1. Trang chủ
  2. » Giáo án - Bài giảng

Luận văn thạc sĩ quan hệ kinh tế thái lan nhật bản từ sau khủng hoảng tài chính châu á 1997

102 300 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 102
Dung lượng 0,95 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Công trình đề cập đến một số Hiệp ước giữa Thái Lan và Nhật Bản trong thời kỳ chiến tranh thế giới lần thứ hai, Nhật Bản đã sử dụng đất Thái Lan cho những mục đích quân sự tại khu vực Đô

Trang 1

đại học quốc gia hà nội Tr-ờng đại học khoa học xã hội và nhân văn

-

Nguyễn Quế Th-ơng

Quan hệ kinh tế thái lan – nhật bản từ sau

Khủng hoảng tài chính châu á 1997

Luận văn thạc sĩ Chuyên nghành quan hệ quốc tế

Mã số : 60.31.40

Ng-ời h-ớng dẫn khoa học : pgs Ts Hoàng Khắc Nam

Hà nội - 2010

Trang 2

MỞ ĐẦU

1 Mục đích, ý nghĩa của đề tài

Thái Lan nằm trong khu vực Đông Nam Á, luôn được coi là nước có nền kinh tế phát triển và có vai trò lớn trong hợp tác khu vực, cũng như những hợp tác của khu vực với bên ngoài Nhật Bản là một trong số những quốc gia công nghiệp hàng đầu thế giới và được suy tôn là “hiện tượng thần kỳ” của Châu Á Thành công của Nhật Bản được các nhà nghiên cứu đánh giá là một điển hình về sự kết hợp nhuần nhuyễn tinh hoa văn hoá phương Đông và khoa học công nghệ hiện đại phương Tây Đối với Việt Nam cả hai nước Thái Lan, Nhật Bản đều là hai nước láng giềng gần gũi Vì vậy, trước hết việc nghiên cứu dù ở bất kỳ lĩnh vực nào của Thái Lan, Nhật Bản đều hết sức cần thiết đối với Việt Nam Đó sẽ là cơ hội để chúng ta có thêm hiểu biết về hai nước láng giềng quan trọng này

Như chúng ta đã biết, Thái Lan từ xưa đến nay vẫn luôn được coi là quốc gia có đường lối đối ngoại mềm dẻo, linh hoạt và đặc biệt chú trọng phát triển ngoại giao với các nước lớn trong đó có Nhật Bản Trong thời gian gần đây, nhất là từ khi hình thành cộng đồng Đông Á, quan hệ của Thái Lan và Nhật Bản càng trở nên phát triển Liệu có phải chính nhờ đường lối đối ngoại đúng đắn, việc lựa chọn đối tác tin cậy, chính xác là một trong những nhân tố giúp Thái Lan có được sự phát triển kinh tế vượt trội hơn so với các nước trong khu vực hay không và ngay cả khi vấp phải cuộc khủng hoảng kinh tế thì Thái Lan cũng đã nhanh chóng vượt qua được? Nghiên cứu về quan hệ kinh tế Thái Lan - Nhật Bản chính là để góp phần cắt nghĩa hiện tượng này Ngoài ra, khi nghiên cứu quan hệ kinh tế Thái Lan - Nhật Bản chúng ta hiểu thêm về thực chất quan hệ đối ngoại của hai nước, từ đó có thể rút ra được những bài học kinh nghiệm cho bản thân Việt Nam trong việc hoạch định chính sách đối ngoại trong giai đoạn hiện nay

Bên cạnh đó, ở Việt Nam từ trước đến nay chưa có công trình nào nghiên cứu về vấn đề này Do tính cấp thiết của vấn đề cả về mặt khoa học,

lẫn thực tiễn nên tôi quyết định lựa chọn vấn đề Quan hệ kinh tế Thái Lan -

Trang 3

Nhật Bản từ sau khủng hoảng tài chính Châu Á 1997 làm đề tài luận văn của

Hiệp ước Hữu nghị Nhật Bản – Thái Lan thời kỳ chiến tranh của tác giả

người Nhật Yoshikawa Toshiharu Công trình đề cập đến một số Hiệp ước giữa Thái Lan và Nhật Bản trong thời kỳ chiến tranh thế giới lần thứ hai, Nhật Bản đã sử dụng đất Thái Lan cho những mục đích quân sự tại khu vực Đông Nam Á và thái độ ủng hộ, lo ngại cho chủ quyền quốc gia hay né tránh của

Thái Lan trong vấn đề này… Công trình Quan hệ Thái Lan - Nhật Bản, xem xét từ Hiệp định và những thoả thuận trong vòng 100 năm do tác giả người

Thái Lan Phắt cha ri Xỉ rô rốt chủ biên, đã đề cập một cách khá chi tiết về quan hệ Thái Lan – Nhật Bản từ năm 1877 đến năm 1977 thông qua các Hiệp định và thỏa thuận mà hai nước đã ký kết với nhau trong vòng 100 năm ở hầu hết các lĩnh vực như chính trị, kinh tế, tài chính, luật pháp, văn hóa, xã hội…Bên cạnh đó, một số nhà nghiên cứu của Việt Nam cũng đã cho công bố

những bài nghiên cứu về vấn đề này như bài viết Quan hệ của Nhật Bản với Vương quốc Xiêm (Thái Lan) thế kỷ XVI – XVII của tác giả Nguyễn Văn Kim đăng trên Tạp chí Nghiên cứu Nhật Bản và Đông Bắc Á, năm 2002, số 2 (38) hay bài viết của tác giả Nguyễn Văn Tận: Liên minh Thái – Nhật trong cuộc chiến thế giới thứ hai, những vấn đề lịch sử và luận giải đăng trong Tạp chí

Trang 4

cả những công trình này đã giúp chúng tôi rất nhiều trong việc có một cái nhìn tổng thể về quan hệ Thái Lan – Nhật Bản trong quá khứ để từ đó có thể hiểu và lý giải được những bước phát triển trong quan hệ Thái Lan – Nhật Bản ở những giai đoạn tiếp theo và hiện nay

Ngoài những công trình kể trên, chúng tôi còn được tiếp xúc với những công trình nghiên cứu mang tính tổng thể trong đó có một vài phần đề cập đến hoặc có liên quan đến quan hệ giữa Thái Lan và Nhật Bản như công trình

Nhật Bản với chính sách đối tác kinh tế Nhật Bản - ASEAN (CEP) của nhà

nghiên cứu Thái Lan Sịripon Vătchavănkhu Công trình đã đề cập khá chi tiết

về chính sách đối tác kinh tế Nhật Bản – ASEAN Đó là việc xây dựng một thị trường thương mại tự do giữa Nhật Bản và ASEAN, tạo điều kiện để Nhật đầu tư vào ASEAN và đây sẽ là mối quan hệ hợp tác hai bên cùng có lợi Để chính sách này trở thành hiện thực và có hiệu quả đối với các bên, trước mắt Nhật Bản sẽ ký Hiệp định song phương với từng nước trong ASEAN… Ngoài

ra, công trình Chính sách đối ngoại của Thái Lan từ thời kỳ khủng hoảng kinh

tế đến thế kỷ mới của tác giả Praphắt Thêpchatri cũng đã có một vài phần viết

về chính sách đối ngoại của Thái Lan đối với các nước lớn trong đó có Nhật Bản Khi Thái Lan vấp phải khủng hoảng kinh tế thì Nhật Bản là một trong những nước đã giúp đỡ Thái Lan nhiều nhất Vì vậy chính sách đối ngoại của Thái Lan từ sau khủng hoảng đến thế kỷ mới lại một lần nữa nhấn mạnh tới vai trò của các nước lớn trong đó có Nhật Bản Tiêu biểu nhất là công trình

Vai trò của Nhật Bản đối với Thái Lan sau khủng hoảng kinh tế của tập thể

tác giả Viện nghiên cứu Đông Á, trường Đại học Thăm ma xạt Công trình gồm 4 phần Phần đầu nói về những vấn đề kinh tế của Nhật Bản và bài học đối với Thái Lan Phần thứ hai nói về những cải cách chính trị của Nhật Bản

và bài học đối với Thái Lan Phần thứ ba nói về vai trò của Nhật Bản về mặt văn hóa xã hội đối với Thái Lan, trong đó có đề cập đến một số viện trợ và

Trang 5

một số khoản cho vay của Nhật Bản dành cho Thái Lan Phần cuối cùng là những định hướng trong quan hệ kinh tế giữa Thái Lan và Nhật Bản trong những năm đầu thế kỷ 21 Trước hết, các tác giả đã tổng kết lại quá trình quan

hệ giữa Thái Lan và Nhật Bản trong vài thập kỷ cuối của thế kỷ 20 trên các lĩnh vực thương mại, đầu tư và sau đó đề ra một số phương hướng trong quan

hệ hai nước ở thế kỷ 21 Đối với chúng tôi công trình này thực sự hữu ích vì

nó đã giúp chúng tôi có được cái nhìn tổng thể về vai trò và những ảnh hưởng của Nhật Bản đối với Thái Lan cũng như tái hiện phần nào mối quan hệ Thái Lan – Nhật Bản trên các mặt chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội giai đoạn cuối thế kỷ 20 và những mục tiêu trong thế kỷ 21

Ngoài những công trình kể trên, chúng tôi còn được tiếp cận với một số nguồn tư liệu khác trên các bản tin Kinh tế, tài liệu tham khảo đặc biệt của Thông tấn xã Việt Nam và một số nguồn tư liệu khai thác trên mạng Internet…

3 Phương pháp nghiên cứu

Phương pháp luận chủ yếu mà tôi sử dụng trong công trình này là nhận thức luận Mác xít, coi cơ sở kinh tế vật chất là yếu tố có vai trò quyết định căn bản đối với các hiện tượng chính trị, xã hội

Phương pháp biện chứng và lôgic cũng được sử dụng trong quá trình nghiên cứu, đi từ bối cảnh lịch sử chung, trình bày quá trình hình thành và phát triển của các vấn đề bằng các sự kiện điển hình, phân chia các giai đoạn phát triển bằng các mốc lịch sử theo thời gian, sau đó rút ra kết luận khái quát

và các phương pháp nghiên cứu quan hệ quốc tế

Ngoài ra, khi tiếp cận vấn đề này tôi còn cần sử dụng đến một số phương pháp liên ngành từ các bộ môn khác có liên quan như: thống kê, so sánh…

Trang 6

Để thực hiện đề tài luận văn này chúng tôi đã sử dụng nhiều nguồn tư liệu như một số Hiệp định, Hiệp ước đã được ký kết giữa hai nước và một số tài liệu thứ cấp khác như các công trình khoa học đã được công bố trên sách, báo, tạp chí nghiên cứu về quan hệ Thái Lan - Nhật Bản của các tác giả Việt Nam, Thái Lan và Nhật Bản, (phần lớn là bằng tiếng Thái Lan), quan hệ Việt Nam - Thái Lan , quan hệ Việt Nam - Nhật Bản… phần lớn của các tác giả Việt Nam Ngoài ra một số thông tin được khai thác trên các báo, tạp chí và mạng Internet…

5 Đóng góp của luận văn

Do đây là đề tài khá mới mẻ ở Việt Nam, chưa có công trình nào nghiên cứu về vấn đề này nên luận văn sẽ cung cấp cho bạn đọc một số thông tin trên các lĩnh vực như: tiến trình phát triển quan hệ Thái Lan và Nhật Bản, những bước thăng trầm trong quan hệ giữa hai nước, quan hệ kinh tế giữa Thái Lan và Nhật Bản cuối thế kỷ XX đầu thế kỷ XXI…

Ngoài ra, luận văn cũng đã hệ thống hoá được một khối lượng khá phong phú và tương đối cập nhật các tư liệu liên quan tới vấn đề quan hệ Thái Lan - Nhật bản Những tư liệu này được thu thập từ rất nhiều nguồn, nhiều nơi khác nhau, cả tiếng Việt, tiếng Anh và tiếng Thái

Hy vọng rằng bản luận văn có thể được dùng làm tài liệu tham khảo trong học tập, giảng dạy và nghiên cứu cho những người có quan tâm tới vấn

đề này

6 Bố cục luận văn

Luận văn được chia thành ba chương

Chương 1: Những nhân tố ảnh hưởng tới quan hệ Thái Lan – Nhật Bản từ sau khủng hoảng tài chính Châu Á đến nay

Trong chương này chúng tôi đề cập tới các vấn đề như bối cảnh quốc

tế, bối cảnh khu vực, chiến lược phát triển của mỗi nước trong thế kỷ 21 và tiến trình phát triển quan hệ Thái Lan – Nhật Bản, trong đó nhấn mạnh đến

Trang 7

quan hệ Thái Lan – Nhật Bản trong và sau thời kỳ chiến tranh lạnh cũng như vai trò của Nhật Bản đối với Thái Lan trong khủng hoảng tài chính Châu Á Đây là những nhân tố khách quan và chủ quan đã ảnh hưởng và làm tiền đề cho xu hướng phát triển mối quan hệ giữa hai nước từ sau khủng hoảng tài chính Châu Á đến nay

Chương 2: Tình hình quan hệ kinh tế Thái Lan – Nhật Bản sau khủng hoảng tài chính Châu Á đến nay

Đây là chương chính của luận văn Trong chương này chúng tôi đề cập đến quá trình ký kết Hiệp định hợp tác kinh tế giữa Thái Lan và Nhật Bản Đây là Hiệp định hợp tác kinh tế lớn nhất giữa hai nước kể từ trước đến nay Bên cạnh đó chương 2 còn đề cập đến một số chương trình hợp tác kinh tế quan trọng giữa Thái Lan và Nhật Bản từ sau khủng hoảng tài chính Châu Á đến nay trên các lĩnh vực như thương mại, đầu tư, tiền tệ, dịch vụ… Tất cả các chương trình hợp tác này đã tác động không nhỏ tới số lượng xuất nhập khẩu, số lượng các dự án đầu tư và số vốn đầu tư… giữa hai nước Vì thế, phần cuối của chương 2, chúng tôi đã đề cập tới các kết quả hợp tác kinh tế giữa Thái Lan và Nhật Bản trên các mặt: thương mại, đầu tư, quan hệ ODA

Chương 3: Triển vọng quan hệ kinh tế Thái Lan - Nhật Bản

Trong chương 3 chúng tôi đề cập đến một số thuận lợi và khó khăn trong quan hệ kinh tế Thái Lan - Nhật bản, qua đó để thấy được triển vọng quan hệ giữa hai nước trong tương lai và từ đó rút ra một số bài học và kinh nghiệm đối với Việt Nam trong quan hệ quốc tế và hoạch định chính sách

Trong quá trình nghiên cứu đề tài này, do nhiều điều kiện còn hạn chế như năng lực nghiên cứu khoa học, sự khan hiếm nguồn tài liệu, khó khăn trong công tác điền dã, điều tra… nên luận văn sẽ không tránh khỏi những thiếu sót, khiếm khuyết Vậy chúng tôi mong muốn nhận được sự đóng góp ý kiến của các thầy cô giáo và các bạn

Trang 8

Chương 1: Những nhân tố ảnh hưởng tới quan hệ Thái Lan - Nhật Bản sau khủng hoảng kinh tế Châu Á đến nay

1.1 Bối cảnh quốc tế và khu vực

1.1.1 Bối cảnh quốc tế

Có thể nói rằng quan hệ quốc tế cuối thế kỷ 20 đầu thế kỷ 21 có rất nhiều thay đổi, thời điểm này được coi là thời điểm cải cách của toàn bộ hệ thống quốc tế

Một số thay đổi trong hệ thống quốc tế đã hình thành sau thời kỳ chiến tranh lạnh, khi mà Liên bang Xô Viết vốn là một siêu cường sau thế chiến II

đã tan rã vào năm 1991, kéo theo đó là sự sụp đổ của hệ thống xã hội chủ nghĩa, là những khủng hoảng cả về chính trị, kinh tế, xã hội và sắc tộc Cùng với nó, là sự tan rã của những nước xã hội chủ nghĩa Đông Âu Như vậy, trên thế giới chỉ còn lại một cực là Mỹ Mỹ trở thành siêu cường duy nhất cho tới ngày 11/9/2001, khi xuất hiện sự kiện khủng bố kinh hoàng và bất ngờ Sự kiện này đã làm thay đổi quan niệm về một nước Mỹ bất khả xâm phạm và tạo nên những hoài nghi về vấn đề an ninh và quyền lực của nước Mỹ

Trang 9

Có thể nhận định về quan hệ quốc tế cuối thế kỷ 20 đầu thế kỷ 21 mang một số đặc điểm cơ bản sau:

 Vai trò của đường biên giới giảm sút

Hệ thống kinh tế, thương mại và tài chính giữa các nước giảm rào cản Quá trình này được hình thành ngay từ thập kỷ 80 xuất phát từ ảnh hưởng của cuộc cách mạng tin học và khoa học công nghệ, khi mà người ta có thể liên lạc cũng như nhận tin tức giữa các nước, các khu vực trên thế giới một cách nhanh chóng, tức thời Ngay cả những vấn đề như sự biến động của ngoại tệ hay đầu tư với số lượng lớn cũng có thể được thông tin ra khắp thế giới qua

hệ thống vi tính, đồng thời sản xuất và thương mại của các nước cũng đi theo hướng của một nền kinh tế tự do và dần dần đã được phổ biến trên khắp thế giới Vì vậy, cùng với sự hình thành của một nền kinh tế tự do và sự phát triển của tin học, kinh tế thương mại và tài chính giữa các nước dần giảm đi rào cản Với đặc điểm này, chính phủ các nước chắc chắn sẽ dần giảm đi khả năng quản lý nền kinh tế, tài chính và thông tin trong phạm vi quốc gia của mình như trước đây Thay vào đó, toàn cầu hóa sẽ là thách thức đối với quyền lực nhà nước, điều chưa từng xảy ra trong lịch sử Và điều đó sẽ làm cho các nhà nước cần phải có sự thay đổi để bảo vệ quyền lực và sự tồn tại của mình

 Mỹ trở thành siêu cường quân sự duy nhất thế giới

Mỹ được đánh giá là siêu cường quân sự duy nhất trên thế giới và là nước duy nhất tự cho mình quyền được đưa lực lượng quân đội đến những điểm nóng ở bất cứ nơi nào trên thế giới Tuy nhiên trong những năm đầu thế

kỷ 21, nội bộ nước Mỹ cũng gặp phải không ít những vấn đề về mặt kinh tế

và xã hội Những năm đầu thế kỷ 21, một loạt các công ty xuyên quốc gia của

Mỹ bị phá sản như công ty Enron, World com, Tyco, Imclone, Global

Trang 10

công ty kể trên mà cho cả xã hội Đó là nạn thất nghiệp, các công ty không còn khả năng để trả tiền đền bù, lương hưu và trợ cấp thất nghiệp cho nhân viên Tuy nhiên một vấn đề gây nhiều tổn thất và đau đầu nhất cho Mỹ đó là vấn đề khủng bố quốc tế mà chủ yếu nhằm vào Mỹ và người dân Mỹ kể cả người dân trong nước và cả những người Mỹ hoạt động kinh doanh, đầu tư hoặc đi du lịch… ở nước ngoài Vụ khủng bố ngày 11/9/2001 đã làm chết và mất tích tới 6 nghìn người, lớn nhất trong các vụ khủng bố kể từ sau chiến tranh thế giới thứ hai Nước Mỹ sau vụ khủng bố ngày 11/9 đã tuyên bố: Vụ khủng bố 11/9 vừa qua chính là hành động gây chiến nhằm vào nước Mỹ và nước Mỹ sẽ đáp trả vụ khủng bố này cho dù phải tốn bao nhiêu thời gian đi chăng nữa Tiếp theo đó, ngày 7/10/2001 Mỹ đã cùng với Anh đưa máy bay tới thủ đô Kabul và nhiều địa điểm khác của Apganixtan với danh nghĩa là để bảo vệ đất nước tránh nguy cơ khủng bố

Hiện tại, rất nhiều quốc gia đã không còn tin tưởng vào hành động của

Mỹ và những công ty xuyên quốc gia của Mỹ, kể cả ở châu Mỹ la tinh, Trung

Á và Đông Nam Á, do đó Mỹ không thể tự cho rằng Mỹ là quốc gia lãnh đạo duy nhất trên thế giới mà các nước khác buộc phải nghe theo.1

 Sự phân chia thành các khu vực thương mại

Chủ nghĩa khu vực trong hoạt động thương mại ngày càng trở nên rõ nét nhất là khi xuất hiện các khu vực thương mại tự do giữa các nước và các khu vực thương mại tự do này cũng ngày càng cạnh tranh nhau quyết liệt hơn

Có thể nhận thấy điều đó qua việc phát triển của Châu Âu từ một Hiệp hội trở thành Liên Hiệp châu Âu, việc thành lập các khối NAFTA, AFTA, APEC… Mặc dù những khối kinh tế nói trên đều khẳng định rằng họ là những khối

1

[15, tr.12]

[16, tr 10]

Trang 11

kinh tế tự do nhưng nhiều nguyên tắc trong các khối kinh tế này lại thể hiện ra rằng đó là những khối kinh tế có nhiều ràng buộc, hạn chế, mang tính chất

“thương mại khối” Tình trạng này thực chất đã làm cho sự cạnh tranh giữa các nước trở nên quyết liệt hơn mà theo nhận định của nhiều chuyên gia thì đây giống như một cuộc chiến kinh tế Mặc dù vậy, sự xuất hiện của những trung tâm thương mại mang tính khu vực này cũng mang lại những lợi ích trực tiếp cho các khu vực đó là khả năng nâng cao vị thế trong đàm phán Ngoài ra còn một lợi ích nữa đó là giúp cho các sản phẩm khi sản xuất ra có

cơ hội mở rộng thị trường sang nhiều khu vực với một giá thành công bằng, hợp lý hơn

 Nâng cao vị thế của các chủ thể quan hệ quốc tế không phải là

nhà nước Mặc dù nhà nước vẫn là một chủ thể quan trọng nhất nhưng hiện nay trong quan hệ quốc tế còn có những chủ thể khác có vị thế quan trọng không kém đó là các tổ chức quốc tế, các cơ quan quốc tế kể cả ở cấp khu vực và thế giới, các công ty xuyên quốc gia hiện có vị trí ngày càng quan trọng hơn trong các giao dịch quốc tế thậm chí nhiều nhà phân tích và nghiên cứu còn cho rằng các công ty xuyên quốc gia hiện đang là những chủ thể cạnh tranh quyền lực với chính phủ nhiều nhất Mặc dù vậy cũng không thể phủ nhận những lợi ích mà các công ty xuyên quốc gia mang đến cho đất nước như tạo nên sự phát triển của nền công nghiệp và công nghệ hiện đại đã giúp cải thiện công

ăn việc làm cho người lao động, cải thiện chất lượng cuộc sống cho người dân

kể cả là trong giao thông, liên lạc hay trong rất nhiều lĩnh vực khác nữa Nhưng các công ty xuyên quốc gia này có số vốn khổng lồ với các chi nhánh,

bộ phận ở khắp các khu vực trên thế giới Việc điều hành, quản lý chính thuộc

về công ty mẹ trong đó có các bộ phận quản lý nhỏ được điều xuống các chi

Trang 12

công ty này Các công ty xuyên quốc gia do có chi nhánh ở khắp nơi trên thế giới nên việc lưu chuyển dòng vốn, chuyển đổi công nghệ hay quá trình sản xuất khá thuận tiện, dễ dàng Trong trường hợp nếu ở khu vực nào gặp phải khủng hoảng kinh tế thì công ty xuyên quốc gia cũng vẫn có khả năng chuyển đổi từ nơi có khủng hoảng sang nơi không bị ảnh hưởng của khủng hoảng Như vậy, cho dù có xảy ra khủng hoảng kinh tế cấp khu vực thì những công

ty xuyên quốc gia vẫn có khả năng tồn tại vững vàng Ngoài ra, công ty xuyên quốc gia khi đột ngột rút một nguồn vốn lớn tại một quốc gia nào đó thì có khả năng sẽ làm rối loạn thị trường chứng khoán của nước đó do lượng vốn

mà họ có trong tay là khổng lồ Có thể thấy được điều này trong cuộc khủng hoảng tài chính năm 1997 tại một số nước châu Á, đặc biệt là ở Thái Lan, khủng hoảng tài chính trở nên nặng nề hơn cũng có một lý do là do các công

ty xuyên quốc gia đã nhanh chóng rút vốn làm cho thị trường tài chính ở nước này càng thêm rối loạn

 Sự mở rộng vấn đề an ninh quốc tế

An ninh quốc tế hiện tại (tính từ khoảng giữa thập kỷ 80 đến nay) không phải chỉ trong vấn đề quân sự hay các hành động quân sự như trong hơn 50 năm qua Việc nghiên cứu các chiến lược trong thời điểm hiện nay được hiểu một cách sâu rộng hơn trước, không chỉ là những vấn đề về sức mạnh quân sự Vấn đề an ninh ở mỗi quốc gia cũng không chỉ có nghĩa là việc chạy đua vũ trang hay việc chống lại sự xâm lược của các thế lực bên ngoài Sự mâu thuẫn không chỉ có nghĩa là mâu thuẫn về mặt quân sự, Nhà nước cũng không hẳn là nơi có quyền lực duy nhất trong việc giải quyết các vấn đề trên Hiện nay, nguy cơ đối với an ninh của đất nước không phải chỉ là

sự can thiệp của các thế lực quân sự bên ngoài mà những nguy cơ đối với nền

an ninh của quốc gia xuất phát từ rất nhiều vấn đề như vấn đề kinh tế, sự xuống cấp của môi trường, buôn lậu, mua bán trái phép chất gây nghiện, vận

Trang 13

chuyển tiền trái phép, nhập cư, di cư trái phép, bệnh truyền nhiễm, khủng bố, biểu tình chính trị và tham ô, tham nhũng… Tất cả những vấn đề trên đều có những ảnh hưởng nhất định tới an ninh quốc gia

 Vấn đề đói nghèo ở các nước đang phát triển

Các nước đang phát triển trong giai đoạn hiện nay phần lớn gặp phải tình trạng thiếu thốn do xuất phát từ những nguyên nhân sau:

- Nguyên nhân từ lịch sử: phần lớn các nước đang phát triển hiện nay đều xuất phát từ những nước trước đây là thuộc địa của đế quốc trong một thời gian dài Điều này đã làm cho những nước là thuộc địa bị cạn kiệt về tài nguyên thiên nhiên do bị các nước đế quốc khai thác nguồn tài nguyên với số lượng lớn Người dân phần lớn không được học hành và nghèo khó

- Nguyên nhân từ chính trị: Người dân ở những nước này phần lớn thiếu kiến thức về chính trị và quản lý

- Nguyên nhân từ nền kinh tế trong nước: sự chênh lệch giàu nghèo trong những quốc gia này là khá lớn Vì thế, người giàu đã sử dụng quyền lực kinh

tế của mình để thống trị số đông người nghèo Cũng vì lẽ đó mà người giàu luôn lo lắng khi kinh tế của họ giảm đi thì quyền lực cũng giảm theo Do vậy,

họ luôn tìm cách vơ vét lợi ích nhiều nhất cho bản thân mà không đếm xỉa đến lợi ích của xã hội, của số đông người dân khác sẽ như thế nào Những nhà nước kiểu này sẽ phát sinh nạn tham nhũng trong giới chính trị gia hết thời kỳ này nối tiếp sang thời kỳ khác Chính trị gia sẽ hợp tác rộng rãi với các thương gia, thương nhân gây ra những tiêu cực, bất bình đẳng trong hoạt động kinh doanh Tình hình kinh tế trong nước và kinh tế đối ngoại của những nước đang phát triển càng bị thua thiệt so với những nước công nghiệp phát triển

Trang 14

Trong bối cảnh toàn cầu hóa hiện nay, khi các vấn đề như kinh tế, thương mại, chính trị, quân sự và nhiều vấn đề khác đều có sự giao thoa lẫn nhau và có nhiều biến đổi nhanh chóng thì các nước đang phát triển càng cần thiết phải nghiêm túc cải cách đất nước nhằm theo kịp với những biến đổi của thế giới Trong quá trình cải cách đất nước cũng cần hết sức chú trọng đến lợi ích quốc gia

 Các nước lớn vẫn nắm giữ vai trò trong việc quy định các

nguyên tắc của thế giới mới Các nước lớn là nhóm các nước công nghiệp phát triển, có sức mạnh trong rất nhiều lĩnh vực kể cả trong kinh tế, công nghiệp, kỹ thuật công nghệ

và cả trong lĩnh vực quân sự Vì thế những nước này cũng có quyền lực trong việc định ra các nguyên tắc cho một thế giới mới, từ những nguyên tắc trong kinh tế, thương mại, tiền tệ, môi trường, chống khủng bố, chống ma túy, chuyển giao công nghệ cho tới cả những vấn đề như an ninh thế giới và vũ khí hủy diệt hàng loạt… Hiện nay, các nước lớn vẫn có những ảnh hưởng nhất định tới những quyết định của nhiều tổ chức quân sự, kinh tế, thương mại, tài chính quốc tế, kể cả tầm thế giới lẫn tầm khu vực và các nước lớn cũng có những ảnh hưởng ít nhiều tới quyết định của nhiều quốc gia trên thế giới bởi

lẽ hiện tại, những bước chuyển đổi của nhóm nước này đều có những tác động nhất định và nhanh chóng tới hầu khắp các nước trên thế giới

1.1.2 Bối cảnh khu vực

Giai đoạn cuối thế kỷ 20 đầu thế kỷ 21 khu vực châu Á cũng có những thay đổi đáng kể, tác động không nhỏ tới chính sách đối ngoại của các nước trong khu vực Giữa năm 1997, cuộc khủng hoảng tài chính xảy ra, bắt đầu từ Thái Lan và sau đó lan nhanh sang các nước khác ở Châu Á Mười năm sau cuộc khủng hoảng tài chính, các thị trường tài chính châu Á lại bùng nổ trở lại

Trang 15

và một lần nữa khu vực này lại trở thành nơi mà thế giới quan tâm Một châu

Á đang nổi lên đã đạt mức tăng trưởng trung bình hàng năm 8% trong những năm 2005, 2006, 2007, nhanh như trước cuộc khủng hoảng tài chính Do đó châu Á có vẻ đã phục hồi sau cuộc khủng hoảng Một số nhà bình luận kinh tế cho rằng nhờ cải cách cơ cấu, những nước từng rơi vào khủng hoảng hiện trở nên động và kiên cường hơn Điều này được thể hiện rõ hơn vào những năm

2008 – 2009, thời điểm diễn ra khủng hoảng tài chính toàn cầu, các nước châu

Á nhìn chung đã vững vàng hơn Tuy nhiên, cũng trong thời điểm này Nhật Bản có tốc độ tăng trưởng còn thấp, dưới 1%, thậm chí có nhiều năm tốc độ tăng trưởng âm2 Thái Lan cũng là nước chịu ảnh hưởng nặng nề nhất từ cuộc khủng hoảng tài chính, tốc độ tăng trưởng chậm trong nhiều năm, thậm chí năm 2001, tốc độ tăng trưởng chỉ khoảng 1,8%.3

Đông Á cuối thế kỷ 20 đầu thế kỷ 21 vẫn được coi là nơi diễn ra những chính sách sôi động về kinh tế thị trường Những sự phát triển ngoạn mục của các nước NIEs, sự chuyển nhanh sang kinh tế thị trường của Trung Quốc, Việt Nam… đang có hiệu ứng tích cực đến quá trình cải cách và phát triển nền kinh tế Nhật Bản, Thái Lan Vai trò nổi bật của khu vực này thể hiện ở chỗ: nếu năm 1980 kinh tế Đông Á chỉ chiếm 20,6% giá trị thương mại thế giới, nhưng năm 1990 đã tăng lên 31,4% và đến năm 2000 đạt khoảng 46% 4khiến cho nó trở thành một đối tác quan trọng trong hợp tác kinh tế quốc tế, nhất là hợp tác từ Mỹ và EU Hợp tác Đông Á được đẩy mạnh hơn bao giờ hết và nếu không có những điều chỉnh chính sách kịp thời, Nhật Bản có thể sẽ mất đi ưu thế của nền kinh tế hàng đầu trong khu vực và Thái Lan có thể mất

hi vọng về vai trò đầu tầu trong ASEAN

2

[12, tr.3]

3

Trang 16

Với việc Trung Quốc trở thành thành viên chính thức của WTO và thỏa thuận thành lập khu vực mậu dịch tự do ASEAN – Trung Quốc (ACFTA) đã được ký kết vào tháng 11/2002, nền kinh tế ASEAN – Trung Quốc trở thành đối tác tích cực đối với hội nhập khu vực và toàn cầu Là địa bàn hấp dẫn đầu

tư, thương mại của tất cả các nước, Trung Quốc không chỉ là đối tác kinh tế lớn mà còn là đối thủ đáng gờm của Nhật Bản Trung Quốc sẽ có vai trò đáng

kể hơn với ASEAN trong vòng 10 năm tới Hiệp định ACFTA được hoàn tất

và theo cùng với WTO, các quan hệ hợp tác của các đối tác bên ngoài khu vực sẽ đặt trọng tâm vào Trung Quốc bởi từ đây, họ có thể có vai trò ảnh hưởng trên toàn khu vực, trước hết là ở Đông và Đông Nam Á Đây có thể coi

là sức mạnh và thách thức trực tiếp đối với quan hệ hợp tác kinh tế của Nhật với châu Á trong những năm đầu của thế kỷ 21 Nói cách khác, Trung Quốc với khả năng trở thành một trung tâm kinh tế thế giới mới đang tỏ rõ khả năng

và sức cạnh tranh mạnh với các trung tâm kinh tế thế giới truyền thống

Với ASEAN và Ấn Độ, hai thực thể kinh tế đang ngày càng có vai trò đáng kể trong châu Á, Nhật Bản dành những ưu tiên đáng kể để củng cố phạm

vi ảnh hưởng vốn có và để sử dụng các nước này như là điều kiện thực hiện của chiến lược điều chỉnh cơ cấu và nâng cao vị thế cạnh tranh của nền kinh

tế Nhật Bản Đặc biệt, thành công khiêm tốn của liên kết kinh tế ASEAN được xem như là hình mẫu của tổ chức liên kết kinh tế trong các nước đang phát triển và với vị thế mới của ASEAN trong quan hệ quốc tế, các nước lớn, trong đó có Nhật Bản, đều phải xem nó như là một đối tác kinh tế quan trọng trong điều chỉnh chính sách kinh tế của họ

Hợp tác trong khuôn khổ APEC với mục tiêu tạo thuận lợi và tự do hóa trong hoạt động kinh tế của các nước thành viên, trong đó có Nhật Bản và Thái Lan, đang đặt ra yêu cầu cho Nhật Bản và Thái Lan cũng như các nước thành viên khác là đẩy mạnh các quan hệ hợp tác kinh tế song phương và tích

Trang 17

cực tham gia, dẫn dắt các quan hệ hợp tác đa phương trong khu vực Trong khuôn khổ APEC, Mỹ và Nhật Bản tiếp tục tỏ rõ vai trò quan trọng trong sự điều chỉnh hợp tác khu vực châu Á – Thái Bình Dương trong điều kiện mới

1.1.3 Chiến lược phát triển của Nhật Bản và Thái Lan trong thế kỷ 21

Bước vào thế kỷ 21, trước những thay đổi của bối cảnh quốc tế và khu

vực, Nhật Bản đã đưa ra một chiến lược phát triển với tên gọi: Chiến lược

phát triển mới trong thế kỷ 21 (The New Development Strategy) Trong quan

hệ giữa các nước đang phát triển thì mục đích phát triển con người là trọng tâm trong chiến lược, chú trọng tới việc nâng cao chất lượng cuộc sống của con người Đề cao việc các nước tự dựa vào sức mình, tự chịu trách nhiệm và tìm kiếm đối tác hợp tác vì sự phát triển của cả hai bên, đặc biệt là các nước ASEAN

Chiến lược của Nhật Bản là tập trung phát triển các lĩnh vực như: sức khỏe cộng đồng, y tế, giáo dục, phát triển bền vững và bảo vệ môi trường Ngoài ra, Nhật Bản cũng có chiến lược giúp đỡ các nước đang phát triển để các nước này có thể vững vàng và tự lập hơn nữa trước những thay đổi của thế giới và khu vực Do vậy, Nhật Bản đã thay đổi một số chính sách như

chính sách xin – cho được thay thế bằng chính sách cộng tác với những nước

đang phát triển, có xem xét đến khả năng tự lực của nước đó.5

Trong chuyến thăm các nước ASEAN đầu năm 2002, Thủ tướng Nhật

Bản Koizumi đã tuyên bố chính sách Đối tác kinh tế toàn diện Nhật Bản – ASEAN, nhấn mạnh đến mối quan hệ giữa Nhật Bản với ASEAN đó là mối

quan hệ bạn bè thật sự cho dù tình hình thế giới có thay đổi thế nào chăng nữa thì Nhật Bản cũng vẫn gìn giữ mối quan hệ tốt đẹp với ASEAN Trong thế kỷ

21 này, mối quan hệ Nhật Bản và ASEAN được mở rộng và hợp tác chặt chẽ

Trang 18

hơn nữa với chính sách hỗ trợ của Nhật Bản đối với những cải cách của từng nước trong ASEAN nhằm mục đích hợp tác cùng phát triển cho một cộng đồng bền vững Sự hợp tác trong thế kỷ 21 bao gồm:

- Thiết lập một mạng lưới kinh tế giữa Nhật Bản và ASEAN

- Thúc đẩy hơn nữa hợp tác giữa Nhật Bản và ASEAN trong lĩnh vực

an ninh

- Hợp tác trong giáo dục và phát triển nguồn nhân lực

- Thúc đẩy hợp tác và năm 2003 là năm trọng tâm trong việc trao đổi văn hóa giữa Nhật Bản và ASEAN

- Thúc đẩy hợp tác Đông Á 6

Bên cạnh đó, trong bối cảnh quốc tế và khu vực hiện nay, Thái Lan cũng có một số thay đổi trong chính sách đối ngoại Nếu như thời kỳ trước khủng hoảng tài chính, Thái Lan là một nước có nền kinh tế phát triển mạnh trong khu vực với tốc độ tăng trưởng cao nhất khu vực và ổn định trong nhiều năm, Thái Lan có hi vọng sẽ trở thành quốc gia đầu tầu trong ASEAN, sẽ là cầu nối giữa các nước lớn như Mỹ, Nhật Bản, Trung Quốc và Liên minh Châu

Âu với ASEAN Vì thế, trong thời gian này chính sách đối ngoại của Thái Lan là tập trung số một cho mối quan hệ với các nước láng giềng và với Hiệp hội ASEAN, nhằm mở rộng thị trường thương mại, thị trường đầu tư…

Tuy nhiên, kể từ sau khủng hoảng tài chính, Thái Lan nhận thấy rằng các nước trong ASEAN không thể có khả năng giúp Thái Lan vượt qua khủng hoảng mà chỉ có những nước lớn, những nước kinh tế phát triển như Mỹ, Nhật Bản, Trung Quốc và Liên minh Châu Âu, mới có thể giúp được Thái Lan Vì thế, thời gian này Thái Lan đã phải điều chỉnh chính sách đối ngoại

6

Theo báo: Nhà quản lý ra ngày 12, 13/1/2001, tr 1 - 2

Trang 19

cho phù hợp với tình hình thực tế và tương lai lâu dài Chính sách đối ngoại của Thái Lan đầu thế kỷ 21 là ưu tiên thiết lập mối quan hệ khăng khít trở lại với các nước lớn Mỹ, Nhật Bản và Liên minh Châu Âu, mà đã bị Thái Lan quên lãng khoảng hơn 10 năm cuối thế kỷ 20 Trong mối quan hệ này Thái Lan đặc biệt quan tâm tới việc kêu gọi sự giúp đỡ và viện trợ từ các nước lớn trong việc giúp Thái Lan phục hồi nền kinh tế Ngoài ra, Thái Lan cũng chú trọng tới việc hợp tác thương mại với các nước này Thái Lan luôn tìm cách

để xuất khẩu được ngày càng nhiều hàng hóa ra nước ngoài Nếu trước khủng hoảng tài chính Châu Á, Thái Lan đặt hi vọng vào thị trường ASEAN, thì kể

từ sau khủng hoảng tài chính Châu Á, Thái Lan đã nhận thấy rằng không nên quá hi vọng vào thị trường ASEAN mà nên củng cố lại và mở rộng thị trường

ở Mỹ, Nhật Bản và khu vực Châu Âu Thực tế lâu nay thị trường Mỹ vốn vẫn

là thị trường quan trọng và lớn số một của Thái Lan, còn thị trường Châu Âu

và Nhật Bản vẫn luôn là những thị trường lớn thứ hai

Bên cạnh đó, chính sách khuyến khích đầu tư cũng được nhà nước Thái quan tâm Chính sách của Thái Lan là luôn tìm cách để không cho vốn đầu chảy ra ngoài mà phải thu hút được vốn đầu tư vào trong nước Thái Lan không ngừng tạo dựng một môi trường đầu tư thông thoáng, khuyến khích đầu tư, tạo dựng niềm tin đối với các nhà đầu tư đặc biệt là thu hút các nhà đầu tư lớn như Mỹ và Nhật Bản.7

Như vậy, với bối cảnh quốc tế, khu vực cũng như điều kiện của từng nước Nhật Bản và Thái Lan, có thể thấy rằng việc tăng cường hợp tác kinh tế giữa hai nước này là hoàn toàn tất yếu Nó xuất phát từ những ảnh hưởng của

xu thế quốc tế và khu vực cũng như nhu cầu thực tế của mỗi quốc gia

1.2 Tiến trình phát triển quan hệ kinh tế Thái Lan – Nhật Bản

Trang 20

1.2.1 Quan hệ Thái Lan - Nhật Bản giai đoạn trước khủng hoảng tài chính Châu Á

Quan hệ Thái Lan – Nhật Bản được hình thành và phát triển từ lâu Ngay từ thời kỳ chiến tranh thế giới thứ nhất, Nhật Bản đã đưa các sản phẩm công nghiệp đến bán tại Thái Lan và khi đó các sản phẩm này của Nhật Bản

đã cạnh tranh được với các hàng hóa của Anh tại đây Nhật Bản đã gặt hái được nhiều thành công và thu được nhiều lợi ích trong việc kinh doanh tại Thái Lan thời kỳ này Tiếp sau đó, trong chiến tranh thế giới thứ hai, mối quan hệ giữa Thái Lan và Nhật Bản ngày càng trở nên gắn bó hơn, nhất là trong mối quan hệ đồng minh chiến tranh Thái Lan trở thành nơi cung cấp nguyên liệu, tài nguyên cho Nhật Bản, thậm chí còn cho phép Nhật Bản sử dụng lãnh thổ của mình cho những mục đích quân sự Nhưng cuối cùng, tất cả những mối quan hệ giữa Thái Lan và Nhật Bản được gây dựng qua hai cuộc chiến tranh đều không mang lại kết quả gì tốt đẹp cho xã hội Thái Lan, người dân Thái Lan vẫn luôn phải đối mặt với lạm phát và sự thiếu thốn các nhu yếu phẩm

Tiếp theo đó, trong giai đoạn chiến tranh lạnh, quan hệ chính trị, quân

sự giữa hai nước giảm xuống đáng kể nhưng quan hệ kinh tế vẫn được duy trì

và củng cố Cuối thời kỳ chiến tranh lạnh, nhất là những năm 80, hàng hóa từ Nhật Bản nhập khẩu vào Thái Lan với số lượng lớn, đặc biệt là hàng tiêu dùng Đầu năm 1980, hàng hoá nhập khẩu vào Thái Lan tăng so với những năm 70 là 33,7% trong đó hàng tiêu dùng nhập khẩu tăng tới 41,3% Tuy nhiên từ khoảng những năm 1983 đến 1986, hàng hoá nhập khẩu từ Nhật Bản vào Thái Lan đã có chiều hướng dịch chuyển, số lượng hàng tiêu dùng giảm xuống chút ít và thay vào đó là số lượng hàng công nghiệp Đến năm 1986, nhập khẩu từ Nhật Bản vào Thái Lan giảm đi 5%, do số lượng các công ty Nhật Bản đầu tư vào Thái Lan đã tăng lên đáng kể Tuy nhiên tới năm 1987

Trang 21

và 1988 số lượng nhập khẩu từ Nhật Bản vào Thái Lan lại tăng lên đáng kể 36% vào năm 1987 và 72% vào năm 1988 Do thời gian này Thái Lan đặc biệt đẩy mạnh phát triển nền công nghiệp nên đã nhập từ Nhật Bản một khối lượng máy móc lớn

Cũng trong thời gian này, hàng hoá từ Thái Lan xuất khẩu sang Nhật Bản chủ yếu là các mặt hàng lương thực thực phẩm và nhiên liệu, do Nhật Bản là một nước có nền công nghiệp rất phát triển nhưng lại thiếu trầm trọng

về thực phẩm và nhiên liệu Vì vậy, hàng năm Thái Lan xuất khẩu sang Nhật Bản một số lượng lớn lương thực thực phẩm, chiếm tới 60% tổng giá trị xuất khẩu sang Nhật Bản, khoảng hơn 7 tỷ Baht Nhiên liệu xuất sang Nhật Bản chiếm khoảng 15% tổng giá trị xuất khẩu Ngoài ra các mặt hàng thủ công của Thái Lan được xuất sang Nhật Bản đã tăng dần vào những năm 80 Giá trị xuất khẩu mặt hàng này cuối những năm 70 là khoảng 50 triệu baht, đến những năm 80 trung bình khoảng 280 triệu baht/ năm.8

Sau chiến tranh lạnh, Thái Lan đã từ một nước nông nghiệp, với các sản phẩm xuất khẩu chủ yếu là sản phẩm nông nghiệp đã trở thành một nước sản xuất và xuất khẩu được khá nhiều sản phẩm công nghiệp Trong những năm 1988 – 1990 mức tăng trưởng hàng năm của Thái Lan luôn ở mức 2 con

số còn thu nhập bình quân đầu người từ 1.525 USD năm 1990 được tăng lên 2.065 USD vào năm 1995 9 Giai đoạn này Thái Lan trở thành nước công nghiệp mới Ngoài ra, Thái Lan còn trở thành nước giúp đỡ, hỗ trợ cho các nước láng giềng trong khu vực Đông Nam Á

Trong quan hệ thương mại, Nhật Bản ngày càng khẳng định vai trò của bạn hàng quan trọng của Thái Lan Đối với Thái Lan, Nhật Bản là thị trường

8

Trang 22

nhập khẩu số một và là thị trường xuất khẩu thứ hai (sau Mĩ) Bên cạnh đó, hàng năm Nhật Bản cũng xuất khẩu sang Thái Lan khoảng 3,6% tổng giá trị xuất khẩu ra nước ngoài và nhập khẩu 2,9% tổng giá trị nhập khẩu từ các nước Như vậy, Thái Lan là thị trường xuất khẩu đứng hàng thứ 6 của Nhật Bản và là thị trường nhập khẩu đứng hàng thứ 10

Những mặt hàng chủ yếu mà Nhật Bản xuất khẩu sang Thái Lan là phụ tùng xe gắn máy, máy móc cơ khí và các sản phẩm cơ khí, hóa chất… Ba mặt hàng này được xuất khẩu nhiều nhất chiếm tới 90% tổng số mặt hàng xuất khẩu sang Thái Lan Ngoài ra, các mặt hàng Nhật Bản nhập khẩu từ Thái Lan bao gồm các loại thực phẩm như tôm đông lạnh, thịt gà, đường và các loại nguyên liệu, nhiên liệu…10

Bảng 1.1: Trao đổi thương mại giữa Thái Lan và Nhật Bản (1992 - 1998)

Cán cân XNK

Nguồn: Cục Hải quan – Bộ Tài chính Thái Lan (2000)

Về quan hệ đầu tư, sau sự ra đời của Hiệp ước Plaza tháng 9/1985, đồng Yên của Nhật Bản đã nhanh chóng mạnh lên, thậm chí có những thời

10

Theo báo Kinh tế dân tộc, ngày 8/11/2007

Trang 23

điểm đồng Yên mạnh gần gấp đôi so với trước Vì thế Nhật Bản đã đề ra chiến lược cần nhanh chóng mở rộng đầu tư ra nước ngoài Trong thời gian này, các dự án đầu tư của Nhật Bản ra nước ngoài tăng lên rõ rệt, trong đó có một phần dự án đầu tư tại Thái Lan Đầu tư từ Nhật Bản vào Thái Lan tăng lên trong tất cả các lĩnh vực từ các dự án thương mại và công nghiệp đến các

dự án đầu tư xây dựng và dịch vụ Việc thương nhân Nhật Bản đến đầu tư tăng lên tại Thái Lan trong giai đoạn sau này còn xuất phát từ sự ổn định chính trị và kinh tế Thái Lan Kinh tế Thái Lan có nền tảng vững chắc hơn so với các nước Đông Nam Á khác và có đường lối phát triển ngày càng sáng sủa Nhận thức của cả nhà nước lẫn khu vực tư nhân về vấn đề đầu tư nước ngoài cũng rất nhạy bén, giá nhân công không cao, lực lượng lao động đủ tiêu chuẩn, những mâu thuẫn về tôn giáo và văn hóa ít hơn nếu so với Inđônêxia

và Malayxia Ngoài ra thời điểm này, đồng đô la tại Thái Lan lại khá cao so với đồng bạt, vì vậy đây là điểm lợi thế của Thái Lan khi so với Hàn Quốc và Đài loan

So với thời gian trước đây, những năm 1987 – 1991 số dự án đầu tư của Nhật Bản vào Thái Lan tăng so với trước rất nhiều bao gồm tất cả 709 dự án với số vốn đầu tư lên tới 221,6 tỉ bạt, tập trung vào các lĩnh vực như: công nghiệp điện và điện tử chiếm tới 211 dự án chiếm tới 68,9 tỉ bạt gồm có cả sự đầu tư lần đầu tiên của các công ti thiết bị điện gia dụng hàng đầu Nhật Bản như công ti Shar, đầu tư sản xuất tại Thái Lan các thiết bị như: lò nướng, lò vi sóng, tủ lạnh… tiếp sau này là sản xuất cả máy điều hòa nhiệt độ Ngoài ra còn có sự đầu tư của tập đoàn JVC, sản xuất máy truyền hình màu tại Thái Lan Bên cạnh đó còn có các công ti lớn và nổi tiếng khác của Nhật Bản đầu

tư vào Thái Lan như Fujitsu sản xuất các thiết bị điện tử như: ổ cứng, máy in,

Trang 24

linh kiện điện tử… Các công ti trong lĩnh vực công nghiệp xe gắn máy của Nhật Bản cũng bắt đầu mở rộng ở Thái Lan như Isuzu, Suzuki…11

Có thể thấy rằng, trong thời gian này, Nhật Bản có xu hướng đầu tư trong những lĩnh vực mà được chính phủ Thái Lan ưu đãi và bảo hộ Việc đầu

tư phần lớn vẫn có xu hướng liên doanh cùng với nhà đầu tư Thái Lan và đầu

tư nhằm vào các mặt hàng xuất khẩu Năm 1987 – 1991 có tới 70% dự án đầu

tư của Nhật Bản vào Thái Lan nhận được sự hỗ trợ từ chính phủ Thái và đều

là đầu tư trong lĩnh vực hàng hóa xuất khẩu, trong đó số lượng xuất khẩu ngược trở lại Nhật Bản là khoảng 22,5% , xuất khẩu sang Hoa Kỳ khoảng 15,2%, xuất sang các nước Châu Á và Trung Đông khoảng 24,6% 12

Đặc biệt trong giai đoạn từ 1993 đến 1996 là thời kỳ Thái Lan cho phép

tự do mở các nhà máy và khuyến khích đầu tư, hoạt động đầu tư tại Thái Lan thời gian này hết sức sôi động, đặc biệt là đầu tư của Nhật Bản vào Thái Lan Giai đoạn này được đánh giá là giai đoạn đầu tư mạnh nhất của Nhật Bản vào Thái Lan Đặc biệt chỉ trong năm 1996 Nhật Bản đã xin đầu tư vào Thái Lan với 319 dự án và tổng số vốn lên tới 234,1 tỉ bạt Tuy nhiên, số lượng dự án đầu tư và số vốn đầu tư đã giảm xuống đáng kể trong những năm sau đó (1997, 1998), đặc biệt là năm 1998 số lượng dự án đầu tư và số vốn đầu tư từ Nhật Bản vào Thái Lan đã giảm xuống thấp chưa từng có kể từ thập kỷ 80 trở lại đây Nguyên nhân của tình trạng này do tác động của cuộc khủng hoảng tài chính Châu Á đã làm cho cả Thái Lan và Nhật Bản rơi vào tình trạng suy thoái kinh tế

Bảng 1.2: Đầu tư của Nhật Bản vào Thái Lan (1993 – 1998)

Trang 25

Năm Loại dự án

1993 1994 1995 1996 1997 1998

đệ trình số dự án 171 258 317 319 216 251

số tiền 645 173,4 243,2 234,1 983 555 được duyệt số dự án 125 190 284 254 254 188

số tiền 685 643 196,6 156,9 163,4 270 tiến hành số dự án 86 56 74 220 165 177

số tiền 429 126 318 740 727 889

Nguồn: Ủy ban hỗ trợ đầu tư – Bộ Hợp tác đầu tư Thái Lan (2000)

Nếu tính tỉ lệ phần trăm đầu tư của Nhật Bản vào Thái Lan trong tổng

số đầu tư nước ngoài vào Thái Lan thì càng dễ dàng nhận thấy rằng đầu tư của Nhật Bản chiếm một tỉ lệ rất lớn

Bảng 1.3: Tỷ lệ đầu tư của Nhật Bản trong tổng số đầu tư nước ngoài vào

Trang 26

- Dự án phần lớn là sản xuất sản phẩm để xuất khẩu

- Hàng hóa sản xuất phần lớn là hàng hóa trung cấp

- Phần lớn dự án đầu tư liên doanh là của nhà đầu tư Nhật Bản góp vốn cùng nhà đầu tư Thái Lan

Trong những năm 80 và 90, chính phủ Nhật Bản còn chú trọng mở rộng việc hỗ trợ đầu tư sang các nước bằng cách mở rộng tiền cho vay và tiền cho vay không chỉ tiền Yên mà còn bằng các ngoại tệ khác Từ năm 1982 -

1986, sự giúp đỡ về mặt kinh tế mà Thái Lan nhận được từ Nhật Bản ở chủ yếu được thể hiện ở dạng viện trợ không hoàn lại

Viện trợ không hoàn lại mà Nhật Bản dành cho Thái Lan từ năm 1982 – 1986 có tổng số lên tới 417 triệu USD, cụ thể là:

Bảng 1.4: Viện trợ của Nhật Bản cho Thái Lan (1982 - 1986)

Ngành Số tiền (triệuUSD)

Trang 27

Giao thông vận tải 1,9

Nguồn: Bộ Tài chính Thái Lan (1987)

Nhưng đến thập kỷ 90, các dự án hợp tác, các kế hoạch giúp đỡ, hỗ trợ

và các mối quan hệ khác về mặt tiền tệ của Thái Lan với Nhật Bản lại có một

số thay đổi Nếu trước đây quan hệ giữa Thái Lan và Nhật Bản thường là các viện trợ không hoàn lại, là mối quan hệ xin và cho thì giai đoạn này, mối quan

hệ đó về cơ bản đã chuyển thành quan hệ đối tác hai bên cùng có lợi Đến giữa thập kỷ 90, quan hệ giữa Thái Lan và Nhật Bản càng được củng cố trong vai trò đối tác kinh tế Trong giai đoạn này Nhật Bản lại tiếp tục các dự án hợp tác, các dự án hỗ trợ Thái Lan đặc biệt là các dự án về xây dựng cơ sở hạ tầng trong kinh tế, các dự án trong nông nghiệp, y tế và phát triển nguồn nhân lực Trong khoảng thời gian từ năm 1994 đến năm 1998 tổng số tiền hỗ trợ của Nhật Bản đối với Thái Lan chiếm tới 30% trong tổng số tiền hỗ trợ của

Trang 28

nước ngoài vào Thái Lan, trung bình mỗi năm số tiền hỗ trợ của Nhật Bản vào Thái Lan là hơn 1,2 tỷ bạt.13

1.2.2 Vai trò của Nhật Bản đối với Thái Lan trong khủng hoảng tài chính Châu Á

Có thể nói, trong giai đoạn khủng hoảng kinh tế Nhật Bản đã hỗ trợ cho Thái Lan khá nhiều Sau khi Thái Lan vấp phải khủng hoảng, trong năm 1997 Nhật Bản đã tuyên bố sẽ hỗ trợ Thái Lan thông qua Đại sứ quán Nhật Bản, bao gồm các chương trình sau:

- Hỗ trợ cho việc ổn định tỉ giá đồng bạt Thái thông qua IMF là 4 tỉ USD

- Cho vay không lãi suất 100 tỉ Yên đối với các dự án thương mại vừa

và nhỏ, hỗ trợ cho vay với lãi suất đặc biệt thấp dưới 1% đối với những dự án

về môi trường và liên quan đến vấn đề môi trường

- Bảo hộ hàng hóa và đầu tư 8 tỉ USD

- Hỗ trợ cho các nhà xuất khẩu vay tiền với lãi suất ưu đãi 600 triệu USD

Tổng số tiền Nhật Bản hỗ trợ cho Thái Lan trong năm 1997 lên tới 13 tỉ USD và 100 tỉ Yên Ngoài ra Nhật Bản còn hỗ trợ đào tạo nguồn nhân lực cho Thái Lan là 2000 người, bao gồm:

- Đưa chuyên gia Nhật Bản sang hỗ trợ cho chương trình đào tạo các vấn đề về công nghiệp

- Nhận các cán bộ Thái Lan sang đào tạo tại Nhật Bản (khoảng 1000 người)

Nhật Bản còn viện trợ cho những đối tượng khuyết tật, bệnh hiểm nghèo và những đối tượng kém may mắn khác ở Thái Lan với số tiền viện trợ khoảng 15 tỉ bạt Trước đây, Thái Lan không nằm trong danh sách những

13

[22, tr 4]

Trang 29

nước được hưởng viện trợ từ chương trình này Nhưng xét trong thời điểm khủng hoảng kinh tế, Nhật Bản đã đồng ý viện trợ cho Thái Lan theo chương trình này Số tiền trong chương trình chủ yếu được dùng để tạo thêm công ăn việc làm cho những người kém may mắn, nhất là hỗ trợ trong nông nghiệp

Đại sứ quán Nhật Bản cũng tiến hành hỗ trợ cho những chương trình đào tạo nguồn nhân lực dài hạn và trung hạn như những chương trình đào tạo sinh viên hoặc những chương trình nghiên cứu của sinh viên Thái Lan tại Nhật Bản

Phía Nhật Bản còn nhiều lần đăng cai tổ chức các buổi hội thảo về chính sách kinh tế, tiền tệ; các buổi hội thảo quốc tế về vấn đề những ảnh hưởng từ việc thay đổi cơ cấu kinh tế đối với những người kém may mắn trong xã hội

Ngoài ra, trong giai đoạn khủng hoảng tài chính châu Á, chính phủ Nhật Bản còn tuyên bố chính sách cho vay không lãi suất đối với các nước Châu Á, trong đó có Thái Lan, nhằm giảm thiểu những tác động từ cuộc khủng hoảng tài chính châu Á (New Miyazawa Plan) với tổng số tiền là 30 tỉ USD, được chia thành:

- Chương trình hỗ trợ trung hạn và dài hạn với số tiền là 15 tỉ USD nhằm khôi phục nền kinh tế, khắc phục cơ cấu tiền tệ làm tăng sự ổn định cho các đồng tiền trong khu vực

- Chương trình hỗ trợ ngắn hạn với số tiền là 15 tỉ USD để làm quỹ dự phòng trường hợp phát sinh trở ngại trong quá trình tiến hành cải cách kinh tế 14

Với những hỗ trợ kể trên của Nhật Bản, có thể thấy vai trò của Nhật Bản đối với Thái Lan trong khủng hoảng tài chính châu Á là rất lớn Lý do khiến cho Nhật Bản sốt sắng trong việc giúp đỡ Thái Lan trước hết phải kể

Trang 30

đến nền tảng quan hệ kinh tế giữa hai bên vốn được thiết lập từ rất lâu và mối quan hệ đó luôn tiến triển tốt đẹp Nhật Bản cũng đã gặt hái được nhiều thành công và thu được nhiều lợi ích trong việc kinh doanh tại Thái Lan Cũng chính vì thế, Nhật Bản hiểu hơn ai hết là khi nền kinh tế - tài chính của Thái Lan có vấn đề thì lập tức điều đó cũng sẽ ảnh hưởng không nhỏ tới những lợi ích kinh tế của Nhật Bản Giúp đỡ Thái Lan trong việc phục hồi nền kinh tế, một mặt nào đó cũng là tạo điều kiện cho chính bản thân Nhật Bản củng cố và phát triển các lợi ích kinh tế tại Thái Lan Mặt khác, giúp đỡ Thái Lan cũng là một cách để Nhật Bản phát triển vị thế ở Đông Nam Á và cạnh tranh ảnh hưởng trong khu vực với Trung Quốc Bởi trong thời gian gần đây Trung Quốc ngày càng phát triển về kinh tế và ngày càng nâng cao được vị thế cũng như tầm ảnh hưởng không chỉ trong khu vực mà cả các khu vực khác trên thế giới

Cuối năm 1998, về cơ bản Thái Lan đã thoát khỏi khủng hoảng tài chính và dần phục hồi nền kinh tế, trong đó phải kể đến sự giúp đỡ không nhỏ của Nhật Bản Điều này cũng giúp cho quan hệ kinh tế giữa Nhật Bản và Thái Lan ngày càng được củng cố và phát triển, mặt khác cũng giúp củng cố vị thế của Nhật Bản ở Đông Nam Á

Như vậy, mối quan hệ giữa Nhật Bản và Thái Lan đã được hình thành

và phát triển từ lâu Trong thời kỳ chiến tranh thế giới thứ nhất và thứ hai mối quan hệ giữa hai nước phát triển trên cả hai lĩnh vực kinh tế và quân sự Nhưng từ thời kỳ chiến tranh lạnh đến khủng hoảng tài chính Châu Á, mối quan hệ giữa hai nước được nhấn mạnh chủ yếu trong lĩnh vực kinh tế Nhất

là khi Thái Lan rơi vào khủng hoảng tài chính, Nhật Bản đã sốt sắng giúp đỡ Thái Lan vượt qua khủng hoảng, khôi phục nền kinh tế, thể hiện là một người bạn đáng tin cậy của Thái Lan, thể hiện vị thế của một nước lớn trong khu vực Châu Á

Trang 31

Chương 2: Tình hình quan hệ kinh tế Thái Lan - Nhật Bản sau

khủng hoảng tài chính Châu Á đến nay

2.1 Quá trình ký kết Hiệp định hợp tác kinh tế giữa Thái Lan và

có thể thấy rằng, Thái Lan và Nhật Bản có quan hệ thương mại và đầu tư hết sức gần gũi đã từ rất lâu Trong thời gian rất dài, Thái Lan luôn trao đổi buôn bán nhiều nhất với Nhật Bản Nhất là những năm đầu của thế kỷ 21, trao đổi thương mại hàng năm giữa hai nước trung bình mỗi năm khoảng 1,7 nghìn tỉ bạt Ngoài ra, Nhật Bản cũng là nước đầu tư lớn nhất vào Thái Lan Nhật Bản phát triển các cơ sở sản xuất xe ô tô lớn nhất Châu Á ở Thái Lan Hàng năm, Nhật Bản còn có lượng khách du lịch đến Thái Lan đông nhất, chi tiêu nhiều

Trang 32

tiền nhất Hàng năm du khách Nhật Bản vào Thái Lan tới hơn 1 triệu người 15

Có thể thấy, Nhật Bản là một đối tác đầy tiềm năng của Thái Lan

Bên cạnh đó, đây cũng là thời điểm mà Nhật Bản đề cao hợp tác với các nước Đông Nam Á, trong đó Thái Lan là một trong số những nước được quan tâm hàng đầu Thời điểm này, Nhật Bản chú trọng tới việc ký kết các Hiệp định thương mại tự do Nhật Bản đã ký với các nước như: Xinhgapo, Mêxicô và đang trong quá trình ký kết với Malayxia, Philippin, tiếp theo sẽ tiến hành thỏa thuận với các nước như: Inđônêxia, Việt Nam, Brunây, Hàn Quốc… Về phía Thái Lan cũng đã ký kết Hiệp định thương mại

tự do với Mỹ, Trung Quốc, Ôtrâylia, Ấn Độ Vì vậy, việc tiến hành ký kết Hiệp định kinh tế trong thời điểm này là một cách để củng cố và thúc đẩy mối quan hệ thân thiết vốn có giữa Nhật Bản với Thái Lan, khẳng định tầm ảnh hưởng của Nhật Bản đối với khu vực Đông Nam Á, nâng cao khả năng cạnh tranh của hàng hóa và dịch vụ của Nhật Bản và Thái Lan với các nước khác khi xâm nhập vào thị trường khu vực và thế giới

Ngày 18 đến ngày 21/11/2001 trong chuyến viếng thăm chính thức của Thủ tướng Thái Lan Thăc xỉn Chin na wat đã bày tỏ với ngài Thủ tướng Nhật Bản G Côi dư mi mong muốn thiết lập quan hệ kinh tế gần gũi hơn nữa giữa hai nước nhất là việc thiết lập một khu vực kinh tế tự do giữa Thái Lan và Nhật Bản Tiếp theo đó ngày 11, 12/2/2002, Thủ tướng Nhật Bản G Côi dư

mi lại đến thăm chính thức Thái Lan và cũng bày tỏ mong muốn hai nước sẽ trở thành đối tác kinh tế toàn diện của nhau

Vào ngày 12/4/2002 Thủ tướng Thái Lan và Thủ tướng Nhật Bản đã đưa vấn đề ra thảo luận trong cuộc họp tại Diễn đàn Châu Á Cả hai bên đều nhất trí cho rằng trước mắt cần thành lập một Uỷ ban phối hợp hoạt động để

15

[22, tr 2]

Trang 33

tiến hành việc xây dựng quan hệ đối tác kinh tế toàn diện trong rất nhiều phương diện kể cả thương mại, đầu tư, công nghiệp và cả phát triển nguồn nhân lực

Trong thời gian từ tháng 2/2002 đến tháng 5/2003 Thái Lan và Nhật Bản đã thay phiên nhau đăng cai các cuộc họp của Ban điều hành hoạt động hợp tác kinh tế Thái Lan – Nhật Bản tất cả 5 lần Lần thứ nhất tổ chức tại Băng cốc vào 19, 20/9/2002, lần thứ hai tại Tôkyô vào 21, 22/11/2002, lần thứ ba tại Băng cốc vào ngày 27 – 29/1/2003, lần thứ tư tại Tôkyô ngày 19 – 21/3/2003 và lần thứ năm được tổ chức tại Băng cốc vào ngày 19 – 21/11/2003

Cả hai bên đã bàn bạc và trao đổi về 21 lĩnh vực cần có sự hợp tác nhằm thúc đẩy việc hai nước sẽ trở thành đối tác kinh tế toàn diện như các vấn đề về: trao đổi hàng hoá, trao đổi dịch vụ, đầu tư, xuất xứ hàng hoá, quy định về hải quan, hợp tác trong lĩnh vực nông – lâm – ngư nghiệp, chính sách cạnh tranh, du lịch, hỗ trợ thương mại và đầu tư, hợp tác trong lĩnh vực dịch

vụ tiền tệ, đào tạo và phát triển nguồn nhân lực, phát triển doanh nghiệp vừa

và nhỏ, quyền sở hữu trí tuệ, công nghệ thông tin, khoa học công nghệ, năng lượng và môi trường, cải tạo môi trường kinh doanh và tạo sự bình đẳng trong kinh doanh…

Vào ngày 6/6/2003 Thủ tướng Thái Lan và Thủ tướng Nhật bản đã gặp

gỡ tại Tôkyô và cùng tán thành việc thành lập Ủy ban xúc tiến soạn thảo bản thoả thuận về Đối tác kinh tế toàn diện Thái Lan - Nhật bản Tiếp đó, ngày 19/6/2003 Bộ trưởng Bộ Ngoại giao hai nước đã gặp nhau và đã tán thành dự thảo về phạm vi trách nhiệm của Hội nghị xúc tiến việc kí kết bản thoả thuận

về hợp tác kinh tế toàn diện, đó là việc mở rộng phạm vi tham gia Hội nghị

Trang 34

cho cả các đại diện của khối tư nhân và các nhà nghiên cứu nhằm bàn thảo những vấn đề chi tiết

Từ tháng 7 đến tháng 11/2003 Thái Lan và Nhật bản đã thay phiên nhau tổ chức ba cuộc Hội nghị xúc tiến, lần thứ nhất tổ chức ở Tôkyô vào 22 – 24/7/2003, lần thứ hai ở Băng cốc vào 24 – 27/8/2003, lần thứ ba ở tỉnh Phucuôka, Nhật Bản vào 4 – 6/11/2003 Qua ba cuộc Hội nghị này hai bên đã tiến tới sự hiểu biết lẫn nhau tốt hơn cũng như gặt hái được những thành công trong việc bàn thảo về những vấn đề nông nghiệp

Tiếp đó, tháng 12/2003 đoàn đàm phán của hai nước đã gặp nhau để trao đổi, đàm phán song phương và đi đến quyết định sẽ bắt đầu tiến hành việc đàm phán chính thức cho việc xây dựng mối quan hệ kinh tế toàn diện giữa hai nước bằng việc tổ chức cuộc họp lần thứ nhất tại Thái Lan vào đầu năm 2004 Sau đó, Ban Đàm phán của cả hai bên đã từng bước tiến hành việc đàm phán chính thức, tất cả gồm 9 lần đàm phán

2.1.2 Quá trình đàm phán và ký kết Hiệp định Hợp tác kinh tế Thái Lan – Nhật Bản (JTEPA)

 Đàm phán lần thứ nhất (16 – 17/2/2004)

Thái Lan và Nhật Bản chính thức đàm phán việc trở thành đối tác kinh

tế lần thứ nhất vào ngày 16 – 17/2/2004 Cả hai bên đã đàm phán việc nhanh chóng miến giảm thuế quan Cơ cấu của quá trình đàm phán được chia thành

2 cấp: cấp 1 là đàm phán giữa những người đứng đầu Ban Đàm phán và cấp 2

là đàm phán giữa những người chịu trách nhiệm thực hiện Hiệp định Nội dung của cuộc đàm phán này xoay quanh vấn đề trao đổi hàng hóa, xác định xuất xứ hàng hóa, chính sách cạnh tranh, sở hữu trí tuệ, dịch vụ thương mại bao gồm cả đầu tư, dịch vụ tiền tệ, dịch vụ thông tin, phát triển nguồn nhân lực…

Trang 35

Kết quả của việc đàm phán kinh tế lần thứ nhất giữa Thái Lan và Nhật Bản bao gồm những vấn đề như:

- Về trao đổi thương mại: Cả hai bên đều nhất trí rằng cần thiết phải giảm thuế ở tất cả các nhóm hàng Tuy nhiên, Nhật Bản cho rằng cần tách mặt hàng nông nghiệp ra khỏi mặt hàng công nghiệp và thỏa thuận trên 4 nhóm hàng là: nhóm hàng cần xóa bỏ thuế quan ngay khi văn bản kí kết giữa hai bên bắt đầu có hiệu lực; nhóm hàng sẽ xóa bỏ thuế quan không quá 10 năm; nhóm hàng sẽ xóa bỏ thuế quan sau 10 năm hoặc sẽ đàm phán lại trong vòng

5 năm và nhóm hàng không xóa bỏ thuế Trong khi đó Thái Lan lại muốn đưa tất cả các mặt hàng vào thành 3 nhóm hàng đầu, có nghĩa là nhóm hàng nhạy cảm không định xóa bỏ thuế cần đưa vào nhóm hàng thứ ba, tức là sẽ giảm thuế nhưng giảm chậm hoặc sẽ có thỏa thuận lại

- Đối với dịch vụ thương mại: Về phía Nhật Bản muốn thuế quan sẽ được miễn giảm ở tất cả các nhóm hàng trừ những mặt hàng không đưa vào quy định Nhưng phía Thái Lan lại không nhất trí Phía Thái Lan muốn miễn thuế ở một số nhóm hàng nhất định và tùy thuộc vào quy định của mỗi bên và phía Thái đã đề xuất biện pháp bảo hộ khẩn cấp nhằm làm giảm tác động ngoài ý muốn khi miễn giảm thuế

- Đối với đầu tư:

Nhật Bản đề nghị phía Thái Lan cho Nhật Bản được áp dụng ưu đãi thuế ở mức cao như hưởng quy chế ưu đãi đặc biệt, quy chế Tối huệ quốc như Thái Lan đang áp dụng đối với các nhà đầu tư Hoa Kỳ được quy định trong Hiệp ước Hữu nghị Thái Lan – Hoa Kỳ Trong khi đó phía Thái Lan cũng khẳng định rằng đầu tư từ Nhật Bản là nguồn đầu tư rất quan trọng mà Thái Lan cần khuyến khích thúc đẩy nhưng trong cuộc đàm phán lần này phía Thái Lan vẫn chưa chấp nhận yêu cầu đó từ phía Nhật Bản

Trang 36

Cả hai bên đã trao đổi quan điểm về các ngành nghề cần có sự hợp tác nhằm mang lại lợi ích cho cả hai bên như hợp tác trong dịch vụ tiền tệ, công nghệ thông tin, du lịch, doanh nghiệp vừa và nhỏ, khoa học tự nhiên và công nghệ, năng lượng và môi trường Cả hai bên cùng nhận thấy rằng cần chú trọng tiềm năng hợp tác của những ngành nghề này cũng là cách thức nhằm thúc đẩy điều kiện mở rộng hợp tác trong lĩnh vực kinh tế hơn nữa

 Đàm phán lần thứ 2 (7 – 10/4/2004)

Ngày 7 – 10/4/2004 Thứ trưởng Bộ Ngoại giao Thái Lan Pixản Manvapăt dẫn đầu đoàn đàm phán đã đến Tôkyô gặp gỡ Thứ trưởng Bộ Ngoại giao Nhật Bản Ichirô Phuchixaki Trong cuộc đàm phán này hai bên đã nhất trí một số điểm sau:

- Về trao đổi hàng hóa: Phía Nhật Bản chấp nhận đưa danh mục hàng nông nghiệp gộp chung vào nhóm hàng công nghiệp nhưng vẫn giữ chủ trương không giảm thuế hay miễn thuế trong nhóm này và vẫn nhắc lại rằng phía Nhật Bản chưa có khả năng đàm phán một cách chi tiết về những mặt hàng giảm thuế nhanh trước khi các văn bản thỏa thuận giữa hai bên có hiệu lực thực hiện, theo như phía Thái Lan đề xuất, do phía Nhật Bản e ngại sẽ ảnh hưởng tới sự linh hoạt trong việc đàm phán ở những nhóm hàng khác Cuối cùng, cả hai bên đã nhất trí bắt đầu trao đổi danh mục chi tiết các mặt hàng sẽ đưa vào danh mục gồm cả hàng hóa nông nghiệp và công nghiệp nhưng chưa cần quyết định là chia thành mấy nhóm để cho việc đàm phán sau này có những tiến triển thuận lợi

- Đầu tư: Phía Nhật Bản lại tiếp tục đề nghị Thái Lan chấp nhận cho các nhà đầu tư Nhật Bản được hưởng quy chế đầu tư Tối Huệ quốc, mà quan trọng là ngang bằng với chế độ ưu đãi mà Thái Lan dành cho Hoa Kỳ trong Hiệp ước hữu nghị Thái Lan – Hoa Kỳ hoặc theo Hiệp định FTA mà Thái Lan và Hoa

Trang 37

Kỳ đang tiến hành đàm phán Phía Thái Lan tỏ thái độ ủng hộ, tạo điều kiện cho các nhà đầu tư Nhật Bản đầu tư vào Thái Lan nhưng cũng đề nghị phía Nhật Bản bỏ cách thức mở cửa thị trường thuế quan theo kiểu miễn giảm thuế cho những nhóm ngành mà tự mỗi bên quy định

- Sở hữu trí tuệ: phía Thái Lan đã có những đề xuất trong việc hai bên hợp tác

và có những quy định cụ thể trong việc bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ

 Đàm phán lần thứ 3 (16 – 18/6/2004)

Ngày 16 – 18/6/2004 Nhật Bản và Thái Lan tiếp tục đàm phán về vấn

đề hợp tác kinh tế tại tỉnh Phêtchabụ ri – Thái Lan

- Về trao đổi hàng hóa: Trong thời gian này do phía Nhật Bản đang chuẩn bị cho cuộc bầu cử Thượng viện sắp tới nên đã không tiện đưa ra danh sách các mặt hàng miễn thuế nhất là các mặt hàng nông nghiệp Vì thế cả hai bên đã nhất trí vấn đề này sẽ được đưa ra thảo luận, đàm phán tại phiên họp sau

- Hợp tác: Cả hai bên đã nhất trí hợp tác trên 7 lĩnh vực là: giáo dục và phát triển nguồn nhân lực, dịch vụ tiền tệ, kỹ thuật công nghệ và thông tin, khoa học tự nhiên và công nghệ, năng lượng và môi trường, doanh nghiệp vừa và nhỏ nhằm hỗ trợ thương mại, đầu tư và du lịch Riêng đối với hợp tác trong lĩnh vực nông nghiệp đã được hai bên thỏa thuận hợp tác trên 2 vấn đề:

+ Hợp tác về an toàn thực phẩm: phía Thái Lan chú trọng tới việc kiểm duyệt nguy cơ lây lan của bệnh truyền nhiễm và sâu bệnh, việc chấp nhận hệ thống kiểm tra và việc cam kết về tính an toàn của sản phẩm và độ an toàn về giống bao gồm cả độ an toàn về dư lượng chất hóa học Về phía Nhật Bản thì chú trọng tới việc trao đổi chuyên gia và học tập kinh nghiệm, đề nghị lấy quy định về an toàn thực phẩm trước đây của Nhật Bản làm cơ sở thực hiện

Trang 38

+ Hợp tác trong việc thiết lập hệ thống kết nối giữa các hợp tác xã nông nghiệp

- Dịch vụ thương mại và đầu tư:

Phía Nhật Bản còn chưa thông qua nhiều đề nghị của Thái Lan trong vấn đề này ngoài việc sẵn sàng cho Thái Lan đầu tư mở công ty kinh doanh ở Nhật Bản

 Đàm phán lần 5 (7 – 9/12/2004)

Ngày 7 – 9/12/2004, hai bên đã đàm phán tại Bangkok Cho tới lần đàm phán này, hai bên đã thỏa thuận xong cơ bản 10/21 vấn đề đó là: vấn đề quy trình Hải quan, thương mại điện tử và 8 vấn đề về hợp tác Ngoài ra có một số vấn đề hiện đang trong quá trình thảo luận, bàn bạc như vấn đề sở hữu trí tuệ, chính sách cạnh tranh thương mại và quy chế xuất xứ hàng hóa

Trang 39

- Trao đổi hàng hóa: Phía Nhật Bản nhất trí danh mục hàng hóa giảm thuế nhanh mà Thái Lan đưa ra và cả hai bên nhất trí sẽ sớm đưa vào thực hiện Cả hai bên trao đổi về nhóm hàng cần thời gian cho việc thực hiện miễn giảm thuế trong vòng 3 năm, 5 năm hoặc 10 năm Đối với nhóm hàng nhạy cảm, cả hai bên nhất trí sẽ tiếp tục đưa ra xem xét thảo luận trong cuộc họp không chính thức vào cuối tháng 1/ 2005 ở Bangkok

- Dịch vụ thương mại: thảo luận về cách thức sắp xếp các điều khoản ràng buộc trong việc tự do về dịch vụ thương mại, đầu tư

 Đàm phán lần 6 (28/2 – 3/3/2005)

Trong cuộc đàm phán này, hai bên đã gặp nhau tại Tôkyô vào ngày 28/2 – 3/3/2005 Phía Nhật Bản thay đổi người dẫn đầu Ban đàm phán là ngài Mitoji Yabunaka Thứ trưởng mới của Bộ Ngoại Giao Nhật Bản phụ trách các vấn đề kinh tế

- Trao đổi hàng hóa: Phía Nhật Bản nhất quyết yêu cầu Thái Lan mở cửa tự

do cho các sản phẩm sắt thép, xe gắn máy và phụ tùng xe gắn máy Nhất là trong nhóm hàng về sắt thép, Nhật Bản ép phía Thái Lan chấp nhận yêu cầu miễn thuế ngay cho một số mặt hàng sắt thép đang được đưa vào sử dụng trong công nghiệp chế tạo xe gắn máy, các thiết bị điện và các dụng cụ bảo quản đồ ăn, đồ uống, các thiết bị vận chuyển, máy móc in ấn… Đối với xe gắn máy, Nhật Bản thấy cần thiết đề nghị Thái Lan mở cửa thị trường cho xe

ô tô có dung tích trên 3000 CC (loại xe hạng sang) bằng biện pháp miễn thuế ngay Về phía xe ô tô có dung tích nhỏ hơn 3000 CC có thể cho thời gian để loại bỏ hoặc giảm dần thuế quan xuống mức thấp Đối với phụ tùng xe gắn máy Nhật Bản yêu cầu Thái Lan bãi bỏ thuế ngay hoặc bãi bỏ trong thời gian thấp nhất

Trang 40

Đối với sản phẩm nông nghiệp, phía Nhật Bản yêu cầu thêm các sản phẩm gạo trong danh mục loại bỏ nhưng lại không có ý kiến gì về những mặt hàng nông nghiệp là tiềm năng của Thái Lan như: các sản phẩm từ gà, đường, dứa đóng hộp

- Dịch vụ thương mại: Phía Nhật đề nghị Thái Lan mở cửa tự do cho dịch vụ thương mại nhất là khi nhiều công ty Nhật Bản có cơ sở sản xuất cả ở trong nước cả ở Thái Lan như xây dựng, vận tải, tiền tệ… Nhưng phía Thái Lan khẳng định, Thái Lan chưa sẵn sàng cho việc mở cửa tự do trong dịch vụ tiền

tệ

- Xuất khẩu lao động: Mặc dù phía Nhật Bản cũng có thái độ tích cực đối với

đề nghị từ phía Thái Lan sẽ cho sắp xếp cơ chế lâu dài để xem xét việc đưa lao động có kỹ năng trong những nhóm ngành mà một phía thì có nhu cầu và một phía thì có tiềm năng Dự định trong tương lai phía Thái Lan sẽ mở rộng thị trường lao động sang Nhật Bản Nhưng phía Nhật Bản mới chỉ cho nhận duy nhất người lao động chuyên ngành nấu ăn của Thái Lan Mặc dù thời điểm này đã có nhiều đối tượng lao động đến làm việc tại Nhật Bản nhưng Nhật Bản vẫn ra điều kiện phải là những người lao động có kinh nghiệm làm việc từ 5 – 10 năm Một số lao động khác được nhận vào là những đối tượng lao động trong công việc chăm sóc người già nhưng việc nhận người lao động phải theo Quota

Ngày đăng: 12/09/2017, 18:59

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Ban tư tưởng – văn hóa trung ương, Vụ tuyên truyền và hợp tác quốc tế (2004), Tình hình thế giới gần đây, vấn đề và sự kiện.- Nhà xuất bản chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tình hình thế giới gần đây, vấn đề và sự kiện
Tác giả: Ban tư tưởng – văn hóa trung ương, Vụ tuyên truyền và hợp tác quốc tế
Nhà XB: Nhà xuất bản chính trị quốc gia
Năm: 2004
2. Ngô Xuân Bình cb (1999), Quan hệ Nhật Bản – ASEAN chính sách và tài trợ ODA.- Nhà xuất bản Khoa học xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quan hệ Nhật Bản – ASEAN chính sách và tài trợ ODA
Tác giả: Ngô Xuân Bình cb
Nhà XB: Nhà xuất bản Khoa học xã hội
Năm: 1999
3. Ngô Xuân Bình (2000), Chính sách đối ngoại của Nhật Bản thời kỳ sau chiến tranh lạnh.- Nhà xuất bản Khoa học xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chính sách đối ngoại của Nhật Bản thời kỳ sau chiến tranh lạnh
Tác giả: Ngô Xuân Bình
Nhà XB: Nhà xuất bản Khoa học xã hội
Năm: 2000
4. Nguyễn Duy Dũng (2003), Năm 2002: Quan hệ kinh tế Việt Nam – Nhật Bản tiếp tục phát triển ổn định.- Tạp chí nghiên cứu Nhật Bản và Đông Bắc Á, số 1(43), tr Sách, tạp chí
Tiêu đề: Năm 2002: Quan hệ kinh tế Việt Nam – Nhật Bản tiếp tục phát triển ổn định
Tác giả: Nguyễn Duy Dũng
Năm: 2003
5. Dương Phú Hiệp cb (2001), Triển vọng kinh tế Nhật Bản trong thập niên đầu thế kỷ XXI.- Nhà xuất bản Khoa học xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Triển vọng kinh tế Nhật Bản trong thập niên đầu thế kỷ XXI
Tác giả: Dương Phú Hiệp cb
Nhà XB: Nhà xuất bản Khoa học xã hội
Năm: 2001
6. Khoa Đông Phương học (2003), Quan hệ Việt Nam – Nhật Bản (những vấn đề lịch sử và hiện đại).- Nhà xuất bản đại học quốc gia, Hà Nội 7. Nguyễn Văn Kim (2002), Quan hệ của Nhật Bản với Vương quốcXiêm (Thái Lan) thế kỷ XVI – XVII.- Nghiên cứu Nhật Bản và Đông Bắc Á, số 2 (38), tr. 61 – 70 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quan hệ Việt Nam – Nhật Bản (những vấn đề lịch sử và hiện đại)".- Nhà xuất bản đại học quốc gia, Hà Nội 7. Nguyễn Văn Kim (2002), "Quan hệ của Nhật Bản với Vương quốc "Xiêm (Thái Lan) thế kỷ XVI – XVII
Tác giả: Khoa Đông Phương học (2003), Quan hệ Việt Nam – Nhật Bản (những vấn đề lịch sử và hiện đại).- Nhà xuất bản đại học quốc gia, Hà Nội 7. Nguyễn Văn Kim
Nhà XB: Nhà xuất bản đại học quốc gia
Năm: 2002
8. Hoa Hữu Lân (1999), Kinh tế Châu Á năm 1998: thách thức và triển vọng.- Nghiên cứu Đông Nam Á, số 2, tr. 12 – 16 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kinh tế Châu Á năm 1998: thách thức và triển vọng
Tác giả: Hoa Hữu Lân
Năm: 1999
9. Nguyễn Tương Lai (2001), Quan hệ Việt Nam – Thái Lan trong những năm 90.- Nhà xuất bản Khoa học xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quan hệ Việt Nam – Thái Lan trong những năm 90
Tác giả: Nguyễn Tương Lai
Nhà XB: Nhà xuất bản Khoa học xã hội
Năm: 2001
10. Nguyễn Văn Tận (2005), Liên minh Thái – Nhật trong cuộc chiến thế giớithứ hai, những vấn đề lịch sử và luận giải.- Nghiên cứu Nhật Bản và ĐôngBắc Á, số 3 (57), tr.44 – 47 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu Nhật Bản và Đông " Bắc Á
Tác giả: Nguyễn Văn Tận
Năm: 2005
11. Phạm đức Thành , Trương Duy Hòa (2000), Dự báo tình hình kinh tế khu vực Đông nam Á những năm đầu thế kỷ XXI, (đề tài cấp bộ). - Viện nghiên cứu Đông Nam Á, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dự báo tình hình kinh tế khu vực Đông nam Á những năm đầu thế kỷ XXI
Tác giả: Phạm đức Thành , Trương Duy Hòa
Năm: 2000
12. Nguyễn Xuân Thắng (2003), Các xu hướng chủ yếu trong quan hệ hợp tác kinh tế Nhật Bản – Châu Á những năm đầu thế kỷ XXI.- Những vấn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các xu hướng chủ yếu trong quan hệ hợp tác kinh tế Nhật Bản – Châu Á những năm đầu thế kỷ XXI
Tác giả: Nguyễn Xuân Thắng
Năm: 2003
13. Carl Torki (1978), Dependent Development: The Thai Economic Relations with Japan (Phát triển độc lập: Quan hệ kinh tế Thái Lan với Nhật Bản).- Ontario Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dependent Development: The Thai Economic Relations with Japan (Phát triển độc lập: Quan hệ kinh tế Thái Lan với Nhật Bản)
Tác giả: Carl Torki
Năm: 1978
14. Chaivắt Khămchu (2005), Nền chính trị mới của Nhật Bản: sự tiếp nối và những thay đổi.- Băng Cốc: Khoa Nhà nước học, trường Đại học Chulalongkon Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nền chính trị mới của Nhật Bản: sự tiếp nối và những thay đổi.-
Tác giả: Chaivắt Khămchu
Năm: 2005
17. Funabashi Yoichi (2002), Japan and ASEAN in the 21st Century.- Singapore: Institute for Southeast Asian Studies Sách, tạp chí
Tiêu đề: Japan and ASEAN in the 21st Century
Tác giả: Funabashi Yoichi
Năm: 2002
18. Kenjiro Ichikawa (1986), Japan's Repayment of Special Yen Account to Thailand During World War II (Tái thanh toán của Nhật Bản trong tài khoản đồng Yên đặc biệt đối với Thái Lan trong Đại chiến thế giới thứ 2). - Singapore : CIAHOA Sách, tạp chí
Tiêu đề: Japan's Repayment of Special Yen Account to Thailand During World War II
Tác giả: Kenjiro Ichikawa
Năm: 1986
19. Ministry of Foreign Affairs (2002), Speech by Prime Minister of Japan Junichiro Koizumi, Japan and ASEAN in East Asia: A sincere and Open Partnership.- Singapore Sách, tạp chí
Tiêu đề: Speech by Prime Minister of Japan Junichiro Koizumi, Japan and ASEAN in East Asia: A sincere and Open Partnership
Tác giả: Ministry of Foreign Affairs
Năm: 2002
20. Ministry of Foreign Affairs (2003), Tokyo Declaration for the Dynamic and Enduring Japan – ASEAN partnership in the New Millennium.- Tokyo Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tokyo Declaration for the Dynamic and Enduring Japan – ASEAN partnership in the New Millennium
Tác giả: Ministry of Foreign Affairs
Năm: 2003
21. Marisả Pôngthanazôntakit và Sụvắtchara Piềmgiat (2002), Vai trò của Nhật Bản đối với Thái Lan trong lĩnh vực xã hội và văn hóa.- Viện nghiên cứu Đông Á, trường đại học Thăm ma xạt Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vai trò của Nhật Bản đối với Thái Lan trong lĩnh vực xã hội và văn hóa
Tác giả: Marisả Pôngthanazôntakit và Sụvắtchara Piềmgiat
Năm: 2002
25. Sịripon Vătchavănkhu (2005), Nhật Bản với chính sách đối tác kinh tế Nhật Bản - ASEAN (CEP).- Băng Cốc: Khoa Nhà nước học, trường đại học Thăm ma xạt Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nhật Bản với chính sách đối tác kinh tế Nhật Bản - ASEAN (CEP
Tác giả: Sịripon Vătchavănkhu
Năm: 2005
15. David Dewilt David Hagleund, John Kirton (editors) (1993), Building a New Global Order Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w