sự là tác phẩm lớn nhất của thời ký hìnhthành chủ nghĩa Mác Tác phẩm được hoàn thành vàonăm 1846, là lúc quan niệm duy vật về lịch sử củaC.Mac đã hình thành đầy đủ Trong tiến hành phê phántoàn bộ nền triết học Đức, hai ông đã xây dựngnhững nguyên lý của chủ nghĩa duy vật về lịch sử,đặt nền móng triết học cho lý luận chủ nghĩa xã hộikhoa học
Trang 293- Trong tác phẩm “Hệ tư tưởng Đức”, C.Mac vàF.Enghen đã chỉ rõ chủ nghĩa duy tâm của Phơ Bách biểuhiện ở những mặt nào?
4- Những tiền đề xuất phát của quan niệm duyvật lịch sử của C.Mac và F.Enghen trong tác phẩm “Hệ
GIỚI THIỆU TÁC PHẨM “TUYÊN NGÔN CỦA ĐẢNG CỘNG SẢN” CỦA CÁC MÁC VÀ PHRI-ĐRÍCH
ĂNG-GHEN
“Tuyên ngôn của Đảng cộng sản” giữ vị trí đặcbiệt quan trọng trong kho tàng của lý luận chủ nghĩaMác-Lênin Sự ra đời của tác phẩm vĩ đại này, đánhdấu sự thành công về cơ bản lý luận của chủ nghĩaMác bao gồm ba bộ phận hợp thành là Triết học,Kinh tế chính trị và Chủ nghĩa Cộng sản khoa học
Trang 30Tác phẩm này không chỉ là tác phẩm quan trọngtrong kho tàng lý luận của chủ nghĩa Mác-Lênin, mà cònlà cương lĩnh chính trị của phong trào cộng sản và côngnhân quốc tế Nó tập trung luận giải vai trò lịch sửcủa giai cấp vô sản, tính tất yếu và những điều kiệngiải phóng giai cấp vô sản Nó là kim chỉ nam cho hànhđộng của toàn bộ phong trào công nhân và cộng sảnquốc tế Là ngonü cờ dẫn dắt giai cấp công nhân vànhân dân lao động toàn thế giới trong cuộc đấu tranhchống chủ nghiã tư bản, giải phóng loài người vĩnhviễn thoát khỏi mọi ách áp bức bóc lột giai cấp, bảođảm cho loài người thực sự sống trong tự do, hoàbình, hạnh phúc.
I HOÀN CẢNH RA ĐỜI VÀ NHỮNG Ý NGHĨA CƠ BẢN CỦA TÁC PHẨM.
1 Hoàn cảnh ra đời:
Giữa thế kỷ XIX, chủ nghĩa tư bản đã phát triểnđến trình độ khá cao Cùng với sự phát triển củanền đại công nghiệp ở các nước tư bản châu Âu, giaicấp công nhân hiện đại đã ra đời và sớm bước lên vũđài chính trị đấu tranh chống lại giai cấp tư sản Tiêubiểu là các cuộc khởi nghĩa của công nhân dệt ở thànhphố Li-ông (Pháp) năm 1831, vùng Xi-li-di (Đức) năm 1834và phong trào có quy mô toàn nước Anh kéo dài 10 nămtừ 1838-1848 Tuy nhiên, các cuộc đấu tranh của phongtrào công nhân đến cuối giữa thế kỷ XIX vẫn luônthất bại trước sự đàn áp của giai cấp tư sản
Thực tế đó, chứng tỏ sự lớn mạnh của phongtrào công nhân đòi hỏi bức thiết phải có một lý luậnsoi đường và một cương lĩnh chính trị làm kim chỉ namcho hành động cách mạng thực sự khoa học và cáchmạng
Cuối tháng 11 đầu tháng 12 năm 1847, Đại hộilần thứ hai của “Đồng minh những người cộng sản”đã thảo luận và thông qua những nguyên lý của CHỦ
Trang 31NGHĨA CỘNG SẢN do C.Mác và Ph.Ăngghen trình bày,bảo vệ; đồng thời đã uỷ thác cho C.Mác và Ph.Ăngghenviết “Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản” Tác phẩm được
ra mắt đầu tiên vào ngày 18 tháng 3 năm 1848 (trùngngày nổ ra các cuộc cách mạng ở Mi-Lan và Béc-Linh)
“Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản” ra đời khôngnhững là sản phẩm của trình độ chín muồi củanhững điều kiện chính trị, kinh tế và xã hội đươngthời mà còn là sự kết tinh những tinh hoa trí tuệ loàingười, là công lao sáng tạo của C.Mác và Ph.Ăngghen.Sự ra đời của “Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản” đánhdấu một bước chuyển lịch sử của phong trào côngnhân quốc tế: Kể từ đây, giai cấp công nhân với tưcách là một lực lượng xã hội độc lập, giai cấp vôsản hiện đại tiến hành cuộc đấu tranh tự giảiphóng, đồng thời giải phóng cho nhân loại vĩnh viễnthoát khỏi tình trạng áp bức và bóc lột giai cấp
2 Ý nghĩa của tác phẩm
Hiện nay có một số ý kiến của giai cấp tư sảnvà những người phi mác-xít nhằm phủ nhận giá trịcủa “Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản”, nhưng từ khi rađời cho đến nay đã trải qua hơn 159 năm, nó vẫn cònnguyên giá trị lịch sử và cách mạng của nó:
- “Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản” là văn kiện mangtính cương lĩnh của phong trào cộng sản và công nhânquốc tế, nó đánh dấu sự ra đời của chủ nghĩa Mác-Lênin Tuy chỉ là một tập sách nhỏ chưa đầy 100 trang,nhưng chứa đựng tri thức đồ sộ bằng nhiều bộsách Khi nghiên cứu “Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản”cần phải nghiên cứu những lời tựa C.Mác vàPh.Ăngghen viết cho những lần xuất bản sau 1848
- “Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản” có những giá trịlâu dài sau: Lần đầu tiên trong lịch sử tư tưởng, triếthọc, sử học xuất hiện một quan niệm khoa học vàcó hệ thống về lịch sử phát triển của xã hội loài
Trang 32người, về những động lực của phát triển lịch sử.Hai ông đã xuất phát từ sự vận động của đời sốngkinh tế-xã hội mà phân tích xã hội và xuất phát từkinh tế-xã hội mà phân tích chính trị và văn hoá Tuyênngôn đã chỉ ra những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩaduy vật biện chứng áp dụng triệt để trong lĩnh vựclịch sử, từ đó chỉ ra quy luật chung của sự phát triểncủa xã hội loài người Đây là cơ sở lý luận, phươngpháp luận của chủ nghĩa Mác-Lênin Học thuyết củaC.Mác về hình thái kinh tế-xã hội đến nay vẫn giữnguyên giá trị.
+ Bằng thế giới quan khoa học, bằng phươngpháp luận duy vật biện chứng, hai ông đi sâu phân tíchnhững quy luật vận động của xã hội tư bản, vạch raquy luật vận động kinh tế của xã hội tư bản là quyluật giá trị thặng dư, cũng tức là vạch ra bản chấtcủa chủ nghĩa tư bản “Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản”khẳng định tính tất yếu về mặt lịch sử của sựhình thành và phát triển của chủ nghĩa tư bản, đồngthời vạch ra những mâu thuẫn nội tại của chủ nghiã
tư bản, phân tích những cuộc đấu tranh giữa giai cấp
vô sản và giai cấp tư sản, khẳng định cuộc đấu tranhnày sẽ dẫn đến kết quả: Xã hội tư bản sẽ bị thaythế bằng một xã hội khác tiến bộ hơn, phát triểnhơn, đó là xã hội cộng sản
+ Hạt nhân chủ đạo của “Tuyên ngôn của ĐảngCộng sản” là: Phương thức chủ yếu của sản xuất kinhtế và trao đổi cùng với cơ cấu xã hội do phương thứcđó quyết định đã cấu thành cơ sở cho lịch sử chính trịcủa thời đại và lịch sử của sự phát triển trí tuệ củathời đại Do đó toàn bộ lịch sử của nhân loại có giaicấp là lịch sử của đấu tranh giai cấp, đấu tranh giữanhững giai cấp bóc lột và những giai cấp bị bóc lột,giữa giai cấp thống trị và giai cấp bị áp bức Giaicấp vô sản không thể tự giải phóng mình, nếu khôngđồng thời giải phóng toàn xã hội, giải phóng con người
Trang 33khỏi ách bóc lột, áp bức, khỏi tình trạng phân chia giaicấp và áp bức giai cấp Tức giải phóng giai cấp, giảiphóng dân tộc, giải phóng nhân loại đồng thời đều làsứ mệnh của giai cấp công nhân.
+ “Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản” chủ trương xâydựng một xã hội Cộng sản thay thế xã hội Tư bản,đó là một xã hội công bằng, nhân đạo, không còn tìnhtrạng người áp bức, bóc lột người Xã hội Cộng sảnlà một liên hợp trong đó sự phát triển tự do củamỗi người là điều kiện phát triển tự do của tất cảmọi người Mục đích đó của CHỦ NGHĨA CỘNG SẢNkhông phải là mong muốn chủ quan mà là chiều hướngkhách quan của sự phát triển của lịch sử Một xãhội phát triển cao như vậy không thể được hìnhthành một cách dễ dàng, tự phát, mà phải trải quacuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa: Lật đổ sự thốngtrị của giai cấp tư sản, giai cấp công nhân và nhân dânlao động phải giành được chính quyền, xây dựng vàsáng tạo ra xã hội mới cao hơn, tiến bộ hơn xã hội tưbản về mọi phương diện
+ “Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản” và các tácphẩm khác của hai ông đề ra các vấn đề chiến lược,sách lược chủ yếu về hình thức, phương pháp, vềcon đường quá độ từ xã hội cũ lên xã hội mới Haiông chỉ rõ thái độ khoa học, phương pháp luận duyvật biện chứng trong nghiên cứu, vận dụng các tưtưởng, luận điểm, kết luận trong “Tuyên ngôn củaĐảng Cộng sản”
3 Những tư tưởng cơ bản của tác phẩm.
Một là, “Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản” khẳngđịnh hai nguyên lý của chủ nghĩa Mác: Phương thức sảnxuất và trao đổi kinh tế cùng với cơ cấu xã hội củaphương thức đó quyết định sự sự hợp thành nềntảng của xã hội; Lịch sử phát triển của xã hội có giaicấp là lịch sử của đấu tranh giai cấp
Trang 34Hai là, “Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản” khẳngđịnh giai cấp vô sản chỉ có thể tự giải phóng khỏitình trạng bị áp bức bóc lột, nếu đồng thời và vĩnhviễn giải phóng toàn bộ xã hội khỏi tình trạng bị ápbức bóc lột, phân chia giai cấp và đấu tranh giai cấp.
Ba là, “Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản” công khaitrình bày trước toàn bộ thế giới về chiến lược, sáchlược của Đảng Cộng sản và đập tan những hư truyềnvề “bóng ma cộng sản” mà các thế lực chính trịphản động đang loan truyền ở châu Âu lúc bấy giờ
Bốn là, Từ khi ra đời cho đến nay đã trên 159 năm,
“Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản” luôn là nền tảng tưtưởng và là kim chỉ nam cho hành động của phong tràocộng sản và công nhân thế giới, nó soi sáng con đườngtiến lên của cách mạng thế giới Đồng thời, mỗithắng lợi trong sự nghiệp đấu tranh của giai cấp côngnhân và nhân dân lao động thế giới lại càng khẳngđịnh tính chất khoa học và cách mạng, và làm phongphú thêm những tư tưởng thiên tài của C.Mác vàPh.Ăngghen đã nêu trong “Tuyên ngôn của Đảng Cộngsản”
II BỐ CỤC CỦA TÁC PHẨM (cuốn tái bản năm 1976).
“Các lời tựa 1872, 1882, 1883, 1888, 1890, 1892,1893” - Trang 7 đến trang 42
“Tư sản và vô sản” - trang 42 đến 66
“Những người vô sản và những người cộng sản” trang 66 đến trang 81
-“Văn học xã hội chủ nghĩa và cộng sản chủnghiã” - trang 81 đến trang 99
“Thái độ của những người cộng sản đối với cácđảng đối lập” - trang 99 đến trang 102
Trang 35III NỘI DUNG CƠ BẢN TRONG CÁC CHƯƠNG, MỤC CỦA TÁC PHẨM.
1 Các lời tựa.
Các lời tựa của C.Mác và Ph.Ăngghen đề cập đếnhai nội dung chính:
Một là, hai ông khẳng định “Tuyên ngôn của ĐảngCộng sản” là Cương lĩnh của “Đồng minh những ngườiCộng sản” công bố công khai với toàn thế giới nhữngnguyên lý của Đảng Cộng sản Bản Cương lĩnh này gọilà “Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản” mà không gọi là
“Tuyên ngôn xã hội chủ nghĩa” là để phân biệt tínhchất giai cấp của phong trào cộng sản với các trào lưuxã hội chủ nghĩa đương thời
Hai là, với tư cách là một cương lĩnh của ĐảngCộng sản, về mặt lý luận “Tuyên ngôn của Đảng Cộngsản” trình bày thế giới quan của giai cấp vô sản vềđấu tranh giai cấp, cách mạng vô sản và chuyên chính
vô sản; thuyết minh sự diệt vong tất yếu của chủnghĩa tư bản, vai trò của giai cấp vô sản; phân định ranhgiới giữa chủ nghĩa xã hội khoa học với các trào lưuxã hội chủ nghĩa khác (chủ nghĩa xã hội không tưởng)
Về mặt chỉ đạo thực tiễn, “Tuyên ngôn của ĐảngCộng sản” nêu lên những nhiệm vụ và những biệnpháp cụ thể để thực hiện bước quá độ từ chủnghĩa tư bản lên chủ nghĩa xã hội; những nguyên lýsách lược và thái độ của Đảng Cộng sản đối với cácĐảng Xã hội-Dân chủ Nhiệm vụ của “Tuyên ngôn củaĐảng Cộng sản” là tuyên bố sự diệt vong của chủnghĩa tư bản cũng tất yếu như sự thắng lợi của chủnghĩa xã hội, giai cấp vô sản hiện đại là người có sứmệnh đào huyệt chôn chủ nghĩa tư bản và xây dựngthành công chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa cộng sản
Trong lời tựa viết cho bản tiếng Đức xuất bảnnăm 1872, C.Mác và Ph.Ăngghen viết: “Mặc đầu hoàn
Trang 36cảnh đã thay đổi nhiều trong mười lăm năm qua, nhưngcho đến nay, xét về đại thể, những nguyên lý tổngquát trình bày trong Tuyên ngôn này vẫn còn hoàn toànđúng
Ở đôi chỗ, có một vài chi tiết cần phải xem lại.Chính ngay Tuyên ngôn cũng đã giải thích rõ rằng bấtcứ ở đâu và bất cứ lúc nào, việc áp dụng nhữngnguyên lý đó cũng phải tùy theo hoàn cảnh lịch sửđương thời, và do đấy, không nên quá câu nệ nhữngbiện pháp cách mạng nêu ra ở cuối chương II Và cũnghiển nhiên là những nhận định về thái độ của ngườicộng sản đối với các đảng đối lập (chương IV) nếucho đến nay vẫn còn đúng trên những nét cơ bản thìtrong chi tiết, những nhận định ấy đã cũ rồi, vì tìnhhình chính trị đã hoàn toàn thay đổi và sự tiến triểnlịch sử đã làm tiêu tan phần lớn những đảng được kể
ra trong đó.”10
Trong lời tựa viết cho bản tiếng Nga xuất bảnnăm 1882 C.Mác và Ph.Ăngghen đã chỉ ra, nếu Tuyênngôn được xuất bản bằng tiếng Nga vào đầu nhữngnăm 60 giỏi lắm chỉ là một của lạ về văn chương màthôi, thì tình hình ngày nay không còn như thế nữa Bởilẽ, “Trong cuộc cách mạng 1848-1849, bọn vua chúa ởchâu Âu cũng hệt như giai cấp tư sản châu Âu, đều coisự can thiệp của nước Nga là phương tiện duy nhấtđể cứu thoát chúng thoát khỏi tay giai cấp vô sản vừamới bắt đầu giác ngộ về lực lượng của mình.Chúng tôn Nga Hoàng làm trùm phe phản động châu Âu.Hiện nay Nga Hoàng, ở Ga-tsi-na, đã là tù binh của cáchmạng, và nước Nga đang đi tiên phong trong phong tràocách mạng châu Âu”11 “Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản”ngày nay ở Nga có nhiệm vụ tuyên bố diệt vong khôngtránh khỏi và sắp xảy ra của chế độ sở hữu tư sản
10 C.Mác và F.Enghen - Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản - Nhà xuất bản Sự thật
- Hà Nội 1976 - trang 8, 9.
S đ d trang 11, 12.
Trang 37Sau khi phân tích những thay đổi cơ bản của xã hộiNga, C.Mác và Ph.Ăngghen tiên đoán tài tình rằng “nếucách mạng Nga báo hiệu một cuộc cách mạng vô sản
ở phương Tây và nếu cả hai cuộc cách mạng ấy bổsung cho nhau thì chế độ ruộng đất công cộng ở Ngahiện nay sẽ có thể là khởi điểm của một sự tiếntriển cộng sản chủ nghĩa.”12
Trong lời tựa viết cho bản tiếng Đức xuất bảnnăm 1883, Ph.Ăngghen chỉ ra, do C.Mác đã mất nên khôngthể nói đến việc sửa lai hay bổ sung Tuyên ngôn nữa.Ph.Ăngghen khẳng định: “Tư tưởng cơ bản và chủ đạocủa Tuyên ngôn là: trong mỗi thời đại lịch sử sản xuấtkinh tế và cơ cấu xã hội - cơ cấu này tất yếu phải dosản xuất kinh tế mà ra - cả hai cái đó cấu thành cơcấu của lịch sử chính trị và lịch sử tư tưởng của thờiđại ấy: do đó (từ khi chế độ công hữu ruộng đấtnguyên thủy tan rã), toàn bộ lịch sử là lịch sử cáccuộc đấu tranh giai cấp, đấu tranh giữa những giaicấp bị bóc lột và những giai cấp đi bóc lột, giữanhững giai cấp bị trị và những giai cấp thống trị, quacác giai đoạn của sự phát triển xã hội của họ;nhưng cuộc đấu tranh ấy hiện nay đã đến một giaiđoạn mà giai cấp bị bóc lột và giai cấp bị áp bức(tức giai cấp vô sản) không còn có thể tự giải phóngkhỏi tay giai cấp bóc lột và áp bức mình (tức giai cấp
tư sản) được nữa, nếu không đồng thời và vĩnh viễngiải phóng toàn thể xã hội khỏi ách bóc lột, ách ápbức và khỏi những cuộc đấu tranh giai cấp - Tưtưởng chủ chốt ấy hoàn toàn và tuyệt đối là củaC.Mác”13
Trong lời tựa viết cho bản tiếng Anh xuất bảnnăm 1888, sau khi chỉ ra sự ra đời và sức sống củaTuyên ngôn trên thế giới, Ph.Ăngghen giải thích, sở dĩ têngọi của Tuyên ngôn là “Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản”
12 S đ d trang 12.
13 S đ d trang 13, 14.
Trang 38mà không gọi là “Tuyên ngôn xã hội chủ nghĩa” là đểphân biệt đây là tuyên ngôn của giai cấp vô sản giácngộ chứ không là khát vọng không tưởng của giai cấp
tư sản và tiểu tư sản về xã hội chủ nghĩa Ông cũnglại khẳng định, tuy Tuyên ngôn là tác phẩm viết chung,nhưng luận điểm chủ yếu làm hạt nhân cho sách làcủa C.Mác
Trong lời tựa viết cho bản tiếng Đức xuất bảnnăm 1890, Ph.Ăngghen viết: “Vô sản tất cả các nướcdoàn kết lại!” Chỉ có một vài tiếng đáp lại chúng tôi,khi chúng tôi tung lời kêu gọi ấy với thế giới, cách đâybốn mươi hai năm, ngay trước ngày cuộc cách mạngđầu tiên nổ ra ở Pa Ri, trong đó giai cấp vô sản đã xuấthiện với những yêu sách của chính mình Nhưng ngày
28 tháng 9 năm1864, những người vô sản trong phầnlớn các nước Tây Âu đã liên hợp lại để lập ra Hiệphội lao động quốc tế, một hội mà tên tuổi vẻ vangđược ghi nhớ mãi mãi Thật ra bản thân Quốc tế chỉsống có Chín năm Nhưng sự đoàn kết bất diệt doQuốc tế đã xây dựng được giữa những người vôsản tất cả các nước vẫn tồn tại và càng mạnh hơnbao giờ hết Bởi vì ngày hôm nay, khi tôi viết nhữngdòng này, giai cấp vô sản châu Âu và châu Mỹ đangđiểm lại lực lượng chiến đấu của mình, lực lượnglần đầu tiên được huy động thành một đạo quân duynhất, dưới cùng một ngọn cờ và nhằm cùng mộtmục đích trước mắt là đòi pháp luật quy định ngàylàm việc bình thường là tám giờ, yêu sách đã đượctuyên bố từ 1866 tại Đại hội của Quốc tế ở Giơ-ne-vơvà sau này lại được tuyên bố lần nữa tại Đại hộicông nhân ở Pa ri năm 1889 Cảnh tượng ngày hôm naysẽ chỉ cho bọn tư bản và bọn địa chủ tất cả cácnước thấy rằng những người vô sản tất cả các nướcđã thật sự đoàn kết với nhau.”14
S đ d trang 31, 32.
Trang 39Trong lời tựa viết cho bản tiếng Ba Lan xuất bảnnăm 1892, Ph.Ăngghen chỉ ra ảnh hưởng to lớn và rộngrãi của Tuyên ngôn trong công nhân châu Âu và sự in mớicủa Tuyên ngôn bằng tiếng Ba lan là bằng chứngchứng tỏ yêu cầu ngày càng tăng sự phổ biến vềTuyên ngôn trong công nhân công nghiệp Ba lan.Ph.Ăngghen cũng chỉ rõ: “Chỉ có thể có được sự hợptác quốc tế thành thực giữa các dân tộc châu Âu khinào mỗi dân tộc đó là người chủ tuyệt đối trong nhàmình Chỉ có giai cấp vô sản Ba Lan trẻ tuổi mới cóthể giành được nền độc lập đó, và nắm trong tayhọ, nền độc lập đó sẽ được bảo vệ chắc chắn.”15
Trong lời tựa viết cho bản tiếng Ý xuất bản năm
1893, Ph.Ăngghen viết: “nếu cách mạng 1848 khôngphải là một cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa thì ít
ra nó cũng dọn đường, chuẩn bị địa bàn cho cáchmạng xã hội chủ nghĩa Chế độ tư sản đã làm chođại công nghiệp phát triển ở tất cả các nước thìđồng thời cũng tạo ra ở khắp nơi, trong bốn mươi lămnăm gần đây, một giai cấp vô sản đông đảo, đoàn kếtchặt chẽ và mạnh; do đó nó đã sinh ra, như Tuyên ngônđã nói, những người đào huyệt chôn nó Tuyên ngônhoàn toàn thừa nhận vai trò cách mạng mà chủ nghĩa
tư bản đã đóng trong quá khứ Hiện nay, cũng nhưnăm 1300, đang mở ra một kỷ nguyên lịch sử mới Đểđời đời truyền tụng sự nảy sinh của kỷ nguyên mớinày, kỷ nguyên vô sản, liệu nước Ý có cung cấp đượccho chúng ta một Đan-tơ mới chăng?”16
2 Mở đầu.
Chỉ với 26 dòng, lời mở đầu đã thể hiện tính khoahọc và tính chiến đấu của “Tuyên ngôn của ĐảngCộng sản” “Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản” khẳngđịnh CHỦ NGHĨA CỘNG SẢN đaù được tất caø các thếlực Giáo hoàng, Nga hoàng, bọn cấp tiến Pháp, bọn
15 S d d trang 34, 35.
16 Sdd trang 37, 38.
Trang 40cảnh sát Đức, ở châu Âu thừa nhận là một thế lực,chứ không còn là một bóng ma đang ám ảnh châu Âu.
Do đó đã đến lúc những người cộng sản phải côngkhai trình bày trước toàn thế giới những quan điểm,mục đích và ý đồ của mình để đập lại câu chuyệnhoang đường về bóng ma cộng sản
3 Chương 1: Tư sản và Vô sản
Trong chương này, “Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản”nêu lên sự đối lập giữa giai cấp tư sản và giai cấp vôsản - hai giai cấp cơ bản trong xã hội tư bản; sự diệtvong tất yếu của chủ nghĩa tư bản cùng với giai cấp
tư sản Hai ông đã làm rõ:
- Lịch sử xã hội loài người từ khi chế độ cộngsản nguyên thuỷ tan rã cho đến nay là lịch sử đấutranh giai cấp giữa giai cấp bị áp bức, bóc lột với giaicấp bóc lột, thống trị Cuộc đấu tranh ấy diễn rakhông ngừng và kết thúc bằng một cuộc cách mạngxã hội, hoặc bằng sự diệt vong của cả hai giai cấpđấu tranh với nhau Trong xã hội tư sản hiện đại, cuộcđấu tranh giữa giai cấp vô sản hiện đại với giai cấp
tư sản dẫn đến sự diệt vong tất yếu của chủ nghĩa
tư bản và thắng lợi của chủ nghĩa cộng sản
- “Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản” đã làm rõ vai tròlịch sử của hai giai cấp tư sản và vô sản hiện đại
Giai cấp tư sản là sản phẩm của một quá trình
phát triển lâu dài của một loạt các cuộc cách mạngtrong phương thức sản xuất và trao đổi Khi mới ra đờigiai cấp tư sản đã đóng vai trò hết sức cách mạngtrong lịch sử Nó đại diện cho sự phát triển của lựclượng sản xuất đang lên, đánh đổ sự thống trị củagiai cấp phong kiến, thiết lập nền chuyên chính tư sảnthực hiện những tiến bộ xã hội “Chưa đầy mộtthế kỷ, giai cấp tư sản thống trị đã tạo ra được mộtlực lượng sản xuất nhiều và đồ sộ hơn lực lượngsản xuất của tất cả các thế hệ trước kia gộp lại”