1. Trang chủ
  2. » Y Tế - Sức Khỏe

Các trang trong thể loại “thiết bị y khoa”

33 257 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 33
Dung lượng 1,85 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Chương 4Khẩu trang y tế Các bác sĩ đang đeo khẩu trang trong một ca mổ Khẩu trang y tế hay còn gọi là khẩu trang là một loại mặt nạ bảo vệ được sử dụng để bịt vùng mặt thường là mũi, miệ

Trang 1

Các trang trong thể loại “iết bị y khoa”

Trang 2

Mục lục

1.1 Cấu tạo 1

1.2 Xem thêm 1

1.3 Chú thích 1

1.4 am khảo 1

2 Danh sá các trường đại học ở Việt Nam có đào tạo ngành Kỹ thuật y sinh 2 2.1 Danh sách 2

2.2 Kỹ sư Y sinh 2

2.3 Xem thêm 2

2.4 am khảo 2

2.5 Liên kết ngoài 2

3 Đá gel 3 3.1 Cách dùng 3

3.2 Độ an toàn 3

3.3 am khảo 3

4 Khẩu trang y tế 4 4.1 Các loại khẩu trang 4

4.2 Trên thế giới 5

4.3 Một số khuyến cáo 5

4.4 Chú thích 5

5 Kính bảo hộ 6 5.1 Lịch sử 6

5.2 am khảo 6

6 Laser electron tự do 7 6.1 Nguyên Tắc 7

6.2 Lịch sử 8

6.3 am khảo 8

7 Máy đo đường huyết 9 7.1 am khảo 9

i

Trang 3

ii MỤC LỤC

8.1 Chú thích 10

8.2 Liên kết ngoài 11

9 Máy ôm 12 9.1 Miêu tả 12

9.2 Lịch sử 12

9.3 Sự hiệu quả 12

9.4 Ghế siết chặt 12

9.5 am khảo 12

9.6 Liên kết ngoài 13

10 Siêu âm y khoa 14 10.1 Kỹ thuật 14

10.2 Lợi điểm 14

10.3 Ứng dụng 14

10.4 am khảo 14

10.5 Liên kết ngoài 15

11 Men răng 16 11.1 am khảo 16

12 Nitơ lỏng 17 12.1 am khảo 17

13 Phương pháp điều trị MRI HIFU 18 13.1 Nguyên lý 18

13.2 Ứng dụng 18

13.3 Các bước thực hiện 19

13.3.1 Bước 1: Chụp MRI vùng chậu trước điều trị 19

13.3.2 Bước 2: Dùng HIFU dưới định vị của MRI để điều trị 19

13.3.3 Bước 3: Chụp MRI vùng chậu sau điều trị 19

13.4 ốc gia sử dụng 19

13.4.1 Việt Nam 19

13.5 Chú thích 20

14 Vá mắt 22 14.1 Lịch sử và sử dụng 22

14.2 Nhân vật nổi tiếng đeo vá mắt 22

14.3 Xem thêm 23

14.4 Chú thích 24

14.5 Liên kết ngoài 24

Trang 4

MỤC LỤC iii

15.1 Phân loại 25

15.2 Cấu tạo xe cứu thương trên bộ 25

15.3 y định sử dụng 26

15.4 am khảo 26

Trang 5

Chương 1

Bấm móng tay

Các loại bấm móng tay khác nhau; kiểu bấm kìm bên trái, cái ở

giữa và bên phải là dạng bấm đòn bẩy.

Bấm móng tay[1][2] là vật dụng cần thiết đối với mỗi

con người khi làm vệ sinh chân tay Bấm móng tay có

thể cắt một phần hoặc cắt hếtmóng tay,móng chân

Tuy nhiên việc lạm dụng đồ vật sắc nhọn này đôi lúc

có hại nhiều hơn có lợi Nếu không cẩn thận, thì có thể

làm trầy xước da hoặc làm bung móng, bật móng khỏi

phần thịt, phần móng mới sắc nhọn sẽ đâm vào phần

thịt gâychảy máuvà gây mủ

1.1 Cấu tạo

Cấu tạo của một chiếc bấm móng tay thông dụng gồm

một miếng thép đàn hồi dày được gập đôi lại, phần đầu

bấm được gia công vát lại, cong khớp với móng để dễ

dàng cắt Một đinh gim giữ bấm móng tay với thanh

ghì anh ghì khi được tay cầm ấn xuống sẽ tạo lực

cắt đứt móng rất lớn theo nguyên lýđòn bẩy anh

ghì này mặt trong của nó còn có một lớp gồ ghề làm

chức năng giũa móng sau khi cắt Phụ kiện kèm theo

bấm móng tay còn có một con dao và một cái mở bia

giúp chúng ta trong một số hoạt động hằng ngày

1.4 Tham khảo

• Hsin-Chieh Wu, Yu-Cheng Lin & Cheng-Heng

Hou Nail Clipper Design for Ederly Population.

Advances in Physical Ergonomics and Safety

1

Trang 6

Chương 2

Danh sách các trường đại học ở Việt Nam

có đào tạo ngành Kỹ thuật y sinh

Kỹ thuật y sinhlà một bộ môn khoa học ứng dụng dựa

trên các nguyên lý cơ bản trong kỹ thuật và các ý tưởng

về thiết kế để đưa ra giải pháp trong y học, sinh học

cũng như các mục đích chăm sóc sức khỏe khác (ví dụ

như các chẩn đoán hoặc liệu pháp điều trị) Chương

trình đào tạo ngành Kỹ thuật Y sinh nhằm trang bị cho

sinh viên một nền tảng kiến thức vững chắc về Điện,

Điện tử, Tin học cùng với các kiến thức cơ bản về Sinh

học, Y học để giải quyết các vấn đề về Kỹ thuật Y sinh

2.1 Danh sách

Hiện nay ở Việt Nam, chỉ có các trường đào tạo hàng

đầu mới đủ khả năng đào tạo chuyên ngành này như:

1 Trường Đại học Bách khoa Hà Nội

2 Trường Đại học Kỹ thuật Lê ý Đôn

3 Trường Đại học Bách khoa, Đại học ốc gia

ành phố Hồ Chí Minh

4 Trường Đại học ốc tế, Đại học ốc gia ành

phố Hồ Chí Minh

5 Trường Đại học Công nghệ thông tin và truyền

thông, Đại học ái Nguyên

2.2 Kỹ sư Y sinh

Sau khi nắm vững kiến thức của ngành học này, các kỹ

sư sẽ có nhiều lựa chọn cho sự nghiệp như:

• Giữ vị trí kỹ sư lâm sàng tại bệnh viện, trung tâm

y tế: ản lý, vận hành các trang thiết bị y tế, làm

việc chung với các bác sĩ trong các nghiên cứu và

tư vấn kỹ thuật

• Nắm vị trí kỹ sư trong các Công ty sản xuất kinh

doanh iết bị Y tế Trong lĩnh vực này hơn 90%

là các công ty nước ngoài tham gia thị trường Việt

Nam với nhu cầu tuyển dụng cao và mức lươnghấp dẫn

• Nghiên cứu cải tiến, chế tạo mới các thiết bị y tế

phù hợp với hoàn cảnh và nhu cầu của Việt Nam

• Đây là một trong những ngành tiến tiến đối với

thế giới vì vậy số lượng học bổng sau đại học làlớn nhất trong các ngành kỹ thuật

2.3 Xem thêm

Kỹ thuật y sinh

2.4 Tham khảo 2.5 Liên kết ngoài

2

Trang 7

Chương 3

Đá gel

Đá gel là một túi nhựa hoặc hộp nhựa, bên trong cóchứa chất giữ lạnh dạng gel có thể chuyển đổi trạngthái từ lỏng qua rắn khi làm lạnh và từ rắn sang lỏngkhi làm nóng

Khi đá gel chuyển đổi từ trạng thái rắn sang lỏngthưởng ở 0 độ C, một lượng nhiệt lớn từ môi trường

sẽ được hấp thu vào đá gel do chất giữ lạnh bên trong

có nhiệt nóng chảy lớn Vì vậy đá gel được dùng để giữlạnh dược phẩm, thực phẩm và cần tạo môi trường lạnhkhác

3.1 Cách dùng

Trước khi sử dụng, đá gel cần được cấp đông cho đếnkhi đông cứng hoàn toàn Đá gel được đặt trong thùngcách nhiệt cùng với thực phẩm hoặc những hàng hóacần kiểm soát nhiệt độ trong quá trình vận chuyển

3.2 Độ an toàn

Đối với loại đá gel an toàn thực phẩm thì có thể tiếp xúctrực tiếp với thực phẩm nhưng đá gel có thể không antoàn nếu nuốt phải

3.3 Tham khảo

• Niss, Jan (September 26, 2008).“Ice pack or coldpack” Healthwise.MSNhealth & fitness Retrieved2009-06-01

• Marshall Brain "Cold Packs" How RefrigeratorsWork Howstuffworks.com

• "California Innovations Expands Recall of FreezerGel Packs Due to Ingestion Hazard" CPSC.gov.Retrieved 2014-08-06

3

Trang 8

Chương 4

Khẩu trang y tế

Các bác sĩ đang đeo khẩu trang trong một ca mổ

Khẩu trang y tế hay còn gọi là khẩu trang là một loại

mặt nạ bảo vệ được sử dụng để bịt vùng mặt (thường

là mũi, miệng) để ngăn ngừa bảo vệ người đeo khỏi bị

lây nhiễm các loại vi khuẩn, dịch bệnh, bụi bặm thông

qua đường hô hấp Khẩu trang y tế được sử dụng nhiều

trong cáccơ sở y tế, cung cấp cho cácbác sĩ,y tá,điều

dưỡng viên,giám định pháp y… đặc biệt là những người

làm công việc phẫu thuật, mổ xẻ

Chỉ định chung trong việc sử dụng khẩu trang phẫu

thuật tiêu chuẩn gồm:

• Khi có tình trạng văng, bắn, phun các chất dịch cơ

thể

• Khi ở gần các chất tiết từ khoảng cách 1.5 mét trở

xuống

• Khi làm việc trong môi trường vô trùng, để tránh

lây nhiễm cho môi trường

Khẩu trang có ba tác dụng chính là ngăn bụi, ngăn hóachất (kể cả khói xe) và ngăn vi sinh vật Khẩu trangngăn vi sinh vật phải được sản xuất bằng những nguyênliệu và công nghệ đặc biệi.[1] Một trong những biệnpháp hiệu quả và đơn giản để phòng dịch cúm là dùngkhẩu trang vừa có tác dụng che bụi vừa có tác dụngngăn ngừa lây nhiễm bệnh cúm.[2]

4.1 Các loại khẩu trang

Khẩu trang được may bằng vải

• Khẩu trang dùng một lần: là khẩu trang giấy có

nhiều nếp gấp theo chiều dọc nên ôm khít đượcmiệng và mũi

• Khẩu trang có thể tái sử dụng: Khẩu trang vải

thông thường có dây đeo vào tai Khẩu trangbảo hộ lao động cấp cho công nhân chủ yếu làloại này Khẩu trang vải thông thường chỉ có tácdụng che nắng, cản bụi có kích thước lớn, ngănđược mùi khói xe và nếu người đeo không thanhtẩy trùng trước khi sử dụng sẽ dễ bị nhiễm cácbệnh lây nhiễm qua da, bệnh về đường hô hấp…[3]

Khẩu trang làm bằng vải thông thường không có4

Trang 9

4.4 CHÚ THÍCH 5

tác dụng lọc hơi khí độc (khói, hơi xăng, dầu,

than…)[1]

• Khẩu trang chứa than hoạt tính lại chia làm hai

loại: Loại có lớp vải dệt sợi hoạt tính, may liền

Loại có tấm ép than hoạt tính đặt ở giữa 2 lớp vải

Sợi hoạt tính (là sợi vải tẩm than hoạt) chỉ có tác dụng

sau 2 lần giặt.[2]Đối với khẩu trang than hoạt tính được

quảng cáo là lớp lót than có tác dụng kéo dài một năm là

không đúng Lớp lót than hoạt tính có thể bị no chỉ sau

một vài ngày sử dụng Đối với khẩu trang than hoạt

tính có mùi hôi là do cơ sở sản xuất sử dụng keo để

phun cố định các hạt than hoạt tính Chính những hạt

keo khi bao quanh các hạt than sẽ làm lớp than mất tác

dụng hấp phụ của nó

4.2 Trên thế giới

Ngày nay các loại khẩu trang y tế được phổ biến thông

dụng và rẻ tiền người dân có thể tự trang bị để phòng

chống các đại dịch như dịch cúm trong các trung tâm

đông dân cư trong khu vực Đông Á để giúp ngăn ngừa

lây lan cảm lạnh thông thường Tại Nhật Bản, nhiều

người đeo mặt nạ trong khi bị bệnh để tránh lây nhiễm

cho những người khác ở nơi công cộng

Khẩu trang cũng được sử dụng rộng rãi ở Trung ốc,

Hồng Kông, Việt Nam,[4]và Toronto, Canada trong thời

gian bùng phát dịch cúm virus SARS, trong 2007 và gần

đây ở Hoa Kỳ và Mexico trong thời gian bùng phát dịch

cúm H1N1 năm 2009 hay còn được gọi là cúm lợn Khẩu

trang y tế hiện nay thường là loại dùng một lần rồi bỏ

4.3 Một số khuyến cáo

Ở Việt Nam có không ít loại khẩu trang bày bán ở các

vỉa hè được may từ những loại vải mốc meo, mút phế

liệu và chưa được xử lý giặt tẩy, chứa vô số vi khuẩn

đe dọa sức khỏe người sử dụng Nhiều nơi khẩu trang

là từ nguyên liệu là các loại rác thải bằng vải và không

đạt chất lượng.[3] Đặc biệt, đa số các loại khẩu trang

được bày bán hiện nay đều có thiết kế không ôm sát

phần mũi và miệng người đeo, tạo ra những kẽ hở để

vi khuẩn xâm nhập Vì thế khẩu trang chỉ giúp tránh

được bụi phần nào chứ không tránh được các loại vi

khuẩn.[3]

Khi mang khẩu trang phải kín cả mũi và miệng Nếu

không thì bụi, hóa chất, vi sinh vật không đi qua bộ

phận lọc mà len theo kẽ hở vào thẳng mũi và miệng,

chạy sâu vào phổi Đối với loại khẩu trang đeo sát mũi

thì bụi, hóa chất và vi sinh vật vẫn có khả năng thâm

nhập vào cơ thể qua đường miệng, cho dù mức độ thấp

hơn

Nhiều người có thói quen mua khẩu trang dọc đường

rồi sử dụng ngay hoặc treo, móc khẩu trang trên xe, bỏ

trong túi áo quần… khiến khẩu trang nhiễm thêm visinh vật gây hại do bụi, ẩm, mốc, mùi hôi… Không loạitrừ trường hợp bị tái viêm mũi do sử dụng khẩu trang

đã nhiễm vi khuẩn trước đó Do vậy, đối với khẩu tranglàm bằng vải thông thường phải giặt sạch sau khi mua.Khi đã sử dụng thì nên giặt mỗi ngày.[1]

4.4 Chú thích

[1] http://phapluattp.vn/20120302120652263p1060c1104/khau-trang-mang-cung-nhu-khong.htm

[2] “Sử dụng khẩu trang đúng cách phòng dịch cúm” Báođiện tử Dân Trí 8 tháng 7 năm 2009 Truy cập 5 tháng

Trang 10

Chương 5

Kính bảo hộ

Một loại kính bơi.

Kính bảo hộ hay kính mắt an toàn là một loại vật dụng

để bảo vệmắt, ngăn mắt không tiếp xúc vớinướchoặc

tránh tiếp xúc vớihóa chất,bụi… Chúng được sử dụng ở

nhiều môi trường công việc nhưhàn cắt kim loại, công

tác mộc,vệ sinh môi trường,phòng thí nghiệm… hoặc

được các vận động viên đeo khibơi lộihoặc khinhảy

5.1 Lịch sử

NgườiEskimođã biết sử dụng datuần lộc,vỏ câyvàgỗ

để làm vật dụng che mắt tránhbão tuyết Loại kính bảo

hộ của họ được làm cong để vừa với khuôn mặt người

sử dụng và có một đường rãnh lớn để lộmũi Trên tấm

da có rạch một khe nhỏ dài để cho phépánh sángđi

qua cũng như làm giảm tia cực tím Kính có sợi dây

làm bằng gân tuần lộc để có thể đeo trênđầu

Đầu thế kỷ 20, tài xế các xe mui trần đã đeo kính bảo

hộ để ngăn không bị bụi bay vào mắt.[1] Sau khi máy

bay được phát minh năm 1903 kính bảo hộ đã trở lên

cần thiết cho các phi công để bảo vệ mắt khỏi gió tốc

độ cao và hạt bụi bay nhanh Người phi công đầu tiên

đeo kính bảo hộ có lẽ là Charles Manly khi ông thực

hiện bay nhưng thất bại bằng máy bay của người bạn

Samuel Pierpont Langleyvào năm 1903

của người Nenet

Trang 11

Chương 6

Laser electron tự do

Laser electron tự do (tiếng Anh là Free Electron Laser,

viết tắt FEL) là một loại laser có khả năng đổi màu

(tunability) và tính phát quang đồng pha (coherent

radiation) theo một nguyên tắc chung từ sóng

mi-li-mết đến quang tuyến X FEL khác với các loại laser

thường ở chỗ FEL dùng electron không ràng buộc vào

nguyên tử hay phân tử nào, cho nên có tên electron

tự do FEL sử dụng tia electron bay trong chân không

với vận tốc gần bằng vận tốc ánh sáng (c = 2,9979

x 108 m/s) với năng lượng từ MeV (mega

electron-volt) đến GeV (giga electron-electron-volt), thông qua một chuỗi

nam châm có từ trường dạng cos với số sóng k, B

= B0cos(kz); z là vị trí trong chuỗi nam châm theo

hướng đi của electron Chuỗi nam châm này được gọi

là máy gợn sóng (undulator) hoặc máy lắc lư (wiggler)

tùy theo góc độ của quỹ đạo của electron với hướng

đi trước khi vào máy (góc độ nhỏ undulator; góc độ

lớn wiggler) Dưới ảnh hưởng của từ trường dạng cos,

electron bị lực đẩy Lorentz và chạy theo quỹ đạo cũng

có dạng cos, x = x0cos(kz) Nếu nhìn từ xa ngược

hướng đi electron, chúng ta sẽ thấy electron lắc lư qua

lại (wiggle) trong máy gợn sóng Giống như electron

lắc lư trong ăng-ten phát ra sóng ra-dô (radio wave),

electron lắc lư trong máy gợn sóng sẽ phóng phát sóng

điện từ (electromagnetic wave), có nghĩa là, electron

phát chùm ánh sáng cùng hướng đi với electron và

thẳng góc với hướng lắc lư

Đây chỉ là nguyên tắc của sự phát quang máy

gợn sóng (undulator radiation) trong xincrôtron Máy

xincrôtron sử dụng electron với năng lượng GeV

(giga electron-volt) để phát quang trong vùng quang

tuyến X, thường dùng trong khảo cứu hóa sinh

Ánh sáng xincrôtron chưa thực sự là ánh sáng laser

bởi vì ánh sáng xincrôtron không có tính đồng pha

(coherence) và không được sự khuếch đại ánh sáng

(light amplification) Để có tính đồng pha và sự khuếch

đại ánh sáng, electron trong lúc phát quang phải dính

chùm (bunch) với nhau và khoảng cách giữa hai chùm

phải bằng một độ dài sóng (wavelength) của ánh sáng,

gọi là sự dính chùm tiểu vi (microbunching) Sự dính

chùm tiểu vi xảy ra tự nhiên trong FEL bởi vì electron

thay đổi (tăng hoặc mất) năng lượng tùy thuộc vào

pha của electron với sóng ánh sáng Electron tăng/mất

năng lượng sẽ sinh ra sự điều chế năng lượng (energy

modulation), dẫn đến sự điều chế dòng điện (currentmodulation) Có nghĩa là electron bắt đầu với dòngđiện DC (không bị điều chế) sau khi tác dụng với FEL

sẽ biến thành dòng điện AC với khoảng cách điềuchế (modulation length) bằng độ dài sóng Electron bịdính chùm phát quang mạnh hơn và vì thế cường độánh sáng FEL được khuếch đại bằng số electron trongkhoảng cách điều chế Số electron này rất cao, từ 106đến 1010, cho nên ánh sáng FEL mạnh hơn ánh sángmáy gợn sóng (undulator radiation) hàng triệu đếnhàng tỹ lần

6.1 Nguyên Tắc

Để làm thành một laser (Light Amplification byStimulated Emission of Radiation), chúng ta cần phảikhuếch đại ánh sáng bằng phương pháp phát quangkích thích (stimulated emission) Trong laser thường,một lượng tử ánh sáng kích thích electron trên tầngnăng lượng cao rơi xuống tầng năng lượng thấp, vàmỗi electron rơi xuống phát ra một lượng tử cùng màu

và cùng pha Nếu có nhiều electron ở tầng năng lượngđược kích thích để phóng ra nhiều lượng tử ánh sángcùng pha, ánh sáng sẽ được khuếch đại và có tính đồngpha FEL dùng electron không bị buộc vào tầng nănglượng của vật chất nhưng electron có năng lượng rấtcao từ vài MeV (mega electron-volt) đến vài GeV ay

vì dùng lượng tử ánh sáng, FEL dùng điện trường củaánh sáng (light’s electric field) để tác dụng vào quỹ đạoelectron trongkhông gian phavà thay đổi năng lượngcủa electron

Không gian pha là một không gian gồm có ba cặp biếnchính tắc (canonical variable): x (vị trí x) và px (độnglượng x), y (vị trí y) và py (động lượng y), pha (phase)

và năng lượng (energy) Trong phần này, chúng ta chỉ

vẽ pha và năng lượng trên không gian hai chiều: nănglượng ở chiều cao và pha ở chiều ngang Trên khônggian pha hai chiều này, mỗi electron là một điểm đạidiện cho một năng lượng và một pha Nhiều electronlập thành một tổ hợp (ensemble) trên không gian haichiều Trước khi vào máy gợn sóng, tất cả electron ởcùng một năng lượng nhưng ở nhiều pha khác nhau

Có nghĩa là, trong một không gian pha bằng độ dài7

Trang 12

8 CHƯƠNG 6 LASER ELECTRON TỰ DO

sóng, electron nằm trên cùng một năng lượng nhưng

có nhiều pha khác nhau từ -π cho đến +π (mỗi độ dài

sóng = 2π) Sau khi bị ánh sáng tác dụng, nửa electron

sẽ mất năng lượng và nửa khác tăng năng lượng tùy

thuộc vào pha của electron so với sóng ánh sáng Trong

mỗi độ dài sóng, electron có pha âm từ -π đến 0 được

tăng năng lượng - quỹ đạo của chúng đi lên năng lượng

cao - và electron có pha dương từ 0 đến +π bị mất năng

lượng - quỹ đạo của chúng đi xuống năng lượng thấp

Vì thế, sau khi bị điện trường của ánh sáng tác dụng,

quỹ đạo của chùm electron trong không gian pha sẽ

biến đổi thành dạng sin (sinusoidal) với một chu kỳ

bằng độ dài sóng Một lúc sau, electron ở phía hậu (pha

-π đến 0) với năng lượng cao sẽ bay nhanh và bắt kịp

với electron ở phía trước (pha 0 đến +π) với năng lượng

thấp và bay chậm hơn ỹ đạo trong không gian pha

làm cho electron dính chùm nhau và tập tụ gần pha = 0

(ở giữa độ dài sóng) Vì hiện tượng này xẫy ra mỗi độ dài

sóng, electron sẽ dính chùm lại thành từng chùm với

khoảng cách bằng một độ dài sóng của ánh sáng Đây là

nguyên tắc của sự dính chùm vi tính (microbunching)

Khi những electron dính chùm vi tính này phát quang,

chúng sẽ phát quang đồng pha và bằng cường độ mạnh

hơn ánh sáng xincrôtron với tỉ số electron trong mỗi

chùm Vì tỉ số này rất cao (bằng số electron trong mỗi

chùm), sự khuếch đại ánh sáng trong một FEL có thể

lên đến 106- 1010

6.2 Lịch sử

John Madey thường được nhận là người phát minh FEL

vì ông là người viết bài lý thuyết của FEL năm 1971 [1]

và là người giáo sư hướng dẫn công cuộc thực hiện máy

FEL đầu tiên ở Stanford năm 1978 [2] Tuy nhiên, cơ

bản của FEL đã được Robert Phillips chứng minh bằng

máy ubitron (undulator beam interaction) ở vùng sóng

mi-li-mết vào năm 1960 [3]

6.3 Tham khảo

1 J Madey, “Stimulated Emission of Bremsstrahlung

in a Periodic Magnetic Field,” J Appl Phys 42, 1906

(1971)

2 D.A.G Deacon et al., “First Operation of a

Free-Electron Laser” Phys Rev Le., vol 38, No 16, Apr

1977, pp 892–894

3 R.M Phillips, “e Ubitron, a High-power

Traveling-Wave Tube based on a Periodic Beam Interaction in

Unloaded Waveguide,” IRE Transaction on Electron

Devices, vol 7, No 4, Oct 1960, pp 231–241

Trang 13

Chương 7

Máy đo đường huyết

Một loại máy đo đường huyết

Máy đo đường huyết là mộtthiết bị y khoađược sửdụng để đo độđường(glucose) tồn tại trongmáu Hiệnnay, máy đo đường huyết là thiết bị kiểm trasức khỏe,

đo chính xác độ đường trong máu Máy đo đường huyết

về bản chất chỉ là thiết bị hiển thị các thông số

Hoạt động chính của việc kiểm tra đường huyết bằngmáy nằm ở que thử Tại đầu que thử có thuốc thử, thôngqua phản ứng điện hóa giữa thuốc thử ở đầu que thử

và lượng đường trong máu, máy sẽ hiển thị mức đườnghuyết tương ứng Kết quả đo đường huyết tại nhà chỉphản ánh mức đường huyết tại thời điểm kiểm tra

7.1 Tham khảo

9

Trang 14

Chương 8

Máy đo huyết áp

BP 126/70 mmHg hiện kết quả trên đồng hồ huyết áp điện tử

Đồng hồ huyết áp Aneroid

Một máy đo huyết áp hoặc đồng hồ đohuyết áplà một

thiết bị được sử dụng để đo huyết áp, bao gồm một vòng

bít bơm hơi hạn chế lưu lượng máu, và một thủy ngân

hoặc áp kế cơ khí thủy ngân để đo lường các áp lực Nó

luôn luôn được sử dụng kết hợp với một phương tiện

để áp lực lưu lượng máu chỉ là bắt đầu, và những gì áp

lực là không bị cản trở Máy đo huyết áp thủ công được

sử dụng kết hợp với một ống nghe

Từ này trong tiếng Anh xuất phát từ các sphygmós Hy

Lạp (xung), cộng với thời hạn áp kế khoa học (đồng

hồ đo áp lực) iết bị này được phát minh bởi Samuel

Siegfried Karl Rier von Basch năm[1] Scipione

Riva-Aneroid sphygmomanometer dial, bulb, and air valve

Roccigiới thiệu một phiên bản dễ dàng sử dụng hơnvào năm 1896 Năm 1901, Harvey Cushing hiện đại hóathiết bị và phổ biến rộng rãi trong cộng đồng y tế.Máy đo huyết áp bao gồm một bơm hơi vòng bít, mộtđơn vị đo lường (áp kế thủy ngân, hoặc đánh giá bằngsắt), và bóng đèn van bơm phồng, cho các dụng cụ thủcông

8.1 Chú thích

[1] Booth, J (1977) “A short history of blood pressuremeasurement” Proceedings of the Royal Society of

Medicine 70 (11): 793–9.PMC 1543468.PMID 341169.Truy cập ngày 6 tháng 10 năm 2009

10

Trang 16

Chương 9

Máy ôm

Máy ôm (tiếng Anh: hug machine) - còn gọi là hộp ôm

(hug box), máy siết ặt (squeeze machine) hay hộp siết

ặt (squeeze box) - là một thiết bị được thiết kế nhằm

giúp những người quá đỗi nhạy cảm (hypersensitive) có

thể bình tĩnh trở lại, đặc biệt là những người mắc chứng

tự kỉ Máy này doTemple Grandinsáng chế ra khi bà

còn là sinh viên đại học.[1][2]

Các chứng rối loạntự kỉvàphổ tự kỉcó tác động sâu

sắc lên giao tiếp xã hội và mức độ nhạy cảm đối với

các tác nhân giác quan của người bệnh, thường khiến

họ thấy không thoải mái Grandin đã giải quyết vấn đề

này bằng cách chế tạo ra máy ôm mà cả bà và những

người mắc bệnh đều có thể sử dụng để cảm thấy bình

tĩnh trở lại

9.1 Miêu tả

Máy ôm bao gồm hai tấm ván có khớp nối, mỗi tấm có

kích thước 120 cm x 90 cm, trên ván có lót đệm dày và

mềm Hai tấm này tạo thành hình chữ V Cuối một đầu

của chúng có một hộp điều khiển và các ống nối với

máy nén khí Khi sử dụng, một người nằm giữa hai tấm

này bao lâu tùy thích kèm với việc điều khiển máy nén

khí tùy ý để tạo áp suất lên cơ thể.[3]

9.2 Lịch sử

Khi còn là một cô bé, Grandin nhận thấy mình cần một

thứ gì đó có thể tạo cảm giác nén lên cơ thể Tuy nhiên,

bà cảm thấy quá kích thích nếu được người khác ôm

hoặc nắm giữ cơ thể Ý tưởng về một chiếc máy ôm đến

với bà trong một chuyến thăm bà dì tại một trại nuôi

gia súc ở tiểu bangArizona, Hoa Kỳ Tại đây, bà để ý

cách mà đám gia súc bị nhốt vào lồng khi chúng được

tiêm chủng và nhận thấy một số con ngay tức khắc trở

nên bình tĩnh khi thành lồng ép lên cơ thể chúng Từ

đó, bà quyết định tạo ra thứ gì đó mô phỏng cái lồng

này nhằm giải quyết chứng nhạy cảm quá mức mà bà

phải đối mặt

Ban đầu, thiết bị của Grandin bị phản đối khi các nhà

tâm lý học tại trường đại học tìm cách tịch thu nguyên

mẫu chiếc máy của bà.[2]Tuy nhiên giáo viên môn khoahọc lại khuyến khích mà xác định lý do vì sao chiếc máy

có thể giúp bà vượt qua chứng lo lắng và nhạy cảm quámức

9.3 Sự hiệu quả

Một số chương trình trị liệu tại Mỹ hiện có dùng máy

ôm và thu được kết quả tốt trong việc giúp các bệnhnhân tự kỉ - cả trẻ em lẫn người lớn - bình tĩnh trởlại Năm 1995, Trung tâm Nghiên cứu Tự kỉ thực hiệncùngĐại học Willamee ở Salem, Oregontiến hànhmột nghiên cứu trên 10 trẻ em tự kỉ và nhận thấy máy

ôm có thể làm giảm sự căng thẳng và lo lắng của bọntrẻ.[4]Một nghiên cứu thử nghiệm được xuất bản trêntạp chíAmerican Journal of Occupational erapychohay máy ôm có tác động đáng kể trong việc giảm sựcăng thẳng, nhưng chỉ giảm đôi chút sự lo lắng.[5]

Grandin vẫn tiếp tục dùng máy ôm thường xuyên đểgiảm các triệu chứng lo lắng Bà có viết một bài về máy

ôm và tác động của sự kích thích áp suất cao trên tạp chí

Journal of Child and Adolescent Psychopharmacology.[3]

áng 2 năm 2010, trong một cuộc phỏng vấn vớitạpchí Time, Grandin cho biết bà không còn dùng máy ômnữa Bà tâm sự: “Nó hỏng hai năm rồi và tôi cũng khôngsửa nó Giờ tôi ôm tất cả mọi người.”[6]

9.4 Ghế siết chặt

ập niên 1990, nghệ sĩ Wendy Jacob hợp tác vớiGrandin để chế ra các đồ nội thất có thể ôm người dùngdựa theo ý tưởng máy ôm của Grandin.[7][8]

9.5 Tham khảo

[1] Grandin, Temple (1996) inking in Pictures: Other

Reports from My Life with Autism.

[2] Grandin, Temple Emergence: Labeled Autistic, tr 91.

Warner Books, 1996

12

Ngày đăng: 12/09/2017, 11:58

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình xe cứu thương - Các trang trong thể loại “thiết bị y khoa”
Hình xe cứu thương (Trang 29)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm