1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Quá trình chuyển biến kinh tế, xã hội của tình Hòa Bình từ năm 1991 đến năm 2010 (LA tiến sĩ)

209 327 2
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 209
Dung lượng 3,09 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Quá trình chuyển biến kinh tế, xã hội của tình Hòa Bình từ năm 1991 đến năm 2010 (LA tiến sĩ)Quá trình chuyển biến kinh tế, xã hội của tình Hòa Bình từ năm 1991 đến năm 2010 (LA tiến sĩ)Quá trình chuyển biến kinh tế, xã hội của tình Hòa Bình từ năm 1991 đến năm 2010 (LA tiến sĩ)Quá trình chuyển biến kinh tế, xã hội của tình Hòa Bình từ năm 1991 đến năm 2010 (LA tiến sĩ)Quá trình chuyển biến kinh tế, xã hội của tình Hòa Bình từ năm 1991 đến năm 2010 (LA tiến sĩ)Quá trình chuyển biến kinh tế, xã hội của tình Hòa Bình từ năm 1991 đến năm 2010 (LA tiến sĩ)Quá trình chuyển biến kinh tế, xã hội của tình Hòa Bình từ năm 1991 đến năm 2010 (LA tiến sĩ)Quá trình chuyển biến kinh tế, xã hội của tình Hòa Bình từ năm 1991 đến năm 2010 (LA tiến sĩ)Quá trình chuyển biến kinh tế, xã hội của tình Hòa Bình từ năm 1991 đến năm 2010 (LA tiến sĩ)Quá trình chuyển biến kinh tế, xã hội của tình Hòa Bình từ năm 1991 đến năm 2010 (LA tiến sĩ)Quá trình chuyển biến kinh tế, xã hội của tình Hòa Bình từ năm 1991 đến năm 2010 (LA tiến sĩ)

Trang 1

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM

HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

BÙI THỊ NGUYỆT QUỲNH

QUÁ TRÌNH CHUYỂN BIẾN KINH TẾ, XÃ HỘI TỈNH HÒA BÌNH TỪ NĂM 1991 ĐẾN NĂM 2010

Chuyên ngành: Lịch sử Việt Nam

Mã số: 6222031

LUẬN ÁN TIẾN SĨ LỊCH SỬ

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:

HÀ NỘI - 2017

Trang 2

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Luận án được hoàn thành năm 2017, chưa được công bố dưới hình thức nào Những số liệu được đưa

ra để chứng minh và đánh giá trong luận án là trung thực, có cơ sở Tôi xin chịu trách nhiệm về lời cam đoan này

Trang 3

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

CHƯƠNG 1TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN 7

1.1 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài 7

1.1.1.Những nghiên cứu về kinh tế, xã hội nói chung 7

1.1.2 Những nghiên cứu liên quan đến kinh tế, xã hội tỉnh Hòa Bình 12

1.2 Đánh giá kết quả nghiên cứu và những vấn đề luận án giải quyết……… 18

1.2.1 Một vài nhận xét về tình hình nghiên cứu……… 18

1.2.2 Những nội dung luận án kế thừa 19

1.2.3 Những nội dung luận án cần tiếp tục giải quyết 19

CHƯƠNG 2 QUÁ TRÌNH CHUYỂN BIẾN KINH TẾ TỪ NĂM 1991 ĐẾN NĂM 2010……… 21

2.1.Các yếu tố tác động đến quá trình chuyển biến kinh tế tỉnh Hòa Bình 21

2.2.Sự phát triển các ngành kinh tế Hòa Bình từ năm 1991 đến năm 2010 29

2.3 Quy mô, tốc độ tăng trưởng và khuynh hướng chuyển dịch cơ cấu kinh tế 61

CHƯƠNG 3 QUÁ TRÌNH CHUYỂN BIẾN XÃ HỘI TỪ NĂM 1991 ĐẾN NĂM 2010……… 75

3.1 Những nhân tố tác động 75

3.2 Những chuyển biến một số lĩnh vực xã hội của tỉnh từ 1991 – 2010 79

3.3 Những biến đổi về dân cư, cơ cấu lao động, giai tầng trong xã hội, đời sống vật chất và tinh thần của người dân 98

3.4.Thực hiện chính sách dân tộc, định canh , định cư và tình hình tôn giáo 105

3.5 Quốc phòng an ninh, phòng chống các tệ nạn xã hội, bảo vệ tài nguyên và môi trường 112

3.6.Quá trình đô thị hóa 114

CHƯƠNG 4 NHẬN XÉT, ĐÁNH GIÁ VÀ MỘT SỐ VẤN ĐỀ ĐẶT RA ĐỐI VỚI QUÁ TRÌNH CHUYỂN BIẾN KINH TẾ, XÃ HỘI TỈNH HÒA BÌNH TỪ NĂM 1991 ĐẾN NĂM 2010 119

4.1 Nhận xét và đánh giá về quá trình chuyển biến kinh tế, xã hội tỉnh Hòa Bình… 119 4.1.1 Sự tác động qua lại lẫn nhau giữa kinh tế và xã hội……… 119

4.1.2 Nhận xét, đánh giá về quá trình chuyển biến kinh tế 126

4.1.3 Nhận xét, đánh giá về quá trình chuyển biến xã hội 132

4.2 Đánh giá tổng quát về những nguyên nhân của quá trình chuyển biến kinh tế, xã hội 136

4.3 Một số vấn đề đặt ra 140

KẾT LUẬN……… 147

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Trong quá trình làm luận án, tôi đã nhận được nhiều sự giúp đỡ, động viên của các thầy cô giáo, đồng nghiệp, bạn bè và những người thân Tôi xin được tỏ lòng biết

ơn sâu sắc nhất tới PGS.TS Nguyễn Ngọc Mão, PGS.TS Hà Mạnh Khoa đã tận tình chỉ bảo, định hướng, giúp đỡ tác giả trong suốt quá trình nghiên cứu và hoàn thành luận án Tôi xin trân trọng cảm ơn thầy Viện Trưởng và các thầy, cô giáo Viện Sử học đã giúp đỡ tôi trong suốt qua trình làm Luận án Tôi xin trân trọng cảm ơn Khoa Sử học, Học viện Khoa học Xã hội – Viện Hàn lâm Khoa học Xã hội Việt Nam đã tạo cho tôi một môi trường học tập và nghiên cứu tốt nhất Tôi xin cảm ơn khoa Lịch sử và Ban Giám hiệu trường Đại học Tây Bắc, là đơn vị công tác đã tạo cho tôi những điều kiện thuận lợi nhất trong suốt quá trình nghiên cứu Tôi xin trân trọng cảm ơn các cơ quan ban ngành chức năng của tỉnh Hòa Bình như: Ủy ban nhân dân tỉnh Hòa Bình, Sở

Kế hoạch và Đầu tư tỉnh Hòa Bình, Sở Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn tỉnh Hòa Bình, Sở Lao động và Thương binh Xã hội tỉnh Hòa Bình, Sở Giáo dục và Đào tạo tỉnh Hòa Bình, Sở Nội vụ tỉnh Hòa Bình, Cục Thống kê tỉnh Hòa Bình… là những đơn

vị đã hỗ trợ nhiệt tình cho tôi trong quá trình thu thập tài liệu và khảo sát điền dã Xin được cảm ơn các thầy cô giáo, các đồng nghiệp và những người bạn…đã đóng góp ý kiến giúp tôi hoàn thành luận án Cuối cùng, tôi xin được tỏ lòng biết ơn đối với những tình cảm, sự động viên tốt nhất về vật chất và tinh thần mà gia đình, người thân đã ủng

hộ tôi trong suốt thời gian nghiên cứu của mình

Xin trân trọng cảm ơn!

Trang 5

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

BHXH Bảo hiểm xã hội

BHYT Bảo hiểm y tế

CNH,HĐH Công nghiệp hóa, hiện đại hóa

CNXH Chủ nghĩa xã hội

DNNN Doanh nghiệp nhà nước

TTCN Tiểu thủ công nghiệp

TTGDTX Trung tâm giáo dục thường xuyên THCS Trung học cơ sở

THPT Trung học phổ thông

TTYT Trung tâm y tế

UNFPA United Nations Population Fund

XHCN Xã hội Chủ nghĩa

XĐGN Xóa đói giảm nghèo

UBND Ủy ban nhân dân

Trang 6

DANH MỤC BẢNG, BIỂU ĐỒ TRONG LUẬN ÁN

đồ

Nội dung

1 2.1 Tình hình sản xuất lúa từ 1991 đến 2010

2 2.1 Sản lượng lương thực có hạt và quy thóc (1991 - 2010)

3 2.2 Giá trị sản xuất nông nghiệp từ 1991 đến 2010

4 2.3 Cơ cấu ngành nông nghiệp từ 1991 đến 2010

5 2.4 Sự chuyển trong dịch nội bộ nghành nông –lâm-thủy sản

6 2.5 Giá trị sản xuất công nghiệp từ 1991 đến 2010

7 2.6 Sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế công nghiệp theo thành phần kinh

tế

8 2.7 Sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế công nghiệp theo thành ngành kinh

tế

9 2.8 Vốn đầu tư xây dựng cơ bản từ 1991 đến 2010

10 2.9 Tình hình thu – chi ngân sách từ 1991 đến 2010

12 2.2 Tăng trưởng GDP % các tỉnh miền núi phía Bắc

2010

Hiện trạng tỷ lệ đô thị hoá toàn tỉnh Hòa Bình qua các năm

Trang 7

DANH MỤC BẢNG BIỂU PHỤ LỤC

1 2.1 Tăng trưởng và cơ cấu kinh tế tỉnh Hòa Bình từ năm 1991 đến năm 2010

2 2.2 Tổng sản phẩm xã hội phân theo thành phần kinh tế từ 1991 đến 2010

3 2.3 Giá trị và cơ cấu sản xuất nông nghiệp từ 1991 đến 2010

4 2.4 Giá trị và cơ cấu sản xuất trồng trọt từ 1991 đến 2010

5 2.5 Tình hình sản xuất cây lương thức từ 1991 đến 2010

6 2.6 Tình hình sản xuất cây thực phẩm từ năm 1991 đến năm 2010

7 2.7 Tình hình sản xuất cây công nghiệp từ năm 1991 đến năm 2010

8 2.8 Tình hình chăn nuôi của tỉnh Hòa Bình từ năm 1991 đến năm 2010

9 2.9 Tình hình sản xuất lâm nghiệp của tỉnh Hòa Bình từ 1991 đến năm 2010

10 2.10 Tình hình sản xuất thủy sản tỉnh Hòa Bình từ năm 1991 đến năm 2010

11 2.11 Giá trị và cơ cấu sản xuất công nghiệp của tỉnh Hòa Bình từ năm 1991 đến

năm 2010

12 2.12 Thực trạng ngành công nghiệp Hòa Bình từ 1991 đến 2010

13 2.13 Tổng mức, cơ cấu bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ của tỉnh Hòa Bình từ

năm 1991 đến 2010

14 2.14 Tình hình Xuất nhập khẩu tỉnh Hoà Bình 1995 đến 2010

15 2.15 Giá trị sản xuất, số cơ sở, lao động, kinh doanh du lịch, thương mại, khách

sạn nhà hàng tỉnh Hòa Bình từ 1991 đến 2010

16 2.16 Hoạt động du lịch tỉnh Hòa Bình từ 1991 đến 2010

17 2.17 Tình hình ngành vận tải Hòa Bình từ 1991 đến 2010

18 2.18 Tình hình thu – chi ngân sách tỉnh Hòa Bình từ năm 1991 đến năm 2010

19 2.19 Hoạt động tín dụng và thu chi ngân sách tỉnh Hòa Bình từ năm 1991 đến năm

Trang 8

DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ VÀ BẢN ĐỒ

TT Bản đồ/

Biểu đồ

Nội dung

3 2.2 Cơ cấu kinh tế theo ngành của tỉnh Hòa Bình từ năm 1991 đến năm

7 2.6 Cơ cấu sản xuất công nghiệp theo ngành kinh tế từ năm 1991 đến 2010

8 2.7 Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ trên địa bàn từ năm

1991 đến 2000

9 2.8 Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ trên địa bàn từ năm

2001 đến 2010

11 2.10 Tình hình xuất nhập khẩu từ năm 2001 đến năm 2010

12 2.11 Thu chi ngân sách trên địa bàn từ 1991 đến 2010

13 3.1 Số học sinh phát triển qua các năm 1991 đến 2000

14 3.2 Số học sinh phát triển qua các năm 2000 đến 2010

15 3.3 Sự phát triển dân số của tỉnh từ 1995 – 2000

14 3.4 Sự phát triển dân số của tỉnh từ 2001- 2010

Một số hình ảnh kinh tế - xã hội tỉnh Hòa Bình

Trang 9

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Kinh tế - xã hội có mối quan hệ biện chứng trong sự vận động và phát triển của mỗi quốc gia dân tộc Bất cứ một quốc gia hay một chế độ chính trị xã hội nào, các thành tựu về kinh tế - xã hội đều là thước đo trình độ phát triển Vì vậy, tất cả các quốc gia, dân tộc đều tìm cho mình một con đường phù hợp để vươn lên trở thành một cường quốc về kinh tế, xã hội Sự chuyển biến kinh tế, xã hội không chỉ là những minh chứng cho quy luật vận động, phát triển của nền văn minh nhân loại mà còn là thước đo của trí sáng tạo, khát vọng vươn lên và khả năng phát triển của mỗi quốc gia

và dân tộc

Phát triển kinh tế, xã hội để “dân giàu, nước mạnh” là một mục đích cao nhất

của Đảng, một trong những vấn đề cốt lõi của quá trình phát triển đất nước, để đến năm 2020 Việt Nam cơ bản trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại Từ năm

1986, sau Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI và trải qua các kì Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VII (1991), lần thứ VIII (1996), lần thứ IX (2001), lần thứ X (2006), đường lối đổi mới đất nước của Đảng ngày càng được bổ sung Đảng, Nhà nước có nhiều chủ trương, chính sách thể hiện sự đổi mới tư duy phát triển kinh tế, xã hội Nhờ đó, kinh

tế nước ta đạt tốc độ tăng trưởng khá cao và phát triển toàn diện, cơ cấu kinh tế có bước chuyển dịch theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa Xã hội phát triển ổn định, chuyển biến tích cực

Thực hiện đường lối đổi mới của Đảng, cùng với nhân dân cả nước, Đảng bộ và nhân dân tỉnh Hòa Bình đã phát huy thế mạnh, khắc phục khó khăn, thách thức, từng bước thực hiện quá trình phát triển kinh tế theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa Là tỉnh thuộc vùng Tây Bắc, cửa ngõ của thủ đô Hà Nội, Hòa Bình có vị trí chiến lược hết sức quan trọng, với điều kiện tự nhiên thuận lợi và tiềm năng phát triển kinh tế, xã hội Tuy nhiên, ngay cả những năm đầu sau đổi mới, tỉnh vẫn còn nhiều khó khăn Sự bứt phá của tỉnh chỉ thật sự được bắt đầu từ năm 1991, khi tỉnh được tái lập

Trên lĩnh vực kinh tế, so với nhiều tỉnh khu vực Tây Bắc, Hòa Bình đạt những thành tựu đáng được khích lệ Kinh tế ngày càng tăng trưởng cả về qui mô, lẫn tốc độ, nhất là giai đoạn (2006-2010), với tốc độ tăng trưởng cao (trên 12%) vượt xa so với mức trung bình của cả nước (6,78%) Trong đó, một số ngành đã phát huy được lợi thế, tiềm năng của tỉnh, đáng chú ý là ngành xây dựng với GDP vào năm 2010 cao gấp

Trang 10

3 lần năm 2000 Cơ cấu kinh tế chuyển dịch theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa, vừa phù hợp với xu thế chung, vừa khơi dậy được lợi thế so sánh của địa phương, nhất là cơ cấu kinh tế theo vùng, lãnh thổ Đó là sự chuyển dịch theo hướng đa phương và chú trọng đến những khu vực nhiều tiềm năng phù hợp với đặc điểm của Hòa Bình Trên lĩnh vực xã hội, từ một tỉnh còn tồn tại nhiều vấn đề do lịch sử và phong tục, tập quán của các dân tộc thiểu số để lại, Hòa Bình đã có nhiều tiến bộ rõ nét Trong đó, đáng chú ý là thành quả trong hoạt động giảm tỷ lệ tăng dân số tự nhiên; giảm tỷ lệ hộ nghèo; giảm tỷ lệ trẻ em bị suy dinh dưỡng; v.v Nếu nhìn bức canh toàn cảnh riêng khu vực nông thôn tỉnh Hòa Bình, có thể thấy, các chỉ số về điện, đường, trường, trạm là khá cao, trong đó số hộ sử dụng điện cho sinh hoạt và sản xuất trên 95%

Bên cạnh những thành tựu đạt được về kinh tế, xã hội kể từ khi được tái lập, tỉnh Hòa Bình còn nhiều yếu kém, bất cập Trong đó, bất cập lớn nhất là nền kinh tế của tỉnh, về cơ bản, vẫn là nền sản xuất nhỏ, phân tán, chất lượng, hiệu quả thấp Cơ cấu kinh tế chậm đổi mới Nguy cơ tụt hậu về kinh tế so với trong vùng và cả nước luôn hiện hữu, nếu không có biện pháp kịp thời Về mặt xã hội, mức sống của người dân còn thấp so với mặt bằng chung của cả nước Trình độ dân trí còn thấp kém, v.v Nghiên cứu, làm rõ các bước đi của tiến trình phát triển kinh tế, xã hội ở tỉnh Hòa Bình và nêu bật những thành tựu, hạn chế là cần thiết Về phương diện khoa học, việc nghiên cứu sẽ làm sống động bức tranh trong thời kỳ đổi mới của một tỉnh miền núi với những nét đặc thù và giữ vị trị hết sức quan trọng trong không gian phát triển kinh tế-xã hội, lẫn bảo vệ an ninh-quốc phòng của khu vực Tây Bắc nói riêng, phía Bắc nói chung Về ý nghĩa thực tiễn, kết quả nghiên cứu sẽ đưa ra những gợi mở nhằm góp phần khắc phục những hạn chế, phát huy những kết quả mà tỉnh Hòa Bình đã đạt được Kết quả nghiên cứu, đồng thời góp phần làm phong phú thêm nguồn tài liệu tuyên truyền, giáo dục lịch sử địa phương, củng cố niềm tin của các dân tộc trong tỉnh vào đường lối lãnh đạo của Đảng và Nhà nước

Xuất phát từ những lí do trên, chúng tôi chọn:“ Quá trình chuyển biến kinh tế, xã hội tỉnh Hòa Bình từ năm 1991 đến năm 2010” làm đề tài luận án Tiến sĩ

2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

2.1 Mục đích nghiên cứu

- Làm rõ quá trình chuyển biến về kinh tế và xã hội của tỉnh Hòa Bình từ năm

1991 đến năm 2010, đánh giá và chỉ ra nguyên nhân của quá trình chuyển biến đó, đồng thời đưa ra một số nhận xét

Trang 11

2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

- Phân tích các yếu tố tác động đến quá trình chuyển biến kinh tế , xã hội của tỉnh Hòa Bình trong phạm vi thời gian nghiên cứu của đề tài (1991 - 2010)

- Trình bày và làm rõ quá trình chuyển biến của nền kinh tế Hòa Bình dưới góc

độ tăng trưởng, chuyển dịch cơ cấu và những chuyển biến cụ thể trong từng ngành, từng lĩnh vực kinh tế, từng thành phần kinh tế và từng vùng kinh tế; sự chuyển biến về mặt xã hội ở tỉnh Hòa Bình được biểu hiện cụ thể trên từng lĩnh vực của đời sống

- Trên cơ sở kết quả nghiên cứu, luận án đưa ra những nhận xét, đánh giá sự chuyển biến trên hai lĩnh vực kinh tế và xã hội của tỉnh Hòa Bình, cả trên góc độ thành công và hạn chế trong quá trình thực hiện đường lối đổi mới; cũng như đặt ra một số vấn đề xuất nhằm góp phần vào việc đẩy mạnh công cuộc phát triển kinh tế, xã hội của huyện Hòa Bình hiện nay

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

3.1 Đối tượng nghiên cứu

Đề tài tập trung nghiên cứu, phân tích quá trình chuyển biến của nền kinh tế và

xã hội tỉnh Hòa Bình từ năm 1991 đến năm 2010

1991, tỉnh Hòa Bình chính thức đi vào hoạt động theo đơn vị hành chính mới Năm

2010 là mốc đánh dấu tròn 20 năm tách tỉnh với những kết quả đáng được ghi nhận về mọi mặt Hòa Bình dần khẳng định vị thế của một tỉnh miền núi, đang trong quá trình phát triển, có những đóng góp tích cực vào sự nghiệp chung của cả nước

Về nội dung: đề tài nghiên cứu kinh tế bao gồm các lĩnh vực chung của nền kinh

tế, các nhóm ngành kinh tế: nông nghiệp, công nghiệp, dịch vụ; về các mặt của xã hội bao gồm: giáo dục và đào tạo, y tế, chính sách an sinh xã hội, tôn giáo, bảo vệ tài nguyên môi trường, dân cư, lao động, thu nhập và mức sống của người dân

Trang 12

4.Cơ sở lí luận, phương pháp nghiên cứu và nguồn tài liệu

4.1 Cơ sở lí luận và phương pháp nghiên cứu

Luận án dựa trên cơ sở lí luận phương pháp luận sử học,vận dụng phép biện chứng của chủ nghĩa duy vật lịch sử để nghiên cứu về sự hình thành, tồn tại và phát triển của tỉnh Hòa Bình; điều kiện tự nhiên, lịch sự xã hội, văn hóa; sự chuyển biến kinh tế, xã hội, của tỉnh Hòa Bình

Cơ sở lí luận của luận án là dựa trên quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và đường lối phát triển kinh tế - xã hội của Đảng Cộng sản Việt Nam trong thời kỳ đổi mới Luận án vận dụng các chủ trương, quan điểm, chính sách của Đảng cộng sản Việt Nam, nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam về phát triển nông nghiệp, công nghiệp, thương mại và các vấn đề xã hội

Phương pháp nghiên cứu chủ yếu của luận là phương pháp lịch sử, phương pháp logic và sự kết hợp giữa hai phương pháp này Sử dụng phương pháp lịch sử trong đề tài là để đảm bảo tính liên tục về thời gian của các sự kiện; làm rõ điều kiện và đặc điểm phát sinh, phát triển và biểu hiện của chúng, làm sáng tỏ các mối liên hệ đa dạng của chúng với các yếu tố liên quan Như vậy, sử dụng phương pháp lịch sử trong đề tài để có thể dựng lại bức tranh toàn cảnh, chân thực, khoa học, phản ánh đúng lịch sử và quy luật vận động của quá trình chuyển biến kinh tế, xã hội của không gian nghiên cứu

Phương pháp logic sử dụng trong đề tài là để xem xét, nghiên cứu các sự kiện, thời điểm, kết quả… về kinh tế, xã hội diễn ra trong không gian nghiên cứu dưới dạng tổng quát, nhằm vạch ra bản chất, khuynh hướng tất yếu, quy luật vận động của lịch sử phát triển Hơn nữa, sử dụng phương pháp lôgic còn nhằm để lý giải, khái quát, đánh giá và rút ra những kết luận từ quá trình chuyển biến kinh tế, xã hội của không gian nghiên cứu trong một thời gian nhất định

Bên cạnh đó, luận án còn sử dụng phương pháp thống kê, phân tích, so sánh và phương pháp liên ngành

Ngoài ra, các phương pháp điều tra xã hội học, phỏng vấn, điền dã, khảo sát cũng được chúng tôi áp dụng trong việc thu thập thông tin, kiểm chứng, đối chiếu với những gì chúng tôi đã tiếp cận qua tài liệu thành văn để làm rõ hơn các vấn đề trong luận án

4.2 Nguồn tài liệu

Tài liệu được khai thác trong đề tài chủ yếu gồm 4 nguồn:

- Trước hết là các văn kiện của các kỳ Đại hội đại biểu Đảng toàn quốc; Nghị quyết các Hội nghị Trung ương; Nghị quyết, Chỉ thị của Chính phủ; Văn bản pháp luật

Trang 13

của Quốc hội; Văn kiện và Nghị quyết của Đảng bộ và chính quyền địa phương Nguồn tài liệu này đề cập những chủ trương, phương hướng, chính sách của Đảng, Nhà nước trong giai đoạn từ năm 1991 đến năm 2010 và những biện pháp thực thi của các cấp chính quyền địa phương

- Nguồn tài liệu thứ hai được khai thác từ Tổng cục Thống kê và các báo cáo, tổng kết năm, kế hoạch 5 năm của các ban, ngành ở tỉnh Hòa Bình về kết quả triển khai nhiệm vụ phát triển kinh tế, xã hội

- Nguồn tài liệu thứ ba gồm các công trình nghiên cứu, các luận văn, luận án liên quan đến đề tài

- Nguồn tài liệu thứ tư là từ các chuyến khảo sát, điền dã của NCS

5 Đóng góp của đề tài

- Luận án là công trình nghiên cứu khoa học chuyên khảo tổng hợp một cách hệ thống về quá trình chuyển biến trên nhiều lĩnh vực của kinh tế và xã hội ở Hòa Bình từ khi tái lập tỉnh 1991 đến năm 2010

- Luận án tái hiện sự chuyển biến kinh tế, xã hội ở Hòa Bình giai đoạn 1991 đến năm 2010 với những chỉ số định lượng cụ thể của từng lĩnh vực, làm rõ những đặc điểm kinh tế, xã hội của tỉnh cũng như những tiềm năng thế mạnh và thách thức đặt ra cho địa phương trong sự phát triển đi lên; đưa ra một số nhân xét về quá trình chuyển biến kinh tế, xã hội, đồng thời cũng gợi mở một số đề xuất nhằm góp phần vào sự phát triển kinh tế, xã hội của tỉnh thời gian tới

- Luận án là tài liệu phục vụ nghiên cứu, giảng dạy lịch sử dân tộc và lịch sử địa phương; tuyên truyền giáo dục lòng yêu quê hương, đất nước cho các thế hệ cán bộ lãnh đạo và nhân dân địa phương; góp phần khẳng định vị thế mới, thúc đẩy sự phát triển kinh tế, xã hội của tỉnh Hòa Bình trong những giai đoạn tiếp theo

6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận án

6.1.Ý nghĩa lý luận:Đây là công trình khoa học nghiên cứu chuyển biến kinh tế,

xã hội của địa phương cụ thể Do đó, luận án góp phần bổ sung một số vấn đề về lý luận kinh tế - xã hội như: lý luận về chuyển biến kinh tế, xã hội, về các nguồn lực, về

mối quan hệ tăng trưởng, phát triển

6.2 Ý nghĩa thực tiễn của luận án:Luận án sẽ là một chuyên đề phục vụ cho việc

nghiên cứu và xây dựng đường lối phát triển kinh tế của tỉnh; Luận án là tài liệu tham khảo hữu ích trong nghiên cứu, giảng dạy lịch sử dân tộc và lịch sử địa phương, tài

Trang 14

liệu tuyên truyền giáo dục… góp phần khẳng định vị thế mới, thúc đẩy sự phát triển kinh tế, xã hội của tỉnh Hòa Bình trong những giai đoạn tiếp theo

7 Kết cấu Luận án

Ngoài các phần Mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo, Phụ lục, nội dung của Luận án được chia thành 4 chương:

Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận án

Chương 2: Quá trình chuyển biến kinh tế của tỉnh Hòa Bình từ năm 1991 đến năm 2010 Chương 3: Quá trình chuyển biến xã hội của tỉnh Hòa Bình từ năm 1991 đến năm 2010 Chương 4: Nhận xét, đánh giá quá trình chuyển biến kinh tế và xã hội của tỉnh Hòa

Bình từ năm 1991 đến năm 2010

Trang 15

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI

LUẬN ÁN

Vấn đề kinh tế, xã hội cả nước nói chung, ở các địa phương nói riêng là một nội dung được các nhà nghiên cứu ở Trung ương và địa phương quan tâm dưới nhiều hình thức, góc độ khác nhau Sự chuyển biến kinh tế và xã hội của tỉnh Hòa Bình từ năm 1986 đến nay và trong những năm 1991 đến năm 2010 cũng không nằm ngoài tình hình đó Nhiều công trình nghiên cứu về vấn đề này đã được công bố và xuất bản dưới nhiều hình thức, nhiều góc độ khác nhau Tác giả xếp thành những nhóm công trình sau:

1.1.1 Những nghiên cứu về kinh tế, xã hội nói chung

Trường Chinh trong tác phẩm: “Đổi mới đòi hỏi bức thiết của đất nước và của thời đại”, Nxb, Sự thật, Hà Nội, năm 1987, đã phân tích chủ trương của Đảng đề ra tại

các Đại hội IV, V; trên cơ sở đó, khẳng định tính đúng đắn và những thành tựu đạt được; đồng thời, chỉ ra những sai lầm, khuyết điểm, nguyên nhân của nó, tất yếu phải đổi mới, nhất là đổi mới tư duy kinh tế

Lê Xuân Trinh (chủ biên) trong cuốn sách: “Kinh tế - xã hội Việt Nam năm 2000: mục tiêu, phương hướng và giải pháp chủ yếu”,Uỷ ban Kế hoạch Nhà nước, Hà

Nội, năm 1990, đề cập tương đối toàn diện về tình hình và những bài học thực tiễn; quan điểm, mục tiêu chiến lược, những định hướng và giải pháp chủ yếu nhằm ổn định, phát triển kinh tế, xã hội ở nước ta đến năm 2000

GS Đỗ Đình Giao trong công trình: “Chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hóa nền kinh tế quốc dân”, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1994, luận

giải về vấn đề chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hoá nền kinh tế quốc dân và quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hoá trong nền kinh tế quốc dân ở nước ta nói chung với những thành tựu và bài học kinh nghiệm Đây là cơ sở để luận án kế thừa và vận dụng

PGS Đỗ Hoài Nam trong chuyên luận: “Chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành và phát triển mũi nhọn”, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội 1996, đi sâu vào nội dung chuyển

dịch cơ cấu kinh tế ngành ở mức độ vi mô hơn Theo tác giả, cùng với chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành, cần phát triển những ngành kinh tế mũi nhọn phù hợp với tiềm năng

và lợi thế sẵn có của từng vùng Luận án sẽ vận dụng và so sánh khi nói về vấn đề

Trang 16

chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành và phát triển một số ngành mũi nhọn phù hợp với tiềm năng trong tỉnh Hoà Bình

Trần Hoàng Kim trong công trình:” Kinh tế Việt Nam chặng đường 1945 – 1995

và triển vọng đến năm 2020”, Nxb Thống kê, Hà Nội,1996, đã hệ thống tư liệu và số

liệu trong 50 năm kinh tế Việt Nam tương đối toàn diện và đầy đủ Trong cuốn sách này, tác giả đã có những nhận định, tuy chưa nhiều, nhưng khá sắc nét về kinh tế Việt Nam trong chặng đường từ năm 1945 đến năm 1995 và đưa ra những định hướng phát triển đến năm 2020

Năm 2001, Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia xuất bản kỉ yếu Hội thảo Quốc tế

“Việt Nam trong thế kỉ XX” Bộ sách gồm nhiều công trình nghiên cứu của các học giả

trong và ngoài nước về vấn đề: Những chuyển biến kinh tế, xã hội, văn hóa, chính trị trong thế kỉ XX; Công cuộc đổi mới toàn diện đất nước Việt Nam và Việt Nam trong những năm đầu của thế kỉ XXI; Triển vọng và thách thức

Các công trình nghiên cứu về các vấn đề kinh tế - xã hội thời kỳ đổi mới như:

“Đổi mới kinh tế - xã hội thành tựu, vấn đề và giải pháp”, Phạm Xuân Nam (Chủ

biên), Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, 1991, đã phân tích các lĩnh vực chủ yếu của đời sống kinh tế - xã hội nước ta sau 4 năm thực hiện đường lối đổi mới do Đảng khởi xướng và lãnh đạo, qua đó nêu lên những thành tựu đã đạt được, chỉ ra những vấn đề tồn đọng từ lâu hoặc mới nảy sinh và đề xuất một số kiến nghị về giải pháp sắp tới nhằm góp phần vào việc xây dựng, hoàn thiện cụ thể hóa và tổ chức thực hiện

chiến lược ổn định và phát triển kinh tế - xã hội nước ta đến năm 2000 ; “Đổi mới kinh tế và phát triển”, Vũ Tuấn Anh (chủ biên), Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, 1994

đã chỉ ra những nét chính của quá trình đổi mới các chính sách kinh tế, vai trò của Nhà nước trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội, tác động của quá trình đổi mới kinh tế đối với tăng trưởng và chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá, những chuyển biến của cơ cấu xã hội, xu hướng phân tầng xã hội

dưới ảnh hưởng của đổi mới chính sách kinh tế; “Kinh tế Việt Nam đổi mới : Những phân tích và đánh giá quan trọng” của Nguyễn Văn Chỉnh, Vũ Quang Việt, Trần

Vân, NxbThống kê, Hà Nội, 2002, đã hệ thống hoá số liệu tổng hợp và chi tiết trên phạm vi cả nước và từng vùng, lãnh thổ, phân tích kinh tế về tốc độ tăng trưởng, chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo ngành, thành phần kinh tế, khu vực thể chế, vùng

lãnh thổ và hoạt động tài chính;“Kinh tế - Xã hội Việt Nam, Các tỉnh – thành phố - quận – huyện”, Nxb Thống kê, Hà Nội, năm 2006); “Kinh tế - Xã hội Việt Nam trước thềm

Trang 17

hội nhập”, Nxb Thống kê, Hà Nội, năm 2005, giới thiệu tổng quan những thành tựu phát

triển kinh tế, xã hội của đất nước qua 20 năm đổi mới (1986 – 2006), đặc biệt là thành tựu của 5 năm (2001 - 2005), phương hướng, nhiệm vụ phát triển kinh tế của các địa phương

trong cả nước từ 2006 đến 2010, trong đó có tỉnh Hòa Bình; “Kinh tế Việt Nam 1955 –

2000 tính toán mới, phân tích mới”, Trần Văn Thọ (chủ biên), Nxb Thống kê, Hà Nội

năm 2001, đã giới thiệu khái quát về thể chế thống kê của Việt nam, phân tích tình

hình kinh tế Việt Nam từ 1955-2000; “Đại cươngLịch sử Việt Nam – Tập 3”, Lê Mậu

Hãn (Chủ biên), Nxb Giáo dục, Hà Nội, 2008, đề cập đến những thắng lợi bước đầu của công cuộc đổi mới qua việc thực hiện các kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội của

đất nước ; “Lịch sử Việt Nam, tập 15, từ năm 1986 đến năm 2000”, Nxb Khoa học xã

hội, 2014, Nguyễn Ngọc Mão (Chủ biên) đã dựng lại bức tranh khá sinh động về phát triên kinh tế, xã hội Việt Nam 15 năm đầu sau đổi mới

Một số công trình luận án nghiên cứu về chuyển biến kinh tế, xã hội ở các địa

phương như: Nguyễn Văn Hiệp “Những chuyển biến kinh tế - xã hội của Bình Dương

từ 1945 đến 2005”, luận án tiến sĩ lịch sử, năm 2007; Nguyễn Duy Thuỵ “Chuyển biến kinh tế - xã hội tỉnh Đăk Lăk từ năm 1975 đến năm 2003”, Luận án Tiến sĩ Sử học, năm 2010; Hoàng Việt Anh, “Nghiên cứu chuyển dịch cơ cấu kinh tế tỉnh Bắc Kạn trong giai đoạn 1997 - 2009”, luận án tiến sĩ Địa lý, năm 2012; Nguyễn Thị Nguyền

“Quá trình chuyển biến kinh tế, xã hội tỉnh Lào Cai từ năm 1991 đến năm 2010”, Luận án Tiến sĩ Sử học, năm 2013; Hoàng Thị Mỹ Hạnh “Quá trình chuyển biến kinh

tế, xã hội tỉnh Thái Nguyên từ năm 1997 đến năm 2010”, Luận án tiến sĩ sử học, năm 2013; Lê Hồng Sơn “Chuyển biến kinh tế, xã hội huyện Vị Xuyên, tỉnh Hà Giang từ năm

1986 đến năm 2010”, luận án tiến sĩ Sử học, năm 2016; Và còn rất nhiều các luận văn

thạc sĩ nghiên cứu về chuyển dịch cơ cấu kinh tế của một huyện, tỉnh một địa phương cụ

thể như: Nguyễn Xuân Hùng, “Chuyển biến về KT-XH huyện Đồng Hỷ trong thời kỳ đổi mới (1986-2002)”, luận văn thạc sĩ lịch sử, năm 2004; Vì Việt Cường, “ Chuyển biến kinh tế - xã hội huyện Sông Mã (Sơn La) trong thời kỳ đổi mới (1986-2003)”, luận văn thạc sĩ lịch sử, năm 2005; Trần Dũng, “Chuyển biến kinh tế - xã hội thị xã Vĩnh Yên (Vĩnh phúc) từ khi tái lập tỉnh (1997) đến 2005”, luận văn thạc sĩ lịch sử, năm 2006; Phan Tùng Dương “Chuyển biến kinh tế - xã hội huyện Yên Thế (Bắc Giang) trong thời kỳ đổi mới (1986 - 2005)”, luận văn thạc sĩ lịch sử, năm 2006; Nguyễn Thị Nhung, “Chuyển biến về kinh tế - xã hội thành phố Yên Bái từ 1991 đến 2005” , luận văn thạc sĩ lịch sử, năm 2006; Ngô Đình Khiêm “Quá trình chuyển biến kinh tế - Xã

Trang 18

hội của tỉnh Cà Mau từ năm 1997 đến năm 2007”, luận văn thạc sĩ, năm 2008; Nguyễn Thị Kim Nhung, “Chuyển biến kinh tế - xã hội huyện Việt Yên tỉnh Bắc Giang trong thời kỳ đổi mới (1986 – 2005)”, luận văn thạc sĩ lịch sử, năm 2010;Trần Minh Thu “ Chuyển biến về kinh tế - xã hội huyện Phú Lương tỉnh Thái Nguyên trong thời kì đổi mới (1986-2005)” , luận văn thạc sĩ lịch sử, năm 2010; Hàng Quốc Tuấn, “Quá trình chuyển biến kinh tế - xã hội tỉnh Trà Vinh từ năm 1986 đến năm 2010”, luận văn thạc sĩ lịch

sử, năm 2010; Nguyễn Thị Thu Trang, “Chuyển biến về Kinh tế - Xã hội huyện Sơn Dương trong thời kỳ đổi mới(1986 - 2010)”, luận văn thạc sĩ lịch sử, năm 2012; Phạm Thanh Hoa , “Chuyển biến về kinh tế - xã hội của thành phố Yên Bái từ năm 1986 đến năm 2010”, luận văn thạc sĩ lịch sử, năm 2013; Hoàng Thị Thu Hương, “Biến đổi kinh

tế - xã hội huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên trong thời kỳ đổi mới (1986 – 2010)”, luận văn thạc sĩ Lịch sử, năm 2013; Trịnh Văn Thắng “Sự chuyển biến kinh tế, xã hội huyện Tiên Du, tỉnh Bắc Ninh từ năm 1999 đến năm 2013”, luận văn thạc sĩ lịch sử, năm 2015; Trịnh Thị Thu “Kinh tế, xã hội thành phố Uông Bí (Quảng Ninh) từ năm 1986 đến năm 2013”, luận văn thạc sĩ lịch sử, năm 2015; Hoàng Thị Hải “Chuyển biến kinh

tế, xã hội huyện Duy tiên Hà Nam từ 1996 đến 2005”, luận văn Thạc sĩ sử học, năm

2016 Tất cả các công trình khoa học trên, do mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu khác nhau đã góp phần làm sáng tỏ nhiều vấn đề về kinh tế, xã hội của đất nước nói chung

và tình hình kinh tế, xã hội của các tỉnh, các huyện trong cả nước nói riêng trong một thời kì lịch sử nhất định Những kết quả nghiên cứu của các công trình đó đã giúp tác giả hiểu biết những vấn đề lí luận và thực tiễn của nền kinh tế cũng như những tác động của nó đối với sự phát triển xã hội cho đến thời điểm mà các công trình luận án

và luận văn đã đề cập Những đánh giá này được tác giả chọn lọc, kế thừa trong việc nghiên cứu và trình bày trong Luận án của mình; đồng thời, những công trình nghiên cứu trên đây đã giúp chúng tôi bổ sung thêm nhiều tài liệu rất bổ ích và có giá trị

TS Đặng Văn Thắng, TS Phạm Ngọc Dũng trong tác phẩm: “Chuyển dịch cơ cấu kinh tế công - nông nghiệp đồng bằng sông Hồng, thực trạng và triển vọng”, Nxb

Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2003, đề cập đến quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế công - nông nghiệp phù hợp với một vùng trọng điểm kinh tế là đồng bằng sông Hồng, nêu lên thực trạng kinh tế hiện tại và triển vọng phát triển trong tương lai Đây là cơ sở để luận án vận dụng vào tìm hiểu thực trạng kinh tế và triển vọng phát triển của một vùng, một tỉnh Ngoài ra, một số tác giả cũng đề cập đến vấn đề tương tự như: PGS.TS

Phan Thanh Phố trong tác phẩm: “Những vấn đề cơ bản về kinh tế và đổi mới kinh tế

Trang 19

Việt Nam”, Nxb Giao dục, Hà Nội, 1996; PGS.TS Nguyễn Văn Khánh:“Biến đổi cơ cấu ruộng đất và kinh tế nông nghiệp vùng châu thổ sông Hồng trong thi kỳ đổi mới”, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2003; Davit Dapice: “Việt Nam cải cách kinh tế theo hướng rồng bay”, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1994…

Đối với các tỉnh miền núi, có thể kể đến các tác phẩm như; “Một số vấn đề kinh

tế - xã hội các tỉnh miền núi phía Bắc” do Viện Dân tộc học thực hiện, Nxb Khoa học

xã hội, Hà Nội, 1987, tập hợp nhiều bài viết của các nhà nghiên cứu bước đầu lý giải một số vấn đề về phát triển kinh tế - xã hội tại các tỉnh miền núi phía Bắc, như vấn đề dân tộc, dân cư và lao động, vấn đề xác định, đánh giá những thế mạnh của miền núi

và việc khai thác phát huy những thế mạnh, các tiềm năng kinh tế ở khu vực này Bên cạnh những vấn đề đó, là việc xây dựng, củng cố và phát triển quan hệ sản xuất mới, phát triển văn hoá - giáo dục… đưa ra những hạn chế trong phát triển văn hoá, giáo

dục miền núi Cuốn sách: “Các dân tộc thiểu số trong sự phát triển kinh tế - xã hội ở miền núi”, Bế Viết Đẳng (chủ biên), Nxb Chính trị quốc gia, Nxb Văn hoá dân tộc, Hà

Nội 1996, đề cập đến quan điểm, đường lối chính sách dân tộc, những vấn đề cấp bách

về thực trạng phát triển kinh tế, văn hoá, xã hội thuộc vùng đồng bào dân tộc thiểu số ở miền núi Đồng thời, các tác giả cũng đề xuất những ý kiến tham khảo cho việc hoạch định những chính sách đối với các dân tộc thiểu số miền núi trong sự nghiệp

công nghiệp hoá - hiện đại hoá ở nước ta hiện nay Công trình: “Những đặc điểm kinh

tế - xã hội các dân tộc miền núi phía Bắc”, Khổng Diễn (Chủ biên), Nxb Khoa học xã

hội, Hà Nội, 1996 là kết quả thu được từ những cuộc điều tra, điền dã dân tộc học trong một số năm kết hợp với các tài liệu thống kê dân số ở Trung ương và địa phương, cung cấp bức tranh khái quát nhưng rất phong phú và đa dạng về nhiều mặt: điều kiện tự nhiên, môi trường sinh thái, dân cư, dân số, kinh tế, văn hoá và mối quan hệ giữa các dân tộc miền núi phía Bắc Việt Nam Trên một khía cạnh khác, các tác giả Lê Du Phong, Hoàng Văn Hoa (chủ biên), Nguyễn Đình Phan, Dương Thị

Thanh Mai trong sách “Phát triển kinh tế - xã hội các vùng dân tộc và miền núi theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá”, Nxb, Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1998, đã

nêu lên thực trạng kinh tế - xã hội ở các vùng dân tộc và miền núi hiện nay cũng như tính cấp thiết phải đẩy nhanh nhịp độ phát triển kinh tế xã hội; đồng thời đề ra các định hướng phát triển, một số giải pháp chủ yếu nhằm phát triển kinh tế - xã hội, bảo vệ môi trường, phát huy bản sắc văn hoá, ổn định chính trị, an ninh quốc gia, đoàn kết các dân tộc và miền núi theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước nói

Trang 20

chung và đối với từng khu vực cụ thể thuộc vùng dân tộc miền núi Việt Nam nói riêng Sách cũng làm nổi bật cơ hội và thách thức trong quá trình phát triển kinh tế -

xã hội vùng dân tộc và miền núi theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá, đưa ra kinh nghiệm của một số nước trong việc phát triển kinh tế - xã hội vùng dân tộc và miền núi

Tương tự có thể kể đến công trình “Tiềm năng phát triển kinh tế - xã hội các tỉnh trung du và miền núi Bắc Bộ”, Nxb Lao động xã hội, Hà Nội, 2006 Sách do Bộ

Công nghiệp phối hợp với các ngành kinh tế, các địa phương, các doanh nghiệp trong Vùng thu thập thông tin xuất bản Sách giới thiệu khái quát tiềm năng, định hướng phát triển kinh tế - xã hội vùng trung du và miền núi phía Bắc; giới thiệu tiềm năng, định hướng phát triển kinh tế - xã hội của từng địa phương trong Vùng Cuốn sách:

“Những chuyển đổi kinh tế - xã hội ở vùng cao Việt Nam” do Trung tâm Nghiên cứu tài

nguyên và môi trường - Đại học Quốc gia Hà Nội thực hiện, Nxb Khoa học và Kỹ thuật, Hà Nội, 2008, tập hợp những bài viết của các học giả, nhà nghiên cứu trong và ngoài nước về những đề tài đang mang tính thời sự ở Việt Nam như quá trình chuyển đổi cơ cấu kinh tế, sự thay đổi các mối quan hệ lao động, thành quả phát triển trong thời kì mở cửa ở vùng cao Việt Nam v.v…

1.1.2 Những nghiên cứu liên quan đến kinh tế, xã hội tỉnh Hòa Bình

Sự chuyển biến về kinh tế, xã hội tỉnh Hòa Bình trong công cuộc đổi mới đã thu hút được sự quan tâm sâu sắc của các nhà lãnh đạo, các nhà khoa học trong và ngoài tỉnh Đây là một trong những mảng đề tài đã được nhiều công trình nghiên cứu trực tiếp hoặc gián tiếp ở những khía cạnh khác nhau và đã được công bố

Cuốn sách: “Văn hóa dân tộc Mường” (Kỷ yếu hội thảo văn hóa dân tộc Mường tại

Hòa Bình tháng 9 - 1993), do Sở Văn hóa thông tin, Hội Văn hóa các dân tộc tỉnh Hòa Bình xuất bản năm 1995 Cuốn sách tập hợp những bài viết của nhiều tác giả, của các chuyên gia nghiên cứu về văn hóa; làm rõ nhiều nét văn hóa xã hội của người Mường ở Hòa Bình, làm cơ sở cho tác giả nghiên cứu sâu hơn về đời sống xã hội hiện tại

Công trình:“Tỉnh Mường Hòa Bình” của Pierre Grossin, Nxb Lao Động, năm

1994 Bằng nguồn tư liệu phong phú cùng với sự khảo sát thực tế một cách kỹ lưỡng, tác giả đã giới thiệu với độc giả hầu như tất cả những gì liên quan đến vùng đất Mường ở cửa ngõ Tây Bắc Việt Nam; từ địa lý tự nhiên đến lịch sử hình thành tỉnh Mường; từ những vấn đề dân tộc học đến đời sống kinh tế văn hóa của bà con các dân tộc sống trên vùng đất này; từ những gì thuộc về tiềm năng đến những dự đoán tương

Trang 21

lai Cuốn sách thật sự có ích đối với việc nghiên cứu kinh tế, xã hội tỉnh Hòa Bình những năm đầu sau khi tái lập

Cuốn sách “Lịch sử 45 năm tài chính Hòa Bình 1952 – 1997”, do sở Tài Chính

vật giá Hòa Bình xuất bản năm 1999, đã trình bày vai trò, tầm quan trọng, đóng góp của ngành tài chính Hòa Bình đối với tiến trình phát triển kinh tế, văn hóa - xã hội Đây được coi như các dữ liệu cần bổ sung vào nhân tố tác động đến chuyển biến kinh

tế, xã hội trong tỉnh thời kỳ 1991-2010

Cuốn sách: “Hòa Bình 10 năm xây dựng và phát triển (1991 - 2001)” do Ban

tuyên giáo Tỉnh ủy Hòa Bình xuất bản năm 2001 tập hợp bài viết của các tác giả, đứng đầu các sở, ban, ngành nhằm tổng kết đánh giá những thành tựu, hạn chế của tất cả các ngành, các lĩnh vực kinh tế - xã hội Trong đó, nổi bật lên những bài chi tiết về : giáo dục, y tế, an sinh xã hội giúp ích tác giả rất nhiều trong việc nghiên cứu tình hình xã hội của tỉnh Hòa Bình giai đoạn 1991 đến 2001

Cuốn sách:“55 truyền thống Ban tuyên giáo Tỉnh ủy Hòa Bình(1948 - 2003)” do

Ban tuyên giáo Tỉnh ủy Hòa Bình xuất bản năm 2003, qua đó, giúp tác giả có cái nhìn đúng đắn hơn về những chủ trương chính sách của Đảng, và sự vận dụng của tỉnh vào hoàn cảnh thực tiễn, đồng thời thấy được một số thành tựu và hạn chế trong phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh

Cuốn “Địa Chí Hoà Bình ", Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, năm 2005 là một

công trình đồ sộ, gồm 5 phần về địa lí, lịch sử, kinh tế, dân cư – dân tộc, văn hóa xã hội, các huyện, thành thị và phần phụ lục Cuốn sách được xem như một công trình khoa học tổng hợp hàng đầu của mỗi địa phương- với tư cách là bộ bách khoa toàn thư nhằm thỏa mãn nhu cầu nhận thức về mảnh đất, con người địa phương, những tiềm năng và thế mạnh, để từ đó hoạch định chiến lược phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội cũng như an ninh - quốc phòng của từng địa phương trong tổng thể đường lối phát triển chung của đất nước Tuy cuốn địa chí chỉ nghiên cứu đến năm 2003, nhưng là tài liệu giúp tác giả có cái nhìn toàn diện về chuyển biến kinh tế, xã hội tỉnh Hòa Bình từ trước năm 1991 đến năm 2003

Cuốn sách:“Hòa Bình - Thế và lực mới trong thế kỉ XXI” của Chu Viết Luân,

Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, năm 2005, đã giúp bạn đọc có những thông tin chung, kiến thức cơ bản về lịch sử hình thành và phát triển, về kinh tế và văn hóa cũng như tiềm năng, lợi thế của Hòa Bình Với mục đích trên, cuốn sách đã đề cập đến những vấn đề mà chúng tôi quan tâm nghiên cứu trong đề tài Luận án Trong phần I, các tác giả

Trang 22

đề cập những nét khái quát về lịch sử mảnh đất, con người Hòa Bình Phần II các tác giả đưa ra 9 chương trình kinh tế trọng điểm của tỉnh Hòa Bình Phần III và phần IV đề cập đến các tổ chức chính trị - xã hội và các đơn vị hành chính thuộc tỉnh Hòa Bình Phần V giới thiệu về kết cấu hạ tầng của Hòa Bình Phần VI đề cập đến bức tranh toàn cảnh về kinh tế tỉnh Hòa Bình Phần VII đề cập đếnvăn hóa – thông tin tỉnh Hòa Bình

Cuốn sách:“60 năm truyền thống giao thông vận tải Hòa Bình”, do Sở Giao

thông vận tải Hòa Bình xuất bản tháng 8 năm 2005, trình bày vai trò của ngành GTVT trong quá trình phục vụ sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội, đặc biệt 5 năm đầu sau ngày tái lập tỉnh, thời gian luận án đề cập, là những dữ liệu bổ sung vào những nhân tố tác động đến quá trình chuyển biến kinh tế, xã hội tỉnh Hòa Bình

Cuốn sách:“Lịch sử tỉnh Hòa Bình (1886-2000)”, do Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy-

sở Giáo dục và Đào tạo Tỉnh ủy Hòa Bình biên soạn, Hòa Bình, 2007, là công trình đầu tiên khái quát có hệ thống những chặng đường lịch sử của tỉnh Hòa Bình từ khi thành lập (1886) đến năm 2000 Cuốn sách có đề cập đến những nét chính tình hình kinh tế - xã hội của tỉnh Hòa Bình từ 1991 đến 2000 Tuy nhiên, nội dung cuốn sách chỉ mang tính khái quát, chưa chi tiết cụ thể, cuốn sách chỉ dừng lại ở năm 2000

Cuốn sách:“Văn hóa truyền thống một số tộc người ở Hòa Bình” do PGS.TS

Nguyễn Thị Thanh Nga (chủ biên), Nxb Văn hóa dân tộc, năm 2007 là công trình chuyên khảo tổng hợp nghiên cứu sự biến đổi văn hóa của ba dân tộc Mường, Thái, Mông ở Hòa Bình trong sự tương quan so sánh, sự giao lưu văn hóa của các dân tộc trên cùng một địa vực cư trú, trong một không gian văn hóa Công trình đi sâu nghiên cứu các nhân tố cơ bản của văn hóa, như phương thức sản xuất, công cụ sản xuất, làng bản, nhà cửa, các tập tục trong ăn, mặc, ở, những quan hệ xã hội, gia đình, dòng họ và hôn nhân , bởi vậy là cơ sở để tác giả nghiên cứu so sánh sự chuyển biến về văn hóa,

xã hội của các tộc người cư trú trên địa bàn tỉnh

Cuốn sách:“Đảng bộ tỉnh Hòa Bình qua các kỳ đại hội (1945 - 2005)”, do Ban

Tuyên giáo Tỉnh ủy Hòa Bình, xuất bản tháng 5 năm 2008, nêu đầy đủ 14 kỳ Đại hội của Đảng bộ trong hơn 60 năm Cuốn sách đi sâu vào sự lãnh đạo, chỉ đạo của Đảng

bộ tỉnh trên tất cả các mặt kinh tế, xã hội Tuy nhiên, để nghiên cứu tổng thể mọi mặt kinh tế - xã hội, thì cuốn sách chỉ mang tính chất sơ lược, chưa cụ thể chi tiết

Cuốn sách: “Lịch sử Đảng bộ tỉnh Hòa Bình (1929 -2010)”, Nxb Chính trị -

Hành chính, năm 2011 Nội dung cuốn sách gồm 6 chương,trong đó, chương VI, với

tiêu đề: “Đảng bộ tỉnh Hoà Bình tái lập - tiếp tục đẩy mạnh sự nghiệp đổi mới trên quê

Trang 23

hương (1991-2010)”đã cho tác giả cái nhìn tổng quan các mốc phát triển kinh tế, xã

hội tỉnh Hòa Bình dưới sự lãnh đạo của Đảng thời kỳ luận án đề cập

Cuốn sách: “Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội tỉnh Hòa Bình 2006 - 2010” do

Ủy ban nhân dân tỉnh Hòa Bình xuất bản năm 2005 Cuốn sách chia làm hai phần: phần thứ nhất đánh giá tình hình kế hoạch phát triển kinh tế xã hội 5 năm 2001 - 2005 Phần thứ hai nêu rõ mục tiêu và nhiệm vụ của kế hoach phát triển kinh tế - xã hội giai đoạn 2006 – 2010 Cuốn sách giúp tác giả có cái nhìn cụ thể rõ ràng về tình hình phát triển kinh tế - xã hội giai đoạn 2001 – 2005, đồng thời thấy được những mục tiêu nhiệm vụ, giải pháp mà tỉnh Hòa Bình đề ra trong giai đoạn 2006 – 2010, giúp tác giả nắm rõ tình hình kinh tế xã hội giai đoạn 2001 – 2005

Cuốn sách“Lịch sử Đảng bộ quân sự tỉnh Hòa Bình (1947- 2012)” do Đảng ủy

quân sự tỉnh Hòa Bình xuất bản năm 2012, trình bày khái quát địa bàn chiến lược, truyền thống yêu nước, và đấu tranh cách mạng của cư dân Hòa Bình Đây là một trong những nhân tố tác động đến chuyển biến kinh tế, xã hội mà tác giả nghiên cứu Cuốn sách cũng làm rõ được vai trò của của Đảng bộ quân sự trong việc giữ vững ổn định chính trị địa bàn, tạo điều kiện cho địa phương phát triển kinh tế - xã hội

Cuốn sách: “Kỷ yếu văn hóa Hòa Bình 65 năm xây dựng và phát triển (28/8/1945 -28/8/2010 )”, do Sở Văn hóa, Thể thao và Du lich tỉnh Hòa Bình xuất bản đã tổng

hợp những bài viết của các tác giả về quá trình xây dựng phát triển, những thành tựu về văn hóa thể dục, thể thao, du lịch của tỉnh Hòa Bình Qua đó, thấy được tác động của công tác văn hóa, thể dục thể thao và du lịch đến quá trình phát triển kinh tế - xã hội

Cuốn sách: “Văn hóa Hòa Bình 70 năm trưởng thành và phát triển”, do Ủy ban

nhân dân tỉnh Hòa Bình, Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch xuất bản năm 2015 tập hợp những bài viết của các đồng chí đại diên lãnh đạo tỉnh Hòa Bình và đại diện các đồng chí lãnh đạo Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch, đại diện các phòng ban đơn vị trực thuộc sở Bằng những tâm huyết, bài viết của các tác giả đã minh chứng lịch sử và thành quả của ngành Văn hóa, Thể thao và Du lịch trong 70 năm qua Cuốn sách cung cấp nhiều thông tin quan trọng liên quan đến văn hóa, xã hội, quá trình hình thành phát triển văn hóa – xã hội tỉnh Hòa Bình

Cuốn sách:“Lịch sử phong trào nông dân và hoạt động hội nông dân tỉnh Hòa Bình 1995 – 2015”, do BCH hội nông dân tỉnh Hòa Bình xuất bản năm 2015, đã trình

bày vai trò của hội nông dân trong việc góp phần thực hiện đường lối đổi mới của

Trang 24

Đảng, đẩy mạnh sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước Cuốn sách cung cấp cho tác giả tài về tình hình nông nghiệp, nông thôn thời kỳ 1991 - 2010

Cuốn sách:“Lịch sử ngành nông nghiệp và phát triển nông thôn tỉnh Hòa Bình (1945-2015)”, do sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tỉnh Hòa Bình xuất bản

tháng 11 năm 2016 phản ánh khá trung thực, khách quan quá trình hình thành, phát triển của ngành Nông nghiệp và Phát triển nông thôn qua các chặng đường lịch sử từ năm 1945 đến năm 2015 Trong đó, đề cập khái quát đến vị trí địa lí, điều kiện tự nhiên và dân cư đây là những nhân tố tác động đến kinh tế - xã hội mà tác giả nghiên cứu Chương IV trình bày ngành nông nghiệp và phát triển nông thôn tỉnh Hòa Bình từ khi tái lập (1991- 2015) đã làm rõ được những kết quả mà ngành nông, lâm, thủy sản đạt được so với mục tiêu của tỉnh đạt ra, đồng thời cũng đưa ra những giải pháp phát triển đến năm 2020 Cuốn sách cung cấp cho tác giả những vấn đề khái quát nhất về tình hình chủ trương, chính sách, thành tựu phát triển nông nghiệp của tỉnh

Các cuốn sách:“Kỷ yếu Hội đồng nhân dân tỉnh Hòa Bình, khóa XI, nhiệm kỳ

1989 – 1994”, xuất bản năm 2005; “Kỷyếu Hội đồng nhân dân tỉnh khóa XII nhiệm kỳ

1994 – 1999”, xuất bản năm 1999; “Kỷ yếu Hội đồng nhân dân tỉnh Hòa Bình, khóa XVI, nhiệm kỳ 2000 – 2009, xuất bản năm 2006” Các cuốn sách tổng hợp các Nghị

quyết của Hội đồng nhân dân tỉnh các khóa Trong đó, nổi bật lên các báo cáo về tình hình phát triển kinh tế - xã hội từng thời kì, từng giai đoạn cụ thể, đồng thời nêu lên những định hướng giai đoạn sau Qua đó, giúp tác giả có cái nhìn chi tiết cụ thể về tình hình kinh tế - xã hội từng thời kì

Cuốn sách:“Kỷ yếu kết quả thực hiện nhiệm vụ khoa học và công nghệ 10 năm, giai đoạn 2006 - 2015” do UBND tỉnh Hòa Bình và sở Khoa học công nghệ Hòa Bình

xuất bản, trình bày hơn 200 chương trình đề án, dự án cấp tỉnh và cấp quốc gia được triển khai.Trong đó, có một số đề tài liên quan trực tiếp đến vấn đề kinh tế, xã hội mà tác giả đang nghiên cứu Trên cơ sở đánh giá những đề tài dự án, cuốn kỷ yếu cung cấp cho tác giả một số gợi ý về những nhiệm vụ, giải pháp để phát triển tỉnh Hòa Bình trong thời gian tới

Phạm Lê Thảo, với luận án tiến sỹ địa lý năm 2006, :“Tổ chức lãnh thổ du lịch Hoà Bình trên quan điểm phát triển bền vững”, đi sâu vào một ngành kinh tế, dịch vụ

du lịch là tiềm năng, thế mạnh của tỉnh Hoà Bình Theo tác giả, phát triển du lịch cần dựa vào thế mạnh của từng địa phương trong tỉnh và gắn với bảo vệ môi trường sinh

Trang 25

thái Luận án là nguồn tài liệu tham khảo cho tác giả khi nghiên cứu khu vực dịch vụ, đặc biệt là mảng du lịch

Trần Văn Dư trong chuyên luận: “Thực trạng và những giải pháp chủ yếu nhằm phát triển kinh tế hộ nông dân ở vùng đồi núi tỉnh Hoà Bình theo hướng sản xuất hàng hoá”, luận án tiến sỹ kinh tế năm 2007 Tác giả đi vào nội dung của kinh tế nông

nghiệp là phát triển kinh tế hộ nông dân ở vùng đồi núi của tỉnh Hoà Bình theo hướng sản xuất hàng hoá, nêu lên những thực trạng và giải pháp để phát triển theo hướng đã

đề ra Luận án cung cấp cho tác giả một lượng kiến thức về tình hình nông nghiệp

Nguyễn Võ Định:“Thực trạng và những giải pháp chủ yếu chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông - lâm nghiệp huyện Kỳ Sơn - Tỉnh Hoà Bình”, luận án tiến sỹ kinh tế năm

2007 Luận án đề cập đến quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế ở một huyện của tỉnh Hoà Bình, nêu lên thành tựu, hạn chế và những giải pháp để tiếp tục phát triển trong tương lai

Các luận văn thạc sĩ: “Đảng bộ tỉnh Hòa Bình lãnh đạo chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp từ năm 2001 đến năm 2010” của Nguyễn Văn Hùng, luận văn thạc sĩ lịch sử năm 2012;“Đảng bộ tỉnh Hòa Bình lãnh đạo phát triển kinh tế từ 1991 đến 2000” của Đào Thị Vân, luận văn thạc sĩ lịch sử năm 2001 ; “Đảng bộ tỉnh Hòa Bình lãnh đạo đổi mới giáo dục phổ thông từ năm 2000 đến năm 2010” của Bùi Thu Hoài, luận văn thạc sĩ lịch

sử năm 2014; “Đổi mới công tác kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội cấp xã trên địa bàn tỉnh Hòa Bình” của Nguyễn Ngọc Diệp, luận văn thạc sĩ kinh tế năm 2010; “Khai thác tiềm năng du lịch hồ sông Đà để phát triển Kinh tế - xã hội tỉnh Hòa Bình” của Hoàng Văn Tứ, luận văn thạc sĩ kinh tế, năm 2009; “Vai trò của dịch vụ Bưu chính viễn thông đối với phát triển kinh tế - xã hội ở tỉnh Hòa Bình” của Thái Quốc Nguyên, luận văn thạc sĩ kinh tế - chính trị, năm 2014 ; “Quá trình thực hiện chính sách dân tộc của Đảng ở tỉnh Hòa Bình từ năm 2001 đến năm 2010” của Hoàng Thị Huệ, luận văn

thạc sĩ lịch sử, năm 2010

Ngoài ra, còn nhiều bài viết đăng trên các tạp chí, báo Trung ương và địa

phương: “Du lịch Hoà Bình nâng cao sức cạnh tranh trong tiến trình hội nhập quốc tế”, tạp chí Du lịch Việt Nam, số 4, năm 2005; “Du lịch Hoà Bình nhìn từ góc độ toàn cảnh” của Lương Công Chính, tạp chí Du lịch Việt Nam, số 6, năm 2005; “Hoà Bình thu hút các nguồn vốn đầu tư để khai thác tiềm năng”, tạp chí Đông Nam Á, số 8, năm 2005; “Những bước đi vững chắc của công ty thuỷ lợi Hoà Bình”, tạp chí Đông Nam

Trang 26

Á, số 8, năm 2005; “Hoà Bình phía trước là những con đường” của Bùi Văn Thắng,

Thương Mại tạp chí, số 27, năm 2005

Các công trình nêu trên, dù ở mức độ chuyên sâu, khái quát, hay cung cấp thông tin đều rất có ích đối với tác giả khi nghiên cứu toàn diện về chuyển biến kinh tế, xã hội tỉnh Hòa Bình thời kỳ từ năm 1991 đến năm 2010 Những công trình này ở nhiều góc độ khác nhau đã góp phần làm sáng tỏ nhiều vấn đề kinh tế, xã hội của tỉnh Hòa Bình trong từng giai đoạn và thời điểm nhất định Đây là nguồn tài liệu quý báu được tác giả kế thừa và nghiên cứu, lựa chọn một cách nghiêm túc cho việc hoàn thành Luận

án của mình

1.2.1 Một vài nhận xét về tình hình nghiên cứu

Qua quá trình thu thập và phân tích nguồn tài liệu các công trình nghiên cứu về tỉnh Hòa Bình có thể rút ra một vài nhận xét sau:

Thứ nhất, nguồn tài liệu khá phong phú về số lượng và nội dung tập trung phản

ánh phần lớn vào việc trình bày những thành tựu, hạn chế trong các lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội dưới dạng viết lịch sử hay tài liệu chuyên khảo chứng tỏ việc nghiên cứu về vấn đề này rất được quan tâm Tuy nhiên, phần nhiều mang tính chất liệt kê mô tả, rất ít sự phân tích, so sánh, đánh giá không mang tính tổng hợp một cách có hệ thống và chưa tập trung nghiên cứu sự chuyển biến kinh tê, xã hội của Hòa Bình từ khi tái lập tỉnh đến năm 2010

Thứ hai, trong quá trình khảo sát tài liệu, chúng tôi thấy, công trình nghiên cứu

trong nước tương đối đa dạng còn ở nước ngoài thì khá khan hiếm và nếu có chỉ tập trung vào vấn đề văn hóa, xã hội

Thứ ba, nhìn chung, các công trình tiếp cận về lĩnh vực chính trị, kinh tế và xã hội

trong mối quan hệ tổng hòa là chủ yếu, tuy nhiên, về lĩnh vực chuyển biến kinh tế, xã hội…kết quả còn rất khiêm tốn và vẫn chưa được đề cập đến nhiều

Trước những nguồn tài liệu thu thập được chứng tỏ lĩnh vực kinh tế, xã hội rất được quan tâm, vì nó không chỉ có giá trị khoa học và thực tiễn để định hướng phát triển cho mục tiêu CNH-HĐH đất nước Các công trình nói trên, ở mức độ khác nhau, ở thời điểm khác nhau đã giúp tác giả có một số tư liệu cần thiết để có thể hình thành sự hiểu biết chung, là những gợi mở quý giá có tác dụng tham khảo bổ ích, bổ sung cho quá

trình thực hiện luận án

Trang 27

1.2.2 Những nội dung luận án kế thừa

Trong luận án, chúng tôi kế thừa những nội dung sau:

- Điều kiện tự nhiên, như vị trí địa lí và lãnh thổ, địa hình - thổ nhưỡng, khí hậu - thuỷ văn cũng như dân cư và nguồn lao động hay cơ sở hạ tầng vật chất kĩ thuật… là những vấn đề đã được các nhà khoa học khảo sát nghiên cứu trong nhiều năm qua và kết quả của nó được thừa nhận

- Một số đặc điểm về kinh tế, xã hội của vùng đất và con người Hòa Bình được rút ra dựa trên những điều kiện tự nhiên cũng như từ lịch sử hình thành và phát triển của vùng đất và con người nơi đây

- Tình hình kinh tế - xã hội trước năm 1991 đã được đề cập qua một số sách, báo như đã nêu

- Một số số liệu về kinh tế, xã hội từ năm 1991 đến năm 2010 và các công trình nghiên cứu về kinh tế, xã hội liên quan trực tiếp đến tỉnh Hòa Bình mà các công trình

đã đề cập trong từng vấn đề cụ thể

1.2.3 Những nội dung luận án cần tiếp tục giải quyết

Trên cơ sở kế thừa và phát triển những thành quả nghiên cứu của người đi trước, tác giả sẽ sử dụng một cách phù hợp vào việc làm rõ thêm những luận điểm, những nội dung mà luận án hướng tới về sự chuyển biến kinh tế, xã hội của tỉnh Hòa Bình trong khung thời gian nghiên cứu đặt ra

Thứ nhất, Thông qua các nguồn tư liệu hiện có, chúng tôi dựng lại bối cảnh lịch

sử, tình hình kinh tế - xã hội, phân tích những nhân tố tác động đến chuyển biến kinh

tế, xã hội của tỉnh Hòa Bình từ năm 1991 đến năm 2010

Thứ hai, Phân tích những chuyển biến về kinh tế, xã hội từ năm 1991 đến 2010 Thứ ba,Từ việc nghiên cứu sự chuyển biến kinh tế, xã hội của tỉnh Hòa Bình 2010,

rút ra những nhận xét về quá trình chuyển biến, từ đó phân tích đánh giá tổng quan những nguyên nhân của quá trình chuyển biến

Thứ tư, Gợi mở một số vấn đề nhằm phát triển kinh tế - xã hội tỉnh Hòa Bình

Khi triển khai đề tài “Quá trình chuyển biến kinh tế, xã hội tỉnh Hòa Bình từ năm

1991 đến năm 2010”, tác giả không chỉ phân tích làm rõ những nhân tố tác động mà

còn làm rõ quá trình chuyển biến trên các mặt kinh tế và xã hội của tỉnh Hòa Bình trong khoảng thời gian từ năm 1991 đến năm 2010

Trang 28

Không những thế, khi nghiên cứu về chuyển biến nền kinh tế tỉnh Hòa Bình, luận án đi sâu nghiên cứu khuynh hướng chuyển dịch cơ cấu kinh tế, đi sâu vào từng nhóm ngành, từng lĩnh vực cụ thể của nền kinh tế Về khuynh hướng chuyển dịch, tác giả làm rõ quá trình tăng trưởng, chuyển dịch cơ cấu ngành, cơ cấu theolãnh thổ, cơ cấu khu vực kinh tế Về nhóm ngành kinh tế cụ thể, tác giả tập trung phân tích những nhân tố tác động đến quá trình phát triển kinh tế, nghiên cứu, trình bày cụ thể về quá trình phát triển của các ngành kinh tế nông nghiệp, công nghiệp, dịch vụ Từ sự nghiên cứu các khuynh hướng chuyển dịch đến các ngành các lĩnh vực cụ thể, tác giả đi đến đánh giá mức độ phát triển kinh tế của tỉnh Hòa Bình

Khi nghiên cứu về xã hội, luận án tập trung làm rõ sự chuyển biến về mặt xã hội của tỉnh Hòa Bình trên các lĩnh vực cụ thể như: giáo dục và đào tạo, y tế, an sinh

xã hội, sự thay đổi về dân cư, lao động, việc làm…Luận án nghiên cứu các vấn đề trong bối cảnh lịch sử cụ thể để từ đó rút ra những nhận xét đánh giá về quá trình chuyển biến kinh tế, xã hội Hòa Bình phát triển trong công cuộc đổi mới.Từ những kết quả cụ thể nghiên cứu quá trình chuyển biến kinh tế, xã hội tỉnh Hòa Bình từ năm

1991 đến năm 2010, tác giả đưa ra một số gợi mở nhằm tìm ra hướng đi phù hợp cho nền kinh tế tỉnh Hòa Bình trong công cuộc đổi mới và những năm tiếp theo

Trang 29

CHƯƠNG 2 QUÁ TRÌNH CHUYỂN BIẾN KINH TẾ TỪ NĂM 1991 ĐẾN NĂM 2010 2.1.Các yếu tố tác động đến quá trình chuyển biến kinh tế tỉnh Hòa Bình

2.1.1 Tình hình kinh tế trên địa bàn Hòa Bình trước năm 1991

Từ năm 1976 - 1991 là thời kỳ chung tỉnh Hà Sơn Bình.Việc hợp nhất hai tỉnh vừa có cơ hội, lại vừa có thách thức cho sự phát triển các mặt kinh tế, xã hội trong tỉnh Ngay từ năm đầu tiên hợp tỉnh, tổng sản phẩm xã hội đã đạt 867,76 triệu đồng, tăng 9,4% so với năm 1975 Về nông, lâm nghiệp có bước phát triển khá toàn diện Diện tích gieo trồng cây hàng năm bình quân tăng 5%/ năm Tổng sản lượng lương thực quy thóc năm 1976 đạt 96.269 tấn, năm 1980 đạt 115.790 tấn, năm 1986 đạt 131.294 tấn Sản lượng một số cây công nghiệp và cây thực phẩm đều tăng nhưng không đều và thất thường Chăn nuôi giai đoạn 1976- 1980, nhìn chung có chững lại, song đến giai đoạn 1981-1990 phát triển khá mạnh, đưa tỷ trọng giá trị sản phẩm ngành chăn nuôi trong tổng giá trị sản phẩm ngành chăn nuôi trong tổng giá trị sản phẩm nông nghiệp ngày càng tăng Năm 1976, tỷ trọng giá trị sản phẩm ngành chăn nuôi chỉ chiếm 18,9% trong tổng giá trị sản phẩm nông nghiệp (trồng trọt và chăn nuôi), năm 1980 đã chiếm 27,1%, năm 1986, chiếm tới 32,9% và năm 1990 là 32,1% Ngành lâm nghiệp, đã chú ý đi vào kinh doanh và khai thác có hiệu quả, kết hợp với trồng mới, phủ xanh đất trống đồi núi trọc Giá trị sản xuât lâm nghiệp năm 1986 đạt 34.272 triệu đồng, đến năm 1990 đạt 43.293 triệu đồng [124, tr 420] Nhìn chung, nông, lâm nghiệp Hòa Bình giai đoạn này phát triển không đều, cơ cấu nông, lâm nghiệp biến đổi chậm, sản xuất lương thực vẫn chiếm tỷ trọng cao cả về diện tích lẫn sản lượng Một số sản phẩm cây công nghiệp giảm, sản lượng lương thực quy thóc tăng chậm và lương thực bình quân đầu người đầu người có xu hướng giảm.Kinh doanh lâm nghiệp vẫn còn nặng về khai thác, việc tu bổ, trồng mới chưa được chú ý đúng mức, rừng vẫn tiếp tục bị tàn phá, độ che phủ tiếp tục giảm

Công nghiệp thời kì này nằm trong tổng thể phát triển công nghiệp quốc gia và công nghiệp Hà Sơn Bình, công nghiệp cũng có bước tiến quan trọng tuy vẫn gặp phải không ít khó khăn thăng trầm.Các ngành nghề và cơ sở sản xuất tiểu - thủ công nghiệp tiếp tục được khôi phục, mở rộng và phát triển.Các cơ sở sản xuất công nghiệp quốc doanh Trung ương và địa phương tiếp tục được đầu tư xây dựng mới và mở rộng quy mô.Tuy vậy, từ cuối những năm 70 thế kỉ XX trở đi, cơ chế kinh tế kế hoạch hóa tập trung quan liêu bao cấp không còn phù hợp đã làm cho các ngành kinh tế, trong đó

Trang 30

công nghiệp Hòa Bình, bị giảm sút, thua lỗ và đi vào đình đốn, không phát triển được Năm 1986, với đường lối đổi mới kinh tế được Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI của Đảng đề ra, nền công nghiệp của cả nước nói chung và công nghiệp Hòa Bình nói riêng bắt đầu có sự phục hồi trở lại Đến năm 1990, công nghiệp quốc doanh Hòa Bình có 13 cơ sở Giá trị tổng sản lượng công nghiệp quốc doanh địa phương Hòa Bình năm

1986 đạt 4.326 triệu đồng, năm 1987 là 4.427 triệu đồng, năm 1988 là 4.344 triệu đồng, năm 1989 là 2.361 triệu đồng và năm 1990 là 1.760 triệu đồng Khu vực tiểu - thủ công nghiệp ngoài quốc doanh của Hòa Bình giai đoạn này cũng phát triển không đều, có năm giảm sút và phục hồi chậm Năm 1986, toàn tỉnh có 258 cơ sở thủ công nghiệp ngoài quốc doanh, đến năm 1990 chỉ còn 114 cơ sở Giá trị tổng sản lượng tiểu

- thủ công nghiệp ngoài quốc doanh giai đoạn 1976 - 1980 tăng bình quân 12,8% / năm, giai đoạn 1981 – 1985 tăng bình quân 18,6%/ năm và thời kì 1986 – 1990 tăng bình quân 9,2%/ năm [126, tr 422] Một số sản phẩm do tiểu - thủ công nghiệp tăng mạnh như: gạch, vôi, đồ mộc dân dụng… Nhìn chung, tình trạng công nghiệp Hòa Bình thời kì này vẫn nhỏ bé, chậm phát triển Tỷ trọng công nghiệp và tiểu thủ công nghiệp năm 1990 mới chỉ chiếm 6,2% trong tổng giá trị sản xuất nông – công nghiệp tỉnh toàn tỉnh

Các ngành thương mại, dịch vụ thời kì này tiếp tục được đẩy mạnh phát triển Tổng mức bán lẻ hàng hóa- thị trường xã hội năm 1976 đạt 69,81 triệu đồng, năm

1980, tổng mức bán lẻ hàng hóa - thị trường xã hội đạt 132 triệu đồng Năm 1986, đạt

132 triệu đồng, năm 1990, đạt 69.287 triệu đồng Hoạt động xuất nhập khẩu thời kì này cũng đã được chú ý đẩy mạnh phát triển Tổng giá trị kim ngạch xuất khẩu năm

1976 đạt 116 nghìn USD, năm 1980 đạt 257 nghìn USD, năm 1986 đạt 1.238 nghìn USD, năm 1990 đạt 2.741 nghìn USD Một số sản phẩm xuất khẩu chủ yếu là mây, tre đan, cam, chè, lạc…Các ngành như: giao thông vận tải, các dịch vụ bưu điện, thông tin liên lạc, tài chính tín dụng thời kì này cũng được chú ý đầu tư

Tuy nhiên, tình hình trên là nhìn tổng thể tỉnh Hà Sơn Bình trước năm 1991 nói chung, còn địa bàn tỉnh Hòa Bình trước khi tách tỉnh là nơi yếu kém nhất của tỉnh Hà Sơn Bình lúc bấy giờ về cả kinh tế và xã hội, vị trí địa lí không thuận lợi như Hà Tây, Sơn Tây, dân cư đại đa số là dân tộc thiểu số Ông Bùi Kim Thanh, nguyên Phó Chủ

tịch Thường trực UBND tỉnh giai đoạn 1991-1993 cho biết thêm: “Khi tách tỉnh cơ sở vật chất nghèo nàn lạc hậu, công nghiệp, thương mại và dịch vụ quá nhỏ bé, sơ sài.Toàn tỉnh chỉ có 52 doanh nghiệp Nhà nước, chưa có một doanh nghiệp tư nhân

Trang 31

nào Xuất khẩu hầu như chưa có gì, tổng giá trị xuất khẩu của tỉnh chỉ có 231.000 USD Sản xuất CN -TTCN quy mô còn nhỏ bé, chất lượng chưa cao, chưa phát huy được thế mạnh về chế biến nông - lâm sản; sản xuất vật liệu xây dựng còn ít Có tới trên 50% xí nghiệp quốc doanh làm ăn thua lỗ, có một số cơ sở bị phá sản như Nhà máy Cơ khí 3/2, Xí nghiệp vôi đá Bình Thanh, mỏ than Đồi Hoa (Lạc Thủy) ngừng sản xuất, mỏ than Mường Vọ (Kim Bôi) kém phát triển”

Như vậy,tình hình kinh tế của tỉnh Hòa Bình trước năm 1991 vẫn gặp nhiều khó khăn, đó cũng là tình trạng chung của cả nước Một hạn chế căn bản, trong giai đoạn trước năm 1991, sản xuất ở Hòa Bình vẫn mang tính tự cấp, tự túc, kinh tế đơn thuần chỉ là nông nghiệp, lâm nghiệp, công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, trong đó, sản xuất nông nghiệp chiếm tỷ lệ cơ bản nhưng năng suất thấp, sản xuất lâm nghiệp, công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp chiếm một tỷ lệ rất nhỏ trong nền kinh tế của tỉnh Đó là những khó khăn, thách thức cho việc phát triển một nền kinh tế toàn diện theo hướng công nghiệp hoá nông nghiệp, nông thôn của tỉnh Hòa Bình Trong bối cảnh như vậy, dưới sự lãnh đạo của Đảng bộ, nhân dân tỉnh Hòa Bình với tinh thần đổi mới, nhìn thẳng vào sự thật tìm ra giải pháp mới đúng đắn, đưa đất nước vượt qua mọi khó khăn, tiếp tục vươn lên xây dựng thành công CNXH

2.1.2.Các yếu tố địa lý tự nhiên và tài nguyên thiên nhiên

Vị trí địa lí: Hòa Bình là một tỉnh miền núi, nằm ở cửa ngõ vùng Tây Bắc của Tổ

Quốc, có vị trí địa lí quan trọng của vùng chuyển tiếp từ đồng bằng lên miền núi, trở thành cửa ngõ thủ đô, là điểm trung chuyển sức hút ảnh hưởng chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội của thủ đô Hà Nội Tỉnh Hòa Bình có diện tích tự nhiên 4.662,53 km2, nằm trong giới hạn 20019’ - 21008’ vĩ bắc và 104048’ - 105050’ kinh đông, phía bắc giáp tỉnh Phú Thọ, phía đông giáp Hà Nội, phía tây giáp Sơn La, phía nam giáp tỉnh Ninh Bình, Hà Nam, Thanh Hóa

Tỉnh Hòa Bình có 10 huyện và một thành phố, bao gồm 195 xã, 8 phường và 11 thị trấn Tỉnh lỵ của tỉnh Hòa Bình hiện nay là thành phố Hòa Bình, cách Hà Nội 76

km Đường quốc lộ 6 đi qua Hòa Bình dài 125km, nối liền Hà Nội, đồng bằng Bắc Bộ với Tây Bắc và Thượng Lào Các tuyến đường 12, 15, 21 đã nối liền Hòa Bình với các tỉnh Ninh Bình, Thanh Hóa, Hà Nam [124, tr.3]

Như vậy, tỉnh Hòa Bình có vị trí chiến lược quan trọng ở Bắc Bộ, là cửa ngõ thủ

đô Hà Nội lên Tây Bắc; là bản lề giữa đồng bằng Bắc Bộ, khu IV cũ với Tây Bắc, Việt

Trang 32

Bắc; là cửa ngõ thông sang Thượng Lào1 , tiếp giáp với đồng bằng sông Hồng cả ba hướng Bắc – Đông – Nam thông qua nhiều tuyến giao thông thủy bộ nối liền với các tỉnh Phú Thọ, Sơn La, Hà Tây, Hà Nam và Ninh Bình Phía Tây tiếp giáp vùng núi phía tây của Thanh Hóa, nơi mở đầu dãy núi Trường Sơn.Tỉnh Hòa Bình nằm trong quy hoạch vùng Thủ đô Hà Nội, nằm liền kề vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ có vị trí địa - chính trị, địa - kinh tế đặc biệt quan trọng Trên tầm nhìn toàn cục, vùng kinh tế trọng điểm đóng vai trò động lực thúc đẩy, hỗ trợ các vùng khác phát triển Tỉnh Hòa Bình trở thành tỉnh tiếp giáp với thủ đô Hà Nội, toàn bộ hành lang phía Đông Bắc của tỉnh dọc đường Hồ Chí Minh sẽ tiếp nhận sự phát triển lan tỏa về kinh tế, đô thị công nghiệp và dịch vụ; nhất là từ các đô thị vệ tinh như Hòa Lạc, Xuân Mai, Phú Xuyên Sự phát triển theo trục QL6 và các tuyến đường tạo tiền đề phát triển thành phố Hòa Bình và các huyện lân cận, vì vậy tỉnh Hòa Bình có nhiều lợi thế phát triển, có cơ hội đón đầu những tác động tích cực để tăng khả năng phát triển tỉnh

Địa hình: Điểm nổi bật của địa hình Hoà Bình là núi cao, chia cắt phức tạp và có

độ dốc lớn, không có các cánh đồng rộng như Lai Châu và Sơn La Địa hình với độ dốc lớn và theo hướng Tây Bắc - Đông Nam, được chia thành hai vùng rõ rệt:

Vùng núi cao (phía Tây Bắc): độ cao trung bình từ 600-700m, nơi cao nhất là đỉnh Phu Canh (Đà Bắc) cao 1.373 m Độ dốc trung bình từ 30 - 35o, có nơi dốc trên

40o Địa hình hiểm trở, đi lại khó khăn.Diện tích toàn vùng là 212.740 ha, chiếm 46% diện tích toàn tỉnh

Vùng núi thấp (phía Đông Nam): diện tích toàn vùng là 253,512 ha chiếm 54% diện tích toàn tỉnh Địa hình các dải núi thấp, ít bị chia cắt, độ dốc trung bình từ 20 -

25o, độ cao trung bình từ 100 – 200m, ít hiểm trở so với vùng cao

Trên dải cao nguyên đá vôi chạy suốt từ Phong Thổ - Lai Châu đến bờ biển tỉnh Ninh Bình,các hệ núi kéo dài từ Lai Châu, Sơn La về Hòa Bình thấp dần xen kẽ các thung lũng tạo nên các vùng ruộng lúa tập trung tương đối rộng lớn, các dải ruộng bậc thang thích hợp với canh tác cây màu lương thực, cây công nghiệp và cây ăn quả Các vùng núi cao thích hợp hình thành kinh tế đồi rừng

Tóm lại, địa hình có sự phân chia thành hai vùng rõ rệt, với thế mạnh của mỗi vùng khác nhau.Đây là lợi thế để phát triển kinh tế, xã hội với sự phát huy lợi thế của mỗi vùng

1 Điểm gần nhất cách biên giới Việt – Lào là 30 km

Trang 33

Khí hậu: Hòa Bình thuộc khu vực có khí hậu nhiệt đới gió mùa, với mùa đông

ngắn, lạnh, ít mưa, mùa hè dài, nóng, mưa nhiều Nhiệt độ trung bình hàng năm khoảng 230C.Tháng có nhiệt độ cao nhất trong năm là tháng 7, có nhiệt độ trung bình khoảng 27 - 290C Tháng có nhiệt độ thấp trong năm là tháng 1, có nhiệt độ trung bình khoảng 15,5 - 16,50C Do sự chi phối của địa hình phức tạp nên đã tạo ra nhiều tiểu vùng khí hậu khác nhau Tổng lượng mưa trung bình nhiều năm ở tỉnh Hòa Bình là 1.700 – 2.500 mm Lượng mưa phân bố không đều ở các nơi trong tỉnh, cũng như qua từng tháng trong năm.Với chế độ khí hậu như vậy cho phép Hòa Bình phát triển một nền nông nghiệp toàn diện: về trồng trọt gồm các cây công nghiệp dài và ngắn ngày, cây lương thực và rau các loại; về chăn nuôi gồm trâu, bò, dê và các loại gia súc, gia cầm khác

Thủy văn và thổ nhưỡng: Hòa Bình chịu ảnh hưởng của chế độ thủy văn vùng

Tây Bắc, với đặc điểm chung là có mạng lưới sông suối khá dày Những con sông lớn chảy qua địa phận sông Đà có chiều dài 151km, sông Bôi dài 66km, sông Bưởi dài 48km, sông Bùi dài 9km và một số sông nhỏ khác[79, tr.4] Trữ lượng nước mặt của các dòng sông rất lớn, lưu lượng dòng chảy cao, do đặc điểm địa hình tương đối dốc Khi mưa lớn thường gây ra lũ quét, lũ ống gây mất an toàn cho đời sống sản xuất của nhân dân các dân tộc trong vùng Tuy nhiên, hệ thống thủy văn này có nguồn năng lượng thủy điện khá tiềm tàng, nguồn phù xa màu mỡ Đặc biệt nguồn nước ngọt, nước mặt khá dồi dào, trong đó có nguồn nước khoáng nóng quý giá, phục vụ đời sống nhân dân trong vùng

Đặc điểm địa hình, khí hậu và thủy văn đã tạo nên nhiều vùng thổ nhưỡng khác nhau không chỉ giữa các huyện, thành phố mà ngay cả trong mỗi huyện cũng chia ra các cụm khác nhau về thổ nhưỡng Diện tích đất tự nhiên của tỉnh Hoà Bình năm 2007

là 4.683 km2 (bao gồm cả 4 xã của huyện Lương Sơn đã sáp nhập vào Hà Nội năm 2008) Đất Hoà Bình gồm 3 nhóm chính: Nhóm Feralit phát triển trên đá trầm tích và biến chất kết cấu hạt thô trên các loại đá chủ yếu là sa thạch Pocfirit Spilit Nhóm đất phát triển trên đá trầm tích và biến chất có kết cấu hạt mịn trên các loại đá phiến thạch sét, diệp thạch Nhóm Feralit phát triển trên đá vôi và biến chất của đá vôi Đất đai Hoà Bình có độ màu mỡ cao thích hợp với nhiều loại cây trồng Với hàng trăm ngàn ha đất gồm các

lô đất liền khoảnh có thể sử dụng vào các mục đích khác nhau nhất là trồng rừng, trồng cây công nghiệp để phát triển công nghiệp chế biến nông, lâm sản và phát triển công

Trang 34

nghiệp Phần đất trống, đồi núi trọc khó phát triển nông nghiệp và trồng rừng có diện tích

khá lớn thuận lợi cho việc phát triển và mở rộng các khu công nghiệp

Tài nguyên rừng:Rừng là một trong những nguồn tài nguyên quý giá, là yếu tố

quan trọng nhất cấu thành sự cân bằng tự nhiên của Hòa Bình Rừng Hòa Bình có hệ động, thực vật rất đa dạng và có giá trị kinh tế lớn, với nhiều loại gỗ quý như: dẻ, dổi, lim, sến, táu, chò chỉ, chò nâu, thông năm lá, pơ mu, lát chun, lát hoa và các loại trúc, tre, nứa, vầu, giang, luồng, bương, song, mây, vv… Rừng Hòa Bình còn có nhiều loại cây thuốc quý với khoảng 400 loại cây thuốc, trong đó có quế, sa nhân, hoài sơn, thổ phục linh, sâm đại hành, hà thủ ô, ngũ gia bì, mã tiền…[126;12]

Tương đương với diện tích rừng là núi đá Núi đá phía Tây Bắc hầu hết là đá xâm nhập, còn núi đá ở phía Đông Nam lại có nhiều dãy núi đá vôi tạo nên nhiều hang động do hiện tượng Cacstơ Hệ thống hang động đó không chỉ là nguồn khai thác cổ vật lịch sử hàng nghìn năm để lại phục vụ cho ngành bảo tàng mà còn là tiềm năng du lịch

Do có nhiều núi đá, nên Hòa Bình là tỉnh có thế mạnh về mỏ đá xây dựng hoặc phục vụ ngành sản xuất xi măng được phân bố khá đều, dễ khai thác ở nhiều nơi như dọc theo quốc lộ 6 thuộc thành phố Hòa Bình, Kỳ Sơn, Lương Sơn và các xã gần đường mòn Hồ Chí Minh thuộc địa phận hai huyện Yên Thủy và Lạc Thủy Các loại khoáng sản quý khác như: than, kẽm, amiăng, lưu huỳnh, vàng…cũng được tìm thấy ở Hòa Bình Đó là điều kiện thuận lợi để Hòa Bình phát triển các ngành công nghiệp Các khu vực có đa dạng sinh học cao, có giá trị đối với phát triển du lịch, đặc biệt

là du lịch sinh thái là các khu bảo tồn tự nhiên: Hang Kia - Pà Cò, Thượng Tiến, Pù Luông (chung với Thanh Hoá), khu di tích tự nhiên Phu Canh, Ngọc Sơn, vườn quốc gia Cúc Phương (chung với Ninh Bình và Thanh Hoá), vườn quốc gia Ba Vì (chung với Hà Nội) và khu bảo tồn đất ngập nước lòng hồ Hoà Bình Ngoài ra, nước suối khoáng nóng ở vùng Mường Động có trữ lượng lớn cũng góp phần quan trọng vào sự phát triển của ngành du lịch

Tài nguyên du lịch nhân văn: Hoà Bình là tỉnh có thế mạnh về tài nguyên du lịch

nhân văn, bản sắc văn hoá của các dân tộc Hiện nay, trên địa bàn tỉnh Hòa Bình có

185 địa điểm di tích được đưa vào hồ sơ nghiên cứu, quản lý, trong đó có 37 di tích đã được Bộ Văn hoá - Thông tin (Bộ Văn hóa - Thể thao và Du lịch) công nhận và cấp bằng xếp hạng và 21 di tích cấp tỉnh

Những phân tích trên đây cho thấy, các yếu tố địa lý tự nhiên và tài nguyên thiên nhiên có tác động to lớn đến sự chuyển biến kinh tế, xã hội của tỉnh

Trang 35

2.1.3 Nguồn nhân lực

Nguồn nhân lực của Hòa Bình dồi dào Dân số trong độ tuổi lao động của toàn tỉnh tăng dần từ 215.573 người (năm 1979) chiếm 45,69 % trong tổng số dân, tăng lên 331.407 người (năm 1989) chiếm 50,3 % và 419.140 người (năm 1999) chiếm 55,4 % Trong vòng 20 năm, dân số trong độ tuổi lao động đã tăng 203.567 người, gấp gần hai lần so với năm 1979 So với toàn quốc, tỷ lệ lao động chiếm 48,6 % và khu vực Tây Bắc chiếm 49,2 % tổng số dân (năm 1999) thì Hòa Bình là tỉnh có lực lượng lao động rất dồi dào Trung bình mỗi năm, lực lượng lao động ở Hòa Bình được bổ sung thêm 10.178 người Tuy nhiên, tỷ lệ lao động của tỉnh trên tổng số lao động của cả nước chỉ chiếm 1,08 % (năm 1998) [124, tr.83].Chất lượng nguồn nhân lực tỉnh Hòa Bình tuy có được nâng lên cùng với sự phát triển của giáo dục, đào tạo, nhưng nhìn chung chất lượng còn thấp

5 năm 2001 - 2005, khoảng 7.182 tỷ đồng (bình quân mỗi năm 1436 tỷ đồng), ngân sách địa phương quản lý 2.440 tỷ đồng; đầu tư của doanh nghiệp nhà nước 254 tỷ đồng, dân cư và doanh nghiệp ngoài quốc doanh ước tính 2.770 tỷ đồng, đầu tư trực tiếp nước ngoài 163 tỷ đồng, tín dụng đầu tư phát triển của Nhà nước 249 tỷ đồng Quy mô vốn đầu tư gia tăng hơn trước, tuy nhiên vốn đầu tư từ ngân sách vẫn chiếm tỷ trọng cao khoảng 52,1 % tổng đầu tư xã hội [103,tr 116] [104, tr.117] Điều đó cho thấy, nội lực của tỉnh còn yếu

Nguồn vốn ngân sách chủ yếu được dùng để phát triển kết cấu hạ tầng ngành công nghiệp, hạ tầng giao thông, nông nghiệp nông thôn và giáo dục y tế Nguồn vốn của dân cư và doanh nghiệp ngoài quốc doanh chiếm tỷ trọng lớn, đứng thứ hai về quy

mô vốn so với các nguồn vốn khác Nguồn vốn này tập trung đầu tư vào các dự án công nghiệp, chăn nuôi, một số các dự án ứng dụng công nghệ mới

Nguồn vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) là nguồn vốn mới của tỉnh, tỷ trọng còn nhỏ, tuy nhiên, vẫn đóng một vai trò quan trọng Những dự án FDI thường tập trung vào khu du lịch sinh thái, và các nhà máy sản xuất chế biến thực phẩm xuất khẩu…

Trang 36

Trong cơ cấu nguồn vốn, tỷ lệ vốn ngân sách nhà nước khá cao và tăng dần Đầu

tư từ khu vực dân doanh tăng khá nhanh, tuy nhiên có tỷ trọng thấp, vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài không đáng kể

2.1.5.Nguồn lực khoa học công nghệ

Hoạt động nghiên cứu, triển khai, ứng dụng kỹ thuật tiến bộ của ngành khoa học -công nghệ Hòa Bình tập trung vào 3 lĩnh vực chính: sản xuất nông - lâm - thủy sản, công nghiệp- tiểu thủ công nghiệp và xây dựng; khoa học xã hội nhân văn; xây dựng các luận cứ khoa học phục vụ công tác lãnh đạo và quản lý nhà nước trong phát triển kinh tế - xã hội trên địa bàn tỉnh.Từ năm 1996 đến năm 2008, có 132 đề tài, dự án được thực hiện, tiềm lực khoa học và công nghệ ngày càng tăng cường, toàn tỉnh đã có 16.832 cán bộ khoa học kỹ thuật có trình độ cao đẳng trở lên, trình độ trên đại học, thạc sĩ 145, tiến sĩ 18 [126, tr.781] Nhiều đề tài ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật đem lại hiệu quả thiết thực, góp phần chuyển đổi cơ cấu cây trồng, vật nuôi theo hướng sản xuất hàng hóa, từng bước đáp ứng yêu cầu của nền kinh tế thị trường

Dựa trên định hướng đầu tư, công tác nghiên cứu ứng dụng khoa học trong lĩnh vực sản xuất nông - lâm - thủy sản đã được quan tâm, đặc biệt trong hai vấn đề giống

và công nghệ sản xuất.Thứ nhất nghiên cứu, lựa chọn những giống cây trồng, vật nuôi

có năng suất, giá trị sản phẩm cao, phù hợp với điều kiện sinh thái từng tiểu vùng để

đưa vào sản xuất; Thứ hai nghiên cứu ứng dụng công nghệ mới, chủ động sản xuất các

gống này tại tỉnh trên cơ sở giải quyết đồng bộ các biện pháp thâm canh để nâng cao giá trị sản xuất trên một đơn vị diện tích

Thành công trong thử nghiệm các kỹ thuật mới cũng được ứng dụng vào sản xuất như: kỹ thuật gieo mạ khay, kỹ thuật phân bón, cải tạo đất sản xuất lúa, kỹ thuật

sử dụng chế phẩm sinh học EM trong chăn nuôi, trồng trọt Tỉnh cũng đẩy mạnh ứng dụng công nghệ mới trong bảo quản, chế biến sau thu hoạch như: công nghệ bảo quản cam,mận, công nghệ chế biến hoa quả tươi, công nghệ chế biến tinh bột sắn,…bước đầu hình thành một số cơ sở sản xuất chế biến nông sản Đây là điều kiện quan trọng cho việc chuyển đổi cơ cấu cây trồng, vật nuôi theo hướng sản xuất hàng hóa

Các ngành công nghiệp và xây dựng thực hiện một số đề tài mang lại hiệu quả

cao như: tổ sản xuất tơ tằm bán cơ khí tại đội 4 của nông trường sông Bôi (huyện Lạc Thủy) Thông qua đề tài, đã hình thành một số cơ sở ươm tơ, đảm bảo thu mua, chế biến toàn bộ kén tằm được nuôi trên địa bàn huyện và trong vùng tạo điều kiện hình thành và phát triển vùng trồng dâu nuôi tằm huyện Lạc thủy Kết quả nghiên cứu của

Trang 37

đề tài còn được thể hiện trong việc ứng dụng vào xử lý môi trường ở hàng loạt các cơ sở sản xuất Trong đó, đáng chú ý là việc giải quyết tốt vấn đề gây ô nhiễm môi trường, hạ giá thành sản phẩm tại Công ty cổ phần gạch ngói Quỳnh Lâm, được nhận giải thưởng chất lượng Việt Nam – VIFOTEC năm 2003 – 2004 [13, tr.506] Cùng với nghiên cứu ứng dụng công nghệ mới trong sản xuất, tỉnh còn quan tâm đẩy mạnh

nghiên cứu trong lĩnh vực khoa học xã hội và nhân văn Trong hai năm (2003- 2004),

các dự án, đề tài trong lĩnh vực khoa học xã hội và nhân văn chiếm 14,5 % về số lượng

và 17,6 % về nguồn kinh phí Nổi bật trong các đề tài nghiên cứu ở lĩnh vực này có nhóm đề tài về đánh giá chất lượng đội ngũ, cán bộ lãnh đạo các cấp nhất là cấp cơ sở Các đề tài này đã được sử dụng để phục vụ công tác quy hoạch cán bộ các cấp, bầu cử Hội đồng nhân dân và bố trí cán bộ các ngành trong tỉnh Ngoài ra, tỉnh còn triển khai hàng loạt các đề tài khoa học trong lĩnh vực giáo dục và đào tạo, công nghệ sinh học, công nghệ thông tin…

Những yếu tố trên đây là đòn bẩy quyết định sự chuyển biến kinh tế, xã hội của tỉnh nói chung, lĩnh vực kinh tế nói riêng trong thời kỳ từ năm 1991 đến năm 2010

2.2.Sự phát triển các ngành kinh tế Hòa Bình từ năm 1991 đến năm 2010

2.2.1 Ngành nông nghiệp - lâm nghiệp - thủy sản

Nghị quyết Đại hội VII của Đảng (1991) khẳng định: “Tiếp tục coi nông nghiệp

là mặt trận hàng đầu, phát triển nông - lâm - ngư gắn với công nghiệp chế biến phát

triển toàn diện kinh tế nông thôn”[29, tr.270].Chiến lược 10 năm phát triển kinh tế, xã

hội (1991-2000) của Đảng đã nêu rõ: “Nông –lâm-ngư nghiệp phát triển theo hướng hàng hóa, gắn với công nghiệp chế biến, đáp ứng nhu cầu trong nước, đẩy mạnh xuất khẩu, phát huy lợi thế môi trường sinh thái,bảo vệ môi trường và tài nguyên ”[29,

tr.345] Căn cứ vào đặc điểm tình hình của tỉnh, Đại hội Đảng bộ lần thứ XI năm 1991, XII năm 1996, XIII năm 2001, XIV năm 2005 và XV năm 2010 của tỉnh đã đề ra phương hướng, mục tiêu cụ thể trong phát triển nông - lâm - ngư nghiệp: Đẩy mạnh thâm canh tăng vụ, cải tiến giống, áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật, xác định cây trồng vật nuôi phù hợp, tăng dần tỷ trọng cây công nghiệp, cây thực phẩm và chăn nuôi, gắn với việc chế biến nông lâm sản, thực phẩm Hình thành các vùng chuyên canh sản xuất hàng hóa tập trung, đẩy mạnh phát triển kinh tế trang trại [126, tr.742,772]

Quán triệt chủ trương của Tỉnh ủy, thực hiện giao đất, giao rừng, khai thác có hiệu quả đất trống đồi trọc, mặt nước theo hướng kết hợp nông - lâm - ngư nghiệp,các

Trang 38

cấp, các ngành địa phương đã khẩn trương xúc tiến những nhiệm vụ trong sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp và thủy sản

2.2.1.1.Nông nghiệp

Trong đề cương triển khai thực hiện nghị quyết Đại hội XI của Tỉnh ủy Hòa

Bình ngày 25/4/ 1992 nêu rõ: “Đẩy mạnh sản xuất nông nghiệp toàn diện, bố trí lại

cơ cấu cây trồng vật nuôi,chuyển đổi thời vụ trong đó chú trọng cây công nghiệp, cây ăn quả trên quy mô lớn gắn với công nghiệp chế biến đạt giá trị kinh tế cao”

“chuyển diện tích trồng màu và cấy lúa nước năng xuất thấp sang trồng cây công nghiệp và cây ăn quả Diện tích nào phì nhiêu, màu mỡ đủ nước tưới tiêu thì chủ trương thâm canh cao, đưa tiến bộ kỹ thuật như giống mới, quy trình công nghệ mới, tăng cường phân bón, chăm sóc bảo vệ thực vật nhằm đưa năng xuất lúa đạt 4 tấn/ ha/ vụ trở lên ”[126, tr.622]

Thực hiện chủ trương trên, trước hết, tỉnh Hòa Bình bắt tay vào việc xây dựng cơ sở hạ tầng đảm bảo phát triển nông nghiệp nói chung và thực hiện chuyển dịch cơ cấu nông nghiệp theo hướng CNH, HĐH nói riêng Từ năm 1991 đến 2010, hệ thống quản

lí Nhà nước và dịch vụ nông nghiệp được thành lập và mở rộng từ tỉnh đến huyện Mạng lưới chợ, dịch vụ nông nghiệp ngày một phát triển, dịch vụ vật tư phục vụ ngành nông nghiệp được hình thành Ngành nông nghiệp, đồng thời tăng cường đầu tư cơ sở vật chất cho việc nhân giống, kiểm định chất lượng giống, dịch bệnh, cây trồng, gia súc Hệ thống thủy lợi, đê điều được xây dựng kiên cố hóa Tính đến năm 1997, toàn tỉnh có 655 công trình lớn nhỏ tưới nước cho 17.099 ha và tiêu nước cho 600 ha Nguồn lao động nông nghiệp cũng tăng lên đáng kể.Nếu năm 1994, tổng số lao động nông nghiệp là 269.311 người, năm 2000 là 305.949 người, năm 2010 tăng lên 356.996 người Năm 2000, toàn tỉnh Hòa Bình có 67.697 ha diện tích đất nông nghiệp chiếm 14,5 % diện tích đất tự nhiên, trong đó diện tích trồng cây hàng năm là 45.045

ha, đất trồng cây lâu năm là 6.210 ha Đến năm 2005 diện đất nông nghiệp là 55.697

ha chiếm 12% diện tích đất tự nhiên, trong đó diện tích trồng cây hàng năm là 48.207

ha, diện tích trồng cây lâu năm là 7490 ha Đến năm 2010, diện tích đất nông nghiệp tăng lên 65.390 ha chiếm 13,7 % diện tích tự nhiên, trong đó diện tích trồng cây hàng năm là 53.883 ha, diện tích cây lâu năm là 11.557 ha.[103, tr.49, 52] [104, tr.52] [107, tr.18,33] [126, tr.381]

Lĩnh vực trồng trọt

- Cây lương thực

Trang 39

Lúa: Đây là loại cây lương thực quan trọng nhất Mặc dù, tỉnh đã đầu tư nhằm

mở rộng diện tích cây trồng và phục vụ chăn nuôi, như đã đề cập, song do những yếu tố khách quan và chủ quan, diện tích lúa cả năm (mùa và chiêm) của tỉnh, có xu hướng giảm từ 43.812 ha năm 1991, xuống còn 42.249 ha năm 1995, sau đó giảm liên tục, còn 38.976 ha năm 2010 Mặc dầu vậy, do đầu tư vật chất, kỹ thuật cũng như đưa các loại giống mới gieo trồng, năng suất lúa cả năm tăng ấn tượng trong thời kỳ này, từ 19,

20 tạ/ha năm 1991, 38,65 tạ/ha năm 2000, lên 49,11 tạ/ha vào năm 2010 Điều đó đã kéo theo sản lượng lúa cả năm tăng khá nhanh, từ 84.481 tấn năm 1991, 161.927 tấn năm 2000, lên 191.402 tấn năm 2010 Do đấy, giá trị sản xuất lúa cũng tăng khá ấn tượng, từ 195.544 triệu đồng năm 1995, lên 262.224 triệu đồng năm 2000, lên

631.078 triệu đồng năm 2010.[xem phụ lục bảng 2.5]

Bảng 2.1: Tình hình sản xuất lúa từ năm 1991 đến 2010

Năm Giá trị

(triệu

đồng)

Diện tích (ha)

Năng suất (tạ/ha)

Sản lượng (tấn)

Tổng sản lượng lương thực quy thóc(tấn)

Ngô: Từ năm 1991 đến 2010, khác với tình trạng diện tích lúa có chiều hướng

giảm, diện tích trồng ngô trong tỉnh có xu hướng tăng: từ 11.294 ha năm 1991 lên 14.709 ha năm 1995, tăng lên 21 548 ha năm 2000 và đến năm 2010 đã tăng lên 35.854 ha (tăng lên 3,2 lần so với năm 1991) Kim Bôi và Lạc Sơn là hai huyện có diện tích trồng ngô lớn nhất tỉnh, bước đầu hình thành những vùng sản xuất ngô hàng hóa Việc áp dụng các tiến bộ khoa học - kỹ thuật, đưa giống mới vào trồng đại trà như: ngô lai Bioseed, LVN.10, LVN.20, ĐK.888, ĐK.999, lai số 6, lai số 8 đã đưa

Trang 40

năng suất ngô của Hòa Bình vượt trội so với trước.Năng suất ngô năm 1991 chỉ đạt 8,4 tạ/ha, năm 1995 đạt 10,74 tạ/ha, năm 2000 tăng lên 22,6 tạ/ha, năm 2005 tăng lên 28,7

tạ /ha, đến năm 2010 tăng vượt bậc 40,7 tạ / ha ( tăng 4,9 lần so với năm 1991) Do diện tích trồng ngô trong tỉnh ngày càng tăng và đạt năng suất cao, nên sản lượng ngô năm 2010 gấp 15,3 lần so với năm 1991, gấp 3 lần so với năm 2000 Trong đó, ngô lai đạt trên 20% diện tích, năng suất đạt 35-40 tạ /ha [124, tr.45] [107, tr 90] [Phụ lục bảng 2.5]

Sắn: Sắn là cây lương thực được trồng từ lâu đời, trên đất nương, bãi và vùng

đồi Sắn thường được trồng 1 vụ trong năm, trồng vào tháng 2, thu hoạch tháng 10, tháng 11 Do hiệu quả kinh tế thấp, nên một số diện tích trồng sắn đã được chuyển sang trồng các loại cây khác có giá trị kinh tế cao hơn Diện tích trồng sắn trong tỉnh

từ năm 1991 đến năm 2010 đã giảm nhiều: từ 12.770 ha năm 1991 giảm xuống còn 9.840 ha năm 2000, năm 2010 tăng nhẹ lên 11.294 ha Do áp dụng tiến bộ của khoa học-kỹ thuật, năng suất sắn tăng từ 69 tạ/ ha năm 1991, lên 109 tạ/ ha năm 2010 Do đó, mặc dầu diện tích đất trồng sắn có giảm, song sản lượng sắn tăng từ 88.787 tấn năm 1991 lên 123.873 tấn năm 2010[124;451][107; 90] [Phụ lục bảng 2.5] Đà Bắc, Kim Bôi, Tân Lạc là những huyện có diện tích sắn trồng nhiều nhất

Khoai lang: Khoai lang được trồng nhiều ở Kim Bôi, Lạc Sơn Do phát triển sản

xuất thâm canh, tăng vụ, đa dạng hóa cây trồngtheo hướng sản xuất hàng hóa, nên diện tích trồng các loại cây khoai lang, khoai sọ trong tỉnh gia tăng Năm 1991, cả tỉnh có 2.740 ha trồng khoai lang, năm 2000 tăng lên 4.864 ha, năm 2010 tăng lên 5.299 ha (tăng gần 1,9 lần so với năm 1991) Năng suất khoai lang cũng tăng từ 33,5 tạ/ha năm

1991 lên 39,50 tạ/ha năm 2000, và đạt mức 50,4 tạ/ ha năm 2010 Do đó, sản lượng khoai lang cũng tăng từ 9.190 tấn năm 1991 lên 19.218 tấn năm 2000 lên 26.709 tấn năm 2010 [phụ lục bảng 2.5] Ngoài khoai lang, trong nhóm các cây khoai, bà con nông dân còn trồng khoai sọ và dong riềng Diện tích khoai sọ năm 2000 đạt 956 ha, dong riềng đạt 2.909 ha; năng suất khoai sọ đạt 68,4 tạ/ha, dong riềng đạt 111,6 tạ/ha Ngoài ra, ở Hòa Bình, củ từ và khoai tây cũng được trồng, nhưng diện tích và sản lượng không đáng kể

Ngày đăng: 12/09/2017, 15:36

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w