Tiểu luận cuối khóa lớp quản lý nhà nước ngạch kiểm lâm viên 2017 Vấn đề xử lý tài sản trên đất sau khi thu hồi, hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cấp trùng trên đất lâm nghiệp Tài liệu gồm 22 trang
Trang 1BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN
TRƯỜNG CÁN BỘ QUẢN LÝ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT II
********
Lớp: Bồi dưỡng nghiệp vụ quản lý Nhà nước ngạch Kiểm lâm viên
Khóa: KLV 34/2017
TIỂU LUẬN CUỐI KHÓA
“XỬ LÝ TÀI SẢN TRÊN ĐẤT SAU KHI THU HỒI, HỦY GIẤY CHỨNG NHẬN QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT CẤP TRÙNG TRÊN ĐẤT LÂM NGHIỆP TẠI KHU RỪNG
PHÒNG HỘ DẦU TIẾNG TỈNH TÂY NINH”
Họ và tên học viên: Cao Thị Kim Ngân
Đơn vị công tác: Chi cục Kiểm lâm Tây Ninh
Tháng 05 năm 2017
Trang 2MỤC LỤC
trang
MỤC LỤC i
CHỮ VIẾT TẮT ii
1 ĐẶT VẤN ĐỀ 1
2 PHÂN TÍCH VẤN ĐỀ 4
3 GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ 10
3.1 Mục tiêu giải quyết vấn đề 10
3.2 Cơ sở giải quyết vấn đề 10
3.2.1 Cơ sở pháp lý để giải quyết vấn đề 10
3.2.2 Đường lối, quan điểm xử lý, giải quyết vấn đề 12
3.2.3 Kinh nghiệm giải quyết vấn đề 12
3.2.4 Cơ sở thực tiễn và điều kiện đảm bảo tính khả thi của việc giải quyết vấn đề 13
3.3 Đề xuất phương án giải quyết vấn đề 13
3.3.1 Phương án 1 13
3.3.2 Phương án 2 15
4 KIẾN NGHỊ VÀ KẾT LUẬN 18
4.1 Kiến nghị 18
4.2 Kết luận 19
PHỤ LỤC 21
TÀI LIỆU THAM KHẢO 23
Trang 3Nghị định Quyết định
Ủy ban nhân dân Phát triển nông thôn Tổng cục Địa chính Thông tư
Thủ tướng
Trang 41 ĐẶT VẤN ĐỀ
Rừng nói chung và rừng phòng hộ nói riêng giữ vai trò rất quan trọng đối với cuộc sống của con người như cung cấp lâm sản, bảo vệ môi trường sinh thái, bảo tồn đa dạng sinh học, du lịch cảnh quan, góp phần vào bảo vệ chủ quyền lãnh thổ cũng như an ninh biên giới quốc gia
Trong những năm qua diện tích rừng phòng hộ cả nước đang bị suy giảm nghiêm trọng cả về số lượng lẫn chất lượng rừng, làm ảnh hưởng tới chức năng phòng hộ môi trường và tính đa dạng sinh học của rừng Một phần nguyên nhân dẫn đến việc rừng phòng hộ bị tàn phá, xuống cấp như vậy là do tình trạng bao, lấn chiếm đất lâm nghiệp trái phép và trồng cây không đúng mục đích trên đất lâm nghiệp
Khu rừng phòng hộ Dầu Tiếng với tổng diện tích là 33.134,5 ha trong đó
có 28.898,8 ha là đất có rừng nằm trải dài trên diện tích thuộc hai huyện Tân Châu và Dương Minh Châu, tỉnh Tây Ninh Với địa hình từ bằng phẳng đến lượn sóng, cao dần từ Nam lên Bắc và từ Tây sang Đông, phía Bắc giáp biên giới Cam-pu-chia, phía Đông giáp tỉnh Bình Phước, Bình Dương, phía Nam và phía Tây giáp vùng ngập hồ Dầu Tiếng (hồ nước nhân tạo lớn nhất Việt Nam) Đây là khu vực có vị trí chiến lược quan trọng về an ninh - quốc phòng của tỉnh Tây Ninh nói riêng và của cả vùng Đông Nam bộ nói chung Không chỉ vậy, khu rừng này còn giữ vai trò xung yếu trong phòng hộ môi trường, chống xói mòn, điều tiết dòng chảy, bảo vệ lòng hồ Dầu Tiếng đảm bảo nước tưới cho 93.000 ha sản xuất nông nghiệp của tỉnh Tây Ninh và các tỉnh lân cận, cung cấp hơn 100
m3 nước cho sản xuất công nghiệp, giúp đẩy mặn, ngọt hóa vùng hạ lưu sông Sài Gòn và sông Vàm Cỏ Đông, đảm bảo tính bền vững cho sự phát triển kinh tế của địa phương và khu vực Nhận thấy được tầm quan trọng của khu rừng này đồng thời để nâng cao năng lực quản lý, phục vụ tốt công tác bảo vệ và phát triển rừng, Chủ tịch UBND tỉnh Tây Ninh ra Quyết định số 1360/QĐ-UBND ngày 21 tháng 06 năm 2008 quyết định thành lập Ban quản lý (BQL) Khu rừng phòng hộ Dầu Tiếng
Trang 5Tuy nhiên, trong nhiều năm qua công tác quản lý bảo vệ và phát triển rừng tại Khu rừng phòng hộ Dầu Tiếng còn gặp nhiều khó khăn Đặc biệt, vấn
đề sử dụng đất quy hoạch rừng phòng hộ để sản xuất nông nghiệp tại Khu rừng phòng hộ Dầu tiếng diễn ra hết sức phức tạp, đã trở thành nỗi nhức nhối cho Ban quản lý cũng như chính quyền địa phương Do là khu rừng phòng hộ đầu nguồn xung yếu, công tác bảo vệ diện tích rừng hiện có, nâng cao chức năng phòng hộ
là viêc làm ưu tiên hàng đầu, việc phá rừng, mở rộng lấn, chiếm đất rừng để canh tác nông nghiệp là vấn đề hết sức nghiêm trọng, ảnh hưởng rất lớn đến chức năng phòng hộ của rừng, giảm độ che phủ rừng, làm tăng cao nguy cơ xói mòn, xạc lở, gia tăng lũ lụt, hạn hán, ngập úng vào mùa mưa và thiếu nước vào mùa khô ảnh hưởng trực tiếp đến môi trường sinh thái và vấn đề an sinh xã hội Năm 2009, UBND tỉnh Tây Ninh đã ban hành Quyết định số 875/QĐ-UBND ngày 13/9/2009 về việc ban hành Kế hoạch giải quyết tình trạng bao, lấn chiếm
và sử dụng đất lâm nghiệp không đúng mục đích trên địa bàn tỉnh Tây Ninh Qua 5 năm thực hiện, Kế hoạch giải quyết tình trạng bao, lấn chiếm và sử dụng đất lâm nghiệp sai mục đích trên địa bàn tỉnh Tây Ninh cơ bản đã hoàn thành vào năm 2014, đã thu hồi được 3.974,89 ha/4.114,7 ha đạt 96,60% tổng diện tích đất Lâm nghiệp phải giải quyết theo kế hoạch Tuy nhiên, qua thống kê và điều tra trên thực tế lại phát sinh thêm một vấn đề là việc cấp trùng Giấy CNQSDĐ trên đất Lâm nghiệp của UBND hai cấp xã, huyện đây là một trong những nguyên nhân chính dẫn đến chưa thể giải quyết việc sử dụng đất quy hoạch Lâm nghiệp sai mục đích một cách dứt điểm trên địa bàn toàn tỉnh Tây Ninh
Cũng như tình hình chung của toàn tỉnh, đến nay việc thu hồi đất có Giấy CNQSDĐ cấp trùng trên đất lâm nghiệp thuộc quy hoạch Khu rừng phòng hộ Dầu Tiếng đang gặp nhiều khó khăn, vì người được cấp Giấy, mặc dù đã đồng ý giao lại Giấy CNQSDĐ cấp trùng, song BQL vẫn chưa thể thu hồi lại diện tích đất do người dân đòi bồi thường cây trồng trên đất (theo Quyết định 875 chỉ đề cập về Giấy CNQSDĐ cấp sai, không quy định về bồi thường tài sản trên đất)
Vì vậy, mặc dù đã thu hồi và hủy Giấy CNQSDĐ cấp trùng trên đất Lâm
Trang 6được, dẫn đến việc chậm trễ trong công tác trồng lại rừng, khôi phục lại diện tích rừng đã mất trực tiếp ảnh hưởng đến chức năng phòng hộ của rừng
Trước thực trạng đó, để tháo gỡ vướng mắc trong việc thu hồi đất tiến đến giải quyết tình trạng sử dụng đất quy hoạch Lâm nghiệp sai mục đích bên trong Khu rừng phòng hộ Dầu Tiếng một cách bền vững để vừa đảm bảo các quy định của pháp luật về các quy chế, quy định quản lý rừng phòng hộ nhưng cũng vừa đáp ứng được nhu cầu ổn định cuộc sống người dân nơi đây Việc đề ra phương
án xử lý tài sản trên đất khi thu hồi, hủy Giấy CNQSDĐ cấp trùng trên đất Lâm nghiệp tại khu rừng phòng hộ Dầu Tiếng là một việc làm cần thiết và cấp bách
Vận dụng những kiến thức đã học trong khóa bồi dưỡng kiến thức quản lý nhà nước ngạch Kiểm lâm viên, khóa 34 tại trường Cán bộ quản lý Nông nghiệp
và Phát triển nông thôn II; trên cơ sở pháp luật, tình hình thực tế và những kinh
nghiệm trong công tác chuyên môn của bản thân, tôi chọn đề tài “Xử lý tài sản
trên đất sau khi thu hồi, hủy giấy CNQSDĐ cấp trùng trên đất Lâm Nghiệp tại Khu rừng phòng hộ Dầu Tiếng, tỉnh Tây Ninh” làm tiểu luận tốt nghiệp
cuối khóa
Trang 72 PHÂN TÍCH VẤN ĐỀ
Tình hình vi phạm về sử dụng đất quy hoạch lâm nghiệp không đúng mục đích trên địa bàn tỉnh Tây Ninh đã diễn ra từ nhiều năm trước đây, nhất là giai đoạn từ năm 1993 đến năm 1997 khi chuyển các Lâm trường sang thực hiện Chương trình 327 Giai đoạn này, việc tổ chức quản lý rừng và đất lâm nghiệp còn nhiều bất cập, lỏng lẻo, các văn bản quy phạm pháp luật về quản lý rừng và đất lâm nghiệp chưa chặt chẽ và đồng bộ; việc xử lý vi phạm không kiên quyết, triệt để, kéo dài; công tác quản lý, thực hiện quy hoạch, kế hoạch bảo vệ và phát triển rừng không đạt mục tiêu, kế hoạch đề ra Theo số liệu thống kê đến cuối năm 2011, diện tích đất lâm nghiệp bị lấn chiếm và sử dụng không đúng mục đích trên địa bàn tỉnh là 4.114,7 ha
Để giải quyết tình trạng trên, nhằm lập lại kỷ cương pháp luật về quản lý, bảo vệ rừng và sử dụng đất lâm nghiệp đúng quy hoạch theo quy định của pháp luật, UBND tỉnh Tây Ninh đã ban hành Quyết định số 875/QĐ-UBND ngày 13 tháng 9 năm 2009 về ban hành Kế hoạch giải quyết tình trạng bao, lấn chiếm và
sử dụng đất lâm nghiệp không đúng mục đích trên địa bàn tỉnh Tây Ninh, với chủ trương xử lý kiên quyết các đối tượng vi phạm theo đúng quy định của Pháp luật, phù hợp với thực tế quy hoạch bảo vệ phát triển rừng; xử lý phải đảm bảo công khai, minh bạch, đúng đối tượng, công bằng, nghiêm minh theo quy định của Pháp luật, mọi trường hợp vi phạm đều phải được xử lý, không tạo tiền lệ xấu cho việc phát sinh các vi phạm tiếp theo; xử lý đến đâu, tổ chức quản lý đất đến đó, đồng thời triển khai trồng lại rừng theo quy hoạch; trong quá trình xử lý, chú trọng công tác tuyên truyền, vận động để mọi người hiểu và chấp hành; hạn chế đến mức thấp nhất lãng phí xã hội, ổn định cuộc sống người dân Qua 5 năm thực hiện, Kế hoạch giải quyết tình trạng bao, lấn chiếm và sử dụng đất lâm nghiệp sai mục đích trên địa bàn tỉnh Tây Ninh cơ bản đã hoàn thành vào năm
2014, đã thu hồi được 3.974,89 ha/4.114,7 ha đạt 96,60% tổng diện tích đất Lâm nghiệp phải giải quyết theo kế hoạch, số còn lại chưa được giải quyết dứt điểm
là do phần diện tích có Giấy CNQSDĐ cấp trùng trên đất lâm nghiệp và có Hợp
Trang 8đồng, giấy xác nhận cho trồng cây không đúng mục đích, sai quy hoạch Cụ thể, một số hồ sơ cấp Giấy CNQSDĐ sai quy định như sau:
- Từ năm 1993 đến ngày 16/03/1998 thực hiện việc cấp Giấy CNQSDĐ theo Nghị định số 64/1993/NĐ-CP ngày 27/09/1993 của Chính phủ về việc giao đất Nông nghiệp cho hộ gia đình, cá nhân sử dụng ổn định, lâu dài vào mục đích sản xuất nông nghiệp, quy định thành phần hồ sơ có 08 loại giấy tờ, trong đó cấp
xã có 6 loại giấy tờ, cấp huyện có 2 loại giấy tờ
- Từ ngày 16/03/1998 đến ngày 15/12/2001 thực hiện cấp Giấy theo Thông tư số 346/1998/TT-TCĐC ngày 16/03/1998 của Tổng cục Địa chính về hướng dẫn thủ tục đăng kí đất đai, lập hồ sơ địa chính và cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quy định thành phần hồ sơ cấp Giấy CNQSDĐ có 13 loại giấy tờ, trong đó cấp xã 8 loại và cấp huyện 5 loại
- Từ ngày 15/12/2001 đến ngày 15/11/2004 thực hiện việc cấp Giấy CNQSDĐ theo Thông tư số 1990/2001/TT-TCĐC ngày 30/11/2001 của Tổng cục Địa chính về hướng dẫn đăng kí đất đai, lập hồ sơ địa chính và cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quy định thành phần hồ sơ cấp Giấy CNQSDĐ
có 7 loại giấy tờ, trong đó cấp xã 6 loại và cấp huyện 1 loại
Tuy nhiên, qua phúc tra 65 hồ sơ của Thanh tra tỉnh Tây Ninh trên địa bàn
2 huyện Tân Biên, Tân Châu tỉnh Tây Ninh cho thấy 2 cấp xã, huyện không chấp hành nghiêm các văn bản của Trung ương, không có bộ hồ sơ nào đầy đủ theo các quy định nêu trên
Năm 2015, UBND tỉnh Tây Ninh đã ra Công văn số 2293/VP-KTN ngày
14 tháng 03 năm 2015 về việc nghiên cứu xử lý tài sản trên đất do cấp Giấy CNQSDĐ cấp trùng trên đất Lâm nghiệp, giao Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn chủ trì, phối hợp với Sở Tài nguyên và Môi trường, các Sở, Ngành liên quan nghiên cứu đề xuất cụ thể theo hướng dẫn của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Đến ngày 20 tháng 11 năm 2015, Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tỉnh Tây Ninh ban hành Báo cáo số 3550/SNN-KL Báo cáo kết quả giải quyết, thu hồi Giấy CNQSDĐ cấp trùng trên đất Lâm nghiệp và các trường hợp có hợp đồng, giấy xác nhận cho trồng cây không đúng mục đích, sai
Trang 9quy hoạch trên đất Lâm nghiệp Trong báo cáo cho biết, Tổng số Giấy CNQSDĐ cấp trùng trên đất Lâm nghiệp trên địa bàn toàn tỉnh là 239 Giấy, diện tích 386,83 ha (diện tích phải thu hồi tăng so với số liệu kế hoạch tăng trên 200 ha) Cụ thể, tại Khu rừng phòng hộ Dầu Tiếng tổng số Giấy CNQSDĐ cấp trùng trên đất Lâm nghiệp là 87 Giấy/176,49 ha, trong đó diện tịch rừng phòng hộ bị cấp trùng là 10 Giấy/29,66 ha, rừng sản xuất là 77 Giấy/146,83 ha Đến nay, đã thu hồi, hủy Giấy CNQSDĐ và thu hồi đất được 7 Giấy/15,9 ha toàn bộ là diện tích rừng phòng hộ, đồng thời tiến hành chuyển sang trồng rừng được 3 trường hợp, diện tích là 6,5 ha; đã thu hồi, hủy giấy nhưng chưa thu hồi được đất là 80 Giấy/160,59 ha, trong đó 3 Giấy/13,76 ha là diện tích rừng phòng hộ, còn 77 Giấy/146,83 ha là diện tích rừng sản xuất
Việc cấp Giấy CNQSDĐ trùng trên đất Lâm nghiệp thuộc quy hoạch của Khu rừng phòng hộ Dầu tiếng, xuất pháp bởi các nguyên nhân chính như sau:
- Về khách quan: từ năm 1993, khi mới thành lập các Ban quản lý rừng (song song với thời điểm thực hiện chương trình 327) được Nhà nước giao đất trên bản đồ, nhưng công tác phân ranh, đóng mốc ngoài thực địa chưa được thực hiện, dẫn đến việc chính quyền địa phương xã, huyện không biết chính xác ranh giới nên huyện đã cấp Giấy CNQSDĐ trùng trên đất Lâm nghiệp Thời điểm cấp Giấy CNQSDĐ hầu hết đều được huyện cấp sau năm 1993
- Về chủ quan: do hai cấp xã, huyện trên địa bàn Khu rừng phòng hộ Dầu Tiếng không chấp hành nghiêm các văn bản của Trung ương, không có hồ sơ cấp Giấy CNQSDĐ nào đầy đủ theo đúng quy định Mặc khác, việc phối hợp giữ các xã với BQL Khu rừng phòng hộ Dầu Tiếng để xác định sơ đồ, vị trí trước khi tiến hành cấp Giấy CNQSDĐ nông nghiệp cho các hộ gia đình không được chặt chẽ, đồng bộ đẫn đến cấp trùng trên đất Lâm nghiệp
Đến nay, Ban quản lý Khu rừng phòng hộ Dầu Tiếng vẫn chưa có một giải pháp hữu hiệu để giải quyết tình trạng nêu trên, việc thu hồi lại đất đã cấp trùng cứ thế mà kéo dài, trì trệ; vấn đề trên xảy ra bởi các nguyên nhân trực tiếp, gián tiếp và sâu xa như sau:
Trang 10- Do việc xử lý bồi thường tài sản trên đất chưa thỏa đáng, chưa có phương án nào hữu hiệu để dung hòa được lợi ích của cả 2 bên, nên chưa nhận được sự đồng thuận từ phía người dân Đây là nguyên nhân trực tiếp dẫn đến việc chậm trễ trong vấn đề xử lý tài tài sản trên đất sau khi thu hồi, hủy Giấy CNQSDĐ cấp trùng trên đất Lâm nghiệp Nguyên nhân này xuất phát từ các nguyên nhân sâu xa như:
+ Do nguồn thu nhập chính của các hộ dân nêu trên đều dựa vào việc canh tác nông nghiệp trên diện tích đất cấp trùng trên đất Lâm nghiệp, đặc biệt là đối với các hộ gia đình nghèo sống ven rừng thậm chí trong rừng thì điện tích canh tác đó được xem như là nguồn sống duy nhất Khoảng 95% hộ gia đình nói trên tham gia canh tác nông nghiệp Vì vậy, việc bảo họ giao đất cũng đồng nghĩa với việc cắt đứt nguồn thu nhập, nguồn kiếm sống của họ Vì thế mới phát sinh những đòi hỏi về xử lý tài sản trên diện tích đất đã cấp trùng
+ Chính sách chia sẻ lợi ích giữa người dân tham gia bảo vệ rừng và Nhà nước hiện tại đã bộc lộ mâu thuẫn, thiếu sự hài hòa và công bằng, cụ thể: Thu nhập có được khi hợp đồng nhận khoán trồng rừng là từ tiền bán nông sản trồng xen trong những năm đầu khi rừng chưa khép tán và sản phẩm tỉa thưa cây phụ trợ (keo) quá thấp và kéo dài qua nhiều năm; Sau khi rừng khép tán, người nhận khoán chỉ được hưởng công bảo vệ rừng với định mức hiện nay là 200.000 đồng/ha/năm để bảo vệ những cây rừng còn lại, không đủ đáp ứng nhu cầu cuộc sống, không hấp dẫn người dân tham gia nhận khoán trồng rừng Các chính sách
ưu đãi khác chưa được thực hiện, như cho vay ưu đãi, cho vay vốn sản xuất bằng Hợp đồng nhận khoán Trồng rừng không được Ngân hàng quan tâm giải quyết nên cũng chưa thu hút được người dân chưa
+ Trình độ học vấn của một bộ phận người dân tại đây còn thấp, không thể xin vào làm việc tại các xí nghiệp, nên chủ yếu là lao động phổ thông, làm thuê mướn, nguồn thu nhập thấp và bấp bênh, không đủ trang trải chi phí hàng ngày, thiếu lương thực, họ cần đất để sản xuất nông nghiệp phục vụ như cầu thiết yếu hàng ngày Vì vậy, mà công tác tuyên truyền vận động người dân tự nguyên giao đất, tham gia nhận khoán bảo vệ rừng là việc làm thiếu khả thi
Trang 11- Do sự phối hợp giữa các ngành, các cấp còn hạn chế, nguyên nhân trực tiếp này xuất phát từ các nguyên nhân sâu xa như:
+ Năng lực quản lý và năng lực lập kế hoạch sử dụng đất còn hạn chế, bao gồm cả do thiếu quy hoạch sử dụng đất liên ngành, thiếu sự phối hợp, thống nhất giữa ngành Nông nghiệp và ngành Tài nguyên môi trường Nên khi quy hoạch
đã không định hướng khu vực tái đinh cư và bố trí đất sản xuất nông nghiệp cho
họ từ trước, đến nay không còn quỹ đất để thực hiện theo quy định
+ Quyền hạn, trách nhiệm về sự phối hợp liên ngành chưa được làm rõ hoặc chưa phù hợp
+ Sự phối hợp thông tin giữa các cấp các ngành liên quan với chính quyền địa phương các cấp chưa thật sự gắn kết, chưa kịp thời và thiếu sự đồng bộ
+ Công tác kiểm tra, đấu tranh xử lý tài sản trên đất khi thu hồi, hủy Giấy CNQSDĐ cấp trùng trên đất Lâm nghiệp chưa nghiêm, chưa kịp thời và chưa có
sự phối hợp chặt chẽ, đồng bộ giữa các cơ quan bảo vệ pháp luật với ngành Lâm nghiệp, ngành Tài nguyên Môi trường và chính quyền địa phương;
+ Công tác đấu tranh, xử lý các hành vi vi phạm Luật bảo vệ và phát triển rừng còn nhiều hạn chế, nhiều quyết định xử lý không được đối tượng vi phạm chấp hành, tính răn đe thấp
+ Việc phân định ranh mốc biên giới giữa hai quốc gia Việt Nam và Campuchia chậm thực hiện, đồng thời ranh giới đất nông lâm cũng chưa được xác định, vì vậy BQL Khu rừng phòng hộ Dầu Tiếng gặp khó khăn, lúng túng trong công tác đo đạc, chậm phát hiện những diện tích đất trong quy hoạch trồng rừng bị bị cấp nhầm cho sản xuất nông nghiệp
- Do nhận thức của người dân về giá trị của rừng còn thấp, nguyên nhân trực tiếp này xuất phát từ các nguyên nhân sâu xa như:
+ Trình độ dân trí còn thấp, đặc biệt là đồng bào dân tộc thiểu số nên nhận thức về các giá trị của rừng còn hạn chế
+ Công tác tuyên truyền về bảo vệ và phát triển rừng, giá trị của rừng với cuộc sống con người chưa thực sự hiệu quả Thiếu thông tin tuyên truyền hoặc
Trang 12thông tin tuyên truyền chưa phù hợp với người dân địa phương, đặc biệt là bộ phận người dân sống và sản xuất gần rừng
+ Phần lớn người dân còn xem nhẹ giá trị lâu dài của rừng mà chỉ vì lợi ích cục bộ trước mắt hoặc cá nhân
Mặc dù, đã thu hồi và hủy các Giấy CNQSDĐ cấp trùng trên đất Lâm nghiệp song trên thực tế diện tích đất vẫn chưa được thu hồi, tình trạng này tại Khu rừng phòng hộ Dầu Tiếng nếu để kéo dài, không đưa ra được một giải pháp
xử lý nghiêm, dứt điểm sẽ làm cho diện tích quy hoạch trồng rừng ngày càng bị thu hẹp, công tác trồng rừng của BQL Khu rừng phòng hộ Dầu tiếng từ đó mà gặp nhiều khó khăn, không đạt tiến độ và kế hoạch đã được phê duyệt hàng năm;
Khi công tác trồng rừng gặp khó khăn, khó hoàn thành kế hoạch, độ che phủ rừng không đạt mục tiêu đề ra, ảnh hưởng đến độ che phủ chung của toàn tỉnh, dẫn đến suy giảm chức năng phòng hộ bảo vệ môi trường, giảm nhẹ thiên tai, điều hòa khí hậu; đồng thời ảnh hưởng đến môi trường sống, tính bền vững cho sự phát triển kinh tế xã hội trong khu vực, ảnh hưởng đến an ninh quốc phòng vùng biên
Việc xử lý không được thỏa đáng dẫn đến thiệt hại về tài sản của hộ gia đình, cá nhân, rất có thể sẽ làm nảy sinh tâm lý “hận thù”, thiếu sự đồng tình từ phía người dân địa phương và từ đó sẽ tạo nên mâu thuẫn, mối quan hệ đối kháng giữa cá nhân đối với cơ quan quản lý lâm nghiệp trên địa bàn Từ đó, làm giảm lòng tin của nhân dân đối với Đảng và cơ quan hành chính nhà nước ở địa phương, gây ra bất bình trong nhân dân, dẫn đến việc thực thi pháp luật trong cộng đồng dân cư bị hạn chế
Việc xử lý chưa triệt để còn tạo dư luận xấu trong xã hội về việc thực thi pháp luật và quy định của nhà nước trong lâm nghiệp Tốn kém chi phí đầu tư cho bảo vệ rừng nhưng hiệu quả không cao
Trang 133 GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ
3.1 Mục tiêu giải quyết vấn đề
- Giải quyết, xử lý dứt điểm diện tích đang trồng cây nông nghiệp trên đất quy hoạch Lâm nghiệp tại Khu rừng phòng hộ Dầu Tiếng còn tồn tại, phát sinh sau khi tổng kết thực hiện Quyết định số 875/QĐ-UBND ngày 13 tháng 05 năm
3.2 Cơ sở giải quyết vấn đề
3.2.1 Cơ sở pháp lý để giải quyết vấn đề
Để làm rõ vấn đề xử lý tài sản trên đất sau khi thu hồi, hủy Giấy CNQSDĐ tại Khu rừng phòng hộ Dầu Tiếng, những văn bản pháp luật sau đây
có liên quan đến những quy định bắt buộc khi một khu rừng phòng hộ nào đó có người dân đang sinh sống và canh tác nông nghiệp bên trong và những gì cho phép cũng như quyền lợi của những người dân được gì để từ đó đề xuất các giải pháp giải quyết một cách thấu đáo nhất, vừa phù hợp với các quy định của pháp luật nhưng cũng vừa phù hợp với thực tiễn:
- Khoản 7 Điều 7 Luật Bảo vệ và phát triển rừng năm 2004 quy định về nội dung quản lý Nhà nước về bảo vệ và phát triển rừng nêu rõ: “Nhà nước được cấp, thu hồi các loại giấy phép theo quy định của Pháp luật về bảo vệ và phát triển rừng”
- Điểm a Khoản 2 Điều 64 Luật Đất đai năm 2013 quy định về thu hồi đất
do vi phạm Pháp luật về Đất đai có trường hợp: “Đất được giao, cho thuê không đúng đối tượng hoặc không đúng thẩm quyền” thì bị thu hồi
- Điểm a Khoản 2 Điều 66 Luật Đất đai năm 2013 quy định về thẩm quyền thu hồi đất nêu rõ: “UBND cấp huyện được ra quyết định thu hồi đất đối