Nghiên cứu cho thấycăn bệnh này có liên quan với các mảng và đám rốitrong não.[9] Các phương pháp điều trị hiện tại chỉgiúp giảm một phần nhỏ triệu chứng bệnh, chưa cóphương pháp trị liệ
Trang 1Các trang trong thể loại “Rối loạn tâm thần
và hành vi”
Trang 2Mục lục
1.1 Xem thêm 1
1.2 Chú thích 1
2 Bệnh Alzheimer 2 2.1 Đặc điểm 3
2.1.1 Giai đoạn trước khi mất trí nhớ 3
2.1.2 Giai đoạn nhẹ 3
2.1.3 Giai đoạn khá nặng 3
2.1.4 Giai đoạn nặng 3
2.2 Nguyên nhân 4
2.3 Sinh lý bệnh 5
2.3.1 Bệnh học thần kinh 5
2.3.2 Sinh hóa 5
2.3.3 Cơ chế bệnh 6
2.3.4 Di truyền 6
2.4 Phòng chống 6
2.5 Chăm sóc tại nhà 7
2.6 Dịch tễ học 7
2.7 Đọc thêm 7
2.8 Chú thích 8
2.9 Liên kết ngoài 11
3 Bệnh Parkinson 13 3.1 Phân loại 13
3.2 Các dấu hiệu và triệu chứng 13
3.2.1 Triệu chứng về vận động 13
3.2.2 Triệu chứng về thần kinh 14
3.2.3 Các triệu chứng khác 14
3.3 Chú thích 14
3.4 Liên kết ngoài 14
i
Trang 3ii MỤC LỤC
4.1 Dịch tễ học 15
4.2 Chú thích 16
4.3 Đọc thêm 16
4.4 Liên kết ngoài 17
5 Chán ăn tâm thần 18 5.1 Từ nguyên và phân biệt 18
5.2 Biểu hiện 18
5.2.1 Tâm lý 18
5.2.2 ể chất 19
5.2.3 Cảm xúc 19
5.2.4 Các quan hệ xã hội 19
5.2.5 Hành vi 19
5.3 Các nguyên nhân gây bệnh 19
5.3.1 Nguyên nhân xã hội và môi trường 19
5.3.2 Nguyên nhân di truyền 20
5.3.3 Yếu tố dinh dưỡng 20
5.4 ống kê trên thế giới 20
5.4.1 Tỉ lệ tử vong 21
5.4.2 Tỉ lệ ở một số quốc gia 21
5.4.3 Một số người chết vì chán ăn tâm thần 21
5.5 Chẩn đoán và các đặc điểm lâm sàng 21
5.6 Đưa ra chẩn đoán và các tranh cãi 21
5.7 Điều trị 22
5.8 Cần làm gì khi người thân bị chán ăn tâm thần 22
5.9 Xem thêm 22
5.10 Trợ giúp Y tế 22
5.11 Liên kết ngoài 22
5.12 Chú thích 23
6 Chứng bắt thế 25 6.1 Nguyên nhân 25
6.2 Triệu chứng 25
6.3 Các trường hợp trong lịch sử 25
6.4 am khảo 25
7 Chứng cuồng dâm 26 7.1 am khảo 26
7.2 Liên kết ngoài 26
8 Chứng khó đọc 27 8.1 Định nghĩa 27
8.2 Nguyên nhân 27
Trang 4MỤC LỤC iii
8.2.1 Lý thuyết tiểu não 28
8.2.2 Lý thuyết thâm hụt âm vị học 28
8.2.3 Lý thuyết xử lý thính giác nhanh chóng 28
8.2.4 Lý thuyết thị giác 28
8.3 Các rối loạn đi kèm 28
8.4 Triệu chứng 28
8.4.1 Trẻ trong độ tuổi mẫu giáo 28
8.4.2 Đầu tiểu học 28
8.4.3 Cuối tiểu học 28
8.4.4 Tuổi trung học và trưởng thành 29
8.5 Chú thích 29
8.6 Xem thêm 29
8.7 Liên kết ngoài 29
9 Chứng nghiện rượu 30 9.1 Nguyên nhân 30
9.1.1 Nguyên nhân cá nhân 30
9.1.2 Nguyên nhân xã hội 31
9.2 Mức độ phổ biến 31
9.3 Hậu quả xã hội 31
9.4 Diễn tiến và biểu hiện 31
9.4.1 Diễn tiến chứng bệnh 31
9.4.2 Biểu hiện 32
9.4.3 Di chứng 33
9.5 Điều trị 33
9.6 Xem thêm 34
9.7 am khảo 34
9.8 Liên kết ngoài 34
10 Hikikomori 35 10.1 Đối tượng 35
10.2 Biểu hiện 35
10.3 Nguyên nhân 35
10.4 am khảo 36
10.5 Liên kết ngoài 36
11 Hoang tưởng ảo giác 37 11.1 Đại cương lâm sàng 37
11.2 Triệu chứng 37
11.3 Chẩn đoán và điều trị 38
11.4 Chú thích 38
Trang 5iv MỤC LỤC
12.1 Triệu chứng 39
12.2 Nguyên nhân 39
12.3 Điều trị 39
12.4 Lịch sử 39
12.5 Các lý thuyết và phương pháp hiện đại 40
12.6 Chú thích 40
12.7 Liên kết ngoài 40
13 Hội ứng Asperger 41 13.1 Đặc điểm 41
13.1.1 Kỹ năng sinh hoạt kém 41
13.1.2 Lập dị 41
13.1.3 Khả năng phi thường 42
13.2 Nguyên nhân 42
13.3 Dấu hiệu 42
13.4 Điều trị 43
13.5 Chú thích 43
14 Hội ứng Einstein 45 14.1 am khảo 45
15 Hội ứng Munausen 46 15.1 Triệu chứng 46
15.2 Xem thêm 46
15.3 am khảo 46
16 Hội ứng sợ xã hội 47 16.1 Chẩn đoán 47
16.2 Yếu tố nguy cơ 47
16.3 Tỉ lệ 47
16.4 Điều trị 48
16.4.1 Liệu pháp hành vi và hành vi nhận thức 48
16.4.2 Dùng thuốc 48
16.5 Xem thêm 48
16.6 Liên kết ngoài 48
16.7 Chú thích 49
17 Hội ứng Tourette 50 17.1 Mozart và chứng Touree 50
17.2 Chú thích 50
18 ICD-10 Chương 5: Rối loạn tâm thần và hành vi 52 18.1 Rối loạn tâm thần và hành vi (F00-F99) 52
18.1.1 Rối loạn tâm thần thực thể bao gồm rối loạn tâm thần triệu chứng (F00-F09) 52
Trang 6MỤC LỤC v
18.1.2 Rối loạn tâm thần và hành vi do sử dụng các chất tác động tâm thần(F10-F19) 52
18.1.3 Tâm thần phân liệt, rối loạn dạng phân liệt và rối loạn hoang tưởng (F20-F29) 52
18.1.4 Rối loạn khí sắc (cảm xúc) (F30-F39) 53
18.1.5 Loạn thần kinh, rối loạn liên quan đến stress và rối loạn dạng cơ thể (F40-F48) 53
18.1.6 Hội chứng hành vi kết hợp với rối loạn sinh lý và yếu tố thể chất (F50-F59) 53
18.1.7 Rối loạn nhân cách và hành vi ở người trưởng thành (F60-F69) 53
18.1.8 Chậm phát triển tâm thần (F70-F79) 54
18.1.9 Rối loạn phát triển tâm lý (F80-F89) 54
18.1.10 Rối loạn về hành vi và cảm xúc với sự khởi bệnh thường xảy ra ở lứa tuổi trẻ em và thiếu niên (F90-F98) 54
18.1.11 Rối loạn tâm thần không xác định (F99) 55
18.2 am khảo 55
18.3 Liên kết ngoài 55
19 Khổ dâm 56 19.1 Nguồn gốc 56
19.2 Xem thêm 56
19.3 Chú thích 56
20 Liệt dương 57 20.1 ống kê 57
20.2 Sinh lý học 57
20.3 Nguyên nhân 58
20.4 Chẩn đoán 58
20.5 Bệnh lý kết hợp 59
20.6 Điều trị 59
20.6.1 uốc 59
20.6.2 Dụng cụ 59
20.6.3 Phẫu thuật 59
20.7 Xem thêm 59
20.8 Liên kết ngoài 59
20.9 Chú thích 60
21 Lệ lạc tình dục 61 21.1 Các dạng bệnh 61
21.1.1 Lệch lạc đối tượng 61
21.1.2 Lệch lạc mục tiêu 61
21.2 Nguyên nhân 62
21.3 Điều trị 62
21.3.1 Liệu pháp hành vi nhận thức 62
21.3.2 Phân tâm 62
21.3.3 Dùng thuốc 62
21.4 Xem thêm 62
Trang 7vi MỤC LỤC
21.5 Liên kết ngoài 62
21.6 Chú thích 62
22 Mất ngủ 63 22.1 Nguyên nhân 63
22.1.1 Yếu tố tạo khuynh hướng/nguy cơ mất ngủ 63
22.1.2 Yếu tố gây mất ngủ tức thời 63
22.1.3 Yếu tố gây mất ngủ lâu dài 63
22.2 Phân loại 63
22.2.1 Mất ngủ nguyên phát (primary insomnia) có 3 dạng 63
22.2.2 Mất ngủ thứ phát (secondary) do những lý do bên ngoài 64
22.3 Chứng mất ngủ ở trẻ em 64
22.4 Chú thích 64
22.5 Liên kết ngoài 64
23 Mất trí nhớ 65 23.1 Xem thêm 65
23.2 Chú thích 65
24 Mặc cảm ngoại hình 66 24.1 Vấn đề nghiêm trọng 66
24.2 Phân biệt khái niệm 66
24.3 Triệu chứng 66
24.4 Mặc cảm ngoại hình thường bắt đầu từ lứa tuổi nào? 67
24.5 Nguyên nhân của bệnh 67
24.6 Mặc cảm nào trên cơ thể mang tính phổ biến 67
24.7 Bệnh tâm lý kết hợp 68
24.8 Khía cạnh văn hóa 68
24.9 Lịch sử 68
24.10 Xem thêm 68
24.11 Trợ giúp Y tế 68
24.12 Liên kết ngoài 68
24.13 Chú thích 68
25 Mặc cảm thiếu cơ bắp 69 25.1 Đặc điểm 69
25.2 Nguyên nhân 69
25.3 Trợ giúp Y tế 69
25.4 Xem thêm 70
25.5 Chú thích 70
26 Ngất xỉu 71 26.1 Cách điều trị 71
Trang 8MỤC LỤC vii
26.2 am khảo 71
26.3 Đọc thêm 71
27 Ngộ độc nước 72 27.1 Các tác nhân gây hại 72
27.1.1 Khối lượng cơ thể thấp (trẻ sơ sinh) 72
27.1.2 ể dục, thể thao cường độ cao 72
27.1.3 á sức và căng thẳng 72
27.1.4 Luyện tập thể tham gia các cuộc thi ăn, uống nhanh 72
27.1.5 Rối loạn tâm thần 72
27.1.6 Trong khi điều trị 73
27.2 Sinh lý bệnh học 73
27.3 Cách thức phòng chống 73
27.4 Điều trị 73
27.5 am khảo 73
27.6 Liên kết ngoài 73
28 Nhân cá yêu mình thái quá 74 28.1 Nguyên nhân 74
28.2 Tiêu chuẩn chẩn đoán 74
28.2.1 Chẩn đoán phân biệt 75
28.3 Dịch tễ học 75
28.3.1 Bệnh kết hợp 75
28.4 Trợ giúp Y tế 75
28.5 Chú thích 75
29 Nói lắp 77 29.1 Dịch tễ học 77
29.2 Những yếu tố quan hệ 77
29.3 Nguyên nhân 77
29.4 Chữa trị 78
29.5 Những người nổi tiếng 78
29.6 Chú thích 78
30 Phân loại thống kê quốc tế về các bệnh tật và vấn đề sức khỏe liên quan 79 30.1 am khảo 79
30.2 Liên kết ngoài 79
31 Rối loạn lo âu 80 31.1 Các dạng rối loạn lo âu 80
31.1.1 Rối loạn lo âu lan tỏa (GAD) 80
31.1.2 Rối loạn ám ảnh cưỡng chế (OCD) 80
31.1.3 Rối loạn stress sau sang chấn (PTSD) 81
Trang 9viii MỤC LỤC
31.1.4 Ám ảnh sợ xã hội 81
31.1.5 Rối loạn lo âu khi xa cách 82
31.2 Các rối loạn tâm thần kết hợp 82
31.3 Điều trị 82
31.3.1 Liệu pháp hành vi nhận thức 82
31.3.2 Dùng thuốc 82
31.4 Xem thêm 82
31.5 Liên kết ngoài 82
31.6 Chú thích 83
32 Rối loạn lo âu lan tỏa 84 32.1 Vấn đề 84
32.2 Tiêu chuẩn chẩn đoán 84
32.3 Các rối loạn tâm thần kết hợp 84
32.4 Dịch tễ học 85
32.5 ống kê trên thế giới 85
32.6 Nguyên nhân và các yếu tố nguy cơ 85
32.7 Điều Trị 85
32.7.1 Tâm lý trị liệu 85
32.7.2 Dùng thuốc 86
32.8 Xem thêm 86
32.9 Liên kết ngoài 86
32.10 Chú thích 86
33 Rối loạn nhân cá 88 33.1 Đặc điểm 88
33.1.1 Chú ý 88
33.2 Nguyên nhân 89
33.3 Phân loại rối loạn nhân cách 89
33.3.1 Nhóm A:Kỳ quái/lập dị 89
33.3.2 Nhóm B:Kịch tính/nhiều cảm xúc/bất định 89
33.3.3 Nhóm C:Lo âu 89
33.4 Chẩn đoán 89
33.5 Các giai đoạn điều trị và tự quản lý bản thân 90
33.5.1 Sử dụng thuốc 90
33.5.2 Phân tích tâm lý 90
33.5.3 Liệu pháp nhận thức và hành vi 90
33.5.4 Dựa vào cộng đồng 90
33.6 Trợ giúp Y tế 90
33.7 Xem thêm 90
33.8 Liên kết ngoài 91
33.9 Chú thích 91
Trang 10MỤC LỤC ix
34.1 Lịch sử 92
34.2 Yếu tố nguy cơ 92
34.3 Tiêu chuẩn chẩn đoán 92
34.3.1 Chẩn đoán phân biệt 93
34.4 Dịch tễ học 93
34.5 Tiên lượng 93
34.6 Trợ giúp Y tế 93
34.7 Xem thêm 93
34.8 Liên kết ngoài 93
34.9 Chú thích 93
35 Rối loạn nhân cá tránh né 95 35.1 Chẩn đoán 95
35.1.1 Chẩn đoán phân biệt 95
35.2 Bệnh kết hợp 95
35.3 Dịch tễ học 95
35.4 Nguyên nhân 95
35.5 Điều trị 96
35.6 Trợ giúp Y tế: 96
35.7 Xem thêm 96
35.8 Chú thích 96
36 Rối loạn nhân cá ám ảnh cưỡng ế 97 36.1 Tiêu chuẩn chẩn đoán 97
36.2 Dịch tễ học 97
36.3 Trợ giúp Y tế 97
36.4 Xem thêm 98
36.5 Chú thích 98
37 Rối loạn phân ly tập thể 99 37.1 Triệu chứng 99
37.2 Nguyên nhân 99
37.3 Phòng bệnh 99
37.4 am khảo 100
38 Rối loạn stress sau sang ấn 101 38.1 Trường hợp cụ thể 101
38.2 Lịch sử 102
38.3 Các triệu chứng của rối loạn stress sau sang chấn 102
38.4 ống kê 102
38.4.1 Cựu binh 102
38.4.2 Toàn dân 103
Trang 11x MỤC LỤC
38.5 Tiêu chuẩn chẩn đoán 103
38.6 Tái diễn lại sang chấn 103
38.7 Xem thêm 103
38.8 Liên kết ngoài 103
38.9 Chú thích 104
39 Rối loạn tăng động giảm ú ý 105 39.1 Tiêu chuẩn chẩn đoán 105
39.1.1 Các phân nhóm 106
39.1.2 Đánh giá 106
39.2 Trợ giúp Y tế 106
39.3 Xem thêm 106
39.4 Chú thích 107
40 Rối loạn ám ảnh cưỡng ế 108 40.1 Mức độ phổ biến 108
40.2 Triệu chứng và tiêu chuẩn chẩn đoán 109
40.2.1 Tiêu chuẩn chẩn đoán 109
40.3 Nguyên nhân 109
40.3.1 Gen 109
40.3.2 Tính cách 110
40.4 Bệnh kết hợp 110
40.5 Điều trị 110
40.5.1 Dùng thuốc 110
40.5.2 Trị liệu hành vi 111
40.5.3 Tự chăm sóc và hỗ trợ từ phía gia đình 111
40.6 Xem thêm 111
40.7 Trợ giúp Y tế 111
40.8 Liên kết ngoài 111
40.9 Chú thích 112
41 Rối loạn ăn uống 113 41.1 Người có nguy cơ cao mắc bệnh 113
41.2 Phân loại 113
41.2.1 Chán ăn tâm thần 113
41.2.2 Ăn ói 114
41.2.3 Hậu quả thể chất của chứng chán ăn tâm thần và ăn ói 114
41.3 Nguyên nhân 114
41.3.1 Môi trường 114
41.3.2 Nguyên nhân phát triển bệnh 115
41.3.3 Tổn thương 115
41.3.4 Sinh học 115
Trang 12MỤC LỤC xi
41.4 Sự khác biệt về giới tính 115
41.5 Chẩn đoán 115
41.6 Điều trị 116
41.7 Xem thêm 116
41.8 Liên kết ngoài 116
41.9 Chú thích 116
42 Suy giảm trí nhớ 118 42.1 Bệnh Alzheimer 118
42.2 Biệt dược liên quan 118
42.3 Liên kết ngoài 118
42.4 Chú thích 118
43 ị dâm 119 43.1 Cơ chế kích thích 119
43.2 Nguyên nhân 119
43.3 Chú thích 119
44 Trầm cảm 120 44.1 Nguyên nhân 120
44.2 Biểu hiện 120
44.2.1 Tiêu chuẩn DSM IV dùng chẩn đoán trầm cảm 121
44.2.2 Chuẩn ICD-10 F32 121
44.3 Nguy cơ tự sát ở người bị trầm cảm 121
44.4 Phân biệt 121
44.5 Điều trị 122
44.6 Xem thêm 122
44.7 Liên kết ngoài 122
44.8 Chú thích 122
45 Trầm cảm sau sinh 123 45.1 Triệu chứng 123
45.2 Yếu tố nguy cơ 123
45.3 Nguyên nhân 124
45.4 Điều trị và phòng ngừa 124
45.4.1 Mẹo nhỏ 124
45.5 Phân loại và lịch sử 124
45.5.1 Rối loạn riêng biệt 125
45.6 Xem thêm 125
45.7 Trợ giúp Y tế 125
45.8 Liên kết ngoài 125
45.9 Chú thích 125
Trang 13xii MỤC LỤC
46.1 Triệu chứng 126
46.2 Đối tượng có nguy cơ cao 126
46.3 Mức độ phổ biến 126
46.4 Chữa trị 126
46.4.1 Liệu pháp ánh sáng 126
46.4.2 Dùng vitamin D 127
46.5 Xem thêm 127
46.6 Trợ giúp Y tế 127
46.7 Chú thích 127
47 Tự kỷ 128 47.1 Triệu chứng 128
47.1.1 Phát triển xã hội 128
47.1.2 Giao tiếp 128
47.2 Nguyên nhân 128
47.3 Cơ chế 129
47.3.1 Sinh lý bệnh 129
47.3.2 Tâm thần học 129
47.4 am khảo 130
47.5 Đọc thêm 131
47.6 Liên kết ngoài 131
48 Xuất tinh sớm 132 48.1 ống kê 132
48.2 Tác hại 132
48.3 Nguyên nhân 132
48.4 Cách chữa trị 132
48.5 Triệu chứng 132
48.6 Biến chứng 133
48.7 Liên kết ngoài 133
49 Ái nhi 134 49.1 Định nghĩa 134
49.1.1 Tuổi trẻ em 134
49.1.2 Hoàn toàn hay phần lớn 134
49.2 Xem thêm 134
49.3 Chú thích 135
50 Ái tử thi 136 50.1 Hội chứng 136
50.1.1 Biểu hiện 136
50.2 Ảnh hưởng đến môi trường 137
Trang 14MỤC LỤC xiii
50.3 Chú thích 137
50.4 Xem thêm 137
50.5 Liên kết ngoài 137
51 Ái vật 138 51.1 Định nghĩa 138
51.2 Phân tích 138
51.3 an điểm cho nguyên nhân 138
51.4 Các loại 138
51.5 Nguyên nhân 139
51.6 Tỉ lệ 139
51.7 Chẩn đoán 139
51.8 Điều trị 140
51.9 Các động vật khác 140
51.10 Các bệnh lệch lạc tình dục tương tự 140
51.11 am khảo 140
51.12 Đọc thêm 141
51.13 am khảo 141
51.14 Liên kết ngoài 141
51.15 Nguồn, người đóng góp, và giấy phép cho văn bản và hình ảnh 142
51.15.1 Văn bản 142
51.15.2 Hình ảnh 145
51.15.3 Giấy phép nội dung 148
Trang 15Chương 1
Bạo dâm
Bạo dâm (tiếng Anh: sadism) hay ác dâm là một dạng
hoạt động tình dục bất thường nằm trong nhómlệchlạc tình dục Người mắc chứng ác dâm được định nghĩanhư là người chỉ tìm thấy khoái lạc,cực khoáitình dụckhi hành hạ hoặc làm cho đối tượng phảiđau đớnkhổ
sở trong khiquan hệ tình dục
Trái với bạo dâm là khổ dâm, người bệnhkhổ dâmlại cóhành vi trái ngược với người bệnh bạo dâm tức là thay
vì làm đau bạn tình của mình thì họ lại thích hứng chịuđòn roi đánh đập của đối phương nhằm kích tìm kiếmkhoái cảm dục tình Ác dâm và khổ dâm có thể cùngxuất hiện ở một cặp và họ thường hoán chuyển vị trícho nhau, khi thì người người đàn ông trong vai bạodâm, khi khác là khổ dâm
Tại nhiều quốc gia, bạo dâm được coi là tội phạmtình dục và bị xét xử theo luật pháp nước sở tại, nhất
là khi không có sự đồng ý của bạn tình, hoặc gâychấn thương, hành hạ bạn tình Tuy nhiên, trong nhiềutrường hợp, cũng như nạnbạo hành trong gia đình, nạnnhân (phần nhiều là nữ) không dám hoặc không muốn
tố cáo, vì thiếu sự hiểu biết, thông tin hoặc không được
Trang 16Chương 2
Bệnh Alzheimer
Auguste D
Bệnh Alzheimer (AD, SDAT) hay đơn giản là
Alzheimer là một chứng mất tríphổ biến nhất Vào
năm 1906, lần đầu tiên bác sĩ tâm thần và thần kinh
học người ĐứcAlois Alzheimerđã chỉ ra căn bệnh này
không thể chữa được, mang tính thoái hóa và gây tử
vong Căn bệnh này được đặt theo tên ông Năm1901,
Alois Alzheimer trình bày trường hợp của bệnh nhân
tênAuguste D, 50 tuổi, bị mất trí.[1]Trongthế kỷ 20, từ
“bệnh Alzheimer” thường chỉ dùng để định bệnh cho
những người mất trí tuổi 45 đến 65 (“lẫn trước khi già",
“lẫn sớm”) Những người lớn tuổi hơn mà bị mất trí
được coi như là chuyện thông thường, do tuổi cao làm
“não bộ tê cứng” Trong những năm1970-1985khoa
học nhận thấy người mất trí ở các lứa tuổi khác nhau
lại có triệu chứng lâm sàng giống nhau.[2] Bệnh này
thường xuất hiện ở người trên 65 tuổi,[2]tuy nhiên dạngAlzheimer sớm dù không phổ biến nhưng có thể xảy rasớm hơn rất nhiều Năm 2006 có 26,6 triệu người mắcbệnh Alzheimer trên toàn thế giới Dự đoán tỉ lệ mắcAlzheimer trên thế giới sẽ là 1 trên 85 vào năm 2050.Mặc dù các ca bệnh Alzheimer có đặc điểm riêng biệtđối với mỗi cá nhân, tuy nhiên có nhiều triệu chứngtương đồng xuất hiện sớm nhưng khi quan sát thườngnhầm lẫn với các bệnh 'liên quan đến tuổi già', hoặcbiểu hiện củastress.[3]Trong giai đoạn đầu, triệu chứngphổ biến nhất được công nhận là không có khả năng
để nhớ được việc vừa xảy ra Khi nghi ngờ mắc bệnhAlzheimer, chẩn đoán thường được thực hiện bằng cáchđánh giá hành vi và kiểm tra nhận thức, có thể kèm theochụp cắt lớpnão.[4]
Khi bệnh tiến triển, các triệu chứng bao gồm sự nhầmlẫn, khó chịu, thay đổi tâm trạng, mất khả năng phântích ngôn ngữ, mất trí nhớ dài hạn, suy giảm các giácquan Dần dần, cơ thể sẽ mất đi một số chức năng,cuối cùng dẫn đến cái chết Bệnh Alzheimer có thểphát triển tiềm tàng trong một thời gian dài trước khixuất hiện những triệu chứng có thể phát hiện đượcbệnh ông thường khi các triệu chứng này bộc lộ, thìngười bệnh chỉ có thể sống được khoảng 7 năm, dưới3% bệnh nhân sống thọ thêm 14 năm sau khi phát hiệnbệnh.[3][5][6][7][8]
Hiện nay khoa học vẫn chưa hiểu rõ nguyên nhân vàtiến triển của bệnh Alzheimer Nghiên cứu cho thấycăn bệnh này có liên quan với các mảng và đám rốitrong não.[9] Các phương pháp điều trị hiện tại chỉgiúp giảm một phần nhỏ triệu chứng bệnh, chưa cóphương pháp trị liệu nào có thể ngăn chặn hoặc làmchậm tiến triển của bệnh.[10]Tính tới thời điểm 2008, đã
có hơn 500thử nghiệm lâm sàngnhằm tìm ra phươngpháp chữa trị bệnh Alzheimer, nhưng vẫn chưa biết cókết quả nào khả quan trong các phương pháp đã đượcthử nghiệm.[10] Một số thói quen sống đã được đưa rakhuyến cáo nhằmphòng ngừabệnh Alzheimer, nhưngcũng chưa có đủ chứng cớ cho thấy những khuyến cáonày có thể làm giảm sự thoái hóa não Cáckích thíchthần kinh,thể dục, và mộtchế độ ăn cân đốiđã đượckhuyến cáo nhằm phòng ngừa cũng như một cách để
hỗ trợ điều trị bệnh.[11]
2
Trang 172.1 ĐẶC ĐIỂM 3
Vì bệnh không thể chữa khỏi cho nên người bệnh
phải được chăm sóc bởi những người thân trong gia
đình.[12] Đây quả thực là những áp lực rất lớn về mặt
xã hội,tâm lý,sức khỏe,kinh tếđối với cuộc sống của
những người chăm sóc.[13][14][15]Ở cácnước phát triển,
Alzheimer là một trong những bệnh tốn kém nhất cho
xã hội.[13][14][15]
2.1 Đặc điểm
Bệnh được chia thành bốn giai đoạn, với những thay
đổinhận thứcvàsuy yếucác chức năng
2.1.1 Giai đoạn trước khi mất trí nhớ
Các triệu chứng đầu tiên thường bị nhầm lẫn là có liên
quan đếnlão hóa hoặcstress.[3] Các kiểm tra tâm lý
kỹ lưỡng có thể cho thấy những khó khăn nhỏ trong
nhận thức có thể xảy ra từ tối đa 8 năm trước khi
bệnh nhân có đầy đủ triệu chứng để đượcchẩn đoán
là mắc bệnh Alzheimer.[16]Những triệu chứng sớm có
thể ảnh hưởng đến nhữngsinh hoạt hàng ngàyphức
tạp nhất.[17] Đáng chú ý nhất là giảm trí nhớ như khó
khăn trong việc nhớ các sự kiện gần đây đã học được và
không có khả năng để tiếp thu các thông tin mới.[16][18]
Một số triệu chứng thoáng qua với cácchức năng điều
hành não bộvề sựchú tâm, khả năng lập kế hoạch, tính
linh hoạt, vàtư duy trừu tượng, hoặc suy yếu trong bộ
nhớ dữ liệu (semantic memory - bộ nhớ của ý nghĩa
và mối quan hệ giữa các khái niệm) có thể thấy trong
giai đoạn sớm của bệnh Alzheimer.[19]Sựthờ ơcũng có
thể thấy ở giai đoạn này, đồng thời cũng là đặc điểm
thần kinh - tâm lý họckéo dài suốt quá trình tiến triển
bệnh.[19]Giai đoạn tiền lâm sàng của bệnh còn được gọi
làsuy giảm nhận thức nhẹ,[18]nhưng liệu cách gọi đó
có đúng cho các giai đoạn chẩn đoán khác hay việc xác
định bước đầu tiên của bệnh Alzheimer hay không thì
vẫn còn đang được tranh cãi.[20]
2.1.2 Giai đoạn nhẹ
Ở bệnh nhân Alzheimer, sự suy giảm ngày càng tăng về
trí nhớ và khả năng học hỏi là yếu tố để chẩn đoán xác
định bệnh Ở một phần nhỏ bệnh nhân, triệu chứng
khó khăn về ngôn ngữ, khó khăn về chức năng điều
hành, nhận thức (agnosia), hoặc chức năng thực hiện
các hoạt động (apraxia) biểu hiện rõ hơn là suy giảm
trí nhớ.[21]Bệnh không ảnh hưởng đến tất cả các chức
năngký ứcđồng đều nhau Những kỷ niệm xưa, những
điều đã được học (ngữ nghĩa, khái niệm…), vàtiềm thức
(trí nhớ về cách làm một số việc, ví dụ như cách dùng
dĩa để ăn) bị ảnh hưởng ở một mức độ ít hơn những sự
kiện vừa mới diễn ra.[22][23]
Những vấn đề vềngôn ngữchủ yếu là giảm vốntừ vựng
và giảm sự lưu loát, dẫn đến suy giảm khả năng ngôn
ngữ nói và viết.[21][24]Trong giai đoạn này, người bệnhAlzheimer vẫn có khả năng giao tiếp cơ bản.[21][24][25].Mặc dù họ vẫn thực hiện được các chức năng vận độngnhư viết, vẽ hoặc mặc quần áo, nhưng một số khó khănbắt đầu xuất hiện trong việc phối hợp cử động và lên
kế hoạch, song những biểu hiện đó thường không được
để ý tới.[21]Khi bệnh tiến triển, bệnh nhân thường vẫn
có thể tự làm được nhiều việc, nhưng có thể cần giúp
đỡ hoặc giám sát khi thực hiện các chức năng cần suynghĩ.[21]
2.1.3 Giai đoạn khá nặng
Sự thoái hóa tiến triển dẫn đến giảm khả năng tự lập,người bệnh mất dần khả năng thực hiện những vậnđộng sinh hoạt hàng ngày.[21] Khó khăn về ngôn ngữ
rõ ràng hơn với những biểu hiện như không thể nhớ từvựng, dẫn đến việc thường xuyên dùng sai từ thay thế(paraphasia) Khả năng đọc viết cũng mất dần.[21][25]Khả năng phối hợp những chuỗi cử động phức tạp cũnggiảm dần theo thời gian bệnh tiến triển, vì thế nên khảnăng bị ngã cũng tăng lên.[21]Trong giai đoạn này, cácvấn đề ký ức trở nên kém dần đi, bệnh nhân có thểkhông nhận ra những người thân.[21] Trí nhớ dài hạncũng bị giảm dần, dù trong giai đoạn trước vẫn cònchưa bị ảnh hưởng.[21]
ay đổi trong hành vi vàtâm lýcũng rõ hơn Nhữngbiểu hiện thường gặp là đi lang thang, khó chịu vàbất ổn, dẫn đến khóc, bùng nổ hoặc hung hăng mộtcách không chủ định, hoặc phản kháng lại sự chămsóc của người thân.[21]Hội chứng thay đổi tính khí lúchoàng hôn có thể xuất hiện.[26]Khoảng 30% bệnh nhân
bịảo giác.[21]Bệnh nhân cũng không nhận thức đượcbệnh tình của bản thân mình[21]và mất kiểm soát chứcnăng tiêu tiểu.[21] Những triệu chứng này gây stresscho người thân hoặc người chăm sóc bệnh nhân Điều
đó có thể giảm bớt nếu thay việc chăm sóc bệnh nhântại nhà bằng việc chuyển bệnh nhân đến các cơ sởđiềudưỡngdài hạn.[21][27]
2.1.4 Giai đoạn nặng
Trong giai đoạn cuối, bệnh nhân hoàn toàn phụ thuộcvào người chăm sóc.[21]Ngôn ngữ giảm thiểu chỉ còncác cụm từ đơn giản hoặc thậm chí là những từ đơn lẻ,cuối cùng dẫn đến hoàn toàn mất tiếng nói.[21][25]Dù đãmất khả năng ngôn ngữ bằng lời nói, bệnh nhân thường
có thể hiểu và đáp lại các tín hiệu cảm xúc.[21]Mặc dù
sự hung hăng còn xuất hiện, nhưng sựthờ ơvàkiệt sứchoàn toàn vẫn biểu hiện nhiều hơn.[21]Bệnh nhân cuốicùng không thể thực hiện ngay cả những công việc đơngiản nhất mà không cần trợ giúp.[21]Việc thoái hóa cáckhốicơvà cử động dẫn đến việc người bệnh phải nằmliệt giường và mất khả năng tự ăn uống.[21]Người bệnhAlzheimer sau đó thường sẽ chết bởi các tác nhân bênngoài như nhiễm trùng các vết loét do nằm lâu ngày,
Trang 184 CHƯƠNG 2 BỆNH ALZHEIMER
viêm phổi… chứ không phải do bản thân bệnh.[21]
2.2 Nguyên nhân
Các nhà khoa học đã đưa ra một sốgiả thuyếtđể giải
thích nguyên nhân của bệnh này Giả thuyết cổ điển
nhất là giả thuyết về hệ thống truyền đạt thần kinh
bằng acetylcholin (cholinergic),[28]giả thuyết này là cơ
sở cho đa số các loại thuốc điều trị hiện nay Nó đề
xuất rằng bệnh Alzheimer là do giảm tổng hợp của
chất truyền đạt thần kinh acetylcholin Tuy nhiên giả
thuyết cholinergic đã không được ủng hộ gần đây, chủ
yếu vì thuốc dùng để điều trị thiếu hụt acetylcholine
thực sự không có hiệu quả đối với bệnh nhân Các hiệu
ứng liên quan đế hệ thống truyền đạt thần kinh bằng
acetylcholin khác cũng được đề xuất, như việc tích tụ
số lượng lớn các amyloid,[29] dẫn đến việc viêm thần
kinh lan dần.[30]
Năm 1991, giả thuyết amyloid cho rằng sự tích tụ
của amyloid beta (Aβ) là nguyên nhân cơ bản của
bệnh.[31][32] Một cơ sở ủng hộ giả thuyết này là do vị
trí củagen sản xuấtprotein tiền chất amyloid(APP)
nằm trênnhiễm sắc thể21 trong khi những người mắc
hội chứng Down(có 3 nhiễm sắc thể 21) tức là có thêm
1 phiên bản của gen APP thì hầu hết đều mắc bệnh
Alzheirmer ở độ tuổi trên 40.[33][34]Đồng thời, đột biến
gen APOE4, một yếu tố nguy cơ di truyền của bệnh
Alzheimer, gây ra việc tích tụ quá nhiều amyloid trong
não trước khi có các biểu hiện của bệnh Alzheimer xuất
hiện Vì vậy sự tích tụ Aβ luôn có trước các biểu hiện
bệnh Alzheimer trên lâm sàng.[35]Một bằng chứng nữa
là ở chuột bịbiến đổi genđể biểu hiện 1 dạng đột biến
của gen APP ở người đã cho thấy có các đám rối sợi
amyloid và các bệnh lý của não tương tự trong bệnh
Alzheimer như sự suy giảm khả năng học hỏi về không
gian.[36]
Một loại vắc-xin thử nghiệm đã cho thấy khả năng loại
bỏ các mảng rối amyloid trong 1 giai đoạn thử nghiệm
lâm sàng sớm trên con người, nhưng nó không có tác
động đáng kể đến việc mất trí nhớ.[37]Các nhà nghiên
cứu đã dẫn đến nghi ngờ những đoạn Aβ ngắn - tập
hợp của một số đơn phân Aβ (không phải dạng mảng)
là dạng Aβ gây bệnh chủ yếu Những đoạn ngắn này có
độc tính, còn được gọi là phối tử có nguồn gốc amyloid
khuếch tán được (amyloid-derived diffusible ligands
(ADDLs)) Chúng liên kết với thụ thể bề mặt củanơ-ron
thần kinhvà thay đổi cấu trúc của khớp thần kinh (
xy-náp thần kinh), do đó ngăn cản dẫn truyền tín hiệu thần
kinh.[38] Một thụ thể của Aβ có thể là protein prion,
cùng loại protein có liên quan đếnbệnh bò điênvà 1
bệnh tương tự ở người làbệnh Creutzfeldt-Jakob, do
đó có sự liên quan giữa các cơ chế của các bệnh thần
kinh đó với cơ chế của bệnh Alzheimer.[39]
Trong năm 2009, lý thuyết này đã được cập nhật rằng
một họ hàng gần của protein amyloid beta (không nhất
thiết phải là chính amyloid beta) có thể là thủ phạmchính trong căn bệnh này Lý thuyết này cho rằng một
cơ chế liên quan với amyloid - có tác dụng cắt bỏ bớtcác cầu nối thần kinh trong não bộ trong giai đoạn pháttriển nhanh chóng ở trẻ con - có thể bị kích hoạt bởi quátrình lão hóa sau này, làm mất dần tế bào thần kinh ởbệnh Alzheimer.[40]N-APP, một đoạn ở phíađầu aminecủa protein APP, nằm cạnh đoạn amyloid beta và đượccắt bỏ khỏi APP bởi cùng một loại enzyme N-APP kíchhoạt chuỗi phản ứng tự hủy bằng cách bám vào một thụthể thần kinh gọi là thụ thể chết 6 (DR6, hay còn gọi
làTNFRSF21).[40] DR6 được biểu hiện nhiều ở nhữngvùng não bị ảnh hưởng nhiều nhất bởi bệnh Alzheimer,
vì vậy rất có thể chuỗi phản ứng N-APP/DR6 của quátrình lão hóa của não đã bị kích hoạt để gây bệnh Trong
mô hình này, amyloid beta đóng vai trò bổ sung, bằngcách làm giảm chức năng xy-náp
Một nghiên cứu vào năm 2004 đã thấy rằng sự tích
tụ các mảng amyloid không tương quan nhiều lắmvới việc mất các nơ-ron.[41]Nghiên cứu đó hỗ trợ cho
giả thuyết tau là các thể bất thường củaprotein taukhởi đầu cho chuỗi phản ứng gây bệnh.[32] Trong môhình này, các protein tau bị photphorylate hóa quánhiều sẽ bắt cặp với các sợi tau khác Cuối cùng, chúnghình thành cácđám rối sợi thần kinh(neurofibrillarytangles) bên trong thân tế bào thần kinh.[42]Khi điều
đó xảy ra, cácvi ống tế bào(microtubule - là thànhphần cấu tạo của khung xương tế bào) bị tan rã, làmhỏng hệ thống vận chuyển của nơ ron.[43]Điều này đầutiên sẽ làm hỏng các chức năng liên lạc hóa sinh giữacác nơ-ron và sau đó gây chết tế bào.[44]VirusHerpessimplexloại 1 cũng được cho là một nguyên nhân gâybệnh ở những người mạng genapoEnhạy cảm với virusnày.[45]
Một giả thuyết khác xác nhận rằng bệnh này là do
sự phá hủymyelintrong não do lão hóa Sự mất mátmyelin dẫn đến giảm khả năng dẫn truyền trong trụcthần kinh (axon), vì thế mất dần các nơ ron già cũ átrình phân hủy myelin thải ra sắt cũng góp phần gâyphá hủy thêm thần kinh á trình sửa chữa myelintrong cân bằng nội môi góp phần vào sự tích tụ proteinnhư các protein amyloid beta và tau.[46][47][48]
Ứng kích ôxi hóacũng là một nguyên nhân đáng kểtrong việc hình thành bệnh.[49]
Các bệnh nhân AD cho thấy 70% bị giảm mất tế bào ởnhân lục(locus coeruleus), nơi sản sinh ra hooc mônnorepinephrine(ngoài chức năng là 1 chất truyền đạtthần kinh) thường khuếch tán ở những chỗ giãn mạchnhư một chấtkháng viêmnội sinh trong môi trườngxung quanh nơ-ron, tế bào thần kinh đệm và các mạchmáu trong các vùng vỏ não mới vàhồi hải mã.[50]Cácnghiên cứu đã cho thấy rằng norepinephrine kích thíchcác tế bào thần kinh đệm microglia ở chuột ngăn chặn
sự sản xuất các cytokine do tác dụng của Aβ và sựthựcbàocủa Aβ.[50]Điều đó cho thấy sự suy giảm nhân lục
có thể là một nguyên nhân gây tăng sự tích tụ Aβ trong
Trang 192.3 SINH LÝ BỆNH 5
não bệnh nhân Alzheimer.[50]
2.3 Sinh lý bệnh
Hình ảnh của mô bệnh học hiển thị mảng vỏ não của một bệnh
nhân Alzheimer khi bắt đầu giai đoạn tiền lão hóa Hình ảnh
nhuộm bạc.
2.3.1 Bệnh học thần kinh
Bệnh Alzheimer đặc trưng bởi việc mất dầnnơ ronvà
xy-nápthần kinh trongvỏ nãovà một số vùng dưới vỏ
não Sự mất mát này dẫn đến chứng teo vùng bị ảnh
hưởng, bao gồm thoái hóa thuỳ thái dương và thùy
đỉnh, và một phần củathùy trán và hồi đai.[30] Các
nghiên cứu dựa trên hình ảnh chụp cộng hưởng từ
(MRI) vàchụp positron cắt lớp(PET) đã cho thấy sự
giảm kích cỡ não ở một số vùng nhất định ở bệnh nhân
khi họ tiến triển từ suy giảm trí nhớ vừa sang giai đoạn
bệnh Alzheimer và khi đem so sánh với hình ảnh của
những người già bình thường.[51]
Có thể thấy cả cácmảng amyloid(amyloid plaque) và
đám rối sợi thần kinh(neurofibrillary tangle) ở hình
ảnhhiển vicủa não bệnh nhân AD.[9]Các mảng thường
dày đặc, đa số là dạng tích tụkhông tan đượccủa các
peptide amyloid betavà vật chất trongtế bàonằm bên
ngoài và bao quanh các nơ-ron Các đám rối (đám rối
sợi thần kinh) là sự tích tụ của các protein tau có liên
quan đến vi ống (microtubule) đã bị photphorylate hóa
quá nhiều và đọng lại trong các tế bào Mặc dù có nhiều
người già có hình thành các mảng và đám rối do quá
trình lão hóa, não của bệnh nhân AD thường có số
lượng các mảng và đám rối nhiều hơn ở những vùng
não nhất định, ví dụ như thùy thái dương.[52]ể Lewy
(Lewy body) cũng không hiếm gặp ở trong não bệnh
nhân AD.[53]
Enzyme tác động lên APP (protein tiền chất của amyloid) và cắt
nó ra thành các mảnh Mảnh amyloid beta đóng vài trò quan trọng trong việc hình thành các mảng lão hóa ở bệnh AD.
là một đoạn của một loại protein lớn hơn gọi làproteintiền chất của amyloid(APP), mộtprotein xuyên màng(transmembrane protein) nằm xuyên qua màng tế bàocủa nơ-ron APP rất quan trọng cho quá trình pháttriển, tồn tại và sửa chữa của nơ-ron.[55][56] Ở bệnhAlzheimer, một quá trình chưa được hiểu rõ làm choAPP bị chia thành các phần nhỏ hơn bởienzymtrongquá trình phân hủy (proteolysis).[57] Một trong cácđoạn đó tạo ra các sợi amyloid beta, và tạo nên các cụmtích tụ bên ngoài nơ-ron dưới dạng dày đặc gọi làmảnglão hóa(senile plaques).[9][58]
Ở Bệnh Alzheimer, thay đổi cấu trúc protein tau làm tan rã các
vi ống trong tế bào não.
AD còn được coi làbệnh do protein tau(tauopathy) do
sự tích tụ bất thường củaprotein tau Mỗi tế bào ron đều có một bộkhung xương tế bào, một cấu trúc
nơ-đỡ bên trong góp phần tạo nên cấu trúc tế bào gọi làviống(microtubule) Các vi ống này hoạt động như cácloại đường ống dẫn cho các chất dinh dưỡng và phân
tử từ thân tế bào đến đầu kia của trụcaxonvà quay
ngược trở lại Một protein gọi là tau giúp ổn định cấu
trúc vi ống khi đượcphotphorylate hóa, và vì thế đượcgọi là protein liên hệ với vi ống Ở bệnh Alzheimer,tau bị thay đổi về mặt hóa học, trở nênphotphorylatehóaquá nhiều; nó bắt cặp với các sợi khác, tạo thànhcác đám rối sợi thần kinh và làm tan rã hệ thống vận
Trang 206 CHƯƠNG 2 BỆNH ALZHEIMER
chuyển của nơ-ron.[59]
2.3.3 Cơ chế bệnh
Người ta vẫn chưa biết chính xác sự biến đổi trong
việc sản xuất và tích tụ peptide amyloid beta đến mức
độ nào thì gây ra bệnh Alzheimer.[60] Giả thuyết về
amyloid chỉ ra sự tích tụ củapeptideamyloid beta là sự
kiện trọng tâm kích hoạt việc thoái hóa nơ ron Sự tích
tụ của cácvi sợi(fibril) amyloid, được coi là dạng có độc
tố làm ngăn cảncân bằng ion canxitrong tế bào, kích
hoạtsự chết tế bào theo chương trình(apoptosis).[61]
Đồng thời, Aβ cũng tích tụ nhiều hơn trongti thểở tế
bào của não bệnh nhân Alzheimer, và nó cũng ức chế
chức năng của một sốenzymvà việc sử dụngglucose
trong nơ ron.[62]
Một số quá trình viêm và cáccytokinecó thể đóng vai
trò trong bệnh học của AD.Viêmlà dấu hiệu chung của
việc hủy hoạimôở bất cứ bệnh nào, và có thể là quá
trình thứ cấp sau khi mô bị hủy hoại hoặc là 1 dấu hiệu
của đáp ứng miễn dịch với bệnh.[63]
Sự thay đổi trong việc phân bổ cácneurotrophin(chất
điều hòa sự sống, phát triển và chức năng của nơ-ron)
và trong việc biểu hiện các thụ thể của chúng ví dụ
nhưchất neurotrophin thu được từ não(brain derived
neurotrophic factor - BDNF) cũng đã được mô tả trong
bệnh Alzheimer.[64][65]
2.3.4 Di truyền
Đa số các ca bệnh Alzheimer đều là ngẫu nhiên
(sporadic), nghĩa là nhìn chung họ không bị di truyền
mặc dù có một số gen là yếu tố nguy cơ của bệnh Mặt
khác, khoảng 0.1% là do di truyền gen trội và thường
bắt đầu mắc bệnh trước tuổi 65.[66]
Đa số các dạng bệnh AD di truyền trội là do đột biến của
một trong 3 gen: genprotein tiền chất amyloid(APP)
và gen của proteinpresenilin1 và 2.[67] Đa số các đột
biến của gen APP và presenilin làm tăng sự sản xuất
một loại protein nhỏ gọi làAβ42 là thành phần chính
củamảng thoái hóa(mảng tích tụ amyloid ngoại bào
ở chất xám của não).[68] Một số đột biến chỉ thay đổi
tỉ lệ giữa Aβ42 và các dạng Aβ khác, ví dụ như Aβ40,
mà không thay đổi mức độ Aβ42.[68][69] Điều đó cho
thấy các đột biến presenilin có thể gây bệnh kể cả khi
chúng làm giảm tổng số lượng Aβ và vì thế bệnh có
thể do một chức năng khác của presenilin hoặc do việc
thay đổi chức năng của APP và các phân đoạn của nó
chứ không phải do chính bản thân Aβ
Đa số các ca Alzheimer không biểu hiện di truyền
trội và được gọi là AD ngẫu nhiên Tuy nhiên một số
thay đổi gen có thể là yếu tố nguy cơ Yếu tố nguy
cơ được biết rõ nhất là sự di truyềnalleleε4 của gen
apolipoprotein E (APOE).[70][71] Khoảng 40 đến 80%
bệnh nhân có ít nhất 1 allele apoE4.[71] Allele APOE4
làm tăng nguy cơ mắc bệnh lên 3 lần ở thể dị hợp và 15lần ở thể đồng hợp về allele này.[66]Các nhà di truyềnhọc thống nhất rằng có rất nhiều gen khác là yếu tốnguy cơ hoặc có tác dụng ngăn ngừa sự phát triển củabệnh Alzheimer dạng phát bệnh muộn.[67] Có khoảng
400 gen đã được kiểm tra xem có liên quan đến dạng
AD ngẫu nhiên - phát bệnh muộn hay không,[67]đa sốđều có kết quả là không liên quan.[66]
2.4 Phòng chống
Hoạt động trí tuệ như chơi cờ hoặc tương tác xã hội thường xuyên có liên quan đến giảm nguy cơ AD trong nghiên cứu dịch
tễ, mặc dù không có mối quan hệ nhân quả được tìm thấy.
Các nghiên cứu dịch tễ đưa ra kết luận rằng các hoạtđộng như đánh cờ hoặc những mối tương tác xã hội cókhả năng làm giảm nguy cơ mắc bệnh, mặc dù khôngtìm thấy được mối quan hệ nhân quả nào.[72]
Hiện nay không có bất kỳ một bằng chứng dứt khoátnào hỗ trợ đặc biệt hiệu quả cho các biện pháp ngănchặn hoặc trì hoãn sự khởi đầu của bệnh, tuy nhiên cácnghiên cứu dịch tễ học đã đề xuất mối quan hệ giữa cácyếu tố nhất định, chẳng hạn mối liên hệ giữa chế độ ănuống, nguy cơ tim mạch, các sản phẩm dược phẩm, sảnphẩm công nghệ thông tin, với khả năng số bệnh nhânngày một tăng.[73]
Mặc dù các yếu tố tim mạch, như tăng cholesterol, caohuyết áp, tiểu đường, và hút thuốc lá, được liên kết vớimột nguy cơ khởi phát và phát triển bệnh Alzheimer,nhưng statin là loại thuốc làm giảm cholesterol vẫnchưa chứng minh được hiệu quả trong việc ngăn ngừahoặc cải thiện tiến trình phát triển bệnh.[74][75][76][77]Chế độ ăn kiêng của người vùng Địa Trung Hải, trong
đó bao gồm trái cây và rau quả, bánh mì, lúa mì và ngũcốc khác, dầu ô liu, cá, và rượu vang đỏ có thể làm giảmrủi ro mắc bệnh Alzheimer.[78]
Việc sử dụng vitamin không tìm thấy bằng chứng đủhiệu quả để khuyến cáo trong việc phòng ngừa và chữatrị bệnh: như vitamin C[79], E[79][80], hoặc axit folic, cóhoặc không có vitamin B12[81] ử nghiệm kiểm tra
Trang 212.7 ĐỌC THÊM 7
acid folic (B9) và vitamin B khác không cho thấy bất
kỳ liên kết quan trọng với suy giảm nhận thức.[82]
Những người tham gia vào các hoạt động trí tuệ như
đọc sách, chơi trò chơi hội đồng, hoàn thành câu đố ô
chữ, chơi nhạc cụ, hoặc tương tác xã hội thường xuyên
cho thấy giảm nguy cơ mắc bệnh Alzheimer.[83][84]Điều
này tương thích với các lý thuyết dự trữ nhận thức,
trong đó nêu rằng một số kinh nghiệm đời sống cho
kết quả hoạt động thần kinh hiệu quả hơn việc cung
cấp dự trữ một nhận thức cá nhân trong sự trì hoãn
việc khởi đầu của những biểu hiện mất trí nhớ
2.5 Chăm sóc tại nhà
Bệnh Alzheimer không thể chữa trị được và dần dần
nó sẽ làm cho người bệnh không có khả năng đáp ứng
những nhu cầu riêng của họ, cho nên việc chăm sóc
phải được quản lý chặt chẽ trong quá trình của bệnh
Trong giai đoạn đầu và giữa, sửa đổi môi trường sống
và lối sống có thể tăng tính an toàn cho bệnh nhân và
giảm gánh nặng cho người chăm sóc Bệnh nhân có
thể không có khả năng tự ăn uống, do đó, yêu cầu thực
phẩm được cắt thành từng miếng nhỏ hoặc nghiền Khi
nuốt sẽ rất khó khăn, cho nên phải sử dụng các ống dẫn
thức ăn Trong trường hợp này, hiệu quả y tế và đạo đức
của việc nuôi bệnh là một yếu tố quan trọng của những
người chăm sóc và các thành viên trong gia đình
Khi bệnh tiến triển, các vấn đề y tế khác nhau có thể
xuất hiện, chẳng hạn như bệnh răng miệng, loét áp lực,
suy dinh dưỡng, các vấn đề vệ sinh, da, hô hấp, hoặc
nhiễm trùng mắt Chăm sóc cẩn thận có thể ngăn chặn
chúng
2.6 Dịch tễ học
Hai biện pháp chính được sử dụng trong nghiên cứu
dịch tễ học: tỷ lệ mắc và tỷ lệ nhiễm Tỷ lệ mắc là
số trường hợp người có nguy cơ nhiễm bệnh mới trên
một đơn vị thời gian (thường đơn vị xét trong 1000
người trong 1 năm), trong khi tỷ lệ nhiễm là tổng số
các trường hợp mắc bệnh ở bất kỳ thời điểm nào
Về tỷ lệ mắc, nghiên cứu theo chiều dọc (các nghiên cứu
mà một dân số nhiễm bệnh được theo sau trong những
năm qua) cung cấp tỉ lệ từ 10 đến 15 người trong 1000
người trong 1 năm, có nghĩa là một nửa số trường hợp
mất trí mới phát hiện mỗi năm là mắc bệnh Alzheimer
Tiến độ tuổi là một yếu tố nguy cơ chính cho tỷ lệ mắc
bệnh: mỗi 5 năm sau tuổi 65, các nguy cơ nhiễm bệnh
khoảng gấp đôi, tăng từ 3 đến 69 người trong 1000 trong
1 năm Ngoài ra còn có sự khác biệt giới tính ở các mức
tỷ lệ, phụ nữ có nguy cơ phát triển AD cao hơn nam
Tổ chức Y tế ế giới ước tính rằng trong năm 2005,
0,379% người trên thế giới mắc bệnh, và tỷ lệ sẽ tăng
Phân bố số người mắc bệnh Alzheimer và các chứng mất trí nhớ khác tính theo mẫu mỗi 100,000 người vào năm 2002.
no data
≤ 50 50-70 70-90 90-110 110-130 130-150 150-170 170-190 190-210 210-230 230-250
• Can Alzheimer’s Disease Be Prevented? USDepartment of Health and Human Services,National Institute on Aging, NIH 2009
• Caring for a Person with Alzheimer’s Disease: Your Easy-to-Use Guide from the National Institute on Aging US Department of Health and HumanServices, National Institute on Aging, NIH 2009
• Cummings JL, Frank JC, Cherry D, Kohatsu
ND, Kemp B, Hewe L, Miman B (2002)
“Guidelines for managing Alzheimer’s disease:Part I Assessment” American Family Physician 65
(11): 2263–2272.PMID 12074525
• Cummings JL, Frank JC, Cherry D, Kohatsu
ND, Kemp B, Hewe L, Miman B (2002)
“Guidelines for managing Alzheimer’s disease:Part II Treatment” American Family Physician 65
(12): 2525–2534.PMID 12086242
• Russell D, Barston S, White M (ngày 19 tháng 12
năm 2007).“Alzheimer’s Behavior Management:Learn to manage common behavior problems”
Trang 228 CHƯƠNG 2 BỆNH ALZHEIMER
helpguide.org Truy cập ngày 29 tháng 2 năm
2008
2.8 Chú thích
[1] Maurer, Konrad; Maurer, Ulrike (2003) Alzheimer: the
life of a physician and the career of a disease New York:
Columbia University Press.ISBN 0-231-11896-1
[2] Brookmeyer R., Gray S., Kawas C (tháng 9 năm 1998)
“Projections of Alzheimer’s disease in the United States
and the public health impact of delaying disease onset”
American Journal of Public Health88 (9): 1337–42.PMC
1509089.PMID 9736873.doi:10.2105/AJPH.88.9.1337
[3] Waldemar G, Dubois B, Emre M và đồng nghiệp (tháng
1 năm 2007) “Recommendations for the diagnosis and
management of Alzheimer’s disease and other disorders
associated with dementia: EFNS guideline” Eur J Neurol
14 (1): e1–26. PMID 17222085 doi:
10.1111/j.1468-1331.2006.01605.x
[4] “Alzheimer’s diagnosis of AD” Alzheimer’s Research
Trust Truy cập ngày 29 tháng 2 năm 2008
[5] Tabert MH, Liu X, Doty RL, Serby M, Zamora D, Pelton
GH, Marder K, Albers MW, Stern Y, Devanand DP
(2005) “A 10-item smell identification scale related to
risk for Alzheimer’s disease” Ann Neurol 58 (1): 155–
160.PMID 15984022.doi:10.1002/ana.20533
[6] “Understanding stages and symptoms of Alzheimer’s
disease” National Institute on Aging Ngày 26 tháng 10
năm 2007 Truy cập ngày 21 tháng 2 năm 2008
[7] Mölsä PK, Marila RJ, Rinne UK (tháng 8 năm
1986) “Survival and cause of death in Alzheimer’s
disease and multi-infarct dementia” Acta Neurol
Scand 74 (2): 103–7.PMID 3776457.doi:
10.1111/j.1600-0404.1986.tb04634.x
[8] Mölsä PK, Marila RJ, Rinne UK (tháng 3 năm
1995) “Long-term survival and predictors of mortality
in Alzheimer’s disease and multi-infarct dementia”
ActaNeurol Scand 91 (3): 159–64.PMID 7793228
[9] Tiraboschi P, Hansen LA, al LJ, Corey-Bloom J (tháng
6 năm 2004) “e importance of neuritic plaques and
tangles to the development and evolution of AD”
Neurology 62 (11): 1984–9.PMID 15184601
[10] “Alzheimer’s Disease Clinical Trials” US National
Institutes of Health Truy cập ngày 18 tháng 8 năm 2008
[11] “Can Alzheimer’s disease be prevented”(PDF) National
Institute on Aging Ngày 29 tháng 8 năm 2006 Truy cập
ngày 29 tháng 2 năm 2008
[12] “e MetLife study of Alzheimer’s disease: e
caregiving experience”(PDF) MetLife Mature Market
Institute áng 8 năm 2006 Truy cập ngày 5 tháng 2
năm 2011
[13] ompson CA, Spilsbury K, Hall J, Birks Y, Barnes C,Adamson J (2007).“Systematic review of informationand support interventions for caregivers of people withdementia” BMC Geriatr 7: 18. PMC 1951962 PMID
17662119.doi:10.1186/1471-2318-7-18.[14] Schneider J, Murray J, Banerjee S, Mann A (tháng 8năm 1999) “EUROCARE: a cross-national study ofco-resident spouse carers for people with Alzheimer’sdisease: I—Factors associated with carer burden”
International Journal of Geriatric Psychiatry 14 (8):
651–661 PMID 10489656 doi:1166(199908)14:8<651::AID-GPS992>3.0.CO;2-B.[15] Murray J, Schneider J, Banerjee S, Mann A (tháng
10.1002/(SICI)1099-8 năm 1999) “EUROCARE: a cross-national study ofco-resident spouse carers for people with Alzheimer’sdisease: II—A qualitative analysis of the experience of
caregiving” International Journal of Geriatric Psychiatry
14 (8): 662–667.PMID 10489657.doi:1166(199908)14:8<662::AID-GPS993>3.0.CO;2-4.[16] Bäckman L, Jones S, Berger AK, Laukka EJ, Small BJ(tháng 9 năm 2004) “Multiple cognitive deficits during
10.1002/(SICI)1099-the transition to Alzheimer’s disease” J Intern Med
256 (3): 195–204. PMID 15324363 doi:2796.2004.01386.x
10.1111/j.1365-[17] Nygård L (2003) “Instrumental activities of dailyliving: a stepping-stone towards Alzheimer’s diseasediagnosis in subjects with mild cognitive impairment?”
Acta Neurol Scand Suppl (179): 42–6.PMID 12603250
doi:10.1034/j.1600-0404.107.s179.8.x.[18] Arnáiz E, Almkvist O (2003) “Neuropsychologicalfeatures of mild cognitive impairment and preclinicalAlzheimer’s disease” Acta Neurol Scand., Suppl.
179: 34–41. PMID 12603249 doi:0404.107.s179.7.x Truy cập ngày 12 tháng 6 năm2008
10.1034/j.1600-[19] Landes AM, Sperry SD, Strauss ME, Geldmacher DS(tháng 12 năm 2001) “Apathy in Alzheimer’s disease”
J Am Geriatr Soc 49 (12): 1700–7. PMID 11844006
doi:10.1046/j.1532-5415.2001.49282.x.[20] Petersen RC (tháng 2 năm 2007) “e current status
of mild cognitive impairment—what do we tell our
patients?” Nat Clin Pract Neurol 3 (2): 60–1. PMID
17279076.doi:10.1038/ncpneuro0402.[21] Förstl H, Kurz A (1999) “Clinical features of
Alzheimer’s disease” European Archives of Psychiatry
and Clinical Neuroscience 249 (6): 288–290. PMID
10653284.doi:10.1007/s004060050101.[22] Carlesimo GA, Oscar-Berman M (tháng 6 năm1992) “Memory deficits in Alzheimer’s patients:
a comprehensive review” Neuropsychol Rev 3 (2):
119–69.PMID 1300219.doi:10.1007/BF01108841.[23] Jelicic M, Bonebakker AE, Bonke B (1995)
“Implicit memory performance of patients with
Alzheimer’s disease: a brief review” International
Psychogeriatrics 7 (3): 385–392. PMID 8821346
doi:10.1017/S1041610295002134
Trang 232.8 CHÚ THÍCH 9
[24] Taler V, Phillips NA (tháng 7 năm 2008) “Language
performance in Alzheimer’s disease and mild
cognitive impairment: a comparative review” J
Clin Exp Neuropsychol 30 (5): 501–56.PMID 1856925
doi:10.1080/13803390701550128
[25] Frank EM (tháng 9 năm 1994) “Effect of Alzheimer’s
disease on communication function” J S C Med Assoc
90 (9): 417–23.PMID 7967534
[26] Volicer L, Harper DG, Manning BC, Goldstein R,
Satlin A (tháng 5 năm 2001) “Sundowning and
circadian rhythms in Alzheimer’s disease” Am
J Psychiatry 158 (5): 704–11. PMID 11329390
doi:10.1176/appi.ajp.158.5.704 Truy cập ngày 27 tháng
8 năm 2008
[27] Gold DP, Reis MF, Markiewicz D, Andres D (tháng 1
năm 1995) “When home caregiving ends: a longitudinal
study of outcomes for caregivers of relatives with
dementia” J Am Geriatr Soc 43 (1): 10–6.PMID 7806732
[28] Francis PT, Palmer AM, Snape M, Wilcock GK (tháng 2
năm 1999).“e cholinergic hypothesis of Alzheimer’s
disease: a review of progress” J Neurol Neurosurg.
Psychiatr 66 (2): 137–47.PMC 1736202.PMID 10071091
doi:10.1136/jnnp.66.2.137
[29] Shen ZX (2004) “Brain cholinesterases: II e
molecular and cellular basis of Alzheimer’s disease”
Med Hypotheses 63 (2): 308–21. PMID 15236795
doi:10.1016/j.mehy.2004.02.031
[30] Wenk GL (2003) “Neuropathologic changes in
Alzheimer’s disease” J Clin Psychiatry 64 Suppl 9:
7–10.PMID 12934968
[31] Hardy J, Allsop D (tháng 10 năm 1991) “Amyloid
deposition as the central event in the aetiology
of Alzheimer’s disease” Trends Pharmacol Sci.
12 (10): 383–88. PMID 1763432 doi:
10.1016/0165-6147(91)90609-V
[32] Mudher A, Lovestone S (tháng 1 năm 2002)
“Alzheimer’s disease-do tauists and baptists finally
shake hands?” Trends Neurosci 25 (1): 22–26. PMID
11801334.doi:10.1016/S0166-2236(00)02031-2
[33] Nistor M, Don M, Parekh M và đồng nghiệp
(tháng 10 năm 2007) “Alpha- and beta-secretase
activity as a function of age and beta-amyloid
in Down syndrome and normal brain” Neurobiol
Aging 28 (10): 1493–1506 PMID 16904243
doi:10.1016/j.neurobiolaging.2006.06.023
[34] Lo IT, Head E (tháng 3 năm 2005) “Alzheimer
disease and Down syndrome: factors in pathogenesis”
Neurobiol Aging 26 (3): 383–89. PMID 15639317
doi:10.1016/j.neurobiolaging.2004.08.005
[35] Polvikoski T, Sulkava R, Haltia M và đồng nghiệp
(tháng 11 năm 1995) “Apolipoprotein E, dementia,
and cortical deposition of beta-amyloid protein”
N Engl J Med 333 (19): 1242–47. PMID 7566000
doi:10.1056/NEJM199511093331902
[36] Transgenic mice:
• Games D, Adams D, Alessandrini R và đồng
nghiệp (tháng 2 năm 1995) type neuropathology in transgenic miceoverexpressing V717F beta-amyloid precursor
“Alzheimer-protein” Nature 373 (6514): 523–27. PMID
7845465.doi:10.1038/373523a0
• Masliah E, Sisk A, Mallory M, Mucke L, Schenk
D, Games D (tháng 9 năm 1996) “Comparison ofneurodegenerative pathology in transgenic miceoverexpressing V717F beta-amyloid precursor
protein and Alzheimer’s disease” J Neurosci 16
(18): 5795–811.PMID 8795633
• Hsiao K, Chapman P, Nilsen S và đồng
nghiệp (tháng 10 năm 1996) “Correlativememory deficits, Abeta elevation, and
amyloid plaques in transgenic mice” Science
(journal) 274 (5284): 99–102. PMID 8810256
doi:10.1126/science.274.5284.99
• Lalonde R, Dumont M, Staufenbiel M,
Sturchler-Pierrat C, Strazielle C (2002) “Spatial learning,exploration, anxiety, and motor coordination infemale APP23 transgenic mice with the Swedish
mutation.” Brain Research (journal) 956 (1): 36–44,
year=2002 PMID 12426044 doi:8993(02)03476-5
10.1016/S0006-[37] Holmes C, Boche D, Wilkinson D và đồng nghiệp(tháng 7 năm 2008) “Long-term effects of Abeta42immunisation in Alzheimer’s disease: follow-up of a
randomised, placebo-controlled phase I trial” Lancet
372 (9634): 216–23.PMID 18640458.doi:6736(08)61075-2
10.1016/S0140-[38] Lacor PN; Buniel, MC; Furlow, PW; Clemente, AS;Velasco, PT; Wood, M; Viola, KL; Klein, WL vàđồng nghiệp (tháng 1 năm 2007) “Aß Oligomer-Induced Aberrations in Synapse Composition, Shape,and Density Provide a Molecular Basis for Loss
of Connectivity in Alzheimer’s Disease” Journal
of Neuroscience 27 (4): 796–807. PMID 17251419
doi:10.1523/JNEUROSCI.3501-06.2007.[39] Lauren J, Gimbel D và đồng nghiệp (tháng 2 năm2009).“Cellular prion protein mediates impairment ofsynaptic plasticity by amyloid-beta oligomers” Nature
457 (7233): 1128–32. PMC 2748841 PMID 19242475
doi:10.1038/nature07761.[40] Nikolaev, Anatoly; Todd McLaughlin, Dennis O'Leary,
Marc Tessier-Lavigne(ngày 19 tháng 2 năm 2009).APP binds DR6 to cause axon pruning and neurondeath via distinct caspases” Nature 457 (7232): 981–
“N-989 ISSN 0028-0836 PMC 2677572 PMID 19225519
doi:10.1038/nature07767 Truy cập tháng 5 năm 2009.[41] Schmitz C, Ruen BP, Pielen A và đồng nghiệp (tháng 4năm 2004).“Hippocampal neuron loss exceeds amyloidplaque load in a transgenic mouse model of Alzheimer’sdisease” Am J Pathol 164 (4): 1495–1502.PMC 1615337
PMID 15039236.doi:10.1016/S0002-9440(10)63235-X.[42] Goedert M, Spillantini MG, Crowther RA (tháng
7 năm 1991) “Tau proteins and neurofibrillary
degeneration” Brain Pathol 1 (4): 279–86. PMID
1669718.doi:10.1111/j.1750-3639.1991.tb00671.x
Trang 2410 CHƯƠNG 2 BỆNH ALZHEIMER
[43] Iqbal K, Alonso Adel C, Chen S và đồng nghiệp
(tháng 1 năm 2005) “Tau pathology in Alzheimer
disease and other tauopathies” Biochim Biophys
Acta 1739 (2–3): 198–210 PMID 15615638
doi:10.1016/j.bbadis.2004.09.008
[44] Chun W, Johnson GV (2007) “e role of tau
phosphorylation and cleavage in neuronal cell
death” Front Biosci 12: 733–56. PMID 17127334
doi:10.2741/2097
[45] Itzhaki RF, Wozniak MA (tháng 5 năm 2008).“Herpes
simplex virus type 1 in Alzheimer’s disease: the enemy
within” J Alzheimers Dis 13 (4): 393–405.ISSN
1387-2877.PMID 18487848 Truy cập ngày 5 tháng 2 năm
2011
[46] PMID 19775776(PMID 19775776)
Citation will be completed automatically in a few
minutes Jump the queueorexpand by hand
[47] PMID 15665415(PMID 15665415)
Citation will be completed automatically in a few
minutes Jump the queueorexpand by hand
[48] PMID 18596894(PMID 18596894)
Citation will be completed automatically in a few
minutes Jump the queueorexpand by hand
[49] PMID 19075578(PMID 19075578)
Citation will be completed automatically in a few
minutes Jump the queueorexpand by hand
[50] Heneka MT, Nadrigny F, Regen T, Martinez-Hernandez
A, Dumitrescu-Ozimek L, Terwel D, Jardanhazi-Kurutz
D, Walter J, Kirchhoff F, Hanisch UK, Kummer MP
(2010) Locus ceruleus controls Alzheimer’s disease
pathology by modulating microglial functions through
norepinephrine.Proc Natl Acad Sci U S A 107:6058–
6063PMID 20231476
[51] Moan R (ngày 20 tháng 7 năm 2009) “MRI soware
accurately IDs preclinical Alzheimer’s disease”
Diagnostic Imaging.
[52] Bouras C, Hof PR, Giannakopoulos P, Michel
JP, Morrison JH (1994) “Regional distribution of
neurofibrillary tangles and senile plaques in the
cerebral cortex of elderly patients: a quantitative
evaluation of a one-year autopsy population from a
geriatric hospital” Cereb Cortex 4 (2): 138–50.PMID
8038565.doi:10.1093/cercor/4.2.138
[53] Kotzbauer PT, Trojanowsk JQ, Lee VM (tháng 10
năm 2001) “Lewy body pathology in Alzheimer’s
disease” J Mol Neurosci 17 (2): 225–32.PMID 11816795
doi:10.1385/JMN:17:2:225
[54] Hashimoto M, Rockenstein E, Crews L, Masliah E
(2003) “Role of protein aggregation in mitochondrial
dysfunction and neurodegeneration in Alzheimer’s and
Parkinson’s diseases” Neuromolecular Med 4 (1–2): 21–
36.PMID 14528050.doi:10.1385/NMM:4:1-2:21
[55] Priller C, Bauer T, Mieregger G, Krebs B, Kretzschmar
HA, Herms J (tháng 7 năm 2006) “Synapse formation
and function is modulated by the amyloid precursor
protein” J Neurosci 26 (27): 7212–21.PMID 16822978
doi:10.1523/JNEUROSCI.1450-06.2006.[56] Turner PR, O'Connor K, Tate WP, Abraham WC (tháng
5 năm 2003) “Roles of amyloid precursor protein and itsfragments in regulating neural activity, plasticity and
memory” Prog Neurobiol 70 (1): 1–32.PMID 12927332
doi:10.1016/S0301-0082(03)00089-3.[57] Hooper NM (tháng 4 năm 2005) “Roles of proteolysisand lipid ras in the processing of the amyloid
precursor protein and prion protein” Biochem.
Soc Trans 33 (Pt 2): 335–8. PMID 15787600
doi:10.1042/BST0330335.[58] Ohnishi S, Takano K (tháng 3 năm 2004) “Amyloidfibrils from the viewpoint of protein folding”
Cell Mol Life Sci 61 (5): 511–24. PMID 15004691
doi:10.1007/s00018-003-3264-8.[59] Hernández F, Avila J (tháng 9 năm 2007) “Tauopathies”
Cell Mol Life Sci 64 (17): 2219–33.PMID 17604998
doi:10.1007/s00018-007-7220-x.[60] Van Broeck B, Van Broeckhoven C, Kumar-Singh S(2007) “Current insights into molecular mechanisms
of Alzheimer disease and their implications for
therapeutic approaches” Neurodegener Dis 4 (5): 349–
65.PMID 17622778.doi:10.1159/000105156.[61] Yankner BA, Duffy LK, Kirschner DA (tháng 10 năm1990) “Neurotrophic and neurotoxic effects of amyloidbeta protein: reversal by tachykinin neuropeptides”
Science (journal) 250 (4978): 279–82. PMID 2218531
doi:10.1126/science.2218531.[62] Chen X, Yan SD (tháng 12 năm 2006) “MitochondrialAbeta: a potential cause of metabolic dysfunction in
Alzheimer’s disease” IUBMB Life 58 (12): 686–94.PMID
17424907.doi:10.1080/15216540601047767.[63] Greig NH, Mason MP, Perry T và đồng nghiệp (tháng
12 năm 2004) “New therapeutic strategies and drugcandidates for neurodegenerative diseases: p53 andTNF-alpha inhibitors, and GLP-1 receptor agonists”
Ann N Y Acad Sci 1035: 290–315.PMID 15681814
doi:10.1196/annals.1332.018.[64] Tapia-Arancibia L, Aliaga E, Silhol M, Arancibia S(tháng 11 năm 2008) “New insights into brain BDNFfunction in normal aging and Alzheimer disease”
Brain Research Reviews59 (1): 201–20.PMID 18708092
doi:10.1016/j.brainresrev.2008.07.007.[65] Schindowski K, Belarbi K, Buée L (tháng 2 năm2008) “Neurotrophic factors in Alzheimer’s disease:role of axonal transport” Genes, Brain and Behavior
7 (Suppl 1): 43–56. PMC 2228393 PMID 18184369
doi:10.1111/j.1601-183X.2007.00378.x.[66] Blennow K, de Leon MJ, Zeerberg H (tháng 7 năm
2006) “Alzheimer’s disease” Lancet 368 (9533): 387–
403.PMID 16876668.doi:
10.1016/S0140-6736(06)69113-7
Trang 252.9 LIÊN KẾT NGOÀI 11
[67] Waring SC, Rosenberg RN (tháng 3 năm 2008)
“Genome-wide association studies in Alzheimer
disease” Arch Neurol 65 (3): 329–34.PMID 18332245
doi:10.1001/archneur.65.3.329
[68] Selkoe DJ (tháng 6 năm 1999) “Translating cell biology
into therapeutic advances in Alzheimer’s disease”
Nature 399 (6738 Suppl): A23–31. PMID 10392577
doi:10.1038/19866
[69] Shioi J, Georgakopoulos A, Mehta P và đồng nghiệp
(tháng 5 năm 2007) “FAD mutants unable to increase
neurotoxic Aβ 42 suggest that mutation effects on
neurodegeneration may be independent of effects on
Abeta.” J Neurochem 101 (3): 674–81.PMID 17254019
doi:10.1111/j.1471-4159.2006.04391.x
[70] Strimaer WJ, Saunders AM, Schmechel D và
đồng nghiệp (tháng 3 năm 1993) “Apolipoprotein
E: high-avidity binding to beta-amyloid and
increased frequency of type 4 allele in late-onset
familial Alzheimer disease” Proc Natl Acad Sci.
USA 90 (5): 1977–81. PMC 46003 PMID 8446617
doi:10.1073/pnas.90.5.1977
[71] Mahley RW, Weisgraber KH, Huang Y (tháng 4
năm 2006) “Apolipoprotein E4: a causative factor
and therapeutic target in neuropathology, including
Alzheimer’s disease” Proc Natl Acad Sci U.S.A.
103 (15): 5644–51. PMC 1414631 PMID 16567625
doi:10.1073/pnas.0600549103
[72] Prevention recommendations not supported:
• Kawas CH (2006) “Medications and diet:
protective factors for AD?” Alzheimer Dis Assoc
Disord 20 (3 Suppl 2): S89–96.PMID 16917203
• Luchsinger JA, Mayeux R (2004) “Dietary factors
and Alzheimer’s disease” Lancet Neurol 3 (10):
579–87 PMID 15380154 doi:
10.1016/S1474-4422(04)00878-6
• Luchsinger JA, Noble JM, Scarmeas N (2007).
“Diet and Alzheimer’s disease” Curr Neurol
Neurosci Rep 7 (5): 366–72. PMID 17764625
doi:10.1007/s11910-007-0057-8
• “Independent Panel Finds Insufficient Evidence
to Support Preventive Measures for Alzheimer’s
Disease”(ông cáo báo chí).National Institutes
of Health Ngày 28 tháng 4 năm 2010
• Daviglus ML và đồng nghiệp (April 26–28,
2010) “NIH State-of-the-Science Conference:
Preventing Alzheimer’s Disease and Cognitive
Decline”
[73] Szekely CA, Breitner JC, Zandi PP (2007) “Prevention of
Alzheimer’s disease” Int Rev Psychiatry 19 (6): 693–706.
PMID 18092245.doi:10.1080/09540260701797944
[74] Paerson C, Feightner JW, Garcia A, Hsiung GY,
MacKnight C, Sadovnick AD (tháng 2 năm 2008)
“Diagnosis and treatment of dementia: 1 Risk
assessment and primary prevention of Alzheimer
disease” CMAJ 178 (5): 548–56.PMC 2244657.PMID
18299540.doi:10.1503/cmaj.070796
[75] Rosendorff C, Beeri MS, Silverman JM (2007)
“Cardiovascular risk factors for Alzheimer’s disease”
Am J Geriatr Cardiol 16 (3): 143–9. PMID 17483665
doi:10.1111/j.1076-7460.2007.06696.x.[76] Reiss AB, Wirkowski E (2007) “Role of HMG-CoAreductase inhibitors in neurological disorders: progress
to date” Drugs 67 (15): 2111–20. PMID 17927279
doi:10.2165/00003495-200767150-00001.[77] Kuller LH (tháng 8 năm 2007) “Statins and dementia”
Curr Atheroscler Rep 9 (2): 154–61. PMID 17877925
doi:10.1007/s11883-007-0012-9.[78] Solfrizzi V, Capurso C, D'Introno A và đồng nghiệp(tháng 1 năm 2008) “Lifestyle-related factors in
predementia and dementia syndromes” Expert
Rev Neurother 8 (1): 133–58. PMID 18088206
doi:10.1586/14737175.8.1.133.[79] Boothby LA, Doering PL (tháng 12 năm 2005)
“Vitamin C and vitamin E for Alzheimer’s disease”
Ann Pharmacother 39 (12): 2073–80.PMID 16227450
doi:10.1345/aph.1E495.[80] Isaac MG, inn R, Tabet N (2008) “Vitamin E forAlzheimer’s disease and mild cognitive impairment”
Cochrane Database Syst Rev (3): CD002854. PMID
18646084.doi:10.1002/14651858.CD002854.pub2.[81] Malouf R, Grimley Evans J (2008) “Folic acid with orwithout vitamin B12for the prevention and treatment
of healthy elderly and demented people” Cochrane
Database Syst Rev (4): CD004514. PMID 18843658
doi:10.1002/14651858.CD004514.pub2.[82] Wald DS, Kasturiratne A, Simmonds M (tháng 6năm 2010) “Effect of folic acid, with or withoutother B vitamins, on cognitive decline: meta-analysis of randomized trials” e American Journal
of Medicine 123 (6): 522–527.e2. PMID 20569758
doi:10.1016/j.amjmed.2010.01.017.[83] Ringman JM, Frautschy SA, Cole GM, Masterman
DL, Cummings JL (tháng 4 năm 2005) “Apotential role of the curry spice curcumin inAlzheimer’s disease” Curr Alzheimer Res 2 (2):
131–6.ISSN 1567-2050.PMC 1702408.PMID 15974909
doi:10.2174/1567205053585882.[84] Aggarwal BB, Harikumar KB (tháng 1 năm 2009)
“Potential therapeutic effects of curcumin, the inflammatory agent, against neurodegenerative,cardiovascular, pulmonary, metabolic, autoimmuneand neoplastic diseases” Int J Biochem Cell Biol
anti-41 (1): 40–59. PMC 2637808 PMID 18662800
doi:10.1016/j.biocel.2008.06.010
2.9 Liên kết ngoài
• Alzheimer’s Disease Centers (ADCs)
• Alzheimer’s Disease Education and Referral(ADEAR) Center
Trang 2612 CHƯƠNG 2 BỆNH ALZHEIMER
• Alzheimer’s Association
• UCSF Memory and Aging Center
• Rủi ro môi trường và các yếu tố bảo vệ trong bệnh
Alzheimer
Trang 27Chương 3
Bệnh Parkinson
Bệnh Parkinson (hay còn gọi là PD) là một rối loạn
thoái hoá củahệ thần kinh trung ươnggây ảnh hưởng
đến tình trạng cử động, thăng bằng và kiểm soát cơ của
bệnh nhân
Bệnh Parkinson thuộc nhóm các bệnh rối loạn vận
động Nó có đặc điểm cứng cơ, run, tư thế và dáng đi
bất thường, chuyển động chậm chạp và trong trường
hợp bệnh nặng người bệnh có thể mất đi một số chức
năng vận động vật lý Các triệu chứng chính xuất hiện
tương ứng với sự giảm các kích thích ở vùngvỏ não
thuộc phạm vi điều khiển củahạch nền ông thường
điều này liên quan đến sự giảm hình thành và sản xuất
dopaminetrong tế bào thần kinh dopaminergic củanão
giữa(cụ thể là substantia nigra) Các triệu chứng phụ
như có thể xuất hiện rối loạn chức năng nhận thức cấp
cao và các vấn đề về ngôn ngữ tinh tế PD là bệnh mãn
tính tự phát, hoặc trong trường hợp thứ cấp, nguyên
nhân gây bệnh có thể là do độc tính của một số loại
thuốc, chấn thương đầu, hay các rối loạn y tế khác Căn
bệnh này được đặt theo tên tiếng Anh dược sưJames
Parkinson, ông đã mô tả chi tiết của bệnh trong bài tiểu
luận: "An Essay on the Shaking Palsy" (1817).
Đông y gọi bệnh Parkinson là Ma mộc, Tứ chi nhuyễn
nhược, Chấn chiến Giai đoạn cuối cùng của bệnh được
xếp vào loại Nuy chứng
3.1 Phân loại
Bệnh Parkinson được chia thành 4 nhóm chính dựa trên
các nguyên nhân gây bệnh: nhóm bệnh thứ cấp hoặc
tự phát (không biết rõ nguyên nhân), nhóm sơ cấp (có
nguyên nhân), nhóm bệnh dodi truyền, nhóm bệnh
Parkinson kết hợp chung với những thoái hóa nhiều
hệ thống Trong đó nhóm tự phát chiếm phần lớn các
ca bệnh
3.2 Các dấu hiệu và triệu chứng
Bệnh Parkinson thường có các dấu hiệu về giảm thiểu
chức năng vận động cơ học,[1]ngoài ra còn có một số
triệu chứng khác như rối loạn chức năng tự trị, có vấn
Hình chụp bệnh nhân Parkinson vào năm 1892 cho thấy một
tư thế đi bộ uốn cong Ảnh xuất hiện trong de la Nouvelle
Iconographie Salpètrière, vol 5.
đề về nhận thức, mất ngủ…[1]
3.2.1 Triệu chứng về vận động
Bệnh thường xuất hiện bốn triệu chứng về vận động:run, cứng, chậm chạp (Bradykinesia), và tư thế bất ổnđịnh.[1]Mặc dù khoảng 30% bệnh nhân không xuất hiệnrun trong thời gian đầu,[1]nhưng đặc điểm này sau đócũng sẽ bộc phát khi bệnh tiến triển.[1] Triệu chứngcứng người là do cơ bắp và xương bị cứng dần, có thểkèm theo đau khớp.[1]Di chuyển chậm chạp là đặc tínhlâm sàng đặc trưng nhất của bệnh Parkinson Tronggiai đoạn cuối, bệnh sẽ xuất hiện các chứng bất ổn định13
Trang 2814 CHƯƠNG 3 BỆNH PARKINSON
Chữ viết tay của một bệnh nhân Parkinson
về tư thế dẫn đến mất cân bằng và té ngã.[1]
3.2.2 Triệu chứng về thần kinh
Bệnh Parkinson gây ra một số rối loạn trung khu thần
kinh, trong đó bao gồm chủ yếu là nhận thức, tâm trạng
và các vấn đề hành vi.[1][2] Rối loạn nhận thức trong
một số trường hợp có thể xảy ra ngay cả trong giai đoạn
đầu của bệnh Một tỷ lệ rất cao người bệnh sẽ có suy
giảm nhận thức nhẹ
3.2.3 Các triệu chứng khác
Ngoài các triệu chứng về nhận thức và vận động, PD có
thể làm giảm nhiều chức năng cơ thể khác Bệnh có thể
có các biểu hiện như buồn ngủ ban ngày, rối loạn trong
giấc ngủ hoặc mất ngủ Ngoài ra người bệnh có thể có
các triệu chứng như hạ huyết áp, da nhờn và viêm da
tiết bã, đổ mồ hôi quá nhiều, tiểu không tự chủ và chức
năng tình dục thay đổi, táo bón PD cũng gây ra các bất
thường về mắt như tỷ lệ nháy mắt giảm, dẫn đến kích
thích bề mặt mắt, những bất thường trong việc nhìn
theo một vật hoặc chuyển mục tiêu nhìn đột ngột và
hạn chế trong việc nhìn lên ay đổi trong cảm quan
bao gồm giảm các cảm giác về mùi, cảm giác đau, dị
cảm
3.3 Chú thích
[1] Jankovic J (tháng 4 năm 2008) “Parkinson’s
disease: clinical features and diagnosis” J Neurol.
Neurosurg Psychiatr 79 (4): 368–76.PMID 18344392
doi:10.1136/jnnp.2007.131045
[2] Caballol N, Martí MJ, Tolosa E (tháng 9 năm 2007)
“Cognitive dysfunction and dementia in Parkinson
disease” Mov Disord 22 Suppl 17: S358–66. PMID
18175397.doi:10.1002/mds.21677
3.4 Liên kết ngoài
• Parkinson’s DiseasetrênDMOZ
• Parkinson’s Disease: Hope rough Research
(National Institute of Neurological Disorders and
Stroke)
• World Parkinson Disease Association
• GeneReview/NIH/UW entry on LRRK2-RelatedParkinson Disease
Trang 29Chương 4
Bệnh tâm thần
Bệnh tâm thần, Rối loạn tâm thần hoặc rối loạn tinh
thần là hình thứctâm lýhoặchành vicá biệt được cho
là gây ra đau khổ, mất khả năng cư xử cũng như phát
triển bình thường Những người rối loạn tâm thần vẫn
có nhữngquyềnnhất định và việc bắt giữ họ mà không
có căn cứpháp lýlàvi phạm nhân quyền
Có nhiều nhóm rối loạn tâm thần, và cũng có nhiều
khía cạnh hành vi của con người và cá nhân có thể trở
nên rối loạn.[1][2][3][4][5]
Lo lắnghaysợ hãicản trở các chức năng bình thường
có thể được xếp vàorối loạn lo âu.[6]Nhóm thường gặp
bao gồmám ảnh,rối loạn lo âu tổng quát,rối loạn lo
âu xã hội,rối loạn sợ hãi,sợ khoảng trống,rối loạn ám
ảnh cưỡng chếvàrối loạn căng thẳng sau chấn thương
4.1 Dịch tễ học
Năm sống điều chỉnh theo khuyết tật với các bệnh thần kinh trên
100.000 dân năm 2004.
Rối loạn tâm thần là phổ biến Trên thế giới cứ 3 người
là có một người mắc bệnh (ở hầu hết các nước có tiêu
chí đầy đủ) tại một thời điểm nào đó trong đời họ.[7]Ở
Hoa Kỳ 46% thõa tiêu chí của một bệnh tâm thần tại
cùng một thời điểm.[8]Một cuộc khảo sát đang diễn ra
cho thấy rối loạn lo âu là phổ biến nhất trong tất cả các
quốc gia trừ một quốc gia, theo sau là rối loạn tâm trạng
trừ 2 quốc gia, trong khi rối loạn chất và rối loạn kiểm
soát ít phổ biến.[9]Các tỉ lệ thay đổi theo khu vực.[10]
Một đánh giá về các khảo sát rối loạn lo âu ở nhiều
đất nước khác nhau cho thấy khả năng xuất hiện trung
bình trong đời họ ước tính 16,6%, ở nữ có khả năng cao
hơn trung bình.[11] Đánh giá về các khảo sát rối tâm
trạng ở những quốc gia khác nhau cho thấy tỉ lệ tuổithọ là 6,7% đối với rối loạn trầm cảm chính (cao hơnmột số nghiên cứu, và ở nữ) và 0,8% rối với rối loạnlưỡng cực I.[12]
Ở Hoa Kỳ, tuần suất của rối loạn: rối loạn lo âu (28,8%),rối loạn tâm trạng (20,8%), rối loạn kiểm soát xung(24,8%) hay rối loạn sử dụng chất (14,6%).[8][13][14]Một nghiên cứu trên toàn châu Âu năm 2004 cho thấyrằng có khoảng một trong 4 người tại một thời điểmnào đó trong đời họ được cho là thõa các tiêu chí của ítnhất một trong các rối loạn DSM-IV, trong đó bao gồmrối loạn tâm trạng (13,9%), rối loạn lo âu (13,6%) hoặcrối loạn do cồn (5,2%) Có khoảng một trong 10 ngườithõa các tiêu chí trong một chu kỳ khảo sát 12 tháng
Nữ và người trẻ hơn của cả hai giới mắc nhiều chứngrối loạn hơn.[15]Một đánh giá về khảo sát năm 2005 ở
16 nước châu Âu cho thấy 27% người châu Âu trưởngthành bị ảnh hưởng bởi ít nhất một chứng rối loạn tinhthần trong thời gian 12 tháng.[16]
Một đánh giá quốc nghiên cứu về sự phổ biến của tâmthần phân liệt cho thấy trung bình chiếm 0,4% xảy ratrong cuộc đời; con số này thấp hơn ở những nướcnghèo hơn.[17]
Các nghiên cứu về tần suất của rối loạn nhân cách (PDs)thì ít hơn và ở quy mô nhỏ hơn, nhưng trong một cuộckhảo sát rộng rãi tại Na Uy thì thấy rằng tần suất trong
5 năm là 13,4% Tỉ lệ các rối loạn đặc biệt dao động từ0,8% đến 2,8%, khác nhau theo quốc gia, giới tính, mức
độ giáo dục, và các yếu tố khác.[18]Một cuộc khảo sát ởHoa Kỳ sàng lọc một cách tình cờ đối với rối loạn nhâncách thì thấy tỉ lệ là 14,79%.[19]
Khoảng 7% trong một mẫu trẻ em ở tuổi trước khi đếntrường được chẩn đoán tâm thần trong một nghiên cứulâm sàng, khoảng 10% trong số trẻ 1 tuổi và 2 tuổi đượcđánh giá và nhận thấy có các vấn đề về tình cảm/hành
vi đáng quan tâm dựa trên những báo cáo của phụhuynh và bác sĩ nhi khoa.[20]
Trong khi tỉ lệ các rối loạn tâm lý thường bằng nhaugiữa nam và nữ, thì nữ có khuynh hướng có tỉ lệ caohơn ở nhóm trầm cảm Mỗi năm có khoảng 73 triệuphụ nữa bị ảnh hưởng của trầm cảm nặng, và tự tử xếphạng thứ 7 trong các nguyên nhân gây tử vong trong
15
Trang 3016 CHƯƠNG 4 BỆNH TÂM THẦN
độ tuổi 20-59 Rối loạn trầm cảm chiếm gần 41,9% bệnh
về rối loạn tâm thần ở phụ nữ so với nam là 29,3%.[21]
4.2 Chú thích
[1] Gazzaniga, M.S., & Heatherton, T.F (2006)
Psychological Science New York: W.W Norton &
Company, Inc
[2] WebMD Inc (2005, July 01) Mental Health: Types
of Mental Illness Truy cập ngày 19 tháng 4 năm
2007, from http://www.webmd.com/mental-health/
mental-health-types-illness
[3] United States Department of Health & Human Services
(1999) Overview of Mental Illness Truy cập ngày 19
tháng 4 năm 2007
[4] NIMH (2005) Teacher’s Guide: Information about
Mental Illness and the BrainCurriculum supplement
from e NIH Curriculum Supplements Series
[5] Phillip W Long M.D (1995–2008).“Disorders” Internet
Mental Health Truy cập ngày 5 tháng 10 năm 2009
[6] “Mental Health: Types of Mental Illness”.WebMD Truy
cập ngày 29 tháng 9 năm 2009
[7] “Cross-national comparisons of the prevalences and
correlates of mental disorders WHO International
Consortium in Psychiatric Epidemiology” Bulletin
of the World Health Organization 78 (4): 413–26.
2000.PMC 2560724.PMID 10885160.doi
:10.1590/S0042-96862000000400003 (không tích cực ngày 26 tháng 5
năm 2013)
[8] Kessler, Ronald C.; Berglund, P; Demler, O; Jin,
R; Merikangas, KR; Walters, EE (2005) “Lifetime
Prevalence and Age-of-Onset Distributions of
DSM-IV Disorders in the National Comorbidity Survey
Replication” Archives of General Psychiatry 62 (6): 593–
602.PMID 15939837.doi:10.1001/archpsyc.62.6.593
[9] “e World Mental Health Survey Initiative” Harvard
School of Medicine 2005
[10] Demyenaere, Koen; Bruffaerts, Ronny; Posada-Villa,
Jose; Gasquet, Isabelle; Kovess, Viviane; Lepine, Jean
Pierre; Angermeyer, Mahias C.; Bernert, Sebastian;
de Girolamo, Giovanni (2004) “Prevalence, Severity,
and Unmet Need for Treatment of Mental Disorders in
the World Health Organization World Mental Health
Surveys” JAMA 291 (21): 2581–90. PMID 15173149
doi:10.1001/jama.291.21.2581
[11] Somers, Julian M; Goldner, Elliot M; Waraich, Paul;
Hsu, Lorena (2006).“Prevalence and Incidence Studies
of Anxiety Disorders: A Systematic Review of the
Literature” Canadian Journal of Psychiatry 51 (2): 100–
13.PMID 16989109
[12] Waraich, Paul; Goldner, Elliot M; Somers, Julian M;
Hsu, Lorena (2004).“Prevalence and Incidence Studies
of Mood Disorders: A Systematic Review of the
Literature” Canadian Journal of Psychiatry 49 (2): 124–
38.PMID 15065747
[13] Kessler, Ronald C.; Chiu, WT; Demler, O; Merikangas,KR; Walters, EE (2005) “Prevalence, Severity, andComorbidity of 12-Month DSM-IV Disorders in theNational Comorbidity Survey Replication” Archives of
General Psychiatry 62 (6): 617–27.PMC 2847357.PMID
15939839.doi:10.1001/archpsyc.62.6.617.[14] “e Numbers Count: Mental Disorders in America”
National Institute of Mental Health Ngày 24 tháng 5năm 2013 Truy cập ngày 27 tháng 5 năm 2013 Kiểmtra giá trị ngày tháng trong: |year= / |date= mismatch(trợ giúp)
[15] Alonso, J.; Angermeyer, M C.; Bernert, S.; Bruffaerts,R.; Brugha, T S.; Bryson, H.; Girolamo, G.; Graaf,R.; Demyenaere, K (2004) “Prevalence of mentaldisorders in Europe: Results from the European Study
of the Epidemiology of Mental Disorders (ESEMeD)
project” Acta Psychiatrica Scandinavica 109 (420): 21–7.
PMID 15128384.doi:10.1111/j.1600-0047.2004.00327.x.[16] Wichen, Hans-Ulrich; Jacobi, Frank (2005) “Sizeand burden of mental disorders in Europe—a critical
review and appraisal of 27 studies” European
Neuropsychopharmacology 15 (4): 357–76. PMID
15961293.doi:10.1016/j.euroneuro.2005.04.012.[17] Saha, Sukanta; Chant, David; Welham, Joy;McGrath, John (2005) “A Systematic Review ofthe Prevalence of Schizophrenia” PLoS Medicine
2 (5): e141. PMC 1140952 PMID 15916472
doi:10.1371/journal.pmed.0020141.[18] Torgersen, S.; Kringlen, E; Cramer, V (2001) “ePrevalence of Personality Disorders in a Community
Sample” Archives of General Psychiatry 58 (6): 590–6.
PMID 11386989.doi:10.1001/archpsyc.58.6.590.[19] Grant, Bridget F.; Hasin, Deborah S.; Stinson, FrederickS.; Dawson, Deborah A.; Chou, S Patricia; Ruan,
W June; Pickering, Roger P (2004) “Prevalence,Correlates, and Disability of Personality Disorders in
the United States” e Journal of Clinical Psychiatry 65
(7): 948–58.PMID 15291684.doi:10.4088/JCP.v65n0711.[20] Carter, Alice S.; Briggs-Gowan, Margaret J.;Davis, Naomi Ornstein (2004) “Assessment ofyoung children’s social-emotional developmentand psychopathology: Recent advances and
recommendations for practice” Journal of Child
Psychology and Psychiatry 45 (1): 109–34. PMID
14959805.doi:10.1046/j.0021-9630.2003.00316.x.[21] “Gender disparities and mental health: e Facts”.World Health Organization Truy cập ngày 12 tháng 1năm 2012
Trang 314.4 LIÊN KẾT NGOÀI 17
• Hockenbury, Don and Sandy (2004) Discovering
Psychology Worth Publishers.ISBN
0-7167-5704-4
• Fried, Yehuda and Joseph Agassi, (1976) Paranoia:
A Study in Diagnosis Boston Studies in the
Philosophy of Science, 50.ISBN 90-277-0704-9
• Fried, Yehuda and Joseph Agassi, (1983).
Psychiatry as Medicine e HAgue, Nijhoff.
ISBN 90-247-2837-1
• Porter, Roy(2002) Madness: a brief history Oxford
[Oxfordshire]: Oxford University Press.ISBN
0-19-280266-6
• Weller M.P.I and Eysenck M e Scientific
Basis of Psychiatry, W.B Saunders, London,
Philadelphia, Toronto etc 1992
• Wiencke, Markus (2006) Schizophrenie als
Ergebnis von Wechselwirkungen: Georg Simmels
Individualitätskonzept in der Klinischen
Psychologie In David Kim (ed.), Georg Simmel in
Translation: Interdisciplinary Border-Crossings in
Culture and Modernity (pp 123–155) Cambridge
Scholars Press, Cambridge,ISBN 1-84718-060-5
4.4 Liên kết ngoài
• NIMH.NIH.gov - 'Working to improve mental
health through biomedical research on mind,
brain, and behavior',National Institute of Mental
Health(Hoa Kỳ)
• NIMHE - 'Responsible for supporting the
implementation of positive change in mental
health and mental health services’, National
Institute for Mental Health(United Kingdom)
• International Commiee of Women Leaders on
Mental Health– an international body of women
political leaders founded by the World Mental
Health Federation to produce positive change for
citizens who struggle with mental illnesses
• Mental Disorder In Old Age
• Psychology Dictionary
• Journal of Clinical Psychiatry
• Mental Illness Watch
• Metapsychology Online Reviews: Medications &
Psychiatry
Trang 32Chương 5
Chán ăn tâm thần
Chán ăn tâm thần (tiếng Anh: anorexia nervosa), hay
án ăn tâm lý, biếng ăn tâm lý, là một dạng của bệnh
rối loạn ăn uống, có các triệu chứng như trọng lượng cơ
thể thấp và sự bất thường trongcảm nhận về ngoại hình
của bản thân, bịám ảnhsợ hãităng cân Người mắc
chứng chán ăn biết rõ cách để giảm cân như chủ động
nhịn ăn, dùngthuốc nhuận tràng, thuốc làm ăn mất
ngon, nôn mửa hoặctập thể dụcrất nặng để tiêu hao
năng lượng, ngoài ra họ có thể dùng thuốc ăn kiêng, lợi
tiểu Chứng bệnh này chủ yếu ảnh hưởng đến các thiếu
nữ, chỉ khoảng 10% người mắc là nam giới[1] Chán ăn
tâm thần có nguyên do phức tạp, nó là sự kết hợp của
các yếu tố sinh học thần kinh, tâm lý và xã hội[2], trong
trường hợp bị nặng, có thể dẫn đến cái chết Bằng chứng
là vào năm 2006, thế giới đã thực sự sửng sốt sau sự ra
đi vĩnh viễn của người mẫu BrasilAna Carolina Reston
khi mới 21 tuổi, tại thời điểm đó cô chỉ nặng có 40 kg
trong khi chiều cao là 1,72 m,chỉ số khối cơ thể(BMI)
vào khoảng 13,4 thấp hơn nhiều giá trị cho phép Ana
từng là người mẫu quảng cáo cho hãng thời trang nổi
tiếng thế giới củaGiorgio Armani[3] Sau vụ việc này
các quốc gia như Tây Ban Nha, Ý và Brasil đã cấm
những người mẫu siêu gầy tham gia trình diễn Tuy
nhiên, hai trung tâm thời trang hàng đầu châu Âu là
Paris và London vẫn từ chối áp dụng lệnh cấm kiểu
này[4]
5.1 Từ nguyên và phân biệt
Về mặt từ nguyên, thuật ngữ chán ăn có nguồn gốc từ
tiếng Hy Lạp: a là tiền tố phủ định, n có tác dụng liên
kết giữa hai nguyên âm và orexis có nghĩa là muốn ăn
do vậy nghĩa của từ này là không muốn ăn[5]
Cần phân biệt chứng chán ăn tâm thần với chán ăn sinh
lý, chúng có một số biểu hiện chung có thể gây nhầm
lẫn với nhau Khác biệt cơ bản giữa chúng là chán ăn
sinh lý có nguyên nhân từ bệnh thực thể chẳng hạn như
rối loạn dạ dày, ruột, các bệnh rối loạn chuyển hoá, đau
răng, họng sưng hoặc miệng có các tổn thương…Chán
ăn tâm thần thì khác, nguyên nhân của nó bắt nguồn
từ các yếu tố tâm lý hoặc sinh tâm lý
• Tự đánh giá bản thân phần lớn hoặc thậm chí toàn
bộ phụ thuộc vào ngoại hình như thế nào và trọnglượng là bao nhiêu
• Ám ảnhvề thức ăn và cân nặng
• Có tính cách củangười cầu toàn
• Có khả năng mắcrối loạn ám ảnh cưỡng chếtức
là có những ý nghĩ hoặc/và hành vi ép buộc lặp
đi lặp lai gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến cuộcsống
• Lo âu quá độ
• Tin rằng qua việc điều khiển thức ăn và cơ thể
đồng nghĩa với việc điều khiển cuộc sống củamình
• Không chấp nhận rằng trọng lượng thấp thì nguy
Trang 335.3 CÁC NGUYÊN NHÂN GÂY BỆNH 19
Hai hình ảnh của người phụ nữ mắc chứng bệnh chán ăn
5.2.2 Thể chất
Chán ăn tâm thần có thể làm ảnh hưởng nghiêm trọng
đến các cơ quan và hoạt động sinh lý, đặc biệt là cấu
trúc và chức năng củatimvà hệ thống tim mạch Người
bệnh gặp những vấn đề về cân bằng điện giải, mức phốt
phát ở mức thấp là nguyên nhân gây ra những rắc rối
ở tim, làm suy yếu cơ bắp và giảm khả năng miễn dịch
Người mắc chứng chán ăn tâm thần trước tuổi trưởng
thành có thể bị chậm phát triển thể chất dẫn đến còi cọc
và các hoóc môn chủ yếu ở mức thấp hơn bình thường
(trong đó có hoóc môn sinh dục) đồng thời mứccortisol
tăng mãn tính.Bệnh loãng xươngcũng xuất hiện ở 38%
đến 50% trường hợp Dinh dưỡng kém dẫn đến chậm
phát triển cấu trúc cơ bản của xương và mật độ xương
cũng ở mức thấp Bệnh không gây tác hại giống như
nhau ở tất cả mọi người, chẳng hạn có sự khác biệt
rõ ràng về tác hại của bệnh giữathanh niênvàngười
trưởng thành
ay đổi cấu trúc và chức năng của não bộ là dấu hiệu
sớm của bệnh Sự phình to củanão thấtcó liên quan
đến việc nhịn ăn Chán ăn tâm thần cũng làm giảm lưu
lượngmáutrongthái dương, mặc dù điều này được tìm
thấy không tương xứng với khối lượng cơ thể hiện thời,
nó có thể là đặc điểm nguy hiểm hơn là kết quả của sự
nhịn ăn
Các tác hại khác bao gồm:
5.2.3 Cảm xúc
• Lòng tự trọngthấp
• Biểu hiện sự sợ hãi mãnh liệt bị thừa cân
• Có dấu hiệutrầm cảmhoặc tâm trạng luôn buồnphiền, không ổn định
5.3 Các nguyên nhân gây bệnh
Không có nguyên nhân đơn lẻ cho chứng biếng ăn tâm
lý, căn bệnh phát sinh từ sự phối hợp các nguyên nhânsinh học, xã hội và tâm lý Hiện tại các nghiên cứu vẫntập trung vào các yếu tố này để khám phá ra các nguyênnhân mới Vẫn có nhiều điều không rõ ràng về việc cácnguyên nhân trên đóng góp như thế nào vào sự pháttriển của bệnh Đặc biệt hay gây tranh cãi là có đúngcác yếu tốtruyền thônggây sức ép lên phụ nữ phải có
cơ thể thật mảnh mai dẫn đến bệnh chán ăn tâm thầnhay không?[8]
5.3.1 Nguyên nhân xã hội và môi trường
Các nghiên cứu văn hóa xã hội đều làm nổi bật vaitrò của yếu tố văn hóa, ví dụ đề cao vóc dáng gầynhư một ngoại hình lý tưởng cho nữ giới ở các nướccông nghiệp phát triển phương Tây, đặc biệt thông quatruyền thông
Một nghiên cứu dịch tễ học gần đây trên 989.871 người
ụy Điểnchỉ ra rằnggien, văn hóa quốc gia và tình
Trang 3420 CHƯƠNG 5 CHÁN ĂN TÂM THẦN
Cân nặng là điều ám ảnh đối với người bệnh
trạng kinh tế xã hội là các ảnh hưởng mạnh nhất trong
việc phát triển bệnh biếng ăn tâm lý, những người có
cha mẹ không phải là gốc châu Âu nằm trong số những
người có ít nguy cơ nhất, còn trong số những người có
điều kiện kinh tế tốt thì các gia đình da trắng có nguy
cơ cao nhất[9]
Một nghiên cứu cổ điển được thực hiện bởi Garner và
Garfinkel chứng minh rằng những người làm các công
việc phải chịu sức ép của xã hội phải trở nên gầy ốm
như các người mẫu và cácvũ côngcó nguy cơ phát triển
bệnh cao nhất[10], các nghiên cứu thêm chỉ ra những
người bị mắc chứng biếng ăn tâm lý phải tiếp xúc nhiều
nhất với văn hóa đề cao sự gầy ốm[11]
Mặc dù biếng ăn tâm lý thường liên hệ với nền văn hóa
phương Tây, nhưng với sự lan tỏa của truyền thông
phương Tây, sẽ dẫn đến sự gia tăng bệnh ở các nước
khác Tuy nhiên các nền văn hóa khác không cho thấy
sự ám ảnh sợ hãi béo như các nước phương Tây mà
thường thay vào đó là giảm sự ngon miệng kèm với
các đặc điểm khác[12]
Có một tỉ lệ cao báo cáo về tình trạng bịLạm dụng tình
dụckhi còn nhỏ ở những người được chẩn đoán chán ăn
tâm thần (với bệnh nhân nội trú có hơn 50% thú nhận
với người chăm sóc còn với người bệnh ngoại trú tỉ lệ
này có giảm một chút) Mặc dù trong giai đoạn bị lạm
dụng không cho thấy các nhân tố nguy cơ đặc biệt cho
chứng chán ăn nhưng những người này tăng khả năng
phát triển các triệu chứng nguy hiểm và mãn tính[13]
Internetcho phép người chán ăn tâm thần và ăn ói kết
nối và chia sẻ với những người khác ngoài môi trường
điều trị, với nguy cơ thấp nhất bị từ chối Rất nhiều
các trang web đa dạng xuất hiện được lập ra bởi người
đang mắc bệnh hoặc đã từng mắc bệnh và những cái
khác thì do các chuyên viên trong lĩnh vực này Phần
lớn các trang này cung cấp cái nhìn y học về bệnh chán
ăn tâm thần như một rối loạn có thể điều trị, tuy nhiên
một số trang khác lại cổ vũ cho chứng bệnh này với các
phương pháp giảm cân và coi đó như sự lựa chọn cách
sống riêng của mình, điều này gây ảnh hưởng không
nhỏ đến các phụ nữ bình thường[14][15]
5.3.2 Nguyên nhân di truyền
Nghiên cứu trên các gia đình và các cặp sinh đôi(nghiên cứu trên các đối tượng sinh đôi rất hay đượcdùng để xác định ảnh hưởng của yếu tốgien, sinh đôi cóhai kiểu một là sinh đôi cùng trứng, còn lại là sinh đôikhác trứng - sinh đôi cùng trứng có tỉ lệ trùng lặp giencao hơn) cho thấy yếu tố gien đóng góp khoảng 50% gâybệnhrối loạn ăn uống[16]và các gien gây chứng biếng
ăn tâm lý cũng là các gien gây ra bệnhtrầm cảm[17] Cónhững bằng chứng rõ ràng về việc gien gây ảnh hưởnglớn đến thói quenăn uống,nhân cáchvàcảm xúc.Trong một nghiên cứu khác việc thay đổi gien vậnchuyểnnorepinephrinecó liên quan đến chứng chán
ăn tâm thần dạng hạn chế nhưng lại không liên quanđến chán ăn tâm thần dạng ăn nhiều/tẩy rửa (có thể là
vì mẫu nghiên cứu nhỏ)[18]
5.3.3 Yếu tố dinh dưỡng
Không dung nạp kẽm là nguyên nhân làm giảm sự
thèm ăn - cái là biến chứng trong bệnh chán ăn tâm
thần, dẫn đến thiếu chất kẽm đối với cơ thể Việc sửdụng chất kẽm trong điều trị được ủng hộ từ năm 1979bởi Bakan Có ít nhất 5 thử nghiệm chứng minh rằngkẽm giúp khôi phục lại trọng lượng cơ thể Trong mộtthí nghiệm ngẫu nhiên vào năm 1994 có sử dụng phép
so sánh đối chiếu với thuốc trấn yên (hay còn gọi làgiảdược) - placebo (thuốc thực tế không có tác dụng nào,cần so sánh như vậy là vì để tránh trường hợp thuốckhông có ích nhưng do tác dụng tâm lý tin rằng mìnhđang dùng thuốc có thể làm bệnh nhân có những biểuhiện tốt lên) cho thấy sử dụng 14 mg mỗi ngày tăng gấpđôi khả năng khôi phục trọng lượng[19] Sự thiếu hụtcác chất dinh dưỡng khác như tyrosine, tryptophan,vitamin B1 là một trong các yếu tố gây ra bệnhsuydinh dưỡng[19]
5.4 Thống kê trên thế giới
Tỉ lệ mắc chán ăn tâm thần theo giới tính [2]
Trang 355.6 ĐƯA RA CHẨN ĐOÁN VÀ CÁC TRANH CÃI 21
Phần lớn những nghiên cứu về tác động và tỉ lệ mắc
trong cộng đồng của bệnh chán ăn tâm thần được thực
hiện ở các nước công nghiệp phát triển, do vậy kết quả
này không thể áp dụng cho các khu vực khác[20][21]
Trong một nghiên cứu gần đây tỉ lệ mắc được tìm thấy
là từ 8 đến 13 trường hợp trên 100.000 người trên một
năm và có khoảng 0,3% phù hợp với các tiêu chuẩn chẩn
đoán (chú ý là phù hợp với các tiêu chuẩn chẩn đoán
chưa chắc chắn khẳng định mắc bệnh) Tỉ lệ theo giới
tính là 10% nam giới và 90% nữ giới Những nghiên cứu
này cũng chứng thực rằng căn bệnh này chủ yếu ảnh
hưởng đến phụ nữ trẻ tuổi, với 40% trường hợp là các
bệnh nhân nữ từ 15 đến 19 tuổi[2] êm vào đó phần
lớn các trường hợp không liên hệ với các dịch vụ chăm
sóc sức khỏe tâm thần Điều đặc biệt phải lưu ý là căn
bệnh này không loại trừ một ai, bất cứ lứa tuổi, trình
độ học vấn nào cũng có thể mắc Trong tháng 3 năm
2008 giảng viên đại học 49 tuổi người Anh bà Rosemary
Pope có bằng tiến sĩ tâm lý và có kiến thức tốt về sức
khỏe đã chết bởi bệnh chán ăn tâm thần, tại thời điểm
mất bà chỉ nặng có 30 kg[22]
5.4.1 Tỉ lệ tử vong
Biếng ăn tâm lý là bệnh có tỉ lệ tử vong xấp xỉ 6%, tức
là cứ 100 người mắc bệnh thì có sáu người bị chết, tỉ lệ
này được ghi nhận là cao nhất trong các rối loạn tâm
lý[23] Tỉ lệ tự sát ở bệnh nhân cũng là cao so với cộng
đồng và là nguyên nhân chính dẫn đến cái chết[24]
5.4.2 Tỉ lệ ở một số quốc gia
Những con số thống kê dưới đây là tỉ lệ mắc bệnh được
phát hiện tại một thời điểm tính riêng cho nữ giới, con
số thống kê nguy cơ mắc bệnh thì cao hơn nhiều, chẳng
hạn khả năng trong cuộc đời của mình một phụ nữ ởNa
Uybị mắc chứng chán ăn tâm thần là 5,7% trong khi đó
con số phát hiện tại một thời điểm chỉ là 0,3%[25] Ngoài
ra những số liệu này phần lớn được rút ra từ các mẫu
nghiên cứu từ nhỏ đến trung bình do vậy con số thực tế
(cần phải nghiên cứu trên quy mô rất lớn) có thể khác
5.4.3 Một số người chết vì chán ăn tâm
thần
5.5 Chẩn đoán và các đặc điểm lâm
sàng
Các tiêu chuẩn chẩn đoán của bệnh chán ăn tâm thần
thường dùng bắt nguồn từ Tài liệu ống kê, Chẩn
đoán củaHiệp hội Tâm thần Mỹvề cácRối loạn Tinh
thần(DSM-IV-TR) và Tài liệu Phân loại Bệnh tật ốc
tế củaTổ chức Y tế ế giới(ICD−10).
Mặc dù các kiểm tra sinh lý có thể giúp chẩn đoán biếng
ăn tâm lý nhưng khi chẩn đoán thực sự thì thường cầnkết hợp với các biểu hiện hành vi, niềm tin và các biểuhiện ra bên ngoài cơ thể của bệnh nhân Chẩn đoánchán ăn tâm thần được thực hiện bởi nhà tâm lý họclâm sàng, bác sĩ tâm lý hoặc các y sĩ lâm sàng đủ tiêuchuẩn khác
Tiêu chuẩn chẩn đoán cho chứng chán ăn tâm thầntheoICD-10được trình bày đầy đủ ở liên kết nàyliênkết nàycòn theoDSM-IV-TRthìở đây
Bảng so sánh:
êm vào đó DSM-IV-TR còn chia thêm hai dạng connữa:
• Dạng hạn chế: Trong suốt giai đoạn mắc bệnh
chán ăn tâm thần người bệnh không thường
xuyên có các hành vi ăn quá nhiều hoặc làm trống
dạ dày, tên đầy đủ của bệnh là chán ăn tâm thầndạng hạn chế
• Dạng ăn nhiều hoặc dạng tẩy rửa: Trong thời gian
mắc chứng chán ăn tâm thần người bệnh thường
có hành vi ăn quá nhiều hoặc làm trống dạ dày (cónghĩa là cố tình nôn mửa, tập thể dục quá nặng,lạm dụng thuốc nhuận tràng, lợi tiểu, rửa ruột).Tên đầy đủ của bệnh là chán ăn tâm thần dạng ănnhiều (tẩy rửa)
5.6 Đưa ra chẩn đoán và các tranh cãi
Có những khó khăn trong việc chẩn đoán bệnh chán
ăn tâm thần,ăn ói(đây là một dạng khác của rối loạn
ăn uống, người bệnh ăn nhiều sau đó lại nôn ra để ăntiếp, khác vớiăn vô độăn nhiều nhưng không nôn ra)
và các dạng rối loạn ăn uống khác (ENDOS - eating disorder not otherwise specified) bởi vì có nhiều triệu
chứng chung giữa các bệnh này
êm vào đó, dường như chỉ cần một thay đổi nhỏtrong hành vi và thái độ (như là bệnh nhân nói rằngmình cảm thấy chủ động trong hành vi ăn quá nhiều)thì có thể làm thay đổi chẩn đoán từ bệnh chán ăn tâm
thần dạng ăn nhiều sang bệnh ăn ói (bulimia nervosa).
Điều này dẫn đến tình trạng là một người có thể đượcchẩn đoán nhiều lần khác nhau khi mà hành vi và niềmtin của bệnh nhân thay đổi theo thời gian[6]
Hơn nữa một điều quan trọng cần chú ý là một ngườivẫn có thể phải chịu những nguy cơ đến sức khỏe vàcuộc sống do rối loạn ăn uống dù rằng chỉ một vài triệuchứng vẫn tồn tại Trên thực tế có khá nhiều bệnh nhânđược chẩn đoán là mắc ENDOS thường có tất cả các tiêuchuẩn chẩn đoán cho bệnh chán ăn tâm thần nhưngthiếu mất tiêu chuẩn là không có kinh nguyệt trong 3chu kỳ liên tiếp - một tiêu chuẩn quan trọng cho việcchẩn đoán chán ăn tâm thần đối với phái nữ[2].SusieOrbachvàNaomi Wolfnhững người theo phong trào
Trang 3622 CHƯƠNG 5 CHÁN ĂN TÂM THẦN
nữ quyềnphê phán quan điểm cho rằng việcăn kiêng
và giảm cân là những vấn đề có nguyên nhân từ chính
người phụ nữ mà không chú ý đến yếu tố xã hội đã áp
đặt các khái niệm phi thực tế và có hại cho sức khỏe
về chuẩn mực củacái đẹp(ví dụ như dáng vóc gầy ốm
mới được coi là đẹp), khiến rất ít phụ nữ tự tin vào ngoại
hình của mình
5.7 Điều trị
Bước điều trị đầu tiên cho người mắc chứng chán ăn
tâm thần là tập trung vào việc lấy lại trọng lượng bình
thường, đặc biệt đối với bệnh nhân đã quá nguy hiểm
cần phải nhập viện, còn trong phần lớn trường hợp
người bệnh được đối xử như bệnh nhân ngoại trú với
sự chăm sóc của các bác sĩ thông thường, bác sĩ tâm
thần, nhà tâm lý học lâm sàng và các chuyên gia về sức
khỏe tâm thần khác Một tạp chí lâm sàng gần đây gợi
ý rằng các liệu pháp tâm lý có hiệu quả trong việc khôi
phục lại trọng lượng, có kinh trở lại ở các bệnh nhân
nữ và nâng cao chức năng tâm lý và xã hội hơn so với
các hỗ trợ đơn giản và các chương trình giáo dục đơn
thuần[35] Đồng thời không có trị liệu tâm lý nào tỏ ra
có hiệu quả vượt trội so với các trị trị liệu khác Chữa trị
dựa trên nền tảng gia đình được cho là phù hợp trong
điều trị với các bệnh nhân đang ở độ tuổi thanh niên[36]
Điều trị bằng thuốc như làSSRIhoặcthuốc chống trầm
cảmkhông cho thấy hiệu quả trong điều trị chán ăn tâm
thần[37]cũng như ngăn ngừa tái phát bệnh[38] uốc
chống trầm cảm vẫn được dùng nhưng chỉ cho các
bệnh nhân có các rối loạn tâm lý đi kèm nhưlo âuvà
trầm cảm để ngăn chặn các rối loạn này Sự bổ sung
14 mgkẽmtrên ngày đang được khuyến cáo như điều
trị thông thường cho chứng chán ăn tâm thần vì một
nghiên cứu cho thấy rằng tốc độ tăng trọng lên gấp đôi
sau khi điều trị với kẽm Cơ chế hoạt động của thuốc
được xây dựng trên giả thiết là có sự gia tăng củachất
dẫn truyền thần kinh trong nhiều bộ phận của não
trong đó cóamygdalasau khi kẽm được đưa vào dẫn
đến gia tăng sự ngon miệng[39]
5.8 Cần làm gì khi người thân bị
chán ăn tâm thần
Khi một người bạn hoặc người thân bị biếng ăn tâm lý,
chúng ta có thể giúp đỡ họ bằng cách:
• Nói chuyện với họ, nói cho họ hiểu tại sao chúng
ta lo lắng Hãy cho họ thấy rằng ta đang rất quan
tâm và là chỗ dựa đáng tin cậy
• Khuyến khích họ giãi bày tâm sự, tìm kiếm các tài
liệu liên quan đến bệnh, nhưng cần lưu ý cung cấp
các tài liệu hợp lý tránh làm người bệnh cảm thấy
lo lắng thêm[40]
• úc giục họ đi gặp bác sĩ hoặc nhà tư vấn tâm lý.
• Người chán ăn tâm thần luôn khẳng định là họ
không cần sự giúp đỡ dù trong thực tế họ rất cần.Việc điều trị càng sớm bao nhiêu sẽ càng giúpbệnh nhân mau chóng hồi phục sức khoẻ trở lại
5.9 Xem thêm 5.10 Trợ giúp Y tế
Một số bệnh viện tâm thần lớn trong cả nước, cũng nhưđịa chỉ để có thể liên hệ chữa trị:
• Viện Sức khỏe Tâm thần ốc gia - 78, Giải
Phóng, Phương Mai, ận Đống Đa, TP.Hà Nội,web:http://www.nimh.gov.vn
• Bệnh viện Tâm thần ban ngày Mai Hương - Số 4,
Phố Hồng Mai, ận Hai Bà Trưng - TP.Hà Nội,web:http://www.maihuong.gov.vn
• Khoa Tâm thần, Bệnh viện ân y 103 - nằm trên
đường 70, Hà Đông, TP.Hà Nội
• Bệnh viện Tâm thần Tiền Giang - Xã Nhị Bình,
Huyện Châu ành, Tỉnh Tiền Giang, web:http://www.benhvientamthantg.gov.vn
• Bệnh viện Tâm thần Tp.Hồ Chí Minh - 192 Hàm
Tử, p.1, ận 5, TP.Hồ Chí Minh, web: http://www.bvtt-tphcm.org.vn
• Bệnh viện Tâm thần Trung ương 1 - Xã Hoà Bình,
Huyệnường Tín, TP.Hà Nội
• Bệnh viện Tâm thần Trung ương 2 -Biên Hòa,Đồng Nai, web:http://www.nmh2.gov.vn
Ngoài ra người bệnh có thể nhận tham vấn tâm lý (tư vấn tâm lý) ở các cơ quan, tổ chức có năng lực khác
Trang 375.12 CHÚ THÍCH 23
5.12 Chú thích
[1] “e Numbers Count: Mental Disorders in America”
e National Institute of Mental Health Truy cập ngày
9 tháng 10 năm 2008
[2] Lask B, and Bryant-Waugh, R (eds) (2000) Anorexia
Nervosa and Related Eating Disorders in Childhood and
Adolescence Hove: Psychology Press ISBN
0-86377-804-6
[3] Cảnh báo sau cái chết của người mẫu siêu gầy
[4] Người mẫu siêu gầy cấm hay không cấm
[5] Costin, Carolyn.~ (1999) e Eating Disorder
Sourcebook Linconwood: Lowell House 6
[6] Gowers S, Bryant-Waugh R (2004) Management of
child and adolescent eating disorders: the current
evidence base and future directions J Child Psychol
Psychiatry, 45 (1), 63-83.PMID 14959803
[7] Những câu hỏi thường gặp về chứng chán ăn tâm thần
[8] Tiggemann M and Pickering AS (1996) Role of
television in adolescent women’s body dissatisfaction
and drive for thinness Int J Eat Disord,
Sep;20(2):199-203
[9] Lindberg L, Hjern A (2003) Risk factors for anorexia
nervosa: a national cohort study International Journal
of Eating Disorders, 34 (4), 397-408.PMID 14566927
[10] Garner DM, Garfinkel PE (1980) Socio-cultural factors
in the development of anorexia nervosa Psychol Med,
10 (4), 647-56.PMID 7208724
[11] Toro J, Salamero M, Martinez E (1994) Assessment
of sociocultural influences on the aesthetic body
shape model in anorexia nervosa Acta Psychiatrica
Scandinavica, 89 (3), 147-51.PMID 8178671
[12] Simpson KJ (2002) Anorexia Nervosa and culture J
Psychiatr Ment Health Nurs, 9 (1), 65-71.PMID 11896858
[13] Carter JC, Bewell C, Blackmore E, Woodside DB (2006)
e impact of childhood sexual abuse in anorexia
nervosa Child Abuse Negl, 30 (3), 257-69. PMID
16524628
[14] Norris ML, Boydell KM, Pinhas L, Katzman DK
(2006) Ana and the internet: A review of pro-anorexia
websites International Journal of Eating Disorders,
39(6):443-7.PMID 16721839
[15] Reaves, J (2001).Anorexia goes high tech Time (July).
Truy cập16 tháng 4năm2007
[16] Klump KL, Kaye WH, Strober M (2001) e evolving
genetic foundations of eating disorders Psychiatr Clin
North Am, 24 (2), 215-25.PMID 11416922
[17] Wade TD, Bulik CM, Neale M, Kendler KS (2000)
Anorexia nervosa and major depression: shared genetic
and environmental risk factors Am J Psychiatry, 157 (3),
469-71.PMID 10698830
[18] Urwin, R.E., Bennes, B., Wilcken, B et al (2002)
“Anorexia nervosa (restrictive subtype) is associatedwith a polymorphism in the novel norepinephrinetransporter gene promoter polymorphic region,”
Molecular Psychiatry, 7(6), 652–657.
[19] Shay NF, Mangian HF (tháng 5 năm 2000)
“Neurobiology of zinc-influenced eating behavior” e
Journal of nutrition 130 (5S Suppl): 1493S–9S. PMID
10801965.[20] Bulik CM, Reba L, Siega-Riz AM, Reichborn-Kjennerud
T (2005) Anorexia nervosa: definition, epidemiology,
and cycle of risk Int J Eat Disord, 37 Suppl, S2-9.PMID
15852310.[21] Hoek HW (2006) Incidence, prevalence and mortality of
anorexia nervosa and other eating disorders Curr Opin
Psychiatry., 19 (4), 389-94.PMID 16721169.[22] “Professor, 49, died from anorexia” BBC Ngày 22 tháng
4 năm 2008 Truy cập ngày 23 tháng 4 năm 2008.[23] Herzog, David B; Greenwood, Dara N; Dorer,David J; Flores, Andrea T; Ekeblad, Elizabeth R;Richards, Ana; Blais, Mark A; Keller, Martin B (2000),
“Mortality in eating disorders: A descriptive study”,
International Journal of Eating Disorders 28 (1): 20–26,
doi:EAT3>3.0.CO;2-X
10.1002/(SICI)1098-108X(200007)28:1<20::AID-[24] Pompili, M; Mancinelli, I; Girardi, P; Ruberto, A;Tatarelli, R (2004), “Suicide in anorexia nervosa: A meta-
analysis”, International Journal of Eating Disorders (John
Wiley) 36 (1): 99–103,doi:10.1002/eat.20011
[25] Götestam, K G; Eriksen, L; Hagen, H (1995) Generalpopulation-based epidemiological study of eatingdisorders in Norway e International journal ofeating disorders (Wiley)
[26] Chán ăn tâm thần, thông tin từ trang emedicine
[27] National Institute of Mental Health NationalComorbidity Survey (NCS) and National ComorbiditySurvey Replication (NCS-R) Collaborative PsychiatricEpidemiology Surveys Available at Truy cập 30 tháng
10 năm 2007
[28] Rooney B, McClelland L, Crisp AH, Sedgwick PM.(1995) e incidence and prevalence of anorexianervosa in three suburban health districts in south westLondon, U.K Int J Eat Disord
[29] Russell Viner, Robert Booy (febbraio 2005) ABC ofadolescence Epidemiology of health and illness BMJ330: 411–414
[30] Nakamura K, Yamamoto M, Yamazaki O, Kawashima Y,Muto K, Someya T, Sakurai K, Nozoe S (seembre 2000).Prevalence of anorexia nervosa and bulimia nervosa in
a geographically defined area in Japan Int J Eat Disord.28: 173-180
[31] Si traava di uno studio comparato anche sulla bulimianervosa che invece risultava presente anche se inpiccola percentuale Mancilla-Diaz JM, Franco-Paredes
Trang 3824 CHƯƠNG 5 CHÁN ĂN TÂM THẦN
K, Vazquez-Arevalo R, Lopez-Aguilar X, Alvarez-Rayon
GL, Tellez-Giron MT (seembre 2007) A two-stage
epidemiologic study on prevalence of eating disorders
in female university students in Mexico Eur Eat Disord
Rev 15: 463-470
[32] Kovács T (2007) Prevalence of eating disorders in the
cultural context of the Romanian majority and the
Hungarian minority in Romania Psychiatr Hung 22:
390-396
[33] l'aumento rispeo al passato dove la percentale era lo
0% è dovuta ad una espozione della popolazione alla
cultura del mondo occidentaleEddy KT, Hennessey M,
ompson-Brenner H (marzo 2007) Eating pathology
in East African women: the role of media exposure and
globalization J Nerv Ment Dis 195: 196-202
[34] “e prevalence of eating disorders and weight‐control
metho…: ingentaconnect” Truy cập 12 tháng 2 năm
2015
[35] Hay P, Bacaltchuk J, Claudino A, Ben-Tovim D, Yong
PY (2003) Individual psychotherapy in the outpatient
treatment of adults with anorexia nervosa Cochrane
Database Syst Rev, 4, CD003909.PMID 14583998
[36] Lock J, Le Grange D (2005) Family-based treatment of
eating disorders Int J Eat Disord, 37 Suppl, S64-7.PMID
15852323
[37] Claudino AM, Hay P, Lima MS, Bacaltchuk J, Schmidt
U, Treasure J (2006) Antidepressants for anorexia
nervosa Cochrane Database Syst Rev, 1, CD004365.
PMID 16437485
[38] Walsh BT, Kaplan AS, Aia E, Olmsted M, Parides
M, Carter JC, Pike KM, Devlin MJ, Woodside B,
Roberto CA, Rockert W (2006) Fluoxetine aer
weight restoration in anorexia nervosa: a randomized
controlled trial JAMA, 295(22), 2605-12. PMID
16772623
[39] Birmingham CL, Gritzner S (2006) How does zinc
supplementation benefit anorexia nervosa? Eating and
Weight Disorders, 11 (4), e109-111.PMID 17272939
[40] Rối loạn ăn uống thông tin từ trang mentalhealth.org.uk
Trang 39Chương 6
Chứng bắt thế
Chứng bắt thế hay là Chứng giữ nguyên thế (tiếng
Anh là Catalepsy, từtiếng Hy Lạpκατάληψις “bắt”) là
một trạng thái thần kinh đặc trưng bởi sự cứng cơ và tư
thế bất động bất kể kích thích từ bên ngoài cũng như
sự giảm cảm giác đau.[1]Người bị chứng này vẫn hoàn
toàn tỉnh táo và nhận biết được các hiện tượng xung
quanh nhưng không phản ứng được, do đó nó giống
nhưbóng đènhưng không xảy ra trong khingủ Nó
cũng không nhất thiết bao gồmliệttoàn thân làbệnh
mãn tínhdo tổn thương thần kinh
6.1 Nguyên nhân
Chứng bắt thế là triệu chứng của một số rối loạn
thần kinhhoặc các bệnh nhưParkinsonvàđộng kinh
Nó cũng là một triệu chứng đặc trưng khi cai nghiện
côcain Việc điều trịbệnh tâm thầnbằng thuốc kháng
loạn thần (Antipsychotic) (như khi bị tâm thần phân
liệt) cũng có thể gây ra chứng này,[2] chẳng hạn như
haloperidol,[3] và ketamine gây tê.[4] Trong một vài
trường hợp, mộc cú sốc cảm xúc rất mạnh có thể dẫn
đến bắt thế cục bộ – một ví dụ nổi tiếng là phản ứng
của kỷ lục gia Olympic 1968 môn nhảy xaBob Beamon
khi biết ông đã vượt kỉ lục thế giới trước đó đến hơn 0,5
mét.[5]Có người đề xuất rằngProtein kinase Alà chất
trung gian của hiện tượng bắt thế.[6] Những nguyên
nhân khác bao gồm các thuốc ngăn tái hấp thụ các chất
truyền dẫn thần kinh dòng ađrênalin như làReserpine
6.2 Triệu chứng
Các triệu chứng bao gồm: cứng người, cứng chi, chi giữ
nguyên vị trí khi được di chuyển, không phản xạ, mất
kiểm soát cơ, chậm các chức năng của cơ thể, ví dụ như
hô hấp.[7]
6.3 Các trường hợp trong lịch sử
Anne Carter Lee, mẹ của tướng quân miền nam Robert
E Lee, bị bùa bắt thế và bị mất ý thức và liệt rung
Chuyện kể rằng người ta tưởng bà đã chết do bùa chú và
chôn bà trong khu đất của gia đình ở Virginia Sau đó,khi nghe thấy tiếng động, một người hầu đã để ý và bàđược đào lên, còn sống nhưng hoảng loạn Chuyện nàyđược cho là xảy ra năm 1806, một năm sau khi Robert E.Lee ra đời Đây là giai thoại đáng sợ tuy nhiên hầu nhưchắc chắn là sai Không có ghi chép chính thức nào về
nó và tiểu sử của Robert E Lee cũng như của cha ông,Henry, không có lời nào ám chỉ đế nó
2779883.PMID 17660489.doi:10.1093/schbul/sbm087.[3] Haori K, Uchino S, Isosaka T và đồng nghiệp (tháng
3 năm 2006).“Fyn is required for haloperidol-inducedcatalepsy in mice” J Biol Chem 281 (11): 7129–35.
PMID 16407246.doi:10.1074/jbc.M511608200
[4] Miller, Ronald (2005) Miller’s Anesthesia New York:
Elsevier/Churchill Livingstone.ISBN 0-443-06656-6.[5] Great Olympic Moments - Sir Steve Redgrave, 2011
[6] Adams MR, Brandon EP, Chartoff EH, Idzerda RL,Dorsa DM, McKnight GS (tháng 10 năm 1997).“Loss ofhaloperidol induced gene expression and catalepsy inprotein kinase A-deficient mice” Proc Natl Acad Sci.
U.S.A 94 (22): 12157–61. PMC 23735 PMID 9342379
doi:10.1073/pnas.94.22.12157.[7] Sanberg PR, Bunsey MD, Giordano M, Norman AB(tháng 10 năm 1988) “e catalepsy test: its upsand downs” Behav Neurosci 102 (5): 748–59. PMID
2904271.doi:10.1037/0735-7044.102.5.748
25
Trang 40Chương 7
Chứng cuồng dâm
Chứng cuồng dâm (tiếng Anh: hypersexuality) là tình
trạng ham muốn tình dục cao độ[1]đến mức được coi làkhông bình thường và nghiêm trọng về mặt lâm sàng.Những người bị rối loạn cảm xúc lưỡng cực (chứng
hưng trầm cảm - bipolar disorder) có thể thường biểu
hiện sự thay đổi động lực tình dục một cách dữ dội tùythuộc vào tâm trạng Cuồng dâm có thể thấy ở nhữnggiai đoạn củachứng cuồnghoặcchứng hưng cảm.Những điều kiện như bệnh Alzheimer,[2] nhiều loạitổn thương não,[3]hội chứng Klüver-Bucy,[4]hội chứngKleine–Levin[5] và nhiều bệnh thoái hóa thần kinh cóthể gây ra biểu hiện cuồng dâm
7.1 Tham khảo
[1] "hypersexuality" tạiTừ điển Y học Dorland
[2] Dhikav, V., Anand, K., & Aggarwal, N (2007) Grosslydisinhibited sexual behavior in dementia of Alzheimer’stype.Archives of Sexual Behavior , 36, 133-134.
[3] “Hypersexuality or altered sexual preference followingbrain injury.” PubMed Central (PMC) Truy cập 24tháng 9 năm 2015
[4] National Institute of Neurological Disorders and Stroke
“NINDS Klüver-Bucy Syndrome Information Page”.Truy cập ngày 10 tháng 10 năm 2009
[5] I Arnulf, J M Zeitzer, J File, N Farber, E Mignot
“Kleine-Levin syndrome: a systematic review of 186cases in the literature” Truy cập ngày 10 tháng 10 năm2009
7.2 Liên kết ngoài
• e National Institute of Neurological Disordersand Stroke - Kluver-Bucy Syndrome
26