1. Trang chủ
  2. » Giáo án - Bài giảng

Luận văn thạc sĩ cải cách ruộng đất tại kiến an (1955 1957)

123 144 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 123
Dung lượng 7,46 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nhận thức được điều này, Đảng ta đã chủ trương thực hiện một cuộc cải cách ruộng đất trên phạm vi cả nước từ 1953 – 1957, đánh đổ địa chủ và phong kiến, mang lại ruộng đất cho nông dân..

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

-

NGUYỄN THỊ THU HẰNG

CẢI CÁCH RUỘNG ĐẤT TẠI KIẾN AN (1955-1957)

LUẬN VĂN THẠC SĨ LỊCH SỬ

Hà Nội - 2010

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

-

NGUYỄN THỊ THU HẰNG

CẢI CÁCH RUỘNG ĐẤT TẠI KIẾN AN (1955-1957)

Luận văn Thạc sĩ chuyên ngành Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam

Mã số: 60 22 56

Người hướng dẫn khoa học: PGS Lê Mậu Hãn

Hà Nội - 2010

Trang 3

MỤC LỤC

Chương 1 QUÁ TRÌNH THỰC HIỆN CẢI CÁCH RUỘNG

1.1 Một số nét về địa lý, lịch sử, con người Kiến An 8

1.2 Tình hình chiếm hữu và sử dụng ruộng đất ở Kiến An

1.3 Chủ trương cải cách ruộng đất của Đảng, Chính phủ 26

Chương 2 THỰC HIỆN CÔNG TÁC SỬA SAI, HOÀN

2.1 Những sai lầm trong cải cách ruộng đất ở Kiến An 38

2.3 Quá trình thực hiện và kết quả công tác sửa sai 51

Trang 4

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

- UBCCRĐ: Ủy ban Cải cách ruộng đất

- UBHC: Ủy ban hành chính

Trang 5

MỞ ĐẦU

1 LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI

Nông dân là một động lực to lớn của cách mạng Trong cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc, nếu không có sự tham gia của nông dân thì cách mạng sẽ không thể thành công Việc đem lại quyền lợi cho nông dân, trong đó quyền sở hữu ruộng đất – cái lợi ích thiết thực nhất của người nông dân vừa là một nhiệm

vụ của cuộc cách mạng dân tộc, dân chủ nhân dân, vừa là một nhân tố thúc đẩy thắng lợi của cách mạng Nhận thức được điều này, Đảng ta đã chủ trương thực hiện một cuộc cải cách ruộng đất trên phạm vi cả nước từ 1953 – 1957, đánh đổ địa chủ và phong kiến, mang lại ruộng đất cho nông dân

Thực hiện chủ trương đó của Trung ương Đảng, đầu năm 1955, Đảng bộ Kiến An đã lãnh đạo quần chúng nhân dân, phát động cuộc cải cách ruộng ở địa phương, xóa bỏ chế độ chiếm hữu ruộng đất của địa chủ phong kiến, đem lại ruộng đất cho nông dân Trong quá trình lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện, Đảng bộ đã nghiên cứu, thực hiện đường lối, chính sách của Đảng vào hoàn cảnh cụ thể của địa phương, từng bước tổ chức vận động và lãnh đạo quần chúng thực hiện nhiệm vụ cải cách ruộng đất Công cuộc cải cách ruộng đất ở Kiến An đã được được một số kết quả, song trong quá trình thực hiện cũng đã phạm phải những hạn chế, sai lầm nghiêm trọng

Việc tổng kết những thành tựu và hạn chế trong quá trình Đảng bộ Kiến

An lãnh đạo cuộc cách mạng ruộng đất vừa có ý nghĩa trong việc cung cấp những nhận thức khách quan và khoa học về cuộc cải cách ruộng đất chung trong cả nước, đồng thời từ đó rút ra những kinh nghiệm trong quá trình lãnh đạo cách mạng của Đảng ta Với ý nghĩa đó, tôi đã chọn đề tài “Cải cách ruộng đất tại Kiến An (1955-1957)” làm đề tài luận văn thạc sỹ chuyên ngành lịch sử Đảng của mình

Trang 6

2 TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU

Giải quyết vấn đề ruộng đất và nông dân vừa là nhiệm vụ, vừa là động lực của cách mạng Sự thành công của cách mạng tuỳ thuộc một phần lớn vào sự giải quyết đúng đắn nhiệm vụ trên Vì vậy đây là một vấn đề không chỉ Đảng và Nhà nước ta mà các nhà khoa học, các cơ quan nghiên cứu hết sức chú ý, quan tâm

Những tác phẩm đầu tiên có tính chất lý luận phản ánh về vấn đề này là

của một số nhà lãnh đạo cách mạng như: Trường Chinh và Võ Nguyên Giáp với

Vấn đề dân cày – Nxb Sự thật Hà Nội 1959 Lê Duẩn – Giai cấp công nhân với vấn đề nông dân trong cuộc vận động cách mạng Việt Nam – Nxb Sự thật Hà

Nội 1965 Trường Chinh – Cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân Việt Nam

Nxb Sự thật Hà Nội 1976

Một số công trình nghiên cứu có tính chất tổng kết đề cập đến vấn đề

ruộng đất và nông dân như: Viện Kinh tế thuộc UBKHXH – Cách mạng ruộng

đất ở Việt Nam – Nxb KHXH, 1968 Viện Kinh tế thuộc UBKHXH – Kinh tế Việt Nam 1945-1960 – Nxb Sự thật, 1960 Văn Phong – Đánh giá cho đúng

những thắng lợi của nhiệm vụ phản phong và những sai lầm trong cải cách ruộng đất – Nxb Sự thật, 1957 Văn Tạo - Cải cách ruộng đất thành quả và sai lầm, Tạp chí Nghiên cứu lịch sử số 2 năm 1993 Tuy nhiên những tác phẩm trên

đây chưa nghiên cứu một cách cụ thể xung quanh vấn đề: Đảng lãnh đạo thực hiện chính sách ruộng đất những năm 1955 – 1957 ở Kiến An

Trong những năm gần đây, một số giáo trình lịch sử như Đại cương lịch

sử Việt Nam, tập 3, Nxb Giáo dục, 1998 của các tác giả Lê Mậu Hãn, Trần Bá

Đệ, Nguyễn Văn Thư; Giáo trình Lịch sử Đảng cộng sản Việt Nam, Nxb Giáo

dục, 2005 của Lê Mậu Hãn… đều ít nhiều đề cập đến cuộc cách mạng ruộng đất

ở Việt Nam nói chung, chưa đi vào nghiên cứu cải cách ruộng đất ở các địa phương, ở Kiến An

Trang 7

Ngoài ra cần phải đề cập đến tình hình nghiên cứu của sinh viên, học viên cao học, nghiên cứu sinh Trong đó phải kể đến Luận văn thạc sĩ của Vũ Thị Hải

- Đảng lãnh đạo thực hiện chính sách ruộng đất trong những năm 1945 – 1953; Luận văn tiến sĩ của Nguyễn Duy Tiến - Vấn đề ruộng đất ở Thái Nguyên từ sau

cách mạng tháng Tám 1945 đến hết cải cách ruộng đất, Lưu trữ tại thư viện

khoa Lịch sử, trường ĐH KHXH&NV

Về địa phương cũng đã có một số công trình nghiên cứu ít nhiều đề cập

đến vấn đề ruộng đất ở Kiến An như: Ban Chấp hành Đảng bộ Hải Phòng - Lịch

sử Đảng bộ Hải Phòng, tập II (1955-1975), Nxb Hải Phòng, 1996; Thành uỷ

Hải Phòng - 72 năm công tác tổ chức xây dựng Đảng của Đảng bộ Hải Phòng, Nxb Hải Phòng, 2002; Ban Chấp hành Đảng bộ quận Kiến An - Lịch sử Đảng

bộ quận Kiến An, Nxb Hải Phòng, 2000; Nguyễn Văn Khoan – Nhìn lại cuộc cải cách ruộng đất ở Hải Phòng - Kiến An, Tạp chí nghiên cứu lịch sử Mặc dù vậy,

những công trình này mới chỉ đề cập mang tính khái quát chung chứ chưa đi sâu nghiên cứu một cách cụ thể và toàn diện về cuộc cải cách ruộng đất ở Kiến An

Những công trình nghiên cứu trên đây đã có những tìm tòi, tiếp cận vấn

đề ở những góc độ khác nhau, gợi mở cho chúng tôi nhiều vấn đề trong quá trình

nghiên cứu một cách toàn diện và sâu sắc về quá trình “cải cách ruộng đất tại

4 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU

4.1 Đối tượng nghiên cứu

Trang 8

Đối tượng nghiên cứu của luận văn là nội dung các chủ trương, chính sách của Đảng; quá trình chỉ đạo thực hiện cải cách ruộng đất ở Kiến An

Trên cơ sở thu thập, tổng hợp những kết quả đạt được và những đánh giá của Đảng, của các cơ quan hữu quan trong việc chỉ đạo thực hiện; những công trình nghiên cứu liên quan nhằm làm rõ thêm một số bài học kinh nghiệm về việc thực hiện cải cách ruộng đất ở Kiến An

5.1 Tài liệu nghiên cứu

- Các văn kiện, Nghị quyết, Chỉ thị, Sắc lệnh, Thông tư của Đảng và Nhà

nước, Nghị quyết của Tỉnh uỷ, Uỷ ban hành chính kháng chiến tỉnh Kiến An về ruộng đất và việc thực thi chính sách ruộng đất

- Các Báo cáo của Ban Kinh tế Trung ương, Bộ Canh nông, Văn phòng Chính phủ, Ban ruộng đất Trung ương và UBKCHC các Liên khu, Tỉnh uỷ và

Uỷ ban hành chính kháng chiến Kiến An về việc thực thi chính sách ruộng đất trong những năm 1955-1957

- Các công trình nghiên cứu khoa học về cách mạng ruộng đất, về kinh tế nhà nước nói chung đã được viết thành sách hoặc đăng trên các tạp chí khoa học

- Tài liệu thống kê của Tổng cục thống kê

- Các luận văn cao học, luận án tiến sĩ

5.2 Phương pháp nghiên cứu

Phương pháp nghiên cứu chủ yếu sử dụng là phương pháp lịch sử, kết hợp với phương pháp logic Ngoài ra các phương pháp như so sánh, thống kê,

Trang 9

phân tích, tổng hợp cũng được vận dụng để giải quyết nội dung nghiên cứu của luận văn

6 ĐÓNG GÓP CỦA LUẬN VĂN

- Tái hiện một cách hệ thống quá trình thực thi cuộc cải cách ruộng đất ở Kiến An những năm 1955 -1957

- Rút ra nhận xét, đánh giá và nêu một số bài học kinh nghiệm về việc giải quyết vấn đề ruộng đất cho nông dân

7 KẾT CẤU CỦA LUẬN VĂN

Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo, phụ lục, luận văn gồm 2 chương:

Chương 1 Quá trình thực hiện cải cách ruộng đất ở Kiến An (1955-1956) Chương 2 Thực hiện công tác sửa sai, hoàn thành cải cách ruộng đất

(1956-1957)

Trang 10

Chương 1 QUÁ TRÌNH THỰC HIỆN CẢI CÁCH RUỘNG

ĐẤT Ở KIẾN AN (1955-1956)

1.1 Một số nét về địa lý, lịch sử và con người Kiến An

Địa danh Kiến An bắt đầu có từ năm 1906 Trước đây, năm Minh Mạng thứ 12 (1832), địa bàn Kiến An thuộc phủ Kiến Thuỵ, xứ Hải Dương

Ngày 11.9.1887, Pháp cho lập nha Hải Phòng trên cơ sở tách ra từ tỉnh Hải Dương, bao gồm các huyện: Nghi Dương, An Lão, An Dương (Phủ Kiến Thụy), 2 tổng của huyện Kim Thành cùng 4 xã của huyện Thủy Nguyên Ngày 1.11.1887, phủ thống sứ Bắc kỳ đặt tỉnh Hải Phòng Năm 1888, lập thành phố Hải Phòng, tỉnh lỵ Hải Phòng Ngày 19.1.1898, thành phố Hải Phòng tách ra khỏi tỉnh Hải Phòng, chuyển tỉnh lỵ Hải Phòng sang làng Phù Liễn, và đổi tên thành tỉnh Phù Liễn (5.8.1902), sau đó đến 17.2.1906 chuyển thành tỉnh Kiến An Từ đó, Hải Phòng là thành phố thuộc địa do người Pháp trực tiếp cai trị (Tòa Đốc lý), Kiến An là tỉnh bảo hộ vẫn duy trì bộ máy vua quan phong kiến cai trị bên cạnh Tòa Công sứ do người Pháp nắm quyền

Trong kháng chiến chống Pháp, xuất phát từ thực tiễn đấu tranh của thành phố Hải Phòng cần có sự hỗ trợ và phối hợp chiến đấu với tỉnh Kiến

An, ngày 26.11.1946, được sự chấp thuận của Trung ương Đảng và Chính phủ, Hải Phòng và Kiến An thực hiện việc hợp nhất thành liên tỉnh Hải Phòng – Kiến An Đầu năm 1949, Liên tỉnh Hải Phòng – Kiến An lại tách ra thành tỉnh Kiến An và thành phố Hải Phòng Trong các năm 1952-1953, sau trận càn “Con sứa” (Méduse), tháng 4.1951, Pháp lập tỉnh Vĩnh Ninh (gồm Vĩnh Bảo, Tiên Lãng, Tứ Kỳ, Ninh Giang, Thuỵ Anh) nhằm tạo vành đai cố thủ cho thành phố Hải Phòng Nhưng chính quyền kháng chiến của ta vẫn giữ nguyên đơn vị hành chính cũ Kiến An khi đó thuộc Liên khu 3 và có 5 huyện: Tiên Lãng, Hải An, An Lão, An Dương, Kiến Thụy (gồm 89 xã)

Trang 11

Trong đó chỉ còn vùng Tiên Lãng là địch không lấn chiếm được trọn vẹn, các làng xã khác hầu như thuộc vùng tề, chịu nhiều càn quét Tháng 5.1952, huyện Vĩnh Bảo được tách ra từ tỉnh Hải Dương và nhập vào Kiến An Sau hoà bình, ngày 26.9.1955, huyện Hải An của Kiến An sáp nhập vào thành phố Hải Phòng Như vậy cho đến năm 1955, địa bàn của Kiến An bao gồm 5 huyện: Tiên Lãng, Vĩnh Bảo, An Lão, An Dương, Kiến Thụy (gồm 84 xã)

Từ 1.1.1963, thành phố Hải Phòng và tỉnh Kiến An được sáp nhập lấy tên gọi là “Thành phố Hải Phòng”, thị xã Kiến An được giữ nguyên tên và hiện nay là quận Kiến An

Kiến An là một tỉnh nhỏ miền duyên hải với diện tích 900 km2; phía Bắc và Đông Bắc giáp Quảng Yên, phía Tây và Tây Nam giáp Hải Dương, phía Nam giáp Thái Bình, phía Đông giáp biển Tỉnh lỵ Kiến An cách Thành phố Hà Nội 92 km2 về phía Đông

Kiến An là vùng đồng bằng ven biển, ruộng đất tốt, diện tích ruộng đất toàn tỉnh khoảng 124.791 mẫu [3, 4] Dân số Kiến An vào thời điểm cải cách ruộng đất là 86.295 hộ với khoảng 368.000 nhân khẩu [3, 4] Phần lớn dân số Kiến An là nông dân, nguồn sống chính là dựa vào ruộng đất, một số nơi có nghề khác như đánh cá ở Đồ Sơn, nghề làm muối ở Tiêu Ban (Kiến Thụy), lẻ

tẻ có những nơi nông dân làm thêm nghề phụ như dệt vải, làm đồ gốm…

Kiến An là nơi gần thành phố Hải Phòng, địa bàn quan trọng nên trước cách mạng và trong thời kỳ kháng chiến đế quốc tập trung lực lượng ở đây

Cơ sở Việt Nam quốc dân Đảng cũng có ở một số nơi như Vĩnh Bảo, Kiến Thụy Các huyện lẻ tẻ đều có giáo dân, nhiều nhất là ở hai huyện Tiên Lãng, Vĩnh Bảo

Kiến An là 1 tỉnh có truyền thống cách mạng anh dũng, có cơ sở Đảng,

cơ sở cách mạng ngay từ thời kỳ tiền khởi nghĩa Trước Cách mạng Tháng Tám, nhân dân Kiến An dưới sự lãnh đạo của Đảng đã tham gia nhiều cuộc

Trang 12

đấu tranh chống đế quốc như phong trào đánh Nhật ở Tân Trào (Kiến Thụy), phong trào chống thuế, phá kho thóc Nhật chia cho dân nghèo

Sau Cách mạng, Kiến An là một trong những nơi đầu tiên tiến hành cuộc kháng chiến chống đế quốc Pháp xâm lược ở Bắc bộ Ba huyện An Lão,

An Dương, Kiến Thụy bị địch chiếm sâu Các huyện Tiên Lãng, Vĩnh Bảo đến năm 1950 cũng bị chiếm, sau trở thành khu du kích của ta

Trong thời gian kháng chiến, nhân dân Kiến An đã chiến đấu rất kiên cường, đánh bại các trận càn quét lớn nhỏ của địch như: trận tiêu diệt địch ở Hòn Dáu - Đồ Sơn, trận phá 5 máy bay ở Đồ Sơn, trận đột kích đánh vào thị

xã Kiến An, trận chống càn Claudese ở Tiên Lãng… Đặc biệt trong phối hợp với chiến trường Điện Biên Phủ, quân dân Kiến An đã đột nhập phi trường Cát Bi - Hải Phòng, phá hủy hoàn toàn 62 máy bay, tiêu diệt sinh lực địch, góp phần quan trọng vào thắng lợi của chiến dịch Điện Biên Phủ

Sau thắng lợi của chiến dịch Điện Biên Phủ 1954, theo quy định của hiệp định Giơ-ne-vơ, khu tập kết 300 ngày của thực dân Pháp bao gồm: Thành phố Hải Phòng và 4 tỉnh Kiến An, Hải Dương, Quảng Yên, Hòn Gai

Ở Kiến An, lực lượng địch tập kết tại thị xã Kiến An, Đồ Sơn và các huyện An Lão, An Dương, Kiến Thụy Với hệ thống cảng biển, sân bay (Cát

Bi, Kiến An, Đồ Sơn), Hải Phòng – Kiến An trở thành vị trí chiến lược quan trọng nhất trong khu tập kết 300 ngày Tại đây, các cơ quan quân, dân, chính

và binh lính Pháp dồn về chờ xuống tàu vào Nam Dân số Kiến An tăng vọt

do giáo dân từ các tỉnh Thái Bình, Nam Định, Ninh Bình và các huyện Tiên Lãng, Vĩnh Bảo bị địch dụ dỗ cưỡng ép vào Nam Tình hình Kiến An cũng trở nên phức tạp do địa bàn có nhiều đầu mối mật thám, gián điệp, tay sai do địch cài lại Các thế lực phản động đang nuôi âm mưu phá hoại lâu dài sự nghiệp xây dựng miền Bắc

Trang 13

Tình hình trên đặt ra cho Đảng bộ Kiến An nhiệm vụ cấp thiết trước mắt là hàn gắn vết thương chiến tranh, khôi phục kinh tế, ổn định đời sống nhân dân, trên cơ sở đó thực hiện nhiệm vụ còn lại của cuộc cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân – mang lại quyền sở hữu ruộng đất cho nông dân lao động

Kiến An là một tỉnh nông nghiệp, với trên 90% dân số làm nghề nông Trước cải cách, ruộng đất tập trung trong tay địa chủ, thực dân Pháp và nhà chung, nhất là nơi gần bờ biển, có nhiều ruộng sa bồi t hì địa chủ dựa vào thế lực đế quốc để khai khẩn Nông dân Kiến An thường không có ruộng đất hoặc thiếu ruộng, lại bị đế quốc, địa chủ phong kiến áp bức bóc lột thậm tệ về sưu thuế, tô tức, nên đời sống của nông dân vô cùng khổ cực Sau cách mạng, chính quyền dân chủ nhân dân được thành lập, một số tên địa chủ cường hào gian ác, tay sai của

đế quốc đã bị ta trừ khử Từ năm 1949, Đảng bộ Kiến An đã phát động quần chúng nhân dân hưởng ứng chính sách giảm tô của Đảng và Chính phủ Tuy nhiên việc thực hiện chính sách ruộng đất cũng gặp nhiều khó khăn do đặc điểm của Kiến An là vùng địch chiếm đóng Chủ yếu chúng ta mới thực hiện được ở những vùng du kích dưới hình thức vận động hiến điền, trưng vay cứu đói, và từ năm 1953 trở đi mới phát động phong trào đấu tranh giảm tô, giảm tức, rút ruộng công, ruộng đồn điền trong tay địa chủ chia cho nông dân thiếu ruộng Trải qua thời kỳ kháng chiến, đời sống nông dân được cải thiện một phần, giai cấp địa chủ cũng phân hóa rõ rệt, một số tên địa chủ có tội ác lớn cũng đã theo Pháp vào Nam Trong bối cảnh đó, Kiến An đã phát động quần chúng tiến hành cải cách ruộng đất ngay mà không qua phát động giảm tô

Trang 14

1.2 Tình hình chiếm hữu và sử dụng ruộng đất ở Kiến An trước cải cách ruộng đất

Từ sau cách mạng Tháng Tám đến trước cải cách ruộng đất, tình hình chiếm hữu và sử dụng ruộng đất của các giai cấp ở Kiến An có nhiều biến chuyển

Về thành phần, địa chủ Kiến An có xu hướng giảm mạnh từ sau cách

mạng tháng Tám đến trước cải cách ruộng đất Năm 1945, số hộ địa chủ là

316 hộ, chiếm tỷ lệ 3% hộ, và 1.776 nhân khẩu, chiếm 4.1% nhân khẩu Đến trước cải cách ruộng đất, số hộ địa chủ giảm 79 hộ, còn 237 hộ, chiếm 2% tổng số hộ, gồm 1.172 nhân khẩu, chiếm tỷ lệ 2.2% dân số toàn tỉnh

Mức độ giảm không giống nhau giữa các vùng Vùng du kích giảm mạnh hơn vùng tạm chiếm (xã Quang Phục – Tiên Lãng giảm 13 hộ, tỷ lệ giảm 48%), vùng tạm chiếm giảm ít hơn (tính riêng 8 xã vùng tạm chiếm ở ba huyện giảm 15 hộ, tỷ lệ giảm 21%)

Tỷ lệ địa chủ giữa các xã không đều nhau, có xã địa chủ chiếm tới 4% dân số (như xã Tân Hưng - huyện Vĩnh Bảo, xã An Hưng - huyện An

Trang 15

Dương); trong khi đó, có xã chỉ chiếm dưới 1% (xã Tân Trào - huyện Kiến Thuỵ) Ngoài 12 xã trên, trong tỉnh còn có 1 xã của huyện Tiên Lãng và 2 xã miền biển Đồ Sơn không còn địa chủ nào

Tình hình chiếm hữu và sử dụng ruộng đất của địa chủ cũng có nhiều

biến chuyển kể từ sau cách mạng Tháng Tám đến trước cải cách ruộng đất Năm 1945, tính trong toàn tỉnh, địa chủ chiếm khoảng 31.049 mẫu, chiếm tỷ

lệ 24.8% tổng diện tích ruộng đất của địa phương [3,18]

Đi sâu 12 xã điều tra, năm 1945, địa chủ chiếm 6.094 mẫu 9 sào, chiếm

tỷ lệ 34% ruộng đất của các xã Bình quân mỗi nhân khẩu là 3 mẫu 4 sào Nơi cao nhất là xã Hoà Nghĩa (Kiến Thuỵ), địa chủ chiếm 65% ruộng đất, bình quân mỗi nhân khẩu là 8 mẫu; xã thấp nhất là Đông Phương (Kiến Thuỵ), bình quân mỗi địa chủ chiếm hữu 1 mẫu 1 sào [3,18]

Từ năm 1945 đến trước cải cách ruộng đất, chiếm hữu ruộng đất của địa chủ có nhiều biến chuyển, được thể hiện qua bảng dưới đây:

Bảng 1.2 Tình hình ruộng đất chuyển đi của địa chủ Kiến An qua các

thời kỳ [3, 18]

Thời

kỳ

Số ruộng đất mà địa chủ đã chuyển đi

1953 5.947m1s 892m1s 834m 1.408m

9.081m2

s 1953-

Trang 16

Dựa vào bảng trên có thể thấy, tình hình chiếm hữu ruộng đất của địa chủ ở Kiến An có xu hướng giảm mạnh Nếu như năm 1945, địa chủ toàn tỉnh chiếm hữu 31.049 mẫu, chiếm tỷ lệ 34% ruộng đất địa phương, thì đến trước cải cách ruộng đất, đã giảm 15.682 mẫu (bao gồm ruộng phân tán, hiến điền,

bỏ hoang, bị tịch thu), tỷ lệ giảm 50.5%, địa chủ chỉ còn chiếm hữu chưa đầy một nửa so với trước đó, với diện tích chiếm hữu là 15.367 mẫu, chiếm 12.2% ruộng đất toàn tỉnh

Trong số ruộng đất chuyển đi của địa chủ, tỷ lệ ruộng đất phân tán nhiều hơn cả Địa chủ thường phần phán dưới các hình thức như: chia gia tài cho con cái, bán, cho chuộc, cho hẳn, hoặc giao canh Ở vùng du kích, địa chủ giao canh và cho là chính, còn vùng tạm chiếm chủ yếu là bán và cho thuê

Tỷ lệ giảm ruộng đất của địa chủ cũng khác nhau tùy thuộc vào từng thời kỳ và từng vùng Từ năm 1945 đến 1949, ruộng đất của địa chủ chỉ giảm 3.154 mẫu 8 sào do đây là thời kỳ đầu sau cách mạng thành công, chính sách của ta lúc đó cũng chưa động chạm nhiều đến quyền lợi của giai cấp địa chủ Nhưng từ năm 1949 đến năm 1953, Đảng và Chính phủ đẩy mạnh chính sách ruộng đất lên một bước, thực hiện giảm tô, giảm tức và thuế nông nghiệp thì địa chủ phân tán ruộng đất nhiều hơn nhằm chống lại chính sách của ta Cũng trong thời gian này, ở vùng du kích, ta còn có điều kiện thi hành chính sách tịch thu ruộng đất của địa chủ Việt gian phản động Vì vậy ruộng đất của địa chủ giảm gấp 3 lần so với thời kỳ trước (9.081 mẫu 2 sào) Từ năm 1953 trở

đi, do ảnh hưởng về thắng lợi quân sự của ta cùng với chủ trương phát động quần chúng triệt để giảm tô, giảm tức và thí điểm thực hiện cải cách ruộng đất

ở Thái Nguyên, địa chủ ở những vùng tạm chiếm cũng bắt đầu phân tán ruộng đất mạnh hơn Thời kỳ 1953-1955, ruộng đất của địa chủ giảm 3.446 mẫu

Về từng vùng, vùng du kích biến chuyển nhiều hơn vùng tạm chiếm Ruộng đất của địa chủ ở vùng du kích chỉ có phân tán, không có tập trung;

Trang 17

còn ở vùng tạm chiếm vừa có phân tán vừa có tập trung, do trong kháng chiến một số địa chủ ra làm tay sai cho Pháp, một số thuộc thành phần khác lên địa chủ hay địa chủ ở nơi khác đến

Phương thức bóc lột của địa chủ: là phát canh thu tô và thuê mướn

nhân công

Trước cách mạng Tháng Tám, giai cấp địa chủ bóc lột địa tô rất nặng từ

50 – 70% hoa lợi thu hoạch; thậm chí có nơi 100% về lúa, còn nông dân chỉ được hưởng một vụ màu phụ Dã man hơn, có địa chủ còn sử dụng hình thức thu tô đồng loạt và hằng năm nông dân phải biếu lễ tết khoảng 80 kg thóc thì mới tiếp tục được lĩnh canh ruộng đất vụ mùa sau

Địa chủ bóc lột nhân công dưới hình thức thuê người ở năm, ở tháng, ở mùa và làm ngày Bọn địa chủ cường hào gian ác thường sử dụng thủ đoạn bạc đãi nông dân, cho ăn uống khổ sở, có khi không trả công hoặc trả không đầy đủ Ngoài hình thức thuê mướn như trên, địa chủ còn dùng thủ đoạn nuôi con nuôi hay cưới vợ lẽ để bóc lột sức lao động của họ (địa chủ Tâm xã Toàn Nghĩa có 5 con nuôi)

Từ sau cách mạng Tháng Tám, hình thức và thủ đoạn bóc lột của địa chủ có giảm bớt, một số nơi nông dân đã đấu tranh đòi giảm tô từ 18 – 20% Tuy nhiên bóc lột phong kiến vẫn chưa bị xoá bỏ hoàn toàn Địa chủ chuyển sang hình thức bóc lột tinh vi hơn như thu tô rẽ, tô ngầm, tô nhân công Việc quỵt tiền công, bạc đãi người làm không còn nữa Tuy nhiên, một số địa chủ cường hào gian ác ở vùng tạm chiếm vẫn dựa vào uy thế của đế quốc để bóc lột như cũ

Sở dĩ có xu hướng giảm mạnh về thành phần giai cấp, mức chiếm hữu ruộng đất và mức độ bóc lột của địa chủ như trên là do những nguyên nhân sau:

Trang 18

- Ảnh hưởng của một số chính sách dân chủ của ta từ sau cách mạng Tháng Tám thành công như chia lại công điền, vận động giảm tô, thủ tiêu chế

độ quá điền… Trong kháng chiến ta đã tịch thu ruộng đất của một số địa chủ việt gian phản động chia cho dân cày nghèo, tạm giao ruộng đất vắng chủ cho nông dân cày cấy, do đó đã hạn chế phần lớn sự bóc lột của giai cấp địa chủ

- Do hoàn cảnh chiến tranh, một số ít địa chủ bỏ ruộng đi nơi khác làm

ăn, buôn bán… Một số hộ có thu tô nhưng nhẹ hơn trước Có nơi ruộng đất bị chiếm làm vành đai trắng nên bỏ hoang và việc thuê mướn nhân công cũng gặp nhiều khó khăn

1.2.1 Giai cấp nông dân

* Phú nông

Thành phần phú nông cũng có nhiều biến chuyển từ sau cách mạng

Tháng Tám đến trước cải cách ruộng đất, được thể hiện ở bảng dưới đây

Bảng 1.3 Biến chuyển thành phần phú nông ở 12 xã – Kiến An qua các

67 hộ, xuống còn 91 hộ, chỉ còn chiếm 0.77% ở 12 xã Số nhân khẩu cũng

Trang 19

giảm mạnh trên một nửa, từ 938 nhân khẩu xuống còn 412 nhân khẩu, từ 2.3% dân số còn lại chỉ chiếm 0.8% dân số trong các xã

Tỷ lệ phú nông trong các xã không giống nhau: Năm 1945, xã có tỷ lệ cao là Hoà Nghĩa (Kiến Thuỵ) phú nông chiếm 5.6%, xã có tỷ lệ thấp như Tân Trào (Kiến Thuỵ), tỷ lệ phú nông là 0.7% Đến trước cải cách ruộng đất,

tỷ lệ cao như xã An Tiên (An lão) mới có 1.2%, thấp như xã Đông Phương (Kiến Thuỵ) chỉ còn 0.2% [3, 11]

Về chiếm hữu ruộng đất của phú nông tương đối nhỏ bé, và có xu

hướng giảm được thể hiện ở bảng dưới đây:

Bảng 1.4 Tình hình chiếm hữu ruộng đất của phú nông ở 12 xã, qua

Tỷ lệ giảm giữa các vùng cũng khác nhau Vùng tạm chiếm giảm nhanh hơn vùng du kích Cụ thể từ năm 1945 đến năm 1953, vùng du kích giảm 46%, trong khi đó vùng tạm chiếm giảm 61.7% [3, 21] Nguyên nhân là

Trang 20

do ở vùng tạm chiếm việc thuê nhân công gặp nhiều khó khăn hơn, bên cạnh

đó một số ít phú nông đã chuyển lên thành phần địa chủ

Sau cách mạng Tháng Tám, chính sách của ta bảo tồn kinh tế phú nông, nhưng thành phần cũng như chiếm hữu ruộng đất của phú nông vẫn giảm mạnh là do hoàn cảnh thực tế trong kháng chiến: địch tàn phá, trâu bò bị bắn giết, công cụ sản xuất bị phá huỷ… Bên cạnh đó, cũng do ảnh hưởng của một

số chính sách ruộng đất của ta, đời sống nông dân lao động được cải thiện đáng kể, một số nông dân không phải đi làm thuê như trước nữa, vì vậy việc thuê mướn nhân công gặp nhiều khó khăn Nhiều phú nông đã chuyển dịch một phần ruộng đất bằng cách bán hoặc cho chuộc Năm 1951, ta lại lấy mốc quy định thành phần phú nông và ban hành chính sách thuế nông nghiệp, vì vậy phú nông càng trốn tránh nên đã phân tán một số ruộng đất vào tay nông dân Tính riêng trong 12 xã điều tra, từ năm 1945 đến năm 1953, phú nông đã phân tán 183 mẫu 6 sào 14 thước ruộng đất [3, 21]

Phương thức bóc lột của phú nông: chủ yếu sử dụng hình thức thuê

nhân công, một số ít cho phát canh thu tô và cho vay nợ lãi Thủ đoạn bóc lột nhân công của phú nông cũng khéo léo hơn, họ không bạc đãi nhân công như địa chủ, thường tranh thủ họ hàng thân thích đến làm công Phú nông cũng bóc lột tô phụ nhưng rất ít

Sau cách mạng, do việc thuê mướn nhân công gặp khó khăn nên phú nông chuyển sang phổ biến dùng hình thức phát canh thu tô, đặc biệt là ở vùng tạm chiếm (xã Đặng Cương, tỷ lệ phát canh ruộng đất của phú nông 1945-1949: 5%, đến năm 1953 là 35% [3, 12]) Ở vùng du kích phú nông thường cho họ hàng cấy không bằng hình thức giao canh, có phú nông cũng nhượng phần ruộng đất công cho nông dân cày cấy

* Nông dân lao động

Trang 21

Nông dân lao động là thành phần đông đảo nhất ở nông thôn với hơn 90% dân số Đi sâu vào 4 xã trọng điểm, thành phần nông dân lao động có chuyển biến như sau:

Bảng 1.5 Biến chuyển thành phần nông dân lao động ở 4 xã trọng

điểm qua các năm [3, 12]

Biến chuyển về thành phần nông dân lao động giữa các vùng không giống nhau Vùng tạm chiếm biến chuyển chậm hơn vùng du kích do ở đây, Pháp chia lại công điền theo nhân đinh như trước cách mạng, hơn nữa chính sách ruộng đất của Đảng và Chính phủ cũng ảnh hưởng rất ít Nhìn chung, cho đến trước cải cách ruộng đất, thành phần nông dân lao động có biến chuyển ở mức độ nhất định, song chưa phải là căn bản

Trang 22

Về sở hữu ruộng đất, trước năm 1945 nông dân không có ruộng hoặc thiếu

ruộng nghiêm trọng, bị địa chủ bóc lột tô tức, chiếm đoạt ruộng đất nên đời sống khổ cực, phải đi làm thuê làm mướn kiếm ăn, nhất là năm 1945, bần cố nông chết đói nhiều

Sau cách mạng, nông dân lao động hưởng ứng chính sách dân chủ của Đảng và Chính phủ đã đấu tranh đòi giảm tô, giảm tức… Ta lại chia ruộng đất công điền, tạm giao, tạm cấp ruộng đất vắng chủ, một phần đồn điền thực dân Pháp, ruộng hiến điền…cho nông dân cày cấy Mặt khác, giai cấp địa chủ chống phá chính sách của ta đã phân tán một phần ruộng đất vào tay nông dân Theo số liệu 12 xã điều tra, từ năm 1945 đến trước cải cách ruộng đất, địa chủ đã phân tán 1.403 mẫu ruộng đất vào tay nông dân (trong đó, vào trung nông 687 mẫu (48%), bần nông 381 mẫu (41%), cố nông 135 mẫu (9%) [3, 19] Sở dĩ trung nông và bần nông nhận được nhiều ruộng đất phân tán từ địa chủ hơn so với cố nông vì họ có khả năng mua hoặc chuộc lại Chỉ những vùng du kích, địa chủ mới phân tán bằng cách cho hoặc giao canh thì bần cố nông được nhiều ruộng đất hơn trung nông (xã Quang Phục, huyện Tiên Lãng, địa chủ phân tán ruộng đất vào trung nông 30 mẫu, vào bần cố nông 110 mẫu [3, 20])

Tính đến năm 1953, sở hữu và sử dụng ruộng đất của nông dân lao động tăng lên, đời sống của họ được cải thiện đáng kể

Bảng 1.6 Tình hình sở hữu và sử dụng ruộng đất của nông dân lao động ở

Trang 23

Số liệu trên đây cho thấy, tính chung cả ruộng đất sở hữu và sử dụng của nông dân lao động mới có 37.3% (1945), đến năm 1949 đã tăng lên 44.9%, và năm 1953 là 61.4% Có thể thấy, tình hình biến chuyển ruộng đất của nông dân lao động khá rõ rệt, tuy nhiên ruộng đất vẫn chưa căn bản về tay nông dân Phần ruộng đất nông dân đang cày cấy chưa thực sự thuộc quyền sở hữu của họ mà vẫn còn phổ biến nhận ruộng giao canh Theo số liệu 12 xã điều tra, tính đến trước cải cách ruộng đất, nông dân lao động mới sở hữu 27% tổng số ruộng đất ở địa phương, tính cả ruộng đất sử dụng là 70% Vì vậy vấn đề triệt để thực hiện “người cày có ruộng” là rất cần thiết

1.2.3 Đồn điền của thực dân

Tổng số ruộng đất đồn điền của thực dân Pháp trong toàn tỉnh có 854 mẫu, chiếm 0.67% [3, 16] Số ruộng này một phần do thực dân Pháp khai khẩn, phần khác do bỏ tiền ra mua

Ở nơi nhiều ruộng đất, phần lớn là vùng ven biển, địa chủ thực dân cho nông dân vỡ hoang cấy 1 – 2 vụ, sau phát canh thu tô như địa chủ, và giao cho người quản lý trông nom Nói chung mức độ bóc lột của địa chủ thực dân cũng nặng như địa chủ bản xứ

Sau cách mạng Tháng Tám, diện tích đồn điền của thực dân Pháp giảm nhẹ do ta tịch thu một ít ở những vùng căn cứ du kích Ở vùng tạm chiếm, nông dân mới chỉ đấu tranh đòi giảm tô Đến năm 1954, đồn điền của thực dân bị tịch thu hết và đem chia cho nông dân (trừ 500 mẫu đồn điền ở Ninh Hải giữ lại để xây dựng nông trường quốc doanh)

1.2.4 Ruộng đất của nhà chung

Nguồn gốc ruộng đất nhà chung là do nông dân công giáo cầu phúc cúng vào hoặc góp tiền mua, ngoài ra còn là ruộng đất chiếm đoạt được của nông dân công giáo khi họ vay nợ lãi mà không có khả năng trả, buộc phải cầm cố hay bán rẻ Ở những thôn công giáo toàn tòng, địa phương phải dành

Trang 24

ra một số ruộng thuộc loại tốt cho nhà chung Có nơi địa chủ bên lương bán lại ruộng đất cho nhà chung

Tổng số ruộng đất của nhà chung kể cả của hộ lẻ, vào năm 1945, có

718 mẫu 5 sào, chiếm 0.57% [3, 17] Nơi tập trung nông dân công giáo thì nhà chung ở đó có khá nhiều ruộng đất như: nhà xứ Liêu Dinh (An Lão) có

107 mẫu, chiếm 0.66% ruộng đất của địa phương; ruộng nhà chung của 2 xã Tam Cường và Cao Minh (Vĩnh Bảo) 98 mẫu 1 sào, chiếm 3.4% [3, 17]

Nói chung, ruộng đất của nhà chung chuyển biến rất ít Đến năm 1953,

ở vùng du kích Vĩnh Bảo, Tiên Lãng, ta mới chủ trương rút ruộng một số nhà chung, khoảng 200 mẫu để chia cho nông dân không có hoặc thiếu ruộng Trước cải cách ruộng đất, ta còn trưng thu, trưng mua thêm 400 mẫu nữa để chia cho nông dân

Vùng tạm chiếm, ruộng đất của nhà chung hầu như vẫn còn nguyên vẹn Đến trước cải cách ruộng đất, toàn tỉnh ruộng nhà chung chỉ còn khoảng trên 100 mẫu

Về hình thức bóc lột của địa chủ nhà chung cũng giống như địa chủ bên lương, thậm chí mức độ còn nặng nề hơn như bóc lột theo lối cống sưu Thường nhà chung chỉ phát canh một phần nhỏ ruộng đất, còn lại huy động nông dân công giáo làm không công gọi là “ngày công đức” (nhà xứ Liêu Dinh – An Lão có 107 mẫu, chỉ phát canh khoảng 30 – 40 mẫu, nhà xứ Nam

Am - Vĩnh Bảo có 51 mẫu nhưng không phát canh mà huy động giáo dân làm hết [3, 17])

Mức độ bóc lột tô của nhà chung cũng tương đương như địa chủ bên lương (Nhà xứ Hội Am - Vĩnh Bảo, có 25 mẫu phát canh cả, bóc lột mỗi mẫu

4 sào sản lượng loại tốt [3, 17]) Những năm mất mùa đói kém, nông dân công giáo vẫn phải nộp tô như thường lệ Thậm chí có nơi, nông dân công giáo phơi thóc ở sân sau nhà chung cũng phải nộp thêm cả tô sân [3, 17]

Trang 25

Ngoài ra, hằng năm, nông dân công giáo phải đóng góp tiền dầu đèn, lễ tết cha, lễ cưới… trung bình mỗi gia đình nông dân công giáo tốn khoảng 200 đồng tiền một năm

1.2.5 Vấn đề ruộng đất công và bán công

Ruộng đất công và bán công toàn tỉnh chiếm tỷ lệ 24% Tính riêng số liệu 12 xã điều tra, có 4.303 mẫu ruộng công và bán công trên tổng số 17.667 mẫu ruộng đất của địa phương, chiếm 24.4% [3,15]

Tỷ lệ ruộng đất công và bán công ở từng vùng khác nhau Vùng gần biển, có nhiều ruộng sa bồi thì ruộng đất công nhiều hơn như xã Cao Minh (Vĩnh Bảo), ruộng công chiếm 52.8% ruộng đất của xã Vùng không có bãi, hoặc ruộng công đã biến thành ruộng tư từ lâu thì có ít như xã An Tiên (An Lão) ruộng công chỉ chiếm 3.8% Có những nơi không có ruộng công như Vĩnh Long (Vĩnh Bảo)

Trước cách mạng Tháng Tám, ruộng công thường được sử dụng bằng cách quân cấp theo nhân đinh từ 18 đến 60 tuổi, thời gian trung bình quân cấp

3 năm 1 lần Nơi nào cũng để lại một số ruộng công để đấu cố, nhưng thường chỉ có địa chủ, phú nông mới có khả năng mua được, và đều là những ruộng gần, ruộng tốt (xã Tam Cường, huyện Vĩnh Bảo có 581 mẫu ruộng công thì

38 hộ địa chủ đã sử dụng 65 mẫu 8 sào, chiếm 11%; xã Hoà Nghĩa, huyện Kiến Thuỵ, một mình địa chủ Tâm chiếm đoạt tới 40 mẫu [3, 15])

Bần cố nông dù được chia ruộng nhưng vì quá túng thiếu, không có dụng cụ sản xuất nên cuối cùng lại cầm bán vào tay địa chủ, phú nông

Ruộng phe giáp, ruộng đình cũng được đem ra bán đấu cố hoặc đem phát canh lấy tiền thóc để cúng lễ, chè chén Riêng ruộng chùa thì nhiều nơi

tự canh hoặc thuê người làm

Sau cách mạng Tháng Tám, ta chủ trương chia lại ruộng công điền cho

cả nam và nữ, kể cả địa chủ, phú nông Nhưng dần dần, do ảnh hưởng chính

Trang 26

sách dân chủ của ta, và việc thuê mướn nhân công cũng gặp nhiều khó khăn nên địa chủ đã trả lại những ruộng công và bán công, nhất là từ năm 1949 trở

đi Ở Vùng du kích (Tiên Lãng, Vĩnh Bảo), năm 1953, ta đã chủ trương rút ruộng công và bán công trong tay địa chủ, đem chia cho nông dân không có hoặc thiếu ruộng Nơi không có ruộng công như Vĩnh Long (Vĩnh Bảo), ta đã tập trung ruộng đất bán công lại và chia cho nông dân Còn vùng tạm chiếm, ruộng đất công và bán công hầu như không biến chuyển

Nhìn chung, ruộng đất công và bán công có chiều hướng giảm mạnh, từ sau cách mạng đến trước cải cách ruộng đất Phần lớn số ruộng này đã chuyển vào tay nông dân Theo số liệu 12 xã điều tra, cho đến trước cải cách ruộng đất, trung nông đã sử dụng 1.081 mẫu 7 sào ruộng công, bần nông sử dụng 2.215 mẫu 9 sào, cố nông sử dụng 613 mẫu 8 sào Tổng cộng, ruộng đất công

do nông dân lao động sử dụng là 3.910 mẫu 4 sào trên tổng số 4.303 mẫu 5 sào ruộng đất công và bán công của 12 xã, chiếm tỷ lệ 99% [3,16]

Như vậy, đến thời điểm năm 1955, ruộng đất công và bán công đã căn bản vào tay nông dân, chỉ riêng vùng tạm chiếm mới giải phóng, địa chủ còn

sử dụng một ít (xã Đông Phương, huyện Kiến Thuỵ, địa chủ còn sử dụng 24 mẫu)

1.2.6 Nhận xét chung về tình hình giai cấp và ruộng đất ở nông thôn Kiến An trước 1955

Từ sau cách mạng Tám đến trước cải cách ruộng đất, tình hình giai cấp

và ruộng đất ở nông thôn Kiến An có nhiều biến chuyển

Theo số liệu 12 xã điều tra, năm 1945, giai cấp địa chủ chiếm 4% dân

số, chiếm hữu 34% ruộng đất toàn tỉnh Nếu tính cả ruộng đất của địa chủ nhà chung và địa chủ thực dân thì tỷ lệ chiếm trên 50% Nông dân với hơn 90% dân số, tính cả ruộng đất chiếm hữu và sử dụng chưa đầy 40%, bị địa chủ bóc lột nặng nề Kinh tế phú nông thì nhỏ bé, chỉ chiếm 6.5% ruộng đất toàn tỉnh

Trang 27

Trong kháng chiến, ta đã trừ khử một số tên địa chủ Việt gian phản động, tịch thu ruộng đất của chúng và một phần ruộng đất đồn điền thực dân Mặt khác, ta đã tiến hành một số chính sách hạn chế được sự bóc lột của địa chủ, làm yếu cơ sở kinh tế của giai cấp này

Về thành phần, cả địa chủ và phú nông đều có xu hướng giảm mạnh, và

có sự phân hóa ở các vùng Vùng du kích giảm mạnh hơn vùng tạm chiếm Riêng miền biển, địa chủ cường hào gian ác còn rất ít hoặc không còn địa chủ nào

Sở hữu ruộng đất của địa chủ cũng giảm mạnh Cho đến trước cải cách ruộng đất, giai cấp địa chủ toàn tỉnh chiếm chưa đầy 2% dân số và chỉ còn 12.2% ruộng đất

Mức độ bóc lột của địa chủ không còn nặng nề như trước Đến năm

1955, nhiều nơi địa chủ hầu như không còn bóc lột được nữa

Về nông dân lao động, trong thời gian kháng chiến được tạm chia, tạm cấp ruộng đất hay nhận ruộng phân tán từ địa chủ, phú nông nên cũng có chuyển biến về thành phần Số lượng bần, trung nông ngày một tăng, cố nông giảm xuống còn rất ít Đời sống của nông dân lao động cũng được cải thiện đáng kể Cho đến trước cải cách ruộng đất, nếu tính cả ruộng đất chiếm hữu

và sử dụng, nông dân lao động đã có 70%

Như vậy, biến chuyển tình hình nông thôn Kiến An sau Cách mạng Tháng Tám là rất quan trọng Những chính sách dân chủ của Đảng và Chính phủ gộp lại có giá trị nhất định ở mức độ nào đó trong việc thực hiện nhiệm

vụ phản phong Nó đã làm cho giai cấp địa chủ suy yếu cả về kinh tế và chính trị, ruộng đất phần lớn đã về tay nông dân, đời sống của nông dân lao động được cải thiện đáng kể Tuy nhiên, cũng phải thấy rằng, giai cấp địa chủ dù có biến hóa một phần nhưng chưa phải đã bị đánh đổ, cơ sở kinh tế bị suy yếu nhưng chiếm hữu ruộng đất vẫn còn tương đối nhiều, bóc lột phong kiến đã bị

Trang 28

hạn chế nhưng chưa bị xóa bỏ hoàn toàn Vì vậy, yêu cầu về ruộng đất của nông dân cần phải được giải quyết căn bản

1.3 Chủ trương cải cách ruộng đất của Đảng và Chính phủ

Ngay trong thời kì vận động thành lập Đảng, Nguyễn Ái Quốc đã nhận thức rõ tầm quan trọng của giai cấp nông dân trong cuộc cách mạng giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp ở Việt Nam Đến Hội nghị thành lập Đảng, trong Chánh cương vắn tắt, Nguyễn Ái Quốc đã xác định con đường cách mạng Việt Nam “làm tư sản dân quyền cách mạng và thổ địa cách mạng, để

đi tới xã hội cộng sản”[17, 2] Về nhiệm vụ cách mạng ruộng đất, Cương lĩnh nêu rõ: “Đảng phải thu phục cho được đại đa số nông dân, phải dựa vững vào hạng dân cày nghèo, phải hết sức lãnh đạo dân cày nghèo làm cách mạng thổ địa, đánh trúc bọn đại địa chủ và phong kiến”, "Thâu hết ruộng đất của đế quốc chủ nghĩa làm của công chia cho dân cày nghèo, bỏ sưu thuế cho dân cày nghèo" [17, 3]

Luận cương chính trị tháng 10.1930 của Đảng tiếp tục khẳng định nhiệm vụ mang lại ruộng đất cho nông dân: “thực hành cách mạng thổ địa cho triệt để… Tịch ký hết thảy ruộng đất của bọn địa chủ ngoại quốc, bổn xứ và các giáo hội; giao ruộng đất ấy cho trung và bần nông, quyền sở hữu ruộng đất về chánh phủ công nông”[17, 95]

Chủ trương của Đảng trong thời kì này đã thể hiện nhận thức đúng đắn

về vị trí của nông dân cũng như vấn đề ruộng đất ở một nước thuộc địa, đặt

nó thành một nhiệm vụ chiến lược gắn liền với nhiệm vụ giải phóng dân tộc

Từ năm 1939, tình hình thế giới có nhiều biến động, chiến tranh bùng

nổ, thực dân Pháp tăng cường đàn áp và bóc lột nhân dân ta Trước tình hình

đó, Đảng ta chủ trương ưu tiên nhiệm vụ giải phóng dân tộc lên đầu “lấy quyền lợi dân tộc làm tối cao, tất cả mọi vấn đề của cuộc cách mệnh, cả vấn

đề điền địa cũng phải nhằm vào cái mục đích ấy mà giải quyết”[18, 538-539]

Trang 29

Đến Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương lần thứ 8 (5.1941), Đảng ta xác định “Cuộc cách mạng Đông Dương hiện tại không phải là cuộc cách mạng tư sản dân quyền, cuộc cách mạng phải giải quyết hai vấn đề: phản đế và điền địa nữa, mà là cuộc cách mạng chỉ phải giải quyết một vấn đề cần kíp “dân tộc giải phóng [19, 119] Vì vậy, vấn đề ruộng đất, ta chủ trương chỉ tịch thu ruộng đất của bọn đế quốc, Việt gian chia cho dân cày nghèo, chủ trương chia lại ruộng đất cho công bằng, giảm địa tô, giảm tức…

Trong thời kì cao trào kháng Nhật cứu nước, khu giải phóng Việt Bắc được thành lập (6.1945) Chính quyền cách mạng ở khu giải phóng đã tiên phong thực hiện những chính sách của mặt trận Việt Minh, tịch thu ruộng đất của đế quốc, tay sai đem chia cho nông dân không có hoặc thiếu ruộng Thực

tế đó, cho phép người nông dân trong cả nước hy vọng vào một tương lai không xa: khẩu hiệu “người cày có ruộng” sẽ trở thành hiện thực

Trong kháng chiến chống thực dân Pháp, Đảng và Chính phủ đã ban hành nhiều chủ trương, chính sách để xây dựng kinh tế kháng chiến, đặc biệt

là việc thực hiện chính sách ruộng đất nhằm đem lại quyền lợi kinh tế cho nông dân Về vấn đề này, Hội nghị cán bộ lần thứ V (8.1945) khẳng định: Muốn xoá bỏ những tàn tích phong kiến, phát triển nông nghiệp, phải cải cách ruộng đất Song xuất phát từ đặc điểm của cách mạng nước ta, phương thức tiến hành cách mạng ruộng đất là: “Dùng phương pháp cải cách mà dần thu hẹp phạm vi bóc lột của địa chủ phong kiến bản xứ lại (ví dụ giảm tô) đồng thời sửa đổi chế độ ruộng đất (trong phạm vi không có hại cho Mặt trận dân tộc thống nhất chống thực dân Pháp xâm lược)…đó cũng là một cách ta thực hiện cách mạng thổ địa bằng một đường lối riêng biệt”[20, 199]

Cùng với sự phát triển của cuộc kháng chiến, từ năm 1949, Đảng đã chủ trương đẩy mạnh lên một bước việc thực hiện chính sách ruộng đất Thực hiện chủ trương đó, Chính phủ đã ban hành nhiều sắc lệnh, nghị định, thông

Trang 30

tư về chính sách ruộng đất, về giảm tô, giảm tức, như: Sắc lệnh 78/SL ngày 14.7.1949 ấn định mức địa tô và thành lập ở mỗi tỉnh một Hội đồng giạm tô; Sắc lệnh 75/SL ngày 1.7.1949 về tịch thu ruộng đất của những phạm nhân bị kết án làm phương hại đến nền độc lập quốc gia; Thông tư số 35/NV ngày 11.6.1949 quy định thể thức chia ruộng đất của Pháp kiều cho dân nghèo; Sắc lệnh 25/SL ngày 13.5.1950 quy định sử dụng ruộng đất vắng chủ; Sắc lệnh 88/SL ngày 22.5.1950 quy định thể lệ lĩnh canh ruộng đất; Sắc lệnh 89/SL ngày 22.5.1950 quy định việc giảm lãi, xoá nợ, hoãn nợ…

Việc thực hiện chính sách ruộng đất trong thời kỳ này đã từng bước giải quyết một phần nhu cầu về ruộng đất cho nông dân Tính chung lại từ cách mạng tháng Tám đến đầu năm 1953, ở miền Bắc, qua những cuộc cải cách từng phần, đã có tới 58,35% tổng số ruộng đất của thực dân và địa chủ cùng ruộng đất công đã được chuyển về tay nông dân [49, 72] Điều đó có ý nghĩa hết sức to lớn đối với việc cải thiện đời sống nông dân, bồi dưỡng lực lượng kháng chiến và thu hẹp thế lực của giai cấp địa chủ

Riêng ở Kiến An, việc thực hiện chính sách ruộng đất gặp nhiều khó khăn do đặc điểm của Kiến An là vùng địch chiếm đóng Chủ yếu mới thực hiện ở những vùng du kích dưới hình thức vận động hiến điền, trưng vay cứu đói

Bước sang năm 1953, cuộc kháng chiến của nhân dân ta đã phát triển mạnh mẽ trên tất cả các lĩnh vực, đặc biệt là quân sự Lực lượng vũ trang đã lớn mạnh cả về chất lượng và số lượng, quân đội ta đã giữ vững và phát huy thế chủ động chiến lược trên toàn chiến trường Điều kiện cho ta giành thắng lợi quyết định đang đến gần Yêu cầu chi viện sức người, sức của cho tiền tuyến ngày càng trở nên cấp bách Hơn bao giờ hết, việc huy động lực lượng của toàn dân

mà phần lớn là nông dân là điều tối cần thiết Muốn vậy, phải không ngừng bồi dưỡng lực lượng của nông dân, cải thiện đời sống của nông dân

Trang 31

Trong bối cảnh đó, Hội nghị Trung ương Đảng lần thứ IV họp từ ngày

25 đến 30.1.1953, đã kiểm điểm chính sách ruộng đất của Đảng trong những năm kháng chiến Hội nghị quyết định “Tiêu diệt chế độ sở hữu ruộng đất của thực dân Pháp và của bọn đế quốc xâm lược khác ở Việt Nam, xoá bỏ chế độ phong kiến sở hữu ruộng đất của địa chủ Việt Nam và ngoại kiều, thực hiện chế độ sở hữu ruộng đất của nông dân” [21, 153] Để thực hiện cải cách ruộng đất trong năm 1953 “cần phóng tay phát động quần chúng nông dân thực hiện triệt để giảm tô, giảm tức, chia lại ruộng công, chia hẳn ruộng đất của thực dân Pháp và Việt gian cho nông dân, chủ yếu là triệt để giảm tô, nhằm thoả mãn bước đầu yêu cầu chính đáng về kinh tế của nông dân… đập tan uy thế chính trị của địa chủ phong kiến, giành ưu thế chính trị cho nông dân lao động

ở nông thôn” [21, 154]

Ngày 12.4.1953, Chính phủ ban hành sắc lệnh 149 – SL/TƯ quy định chính sách ruộng đất của Đảng Tiếp đó, tháng 11.1953, Hội nghị Trung ương lần thứ 5 họp và thông qua Cương lĩnh ruộng đất của Đảng, nói rõ mục đích của cải cách ruộng đất: “Để cải thiện đời sống của nông dân, để đẩy mạnh kháng chiến, đánh đuổi đế quốc Pháp, can thiệp Mỹ, đánh đổ ngụy quyền, hoàn toàn giải phóng dân tộc Để giải phóng sức sản xuất ở nông thôn, đẩy mạnh sản xuất nông nghiệp, mở đường cho công thương nghiệp phát triển, lợi cho kháng chiến và kiến quốc…Nông dân yêu cầu được ruộng đất là một điều rất chính đáng, rất hợp với lợi ích giải phóng dân tộc Chỉ có thực hiện khẩu hiệu người cày có ruộng, làm cho hàng chục triệu nông dân hǎng hái tham gia kháng chiến, thì kháng chiến mới hoàn toàn thắng lợi, cách mạng chắc chắn thành công” [21, 574 - 575]

Để thực hiện được những mục tiêu trên, Cương lĩnh nhấn mạnh đường lối giai cấp của Đảng ở nông thôn là “dựa hẳn vào bần cố nông, đoàn kết chặt chẽ với trung nông, liên hiệp phú nông, tiêu diệt chế độ bóc lột phong kiến

Trang 32

từng bước và có phân biệt, để phát triển sản xuất, đẩy mạnh kháng chiến” [21,

431]

Đường lối trên thể hiện rõ quan điểm, thái độ của Đảng ta đối với

từng giai cấp, tầng lớp ở nông thôn Mục tiêu trực tiếp của cải cách ruộng

đất là đánh đổ giai cấp địa chủ, xoá bỏ chế độ phong kiến, đem lại ruộng đất

cho nông dân Điều đó không có nghĩa rằng đối tượng đấu tranh của cải

cách ruộng đất là toàn bộ giai cấp địa chủ với mức độ như nhau, mà chỉ chủ

yếu tập trung mũi nhọn vào hàng ngũ địa chủ đầu sỏ, phản động, gian ác

trong giai cấp địa chủ, chiếu cố thích đáng những địa chủ tham gia và ủng

hộ kháng chiến Do đó, phương châm của Đảng là “thoả mãn yêu cầu nông

dân, lại củng cố và phát triển Mặt trận dân tộc thống nhất, lợi cho kháng

chiến và lợi cho sản xuất Vì vậy trong khi thực hiện cải cách ruộng đất đối

với giai cấp địa chủ có phân biệt” [21, 431]

Về phương châm và phương pháp đấu tranh là “Làm cho quần chúng

tự giác, tự nguyện đấu tranh giành lại quyền lợi của mình, dùng lực lượng

nông dân để giải phóng nông dân…Phóng tay phát động quần chúng nông

dân; tổ chức giáo dục và lãnh đạo quần chúng nông dân đấu tranh, thực hiện

cải cách ruộng đất có kế hoạch, làm từng bước, đi đúng đường lối quần

chúng Tuyệt đối không dùng cách ép buộc mệnh lệnh” [21, 431]

Trên đây là đường lối chung, cơ bản của Đảng ta về thực hiện cải cách

ruộng đất Cụ thể, Cương lĩnh ruộng đất quy định đối với việc xử lý ruộng đất

như sau :

“1 Tịch thu ruộng đất, trâu bò, nông cụ, nhà cửa và tài sản của thực dân Pháp và của đế quốc xâm lược khác

2 Tịch thu ruộng đất, trâu bò, nông cụ, nhà cửa và tài sản của bọn

Việt gian phản quốc

Trang 33

3 Tịch thu hoặc trưng thu (tuỳ tội nặng nhẹ) ruộng đất, trâu bò, nông

cụ, nhà cửa và tài sản của địa chủ phản động và cường hào gian ác

4 Trưng thu ruộng đất công và ruộng đất nửa công nửa tư, bao gồm ruộng phe, ruộng giáp, ruộng tư văn, tư võ, ruộng các đoàn thể…

5 Trưng thu hoặc trưng mua (tuỳ trường hợp) ruộng đất của tôn giáo

6 Tịch thu ruộng đất, trâu bò, nông cụ, nhà cửa và tài sản của ngoại kiều hợp tác với đế quốc xâm lược Trưng thu ruộng đất trâu bò, nông

cụ của những địa chủ ngoại kiều khác

7 Trưng mua ruộng đất, trâu bò, nông cụ của địa chủ kháng chiến và địa chủ thường, song địa chủ kháng chiến được chiếu cố một cách thích đáng” [21, 575]

Đối với những ruộng đất vắng chủ hoặc ruộng đất bỏ hoang thì xử lý theo hình thức trưng thu hoặc trưng mua

Về đối tượng được chia ruộng đất bao gồm: bần, cố, trung nông, kể cả phú nông thiếu ruộng; các thành phần liệt sĩ, thương binh, bệnh binh, quân nhân cách mạng; các tầng lớp nghèo khổ khác ở nông thôn; trong những trường hợp cụ thể vẫn sẽ chia cho gia đình người thân của địa chủ, nguỵ binh, ngoại kiều, nhà chùa, nhà thờ, ruộng họ…

Nguyên tắc chia như sau [21, 485 - 488]:

1 Không chia bình quân, thiếu nhiều chia nhiều, thiếu ít chia ít, không thiếu không chia

2 Chia trên cơ sở nguyên canh, rút nhiều bù ít, rút tốt bù xấu, rút gần

bù xa

3 Chia theo nhân khẩu chứ không chia theo sức lao động Tuy nhiên đối với những hộ bần nông có ít người nhưng thừa lao động sẽ được chiếu cố chia hơn tiêu chuẩn một chút

Trang 34

4 Lấy số diện tích bình quân và số sản lượng bình quân ở địa phương làm tiêu chuẩn để chia

5 Chia theo đơn vị xã, ruộng nơi nào chia cho nơi ấy Tuy nhiên nếu trong 1 xã ruộng nhiều người ít thì có thể san sẻ một phần cho xã kế bên ít ruộng nguời đông, sau khi đã chia hết cho nông dân trong xã và được nông dân xã đồng ý

Trên cơ sở đường lối chung của Đảng, ngày 4.12.1953, Quốc hội khóa III đã thông qua Luật cải cách ruộng đất, gồm 5 chương, 38 điều, nhằm cụ thể hóa nội dung công tác cải cách ruộng đất Ngay sau đó, chủ tịch Hồ Chí Minh

đã kí sắc lệnh 197 – SL về Luật cải cách ruộng đất Thời điểm này, Kiến An đang bị tạm chiếm nên chưa có điều kiện thực hiện cải cách ruộng đất, tuy vậy, Đảng bộ Kiến An cũng đã phát động phong trào đấu tranh giảm tô, giảm tức, rút ruộng công, ruộng đồn điền trong tay địa chủ chia cho nông dân thiếu ruộng, vì vậy đời sống của nông dân Kiến An trong kháng chiến cũng được cải thiện một phần

Hòa bình lập lại, miền Bắc được hoàn toàn giải phóng, nhiệm vụ khôi phục kinh tế, hàn gắn vết thương chiến tranh, hoàn thành cải cách ruộng đất được đặt ra Nghị quyết Bộ Chính trị tháng 9.1954 một lần nữa khẳng định:

“Chia ruộng cho nông dân, xóa bỏ chế độ sở hữu ruộng đất của địa chủ phải

là chính sách bất di bất dịch của ta… Nếu không thực hiện việc tiêu diệt chế

độ ruộng đất của địa chủ thì cũng không thể tạo ra điều kiện căn bản để phục hồi và phát triển kinh tế Bởi vậy phải tiếp tục mở rộng và đẩy mạnh cải cách ruộng đất” [22, 297]

Báo cáo của Chính phủ trình bày trước Quốc hội khóa IV (3.1955) đã nhấn mạnh tác dụng toàn diện của cải cách ruộng đất đối với miền Bắc: Về chính trị, cải cách ruộng đất là củng cố nông thôn vững chắc, nền tảng của chính quyền dân chủ cộng hòa; có cải cách ruộng đất thì mới thực sự có dân

Trang 35

chủ Về kinh tế, cải cách ruộng đất tạo điều kiện căn bản để khôi phục và phát triển kinh tế nông nghiệp, xây dựng công nghiệp, đẩy mạnh thương nghiệp Cải cách ruộng đất là cải thiện dân sinh trước tiên cho nông dân

Trên cơ sở rút kinh nghiệm từ những sai lầm, hạn chế của các đợt giảm

tô và thí điểm cải cách ruộng đất trước đó, đồng thời căn cứ vào tình hình thực tiễn, chính sách cải cách ruộng đất của Đảng sau hòa bình lập lại đã có

sự điều chỉnh: rút khẩu hiệu “đánh đổ Việt gian phản động” đề ra trong kháng chiến, thu hẹp diện đấu tranh, sửa đổi phương pháp đấu tranh, đối với địa chủ cần “tăng cường tác dụng của chính quyền và pháp luật, dùng phương pháp tòa án” [22, 298] để đấu tranh; không vạch linh mục là địa chủ dù họ quản lý ruộng đất phát canh của nhà chung, mở rộng diện trưng mua, quy định việc hiến ruộng với những điều kiện rộng rãi hơn, chiếu cố những nhà công thương nghiệp kiêm địa chủ; kết hợp cải cách ruộng đất với trấn áp bọn phản cách mạng phá hoại hiện hành và chỉnh đốn chi bộ nông thôn vùng mới giải phóng

Trên tinh thần đó, một loạt các văn kiện đã ra đời nhằm cụ thể hóa chính sách cải cách ruộng đất trong thời kỳ này: Mấy vấn đề bổ sung vào chính sách cải cách ruộng đất đối với vùng mới giải phóng (được Hội đồng Chính phủ thông qua trong phiên họp trung tuần tháng 5.1955), Điều lệ phân định thành phần giai cấp ở nông thôn (số 472 TTg ngày 1.3.1955 của Thủ tướng phủ)…

Cải cách ruộng đất ở Kiến An được tiến hành vào đợt 5 - đợt cuối cùng (từ 25.12.1955 đến 30.7.1956) Nghị quyết cuộc họp thường trực của UBCCRĐ Khu Tả Ngạn và Bí thư các Đoàn ủy (12.1955) cũng đã đề ra mục đích và yêu cầu của cải cách ruộng đất đợt 5 như sau [12, 4]:

- Triệt để xóa bỏ chế độ chiếm hữu ruộng đất của giai cấp địa chủ phong kiến, xóa bỏ quyền chiếm hữu ruộng đất của địa chủ ở nước ta, thực

Trang 36

hiện chế độ sở hữu ruộng đất của nông dân, thực hiện người cày có ruộng, giải phóng sức sản xuất ở nông thôn khỏi ách phong kiến

- Phát động tư tưởng quần chúng, triệt để đánh đổ uy thế chính trị của giai cấp địa chủ, trước hết đánh đổ địa chủ cường hào gian ác đầu sỏ, tổ chức phản động, trấn áp những hoạt động hiện hành của bọn phản cách mạng và làm tan rã về căn bản cơ sở tổ chức phản động, thu vũ khí của địch còn lại và

vũ khí còn rải rác trong thời kỳ kháng chiến, xây dựng ưu thế chính trị của nông dân lao động, thực hiện nông dân lao động thực sự vĩnh viễn làm chủ nông thôn, xây dựng đoàn kết nhân dân, đoàn kết lương giáo

- Xây dựng và chỉnh đốn các tổ chức, chủ yếu là xây dựng chi bộ, làm cho chi bộ trong sạch, vững mạnh

- Đẩy mạnh sản xuất nông nghiệp để đảm bảo kế hoạch phục hồi và phát triển kinh tế 2 năm mở đường cho công - thương - nghiệp phát triển để xây dựng cơ sở cho nền kinh tế dân chủ mới, do đó nâng cao mức sống cho nhân dân và nông dân lao động, đẩy mạnh cuộc đấu tranh, củng cố hòa bình, thực hiện thống nhất nước nhà, hoàn thành độc lập, dân chủ trong cả nước

Đối với chỉnh đốn chi bộ nông thôn trong cải cách ruộng đất, nghị quyết cũng nhấn mạnh thêm: "về tư tưởng cũng như tổ chức, vạch rõ ranh giới giữa Đảng và giai cấp bóc lột, giữa Đảng ta và tổ chức chính trị phản động, triệt để phá tan tổ chức phản động ở trong Đảng, làm cho chi bộ trong sạch, vững mạnh" [12, 4]

1.4 Quá trình thực hiện cải cách ruộng đất ở Kiến An

Công tác tiến hành cải cách ruộng đất ở Kiến An do hai đoàn 3 và 4 phụ trách Cụ thể, đoàn 3 phụ trách 2 huyện Tiên Lãng, Vĩnh Bảo – vùng căn cứ du kích cũ của Kiến An; đoàn 4 phụ trách 3 huyện An Lão, An Dương, Kiến Thuỵ, thị trấn Đồ Sơn – vùng mới giải phóng (Kiến An) và Hải An (Hải Phòng)

Trang 37

Việc tiến hành cải cách ruộng đất do các đoàn trực tiếp chỉ đạo, Tỉnh uỷ Kiến An được xác định là phải phối hợp với các đoàn uỷ cải cách ruộng đất để cải cách ruộng đất đợt 5 hoàn thành thắng lợi

Hai đoàn song song tiến hành trong thời gian 5 tháng từ 1.1956 đến 5.1956, theo các bước: bắt rễ, xâu chuỗi, phát động quần chúng, vạch thành phần, truy thu thuế, thoái tô, chia ruộng đất, xác định diện tích, sản lượng để lập

sổ bộ thuế nông nghiệp, chỉnh đốn tổ chức, bồi dưỡng cán bộ, phát huy thắng lợi của cải cách ruộng đất

Cụ thể, Kiến An đã đạt được những kết quả chính sau:

Về chính trị:

Ta đã quy vạch đúng 1.769 địa chủ, đánh mạnh vào 190 địa chủ cường hào gian ác [3, 63], bộ phận phản động nhất của giai cấp địa chủ Ta cũng đã thanh thải được những phần tử xấu chui vào cơ quan lãnh đạo ở nông thôn

Kết hợp với cải cách ruộng đất, ta đã trấn áp bọn phản cách mạng, bọn phá hoại, khám phá ra một số vụ phá hoại và trừng trị thích đáng những tên cầm đầu, giải quyết một phần lớn tình hình hỗn tạp: nguỵ quân, nguỵ quyền, gián điệp, góp phần ổn định nông thôn Bên cạnh đó, ta cũng đã thu hồi một số vũ khí rải rác trong nông thôn, nhất là vũ khí của địch để lại trong tay các thế lực phản động, ngăn chặn được những tác hại có thể xảy ra

Về kinh tế:

Toàn tỉnh đã tịch thu, trưng thu, trưng mua được: 104.274 mẫu ruộng, 4.727 con trâu, bò; 6.570 nông cụ, 5.830 nhà cửa, 15.396 cân lương thực, 449.394 cân thuốc lào, 83 cân vàng, 239 thước vải, 21.700.700 đồng tiền [11, 6] (bao gồm tài sản của địa chủ; tài sản trưng mua của các thành phần khác; trưng thu của nhà chung, ruộng đất bán công bán tư; và tài sản của những hộ bị quy sai thành phần)

Trang 38

Trong đó ta đã lấy 14.501 mẫu 8 sào ruộng đất của địa chủ để chia cho nông dân Đồng thời tuyên bố công nhận quyền sở hữu thực sự cho nông dân đối với 12.148 mẫu trước đây địa chủ đã phân tán và nông dân sử dụng [3, 63] Mức bình quân chiếm hữu ruộng đất ở Kiến An đã thay đổi

Bảng 1.7 Bình quân nhân khẩu ruộng đất ở Kiến An trước và sau CCRĐ

[1, 32-33]

Trung nông 2 sào 7 thước 4 sào 2 thước

Ngoài ra ta cũng đã lấy trong tay địa chủ 1.609 con trâu bò, 2.266 chiếc cày bừa, 2.550 nhà cửa chia cho bần cố nông [3, 63]

Về chỉnh đốn tổ chức:

Công tác Đảng: Trước cải cách ruộng đất chỉ có 64 chi bộ Đảng ở nông thôn, nay đã có 107 chi bộ; nhiều nơi trước không có nay cũng đã xây dựng được như Kiến Thuỵ, ven đường 5 An Dương, ven thị xã và khu 1 An Lão

Toàn tỉnh đã kết nạp thêm 917 đảng viên cùng với số đảng viên cũ còn được ở lại Đảng là 1.299, tổng cộng là 2.216 đồng chí, trong đó có 586 đồng chí

nữ, 12 đảng viên công giáo Về thành phần có 764 cố nông, 1.028 bần nông, 397 trung nông, 27 ngư dân [11, 11-12]

Công tác chính quyền: nông dân lao động đã thực sự làm chủ nông thôn, các uỷ ban hành chính xã, công an, xã đội, du kích và trưởng xóm đều thuộc thành phần nông dân lao động

Trang 39

Công tác nông hội: toàn tỉnh đã kết nạp được 133.352 hội viên, trong đó

có 77.428 là nữ, 3.580 thuộc thành phần công giáo, 3.966 trước là nguỵ binh và 2.305 tề trước [11, 12]

Công tác thanh niên: Tỉnh đã xây dựng được Đoàn Thanh niên Lao động, kết nạp thêm 5.023 đoàn viên [11, 12]

*

* * Thực hiện chủ trương của Trung ương Đảng và được sự chỉ đạo trực tiếp của Khu Ủy và UBCCRĐ khu Tả Ngạn, cải cách ruộng đất ở Kiến An được tiến hành từ tháng 1.1956 đến tháng 6.1956 Bên cạnh những kết quả đạt được về kinh tế, cải cách ruộng đất ở Kiến An cũng đạt được những kết quả nhất định về chính trị và chỉnh đốn tổ chức

Cải cách ruộng đất ở Kiến An đã đánh đổ toàn bộ giai cấp địa chủ, xoá bỏ quan hệ bóc lột phong kiến ở nông thôn, đem lại ruộng đất, uy thế chính trị và quyền làm chủ cho nhân dân, tạo tiền đề đưa nông thôn tiến vào con đường hợp tác hoá nông nghiệp

Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đạt được, cải cách ruộng đất đã mắc phải những sai lầm nghiêm trọng: sai lầm về quy vạch thành phần, quy kết phản động, nghiêm trọng hơn cả là đánh cả vào nội bộ đảng, làm tê liệt các tổ chức cơ

sở đảng, biến đó thành một cuộc thanh đảng quy mô lớn Hậu quả của những sai lầm phổ biến, nghiêm trọng, kéo dài đã gây nên tình trạng chia rẽ, mất đoàn kết trong nông thôn, trong nội bộ Đảng, làm giảm sút niềm tin của quần chúng nhân dân vào Đảng

Trước tình hình đó, Đảng ta đã nhận thức được sai lầm, dũng cảm thừa nhận sai lầm và kiên quyết sửa chữa những sai lầm đó

Trang 40

Chương 2 THỰC HIỆN CÔNG TÁC SỬA SAI, HOÀN THÀNH CẢI CÁCH RUỘNG ĐẤT (1956-1957)

2.1 Những sai lầm trong cải cách ruộng đất ở Kiến An

Sai lầm về vạch thành phần:

Do không nghiên cứu kỹ, không thấy hết tình hình đặc điểm ở nông thôn, sự chuyển biến về thành phần giai cấp từ sau Cách mạng Tháng Tám, nên Khu đã chỉ đạo tỷ lệ không chính xác: 5% địa chủ, 25% địa chủ cường hào gian ác [12, 79], dẫn đến hậu quả quy vạch địa chủ bừa bãi

Cụ thể đoàn 3 đã vạch 2.820 địa chủ (tỷ lệ 4.4%), trong đó quy 721 địa chủ cường hào gian ác (tỷ lệ 25.5%) Đoàn 4 (bao gồm cả Hải An - Hải Phòng) đã vạch 2.192 địa chủ (tỷ lệ 4.4%), trong đó quy 624 địa chủ cường hào gian ác (tỷ lệ 28.4%) [40, 1]

Toàn tỉnh đã quy sai 4.300 hộ, trong đó, số bị quy sai lên phú nông là 2.072 hộ (tỷ lệ sai 85.5%); số bị quy sai lên địa chủ là 2.228 hộ (tỷ lệ sai 55.7%) Trong số 4.300 hộ bị quy sai, nhiều nhất là trung nông với 3.475 hộ trung nông bị quy sai thành phần (trong đó, 1.469 hộ bị quy nhầm thành địa chủ) Số bị kích sai lên địa chủ cường hào gian ác là 882 hộ (tỷ lệ sai 82.9%) [3, 45]

Sai lầm về quy kết phản động:

Quy kết phản động không đúng, đánh chệch đối tượng, đánh nhầm cả vào nội bộ Đảng, nội bộ nhân dân lao động và những thành phần khác trong Mặt trận một cách nghiêm trọng Toàn tỉnh đã bắt giam 1.774 người, phần lớn

là sai và hầu hết bị truy bức nhục hình, trong đó có 75 cán bộ đảng viên, 1.332 nông dân lao động, 90 phú nông, 55 thuộc thành phần khác Quản chế

361 người, đã xử 1.250 người (chết trong tù 40 người), sai 86.55% Đã tử hình 133 người, sai 44 người Trong số những người bị xét xử sai: quản chế

Ngày đăng: 12/09/2017, 18:58

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1.1. Biến chuyển thành phần địa chủ ở 12 xã Kiến An qua các thời kỳ - Luận văn thạc sĩ cải cách ruộng đất tại kiến an (1955 1957)
Bảng 1.1. Biến chuyển thành phần địa chủ ở 12 xã Kiến An qua các thời kỳ (Trang 14)
Bảng 1.2. Tình hình ruộng đất chuyển đi của địa chủ Kiến An qua các - Luận văn thạc sĩ cải cách ruộng đất tại kiến an (1955 1957)
Bảng 1.2. Tình hình ruộng đất chuyển đi của địa chủ Kiến An qua các (Trang 15)
Bảng 1.3. Biến chuyển thành phần phú nông ở 12 xã – Kiến An qua các - Luận văn thạc sĩ cải cách ruộng đất tại kiến an (1955 1957)
Bảng 1.3. Biến chuyển thành phần phú nông ở 12 xã – Kiến An qua các (Trang 18)
Bảng 1.5. Biến chuyển thành phần nông dân lao động ở 4 xã trọng - Luận văn thạc sĩ cải cách ruộng đất tại kiến an (1955 1957)
Bảng 1.5. Biến chuyển thành phần nông dân lao động ở 4 xã trọng (Trang 21)
Bảng 2.1. Thống kê tổng hợp điều chỉnh ruộng đất cho các hộ và các diện - Luận văn thạc sĩ cải cách ruộng đất tại kiến an (1955 1957)
Bảng 2.1. Thống kê tổng hợp điều chỉnh ruộng đất cho các hộ và các diện (Trang 61)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w