Thông qua các câu chuyện cổ tích, trẻ có thể tích lũy được một vốn từ mới, từ đó mở rộng vốn từ, mở rộng phạm vi giao tiếp, các mối quan hệ, mở rộng nhận thức, phát triển ngôn ngữ tư duy
Trang 1KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Phương pháp phát triển ngôn ngữ
HÀ NỘI - 2017
Trang 2Em xin chân thành cám ơn!
Hà Nội, tháng 5 năm 2017
Sinh viên
Hà Thị Nguyệt
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của cá nhân tôi với sự hướng dẫn tận tình của cô giáo T.S Lê Thùy Vinh Tôi xin cam đoan rằng, đây là kết quả nghiên cứu của riêng tôi, đề tài này chưa được công bố trong bất kì một công trình khoa học nào khác
Hà Nội, tháng 5 năm 2017
Sinh viên
Hà Thị Nguyệt
Trang 4MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1 Lí do chọn đề tài 1
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 2
3 Mục đích nghiên cứu và nhiệm vụ nghiên cứu 4
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 4
5 Phương pháp nghiên cứu 5
6 Cấu trúc đề tài 5
NỘI DUNG 6
Chương 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN CỦA ĐỀ TÀI 6
1.1 Cơ sở tâm lí học 6
1.2 Cơ sở giáo dục 7
1.3 Cơ sở sinh lí học 9
1.4 Cơ sở ngôn ngữ học 11
1.5 Truyện cổ tích và hoạt động kể chuyện cổ tích trong việc giảng dạy ở nhà trường mầm non 12
1.5.1 Khái niệm truyện cổ tích 12
1.5.2 Đặc trưng của truyện cổ tích 14
1.5.3 Phân loại truyện cổ tích 19
1.5.4 Đặc điểm vốn từ của trẻ mẫu giáo lớn 21
1.5 5 Hoạt động kể chuyện cổ tích trong giảng dạy ở nhà trường mầm non 28 CHƯƠNG 2: BIỆN PHÁP PHÁT TRIỂN VỐN TỪ CHO TRẺ MẪU GIÁO 5-6 TUỔI THÔNG QUA HOẠT ĐỘNG KỂ CHUYỆN CỔ TÍCH30 2.1 Thưc trạng phát triển vốn từ của trẻ 5 – 6 tuổi tại trường mầm non Hoa Sen, thành phố Vĩnh Yên, tỉnh Vĩnh Phúc 30
2.2 Các biện pháp phát triển vốn từ cho trẻ mẫu giáo 5 – 6 tuổi thông qua hoạt động kể chuyện cổ tích 34
Trang 52.2.1 Biện pháp đọc, kể chuyện cho trẻ nghe 35
2.2.2 Biện pháp đàm thoại 38
2.2.3 Biện pháp giải nghĩa từ 40
2.2.4 Biện pháp dạy trẻ kể lại truyện cổ tích 44
2.2.5 Biện pháp sử dụng các trò chơi học tập 48
2.2.6 Phát triển vốn từ theo trường nghĩa từ 49
KẾT LUẬN 52
TÀI LIỆU THAM KHẢO 54
Trang 6em ở các độ tuổi Đặc biệt, nó còn là phương tiện để giáo dục trẻ một cách toàn diện: về đạo đức, về tư duy nhận thức và các chuẩn mực hành vi văn hóa Phát triển ngôn ngữ thông qua các bộ môn cụ thể trong nhà trường Mầm
non là một cách đem lại sự hiệu quả Dễ dàng nhận thấy, bộ môn “Làm quen
với tác phẩm văn học” là bộ môn giúp cho trẻ có khả năng tư duy và ngôn
ngữ, khả năng cảm thụ cái hay, cái đẹp Đặc biệt, hoạt động kể chuyện trong môn học này giúp ích cho trẻ rất nhiều trong việc tích lũy, mở rộng vốn từ ngữ cũng như diễn đạt một cách mạch lạc, rõ ràng
1.2 Văn hóa dân gian có vai trò rất lớn đối với sự phát triển nhân cách của trẻ Trong đó, truyện cổ tích là thể loại phổ biến được giảng dạy trong nhà trường mầm non góp phần giáo dục đạo đức và thẩm mĩ cho trẻ Thông qua các câu chuyện cổ tích, trẻ có thể tích lũy được một vốn từ mới, từ
đó mở rộng vốn từ, mở rộng phạm vi giao tiếp, các mối quan hệ, mở rộng nhận thức, phát triển ngôn ngữ tư duy Các câu chuyện, các nhân vật, sự vật, hiện tượng gần gũi cũng giúp cho trẻ dễ dàng tiếp cận và nhận biết thế giới vạn vật xung quanh, phát triển óc tư duy sáng tạo, trí tò mò và thích khám
Trang 72
phá, từ đó nảy sinh trong trẻ những nhận thức, tình cảm đạo đức, tình cảm thẩm mỹ, sự yêu quý ông bà cha mẹ, thầy cô, yêu quý loài vật, yêu thiên nhiên cỏ cây hoa lá và làm cho tâm hồn trẻ ngày thêm hướng thiện
Truyện cổ tích là “ món ăn tinh thần” không thể thiếu đối với trẻ mẫu
giáo Trẻ ở độ tuổi mẫu giáo lớn đã có khả năng nắm được ý nghĩa của những
từ vựng thông dụng, phát âm đúng sự phát âm của người lớn Trẻ thực sự nắm được tiếng mẹ đẻ Việc cho trẻ tiếp xúc nhiều với những câu chuyện cổ tích sẽ giúp trẻ tích lũy nhiều vốn từ vựng cần thiết và rèn kĩ năng nói đúng ngữ pháp của trẻ mẫu giáo lớn
Trên cơ sở đó, chúng tôi lựa chọn nghiên cứu đề tài “Phát triển vốn từ cho trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi thông qua hoạt động kể chuyện cổ tích” nhằm
đưa ra những biện pháp để mở rộng và phát triển vốn từ ngữ cho trẻ mầm non đặc biệt là trẻ mẫu giáo lớn, hướng đến sự phát triển năng lực ngôn ngữ nói chung của trẻ
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Trẻ em luôn giành được nhiều sự quan tâm từ gia đình, nhà trường và xã hội; những vấn đề của trẻ em được các nhà nghiên cứu học hết sức quan tâm Phát triển vốn từ cho trẻ mẫu giáo, đặc biệt là trẻ mẫu giáo lớn không còn là một đề tài mới mẻ nữa, đã có rất nhiều công trình nghiên cứu ở nhiều khía cạnh khác nhau
Ở Việt Nam, từ sau cách mạng tháng Tám năm 1945, vấn đề này cũng được quan tâm Một số hội nghị khoa học ở Trung ương cũng như các địa phương đã hướng nội dung vào việc thảo luận nâng cao chất lượng giảng dạy phát triển ngôn ngữ cho trẻ mầm non
Trong cuốn “Phương pháp phát triển ngôn ngữ cho trẻ mẫu giáo”
(2004), tác giả Nguyễn Xuân Khoa đã nói về phương pháp phát triển ngôn ngữ cho trẻ mẫu giáo rất chi tiết, tỉ mỉ, cụ thể Trên cơ sở đánh giá chung về
Trang 83
đặc điểm sinh lí của trẻ ở lứa tuổi này, dựa trên mối quan hệ của bộ môn ngôn ngữ học với những bộ môn khác, tác giả đã đưa ra một số phương pháp phát triển ngôn ngữ cho trẻ mầm non, trong đó có cả vấn đề phát triển vốn từ cho trẻ Ngoài ra ông cũng đưa ra các cách sửa lỗi phát âm và một số trò chơi nhằm phát triển vốn từ cho trẻ mẫu giáo
Trong cuốn “Phương pháp phát triển ngôn ngữ cho trẻ dưới 6 tuổi”
(2005), tác giả Hoàng Thị Oanh, Phạm Thị Việt, Nguyễn Kim Đức đã nói về tầm quan trọng của ngôn ngữ trong việc phát triển toàn diện cho trẻ và nêu sơ lược nội dung, phương pháp, biện pháp để luyện phát âm, phát triển vốn từ, dạy trẻ nói đúng ngữ pháp, phát triển ngôn ngữ mạch lạc cho trẻ
Trong cuốn “Tiếng Việt” (2003), tác giả Nguyễn Xuân Khoa đã đưa ra
những tri thức cơ bản của tiếng Việt để giúp giáo viên có những kiến thức cơ bản để dạy trẻ và phát triển ngôn ngữ cho trẻ
Tác giả Nguyễn Ánh Tuyết trong cuốn “Giáo dục mầm non, những vấn
đề lí luận và thực tiễn”(2007) nói về ý nghĩa của truyện cổ tích trong việc bồi
dưỡng cảm xúc lành mạnh và trong sáng, hướng đến giáo dục đạo đức cho trẻ
Tác giả Đinh Hồng Thái trong cuốn “Phương pháp phát triển lời nói cho
trẻ em”(2007) cũng chú trọng đến dạy nói cho trẻ, phát triển ngôn ngữ thông
qua các thành phần của ngữ pháp tiếng Việt Đó là giáo dục chuẩn mực ngữ
âm tiếng Việt, hình thành và phát triển vốn từ, dạy trẻ các mẫu câu tiếng Việt, phát triển lời nói mạch lạc, phát triển vốn từ nghệ thuật cho trẻ qua các tác phẩm văn học, để tạo tiền đề tốt cho trẻ chuẩn bị vào lớp Một
Trong cuốn “Tâm lý học trẻ em lứa tuổi mầm non” (2005), tác giả
Nguyễn Ánh Tuyết cũng đã nói về sự phát triển vốn từ của trẻ ở từng giai đoạn, lứa tuổi
Cuốn “Phương pháp cho trẻ mầm non làm quen với tác phẩm văn học”
(2009), tác giả Lã Thị Bắc Lý- Lê Thị Ánh Tuyết đã đưa ra các phương pháp
Trang 93 Mục đích nghiên cứu và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Mục đích nghiên cứu
Từ cơ sở lí luận thực tiễn, từ những thuận lợi và khó khăn trong quá trình giáo dục phát triển ngôn ngữ cho trẻ mầm non, đề tài này đưa ra một số biện pháp nhằm phát triển vốn từ cho trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi thông qua hoạt động kể chuyện cổ tích
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Tìm hiểu cơ sở lí luận của đề tài
- Đề xuất các biện pháp phát triển ngôn ngữ cho trẻ mẫu giáo lớn thông qua truyện cổ tích
4 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: các biện pháp phát triển vốn từ cho trẻ 5-6 tuổi thông hoa hoạt động kể chuyện cổ tích
- Phạm vi nghiên cứu: Trong đề tài này, chúng tôi chỉ xem xét thực trạng phát triển vốn từ thông qua hoạt động kể chuyện cổ tích của trẻ em tại trường mầm non Hoa Sen, thành phố Vĩnh Yên, tỉnh Vĩnh Phúc Trên cơ sở thực tế này, chúng tôi đề xuất những biện pháp phát triển vốn từ cho trẻ 5 – 6 tuổi thông qua hoạt động kể chuyện cổ tích
Trang 10Chương 1: Cơ sở lí luận
Chương 2: Các biện pháp phát triển ngôn ngữ cho trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi qua hoạt động kể chuyện cổ tích
Trang 116
NỘI DUNG Chương 1
CƠ SỞ LÍ LUẬN CỦA ĐỀ TÀI 1.1 Cơ sở tâm lí học
Độ tuổi mẫu giáo lớn là giai đoạn cuối cùng của trẻ ở lứa tuổi mầm non
ở giai đoạn này, những cấu tạo tâm lí đặc trưng của con người đã được hình thành trước đây, đặc biệt trong độ tuổi mẫu giáo nhỡ, vẫn tiếp tục phát triển mạnh
Con người khác xa con vật là nhờ có ngôn ngữ Ngôn ngữ vừa là phương tiện, vừa là điều kiện để con người hoạt động và giao lưu Trong hoạt động học tập ngôn ngữ là công cụ có giá trị, có tác dụng vô cùng to lớn ngôn ngữ vừa là công cụ thực hiện hóa tư duy, lĩnh hội tri thức, vừa nói lên khả năng trí tuệ của con người Ngôn ngữ và tư duy có mối quan hệ chặt chẽ với nhau, tác động qua lại lẫn nhau, người có tư duy tốt sẽ nói năng mạch lạc, trôi chảy; nếu trau dồi ngôn ngữ tỉ mỉ, chu đáo thì sẽ tạo điều kiện cho tư duy phát triển Đứng ở góc độ tâm lí học, các nhà ngôn ngưc học thấy rằng: việc tiếp thu ngôn ngữ có nhiều điểm khác so với tiếp thu kiến thức trong lĩnh vực khác Ngôn ngữ được hình thành rất sớm, ngay từ giai đoạn hài nhi, ở trẻ đã hình thành những tiền đề của sự lĩnh hội ngôn ngữ Nhu cầu giao tiếp với người lớn ngày càng tăng làm nảy sinh khả năng nói năng của trẻ Trẻ không
có ý thức về ngôn ngữ nhưng bằng cách bắt chước có tính chất bản năng, trẻ
sẽ học được cách nói của những người xung quanh
Sự phát triển mọi mặt của trẻ mẫu giáo chưa hoàn thiện, còn non nớt Hoạt động học tập đòi hỏi sự căng thẳng về trí tuệ và thể lực, đòi hỏi sự chú ý
có chủ định kéo dài, đòi hỏi sự hoạt động nhiều mặt của trẻ Trẻ 5-6 tuổi, chú
ý không chủ định phát triển mạnh, chú ý có chủ định đã xuất hiện nhưng còn hạn chế Đặc điểm tri nhớ của trẻ mẫu giáo là tính trực quan hình tượng, tính
Trang 127
không chủ định nhờ tác động một cách tự nhiên của những ấn tượng hấp dẫn bên ngoài Trí nhớ trực quan phát triển mạnh mẽ hơn trí nhớ từ ngữ- logic Ghi nhớ máy móc là đặc điểm nổi bật, trẻ ghi nhớ những sự vật, hiện tượng
cụ thể, dễ dàng hơn nhiều so với lời giải thích dài dòng Vào cuối tuổi mẫu giáo, trí nhớ của trẻ có một bước biến chuyển về chất: trí nhớ chủ định xuất hiện và phát triển mạnh Đó là loại trí nhớ có mục đích và phải nhờ đến công
cụ tâm lí như sơ đồ, biểu đồ và chữ viết Biểu tượng của trí nhớ ở trẻ mẫu giáo lớn mang tính khái quát hơn Trong quá trình tưởng tượng, trẻ sử dụng các biểu tượng của trí nhớ
Tuổi mẫu giáo lớn, khi ngôn ngữ trở thành phương tiện của tư duy cho phép trẻ giải những bài toán trí tuệ mà không cần sử dụng trực tiếp hành động
và biểu tượng, cũng là lúc trẻ lĩnh hội những khái niệm mà loài người đã xây dựng lên Tức là những tri thức về các dấu hiệu chung và bản chất của sự vật cũng như hiện tượng trong hiện thực đã được củng cố bằng các từ Trẻ biểu hiện năng lực trí tuệ qua hoạt động tổng hợp của lời nói, qua quan sát, chú ý
và suy nghĩ bằng năng lực ghi nhớ liên tưởng và khả năng giải quyết các nhiệm vụ thông qua vui chơi sáng tạo Tư duy trực quan giải thích việc trẻ em mẫu giáo bé và đầu mẫu giáo nhỡ có vốn từ biểu danh là chủ yếu Tư duy trừu tượng và tư duy logic xuất hiện ở tuổi thứ năm cho phép trẻ lĩnh hội những khái niệm đầu tiên – đó là những khái niệm về sự vật, hiện tượng gần gũi xung quanh trẻ
Việc cho trẻ tiếp xúc nhiều với truyện cổ tích và việc giáo dục đạo đức cho trẻ thông qua ý nghĩa của các câu chuyện là hai hướng đi song song nhất quán thúc đẩy, hỗ trợ phát triển cho trẻ và dần hình thành nhân cách trẻ thơ
1.2 Cơ sở giáo dục
Dạy học ở trường Mẫu giáo là quá trình phát triển có hệ thống, có kế hoạch, có mục đích các năng lực nhận thức của trẻ, trang bị cho trẻ hệ thống
Trang 138
tri thức sơ đẳng hình thành kĩ năng, kĩ xảo tương ứng Trên cơ sở đó góp phần hình thành nhân cách cho trẻ Trong quá trình dạy học gồm có nhiều hoạt
động khác nhau như: Làm quen với văn học, Hình thành biểu tượng toán học,
Làm quen với môi trường xung quanh… tất cả các hoạt động này nhằm mục
đích mở rộng kiến thức hiểu biết cho trẻ và bên cạnh đó nó có nhiệm vụ vô cùng quan trọng là phát triển ngôn ngữ cho trẻ Hiện nay ở các trường mầm non có hai hình thức phát triển lời nói cho trẻ đó là: tiết học và ngoài tiết học
Các tiết học như: nhận biết tập nói, làm quen với chữ cái (tiết học chuyên
biệt), làm quen với môi trường xung quanh, làm quen với tác phẩm văn học (tiết học có ưu thế phát triển lời nói); các tiết học khác như: tổ chức hoạt động tạo hình, giáo dục âm nhạc… Tất cả các giờ học đều phát triển lời nói
cho trẻ Vì vậy các giờ học trong các hoạt động khác chúng ta phải chú ý phát triển ngôn ngữ cho trẻ vì ngôn ngữ là của ngõ để trẻ có thể phát triển toàn diện nhân cách
Chương trình kể chuyện trong bộ môn “Cho trẻ làm quen với tác phẩm
văn học” cho trẻ mẫu giáo nói chung và cho mẫu giáo lớn nói riêng, thì hầu
hết các truyện đều hướng đến mục tiêu giáo dục toàn diện về nhân cách cho trẻ trên nhiều lĩnh vực khác nhau Những câu chuyện cổ tích dành cho trẻ mẫu giáo lớn thường là những câu chuyện dài hơn, có ý nghĩa giáo dục sâu sắc về tình yêu quê hương đất nước, gia đình, bạn bè, trường lớp Khi dạy trẻ kể chuyện, giáo viên cần giúp trẻ hiểu được những bài học giáo dục sâu sắc đó Ngôn ngữ của trẻ chỉ được hình thành và phát triển qua giao tiếp với con người và sự vật hiện tượng xung quanh Để thực hiện được điều đó cần thông qua nhiều phương tiện khác nhau như qua các giờ học, các trò chơi, dạo chơi ngoài trời và sinh hoạt hàng ngày, rèn luyện và phát triển vốn từ cho trẻ, tập cho trẻ biết nghe, hiểu và phát âm chính xác các âm của tiếng mẹ đẻ, hướng dẫn trẻ cách biết diễn đạt ý muốn của mình cho người khác hiểu Vì vậy, khi
Trang 14Phát triển ngôn ngữ cho trẻ là một nhiệm vụ quan trọng trong chương trình giáo dục toàn diện cho trẻ Chương trình phát triển ngôn ngữ cho trẻ đã được nhà giáo dục mầm non Liên Xô (cũ) nổi tiếng Eiti – Khêva xem là khâu chủ yếu nhất của hoạt động trong trường mầm non, là tiền đề thành công của các công tác khác
Khi trẻ được nghe các câu chuyện cổ tích, trẻ nắm được ngôn ngữ dân gian có nội dung phong phú và đầy sức diễn cảm; từ đó, giúp trẻ cảm thụ được sự giàu có của ngôn ngữ, nắm được phương tiện thể hiện ngôn ngữ, lĩnh hội được sự phong phú của tiếng mẹ đẻ Tất cả những điều này ảnh hưởng tích cực tới sự phát triển ngôn ngữ của trẻ
1.3 Cơ sở sinh lí học
Cho đến lúc ra đời, não bộ của trẻ chưa phát triển đầy đủ, mặc dù hình thái và cấu tạo giải phẫu của nó không khác với não của người lớn là mấy Ở trẻ sơ sinh: não bộ có kích thước nhỏ, khoảng 370 – 392g (1/8 – 1/9 trọng lượng cơ thể) Trong 9 năm đầu, trọng lượng não của trẻ tăng lên mạnh mẽ Chẳng hạn, trẻ được 6 tháng tuổi, trọng lượng của não tăng lên gấp đôi lúc sơ sinh; trẻ 3 tuổi, tăng gấp 3 và đa số các tế bào thần kinh đã được biệt hóa Học thuyết về các hệ thống tín hiệu đã khẳng định: Ngôn ngữ là hệ thống tín hiệu thứ hai, là sự hoạt động đặc biệt của vỏ bán cầu đại não Hệ thống tín
hiệu thứ hai có được nhờ những kích thích trừu tượng như ngôn ngữ, lời nói,
chữ viết… Việc phát triển ngôn ngữ phải liên quan mật thiết tới việc phát
triển và hoàn thiện bán cầu đại não và hệ thần kinh nói chung Trong ba năm
Trang 1510
đầu là kết thúc sự trưởng thành về mặt giải phẫu vùng não chỉ huy ngôn ngữ,
vì thế phải phát triển ngôn ngữ cho trẻ đúng lúc mới đạt được kết quả tốt
Để có thể giao tiếp tốt, chúng ta không thể không kể đến bộ máy phát
âm Mỗi con người sinh ra đều có sẵn bộ máy phát âm, đó là tiền đề vật chất quan trọng nhất mà thiếu nó không thể có ngôn ngữ; nếu như cấu tạo của nó
có một khiếm khuyết nào đó (chẳng hạn như sứt môi, hở hàm ếch, ngắn
lưỡi…) thì việc hình thành lời nói cũng hết sức khó khăn Khi sinh ra, mỗi
con người không phải đã có ngay một bộ máy phát âm hoàn chỉnh Chính lứa tuổi mầm non là giai đoạn hoàn thiện dần dần bộ máy đó: sự xuất hiện và hoàn thiện của hai hàm răng, sự vận động của môi, lưỡi, của hàm dưới… Quá trình đó diễn ra tự nhiên theo các quy luật sinh học, nó phát triển và hoàn thiện cùng với sự lớn lên của trẻ Trong thực tế có những em cùng sinh ra nhưng có em ngôn ngữ phát triển rất tốt, có em lại nói ngọng Có sự khác nhau như thế là do bộ máy phát âm khác nhau và quá trình chăm sóc giáo dục cũng khác nhau Trẻ nói ngọng là do bộ máy phát âm phát triển chưa hoàn thiện Tuy nhiên bộ máy phát âm hoàn chỉnh mới chỉ là tiền đề vật chất Cùng với thời gian, quá trình học tập, rèn luyện một cách có hệ thống sẽ làm cho bộ máy phát âm đáp ứng được nhu cầu thực hiện các chuẩn mực âm thanh ngôn ngữ Cấu tạo bộ máy phát âm gồm: dây thanh và các hộp cộng hưởng phía trên thanh hầu Âm sắc và tiếng nói do tính chất của âm xác định và phụ thuộc vào các khoang cộng hưởng của phần trên các bộ phận thanh quản, họng, khoang miệng, mũi Bộ máy phát âm của trẻ chưa phát triển đầy đủ, các bộ phận tạo thành tiếng nói chưa liên kết chặt chẽ nên trẻ phát âm còn chưa chuẩn, không chính xác Do đó, việc nghiên cứu bộ máy phát âm để tìm hiểu vốn từ của trẻ mầm non hoàn toàn có cơ sở và mang tính khoa học
Ở cuối tuổi mẫu giáo, do việc giao tiếp bằng ngôn ngữ được mở rộng trong những năm trước đây, tai nghe âm vị được rèn luện thường xuyên để
Trang 1611
tiếp nhận các ngữ âm khi nghe người lớn nói, mặt khác cơ quan phát âm đã trưởng thành đến mức trẻ có thể phát âm tương đối chuẩn kể cả những âm khó của tiếng mẹ đẻ khi nói năng Trẻ mẫu giáo lớn đã biết sử dụng ngữ điệu một
cách phù hợp với nội dung giao tiếp hay nội dung câu chuyện mà trẻ kể
1.4 Cơ sở ngôn ngữ học
Ngôn ngữ là một hệ thống tín hiệu đặc biệt, là phương tiện giao tiếp cơ bản và quan trọng nhất của các thành viên trong một cộng đồng người Ngôn ngữ đồng thời cũng là phương tiện phát triển tư duy, truyền đạt truyền thống văn hóa – lịch sử từ thế hệ này sang thế hệ khác Lênin từng khẳng định:
“Con người muốn tồn tại thì phải gắn bó với cộng đồng Giao tiếp là một hoạt
động đặc trưng của con người Ngôn ngữ là phương tiện giao tiếp quan trọng nhất” Ngôn ngữ có vai trò rất lớn trong cuộc sống con người, nhờ ngôn ngữ
mà con người có thể trao đổi với nhau những hiểu biết, truyền cho nhau những kinh nghiệm, tâm sự với nhau những nỗi niềm thầm kín Không có ngôn ngữ, con người không thể giao tiếp được, thậm chí không thể tồn tại được, nhất là trẻ em, một sinh thể yếu ớt rất cầm đến sự chăm sóc, bảo vệ của người lớn
Ngôn ngữ chính là một trong những phương tiện thúc đẩy trẻ trở thành một thành viên của xã hội loài người Ngôn ngữ là công cụ để trẻ học tập, vui chơi Ngôn ngữ là công cụ hữu hiệu để trẻ có thể bày tỏ những nguyện vọng của mình từ khi còn rất nhỏ để người lớn có thể chăm sóc, điều khiển, giáo dục trẻ là một điều kiện rất quan trọng để trẻ tham gia vào mọi hoạt động và trong hoạt động hình thành nhân cách của trẻ Ngôn ngữ cần cho tất cả các hoạt động của trẻ và ngược lại, mọi hoạt động tạo điều kiện thúc đẩy ngôn ngữ của trẻ phát triển
Ngôn ngữ của trẻ lứa tuổi mầm non chủ yếu là ngôn ngữ nói, vì thế sự phát triển ngôn ngữ nói của trẻ phụ thuộc rất lớn vào sự giao tiếp của trẻ em
Trang 1712
với người lớn và trẻ em với nhau Trẻ em giao tiếp với mọi người xung quanh, học các từ của ông bà, bố mẹ, người thân, bạn bè thì ngôn ngữ của trẻ chịu ảnh hưởng không nhỏ Trẻ bắt chước người lớn nói và được người lớn dạy Cần làm giàu vốn từ cho trẻ bằng những từ mới, những từ khó đối với trẻ Đào sâu, cung cấp, chính xác hóa vốn từ cho trẻ hiểu chính xác nghĩa của từ; tích cực hóa vốn từ cho trẻ, trang bị cho trẻ vốn từ sống động Bằng vốn ngôn ngữ của mình, trẻ có thể biểu đạt sự hiểu biết của mình cho người lớn hiểu và hiểu được ý nghĩa câu nói của người lớn Trong công tác giáo mầm non, người lớn cần phải có ý thức rèn luyện và phát triển ngôn ngữ cho trẻ một cách thường xuyên, liên tục ở mọi lúc mọi nơi, mọi hoạt động
Để dạy trẻ sử dụng ngôn ngữ như một phương tiện giao tiếp thì người giáo viên không thể không tìm hiểu vốn từ của trẻ Trong ngôn ngữ, từ là cái quan trọng nhất, là vật trực tiếp để tạo ý, tạo lời và tạo câu Ở tuổi mẫu giáo, trẻ phải nắm được một vốn từ cần thiết đủ để chúng có thể giao tiếp được với bạn bè, người lớn, tiếp thu các tri thức ban đầu trong trường mầm non, chuẩn
bị học tập ở trường phổ thông; xem các chương trình truyền hình, phát thanh… Vì thế, giáo dục học mẫu giáo coi việc hình thành vốn từ là một nhiệm vụ quan trọng trong nội dung giáo dục trẻ Phát triển vốn từ được hiểu như một quá trình lâu dài của việc lĩnh hội vốn từ mà con người đã lĩnh hội được trong lịch sử Nó bao gồm 2 mặt: tích lũy số lượng (tăng dần số từ tích cực) và nâng cao chất lượng (lĩnh hội dần dần nội dung xã hội tích lũy trong
từ, nó là sự phản ánh kết quả của nhận thức)
1.5 Truyện cổ tích và hoạt động kể chuyện cổ tích trong việc giảng dạy ở nhà trường mầm non
1.5.1 Khái niệm truyện cổ tích
Cho đến nay, truyện cổ tích có rất nhiều khái niệm, xong nhìn chung là giống nhau về cơ bản, mỗi một khá niệm mà các nhà nghiên cứu đưa ra đã bổ
Trang 1813
sung, làm phong phú thêm những hiểu biết của chúng ta về thể loại truyện cổ tích
Theo tác giả Lê Bá Hàn trong cuốn “Từ điển thuật ngữ văn học” thì:
Truyện cổ tích là một thể loại truyện dân gian nảy sinh từ xã hội có giai cấp với chức năng chủ yếu là phản ánh và lí giải những vấn để xã hội, những số phận khác nhau của con người trong cuộc sống muôn màu muôn vẻ khi đã có chế độ tư hữu tài sản, có gia đình riêng (chủ yếu là gia đình phụ quyền) có mâu thuẫn với đấu tranh xã hội quyết liệt
Trong cuốn “Từ điển tiếng Việt” – Hoàng Phê (chủ biên), khái niệm truyện cổ tích được diễn đạt ngắn gọn như sau: “Truyện cổ tích là truyện cổ
dân gian phản ánh cuộc đấu tranh trong xã hội, thể hiện tình cảm, đạo đức, ước mơ của nhân dân, về hình thức thường mang nhiều yếu tố thần kì, tượng trưng và ước lệ”
“Giáo trình văn học dân gian” của tác giả Hoàng Tiến Tựu thì cho rằng: Truyện cổ tích là loại truyện dân gian có tính phổ biến, hình thành từ thời cổ đại, phát triển tồn tại qua nhiều thời kì xã hội khác nhau, gắn chặt với quá trình tan rã của công xã nguyên thủy, hình thành gia đình phụ quyền, và phân hóa giai cấp trong xã hội Nó hướng vào những vấn đề cơ bản, những số phận, những quan hệ và xung đột có tính chất riêng tư và phổ biến trong xã hội có giai cấp (ở Việt Nam chủ yếu là xã hội phong kiến) Nó dùng một kiểu tưởng tượng và hư cấu riêng (có thể gọi là “tưởng tượng và hư cấu cổ tích”) kết hợp các thủ pháp nghệ thuật đặc thù để phản ánh đời sống, và khát vọng của nhân dân, đáp ứng nhu cầu nhận thức, giáo dục, thẩm mỹ và tiêu khiển của nhân dân”[9;63]
Nguyễn Đổng Chi có nêu trong “Kho tàng truyện cổ tích Việt Nam”:
Khi nói đến mấy tiếng “Truyện cổ tích” hay “truyện đời xưa” thì chúng ta
Trang 19xã hội công bằng, bác ái
- Về nghệ thuật: Truyện cổ tích nổi bật như một thể loại mang tính hư cấu cao, là hư cấu nghệ thuật
Những đặc trưng trên giúp ta có thể phân biệt được truyện cổ tích với các thể loại truyện khác trong kho tàng văn học dân gian Việt Nam
1.5.2 Đặc trưng của truyện cổ tích
a Đặc trưng thời đại nảy sinh và phát triển truyện cổ tích
Khi con người còn sống tương đối bình đẳng trong cộng đồng nguyên thủy thì mối quan tam nổi bật nhất là giữa con người với đại tự nhiên Những hiện tượng nắng mưa, hạn lụt,cháy rừng, sét đánh, cây đổ, dịch bệnh… đe dọa trực tiếp đến sinh mạng, ảnh hưởng đến đời sống làm ăn của cộng đồng Nhưng khi xã hội nguyên thủy tan rã, có hai khuynh hướng xảy ra Một là, cộng đồng phải liên minh với các cộng đồng khác để tạo thành những cộng đồng lớn mạnh hơn, đủ sức chống lại thiên nhiên và chống lại sự sâm lấn của những cộng đồng khác từ bên ngoài Hai là quan hệ bình đẳng bị phá vỡ, cộng đồng bị chia rẽ thành những cá nhân và gia đình riêng lẻ, khẳng định khuynh hướng phát triển cá nhân là tất yếu của xã hội Nhân dân lao động đồng thời là
Trang 2015
chủ thể sáng tạo, khi hướng vào cộng đồng, họ quan tâm đến những vấn đề dựng nước và giữ nước, khi hướng vào đời sống gia đình, sinh hoạt xã hội, học quan tâm nhiều hơn đến quan hệ giữa con người với con người, nhất là số phận của những con người bé nhỏ, tội nghiệp dễ bị tổn thương nhất trong gia đình và xã hội đang bị phân hóa Từ đó hình thành những chủ đề truyện cổ tích
Truyện cổ tích đã kế thừa rất nhiều ở thần thoại, từ quan niệm nghệ thuật
về thế giới đến phương thức phản ánh thế giới đó Nhân vật thần vốn có nguồn gốc từ thần thoại, khi đi vào truyện cổ tích đã bị thu hẹp dần phạm vi, còn nhân vật người bình dân khẳng định dần vị trí của mình và trở thành nhân vật trung tâm của truyện cổ tích với tư cách là một thể loại phản ánh chủ đề sinh hoạt gia đình và xã hội Những nhân vật đó không còn mang đậm tính chất thần linh, cũng không có dáng dấp khổng lồ kì vĩ nữa Họ có diện mạo như những con người bình thường hàng ngày ta vẫn gặp Họ giảm tính thần linh đi song lại tăng tính chất hoang đường, giàu yếu tố kì ảo, đó chính là kiểu phản ánh mang đặc trưng cổ tích
Những đứa trẻ mồ côi không phải chỉ là nhân vật mà trở thành kiểu nhân vật quen thuộc của truyện cổ tích Cùng với sự phát triển sản xuất, sức mạnh thế lực được đề cao, vai trò của người đàn ông trong sản xuất và quản lí xã hội ngày càng lớn dần thay thế cho vai trò của người phụ nữ Sự phân biệt nam nữ, sự phân chia tài sản thừa kế không đều nhau giữa những người con thường là nguyên nhân dẫn đến mâu thuẫn gia đình trong cổ tích Đó chính là điều kiện để tác giả dân gian quan tâm hơn đến số phận những người con gái, người con út với lòng thương và mối thiện cảm, sự tin cậy và tinh thần che chở, khiến họ trở thành những nhân vật trung tâm của truyện cổ tích, tích tụ tài năng, đạo đức và vẻ đẹp hoàn hảo mà trí tưởng tượng của những người lương thiện và vị tha có thể hình dung được
Trang 21Sẽ là rất nhiều nếu như chỉ nói đến chủ đề phản ánh mâu thuẫn xã hội trong truyện cổ tích Cũng một tinh thần thực tế, nhưng truyện cổ tích sinh hoạt còn hướng tới nhiều chủ đề khác nữa Một trong những chủ đề nổi bật là
sự ca ngợi của tác giả dân gian hướng vào phần lớn dân chúng Những người bình thường, thậm chí nghèo khó, cùng cực nhưng có lòng hiếu thảo, thông minh trong tình nghĩa, dám đấu tranh cho sự công bằng được khẳng định
Nhóm truyện về những người thông minh tài trí như Sợi bấc tìm ra thủ phạm,
Phân sử tài tình, nhóm truyện tình nghĩa như Sự tích chim cuốc, Gái ngoan dạy chồng, Chưa dỗ ông nghè đã đe hàng tổng,… phản ánh chủ đề này
Trong kho tàng cổ tích có một nhóm truyện về loài vật Đó là những truyện kể mà các con vật là nhân vật chính, hoặc là thế giới loài vật trong đó những con vật quan hệ với nhau theo cách như trong thế giới của con người
Có lẽ những truyện kể loài vật có nguồn gốc từ tín ngưỡng tôn sùng vật tổ Khi chưa hiểu rõ nguồn gốc của mình, có một thời kì con người cho rằng tổ tiên của mình là trâu, bò, chó, sói,… Nhưng trong quá trình phát triển, loài người dần hiểu được nguyên nhân sinh sản từ tín ngưỡng vật tốt cũng dần được phủ định, các con vật thiêng mất thiêng, được bình thường hóa hoặc bị tha hóa trở nên tầm thường, hài hước trong truyện cổ tích và truyện ngụ ngôn, mang chức năng giải trí và chức năng giáo dục nhẹ nhàng
b Quá trình hoàn thiện truyện cổ tích là quá trình biến đổi không ngừng
Trang 2217
Do văn học dân gian là sáng tác truyền miệng và cũng là sáng tạo của tập thể mà đời sống của các tác phẩm văn học dân gian trong đó có truyện cổ tích dài vô tận và có thể biến đổi vô cùng Ở mỗi thời đại khác nhau, do sự phát triển xã hội và những nhu cầu mới của dân chúng mà mỗi thể loại, thậm chí mỗi tác phẩm có thể diễn ra những biến đổi bộ phận hoặc biến đổi phần lớn nội dung của nó Đặc điểm chung của các tác phẩm dân gian là phải dựa vào những cốt truyện có sẵn, một mô tuýp quen thuộc, một công thức nghệ thuật
ổn định, thay đổi đi nhiều hay ít cho phù hợp với hiện tại để phản ánh tình cảm, thái độ hay ý nguyện của nhân dân Truyện cổ tích cũng có cùng quy luật biến đổi như vậy
Cội nguồn chủ yếu của truyện cổ tích là thần thoại Nhiều mô tuýp thần thoại cũng được truyện cổ tích vay mượn, kết nạp vào cốt truyện mới khiến ý nghĩa cũ của thần thoại bị mờ đi, thay vào đó là sự phản ánh những chủ đề mới mà những người sáng tạo truyện cổ tích quan tâm Quá trình biến đổi của các tác phẩm dân gian trong đó có truyện cổ tích đều mang tính quy luật, chịu
sự chi phối của thời đại và lịch sử Ngay cả khi các tác phẩm văn học dân gian
đã được cố định bằng văn bản thì không phải nó không còn biến đổi Ngược lại, do văn học dân gian là sản phẩm tinh thần của tập thể nhân dân, nên có chi tiết nào không hợp với thời đại mới, với nhu cầu của tập thể, nhân dân vẫn
có thể sửa chữa nó theo nhu cầu chung, khiến cho tác phẩm biến đổi không ngừng qua các thời đại Quá trình hoàn thiện truyện cổ tích là quá trình biến đổi không ngừng và không có điểm dừng cuối cùng Chắc chắn khi mới xuất hiện, truyện “Thạch Sanh” không có nhiều chi tiết phong phú như vậy Hai
mô tuýp được xác định cổ nhất là mô tuýp dũng sĩ diệt rắn (Thạch Sanh giết trăn tinh) và dũng sĩ diệt chim (Thạch Sanh giết đại bàng) Còn chi tiết anh chàng buôn rượu Lí Thông được kết nạp vào truyện muộn hơn nhiều Bởi chỉ
Trang 23đã từng làm không ít người hả hê vì cách trừng phạt “ác giả ác báo” đó
Nhưng giường như cách trừng phạt đó đã trở nên quá dã man ở thời hiện đại
Vì vậy, trong lời kể hiện nay đã có những người bỏ qua tình tiết “làm mắm”
Khi kể chuyện cho trẻ mẫu giáo, các cô giáo cũng đã bỏ đi đoạn trùng phạt bằng cách này Như vậy tính chất thời đại đã chi phối cách lựa chọn các tình tiết truyện cổ Ngay cả khi truyện dân gian đã được văn bản hóa thì nó vẫn có thể biến đổi để phù hợp với thời đại mà nó đang lưu truyền
Vì thế, mà khám phá truyện cổ tích cũng là quá trình tìm hiểu và hiểu lại các tình tiết để ngày càng tiếp nhận chân lí hơn
c Truyện cổ tích phản ánh thực tại một cách độc đáo
Các thể loại văn học dân gian đều lấy đối tượng phản ánh là hiện thực, nhưng mỗi thể loại hướng vào hiện thực theo cách lựa chọn riêng của mình Thần thoại và truyền thuyết chú ý đến mảng hiện thực rộng lớn, những đề tài cao cả, những nội dung hoành tráng mang tính cộng đồng, còn truyện cổ tích quan tâm đến những quan hệ giữa con người trong sinh hoạt đời thường, những bon chen đố kị, những lợi ích cụ thể của các thành viên trong gia đình
và xã hội
Tuy nhiên, khác với hiện thực ngoài đời, các yếu tố thực tế trong cổ tích
luôn đan xen với yếu tố kì ảo, tạo ra một “thế giới cổ tích”, “không khí cổ
Trang 2419
tích” rất đặc trưng và hấp dẫn, trong đó con người vừa bình thường vừa lạnh
lùng, các sự kiện vừa quen thuộc vừa phi lí, không thể lí giải bằng tư duy thông thường Tất cả những gì phi lí nhất, không thể tồn tại được ngoài đời đều có thể dễ dàng có thể chấp nhận trong thế giới riêng của truyện cổ tích,
ngay sau lời mở đầu quen thuộc “ngày xửa, ngày xưa…” Cũng từ đó nó dọi
một ánh sáng đặc biệt vào cuộc đời tối tăm đầy khổ đau của con người, thôi thúc niềm lạc quan và tiềm năng của họ trỗi dậy Truyện cổ tích không xa rời hiện thực, thường bắt rễ từ hiện thực, nhưng cái nổi bật nhất trong nó, điểm sáng lung linh chiếu dọi những tác phẩm văn học dân gian này chính là sự trình bày những ước mơ kì diệu, bay bổng, đứng trên và vượt xa thực tại Đó chính là sự phản ánh thực tế độc đáo nhất Truyện hấp dẫn người nghe không phải bởi thế giới thực tại mà bởi chính thứ ánh sáng kì ảo của những mộng
mơ, có sức lôi cuốn hấp dẫn và mạnh mẽ đó Nhà văn M.Gorki từng nói:
“Truyện cổ tích mở ra trước mắt tôi một cánh cửa nhìn vào cuộc đời, trong
đó có một lực lượng tự do không biết sợ sệt, đang tồn tại và hoạt động, mơ ước một cuộc sống tốt đẹp hơn”
1.5.3 Phân loại truyện cổ tích
Có rất nhiều cách phân loại truyện cổ tích Việt Nam, một trong những cách phân loại chung được nhiều người tán thành và vận dụng hiện nay là cách phân chia truyện cổ tích thành ba loại chính: truyện cổ tích thần kì, truyện cổ tích loài vật, truyện cổ tích sinh hoạt Đây cũng là cách phân loại được tác giả Lê Bá Hàn, Trần Đình Sử, Nguyễn Khắc Phi áp dụng phân loại
truyện cổ tích trong cuốn “Từ điển thuật ngữ Văn học” Cách phân loại này
kết hợp vận dụng những tiêu chí quan trọng là đề tài và phương pháp sáng tác Phân biệt truyện cổ tích về loài người với truyện cổ tích về loài vật chủ yếu dựa vào đề tài (đối tượng phản ánh) Còn khi tách bộ phận truyện cổ tích về loài người thành hai loại (truyện cổ tích thần kì và truyện cổ tích sinh hoạt) thì
Trang 25về loài người Nói tóm lại cách phân truyện cổ tích như trên có tính chất tương đối
Trong thể loại truyện cổ tích, truyện cổ tích thần kì là bộ phận tiêu biểu nhất và quan trọng nhất Ở loại truyện này, nhân vật chính vẫn là con người trong thực tại nhưng các thế lực thần kì, siêu nhiên có một vai trò quan trọng Hầu như xung đột giữa con người với con người đều bế tắc không thể giải quyết nổi nếu thiếu yếu tố thần kì Có thể nói rằng, loại truyện cổ tích thần kì nằm ở vị trí gạch nối giữa thể loại truyện cổ tích và thể loại truyện thần thoại trong tiến trình sáng tạo lâu dài của các tác giả dân gian các dân tộc
Truyện cổ tích sinh hoạt (hay truyện cổ tích thế sự) là những truyện cổ tích không có hoặc có rất ít yếu tố thần kì Mâu thuẫn ở đây là mâu thuẫn giữa người với người được giải quyết một cách hiện thực, không cần đến yếu tố siêu nhiên Những yếu tố thần kì, nếu có cũng không giữ vai trò quan trọng và nhiề khi cũng chỉ là đường viền cho câu chuyện thêm vẻ ly kì, hấp dẫn
Truyện cổ tích loài vật là loại truyện chủ yếu lấy loài vật (phần lớn là động vật) làm đối tượng phản ánh, tường thuật, lý giải Loại truyện này ở thời
kỳ cổ xưa hầu hết các dân tộc đề có, các loài vật ở đây đều được nhân cách hóa một cách hồn nhiên trong trí tưởng tượng của nhân vật thời cổ đại
Trang 2621
Trong khuôn khổ khóa luận này, chúng tôi sẽ tìm hiểu các câu chuyện cổ
tích trong 5 tập “Kho tàng truyện cổ tích Việt Nam” do Nguyễn Đổng Chi
sưu tầm, biên soạn để làm ngữ liệu nghiên cứu cho đề tài
1.5.4 Đặc điểm vốn từ của trẻ mẫu giáo lớn
1.5.4.1 Đặc điểm vốn từ của trẻ mầm non
Với trẻ em, ngôn ngữ không chỉ là cơ sở của mọi sự suy nghĩ, là công cụ của tư duy, là phương tiện hữu hiệu nhất giúp trẻ nhận thức thế giới xung quanh mà ngôn ngữ còn có vai trò rất lớn trong việc hình thành, điều chỉnh hành vi và giáo dục cho trẻ những tình cảm thẩm mĩ cao đẹp ngay từ những năm tháng đầu tiên của cuộc đời Ngôn ngữ là một công cụ hữu hiệu để trẻ có thể bày tỏ những nguyện vọng của mình khi còn rất nhỏ để người lớn có thể chăm sóc, điều khiển, giáo dục trẻ là một điều kiện quan trọng để trẻ tham gia vào mọi hoạt động và trong hoạt động hình thành nhân cách trẻ
Lúc đầu, ngôn ngữ của trẻ chỉ là những từ riêng lẻ xuất phát từ sự nhận thức thế giới xung quanh Trẻ chưa thể nói thành câu hoàn chỉnh Qua quá trình tiếp xúc với mọi người xung quanh, vốn từ của trẻ tăng lên, trẻ học được cách nói của người lớn, lúc đó trẻ mới nói được câu hoàn chỉnh Ở giai đoạn này nếu không có những điều kiện thuận lợi cho sự phát triển ngôn ngữ thì sau này khó có thể phát triển tốt được
a Vốn từ xét về mặt số lượng
Từ việc nghe người lớn nói, trẻ bắt chước, nhắc lại đến chỗ trẻ biết quan sát việc dùng từ gắn với từng ngữ cảnh để kết hợp các từ với nhau tạo thành những câu mạch lạc Theo năm tháng, vốn từ vựng của trẻ được hình thành và ngày càng mở rộng để thực hiện các chức năng giao tiếp, tư duy Sự phát triển ngôn ngữ của trẻ là một quá trình từ thấp đến cao với các gia đoạn mang những đặc trưng khác nhau tùy thuộc vào độ tuổi của trẻ
Trang 27Ở trẻ 4 tuổi, vốn từ của trẻ có thể có được khoảng 1900 – 2000 từ, trong
đó danh từ và động từ vẫn chiếm ưu thế, còn tính từ và các loại từ khác còn ít
ăn, uống, ngủ, đi…Trẻ 4 tuổi có thể nắm được xấp xỉ 700 từ Ưu thế vẫn thuộc về danh từ và động từ Hầu hết các loại từ đã xuất hiện trong vốn từ của trẻ Từ 5-6 tuổi vốn từ của trẻ tăng bình quân đến 1033 từ, tính từ và các loại
từ khác đã chiếm tỉ lệ cao hơn
Mặc dù số lượng từ của trẻ mẫu giáo do các nhà tâm lý học, ngôn ngữ học đưa ra không khớp nhau, nhưng sự chênh lệch không lớn lắm; bởi lẽ số lượng từ của trẻ phụ thuộc rất nhiều vào các yếu tố khác nhau trong đó quan trọng nhất là tác động của môi trường như sự tiếp xúc ngôn ngữ thường xuyên với những người xung quanh, trình độ của bố mẹ,…
Trang 2823
b Vốn từ xét về mặt cơ cấu từ loại
Cơ cấu từ loại trong vốn từ của trẻ là một tiêu chí để đánh giá chất lượng vốn từ Số lượng từ loại càng nhiều bao nhiêu thì càng tạo điều kiện cho trẻ diễn đạt thuận lợi bấy nhiêu Các loại từ xuất hiện dần dần trong vốn từ cả trẻ Theo Xtecnơ, ban đầu chủ yếu là danh từ, sau đó đến động từ, sau đó đến động từ và tính từ; các loại từ khác xuất hiện muộn hơn
Theo nhà nghiên cứu Lưu Thị Lan, trẻ mẫu giáo có tỉ lệ các từ loại như tính từ, trạng từ, quan hệ từ được tăng lên, động từ giảm đi so với lứa tuổi nhà trẻ
Bảng 2.1 Cơ cấu từ loại của các lứa tuổi [9;51]
Lứa tuổi
Từ loại/ tỉ lệ (%) Danh từ Động từ Trạng từ
Theo nghiên cứu của Đinh Hồng Thái, giai đoạn 5-6 tuổi cũng là giai đoạn hoàn thiện một bước cơ cấu từ loại trong vốn từ của trẻ Tỉ lệ danh từ, động từ giảm đi (chỉ khoảng 50%) nhường cho tính từ và các loại từ khác tăng
Trang 29Khi sử dụng từ ngữ, trẻ thường mắc một số lỗi như sau:
- Dùng danh từ chưa chính xác: “bụi cây” trẻ gọi là “vườn cây”
- Dùng động từ chưa chính xác: “anh bắt đền em đi” (đáng lẽ phải nói là: “anh đền em đi”)
- Dùng tính từ chưa chính xác: màu hồng, các cháu nói là màu đỏ, màu vàng; màu nâu trẻ nói là mầu xám; hoặc màu tím trẻ lại gọi là màu nâu…
- Hư từ chỉ khái niệm về quan hệ từ, lại càng khó nắm hơn nữa đối với trẻ em, nhất là trẻ mầm non
Ví dụ: “Aó anh đẹp, áo em cũng vẫn đẹp cơ!” (đáng lẽ ra phải nói: “Aó
anh đẹp, áo em cũng đẹp cơ!”)
*Khả năng hiểu nghĩa của từ của trẻ mẫu giáo
Quá trình nắm ý nghĩa của từ đi từ hình ảnh cảm giác đến sự khái ý
nghĩa Đầu tiên trẻ hiểu từ “bàn” có tính chất cảm giác (nhìn, sờ, mó), các cảm giác ấy gắn với từ “bàn” chỉ một đối tượng duy nhất như một danh từ
riêng Vật thể xung quanh thu hút sự chú ý của trẻ và nhận được tên gọi chỉ trong trường hợp chúng ta cho trẻ giao tiếp với chúng: đụng đến, sờ mó đến vật, mân mê trong tay, vuốt ve, nghe, ngửi, ăn… Ngay khoảng 2 tuổi, trẻ nhớ tên gọi đối tượng khó khăn nếu chỉ nhìn nó Sau đó, trẻ làm quen với cái bàn khác, khác về hình dáng, kích thước Cảm giác về chúng khác nhau nhưng có
cái chung giống nhau, tất cả đều là “bàn” Từ này nhận được nghĩa rộng hơn, tách khỏi các cảm giác trực tiếp, trẻ hiểu được “bàn” nói chung, chứ không phải bàn cụ thể Hoàn toàn xa rời các cảm giác trực tiếp là từ “đồ vật”, khái