1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tác động của việc gia nhập WTO tới hoạt động xuất nhập khẩu hàng hóa của Việt Nam

25 524 3
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Tác động của việc gia nhập WTO tới hoạt động xuất nhập khẩu hàng hóa của Việt Nam
Trường học Trường Đại Học Kinh Tế Quốc Dân
Chuyên ngành Kinh Tế Quốc Tế
Thể loại Tiểu luận
Năm xuất bản 2012-2014
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 25
Dung lượng 383,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tác động của việc gia nhập WTO tới hoạt động xuất nhập khẩu hàng hóa của Việt Nam

Trang 1

MỞ ĐẦU

Trong điều kiện kinh tế thị trường với xu thế toàn cầu hoá đang diễn ra mạnh mẽ, đòihỏi các doanh nghiệp cần phải có những chiến lược kinh doanh hợp lý để đảm bảo sản phẩmsản xuất ra có sức cạnh tranh Xu hướng hội nhập kinh tế và cạnh tranh từ khi gia nhập WTObuộc các quốc gia phải nỗ lực để nâng cao năng lực của mình trên thị trường, trong đó ViệtNam cũng không phải là ngoại lệ hội nhập bắt đầu có hiệu lực đối với Việt Nam từ ngày11/1/2007, nhìn chung nền kinh tế vẫn giữ được tốc độ tăng trưởng cao Về cơ bản cái đượccủa chúng ta là nhiều hơn: kinh tế phát triển, quan hệ quốc tế mở rộng, ổn định chính trị, thêmđầu tư và mở cửa thị trường hơn trong hội nhập cũng là sự kích thích các doanh nghiệp,doanh nhân ở trong nước hay nước ngoài, dân doanh hay quốc doanh đều phải thích ứng vớiyêu cầu mới

Hội nhập quốc tế mang đến cho các quốc gia nhiều cơ hội nhưng đưa quốc gia đó đứngtrước nhiều thách thức Mỗi một quốc gia có hướng đi riêng, có những chính sách điều hànhkhác nhau nhằm mục tiêu phát triển bền vững Xuất nhập khẩu là một trong những hoạt độnggiúp các nền kinh tế tiếp cận, hợp tác trong xu thế toàn cầu Việt Nam cũng không nằm ngoài

xu thế đó, việc gia nhập WTO có ảnh hưởng rất lớn tới hoạt động xuất nhập khẩu Đề tài

‘‘Tác động của việc gia nhập WTO tới hoạt động xuất nhập khẩu hàng hóa của Việt Nam”

tiến hành nghiên cứu cơ hội và thách thức, đánh giá tình hình xuất nhập khẩu qua các năm,đưa ra giải pháp đẩy mạnh hoạt động xuất khẩu hàng hóa nói chung

Trang 2

CHƯƠNG 1 HOẠT ĐỘNG XUẤT NHẬP KHẨU CỦA VIỆT NAM SAU KHI GIA NHẬP TỔ CHỨC THƯƠNG MẠI THẾ GIỚI

1.1 NHỮNG CƠ HỘI VÀ THÁCH THỨC KHI VIỆT NAM GIA NHẬP WTO

Sau hơn 11 năm kiên trì và nỗ lực đàm phán, vào ngày 11/1/2007 Việt Nam đã chínhthức trở thành thành viên thứ 150 của Tổ chức Thương mại thế giới

Việc trở thành thành viên của Tổ chức Thương mại thế giới đã nâng cao vị thế của ViệtNam trên trường quốc tế, tạo ra những cơ hội lớn để đất nước ta phát triển nhanh hơn, toàndiện hơn, sớm thoát khỏi tình trạng kém phát triển; đồng thời cũng đặt ra những thách thức rấtgay gắt, nhất là đối với hoạt động xuất khẩu hàng hoá

1.1.1 Cơ hội

Gia nhập WTO, Việt Nam trở thành một quốc gia bình đẳng, không bị phân biệt đối xử

và theo mức thuế các thành viên WTO cam kết Ðây là những yếu tố quan trọng để thúc đẩyphát triển sản xuất hàng hóa, dịch vụ của nước ta, tạo thêm việc làm, góp phần giữ vững tốc

độ tăng trưởng kinh tế cao

Hai là, thực hiện các cam kết khi gia nhập Tổ chức Thương mại thế giới, thể chế kinh tếthị trường ở nước ta ngày càng hoàn thiện, môi trường đầu tư, kinh doanh trong nước ngàycàng thuận lợi, thúc đẩy mạnh mẽ đầu tư của các thành phần kinh tế, các nhà đầu tư trong vàngoài nước, đầu tư trực tiếp và đầu tư gián tiếp, trong đó có các công ty xuyên quốc gia cótiềm lực tài chính lớn, công nghệ cao, trình độ quản lý tiên tiến, đóng góp ngày càng quantrọng vào quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa của nước ta

Ba là, gia nhập Tổ chức Thương mại thế giới sẽ thúc đẩy nền kinh tế nước ta phát triển,chính sách kinh tế, cơ chế quản lý ngày càng minh bạch hơn, môi trường kinh doanh thuận lợihơn, khơi dậy mạnh mẽ những tiềm năng to lớn của đất nước và sức sáng tạo của các tầng lớpnhân dân; việc phân bổ và sử dụng các nguồn lực sẽ hiệu quả hơn; tăng trưởng kinh tế, do đó,

sẽ nhanh và bền vững hơn

Bốn là, là thành viên Tổ chức Thương mại thế giới, nước ta có địa vị bình đẳng với cácthành viên khác khi tham gia vào việc hoạch định chính sách thương mại toàn cầu, thiết lậpmột trật tự kinh tế mới công bằng hơn; có điều kiện thuận lợi để đấu tranh bảo vệ quyền lợidoanh nghiệp Việt Nam trong các cuộc tranh chấp thương mại với các thành viên khác, hạnchế những thiệt hại

Năm là, chúng ta có những thuận lợi mới để thực hiện đường lối đối ngoại của Ðảng:

"Việt Nam là bạn, đối tác tin cậy của các nước trong cộng đồng quốc tế", phát huy vai trò củanước ta trong các tổ chức khu vực và quốc tế, xây dựng quan hệ đối tác bình đẳng với cácnước trên thế giới

1.1.2 Thách thức

Khi là thành viên Tổ chức Thương mại thế giới, người tiêu dùng trong nước sẽ có thêm

sự lựa chọn về hàng hóa, dịch vụ có chất lượng cao, giá cả cạnh tranh; các doanh nghiệp trongnước có thể tiếp cận nguồn nguyên liệu đầu vào với giá cạnh tranh hơn, dịch vụ hỗ trợ tiện lợihơn, có chất lượng hơn, tiết kiệm chi phí sản xuất, nâng cao chất lượng, hiệu quả kinh doanh

Trang 3

Thứ nhất, nước ta phải chịu sức ép cạnh tranh gay gắt hơn trên cả ba cấp độ: sản phẩm,doanh nghiệp và quốc gia Các sản phẩm và doanh nghiệp của Việt Nam sẽ phải cạnh tranhvới sản phẩm và doanh nghiệp nước ngoài không chỉ trên thị trường thế giới mà ngay trên thịtrường trong nước Chính phủ ta phải cạnh tranh với chính phủ các nước trong cải thiện môitrường thu hút đầu tư

Thứ hai, gia nhập WTO, tham gia vào tiến trình toàn cầu hóa kinh tế có thể làm tăngthêm sự phân phối lợi ích không đồng đều giữa các khu vực, các ngành, các vùng, miền đấtnước; có những bộ phận dân cư ít được hưởng lợi, thậm chí còn bị tác động tiêu cực; một bộphận doanh nghiệp có thể bị phá sản, thất nghiệp có thể tăng lên; khoảng cách giàu - nghèo,mức sống giữa nông thôn và thành thị có thể doãng ra hơn, từ đó có thể dẫn đến những yếu tốgây bất ổn định xã hội, ảnh hưởng đến định hướng xã hội chủ nghĩa của đất nước

Thứ ba, với sự hội nhập sâu hơn vào nền kinh tế thế giới, những biến động trên thịtrường tài chính, tiền tệ, thị trường hàng hóa quốc tế sẽ tác động mạnh hơn, nhanh hơn đến thịtrường trong nước, tiềm ẩn nguy cơ không kiểm soát được thị trường, có thể gây ra rối loạn,thậm chí khủng hoảng kinh tế, tài chính, ảnh hưởng tiêu cực đến sự ổn định và phát triển bềnvững của đất nước

Thứ tư, đội ngũ cán bộ, công chức nước ta (bao gồm cán bộ quản lý nhà nước, quản trịdoanh nghiệp và chuyên gia trong các lĩnh vực) còn thiếu và yếu cả về năng lực chuyên môn,trình độ tin học, ngoại ngữ Ðặc biệt, chúng ta còn thiếu một đội ngũ luật sư giỏi, thông thạoluật pháp quốc tế và ngoại ngữ để giải quyết các tranh chấp thương mại và tư vấn cho cácdoanh nghiệp trong kinh doanh Lực lượng lao động chưa qua đào tạo còn chiếm tỷ trọng lớn,

số lao động có trình độ chuyên môn và tay nghề cao còn thiếu nhiều

Thứ năm, cùng với những thách thức trong lĩnh vực kinh tế, quá trình hội nhập quốc tếđặt ra những thách thức lớn đối với chế độ chính trị, vai trò lãnh đạo của Ðảng và việc giữvững định hướng xã hội chủ nghĩa, việc bảo đảm quốc phòng, an ninh, giữ gìn bản sắc vănhóa dân tộc, bảo vệ môi trường sinh thái cho phát triển bền vững của đất nước

Những cơ hội, thách thức nêu trên có mối quan hệ, tác động qua lại, có thể chuyển hóalẫn nhau Cơ hội không tự phát huy tác dụng mà tùy thuộc vào khả năng tận dụng cơ hội củachúng ta Tận dụng tốt cơ hội sẽ tạo ra thế và lực mới để vượt qua thách thức, tạo ra cơ hộilớn hơn Ngược lại, nếu không nắm bắt, tận dụng thì cơ hội có thể bị bỏ lỡ, thách thức sẽ tănglên, lấn át cơ hội, cản trở sự phát triển Thách thức tuy là sức ép trực tiếp, nhưng tác động đếnđâu cũng còn tùy thuộc vào nỗ lực và khả năng vượt qua của chúng ta Nếu tích cực chuẩn bị,

có biện pháp đối phó hiệu quả, vươn lên nhanh trước sức ép của các thách thức thì khôngnhững chúng ta sẽ vượt qua được thách thức mà còn có thể biến thách thức thành động lựcphát triển

Trang 4

1.2 TÌNH HÌNH HOẠT ĐỘNG XUẤT NHẬP KHẨU HÀNG HÓA SAU KHI VIỆT

NAM GIA NHẬP WTO

1.2.1 Tốc độ tăng trưởng kim ngạch xuất nhập khẩu hàng hóa và cán cân thương mại

của Việt Nam qua các năm

Biểu 1: Kim ngạch xuất nhập khẩu hàng hoá và cán cân thương mại của Việt Nam từ

Trang 5

Qua biểu đồ và bảng số liệu trên, chúng ta thấy rõ sự thay đổi rõ rệt về tốc độ tăngtrưởng kim ngạch xuất nhập khẩu sau khi Việt Nam gia nhập WTO

Hoạt động xuất khẩu năm 2007 diễn ra trong bối cảnh Việt Nam bắt đầu thực hiện cáccam kết về gia nhập Tổ chức thương mại thế giới (WTO), Việt Nam vừa có những cơ hội, vừa

có nhiều thách thức cần phải vượt qua Việc gia nhập WTO tạo cơ hội cho nước ta mở rộnghợp tác kinh tế toàn diện, khai thác lợi thế so sánh, tranh thủ nguồn lực bên ngoài để phát huytốt hơn nội lực, tạo thành sức mạnh tổng hợp để phát triển Làn sóng đầu tư, lưu chuyển hànghoá và dịch vụ, lao động và vốn trong khu vực và giữa khu vực với bên ngoài được mở rộng.Tuy nhiên cạnh tranh quốc tế ngày càng gay gắt hơn, gây áp lực ngày càng lớn với các nướcđang phát triển có tiềm lực kinh tế và năng lực cạnh tranh còn yếu như nước ta Trong khi đó,việc chuẩn bị để hội nhập trên cả 3 mặt về nhận thức, hoàn thiện hệ thống luật pháp, nâng caokhả năng cạnh tranh còn nhiều hạn chế Nhưng quy mô và tốc độ tăng trưởng kim ngạch xuấtkhẩu được duy trì ở mức cao, tỷ trọng hàng hóa chế biến, chế tạo, có hàm lượng công nghệ vàchất xám cao tăng dần, tỷ trọng hàng hóa chưa qua chế biến giảm dần Giá trị kim ngạch xuấtkhẩu cả năm đạt 48,56 tỷ USD, tăng 21,92% so với năm 2006, trong đó khu vực có vốn đầu

tư nước ngoài xuất khẩu đạt 27,77 tỷ USD, chiếm 57,19% và tăng 20,42% so với năm 2006;khu vực doanh nghiệp 100% vốn trong nước đạt 20,79 tỷ USD, chiếm 42,81% và tăng23,97%

Tổng kim ngạch nhập khẩu năm 2007 ước đạt 62,76 tỷ USD, tăng 39.81% so với năm

2006, trong đó doanh nghiệp 100% vốn trong nước nhập khẩu 41,05 tỷ USD, chiếm 65,40%,

Trang 6

tăng 44,54% và doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài nhập khẩu 21,71 tỷ USD, chiếm34,60%, tăng 31,66% so với năm 2006

Hoạt động xuất khẩu năm 2008 bên cạnh một số thuận lợi như một số mặt hàng trongmột số tháng đầu năm được lợi về giá, về thị trường, nhưng cũng gặp không ít khó khăn docạnh tranh thị trường, về chính sách giám sát hàng dệt may của Mỹ, việc áp thuế bán phá giágiày mũ da của EU, các quy định của Luật nông nghiệp Mỹ, đặc biệt việc khủng hoảng tàichính, tiền tệ của Mỹ và một số nền kinh tế lớn đã làm giảm sút sức mua, sức thanh tóan củacác nhà nhập khẩu trong những tháng cuối năm đã làm cho nhu cầu và mức tiêu thụ giảm, kimngạch xuất khẩu qua từng tháng cuối năm bị giảm dần, ảnh hưởng tới tổng kim ngạch cả năm.Nhưng kết quả xuất khẩu cả năm vẫn đạt ở mức cao: Kim ngạch xuất khẩu đạt xấp xỉ 63 tỷUSD, tăng trên 29,1% so với năm 2007 Kim ngạch của khu vực doanh nghiệp có vốn đầu tưnước ngoài đạt 35.45tỷ USD, chiếm tỷ trọng 55,01%, tăng 24,30% so với năm 2007; của khuvực doanh nghiệp 100% vốn trong nước đạt 28,16 tỷ USD, chiếm tỷ trọng 44,93%, tăng35.45%, so với năm 2007 Tốc độ tăng trưởng kim ngạch xuất khẩu giữ được ở mức cao dotrong những tháng đầu năm dầu thô, than đá và nhiều mặt hàng nông sản gặp thuận lợi về giá

và thị trường xuất khẩu Những mặt hàng có tốc độ tăng trưởng xuất khẩu cao như gạo, nhânđiều, khoáng sản

Tổng kim ngạch nhập khẩu năm 2008 ước đạt 79,90 tỷ USD, tăng 27,5% so với năm

2007, trong đó doanh nghiệp có vốn trong nước nhập khẩu khoảng 51,5 tỷ USD, tăng 25,6%

và doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài nhập khẩu khoảng 28,5 tỷ USD, tăng 31%

Hoạt động thương mại nói chung và xuất khẩu nói riêng năm 2009 chịu ảnh hưởng rấtlớn từ cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới, làm cho nhu cầu nhập khẩu hàng hóa của Việt Nam

và giá cả quốc tế giảm sút mạnh Đồng thời, các nước gia tăng các biện pháp bảo hộ mới, đặt

ra nhiều hơn các rào cản phi thuế Do đó, hoạt động xuất khẩu chịu tác động tiêu cực trên cả

ba phương diện: (1) đơn đặt hàng ít đi do bạn hàng gặp khó khăn về tài chính, nhu cầu củangười tiêu dùng nước nhập khẩu suy giảm; (2) giá cả nhiều mặt hàng xuất khẩu chủ lực củaViệt Nam như dầu thô, than đá, lúa gạo, cao su, cà phê, hạt tiêu, thủy sản bị sụt giảm mạnh

so với năm 2008; (3) các doanh nghiệp kinh doanh hàng xuất khẩu gặp khó khăn về vốn vàđầu ra, kể cả các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài

Trước tình hình đó, các Bộ, ngành hữu quan, các Hiệp hội ngành nghề, các địa phương

đề ra nhiều giải pháp tích cực, chủ động tạo điều kiện đẩy mạnh xuất khẩu, nên phần lớn mặthàng đã có khối lượng xuất khẩu tăng hơn năm 2008 (lượng xuất khẩu tăng làm tăng kimngạch khoảng 1,5 tỷ USD), nhưng do tốc độ giảm giá lớn hơn (khoảng 11 tỷ USD, tươngđương giảm 17 - 18% kim ngạch xuất khẩu, trong đó: nhóm nông sản, thủy sản giảm 2,7 tỷUSD; nhóm nhiên liệu khoáng sản giảm 4,6 tỷ USD; nhóm công nghiệp chế biến giảm 3 - 4 tỷUSD) nên tổng kim ngạch xuất khẩu cả năm giảm khoảng 9,8% so với năm 2008 Tuy nhiên,mức giảm này là kết quả đáng khích lệ so với nhiều nước trên thế giới và khu vực

Tổng kim ngạch xuất khẩu hàng hoá năm 2009 đạt khoảng 57.09 tỷ USD, giảm 9,8%

so với năm 2008 Trong đó khu vực có vốn đầu tư nước ngoài (kể cả dầu thô) đạt 30.37 tỷUSD, chiếm 53.20% kim ngạch xuất khẩu của cả nước, giảm 13,66% so với năm 2008; của

Trang 7

khu vực doanh nghiệp 100% vốn trong nước đạt 26,72 tỷ USD, chiếm 46,80% giảm 5,39%,

so với năm 2008 Như vậy, kim ngạch xuất khẩu bình quân năm 2009 ước đạt gần 4,72 tỷUSD/tháng, thấp hơn 520 triệu USD so với mức bình quân năm 2008 (5,22 tỷ USD/tháng).Tuy nhiên, nếu loại trừ yếu tố đột biến về thị trường và giá hàng hoá trên thế giới năm 2008,xuất khẩu năm 2009 vẫn có tốc độ tăng khá so với dãy số thời gian của các năm trước: tăng74,1% so với năm 2005, tăng 41,8% so với năm 2006, tăng 16,3% so với năm 2007

Kim ngạch nhập khẩu hàng hoá năm 2009 khoảng 68,8 tỷ USD, giảm 14,7% so với năm

2008 (năm 2008 so với 2007 tăng 28,7%), trong đó khối doanh nghiệp có vốn đầu tư nướcngoài đạt 24,87 tỷ USD, chiếm tỷ trọng 36,1% tổng KNNK cả nước, giảm 10,8%; Kim ngạchnhập khẩu của khối doanh nghiệp 100% vốn trong nước đạt 43,96 tỷ USD, chiếm tỷ trọng63,9%, giảm 16,8% so với năm 2008

Nhập khẩu hàng hoá giảm chủ yếu do sản xuất trong nước giảm và giá hàng hóa nhậpkhẩu cũng giảm hơn năm 2008, nhất là trong những tháng đầu năm Tuy nhiên, nhập khẩu đãtăng dần trong những tháng cuối năm, do sự phục hồi của nền kinh tế và chính sách kích cầucủa Chính phủ có tác dụng, bên cạnh đó có tâm lý tranh thủ nhập khẩu để dự trữ khi giá nhậpkhẩu thấp

Năm 2010 khi kinh tế thế giới bắt đầu có dấu hiệu hồi phục trở lại, Việt Nam là nước cótốc độ tăng trưởng khá nhanh sau khủng hoảng Kim ngạch xuất nhập khẩu tăng mạnh là bằngchứng cho dấu hiệu đáng mừng này Kim ngạch xuất khẩu tăng 26,45% là do sự đóng góp củanhững mặt hàng công nghiệp chế biến Kim ngạch nhập khẩu tăng 21,23% là do kinh tế phụchồi, làm gia tăng nguyên phụ liệu phục vụ sản xuất Tốc độ tăng kim ngạch xuất khẩu nhiềuhơn nên đã làm cán cân thương mại được cải thiện, chỉ còn nhập siêu 12,61 tỷ USD (chiếm17,47% kim ngạch xuất khẩu)

Thâm hụt thương mại năm 2011 là 9,85% Con số này tiếp tục là bằng chứng cho sựđiều tiết đúng hướng của các nhà hoạch định chính sách và những nỗ lực hết mình của cả nềnkinh tế trong việc phục hồi và tăng trưởng trở lại Tỷ lệ nhập siêu năm 2011 giảm so vớinhững năm trước và giảm so với cả mục tiêu của chính phủ, tạo nên sự cân đối về cán cânthương mại, về nguồn ngoại tệ là một tín hiệu tốt Nhưng thực tế giá cả xuất khẩu hàng hóanăm 2011 cao, tăng nhanh hơn so với giá nhập khẩu

1.2.2 Cơ cấu các mặt hàng xuất nhập khẩu chủ yếu của Việt Nam

Biểu 2: Cơ cấu các mặt hàng xuất khẩu chủ yếu của Việt Nam trong những năm gần đây

Đơn vị tính: Triệu USD

Trang 8

5 Vàng phi tiền tệ 7,2 16,5 360,9 822,6 2.75

Chúng ta đã không còn phụ thuộc vào một số ít mặt hàng như trước đây, mà đã giàn trảisang các nhóm mặt hàng khác nhau, minh chứng là đã có 23 mặt hàng vào nhóm tỷ USD, từcon số 16 của năm 2010

Biểu đồ 2: Cơ cấu xuất khẩu theo mặt hàng năm 2011

Từ chỗ xuất khẩu thô là nhiều, giờ đây nhóm mặt hàng chế biến tăng lên, từ 36% tỷtrọng trong năm 2006 lên trên 40% trong năm 2011

Tỷ trọng của nhóm hàng nông, lâm sản và thủy sản giảm từ 20,6% xuống còn 18,4%trong năm 2011 Tỷ trọng của nhóm nhiên liệu và khoáng sản giảm từ 23% năm 2006 xuống

Cơ cấu xuất khẩu theo mặt hàng năm 2011 (Nguồn: Cafef, TCHQ)

Trang 9

8,3% trong 2010 và giảm tiếp xuống trong năm qua, trong đó dầu thô giảm từ 16,7 triệu tấnxuống hơn 7 triệu tấn, than đá giảm từ 23,9 triệu tấn xuống 19,8 triệu tấn.

Một thành tích quan trọng của xuất khẩu hàng hóa năm 2011 là lần đầu tiên trong lịch

sử, Việt Nam có 1 mặt hàng công nghiệp chế biến xuất siêu đó là hàng dệt may Năm 2011,mặt hàng này xuất siêu tới 7 tỷ USD

Một số mặt hàng nông sản xuất khẩu đã có thứ hạng nhất nhì trên thị trường thế giớinhư gạo, cà phê, hạt tiêu, hạt điều… trước nay chưa thể tác động tới giá, thì bắt đầu từ 2010,đặc biệt là 2011, chúng ta bắt đầu có tác động tuy chưa nhiều, trong đó đáng kể là gạo, càphê , hạt tiêu và thủy sản (cá tra, ba sa)

Biểu 3: Cơ cấu các mặt hàng nhập khẩu chủ yếu của Việt Nam trong những năm gần đây

Đơn vị tính: Triệu USD

Biểu đồ 3: Cơ cấu nhập khẩu theo mặt hàng năm 2011

Cơ cấu nhập khẩu theo mặt hàng năm 2011 (Nguồn: Cafef, TCHQ)

Các mặt hàng chúng ta nhập khẩu chủ yếu phục vụ cho hoạt động sản xuất kinh doanh,tiếp tục tạo ra giá trị để xuất khẩu

1.2.3 Cơ cấu thị trường xuất nhập khẩu

Trang 10

Do gặp khó khăn trong việc tìm nguồn dữ liệu nên nhóm nghiên cứu xin được trình bàychi tiết về cơ cấu thị trường xuất nhật khẩu năm 2011 của Việt Nam

Cơ cấu thị trường xuất khẩu năm 2011 tương đối ổn định và cân đối giữa Mỹ, EU vàSNG Đây là sự cần thiết đảm bảo phân tán rủi ro trong hoạt động xuất khẩu Nhưng 5 nămqua Việt Nam tập trung quá nhiều vào thị trường châu Á, tới hơn 50% Thông thường, nếuphụ thuộc vào thị trường nào đó sẽ rất nguy hiểm

Biểu đồ 4: Xuất khẩu theo khu vực năm 2011

Biểu đồ 5: Nhập khẩu theo khu vực năm 2011

Tổng trị giá hàng hoá trao đổi giữa Việt Nam với châu Á trong năm qua đạt 134,56 tỷUSD, tăng 31,9% so với năm 2010 và chiếm 66% tổng kim ngạch xuất nhập khẩu của cảnước

Trang 11

Tăng trưởng thương mại hàng hoá với châu Á trong năm nay chỉ thấp hơn mức tăngtrưởng với châu Phi (tăng 85,9%) Nhưng xét về số tuyệt đối thì đây là thị trường có mức tănglớn nhất với 32,53 tỷ USD, bằng gần 70% tổng trị giá xuất nhập khẩu tăng thêm của cả nướctrong năm 2011.

Tiếp theo là thương mại hàng hoá song phương của Việt Nam với châu Âu đạt 31,07 tỷUSD, tăng 26,6%; châu Mỹ 27,94 tỷ USD, tăng 20,6%; châu Đại Dương 5,31 tỷ USD, tăng11,5% so với năm trước

Năm 2011 cũng là năm đầu tiên xuất khẩu xác lập mức kỷ lục với 24 thị trường đạt trên

1 tỷ USD, trong khi nhập khẩu vẫn duy trì con số 14

Nhìn chung các thị trường xuất nhập khẩu của Việt Nam năm qua tăng trưởng rất tốt.Trong số 118 thị trường xuất khẩu và 107 thị trường nhập khẩu có kim ngạch trên 10 triệuUSD thì có hơn 84% số thị trường đạt tốc độ tăng trưởng dương (năm 2010 là 65%)

Thị trường ASEAN

Trị giá xuất nhập khẩu giữa Việt Nam với các nước ASEAN trong năm 2011 đạt 34,47

tỷ USD, tăng 28,8% so với năm 2010

Kim ngạch xuất khẩu hàng hoá Việt Nam sang khu vực thị trường này trong trong năm

2011 đạt 13,58 tỷ USD, tăng 31,2% so với năm 2010 và chiếm 27,1% trị giá hàng hoá ViệtNam xuất khẩu sang châu Á Gạo và dầu thô là 2 mặt hàng chính xuất khẩu sang ASEAN vớikim ngạch là 2 tỷ USD, tăng 16,9% và 1,44 tỷ USD, giảm 8,6% so với năm 2010

Hàng hoá có xuất xứ ASEAN được nhập khẩu vào Việt Nam trong năm nay là 20,91 tỷUSD, tăng 27,4% so với năm 2010 Các mặt hàng chính nhập khẩu từ thị trường này là: xăngdầu các loại 4,95 tỷ USD, tăng 66,6%; máy vi tính, sản phẩm điện tử và linh kiện 1,38 tỷUSD, tăng 59,1%; chất dẻo nguyên liệu 1,08 tỷ USD, tăng 20,5%; máy móc thiết bị dụng cụ

và phụ tùng1,04 tỷ USD, tăng 1,9% so với năm trước…

Thị trường Hoa Kỳ

Trong năm 2011, Việt Nam tiếp tục xuất siêu mạnh sang thị trường Hoa Kỳ với 12,4 tỷUSD, tương ứng tăng hơn 1,9 tỷ USD so với năm 2010 Tiếp theo là thị trường Campuchiagần 2 tỷ USD; Anh gần 1,8 tỷ USD

Mặc dù tiếp tục là thị trường dẫn đầu về nhập khẩu hàng hoá của nước ta với kim ngạchđạt 16,93 tỷ USD nhưng thị ttrường Hoa Kỳ chỉ tăng 18,9%, thấp hơn nhiều so với mức tăngxuất khẩu sang các thị trường xuất khẩu chính của Việt Nam là Liên minh châu Âu (EU),ASEAN, Trung Quốc cả về số tương đối và số tuyệt đối

Các mặt hàng xuất khẩu chính của Việt Nam sang Hoa Kỳ trong năm 2011 là: sản phẩmdệt may 6,88 tỷ USD, chiếm 40,6% tổng trị giá hàng hoá Việt Nam xuất khẩu sang Hoa Kỳ vàtăng 12,5% so với cùng kỳ năm trước, tương ứng tăng hơn 766 triệu USD

Tiếp theo là giày dép 1,91 tỷ USD, tăng 35,5%, tương ứng tăng hơn 500 triệu USD; gỗ

và sản phẩm gỗ 1,44 tỷ USD, tăng 3,1% và hàng thuỷ sản 1,16 tỷ USD, tăng 21,3% so vớicùng kỳ năm trước

Nhập khẩu từ Hoa Kỳ trong năm 2011 có 11 nhóm hàng đạt trị giá trên 100 triệu USDvới tổng trị giá là 3,19 tỷ USD, chiếm 71,2% tổng trị giá hàng hoá nhập khẩu từ nước này

Trang 12

Dẫn đầu về kim ngạch nhập khẩu từ Hoa Kỳ là nhóm hàng máy móc, thiết bị, dụng cụ

và phụ tùng với trị giá là 848 triệu USD nhưng lại chỉ tăng 4,1% so với cùng kỳ năm trước Tiếp theo là các nhóm hàng: bông các loại 523 triệu USD, tăng gấp hơn 2 lần; máy vitính, sản phẩm điện tử và linh kiện 397 triệu USD, 104,3% Trong khi đó, trị giá nhập khẩunhóm hàng thức ăn gia súc và nguyên liệu và phế liệu sắt thép lại giảm với kim ngạch tươngứng là 249 triệu USD, giảm 30,3% và 212 triệu USD, giảm 12%

Thị trường Trung Quốc

Ở chiều ngược lại, có 5 thị trường Việt Nam nhập siêu trên 4 tỷ USD thuộc châu Á vàthâm hụt thương mại lớn nhất vẫn là với Trung Quốc (gần 13,5 tỷ USD) nhưng tốc độ đang có

xu hướng giảm dần, chỉ tăng 6% (tương ứng tăng gần 760 triệu USD) so với năm 2010 Năm 2011, lần đầu tiên trị giá xuất khẩu hàng hoá của Việt Nam sang thị trường TrungQuốc vượt qua Nhật Bản

Trung Quốc là đối tác thương mại lớn nhất của Việt Nam trong năm 2011 với tổng trịgiá hàng hoá trao đổi lên tới 35,72 tỷ USD, tăng 30,7% so với năm 2010

Xuất khẩu hàng hoá Việt Nam sang Trung Quốc tăng trưởng mạnh (tăng 52,2%), với trịgiá là 11,13 tỷ USD (cao hơn Nhật Bản 346 triệu USD) và chiếm 11,5% trị giá xuất khẩu của

cả nước Các nhóm hàng chính xuất khẩu sang thị trường này là cao su: 1,94 tỷ USD, tăng36,4%; dầu thô 1,08 tỷ USD, tăng 2,9 lần; than đá 1,02 tỷ USD, tăng 6,4%; máy vi tính, sảnphẩm điện tử và linh kiện 1,06 tỷ USD, tăng 60,5% so với năm trước

Nhập khẩu hàng hoá từ thị trường này cũng tiếp tục dẫn đầu với kim ngạch đạt 24,59 tỷUSD, tăng 22,9% và chiếm tới 23% tổng trị giá nhập khẩu của cả nước Các nhóm hàng chínhViệt Nam nhập khẩu từ Trung Quốc là máy móc, thiết bị, dụng cụ và phụ tùng 5,18 tỷ USD,tăng 15,7% và chiếm tới 21% tổng trị giá nhập khẩu của Việt Nam với thị trường này

Tiếp theo là vải các loại 2,8 tỷ USD, tăng 26,2%; máy vi tính, sản phẩm điện tử và linhkiện 2,36 tỷ USD, tăng 40,4%; điện thoại các loại và linh kiện 1,74 tỷ USD, tăng 62,8% sovới năm trước

Thị trường EU

Tốc độ tăng xuất khẩu sang thị trường EU là 45,3%, gấp 2,4 lần so với tốc độ tăng xuấtkhẩu sang Hoa Kỳ Điện thoại các loại và linh kiện trở thành nhóm hàng có kim ngạch xuấtkhẩu lớn nhất sang thị trường này

Mặc dù trong năm 2011, các nước EU tiếp tục gặp nhiều khó khăn sau khủng hoảng tàichính tiền tệ, tình hình nợ công vẫn còn nhiều bế tắc nhưng đây có thể được xem là thị trườngxuất khẩu khá thành công của Việt Nam trong năm 2011 với tốc độ tăng là 45,3% và kimngạch lên tới 16,55 tỷ USD, chỉ thấp hơn Hoa Kỳ 380 triệu USD (năm 2010, con số tươngứng là 2,85 tỷ USD và năm 2009 là 1,98 tỷ USD)

Nguyên nhân chính khiến kim ngạch xuất khẩu hàng hoá của Việt Nam sang thị trườngnày tăng mạnh chủ yếu là do 1 số nhóm hàng tăng mạnh như: điện thoại các loại và linh kiện2,93 tỷ USD, tăng 2,51 tỷ USD

Ngày đăng: 11/07/2013, 14:03

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Qua biểu đồ và bảng số liệu trên, chúng ta thấy rõ sự thay đổi rõ rệt về tốc độ tăng trưởng kim ngạch xuất nhập khẩu sau khi Việt Nam gia nhập WTO - Tác động của việc gia nhập WTO tới hoạt động xuất nhập khẩu hàng hóa của Việt Nam
ua biểu đồ và bảng số liệu trên, chúng ta thấy rõ sự thay đổi rõ rệt về tốc độ tăng trưởng kim ngạch xuất nhập khẩu sau khi Việt Nam gia nhập WTO (Trang 5)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w