Chính vì những lý do trên, tôi đã quyết định lựa chọn đề tài "Tranh chấp chủ quyền trên Biển Đông giữa Việt Nam và một số nước trong ASEAN 1975-2015” cho bài khoá luận của mình.. Và cũn
Trang 1KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Lịch sử Việt Nam
Người hướng dẫn khoa học
TS NGUYỄN VĂN DŨNG
HÀ NỘI – 2017
Trang 2LỜI CẢM ƠN
Lời đầu tiên, em xin chân thành cảm ơn TS Nguyễn Văn Dũng, Trưởng khoa Lịch sử, Đại học Sư phạm Hà Nội 2, người thầy đã tận tình hướng dẫn em hoàn thành tốt khóa luận này
Em xin trân trọng cảm ơn các thầy cô trong và ngoài Khoa Lịch Sử, Đại học
Sư phạm Hà Nội 2 cũng chỉ bảo, giúp đỡ em trong quá trình làm khóa luận và đặc biệt đã nhiệt tình giảng dạy, hướng dẫn em trong suốt bốn năm học đại học tại trường
Cuối cùng xin chân thành cảm ơn gia đình, tất cả người thân, bạn bè đã ở bên
sẻ chia giúp đỡ động viên tôi trong suốt quá trình học tập và thực hiện khóa luận Xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, ngày 13 tháng 4 năm 2017
Sinh viên
Hoàng Tú Quyên
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi cam đoan đây là công trình nghiên cứu khoa học của riêng tôi Các số liệu được sử dụng có nguồn gốc rõ ràng, những đánh giá nhận định trong khóa luận do
cá nhân tôi nghiên cứu dựa trên những tài liệu xác thực và chưa được công bố ở bất
kì công trình nào
Hà Nội, ngày 27 tháng 3 năm 2017
Người thực hiện
Hoàng Tú Quyên
Trang 4MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 2
3 Mục đích, nhiệm vụ 3
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 3
5 Nguồn tư liệu và phương pháp nghiên cứu 4
6 Đóng góp của đề tài 5
7 Bố cục của khóa luận: 5
Chương 1 TRANH CHẤP CHỦ QUYỀN TRÊN BIỂN ĐÔNG GIỮA VIỆT NAM VỚI MỘT SỐ NƯỚC TRONG ASEAN GIAI ĐOẠN 1975-1995 6
1.1 Một số nét khái quát về Biển Đông và quá trình xác lập chủ quyền của Việt Nam trên Biển Đông 6
1.1.1 Khái quát về Biển Đông 6
1.1.2 Quá trình xác lập chủ quyền của Việt Nam trên Biển Đông 12
1.2 Tranh chấp Biển Đông giữa Việt Nam với một số nước trong ASEAN trước năm 1975 18
1.3 Tranh chấp chủ quyền trên Biển Đông giữa Việt Nam với một số nước trong ASEAN giai đoạn 1975 – 1995 23
1.4 Một số nhận xét 33
Chương 2 TRANH CHẤP CHỦ QUYỀN TRÊN BIỂN ĐÔNG GIỮA VIỆT NAM VỚI MỘT SỐ NƯỚC TRONG ASEAN GIAI ĐOẠN 1995-2015 40
2.1 Tranh chấp chủ quyền trên Biển Đông giữa Việt Nam với một số nước trong ASEAN giai đoạn 1995 – 2002 40
2.1.1 Việt Nam gia nhập ASEAN 40
Trang 52.1.2 Tranh chấp chủ quyền trên Biển Đông giữa Việt Nam với một số nước
trong ASEAN 42
2.2 Tranh chấp chủ quyền trên Biển Đông giữa Việt Nam với một số nước trong ASEAN giai đoạn 2002 – 2015 50
2.2.1 Tranh chấp với Philippines 51
2.2.2 Tranh chấp với Malaysia 57
2.2.3 Tranh chấp với Brunei 59
2.2.4 Tranh chấp với Thái Lan 61
2.2.5 Tranh chấp với Indonesia 62
2.3 Một số nhận xét 64
2.3.1 Tác động của tranh chấp Biển Đông đối với các bên tranh chấp 64
2.3.2 Một số nhận xét 65
KẾT LUẬN 71
TÀI LIỆU THAM KHẢO 74
Trang 6dư luận thế giới
Cuộc tranh chấp giữa các quốc gia trên khu vực Biển Đông diễn ra dưới mọi hình thức đấu tranh, từ đấu tranh chính trị, ngoại giao đến đấu tranh vũ lực Các quốc gia tranh chấp cũng thay đổi tùy theo thời cuộc Ngày nay, từ khi nhận thức được tầm quan trọng của Biển Đông thì số quốc gia tham gia tranh chấp ngày càng tăng lên Sóng Biển Đông tưởng chừng đã được xoa dịu khi các bên cùng ngồi lại, đàm phán và nhất trí thông qua Quy tắc hướng dẫn thực thi Tuyên bố về ứng xử của các bên ở Biển Đông Thế nhưng, khi Bộ quy tắc ứng xử Biển Đông chưa kịp hình thành thì hàng loạt sự kiện đáng tiếc đã diễn ra khiến tình hình tranh chấp Biển Đông thêm căng thẳng và việc giải quyết mâu thuẫn càng trở nên khó khăn Trong thời gian gần đây, các nước tranh chấp trong khu vực liên tục có những động thái nhằm khẳng định chủ quyền của nước mình Việc tranh chấp Biển Đông giữa các nước lúc này cũng đang trở thành tâm điểm trong quan hệ khu vực và quốc tế
Đối với Việt Nam, từ năm 1995 cho đến hiện nay chúng ta đã cùng một số đối tác ASEAN khác có chung lợi ích và quan điểm có thể làm việc cùng nhau bắt tay hình thành các cơ chế tạm thời nhằm giải quyết các vấn đề an ninh khẩn cấp, đặc biệt là liên quan tới tranh chấp Biển Đông Tuy nhiên, trên thực tế việc tranh chấp chủ quyền Biển Đông giữa Việt Nam và một số nước trong ASEAN lại chưa được
đi sâu vào nghiên cứu và chưa thu hút được sự quan tâm, chú ý của giới nghiên cứu
Trang 7Chính vì những lý do trên, tôi đã quyết định lựa chọn đề tài "Tranh chấp chủ
quyền trên Biển Đông giữa Việt Nam và một số nước trong ASEAN (1975-2015)”
cho bài khoá luận của mình
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Ngày nay, vấn đề tranh chấp chủ quyền trên Biển Đông (tên gọi của Việt Nam) hay South China Sea (tên gọi quốc tế) đã có nhiều công trình đề cập tới cả trong và ngoài nước Đã có nhiều quỹ liên quan tới Biển Đông được thành lập, có nhiều học giả đầu tư tiền bạc, trí tuệ để tìm hiểu về vấn đề Biển Đông Trong những năm gần đây, đã có khá nhiều luận văn, luận án tiến sĩ, công trình nghiên cứu khoa học đã tìm hiểu, khai thác, nghiên cứu các vấn đề liên quan tới biển, đảo; tranh chấp biển, đảo; các biện pháp giải quyết tranh chấp biển, đảo hay chủ quyền của Việt Nam trên Biển Đông Đó là những bài báo, những bài tham luận, những công trình được các tác giả thực hiện Và cũng có một số bài viết, tác phẩm nhắc đến sự tranh chấp trên Biển Đông của Việt Nam với các nước, đặc biệt trên quần đảo Trường Sa
như:“Tranh chấp quần đảo Trường Sa giữa Việt Nam và các bên liên quan từ năm
1909 đến nay” – Luận văn Th.S Vương Quốc Khanh; “Tranh chấp chủ quyền trên Biển Đông của các nước từ năm 2000 đến năm 2014” – Luận văn Th.S Bùi Đức
An;“Quần đảo Trường Sa giữa các mối căng thẳng ở Châu Á về xung đột ở Biển
Đông” - Virginie Raisson; “Công Ước Liên Hợp Quốc về luật biển và các tranh chấp trên biển tại Biển Đông” – Robert Beckman; Vũ Hữu San “Địa lý Biển Đông với Trường Sa và Hoàng Sa”, Ủy ban bảo vệ sự toàn vẹn lãnh thổ Việt Nam, xuất
bản năm 1995 tác giả đã trình bày một cách chi tiết về địa lý Biển Đông, địa lý quần đảo Trường Sa và Hoàng Sa, tài nguyên thiên nhiên và khái quát thực trạng tranh
Trang 83
chấp của các quốc gia có liên quan ở khu vực này, “Vấn đề khai thác chung giữa
Việt Nam và các nước trong khu vực Biển Đông” - Luận văn Th.S Đỗ Quốc Quyền,
“Khai thác chung trong luật biển quốc tế và thực tiễn trong quan hệ giữa Việt Nam
với các nước”- Luận văn Th.S Nguyễn Thị Lan Hương Tuy vậy, cho đến nay vẫn
chưa có công trình nào nghiên cứu diễn biến tranh chấp chủ quyền trên Biển Đông giữa Việt Nam và một số nước trong ASEAN giai đoạn 1975 – 2015 một các đầy
đủ Để hoàn thành đề tài này, tác giả đã ít nhiều kế thừa những công trình đi trước
để làm rõ hơn tình hình tranh chấp, giải pháp, kết quả của các tranh chấp chủ quyền trên Biển Đông này, đồng thời đưa ra những nhận xét, đánh giá đặc điểm chung và tác động chung đến các nước liên quan
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Đề tài phải làm rõ những vấn đề sau:
Thứ nhất, trình bày cụ thể tình hình tranh chấp chủ quyền trên Biển Đông giữa Việt Nam và một số nước trong ASEAN từ năm 1975 - 2015
Thứ hai, trình bày một số nhận xét, đánh giá, tác động quan điểm về tình hình tranh chấp chủ quyền trên Biển Đông từ năm 1975 - 2015
4 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
Trên Biển Đông đang tồn tại rất nhiều quan điểm, bất đồng về việc xác lập chủ quyền của các quốc gia cũng như còn khá nhiều mâu thuẫn trong việc phân chia lợi ích từ biển Chính vì vậy, nghiên cứu này không hướng tới việc tìm hiểu và giải quyết cụ thể từng tranh chấp, bất đồng mà chỉ tập trung nghiên cứu một cách chung nhất, khái quát nhất về những tranh chấp giữa Việt Nam và một số nước trong ASEAN như Philippines, Malaysia, Thái Lan, Campuchia,…
Trang 94
Thời gian nghiên cứu: khóa luận nghiên cứu về vấn đề tranh chấp chủ quyền Biển Đông giữa Việt Nam và một số nước trong ASEAN từ 1975-2015
Không gian nghiên cứu: khóa luận tập trung nghiên cứu ở địa bàn Biển Đông,
cụ thể tại các vùng biển chồng lấn và các thực thể địa lý tồn tại trên Biển Đông như đảo, quần đảo, đá,… giữa Việt Nam và một số nước trong ASEAN
Trong đề tài này, người viết tập trung nghiên cứu những tình hình, biểu hiện,
cơ chế, hành động giải quyết, tác động đối với tranh chấp chủ quyền trên Biển Đông giữa Việt Nam và một số nước trong ASEAN từ 1975-2015
5 Nguồn tư liệu và phương pháp nghiên cứu
5.1 Nguồn tư liệu
Khóa luận được thực hiện dựa trên những nguồn tư liệu mà tôi đã thu thập được trong quá trình nghiên cứu như:
- Tham khảo một số công trình nghiên cứu của các tác giả đi trước gồm các nhóm tài liệu như: các báo cáo kết quả công trình nghiên cứu khoa học, sách chuyên khảo, các luận án, luận văn, các bài báo khoa học được công bố trên các tạp chí chuyên ngành về vấn đề tranh chấp Biển Đông
- Tham khảo các cuốn sách như: Tranh chấp Biển Đông: Luật pháp, địa chính
trị và hợp tác quốc tế, Dấu ấn Việt Nam trên Biển Đông,…
- Tham khảo trung tâm dữ liệu trên các trang web chính thống
- Tham khảo nguồn tài liệu nước ngoài
5.2 Phương pháp nghiên cứu
Đề tài được thực hiện trên cơ sở vận dụng các nguyên tắc, phương pháp duy vật biện chứng và duy vật lịch sử của Chủ nghĩa Mác – Lênin, của tư tưởng Hồ Chí Minh kết hợp với các phương pháp nghiên cứu khoa học khác Quá trình nghiên cứu được bắt đầu bằng phương pháp thu thập thông tin qua sách báo, tài liệu để chọn ra những khái niệm và tư tưởng cơ bản làm cơ sở lý luận của đề tài, tiếp đó tác giả tiến hành việc phân tích các tài liệu đã thu thập được và tổng hợp chúng để xây dựng thành một hệ thống khái niệm, phạm trù mới cũng như các quan điểm, nhận định mang ý kiến cá nhân Trong quá trình thực hiện đề tài này người viết đã sử
Trang 105
dụng kết hợp nhiều phương pháp nghiên cứu như thống kê, sưu tầm, xử lí tư liệu, phân tích, so sánh, tổng hợp… nhưng chủ đạo vẫn là phương pháp lịch sử và phương pháp logic
6 Đóng góp của đề tài
Những kết quả nghiên cứu của đề tài góp phần tổng hợp, khái quát để đưa ra cái nhìn toàn diện đối với vấn đề tranh chấp Biển Đông và chủ quyền của các quốc gia trên biển nói chung Qua đó, bổ sung và nâng cao hơn tầm nhìn và sự hiểu biết
về cơ sở pháp lý xác lập và thực hiện chủ quyền của Việt Nam trên biển cũng như thực trạng và giải pháp đối với tranh chấp của Việt Nam với một số nước trong ASEAN tại Biển Đông Với những luận điểm, luận cứ đưa ra, khóa luận cũng góp phần làm phong phú hơn hệ thống tài liệu nghiên cứu về biển, đảo của Việt Nam Mặc dù các kết luận đưa ra theo quan điểm cá nhân nhưng có tham khảo ý kiến, bài viết của các chuyên gia về luật biển nên khóa luận có thể được sử dụng như tài liệu tham khảo cho các cá nhân đang quan tâm và có mong muốn tìm hiểu, nghiên cứu vấn đề Biển Đông trên góc độ lý luận và khoa học
Qua việc biểu dương sức mạnh pháp lý và tinh thần hòa bình trong vấn đề giải quyết tranh chấp Biển Đông của Việt Nam, nghiên cứu cũng thêm lần nữa khẳng định lập trường tôn trọng pháp luật quốc tế của Việt Nam, cùng mong muốn hợp tác hữu nghị với các nước láng giềng cũng như hi vọng được đón nhận thêm nhiều sự ủng hộ từ cộng đồng quốc tế
7 Bố cục của khóa luận:
Theo yêu cầu chung của một nghiên cứu khoa học, khóa luận có bố cục gồm
ba phần chính: Mở đầu, Nội dung và Kết luận Trong đó, phần nội dung được chia thành 2 chương:
Chương 1: Tranh chấp chủ quyền trên Biển Đông giữa Việt Nam với một số nước trong ASEAN giai đoạn 1975 - 1995
Chương 2: Tranh chấp chủ quyền trên Biển Đông giữa Việt Nam với một số nước trong ASEAN giai doạn 1995 - 2015
Trang 116
Chương 1 TRANH CHẤP CHỦ QUYỀN TRÊN BIỂN ĐÔNG GIỮA VIỆT NAM VỚI MỘT SỐ NƯỚC TRONG ASEAN GIAI ĐOẠN 1975-1995
1.1 Một số nét khái quát về Biển Đông và quá trình xác lập chủ quyền của Việt Nam trên Biển Đông
1.1.1 Khái quát về Biển Đông
Biển Đông là khu vực có tầm quan trọng chiến lược đối với Việt Nam cũng như các nước trong khu vực về địa - chiến lược, an ninh, giao thông hàng hải và kinh tế Theo quy định của Ủy ban Quốc tế về biển, tên của các biển rìa lục địa thường dựa vào địa danh của lục địa lớn, nằm gần nhất hoặc mang tên của một nhà khoa học phát hiện ra chúng Do nằm ở phía Nam đại lục Trung Hoa nên Biển Đông
có tên gọi là “South China Sea”
Hình 1.1: Toàn cảnh khu vực Biển Đông (Nguồn: http://tulieu.violet.vn/document/show/entry_id/114674)
Trang 127
“South China Sea” cũng là thuật ngữ tiếng Anh phổ biến nhất và là tên gọi
quốc tế của vùng biển này, được ra đời vì thời bấy giờ Trung Quốc là nước rộng lớn nhất, phát triển nhất, nổi tiếng nhất trong khu vực và đã có giao thương với các nước phương Tây qua con đường tơ lụa Tuy nhiên, tên gọi này chỉ mang ý nghĩa về mặt thuật ngữ mà không có ý nghĩa về mặt chủ quyền Chính vì vậy, các quốc gia còn có nhiều cách gọi khác nhau để phản ánh chủ quyền lịch sử của mình với khu
vực biển này như: “Biển Đông” theo cách gọi của Việt Nam, “Nam Hải” hay “Nam
Trung Quốc Hải” theo cách gọi của Trung Quốc, còn Philippines gọi là biển Luzon
theo tên hòn đảo lớn Luzon của nước này[62]
1.1.1.1 Vị trí địa lý, các địa danh và các quốc gia liên quan tới Biển Đông
Biển Đông nằm ở phía Tây của Thái Bình Dương, là một biển kín được bao bọc bởi đảo Đài Loan, quần đảo Philippines ở phía đông, các đảo Indonesia và bán đảo Malaysia ở phía nam và đông nam, bán đảo Đông Dương ở phía tây và lục địa Nam Trung Hoa ở phía Bắc Diện tích Biển Đông khoảng 3.400.000 km2, độ sâu
Thủy văn học quốc tế, đường ranh giới cực bắc của Biển Đông là đường nối điểm cực bắc của đảo Đài Loan đến Thanh đảo của Trung Hoa, gắn vị trí vĩ độ 25010‟N, ranh giới phía cực nam của biển là vùng địa hình đáy bị nâng lên giữa đảo Sumatra
và Borneo (Kalimantan) gần vĩ độ 3000‟S [70, tr.1]
Các địa danh trên Biển Đông
Biển Đông có các vịnh lớn như: Vịnh Bắc Bộ, Vịnh Thái Lan, các nhóm đảo lớn: quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa, các đảo, đá nhỏ cùng nhiều bãi cạn, bãi ngầm
và các vùng biển khác Trong đó, Vịnh Bắc Bộ là vịnh nước mặn, diện tích khoảng 160.000km2, chu vi 1.950km, với khoảng 2.300 hòn đảo lớn nhỏ, tập trung chủ yếu
ở phía bờ Việt Nam Đảo Bạch Long Vĩ của Việt Nam nằm khoảng giữa vịnh với diện tích 2,5km2, cách bờ biển Việt Nam khoảng 110km[70, tr.2] Theo Hiệp định Phân định Vịnh Bắc Bộ giữa Chính phủ nước CHXHCN Việt Nam và CHND
Trung Hoa thì: “Vịnh Bắc Bộ là vịnh nửa kín được bao bọc ở phía Bắc bởi bờ biển
Trang 138
lãnh thổ đất liền của hai nước Việt Nam và Trung Quốc, phía Đông bờ biển bán đảo Lôi Châu và đảo Hải Nam của Trung Quốc, phía Tây bởi bờ biển đất liền Việt Nam và giới hạn phía Nam bởi đoạn thẳng nối liền từ điểm nhô ra nhất của mép ngoài cùng của mũi Oanh Ca – đảo Hải Nam của Trung Quốc có tọa độ địa lý là vĩ tuyến 18030’19’’ Bắc, kinh tuyến 1080 41’17’’ Đông qua đảo Cồn Cỏ của Việt Nam đến một điểm trên bờ biển của Việt Nam có tọa độ địa lý là vĩ tuyến 16057’40’’ Bắc và kinh tuyến 107008’42’’ Đông”
Vịnh Thái Lan (còn gọi là vịnh Xiêm) nằm sâu vào phía bờ tây nam của Biển Đông là kết quả miền địa động học tách giãn, cắt trượt tạo địa hào, dọc kinh tuyến Vịnh dài khoảng 2.300km và có diện tích khoảng 293.000km2, được bao bọc bởi bờ biển của Việt Nam, Campuchia, Thái Lan và Malaysia[70, tr.2] Đây là một vịnh nông với độ sâu trung bình khoảng 60m, không có nhiều đảo nhỏ như Vịnh Bắc Bộ nhưng lại có nhiều đảo lớn như đảo Phú Quốc rộng hơn 568km2 Tài nguyên thiên nhiên của vùng biển này bao gồm hai loại: một bên là tài nguyên sinh vật biển với khoảng hơn 100 loài cá, trong số đó có khoảng 20 loài cá có tầm quan trọng về kinh
tế, và bên kia là tài nguyên khoáng sản chứa trong các trầm tích của thềm lục địa Quần đảo Hoàng Sa có nghĩa là "cát vàng" (tiếng Anh: Paracel Islands), nằm ở tọa độ: từ 15°45′ đến 17°15′ Bắc, từ 111°00′ đến 113°00′ Đông, là một nhóm khoảng 30 đảo và bãi đá cạn nằm trong một vùng rộng khoảng 14.000km2 Quần đảo nằm cách Đà Nẵng khoảng 170 hải lý về phía đông, cách Cù lao Ré (đảo Lý Sơn) khoảng 120 hải lý và cách đảo Hải Nam của Trung Quốc ở điểm gần nhất khoảng 140 hải lý[70, tr.3] Quần đảo gồm hai nhóm đảo là An Vĩnh (nhóm đảo phía Đông) và Lưỡi Liềm (nhóm đảo phía Tây), cùng nhiều bãi đá ngầm
Quần đảo Trường Sa (tiếng Anh: Spratly Islands; tiếng Trung Quốc: Nam Sa quần đảo; tiếng Tagalog: Kalayaan; tiếng Malaysia và tiếng Indonesia: KepulauanSpratly) là nhóm gồm hơn 100 đảo, bãi đá và rạn san hô phân bố trên một diện tích rộng 160.000 km2 đến 180.000 km2 [70, tr.3] Nằm trong Biển Đông, quần đảo Trường Sa được bao quanh bởi những vùng đánh cá trù phú và giàu có về tài nguyên dầu mỏ, khí đốt Mặc dù Trường Sa đã thuộc chủ quyền của Việt Nam từ
Trang 149
nhiều thế kỷ đến nay nhưng hiện tại có nhiều quốc gia khác cũng đang tuyên bố chủ quyền tại quần đảo này
Biển Đông được bao quanh bởi bờ biển của 9 quốc gia là: Việt Nam, Trung Quốc, Philippines, Malaysia, Brunei, Indonesia, Singapore, Thái Lan và Campuchia[70] Hầu hết các quốc gia có biên giới với vùng biển này đều đang tranh cãi và có những yêu sách khác nhau về chủ quyền cũng như các nguồn tài nguyên trên Biển Đông Luật biển năm 1982 của Liên Hiệp quốc cho phép các nước có vùng đặc quyền kinh tế mở rộng vùng biển của mình ra 200 hải lý từ lãnh hải của
họ, chính điều đó đã tạo lên những vùng biển chồng lấn trên Biển Đông [19]
Biển Đông có thể thông thương được với các biển Ấn Độ Dương, Thái Bình Dương và khu vực lân cận qua các eo biển Chính điều này đã tạo sự gắn kết và quan hệ mật thiết giữa Biển Đông và các quốc gia ngoài khu vực qua con đường giao thương hàng hải quốc tế
1.1.1.2 Vai trò của Biển Đông đối với đời sống cộng đồng quốc tế
Không chỉ là tuyến đường huyết mạch trong giao thương hàng hải, Biển Đông còn chứa đựng nguồn tài nguyên thiên nhiên đa dạng về chủng loại, phong phú về trữ lượng, đặc biệt quan trọng cho sự phát triển và thịnh vượng của các nước trong khu vực Có lẽ vậy mà không có một vùng biển nào trên Thế giới với diện tích tương đương lại chiếm một vị thế quan trọng về phương diện giao thông, kinh tế,chính trị, quân sự như Biển Đông
Trên bản đồ giao thông vận tải thế giới, tất cả các tuyến đường hàng không và hàng hải quốc tế nối liền hai khu vực Thái Bình Dương với Ấn Độ Dương hay tuyến đường huyết mạch nối liền Tây Âu, qua Trung Đông - Ấn Độ Dương đến Đông Nam Á đều đi qua Biển Đông Với sự góp mặt của hai cảng lớn thế giới là cảng Hong Kong ở phía bắc và cảng Singapore ở phía nam, Biển Đông cũng được coi là tuyến đường vận tải quốc tế nhộn nhịp thứ hai của Thế giới Khối lượng hàng hóa vận chuyển qua tuyến đường này rất lớn, chỉ riêng dầu lửa đã có hơn 90% nhu
Trang 15đi qua, Biển Đông được ví như một van điều tiết dòng chảy dầu thô giữa vùng Vịnh
và các nền kinh tế ở Đông Nam Á Như vậy, Biển Đông đang nắm giữ vị trí chiến lược trong giao thương hàng hải của các quốc gia khu vực nói riêng và cộng đồng quốc tế nói chung Nếu các loại tàu biển không chạy qua Biển Đông mà vòng qua Nam Australia hoặc đi theo đường mới thì cước phí vận tải sẽ tăng lên gấp nhiều lần, khi đó thiệt hại về kinh tế càng chứng tỏ tầm quan trọng của Biển Đông đối với đời sống cộng đồng quốc tế
Vai trò trong phát triển kinh tế quốc gia
Biển Đông là nơi chứa đựng nguồn tài nguyên thiên nhiên biển quan trọng cho đời sống và sự phát triển kinh tế của các quốc gia ven biển, đặc biệt là tiềm năng sinh vật biển và khoáng sản phong phú, đa dạng Với trữ lượng tương đối lớn cùng đối tượng khai thác đa dạng, nhiều sinh vật có giá trị sử dụng, xuất khẩu cao, hoạt động khai thác có thể tiến hành quanh năm, Biển Đông đã đem lại nguồn lợi kinh tế lớn cho các quốc gia khu vực Chính vì vậy, các nước như Trung Quốc, Thái Lan, Việt Nam, Indonesia và Philippines đều phát triển và trở thành những quốc gia đánh bắt và nuôi trồng hải sản đứng hàng đầu Thế giới
Biển Đông cũng được coi là một trong năm bồn trũng chứa dầu khí lớn nhất Thế giới với hầu hết các nước trong khu vực đều là những nước khai thác và sản xuất dầu khí từ biển như Trung Quốc, Việt Nam, Malaysia, Brunei, Indonesia, Thái Lan … trong đó Indonesia đã là thành viên của Tổ chức các nước xuất khẩu dầu khí (OPEC) Tại vùng biển và thềm lục địa Việt Nam đã xác định nhiều bể trầm tích có triển vọng dầu khí với tổng trữ lượng dự báo địa chất về dầu khí đạt xấp xỉ 10 tỷ tấn
Trang 1611
dầu quy đổi, trữ lượng khai thác khoảng 02 tỷ tấn và trữ lượng dự báo của khí
trữ dầu đã được kiểm chứng ở Biển Đông là 07 tỷ thùng với khả năng sản xuất 2,5 triệu thùng mỗi ngày Theo đánh giá của Trung Quốc, trữ lượng dầu khí ở Biển Đông khoảng 213 tỷ thùng, trong đó trữ lượng dầu tại quần đảo Trường Sa có thể lên tới 105 tỷ thùng Với trữ lượng này và sản lượng khai thác có thể đạt khoảng 18,5 triệu tấn mỗi năm, duy trì được trong vòng 15 đến 20 năm tới Các khu vực có tiềm năng dầu khí còn lại chưa khai thác là khu vực thềm lục địa ngoài cửa Vịnh Bắc Bộ và bờ biển miền Trung, khu vực thềm lục địa Tư Chính Ngoài ra, theo các chuyên gia Nga thì khu vực vùng biển Hoàng Sa và Trường Sa còn chứa đựng tài nguyên khí đốt đóng băng, trữ lượng loại tài nguyên này trên thế giới ngang bằng với trữ lượng dầu khí và đang được coi là nguồn năng lượng thay thế dầu khí trong tương lai gần Chính tiềm năng dầu khí chưa được khai thác được coi là một nhân tố quan trọng làm tăng thêm các yêu sách chủ quyền đối với hai quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa và các vùng biển quanh hai quần đảo
Cùng với khu hệ sinh vật biển phong phú, Biển Đông còn có cảnh quan thiên nhiên, các hệ sinh thái biển đa dạng với vùng triều cửa sông, rừng ngập mặn, rạn san hô, đầm phá ven biển, các đảo ven bờ và vùng khơi Chính điều này cũng tạo cho các nước khu vực Biển Đông một lợi thế về phát triển du lịch sinh thái biển Ngành du lịch biển có khả năng mang lại nguồn thu lớn cho nền kinh tế của các quốc gia ven biển nên đang giữ vai trò quan trọng và trở thành mũi nhọn phát triển
Phía tây nam Biển Đông giao lưu với Ấn Độ Dương qua eo biển Karimata và
eo biển Malaca Phía bắc và phía đông Biển Đông giao lưu thuận lợi với Thái Bình Dương qua các eo biển sâu rộng như eo biển Đài Loan rộng 100 hải lý, sâu 70m và
eo biển Bashi sâu hơn 1.800m[70, tr.2-3] Chính khả năng trao đổi với các vùng biển lân cận qua các eo biển này của Biển Đông đã tạo nên vị trí chiến lược quan trọng trong an ninh quốc phòng khu vực Các đảo và quần đảo trong Biển Đông cũng có ý nghĩa phòng thủ quan trọng đối với nhiều nước Trong đó, hai quần đảo
Trang 1712
Hoàng Sa và Trường Sa có vị trí chiến lược, có thể dùng để kiểm soát các tuyến hàng hải qua lại Biển Đông và dùng cho mục đích quân sự như đặt trạm ra đa, các trạm thông tin, xây dựng các trạm dừng chân và tiếp nhiên liệu cho tàu bè Các nhà chiến lược phương Tây cho rằng quốc gia nào kiểm soát được quần đảo Trường Sa
sẽ khống chế được cả Biển Đông
1.1.2 Quá trình xác lập chủ quyền của Việt Nam trên Biển Đông
Biển đảo là một phần lãnh thổ thiêng liêng của tổ quốc Trong quá trình xây dựng và bảo vệ đất nước, từ rất sớm cha ông ta đã có nhiều biện pháp thực thi chủ quyền trên biển, trong đó có quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa Việt Nam có đầy đủ chứng cứ lịch sử và pháp lý về chủ quyền trên Biển Đông đặc biệt với hai quần đảo này
Ngày 18/12/2003, Thủ tướng Chính phủ đã ký ban hành Nghị định số 70161/2003/NĐ-CP về Quy chế khu vực biên giới biển gồm 5 chương, 37 điều – quy định hoạt động của người, tàu thuyền Việt Nam, tàu thuyền nước ngoài trong khu vực biên giới biển nhằm quản lý, bảo vệ biên giới quốc gia trên biển, duy trì an ninh trật tự an toàn xã hội trong khu vực biên giới biển Trước đó, ở mỗi thời kỳ, trong mỗi lĩnh vực, Đảng và Nhà nước cũng đã có những biện pháp và hành động
cụ thể,thiết thực để thực hiện và bảo vệ chủ quyền lãnh thổ quốc gia trên biển Những hành động đó phần nào làm cho thế giới hiểu rằng vùng biển tranh chấp xưa
đã là của Việt Nam, đến nay vẫn thuộc chủ quyền của Việt Nam nên chúng ta sẽ kiên quyết bảo vệ nó tới cùng
Trước khi các nước khác tranh cãi chủ quyền với Việt Nam tại quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, theo pháp luật quốc tế thời đó thì sự xác lập chủ quyền của Việt Nam là thật sự, liên tục, hòa bình, phù hợp với cơ sở pháp lý quốc tế là Tuyên
bố của Viện pháp luật quốc tế Lausanne 1888[68] Việt Nam đã xác lập chủ quyền trên biển dựa trên nguyên tắc quyền phát hiện và chiếm hữu thực sự đối với lãnh thổ vô chủ mà không vấp phải sự phản đối của bất kỳ quốc gia nào
Trang 1813
Trong thời kỳ Pháp thuộc, khi chiếm cứ các đảo ở Hoàng Sa, Trường Sa chính quyền Pháp đã tuyên bố chủ quyền của mình thông qua các thông báo trong Công báo của Cộng hòa Pháp và Công báo Đông Dương Khi Nhật chiếm đóng Trường
Sa, Pháp cũng gửi công hàm phản đối các hành động quân sự của Nhật và khẳng định quần đảo này là một phần lãnh thổ của An Nam
Vào thời chính quyền Bảo Đại, Việt Nam cũng đã có những tuyên bố chính thức khẳng định chủ quyền đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa Đó là tuyên bố của thủ tướng kiêm Bộ trưởng ngoại giao Trần Văn Hữu, đại diện cho Việt Nam trong phiên họp thứ 7 tại Hội nghị hòa bình San Francisco vào ngày 07/09/1951 Khi các nước cùng có tham vọng bá quyền và đưa ra yêu sách trên hai quần đảo này Trước sự chiếm đóng bất hợp pháp của Trung Cộng bằng quân sự trên quần đảo Hoàng Sa, ngày 14 tháng 2 năm 1974 Chính phủ Việt Nam Cộng
Hòa đã tuyên bố rằng: “Quần đảo Hoàng Sa và Quần đảo Trường Sa là một phần
không thể cắt rời của lãnh thổ Việt Nam Cộng Hòa Chính phủ và toàn dân Việt Nam Cộng Hòa sẽ không khuất phục trước bạo lực và bác bỏ tất cả hoặc một phần chủ quyền của họ trên những quần đảo này” “Chính phủ Việt Nam cũng long trọng tái xác nhận chủ quyền của Việt Nam Cộng Hòa trên các hải đảo ngoài khơi miền Trung và Nam phần Việt Nam, đã luôn luôn được chấp nhận như một phần lãnh thổ của Việt Nam Cộng Hòa trên căn bản không thể chối cãi được về địa lý, lịch sử, chứng cứ hợp pháp và bởi vì những điều thực tế”
Nhà nước cũng nhiều lần công bố “Sách trắng” (năm 1979, 1981, 1980) về chủ quyền của Việt Nam đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, khẳng định hai quần đảo này là một bộ phận không thể tách rời của lãnh thổ Việt Nam và chúng
ta có đầy đủ chủ quyền đối với hai quần đảo này Trong các công hàm gửi các bên liên quan hoặc tại bàn đàm phán trong các Hội nghị, Việt Nam liên tục khẳng định chủ quyền của mình Bên cạnh đó, trước hành động chiếm đóng của Trung Quốc,Bộ ngoại giao cũng có những tuyên bố lên án Trung Quốc xung đột vũ trang và chiếm đoạt một số bãi đá ngầm tại Trường Sa
Trang 1914
Nhằm tạo cơ sở pháp lý vững chắc cho việc bảo vệ chủ quyền cũng như tạo nền tảng cho việc giải quyết tranh chấp, Việt Nam đã tiến hành đàm phán, gia nhập Công ước Luật biển 1982 và thương lượng, ký kết Hiệp định với các quốc gia láng giềng cũng như tiến hành soạn thảo, ban hành nhiều văn bản pháp lý quốc gia Việc xây dựng hệ thống pháp lý không những tạo điều kiện tiền đề cho Việt Nam xác lập chủ quyền mà còn tạo cơ sở vững chắc để chúng ta thực hiện và bảo vệ chủ quyền lãnh thổ quốc gia
Trước những năm 1975, chính quyền Việt Nam cũng đã có những hoạt động
cụ thể trong quản lý hành chính để thực hiện chủ quyền của mình trên Biển Đông
Có thể kể đến như việc sát nhập quần đảo Hoàng sa vào tỉnh Thừa Thiên (năm 1938), vào tỉnh Quảng Nam (năm 1961), sát nhập Trường Sa vào tỉnh Bà Rịa (năm 1933), vào tỉnh Phước Tuy (năm 1973); tiến hành các hoạt động cắm cờ, lập bia chủ quyền, cấp phép khai thác
Từ năm 1975, khi đất nước hoàn toàn thống nhất, Đảng và Nhà nước Việt Nam đã đề ra các chủ trương, chính sách và biện pháp quan trọng nhằm tăng cường quản lý Nhà nước về biển, xây dựng cho được thế và lực vững mạnh, đủ sức đấu tranh lâu dài, bảo vệ chủ quyền quốc gia trên biển đồng thời phát triển kinh tế biển Năm 1976, trong Nghị Quyết Đại hội Đảng lần thứ IV, Đảng ta có đưa ra chủ
trương: “… Phát triển nhanh đội tàu biển, xây dựng, mở rộng, quản lý tốt hệ thống
cảng biển” Năm 1982, Chính phủ quyết định thành lập huyện đảo Trường Sa thuộc
tỉnh Đồng Nai và huyện đảo Hoàng Sa thuộc tỉnh Quảng Nam – Đà Nẵng Sau nhiều lần điều chỉnh địa giới hành chính, huyện Hoàng Sa giờ đã thuộc thành phố
Đà Nẵng còn huyện Trường Sa thì thuộc tỉnh Khánh Hòa
Năm 1987 trong Nghị quyết số 06/NQ/TƯ ngày 30/11/1987 của Bộ chính trị
“Về bảo vệ chủ quyền Việt Nam đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, tăng
cường sự có mặt của Việt Nam ở Biển Đông và quần đảo Trường Sa” đã khẳng định
hai quần đảo này từ lâu đã là lãnh thổ Việt Nam, giữ vị trí hết sức quan trọng về mặt quốc phòng, an ninh và phát triển kinh tế biển của Việt Nam Việc Việt Nam đóng
Trang 2015
giữ trên quần đảo Trường Sa và thường xuyên có mặt trên Biển Đông là sự kiện có
ý nghĩa to lớn trong lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc Việt Nam
Với quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa, các vùng biển, thềm lục địa nhạy cảm
dễ bị các quốc gia khác yêu sách, tranh chấp, thì vùng ven biển, các đảo xa bờ là khu vực cần được ưu tiên hàng đầu Hiện khu vực đó cũng đã được củng cố vị trí vững chắc, nâng cao sức mạnh phòng thủ, đồng thời đầu tư thích đáng xây dựng cơ
sở hạ tầng, cơ sở dịch vụ hậu cần nhằm thu hút các hoạt động kinh tế biển, góp phần củng cố thế và lực của Việt Nam trên các vùng biển này
Nghị quyết 03-NQ/TW ngày 5/6/1993 của Bộ chính trị đã nhấn mạnh: “Vị trí
và đặc điểm địa lý của nước ta cùng với bối cảnh phức tạp trong vùng vừa tạo điều kiện, vừa đòi hỏi chúng ta phải đẩy mạnh phát triển kinh tế biển đi đôi với tang cường khả năng bảo vệ chủ quyền và lợi ích quốc gia, bảo vệ tài nguyên và môi trường sinh thái biển, phấn đấu trở thành một nước mạnh về kinh tế biển” Mục
tiêu chiến lược mạnh về kinh tế biển này đã được triển khai thực hiện theo chỉ thị số 399-CT/CT của Thủ tướng Chính phủ
Năm 1996, Đại hội lần thứ VIII lại tiếp tục nhấn mạnh tầm quan trọng của
biển và phát triển kinh tế biển với mục tiêu “khai thác tối đa tiềm năng biển và lợi
thế vùng biển, ven biển, kết hợp với an ninh quốc phòng” Tại Đại hội Đảng lần thứ
IX năm 2001, kinh tế khu vực biển và hải đảo lần đầu tiên được quy định trong mục riêng biệt: với mục tiêu xây dựng chiến lược phát triển kinh tế biển và hải đảo, phát
huy thế mạnh đặc thù của hơn 1 triệu km2 thềm lục địa Kết hợp chặt chẽ phát triển
kinh tế biển với bảo vệ an ninh vùng biển Hội nghị lần 4 Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa X năm 2007 về chiến lược biển Việt Nam đến năm 2020 có nêu rõ
mục tiêu: “đến năm 2020, phấn đấu đưa nước ta trở thành quốc gia mạnh về biển,
làm giảu từ biển, bảo đảm vững chắc chủ quyền, quyền chủ quyền quốc gia trên biển, đảo, góp phần quan trọng trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa, làm cho đất nước giàu, mạnh”
Tháng 4 năm 2007, Chính phủ Việt Nam quyết định thành lập thị trấn Trường Sa, xã Song Tử Tây và xã Sinh Tồn thuộc huyện Trường Sa Năm 2008,
Trang 2116
Chính phủ giao Bộ Tài nguyên và Môi trường thực hiện chức năng quản lý, tổng hợp và thống nhất về biển và hải đảo theo Nghị định 25/2008/NĐ-CP quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của
Bộ Tài nguyên và Môi trường Hiện tại, Việt Nam đang thực sự quản lý 21 đảo, đá
và bãi cạn thuộc quần đảo Trường Sa, không ngừng củng cố và phát triển cơ sở vật chất và đời sống kinh tế xã hội nhằm từng bước xây dựng huyện đảo, một bộ phận không thể tách rời của lãnh thổ Việt Nam thành đơn vị hành chính ngang tầm với vị trí và vai trò của nó trong hệ thống tổ chức hành chính của Nhà nước CHXHCN Việt Nam
Chiến lược phát triển kinh tế Việt Nam giai đoạn 2011-2020 có định rõ: đến năm 2020, các kinh tế biển nước ta sẽ đạt 55-60% kim ngạch xuất khẩu của cả nước[42] Điều đó cho thấy biển đảo đã và đang giữ vai trò quan trọng đối với sự phát triển đất nước và thật sự là không gian sinh tồn, mang ý nghĩa sống còn đối với đời sống kinh tế Trong nhiều năm qua, các nguồn lợi từ biển đã làm gia tăng đáng
kể tỷ lệ GDP của cả nước, góp phần to lớn cho quá trình phát triển kinh tế, xã hội Chính vì lẽ đó, Đảng và Nhà nước đã giành nhiều quan tâm cho việc xây dựng và phát triển kinh tế biển, đảo của Việt Nam Nhà nước đã chú trọng đầu tư và đề ra những chiến lược cụ thể cho việc phát triển kinh tế biển từng giai đoạn Song song với việc quản lý hành chính đối với khu vực biển là việc xây dựng các cụm hậu cần cho hoạt động biển xa, thiết lập hệ thống cảng biển, hiện đại hóa phương tiện vận tải hàng hải, tập trung khai thác hải sản, dầu khí và các nguồn lợi khác từ biển cũng như phát triển du lịch biển đảo Nhà nước cũng đã hỗ trợ phát triển nghề đánh cá xa
bờ, đóng mới nhiều tàu dịch vụ hậu cần nghề cá, xây mới nhiều công trình cảng và khu dịch vụ hậu cần nghề cá với tổng nguồn lực lên tới hàng trăm tỷ đồng
Hoạt động mà Việt Nam tiến hành không chỉ mang ý nghĩa tích cực đối với nền kinh tế nước nhà mà còn mang một thông điệp quan trọng tới bạn bè quốc tế là chúngta sẽ không dễ dàng chấp nhận hay nhân nhượng để bỏ qua tiềm năng phát triển từ biển, đảo của mình Chúng ta không chỉ phát triển để tạo điều kiện cho sự
Trang 2217
thuận lợi trong giao lưu thương mại hàng hải, tạo nguồn lực phát triển kinh tế vững mạnh hay tạo đà cho việc bảo đảm an ninh, quốc phòng của quốc gia cũng như toàn khu vực mà chúng ta phát triển để tạo thế và lực mới cho Việt Nam trong hội nhập vào nền kinh tế Thế giới
Ngay từ khi mới xác lập chủ quyền, Nhà nước Việt Nam đã có các hoạt động nhằm bảo vệ an ninh quốc phòng trên Biển Đông như: cử các đội thuyền Hoàng Sa
và Bắc Hải đến các đảo để thực hiện các hoạt động quản lý và cứu trợ tàu thuyền nước ngoài gặp nạn; cử đội cảnh vệ đến đồn trú thường xuyên tại đảo; xây bia chủ quyền, trạm hải đăng, trạm vô tuyến; tiến hành bắt giữ nhóm quân Trung Quốc giả dạng ngư dân xâm chiếm đảo
Việt Nam đã chủ động xây dựng và từng bước hoàn thiện thế trận quốc phòng – an ninh biển Đầu tư cơ sở vật chất, kỹ thuật ổn định, vững chắc, sẵn sàng đối phó với các tình huống phức tạp xảy ra trên biển Nâng cao trình độ khoa học về quân sự, an ninh, quốc phòng trên biển, nhất là sức chiến đấu và khả năng sẵn sàng chiến đấu bảo vệ biển của các lực lượng vũ trang trên biển và ven bờ Thành lập ban chỉ đạo Nhà nước về Biển Đông và hải đảo, tăng cường lực lượng nòng cốt cho quản lý và triển khai thực hiện nhiệm vụ bảo vệ biển, đảo Bên cạnh đó là tuyên truyền, tổ chức, giáo dục ý thức toàn dân về giá trị biển, đảo, về chủ quyền và lợi ích quốc gia trên biển, về trách nhiệm công dân với biển, đảo, về hành động cần thiết để thực hiện chiến lược biển, đảo
Các lực lượng chuyên trách được xây dựng để từng bước thực hiện việc đảm bảo an ninh, an toàn trên các vùng biển thông qua việc xây dựng các lực lượng và phương tiện để chỉ huy điều hành cứu hộ, cứu nạn như: hệ thống quan sát, trinh sát, cảnh giới từ xa, thông tin liên lạc hàng hải; thành lập đội tàu tuần tra biên phòng, kiểm ngư, hải quan; tổ chức xây dựng và trang bị cho lực lượng cảnh sát biển; xâydựng hệ thống đèn biển Việc thành lập hệ thống tổ chức Tiểu ban chuyên giải quyết những vấn đề liên quan đến quốc phòng – an ninh theo Nghị định 119/CP, sẽ
Trang 2318
từng bước hoàn thiện cơ chế bảo đảm quốc phòng, an ninh, đảm bảo việc thực hiện
có hiệu quả hơn
Để phát huy vai trò của kinh tế, pháp luật đối với an ninh quốc phòng, Nhà nước đã quan tâm đến các giải pháp như: kết hợp sự phát triển kinh tế biển với việc
ổn định và tăng cường an ninh quốc phòng, cụ thể hóa các nội dung chiến lược bằng pháp luật Tiếp tục đẩy mạnh giáo dục an ninh quốc phòng biển cho toàn dân, coi trọng bồi dưỡng các lực lượng trực tiếp hoạt động trên biển, nghiên cứu sâu hơn về
hệ thống pháp luật cũng như chiến lược của các nước trong khu vực và trên Thế giới để đề ra chính sách phù hợp và hiệu quả cho hoạt động bảo vệ chủ quyền của Việt Nam
Tóm lại, trong những năm qua, với chủ trương, đường lối đúng đắn của Đảng
và Nhà nước, Việt Nam đã tăng cường công tác quản lý biển, kết hợp kinh tế với quốc phòng trong sự nghiệp bảo vệ chủ quyền biển, đảo và phát triển kinh tế biển Bên cạnh đó, cũng kịp thời củng cố khả năng quốc phòng, tập thế ổn định về chính trị, giữ vững chủ quyền và lợi ích quốc gia trên các vùng biển và hải đảo, đặc biệt là khu vực Trường Sa, các vùng biển trọng yếu, đồng thời tạo bước đột phá cho việc phát triển kinh tế - xã hội trên các đảo có vị trí chiến lược quan trọng và một số ngành kinh tế mũi nhọn Hoạt động thực tiễn thực hiện chủ quyền của Việt Nam đang là cơ sở vững chắc và quan trọng giúp Việt Nam bảo vệ chủ quyền lãnh thổ biển của mình
1.2 Tranh chấp Biển Đông giữa Việt Nam với một số nước trong ASEAN trước năm 1975
Trên Vịnh Thái Lan, hai quốc gia láng giềng Việt Nam, Campuchia cùng có chung vùng biển tọa lạc ở phía tây của Biển Đông, tạo thành một vùng lõm rộng trên bờ biển phía Nam của lục địa Đông Dương, trải dài từ vĩ tuyến 50 đến 140 Bắc
và từ kinh tuyến 990 đến 1050 Đông và kết thúc ở phía Bắc Đông Bắc ở mũi Cà Mau tại 8036‟ Bắc – 102021‟ Đông Vùng biển giữa Việt Nam – Campuchia là một biển nửa kín với diện tích khoảng 300.000 km2, giới hạn bởi bờ biển của bốn nước
Trang 2419
Thái Lan, Việt Nam, Malaysia và Campuchia Vịnh có chiều dài gần 450 hải lý, chiều rộng trung bình 208 hải lý (385km), thông ra Biển Đông ở phía Nam bằng một cửa duy nhất hợp với mũi Cà Mau và mũi Trenggranu cách nhau chừng 215 hải
lý (400km)[59] Với khoảng 200 đảo nhỏ tập trung chủ yếu ở phía Đông và gần bờ biển cùng với những đặc thù về địa lý, tài nguyên thiên nhiên của vùng khiến việc phân định ranh giới các vùng biển tại Vịnh giữa Việt Nam với Campuchia hay giữa Việt Nam, Campuchia với Thái Lan càng trở lên phức tạp
Theo các tài liệu lịch sử cũng như công trình nghiên cứu của nhiều chuyên gia, từ đầu thế kỷ XVIII cho đến trước năm 1939, về lịch sử và pháp lý, toàn bộ các đảo giữa Việt Nam và Campuchia thuộc chủ quyền của Việt Nam Chỉ đến khi tranh chấp xảy ra xung quanh việc xin đặc nhượng (1913) và thu thuế các ngư dân trong vùng (1936 – 1937) thì vấn đề quy thuộc các đảo mới được đặt ra Do vậy chỉ từ năm 1939, Campuchia mới chính thức quản lý về mặt hành chính và cảnh sát đối với các đảo ở phía Bắc đường Brévié – đường được vạch ra theo bức thư mà Toàn quyền Đông Dương gửi cho Thống đốc Nam kỳ và khâm sứ Pháp ở Campuchia ngày 31/01/1939 Đó là đường vạch theo đường kinh tuyến Bắc một góc 140 G, vòng qua Bắc đảo Phú Quốc cách các điểm nhô ra nhất của bờ phía Bắc đảo Phú Quốc 3km (trong thư không nói rõ đường đó chấm dứt ở đâu) Tất cả các đảo ở phía Bắc con đường này từ nay sẽ do Campuchia quản lý; tất cả các đảo phía Nam con đường này kể cả toàn bộ đảo Phú Quốc sẽ tiếp tục do Nam Kỳ quản lý (trong thư dùng hai từ khác nhau, với Campuchia là “từ nay”, còn đối với Nam Kỳ là “tiếp
tục”) Bức thư nói rõ: “Đương nhiên là ở đây chỉ đề cập đến vấn đề hành chính và
cảnh sát, còn vấn đề quy thuộc lãnh thổ của các đảo này hoàn toàn được bảo lưu” Bức thư này được đồng gửi cho Khâm sứ Pháp ở Campuchia Ông này cho đăng bức thư trong Thông cáo Campuchia trong mục thông tư (nên về sau có người nhầm lẫn gọi là thông tư Brévié), khi đăng đã có cắt câu của bức thư khẳng định việc hoàn toàn bảo lưu vấn đề quy thuộc lãnh thổ Thống đốc Nam Kỳ đã không cho đăng bức thư Brévié trong Công báo Vì bức thư không được đăng trong Công báo Đông Dương và Công báo Nam Kỳ, bản được đăng ở Công báo Campuchia lại không
Trang 2520
đúng nguyên bản nên cho đến nay cả ta và Campuchia đều chưa tìm thấy sơ đồ của đường Brévié đính kèm theo bức thư của Toàn quyền Đông Dương Cũng vì vậy hiện nay có 4 cách thể hiện khác nhau của đường Brévié
- Đường Brévié được vạch ra nhằm giải quyết vấn đề hành chính và cảnh sát khi có tranh chấp xảy ra xung quanh việc xin đặc nhượng (1913) và thu thuế các ngư dân trong vùng (1936-1937) chứ không phải nhằm phân chia lại lãnh thổ các đảo của các quốc gia Campuchia cất quân đánh chiếm các đảo, Khmer Đỏ xâm lược Thổ Chu Đến năm 1956, Campuchia đưa quân ra chiếm đảo Phú Dự, chiếm nhóm đảo Bắc Hải Tặc năm 1958 và đảo Wai năm 1966[59]
Từ năm 1964-1967, Chính phủ Vương quốc Campuchia chính thức đề nghị Việt Nam công nhận Campuchia trong đường biên giới hiện tại theo bản đồ tỷ lệ 1/100.000 của Sở Địa dư Đông Dương thông dụng trước năm 1954 với 9 điểm sửa đổi, tổng diện tích khoảng 100km2 cũng như công nhận các đảo phía Bắc đường Brévié, đảo Thổ Chu và nhóm phía Nam đảo Hải Tặc thuộc chủ quyền của Campuchia[59] Năm 1967, Việt Nam đã cam kết tôn trọng toàn vẹn lãnh thổ của Campuchia trong đường biên giới hiện tại Trong năm 1972, chính quyền Lon Nol
ra Sắc lệnh về ranh giới thềm lục địa (số 439-72/PRK, ngày 1-7-1972) và Sắc lệnh quy định hệ thống đường cơ sở và lãnh hải Campuchia (số 518-721PKR, ngày 12-8-1972) quy thuộc các đảo Phú Quốc và Thổ Chu của Việt Nam vào lãnh thổ Campuchia
Trong Vịnh Thái Lan, Việt Nam và Thái Lan là hai nước có bờ biển đối diện, cùng có quyền mở rộng vùng biển của mình, do đó đã tạo ra một vùng chồng lấn rộng khoảng 6.074 km2[54] Ngày 18/5/1973, Thái Lan đơn phương vạch ranh giới ngoài của thềm lục địa của mình trong Vịnh và công bố các tọa độ của đường ranh giới này Đó là đường trung tuyến giữa một bên là bở biển và các đảo quan trọng của Thái Lan như Ko Phangun, Ko Samui với bên kia là bờ biển và các đảo quan trọng của các quốc gia liên quan như đảo Rong, Xalem của Campuchia, Phú Quốc, mũi Cà Mau của Việt Nam Yêu sách này của Thái Lan khai thác tối đa việc xác
Trang 26Trong suốt thời kỳ là thuộc địa của Tây Ban Nha (thế kỷ XVI đến năm 1898)
và sau đó là Mỹ từ 1989 (1898-1946), các chính quyền cai trị ở Philippines chưa bao giờ tuyên bố quần đảo Trường Sa hay bất cứ bộ phận nào của quần đảo này thuộc chủ quyền của Philippines
Mãi tới “ngày 17 tháng 5 năm 1950, Tổng thống Philippines Quirino tuyên bố với giới báo chí rằng quần đảo Trường Sa thuộc về Philippines nhưng tuyên bố đó của Tổng thống Quirino lại bị người phát ngôn của chính phủ Philippines lúc đó bác bỏ” Tại Hội nghị San Francisco ngày 7 tháng 9 năm 1951, phái đoàn Philippines do
Bộ trưởng Ngoại giao Carlos Romulo đứng đầu đã không có phản ứng gì khi Thủ tướng kiêm Bộ trưởng Ngoại giao Việt Nam Cộng hòa Trần Văn Hữu khẳng định hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa thuộc lãnh thổ Việt Nam
Cơ sở chiếm hữu của Philippines đối với một phần của quần đảo Trường Sa mới chỉ thực sự bắt đầu với sự kiện Tomas A Cloma cùng 40 người khác đổ bộ lên một vài đảo nhỏ ở Trường Sa, cắm cờ và đặt tên cho cho khu vực được họ chiếm đóng là Freedomland (trong tiếng Filipino là Kalayaan) Tháng 5 năm 1956, chính phủ Philippin nhận được một lá thư của Cloma kể về việc ông đã phát hiện ra một nhóm đảo nằm cách đảo Palawan 400 km về phía Tây Cloma tuyên bố sở hữu khu vực “bao gồm các đảo, các bãi cát, các bãi san hô và nơi đánh bắt cá với diện tích khoảng 64.976 dặm vuông” Tuy nhiên, trong thư gửi chính phủ Philippines, Cloma cũng nhấn mạnh rằng tuyên bố của họ thuộc về các công dân Philippines chứ không nhân danh chính phủ Philippines bởi các công dân không được quyền làm vậy Cloma cũng không quên yêu cầu chính phủ Philippines ủng hộ và bảo vệ tuyên bố
Trang 2722
của mình Trong thư trả lời Cloma vào tháng 12 năm đó, chính phủ Philippines đã không có câu trả lời cụ thể, rõ ràng nào đối với các yêu cầu của Cloma và cũng như không có tuyên bố chủ quyền của mình về khu vực mà Cloma gọi là Kalayaan này Ngày 17/6/1961, Philippines ban hành Đạo luật Cộng hòa số 3064 xác định đường cơ sở lãnh hải của nước này Điều 1 của Đạo luật xác định 64 đường cơ sở lãnh hải của Philippines nhưng chiếu theo tọa độ địa lý, góc phương vị và độ dài của các đường cơ sở này thì quần đảo Trường Sa không nằm trong các đường lãnh hải của Philippines Ngày 18 tháng 9 năm 1968, Philippines ban hành Đạo luật Cộng hòa số 5446 quy định sửa đổi Điều 1 của Đạo luật 3064 nhưng về cơ bản vẫn không có những điều chỉnh lớn về tọa độ địa lý của 64 đường cơ sở
Yêu sách chính thức của Philippines về chủ quyền đối với quần đảo Trường
Sa được đưa ra ngày 10 tháng 7 năm 1971 khi Tổng thống Ferdinand Marcos chính thức tuyên bố chủ quyền đối với một phần của quần đảo (Trường Sa) Tuyên bố ra đời với ba lý do: thứ nhất, do sự gần kề của đảo Ba Bình, sự hiện diện của các đạo quân Đài Loan ở đảo này đe dọa lợi ích quốc gia của Philippines; thứ hai, chính phủ Philippines tái khẳng định rằng quần đảo Trường Sa đã được thừa nhận là thuộc sự
ủy trị thực tế của Đồng minh (Allied Powers); và thứ ba, khẳng định 53 (có nghiên cứu nói là 33 đảo) đảo thuộc Freedomland do công dân Philippines là Cloma phát hiện và chúng được coi là vô chủ Tuyên bố của Tổng thống Marcos nhấn mạnh thêm rằng chính phủ Philippines đã thực sự “chiếm đóng và kiểm soát thực tế” đối với các đảo này, trong đó bao gồm các đảo được cho là đã được nước này đã chiếm đóng vào năm 1968 như đảo Thị Tứ (Pagasa - Thitu Island), đảo Vĩnh Viễn (Lawak
- Nanshan Island) và đảo Bình Nguyên (Patag - Flat Island)
Nhưng ngay từ đầu, tuyên bố của Philippines đã bị nhiều nước phản đối và được xem là tuyên bố yếu nhất về mặt lịch sử cũng như pháp lý trong các bên tranh chấp tại Trường Sa[62]
Năm 1971 Malaysia mới bắt đầu đưa ra yêu sách đối với Trường Sa Malaysia
mở đầu bằng sự việc Sứ quán Malaysia ở Sài Gòn ngày 03/02/1971 gửi Công hàm
Trang 2823
cho Bộ Ngoại giao Việt Nam Cộng Hòa hỏi rằng quần đảo Trường Sa hiện thời thuộc nước Cộng hòa Morac Songhrati Mead có thuộc lãnh thổ Việt Nam Cộng Hòa hay Việt Nam Cộng Hòa có yêu sách đối với quần đảo đó không? Ngày 20/4/1971, chính quyền Việt Nam Cộng Hòa trả lời rằng quần đảo Trường Sa thuộc lãnh thổ Việt Nam, mọi xâm phạm chủ quyền Việt Nam ở quần đảo này đều bị coi là vi phạm pháp luật quốc tế
1.3 Tranh chấp chủ quyền trên Biển Đông giữa Việt Nam với một số nước trong ASEAN giai đoạn 1975 – 1995
Ngày 10 tháng 5 năm 1975 quân Khmer Đỏ đánh chiếm đảo Thổ Chu, bắt và sát hại toàn bộ hơn 500 cư dân Việt Nam, biến Thổ Chu thành hòn đảo chết Sự kiện đó là đỉnh điểm của những hành động xuất phát từ ảo tưởng chủ quyền và bản chất tàn bạo của chế độ diệt chủng Pol Pot Tuy nhiên, không lâu sau đó Hải quân Nhân dân Việt Nam đã đánh đuổi quân Khmer Đỏ, giải phóng đảo Thổ Chu vào ngày 24 tháng 5 năm 1975
Năm 1976, chính quyền Pol Pot đòi lấy đường Brévié làm đường biên giới biển giữa hai nước vì theo họ “đường này đã được sử dụng như đường biên giới trong gần 40 năm qua” Đồng thời Khmer Đỏ đã tiến hành hàng loạt cuộc thảm sát tàn khốc đối với dân cư Việt Nam sinh sống trên các đảo này
Ngày 31-7-1982, Campuchia đã ra tuyên bố hệ thống đường cơ sở thẳng bao gồm cả các đảo nằm xa bờ như đảo Wai
- Hiệp định Vùng nước lịch sử là một điều ước quốc tế có giá trị pháp lý
Năm 1982, Việt Nam và Campuchia ký Hiệp định về Vùng nước lịch sử giữa hai nước Ngày 7/7/1982 Việt Nam và Campuchia ký Hiệp định về Vùng nước lịch
sử giữa hai nước, trong đó thỏa thuận tại Điều 3: “Hai bên vẫn lấy đường gọi là đường Brévié được vạch ra năm 1939 làm đường phân chia đảo trong khu vực này”
và “sẽ thương lượng vào thời gian thích hợp… để hoạch định đường biên giới biển giữa hai nước” [13] Tất cả các đảo nằm về phía Bắc của đường Brévié thuộc về Campuchia và những đảo còn lại thuộc về Việt Nam Vùng nước lịch sử sẽ được
Trang 2924
quản lý theo cơ chế “vùng nước chung”, các bên cam kết bảo đảm an ninh trên vùng nước này Đường biên giới trong vùng nước lịch sử sẽ được vạch ra theo phương thức như đã thực hiện tại các vùng biển khác
Đây là lần đầu tiên hai nước thừa nhận chủ quyền của các bên đối với các đảo giữa hai nước Hiệp định này đã nâng đường Brévié từ ranh giới quản lý hành chính
và cảnh sát thành đường phân chia chủ quyền đảo giữa hai nước nhưng cũng xác nhận giữa hai nước chưa có đường biên giới biển
- Nội dụng cơ bản của Hiệp định Vùng nước lịch sử là:
Thứ nhất, vùng nước nằm bên trong bờ biển tỉnh Kiên Giang, đảo Phú Quốc đến đảo Thổ Chu của Việt Nam và bờ biển Kampot đến đảo Poulo Wai của Campuchia là vùng nước lịch sử theo chế độ nội thủy;
Thứ 2, hai bên lấy đường Brévié vạch ra năm 1939 làm đường phân chia đảo trong khu vực này;
Thứ 3, việc tuần tiễu, kiểm soát trong vùng nước lịch sử này do cả 2 bên cùng tiến hành;
Thứ 4, việc đánh bắt hải sản của nhân dân địa phương trong vùng này vẫn tiếp tục theo tập quán làm ăn từ trước đến nay Đối với việc khai thác các tài nguyên thiên nhiên trong khu vực này hai bên sẽ cùng nhau thỏa thuận[13]
Về phương diện pháp lý, Hiệp định này đã đáp ứng đủ các điều kiện cần và đủ của một Điều ước quốc tế vì: Đây là kết quả của sự thỏa thuận giữa 2 Nhà nước của
2 Quốc gia có chủ quyền, đáp ứng đầy đủ nguyên tắc thỏa thuận, thể hiện đầy đủ ý chí của đôi bên, không có sự áp đặt, bất bình đẳng trong quan hệ quốc tế, phù hợp với những quy định hiện hành của luật pháp quốc tế
Hiệp định này được ký kết bởi người đại diện có thẩm quyền của 2 Nhà nước
là Bộ trưởng Bộ Ngoại Giao và được phê chuẩn bởi Cơ quan quyền lực cao nhất cuả 2 Nhà nước
Về những nội dung cụ thể của hiệp định đều là kết quả của sự vận dụng các nguyên tắc của luật pháp và thực tiễn quốc tế đã được thừa nhận, áp dụng một cách rộng rãi trong quan hệ quốc tế Hiệp định Vùng nước lịch sử có ý nghĩa to lớn trong
Trang 3025
việc củng cố mối quan hệ hữu nghị giữa 2 nước Việt Nam và Campuchia nói chung
và tạo sự ổn định, hòa bình và phát triển của vùng biển Tây Nam nói riêng
Đặc biệt là việc nâng đường Brévié được vạch ra năm 1939, từ phân định ranh giới quản lý hành chính và cảnh sát, lên thành đường phân chia chủ quyền các đảo,
là một sự vận dụng đúng đắn các nguyên tắc của Luật pháp quốc tế, có sự kết hợp một cách khách quan, cầu thị và đặc biệt là xuất phát từ thiện chí của người Việt Nam, một dân tộc đã từng không tiếc máu xương của biết bao thế hệ để vun đắp và giữ vững quan hệ hữu nghị truyền thống giữa 2 nước Việt Nam và Campuchia Thực hiện các nội dung của Hiệp định vùng nước lịch sử, công tác tuần tra kiểm soát tại vùng nước lịch sử được các lực lượng giữa 2 nước phối hợp thực hiện Cho đến nay, tranh chấp biển Việt Nam – Campuchia chủ yếu xoay quanh tính pháp lý của đường Brévié trong phân định biên giới do Campuchia kiên trì quan điểm muốn lấy đường do Toàn quyền Brévié vạch ra tháng 1 năm 1939 làm đường biên giới biển của hai nước còn Việt Nam không chấp nhận quan điểm này vì cả hai bên đều không có bản đồ đính kèm theo văn bản Brévié và vẫn có quá nhiều cách hiểu khác nhau trong việc xác định đường này Có thể kể đến như cách xác định đường Brévié của Chính quyền Pol pot khi công bố bản đồ nước Campuchia tháng
8 năm 1977, đó là đường vòng từ phía Bắc đảo Phú Quốc rồi trở lại về phía Đông Nam đảo theo một đường liên tục, điểm nào cũng cách bờ biển Phú Quốc 3 km; hay đường Brévié theo Bộ Tư lệnh Hải quân Sài Gòn (Việt Nam Cộng hòa) khi công bố đường ranh giới tuần tiễu trên biển, đường Brévié chấm dứt ngay ở Đông Bắc Phú Quốc; còn với đường Brévié trong luận án tiến sỹ của Sarin Chhak, Bộ trưởng ngoại giao Campuchia thời Sihanouk, được bảo vệ tại Pháp thì đường Brévié không phải
là một đường liên tục mà là một đường đứt đoạn với 4 đoạn cách nhau khá xa; với các học giả khác như Tiến sĩ Mark J Valencia thuộc trung tâm Đông – Tây của Hoa
Kỳ, giáo sư Nicholas Prescott người Australia thì đường Brévié được thể hiện trong những cuốn sách xuất bản năm 1985, 1981, lại là các đoạn thẳng, cách các điểm nhô
ra nhất của đảo Phú quốc 3km[46]
Trang 3126
Có thể thấy, nếu chuyển đường Brévié thành đường biên giới biển thì không phù hợp với thực tiễn và luật pháp quốc tế, quá bất lợi cho Việt Nam bởi vào những năm 1939 theo luật pháp quốc tế, lãnh hải chỉ là 3 hải lý, chưa có quy định về vùng đặc quyền về kinh tế và thềm lục địa[59] Hơn nữa, đường Brévié không phải là 1 văn bản pháp quy, chỉ là một bức thư gửi cho Thống đốc Nam Kỳ đồng gửi cho Khâm sứ Pháp ở Campuchia nên không thể áp dụng nó để giải quyết vấn đề phân định lãnh hải, vùng đặc quyền về kinh tế và thềm lục địa theo quan điểm hiện nay Tuy diện tích chồng lấn trong vùng biển giữa hai quốc gia là không lớn nhưng
do vị trí của vùng biển, yếu tố lịch sử và nguồn lợi hải sản nên đây là vấn đề mà hai bên rất khó giải quyết Việt Nam – Campuchia vẫn chưa tìm được tiếng nói chung trong việc phân định biển trên Vịnh Thái Lan, mỗi bên vẫn kiên trì bảo vệ quan điểm riêng của mình Điều này cũng là nguy cơ tiềm ẩn khiến quan hệ láng giềng giữa hai quốc gia trở lên phức tạp hơn và có thể theo chiều hướng xấu nếu đến một lúc nào đó lợi ích quốc gia trở thành động lực khiến các bên đánh mất đi tình hữu nghị
Do quan điểm sử dụng nguyên tắc phân định biển và điểm cơ sở để tính chiều rộng lãnh hải khác nhau, nên giữa Indonesia và Việt Nam có một vùng biển chồng lấn rộng lớn Chính vì vậy, từ năm 1978 đến năm 2003, hai nước Việt Nam và Indonesia đã tiến hành đàm phán cấp chuyên viên để phân định thềm lục địa trong vùng biển giáp ranh giữa hai nước Trong quá trình đàm phán, lập trường pháp lý của Việt Nam là theo nguyên tắc thoả thuận, công bằng, tôn trọng lợi ích của nhau, phù hợp với xu thế phát triển của luật biển quốc tế Giải pháp của Việt Nam đưa ra
là lấy căn cứ thềm lục địa, đó là sự kéo dài tự nhiên của lãnh thổ đất liền ra biển, cho nên ranh giới là rãnh ngầm phân chia thềm lục địa của hai nước nằm rất gần nhóm đảo Natuna phía Bắc của Indonesia
Trên thực tế cho thấy, đường đề nghị này tạo với đường yêu sách của Indonesia thành một vùng biển có sự chồng lấn giữa hai bên khoảng 98.000 km2[54, tr.134] Bởi vậy, tháng 10/1991, nhân chuyến đi thăm Indonesia của Thủ
Trang 3227
tướng Việt Nam Võ Văn Kiệt, hai bên đã ký thỏa thuận chia đôi vùng còn lại, song
do tình hình nội bộ Indonesia lúc đó không ổn định, không thống nhất phương pháp giải quyết phân định biển, nên thỏa thuận không được thực hiện
Năm 1971, Việt Nam đưa ra đường yêu sách của mình là đường trung tuyến vạch giữa một bên là Hòn Khoai, Thổ Chu và Poulo Wai với bên kia là bờ biển Thái Lan và đảo Ko Phangun, không tính đến các đảo đá nhỏ Ko Kra và Ko Losin của Thái Lan Trong thời gian từ năm 1977 đến năm 1982, Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã thông qua một loạt các Tuyên bố và Hiệp định liên quan đến đường cơ
sở, các vùng biển và thềm lục địa của Việt Nam trong Vịnh bao gồm có Tuyên bố
Chính phủ nước CHXHCN Việt Nam về chủ quyền đối với quần đảo Hoàng Sa và quần đảo Trường Sa (1974), Tuyên bố của Chính phủ nước CHXHCN Việt Nam về lãnh hải, vùng tiếp giáp, vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của Việt Nam (1977) và Tuyên bố của Chính phủ nước CHXHCN Việt Nam về đường cơ sở dùng
để tính chiều rộng lãnh hải Việt Nam (1982)[11,12,13] Tuy nhiên các hiệp định này
không vạch một ranh giới chính thức nào cho thềm lục địa và vùng đặc quyền kinh
tế, xong có nhấn mạnh sẽ cùng các quốc gia liên quan thông qua thương lượng trực tiếp để giải quyết các vấn đề về các vùng biển và thềm lục địa của mỗi bên, trên cơ
sở tôn trọng độc lập, chủ quyền của nhau, phù hợp với luật pháp và tập quán quốc tế Ngày 22/11/1982, Bộ Ngoại giao Thái Lan tuyên bố phản đối Tuyên bố về đường cơ sở của Việt Nam năm 1982 và "bảo lưu” mọi quyền mà luật quốc tế dành cho mình liên quan đến các vùng biển này và vùng trời trên đó Ngày 19/8/1992, Thái Lan bổ sung hệ thống đường cơ sở đã tuyên bố ngày 11/6/1970[54] Năm
1991, các bên đã có thỏa thuận hợp tác chung phát triển dầu khí trong khu vực tranh chấp và hợp tác về kinh tế, khoa học và kỹ thuật Hai bên đã thông qua biên bản liên quan đến vấn đề phân định các vùng biển như sau:
a) Hai bên cần hợp tác xác định ranh giới các vùng biển do hai nước yêu sách; b) Hai bên cần cố gắng phân định biên giới biển trong khu vực chồng lấn giữa hai nước;
Trang 33Trong giai đoạn 1986 – 1997, hai nước đã tiến hành đàm phán phân định biên giới trên biển Trong vịnh Thái Lan, hai nước Thái Lan và Việt Nam là hai nước có
bờ biển đối diện nhau, cùng có quyền mở rộng vùng biển của mình theo quy định của UNCLOS Từ năm 1992 đến năm 1996, hai nước đã tiến hành đàm phán cấp chuyên viên về phân định biển Cuộc họp tiếp theo tại Hà Nội từ ngày 20 đến 23/5/1993, phía Việt Nam đã đề nghị chia 50/50 vùng chồng lấn 1971 và 1973, nhưng phía Thái Lan vẫn giữ lập trường cũ Tới vòng đàm phán III từ ngày 10 đến 13/1/1995, hai bên đã thống nhất áp dụng nguyên tắc công bằng và phương pháp trung tuyến trong phân định biển nhưng lại không thỏa thuận được thế nào là công bằng và đường trung tuyến được tính giữa bờ và bờ hay giữa đảo và đảo Các vòng đàm phán sau đó, hai bên cùng đàm phán để thỏa thuận giải quyết vấn đề xác định hiệu lực của các đảo
Vào năm 1976, Philippines đã thông báo máy bay trực thăng của họ bị phía Việt Nam bắn cháy trong khi đang bay gần đảo Song Tử Tây Trong khi đó, yêu sách chính thức của Philippines về chủ quyền đối với quần đảo Trường Sa được đưa
ra ngày 10 tháng 7 năm 1971 khi Tổng thống Ferdinand Marcos chính thức tuyên
bố chủ quyền đối với một phần của quần đảo (Trường Sa) Từ năm 1968, Philippines đã chiếm đóng 3 đảo và sau đó chiếm thêm 5 đảo nữa và vạch một ô
Trang 3429
“hình quả trám” yêu sách hầu như toàn bộ quần đảo Trường Sa vào năm 1978[69]
Cụ thể Từ năm 1971 đến năm 1973 , Philippines đưa quân chiếm đóng 5 đảo; năm
1977 - 1978, chiếm thêm 2 đảo; năm 1979 Năm 1980, Philippines chiếm đóng thêm 1 đảo nữa nằm về phía Nam Trường Sa, đó là đảo Co do Tiến thêm một bước trong các nỗ lực tuyên bố chủ quyền đối với quần đảo Trường Sa, ngày 11 tháng 6 năm 1978, Tổng thống Ferdinand Marcos đã ký “Sắc lệnh Tổng thống số 1596 -gộp toàn bộ quần đảo Trường Sa, trừ đảo Trường Sa, vào trong một đơn vị hành chính, gọi là Kalayaan, thuộc lãnh thổ Philippines Tuyên bố một phần khu vực thực tế của lãnh thổ Philippines và hình thành chính quyền và hành chính” Sắc lệnh xác định
rõ tọa độ của “Nhóm đảo Kalayaan” và khẳng định chúng có vai trò sống còn đối với an ninh và kinh tế của Philippines Sắc lệnh này khẳng định đáy biển, tầng đất cái (subsoil), thềm lục địa và vùng trời nằm trong khu vực thuộc Nhóm đảo Kalayaan thuộc chủ quyền của Philippinies Khu vực này từ đây có tên gọi chính thức là Kalayaan, một chính quyền tự trị thuộc tỉnh Palawan nhưng lại được giám sát bởi Bộ Quốc phòng Cũng trong ngày 11 tháng 6 năm 1978, Tổng thống Marcos còn ký thêm “Sắc lệnh Tổng thống số 1599 thành lập vùng kinh tế đặc quyền và các mục đích khác” Sắc lệnh xác định vùng đặc quyền kinh tế, các quyền về chủ quyền, đặc quyền và quyền thực thi được luật pháp quốc tế thừa nhận
Để củng cố yêu sách chủ quyền của mình đối với khu vực Kalayaan ở quần đảo Trường Sa, Philippines đã tổ chức cuộc bầu cử đầu tiên ở Kalayaan vào ngày
30 tháng 1 năm 1980 Aloner M Heraldo được bầu làm thị trưởng đầu tiên Đến năm 1980, Philippin đã tiến hành chiếm thêm một số đảo, bãi đá ngầm…, đưa con
số các đảo và bãi đá của Philippines lên con số như hiện nay
Trong một động thái khác, ngày 25 tháng 4 năm 1982, Thủ tướng Philippines Cesar Virata đã đến thăm một số nơi mà họ gọi là Kalayaan Đặc biệt, chuyến đi này của Thủ tướng Philippines được đưa tin công khai ở Philippines và đây được coi như là một nỗ lực củng cố yêu sách về chủ quyền của Philippines đối với quần đảo này
Trang 3530
Sau tranh chấp giữa Philippines và Malaysia ở quần đảo Trường Sa vào năm
1988, Philippines đã không ngừng tăng cường lực lượng ở các đảo và bãi đã chiếm đóng, đồng thời xây dựng thêm cơ sở hạ tầng ở một số đảo Tháng 2/1993, Tổng thống Fidel V Ramos chỉ thị cho Bộ trưởng Du lịch Philippines cho xây dựng cơ sở
du lịch trên quần đảo và đến tháng 5/1993, Tổng thống Philippines ra lệnh cho quân đội nước này mở rộng đường băng trên đảo Thị Tứ
Sự kiện Trung Quốc đưa tàu và người đến bãi Vành Khăn (Mischief Reef) và xây dựng các cơ sở trên bãi này vào đầu năm 1995 (sự kiện Vành Khăn) đã làm cho Philippines mạnh tay hơn trong các biện pháp tuyên bố chủ quyền Ngoài công tác ngoại giao như thông báo sự kiện cho các đại sứ ASEAN và phản đối ngoại giao đối với chính phủ Trung Quốc, Philippines đã tăng cường sự có mặt của hải quân ở khu vực, tăng cường máy bay giám sát và thậm chí cho máy bay ném bom phá hủy các cột mốc do Trung Quốc đặt trên một số bãi đá và cho người đặt các cột mốc thay thế
Giữa Việt Nam và Malaysia có một vùng biển chồng lấn hình thành bởi đường ranh giới thềm lục địa do chính quyền Sài Gòn công bố năm 1971 và đường ranh giới thềm lục địa do Malaysia công bố năm 1979
Sở dĩ hình thành vùng biển chồng lấn là do chính quyền Sài Gòn có tính đến đảo Hòn Khoai cách đất liền 6,5 hải lý còn Malaysia đã bỏ qua đảo này khi xác định ranh giới thềm lục địa Trên thực tế cho thấy vùng biển giáp ranh giữa Việt Nam và Malaysia tồn tại một vùng biển chồng lấn trên thềm lục địa của hai nước rộng khoảng 2.800 km2 Khu vực này nằm ở cửa vịnh Thái Lan có độ sâu nhỏ, trung bình khoảng 50 m, địa hình đáy biển tương đối bằng phẳng Hai nước Việt Nam và Malaysia đều là thành viên của UNCLOS, cho nên nguyên tắc chung để giải quyết phân định thềm lục địa và vùng đặc quyền kinh tế là nguyên tắc công bằng đã được ghi nhận trong các Điều 74 và Điều 83 của UNCLOS[19] Yêu cầu của thực tế diễn
ra đó là hai bên phải tuần tự đàm phán, thu hẹp những bất đồng, nhằm tìm ra giải pháp công bằng mà hai bên có thể chấp nhận
Trang 3631
Tháng 4 năm 1991, Malaysia tổ chức các nhân sĩ, giới doanh nghiệp Nhật Bản
ra thăm đảo Đạn Hoàn, mưu đồ thu hút đầu tư Nhật Bản vào phát triển ngành du lịch ở đây Trên cơ sở hai nước đều là thành viên của UNCLOS, cho nên cả Việt Nam và Malaysia đều chấp nhận áp dụng các nguyên tắc của luật pháp quốc tế và những quy định của UNCLOS để giải quyết phân định biển Đầu năm 1992, trong chuyến thăm Kuala Lumpur của Thủ tướng Việt Nam Võ Văn Kiệt, một thoả thuận
về tiến hành đàm phán phân định thềm lục địa giữa hai nước đã được thông qua Tiếp sau đó, từ ngày 03 – 05/6/1992, tại Kuala Lumpur, vòng đàm phán đầu tiên giữa hai nước Việt Nam và Malaysia đã diễn ra và thành công tốt đẹp Trên cơ sở nội dung của vòng đàm phán đầu tiên đó, hai nước đã từng bước nhất trí thỏa thuận
áp dụng nguyên tắc dàn xếp tạm thời được quy định trong Điều 74 và Điều 83 của UNCLOS, đó là ranh giới được vạch ra và ghi rõ trên hải đồ có tỷ lệ thích hợp để xác định vị trí của nó, có trường hợp việc vẽ ranh giới ngoài hay các đường hoạch định này có thể được thay thế bằng các bản kê các tọa độ địa lý các điểm[20] Trên
cơ sở đó hai bên nhanh chóng đi đến thỏa thuận áp dụng mô hình khai thác chung cho vùng xác định trên tinh thần hiểu biết và hợp tác [5]
Dựa trên tinh thần đó, ngày 05/6/1992, hai nước đã chính thức ký Bản ghi nhớ Nội dung của Bản ghi nhớ ngày 05/6/1992, đã quy định phạm vi vùng xác định, và hai bên phải cử đại diện của mình để tiến hành các hoạt động thăm dò và khai thác trong vùng xác định (Phía Việt Nam cử PETROVIETNAM, Malaysia cử PETRONAS) và sự hợp tác khai thác đó không làm phương hại đến kết quả hoạch định phân định biển cuối cùng giữa hai nước Qua việc ký kết Bản ghi nhớ ngày 05/6/1992, có thể thấy Việt Nam luôn là nước đi đầu trong việc áp dụng các quy định của các Điều 74 và Điều 83 của UNCLOS, không chỉ trong phân định biển mà
cả trong các biện pháp khai thác chung nguồn tài nguyên biển trong vùng biển có sự chồng lấn Thỏa thuận hợp tác khai thác chung thềm lục địa chồng lấn giữa Việt Nam và Malaysia, ký ngày 05/6/1992 Hai bên thỏa thuận hợp tác thăm dò, khai thác chung vùng chồng lấn như là giải pháp tạm thời trong khi chưa phân định dứt điểm ranh giới trong tương lai, Việt Nam và Malaysia sẽ phân định dứt điểm ranh
Trang 3732
giới vùng chồng lấn này Tuy nhiên, Bản ghi nhớ cũng không giải quyết triệt để được vấn đề phân định biển giữa hai nước Việt Nam và Malaysia Thực tế cho thấy, hai bên cần phải tiếp tục đàm phán hòa bình và dựa trên nội dung của UNCLOS và Bản ghi nhớ để phân định thềm lục địa và vùng đặc quyền kinh tế
Năm 1971 Malaysia mới bắt đầu đưa ra yêu sách đối với Trường Sa Nhằm thể hiện yêu sách của mình, năm 1979 cho xuất bản bản đồ yêu sách ranh giới ngoài thềm lục địa bao trùm lên phía nam quần đảo Trường Sa với lập luận các đảo, bãi đá
ở Trường Sa thuộc về Vương Quốc cổ của Malaysia và nằm trong phạm vi yêu sách thềm lục địa của Malaysia Trong đó, một số đảo, đá bao gồm đảo An Bang và Bãi Thuyền Chài ở phía Nam quần đảo Trường Sa đã được quốc gia này thể hiện thuộc lãnh thổ của mình Các đảo An Bang, Thuyền Chài lúc này do quân đội nhân dân Việt Nam đang đóng giữ và đảo Công Đo do Philippines đang chiếm giữ trái phép Tổng cộng khu vực này rộng khoảng 4,4km2
Ngày 29 tháng 4 năm 1980, Bộ Ngoại giao Việt Nam gửi công hàm cho Malaysia phản đối việc làm này và ngày 8 tháng 5 năm 1980, nhân chuyến thăm và hội đàm với Malaysia, Bộ trưởng Ngoại giao Việt Nam Nguyễn Cơ Thạch đã khẳng định đảo An Bang là của Việt Nam
Năm 1982, Malaysia cho dựng cột mốc, dựng cột cờ trên đảo Hoa Lau (Swallow Reef) mà họ gọi là Terumbu Layang Layang Tháng 6 năm 1982, đích thân Tổng Tham mưu trưởng quân đội Malaysia là tướng Ta Sri Mohamed Chazali chỉ huy, tổ chức một cuộc hành quân chiếm đóng đảo Hoa Lau ở phía Đông Nam đảo An Bang 60 hải lý, nhằm giành chủ quyền trên một vùng biển rộng 150 hải lý vuông tính từ đảo Hoa Lau trở về vùng biển Malaysia và có một chỗ đứng chân để tranh chấp một phần quần đảo Trường Sa của Việt Nam Tướng Ta Sri Mohamed Chazali tuyên bố “bảo đảm chắc chắn rằng các vùng ngoài biển của chúng ta được
an toàn” Malaysia đã cho công binh đào một con kênh qua bãi san hô vào sát đảo dài 1.800 mét, rộng 300 mét cho tàu thuyền vào trú đậu an toàn, xây dựng thành một điểm tựa cho các hành động lấn chiếm tiếp theo Năm 1984, Bộ Ngoại giao
Trang 38Tranh chấp tại Biển Đông đã khiến cho khu vực này nằm trong vùng bất ổn vì
sự gia tăng sức mạnh quân sự giữa các bên, giữa các nước trong khu vực tranh chấp như Philippinnes, Malaysia, Việt Nam, Brunei,… Trong số những tranh chấp này, đặc biệt còn nổi lên cuộc tranh chấp chủ quyền trên quần đảo Trường Sa Bản chất của việc tranh chấp các quần đảo này không chỉ đơn giản dừng bước ở chủ quyền
mà theo quy định của Công ước Luật biển năm 1982 của Liên Hợp Quốc thì các quốc gia có chủ quyền với một hòn đảo sẽ được phép thiết lập một vùng lãnh hải rộng 12 hải lý và một vùng đặc quyền kinh tế (EEZ) rộng 200 hải lý xung quanh hòn đảo đó Và như vậy, lãnh thổ của quốc gia đó sẽ được mở rộng thêm rất nhiều trên biển
Trong thực tiễn quốc tế, tranh chấp luôn phát sinh do có sự va chạm, xung đột
về quyền lợi giữa các quốc gia hoặc nhóm các quốc gia; sự khác biệt về đường lối chính trị kinh tế giữa các quốc gia hoặc nhóm các quốc gia hay sự khác biệt về cách nhìn nhận, giải quyết các vấn đề pháp lý quốc tế Chính sự trái ngược nhau về 39
Trang 39Công ước Luật biển 1982 ra đời như một bản Hiến pháp về biển, trở thành cơ
sở pháp lý quốc tế toàn diện và bao quát nhất điều chỉnh các vấn đề liên quan đến biển và đại dương, tạo căn cứ vững chắc giúp các quốc gia cùng bình đẳng trong phân định các vùng biển, cùng hài hòa về quyền và lợi ích liên quan tới biển Thế nhưng, bản thân nó vẫn tồn tại nhiều điểm hạn chế gây ra những quan ngại trong vấn đề trật tự biển Có thể thấy như: còn nhiều ranh giới luật chưa phân định rõ, còn thiếu cơ chế buộc các bên cùng tuân thủ hay chưa có cơ quan đứng ra chịu trách nhiệm khi có bên vi phạm Những thiếu sót của quy định pháp luật cũng là một trong những nguyên nhân khiến tranh chấp cứ tồn tại mãi mà không thể tìm được hướng giải quyết Khi nghiên cứu và áp dụng UNCLOS vào hoạt động thực tiễn, đã
có nhiều phát hiện về những tồn tại còn hạn chế của nó như:
Đưa ra định nghĩa không rõ ràng về đảo: theo quy định tại Điều 121- UNCLOS thì: “đảo là khu vực đất liền được hình thành bởi bốn mặt có nước bao quanh và cao hơn mặt nước khi nước thuỷ triều lên cao”, đồng thời cũng nhấn mạnh: “những đảo đá không thích hợp cho con người đến ở hoặc bản thân nó không tồn tại điều kiện để duy trì đời sống kinh tế riêng, thì không có vùng đặc quyền kinh
tế và thềm lục địa” Ở Biển Đông có nhiều đảo, đá nhưng phần lớn có diện tích nhỏ, một số nước đã áp dụng các biện pháp nhân tạo như di dân và vận 40 chuyển vật tư
Trang 4035
đến một số đảo, bãi đá nhỏ để làm cho các đảo, bãi đó đạt đủ tiêu chuẩn phù hợp với Công ước về việc “thích hợp cho con người đến ở hoặc có đủ điều kiện duy trì đời sống kinh tế riêng” để được hưởng lợi ích biển Chính định nghĩa về đảo này khiến cho địa vị của rất nhiều đảo, bãi đá nhỏ ở Biển Đông trở nên khó xác định, và tranh chấp lợi ích biển cũng vì thế mà bùng phát
Không đảm bảo đầy đủ quyền và lợi ích lịch sử cho các quốc gia: mặc dù Công ước có những quy chế cụ thể về các vùng biển và giải thích về lợi ích mang tính lịch sử của các nước nhưng không có biện pháp thực tiễn để làm rõ và duy trì lợi ích lịch sử của các quốc gia
Công ước không có quy định cụ thể đối với việc xây dựng công trình, cơ sở ở các đảo, bãi nhỏ nhằm bảo vệ bờ biển, hay xây dựng doanh trại quân đội, cơ sở quân sự khác Trong khi thực tế, từ rất lâu, các quốc gia ven biển đã tiến hành xây dựng và quản lý rất nhiều công trình như thế, biến chúng trở thành một phần vĩnh viễn của đảo.Tuy nhiên, các công trình này lại không được đánh giá ngang tầm với các đảo nhân tạo mà con người tạo ra ở khu đặc quyền kinh tế Chính điều đó làm tăng khó khăn trong việc xác nhận chủ quyền tại các đảo, bãi nhỏ
UNCLOS cũng cho phép các quốc gia được mở rộng các vùng biển của mình
ra tới 200 hải lý tình từ đường cơ sở đối với vùng đặc quyền kinh tế và đối với thềm lục địa tối đa tới 350 hải lý tình từ đường cơ sở Điều này giúp các quốc gia mở rộng đáng kể quyền chủ quyền và quyền tài phán của mình nhưng đồng thời cũng làm xuất hiện thêm các vùng biển và thềm lục địa chồng lấn, gây ra tranh chấp giữa các nước có
bờ biển nằm tiếp liền hoặc đối diện nhau trong quá trình phân định biển
Bên cạnh hạn chế từ các điều khoản của Công ước Luật biển 1982 là sự tồn tại của việc thiếu cơ chế thực thi và cơ quan giám sát nên không có sự thống nhất trong cách giải thích và áp dụng các quy định của Công ước, dẫn tới mỗi bên giải thích,
áp dụng theo một cách khác nhau, tạo nên tranh chấp tại những khu vực biển chồng lấn Thêm vào đó, các quốc gia cũng không tôn trọng và áp dụng triệt để việc phân định biển và giải quyết tranh chấp liên quan đến biển theo quy định của Công 41