1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Đánh giá thực trạng công tác quản lý chất thải y tế tại các bệnh viện tuyến trung ương

105 221 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 105
Dung lượng 1,39 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Theo số liệu từ Báo cáo quản lý các nguy cơ môi trường của dự án hỗ trợ xử lý chất thải BV cho thấy năm 2010 Việt Nam có 1.186 BV với tổng số giường bệnh là 18.743 giường và khối lượng C

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN

-

Phạm Thị Quỳnh Trang

ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG CÔNG TÁC QUẢN LÝ CHẤT THẢI Y TẾ TẠI MỘT SỐ BỆNH VIỆN TUYẾN TRUNG ƯƠNG

LUẬN VĂN THẠC SĨ

Hà Nội – 2016

Trang 2

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN

-

Phạm Thị Quỳnh Trang

ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG CÔNG TÁC QUẢN LÝ CHẤT THẢI Y TẾ

TẠI MỘT SỐ BỆNH VIỆN TUYẾN TRUNG ƯƠNG

Chuyên ngành: Khoa học môi trường

LUẬN VĂN THẠC SĨ

NGƯỜI HƯỚNG DẪN: PGS TS Nguyễn Mạnh Khải

XÁC NHẬN HỌC VIÊN ĐÃ CHỈNH SỬA THEO GÓP Ý CỦA HỘI ĐỒNG Giáo viên hướng dẫn Chủ tịch hội đồng chấm luận văn

thạc sĩ khoa học

PGS.TS NGUYỄN MẠNH KHẢI PGS.TSKH NGUYỄN XUÂN HẢI

Hà Nội – 2016

Trang 3

môi trường đang được hoàn thành, tận đáy lòng mình, tôi xin bày tỏ lòng cảm ơn

sâu sắc tới các thầy, cô giáo Trường đại học Khoa học tự nhiên, Đại học Quốc gia

Hà Nội đã tận tình giảng dạy, hướng dẫn, giúp đỡ tôi hoàn thành chương trình học

tập và hỗ trợ tôi trong quá trình thực hiện đề tài nghiên cứu

Với tất cả tình cảm sâu sắc nhất, tôi xin bày tỏ lòng cảm ơn tới thầy hướng

dẫn PGS TS Nguyễn Mạnh Khải, người đã giúp đỡ tôi từ khi xác định vấn đề

nghiên cứu, viết đề cương, chia sẻ thông tin và hoàn thành luận văn này Cùng với

sự tận tình trong giảng dạy của các thầy, cô đã giúp tôi có được những kiến thức,

kinh nghiệm qúy báu trong nghiên cứu khoa học

Tôi xin bày tỏ lòng cảm ơn sâu sắc tới Cục Quản lý môi trường y tế và Dự án

Hỗ trợ xử lý chất thải bệnh viện của Bộ Y tế, các khoa phòng, đặc biệt Phòng Môi

trường cơ sở y tế - nơi tôi đang công tác, đã tạo điều kiện giúp đỡ, cung cấp số

liệu, góp ý, hướng dẫn và tham gia vào nghiên cứu này

Xin cảm ơn các bậc sinh thành, chồng và những người thân trong gia đình

tôi đã chịu nhiều hy sinh, vất vả, luôn động viên tôi trong suốt quá trình học tập và

phấn đấu

Xin cảm ơn tất cả các bạn đồng môn trong lớp cao học K22 đã cùng nhau

chia sẻ kinh nghiệm và giúp đỡ tôi trong 2 năm học qua

Cuối cùng, với những kết quả trong nghiên cứu này, tôi xin chia sẻ với tất cả

các bạn đồng nghiệp nhất là những ai quan tâm đến lĩnh vực này

Một lần nữa tôi xin trân trọng cảm ơn!

Hà Nội, ngày 06 tháng 12 năm 2016

Tác giả

Trang 4

MỤC LỤC

MỤC LỤC 1

DANH MỤC CÁC BẢNG 4

BẢNG KÝ HIỆU CÁC CHỮ VIẾT TẮT 5

MỞ ĐẦU 1

Chương 1 - TỔNG QUAN 3

1.1 Quản lý chất thải y tế 3

1.1.1 Các khái niệm 3

1.1.2 Phân loại chất thải y tế 4

1.1.3 Các Văn bản quy phạm pháp luật về quản lý chất thải y tế tại Việt Nam 6 1.1.4 Quản lý CTRYT theo Quyết định số 43/2007/BYT 8

1.1.5 Quản lý CTRYT theo Thông tư liên tịch số 58/2015/TTLT-BYT-BTNMT 12

1.1.6 Những nguy cơ của chất thải y tế đối với sức khỏe con người 14

1.1.7 Các phương pháp xử lý CTRYT 17

1.2 Thực trạng quản lý chất thải rắn y tế trên Thế giới 20

1.3 Các nghiên cứu về quản lý chất thải rắn y tế tại Việt Nam 22

1.3.1 Các nghiên cứu quản lý chung về chất thải rắn y tế 22

1.3.2 Các nghiên cứu về kiến thức, thực hành trong quản lý CTRYT 26

1.4 Quản lý nước thải y tế tại Việt Nam 27

1.4.1 Khái niệm về nước thải y tế 27

1.4.2 Khối lượng phát sinh nước thải y tế 27

1.4.3 Các phương pháp xử lý nước thải y tế 28

Trang 5

1.5 Những yếu tố ảnh hưởng đến thực trạng quản lý chất thải y tế 33

1.5.1 Trên Thế giới 33

1.5.2 Tại Việt Nam 34

Chương 2 – PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 36

2.1 Đối tượng nghiên cứu 36

2.2 Thời gian và địa điểm nghiên cứu 36

2.3 Phương pháp nghiên cứu 36

2.3.1 Thiết kế nghiên cứu 36

2.3.2 Cỡ mẫu 36

2.4 Phương pháp thu thập số liệu 37

2.5 Xử lý và phân tích số liệu 39

2.6 Các biến số nghiên cứu và các khái niệm, thước đo 39

Chương 3 – KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ BÀN LUẬN 46

3.1 Thực trạng công tác quản lý chất thải y tế 46

3.2 Một số yếu tố ảnh hưởng đến công tác quản lý chất thải y tế 63

3.2.1 Yếu tố kinh phí và sự quan tâm của lãnh đạo bệnh viện 63

3.2.2 Ảnh hưởng của các văn bản quy phạm pháp luật về bảo vệ môi trường trong công tác quản lý chất thải y tế 64

3.2.3 Tập huấn, đào tạo về công tác quản lý chất thải y tế cho nhân viên y tế 65 3.2.4 Công tác kiểm tra, giám sát thực hiện quản lý chất thải y tế 66

3.2.5 Chính sách đãi ngộ, lương thưởng trong quản lý chất thải y tế 67

3.3 Đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả trong công tác quản lý chất thải y tế tại các Bệnh viện tuyến Trung ương 67

3.3.1 Giải pháp cơ chế, chính sách 67

Trang 6

3.3.2 Giải pháp kỹ thuật 68

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 73

KẾT LUẬN 73

KIẾN NGHỊ 74

Trang 7

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 1: Những nguy cơ của chất thải nhiễm khuẩn [18] 15

Bảng 2: Nguy cơ của chất thải sắc nhọn [42] 16

Bảng 3: Lượng chất thải phát sinh tại các nước trên thế giới [48] 22

Bảng 4: Lượng chất thải phát sinh tại các tuyến bệnh viện trên thế giới [48] 22

Bảng 5: Lượng chất thải phát sinh tại các tuyến bệnh viện Việt Nam 24

Bảng 6: Phương pháp thu thập số liệu 37

Bảng 7: Các thông số hành chính của các Bệnh viện trong nghiên cứu 46

Bảng 8: Khối lượng CTRYT phát sinh hàng ngày tại bệnh viện trong năm 2016 47

Bảng 9: Thực hiện các quy định hành chính trong quản lý chất thải rắn 48

Bảng 10: Thực trạng phân loại chất thải rắn y tế tại nơi phát sinh 50

Bảng 11: Thực trạng thu gom chất thải rắn 53

Bảng 12: Thực trạng lưu giữ chất thải rắn y tế 55

Bảng 13: Thực trạng vận chuyển chất thải rắn 57

Bảng 14: Đánh giá hoạt động vận chuyển CTYT ra ngoài bệnh viện 58

Bảng 15: Khối lượng CTLYT phát sinh hàng ngày 60

tại bệnh viện trong năm 2016 60

Bảng 16: Chất lượng nước thải y tế các BV sau xử lý 61

Bảng 17: Thành phần chất thải y tế [50] ……….69

Bảng 18: Sản lượng năng lượng từ chất thải y tế 71

Trang 8

QLCTYT Quản lý chất thải y tế

ĐTNC Đối tượng nghiên cứu

ĐTPV Đối tượng phát vấn

HBV Hepatitis B virus (Vi rút viêm gan B)

HCV Hepatitis C virus (Vi rút viêm gan C)

HIV Human Immunodeficiency Virus (Vi rút gây suy giảm miễn

dịch ở người) NVYT Nhân viên y tế

KSNK Kiểm soát nhiễm khuẩn

IPCS Chương trình toàn cầu về an toàn hóa chất

IRTPC Tổ chức đang ký toàn cầu về hóa chất độc tiềm tàng

QLCTYT Quản lý chất thải y tế

WHO World Health Organization (Tổ chức Y tế Thế giới)

Trang 9

MỞ ĐẦU

Trong những năm gần đây, hệ thống y tế Việt Nam đã có nhiều chuyển đổi tiến bộ, các cơ sở y tế đã được củng cố và phát triển cả về số lượng và chất lượng Tuy nhiên, sự phát triển của các cơ sở, dịch vụ khám chữa bệnh một mặt đem lại lợi ích trong việc chăm sóc sức khỏe con người tuy nhiên việc kiểm soát xử lý chất thải

từ các cơ sở y tế đang là một vấn đề cần quan tâm Bên cạnh việc chứa các yếu tố hóa chất độc hại, chất thải y tế tiềm tàng một mối nguy cơ lây nhiễm cũng như gây thương tích lớn nếu như không được quản lý đúng cách Theo số liệu từ Báo cáo quản lý các nguy cơ môi trường của dự án hỗ trợ xử lý chất thải BV cho thấy năm

2010 Việt Nam có 1.186 BV với tổng số giường bệnh là 18.743 giường và khối lượng CTYT phát sinh tại các cơ sở y tế trung bình khoảng 350 tấn/ngày trong đó chất thải y tế nguy hại (CTYTNH) là 40 tấn/ngày

Các bệnh viện khi hoạt động đều tạo ra chất thải, ngoài chất thải dạng lỏng, chất thải dạng khí thì còn chất thải rắn, một loại chất thải đặc thù khác với các xí nghiệp hay nhà máy mà chỉ trong bệnh viện mới có, đó là bơm tiêm, kim tiêm, bông, gạc…các vật tư qua sử dụng nhưng dính dịch tiết, dính máu của người bệnh Các nghiên cứu dịch tễ học trên thế giới đã chứng minh, quản lý chất thải rắn y tế không đúng cách sẽ gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe con người, cộng đồng dân cư và gây ô nhiễm môi trường

Trong chất thải rắn y tế thường chứa một lượng lớn các vi sinh vật gây bệnh truyền nhiễm, các tác nhân gây bệnh này có thể xâm nhập vào cơ thể con người thông qua các con đường lây nhiễm như qua da (do trầy xước, tổn thương), qua niêm mạc (do giọt bắn), qua đường hô hấp hoặc qua đường tiêu hoá Các chất thải

là vật sắc nhọn còn có khả năng vừa gây tổn thương do đâm xuyên, vừa có khả năng lây truyền các bệnh truyền nhiễm cho các đối tượng phơi nhiễm Các nghiên cứu đã cho thấy t lệ nguy cơ lây nhiễm HBV khi bị tổn thương do kim tiêm là

30 , HCV là 1,8 và HIV là 0,3 Hiện nay xử lý chất thải chưa được quan tâm đúng mức Ở nhiều quốc gia trên thế giới, chất thải y tế kể cả chất thải y tế nguy hại

Trang 10

vẫn được xử lý chung với các chất thải thông thường gây nên các nguy cơ sức kho đối với con người và môi trường xung quanh Kết quả đánh giá của tổ chức y tế thế giới (WHO) năm 2002 được tiến hành tại 22 nước đang phát triển cho thấy: 18 –

64 các cơ sở y tế không sử dụng các phương pháp xử lý chất thải y tế thích hợp

Tại Việt Nam, theo báo cáo của Cục Quản lý môi trường y tế – Bộ Y tế năm

2010, hiện nay bình quân mỗi ngày các cơ sở y tế trên cả nước thải ra khoảng 380 tấn chất thải rắn, trong đó có khoảng 45 tấn là chất thải rắn y tế nguy hại Năm

2015, lượng chất thải này tăng lên gần gấp đôi, khoảng 600 tấn/ngày và dự kiến đến năm 2020 là khoảng 800 tấn/ngày Tuy vậy, hiện mới có khoảng 44 các bệnh viện

có hệ thống xử lý chất thải y tế trong số đó nhiều hệ thống xử lý đã xuống cấp nghiêm trọng T lệ các bệnh viện tuyến Trung ương chưa có hệ thống xử lý chất thải y tế là 25 , tuyến tỉnh là gần 50 và ở bệnh viện tuyến huyện là trên 60%

Để khắc phục thực trạng trên và để đảm bảo thực hiện đúng luật bảo vệ môi trường, ngày 30 tháng 11 năm 2007, Bộ Y tế đã ban hành Quyết định 43/2007/QĐ-BYT về Quy chế quản lý chất thải y tế Quy chế này được áp dụng đối với tất cả các cơ sở khám, chữa bệnh, nhà hộ sinh, trạm y tế, các bệnh viện và các cá nhân tham gia vận chuyển, xử lý, tiêu hủy chất thải y tế Hiện nay, thay thế cho QĐ 43/2007 là thông

tư liên tịch số 58/2015/TTLT-BYT-BTNMT của Bộ Y tế và Bộ Tài nguyên và Môi trường quy định về quản lý CTYT Đây là văn bản cập nhật nhất và sẽ được sử dụng trong nghiên cứu này để đánh giá công tác QLCTYT Do chưa có nghiên cứu nào được thực hiện về việc đánh giá tình hình quản lý chất thải y tế theo văn bản mới của Bộ Y tế và Bộ Tài nguyên và Môi trường nên nghiên cứu này được thực hiện trên Bệnh viện Mắt Trung ương, Bệnh viện Châm cứu Trung ương, Bệnh viện Tai Mũi Họng Trung ương nhằm đưa ra các điểm mạnh và hạn chế của các bệnh viện để từ đó đề xuất các biện pháp quản lý chất thải y tế phù hợp cho các bệnh viện theo nội dung cập nhật tại văn bản nêu trên

Trang 11

Chương 1 - TỔNG QUAN 1.1 Quản lý chất thải y tế

ăn mòn hoặc có tính nguy hại khác nếu những chất thải này không được tiêu hủy an toàn [5]

Chất thải y tế thông thường là chất thải không chứa các yếu tố lây nhiễm, hoá học nguy hại, phóng xạ, dễ cháy, nổ

Chất thải y tế nằm trong Danh mục A của danh mục chất thải nguy hại và có

mã số A4020-Y1 [2]

Việc quản lý chất thải y tế cần tuân thủ các quy định có liên quan đến quản

lý chất thải nguy hại nói chung và quản lý chất thải y tế nói riêng [4]

Quản lý chất thải y tế là hoạt động quản lý việc phân loại, xử lý ban đầu, thu gom, vận chuyển, lưu giữ, giảm thiểu, tái sử dụng, tái chế, xử lý, tiêu hu chất thải

y tế và kiểm tra, giám sát việc thực hiện

Thu gom chất thải tại nơi phát sinh là quá trình phân loại, tập hợp, đóng gói

và lưu giữ tạm thời chất thải tại địa điểm phát sinh chất thải trong cơ sở y tế

Vận chuyển chất thải là quá trình chuyên chở chất thải từ nơi phát sinh, tới nơi xử lý ban đầu, lưu giữ, tiêu hu

Xử lý ban đầu là quá trình khử khuẩn hoặc tiệt khuẩn các chất thải có nguy

cơ lây nhiễm cao tại nơi chất thải phát sinh trước khi vận chuyển tới nơi lưu giữ hoặc tiêu hu

Trang 12

Xử lý và tiêu hủy chất thải là quá trình sử dụng các công nghệ nhằm làm mất khả năng gây nguy hại của chất thải đối với sức kho của con người và môi trường

Cơ sở y tế bao gồm: cơ sở khám bệnh, chữa bệnh (trừ phòng khám bác sĩ gia đình; phòng chẩn trị y học cổ truyền; cơ sở dịch vụ đếm mạch, đo nhiệt độ, đo huyết áp; chăm sóc sức khỏe tại nhà; cơ sở dịch vụ hỗ trợ vận chuyển người bệnh trong nước và ra nước ngoài; cơ sở dịch vụ kính thuốc; cơ sở dịch vụ làm răng giả; bệnh xá; y tế cơ quan, đơn vị, tổ chức); cơ sở y tế dự phòng; cơ sở đào tạo và cơ sở nghiên cứu có thực hiện các xét nghiệm về y học

1.1.2 Phân loại chất thải y tế

1.1.2.1 Phân loại chất thải y tế theo Tổ chức Y tế Thế giới (WHO)

Theo WHO, chất thải y tế được phân thành 8 loại [48]:

- Chất thải nhiễm trùng

Là chất thải có chứa mầm bệnh như vi khuẩn, vi rút, ký sinh trùng với số lượng đủ

để gây bệnh cho những người dễ bị cảm nhiễm, bao gồm các loại:

+ Môi trường nuôi cấy từ phòng thí nghiệm

+ Chất thải từ phòng mổ, nhất là phòng mổ tử thi và bệnh nhân bị nhiễm trùng + Chất thải từ phòng cách ly bệnh nhân bị nhiễm trùng

+ Súc vật được tiêm, truyền trong phòng thí nghiệm

+ Dụng cụ hoặc vật tiếp xúc với bệnh nhân bị truyền nhiễm

- Chất thải sắc nhọn

Là chất thải có thể làm rách hoặc tổn thương da bao gồm: bơm kim tiêm, dao mổ,

bộ tiêm truyền

- Thuốc thải loại

Là thuốc quá hạn, thuốc không dùng hoặc các loại vaccin, huyết thanh, kể cả chai,

lọ đựng chúng

- Chất thải có tính độc với tế bào

Là chất thải có thể làm biến đổi gen, gây quái thai như các chất chống ung thư

- Hóa chất

Trang 13

Có thể dưới dạng rắn, lỏng hoặc khí, bao gồm:

- Các bình chứa khí nén: được dùng trong y tế dưới dạng khí như oxy, khí gây mê

- Chất phóng xạ: không thể phát hiện bằng các giác quan, chúng thường gây ảnh

hưởng lâu dài (gây ion hóa tế bào) như tia X, tia α, tia β [49]

1.1.2.2 Phân loại theo Quy chế quản lý chất thải y tế của Bộ Y tế

Bao gồm 5 loại:

 Chất thải lây nhiễm

+ Chất thải sắc nhọn (loại A): là chất thải có thể gây ra các vết cắt hoặc chọc thủng,

có thể nhiễm khuẩn, bao gồm: bơm kim tiêm, đầu sắc nhọn của dây truyền, lưỡi dao

mổ, đinh mổ, cưa, các ống tiêm, mảnh thủy tinh vỡ và các vật sắc nhọn khác sử dụng trong các loại hoạt động y tế

+ Chất thải lây nhiễm không sắc nhọn (loại B): là chất thải có thấm máu, thấm dịch sinh học của cơ thể và các chất thải phát sinh từ buồng bệnh cách ly

+ Chất thải có nguy cơ lây nhiễm cao (loại C): là chất thải phát sinh trong các phòng xét nghiệm như bệnh phẩm và dụng cụ đựng, dính bệnh phẩm

+ Chất thải giải phẫu (loại D): bao gồm các mô, cơ quan, bộ phận cơ thể người; rau thai, bào thai và xác động vật thí nghiệm

 Chất thải hóa học nguy hại

+ Dược phẩm quá hạn, kém phẩm chất không còn khả năng sử dụng

+ Chất hóa học nguy hại sử dụng trong y tế

+ Chất gây độc tế bào, gồm: vỏ các chai thuốc, lọ thuốc, các dụng cụ dính thuốc gây độc tế bào và các chất tiết của ngưới bệnh được điều trị bằng hóa trị liệu

Trang 14

+ Chất thải kim loại nặng: Thủy ngân (từ nhiệt kế, huyết áp kế thủy ngân bị vỡ, chất thải từ hoạt động nha khoa), Cadimi (từ pin ắc quy), Chì (từ tấm gỗ bọc chì hoặc vật liệu tráng chì sử dụng trong ngăn tia xạ từ các khoa chẩn đoán hình ảnh, xạ trị)

 Chất thải thông thường

Là chất thải không chứa các yếu tố lây nhiễm, hóa học nguy hại, phóng xạ, dễ cháy

nổ bao gồm:

+ Chất thải sinh hoạt phát sinh từ các buồng bệnh

+ Chất thải phát sinh từ các hoạt động chuyên môn y tế như các chai, lọ thủy tinh, chai huyết thanh, các vật liệu nhựa, các loại bột bó trong gẫy xương kín Những chất thải này không dính máu, dịch sinh học và các chất hóa học nguy hại

+ Chất thải phát sinh từ các công việc hành chính: giấy, báo, tài liệu, vật liệu đóng gói, thùng các tông, túi nilon, túi đựng phim

+ Chất thải ngoại cảnh: lá cây và rác từ các khu vực ngoại cảnh [5]

1.1.3 Các Văn bản quy phạm pháp luật về quản lý chất thải y tế tại Việt Nam

Cùng với công tác khám chữa bệnh, công tác quản lý CTRYT được nhà nước quan tâm thông qua các điều luật, các quyết định, thông tư hướng dẫn về quản lý CTYT, đặc biệt từ năm 2007 đến nay có một số văn bản sau:

- Quyết định 43/2007/QĐ-BYT ngày 30/11/2007 của BYT về Quy chế quản lý chất thải y tế: quy định chi tiết các nhóm CTRYT, các phương tiện, dụng cụ để phân loại, thu gom, vận chuyển, lưu giữ và xử lý CTRYT [5]

- Công văn số 7164/BYT-KCB ngày 20/10/2008 của Bộ trưởng BYT chỉ đạo tăng

Trang 15

cường triển khai thực hiện quản lý và xử lý chất thải y tế [6]

- Thông tư 18/2009/TT-BYT ngày 14/10/2009 của BYT “Hướng dẫn tổ chức thực hiện công tác kiểm soát nhiễm khuẩn trong các cơ sở khám bệnh, chữa bệnh”: Trang bị đầy đủ phương tiện vệ sinh môi trường thích hợp và chuyên dụng, tổ chức thực hiện việc quản lý chất thải y tế theo đúng quy định, có cơ sở hạ tầng đảm bảo

xử lý an toàn chất thải rắn theo quy định về quản lý CTRYT [7]

- Quyết định 2149/2009/QĐ-TTg ngày 17/12/2009 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Chiến lược quốc gia về quản lý tổng hợp chất thải rắn đến năm 2025, tầm nhìn đến 2050: Phân công BYT chịu trách nhiệm tăng cường công tác kiểm tra, giám sát các cơ sở y tế thực hiện nghiêm túc quy định về quản lý CTYT trên toàn quốc [37]

- Quyết định số 2038/2011/QĐ-TTg ngày 15/11/2011 về việc phê duyệt Đề án tổng thể xử lý chất thải y tế giai đoạn 2011 - 2015 và định hướng đến năm 2020: 100% các cơ sở y tế tuyến Trung ương và tuyến tỉnh, 70% các cơ sở y tế tuyến huyện và 100 các cơ sở y tế tư nhân thực hiện xử lý chất thải rắn bảo đảm tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về môi trường [38]

- Quyết định số 170/2012/QĐ - TTg ngày 8/2/2012 về việc phê duyệt Quy hoạch tổng thể hệ thống xử lý CTRYT nguy hại đến năm 2025: 100 lượng CTRYT nguy hại tại các cơ sở y tế được thu gom, phân loại và vận chuyển đến các cơ sở

xử lý, trong đó 70 lượng CTRYT nguy hại được xử lý đảm bảo các tiêu chuẩn

về môi trường [39]

- Thông tư số 31/2013/ TT-BYT Quy định về quan trắc tác động môi trường từ hoạt động khám bệnh, chữa bệnh của bệnh viện Trong đó có nội dung về quan trắc CTRYT gồm nguồn phát thải, tên, số lượng, thành phần và phương pháp phân loại, thu gom, xử lý CT [8]

Trang 16

- Nghị định số 179/2013/NĐ-CP Quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực bảo vệ môi trường Theo đó các cơ sở y tế vi phạm về quản lý CT nguy hại sẽ bị phạt tối thiểu 5 triệu đồng cho đến hàng 100 triệu đồng [11]

- Luật Bảo vệ môi trường số 55/2014/QH13, tại chương VII, Điều 72 có quy định bảo vệ môi trường đối với bệnh viện và cơ sở y tế là thực hiện phân loại CTRYT tại nguồn, thực hiện thu gom, vận chuyển, lưu giữ và xử lý CTRYT đảm bảo đạt quy chuẩn kỹ thuật môi trường [31]

- Nghị định số 38/2015/NĐ-CP về quản lý chất thải và phế liệu Tại Điều 5, Chương II có ghi CT nguy hại phải được phân định theo mã và phân loại trước thời điểm lưu giữ và đưa đi xử lý [12]

- Thông tư số 36/2015/TT- BTNMT về quản lý chất thải nguy hại Trong đó có quy định CTYT nguy hại phải được phân định, phân loại trước khi đưa vào lưu giữ

và trước khi chuyển giao đi xử lý [3]

- Thông tư liên tịch số 58/2015/ TTLT-BYT-BTNMT Quy định về quản lý chất thải y tế Thông tư này thay thế cho Quyết định số 43/2007/QĐ-BYT về quản lý chất thải từ ngày 01 tháng 4 năm 2016 [9]

1.1.4 Quản lý CTRYT theo Quyết định số 43/2007/BYT

* CTRYT được chia thành 5 nhóm:

- Chất thải lây nhiễm

- Chất thải hóa học nguy hại

- Chất thải phóng xạ

- Bình chứa áp suất

- Chất thải thông thường

* Mã màu sắc

- Màu vàng đựng chất thải lây nhiễm

- Màu đen đựng chất thải hóa học nguy hại và chất thải phóng xạ

Trang 17

- Màu xanh đựng chất thải thông thường và các bình áp suất nhỏ

- Màu trắng đựng chất thải tái chế

- Hộp đựng chất thải sắc nhọn phải bảo đảm các tiêu chuẩn

+ Thành và đáy cứng không bị xuyên thủng

+ Có khả năng chống thấm

+ Kích thước phù hợp

+ Có nắp đóng mở dễ dàng

+ Miệng hộp đủ lớn để cho vật sắc nhọn vào mà không cần dùng lực đẩy

+ Có dòng chữ “CHỈ ĐỰNG CHẤT THẢI SẮC NHỌN” và có vạch báo hiệu ở mức 3/4 hộp và có dòng chữ “KHÔNG ĐƯỢC ĐỰNG QUÁ VẠCH NÀY”

+ Màu vàng

+ Có quai hoặc kèm hệ thống cố định

+ Khi di chuyển vật sắc nhọn bên trong không bị đổ ra ngoài

- Đối với hộp nhựa đựng chất thải sắc nhọn có thể tái sử dụng, trước khi tái sử dụng, hộp nhựa phải được vệ sinh, khử khuẩn theo quy trình khử khuẩn dụng cụ y

tế Hộp nhựa sau khi khử khuẩn để tái sử dụng phải còn đủ các tính năng ban đầu

Trang 18

- Thùng màu đen để thu gom các túi chất thải màu đen Đối với chất thải phóng xạ, thùng đựng phải làm bằng kim loại

- Thùng màu xanh để thu gom các túi chất thải màu xanh

- Thùng màu trắng để thu gom các túi chất thải màu trắng

- Bên ngoài thùng phải có vạch báo hiệu ở mức 3/4 thùng và ghi dòng chữ

“KHÔNG ĐƯỢC ĐỰNG QUÁ VẠCH NÀY”

* Biểu tượng chỉ loại chất thải:

- Túi, thùng màu vàng đựng chất thải lây nhiễm có biểu tượng nguy hại sinh học

- Túi, thùng màu đen đựng chất thải gây độc tế bào có biểu tượng chất gây độc tế bào kèm dòng chữ “CHẤT GÂY ĐỘC TẾ BÀO”

- Túi, thùng màu đen đựng chất thải phóng xạ có biểu tượng chất phóng xạ và có dòng chữ “CHẤT THẢI PHÓNG XẠ”

- Túi, thùng màu trắng đựng chất thải để tái chế có biểu tượng chất thải có thể tái chế

* Xe vận chuyển chất thải

Xe vận chuyển chất thải phải đảm bảo các tiêu chuẩn: có thành, có nắp, có đáy kín,

dễ cho chất thải vào, dễ lấy chất thải ra, dễ làm sạch, dễ tẩy uế, dễ làm khô

* Phân loại chất thải rắn

- CTRYT được phân loại ngay tại nơi phát sinh chất thải

- Từng loại chất thải phải đựng trong các túi và thùng có mã màu kèm biểu tượng theo đúng quy định

* Thu gom chất thải rắn trong cơ sở y tế

- Mỗi khoa, phòng phải định rõ vị trí đặt thùng đựng chất thải y tế cho từng loại chất thải, nơi phát sinh chất thải phải có loại thùng thu gom tương ứng

- Nơi đặt thùng đựng chất thải phải có hướng dẫn cách phân loại và thu gom

- Sử dụng thùng đựng chất thải theo đúng tiêu chuẩn quy định và phải được vệ sinh hàng ngày

- Túi sạch thu gom chất thải phải luôn có sẵn tại nơi chất thải phát sinh để thay thế cho túi cùng loại đã được thu gom chuyển về nơi lưu giữ tạm thời chất thải của cơ

sở y tế

Trang 19

- Mỗi loại chất thải được thu gom vào các dụng cụ thu gom theo mã màu quy định

và phải có nhãn hoặc ghi bên ngoài túi nơi phát sinh chất thải

- Các chất thải y tế nguy hại không được để lẫn trong chất thải thông thường Nếu

vô tình để lẫn chất thải y tế nguy hại vào chất thải thông thường thì hỗn hợp chất thải đó phải được xử lý và tiêu hủy như chất thải y tế nguy hại

- Tần suất thu gom: Hộ lý hoặc nhân viên được phân công hàng ngày chịu trách nhiệm thu gom các chất thải y tế nguy hại và chất thải thông thường từ nơi chất thải phát sinh về nơi tập trung chất thải của khoa ít nhất 1 lần trong ngày và khi cần

- Chất thải có nguy cơ lây nhiễm cao trước khi thu gom về nơi tập trung chất thải của cơ sở y tế phải được xử lý ban đầu tại nơi phát sinh chất thải

* Vận chuyển chất thải rắn trong cơ sở y tế

- Chất thải y tế nguy hại và chất thải thông thường phát sinh tại các khoa/phòng phải được vận chuyển riêng về nơi lưu giữ chất thải của cơ sở y tế ít nhất một lần một ngày và khi cần

- Cơ sở y tế phải quy định đường vận chuyển và giờ vận chuyển chất thải Tránh vận chuyển chất thải qua các khu vực chăm sóc người bệnh và các khu vực sạch khác

- Túi chất thải phải buộc kín miệng và được vận chuyển bằng xe chuyên dụng; không được làm rơi, vãi chất thải, nước thải và phát tán mùi hôi trong quá trình vận chuyển

* Lưu giữ chất thải rắn trong các cơ sở y tế

- Chất thải y tế nguy hại và chất thải thông thường phải lưu giữ trong các buồng riêng biệt

- Chất thải để tái sử dụng, tái chế phải được lưu giữ riêng

- Nơi lưu giữ chất thải tại các cơ sở y tế phải có đủ các điều kiện sau:

+ Cách xa nhà ăn, buồng bệnh, lối đi công cộng và khu vực tập trung đông người tối thiểu là 10 mét

+ Có đường để xe chuyên chở chất thải từ bên ngoài đến

+ Nhà lưu giữ chất thải phải có mái che, có hàng rào bảo vệ, có cửa và có khóa Không để súc vật, các loài gậm nhấm và người không có nhiệm vụ tự do xâm nhập + Diện tích phù hợp với lượng chất thải phát sinh của cơ sở y tế

Trang 20

+ Có phương tiện rửa tay, phương tiện bảo hộ cho nhân viên, có dụng cụ, hóa chất làm vệ sinh

+ Có hệ thống cống thoát nước, tường và nền chống thấm, thông khí tốt

+ Khuyến khích các cơ sở y tế lưu giữ chất thải trong nhà có bảo quản lạnh

- Thời gian lưu giữ chất thải y tế nguy hại tại cơ sở y tế

- Thời gian lưu giữ chất thải trong các cơ sở y tế không quá 48 giờ

- Lưu giữ chất thải trong nhà bảo quản lạnh hoặc thùng lạnh: thời gian lưu giữ có thể đến 72 giờ

1.1.5 Quản lý CTRYT theo Thông tư liên tịch số 58/2015/TTLT-BYT-BTNMT

* CTRYT được phân thành 3 nhóm:

- Chất thải lây nhiễm

- Chất thải nguy hại không lây nhiễm

- Chất thải y tế thông thường

* Mã màu sắc

- Màu vàng đối với bao bì, dụng cụ, thiết bị lưu chứa chất thải lây nhiễm

- Màu đen đối với bao bì, dụng cụ, thiết bị lưu chứa chất thải nguy hại không lây nhiễm

- Màu xanh đối với bao bì, dụng cụ, thiết bị lưu chứa chất thải y tế thông thường

- Màu trắng đối với bao bì, dụng cụ, thiết bị lưu chứa chất thải tái chế

* Phân loại chất thải y tế

- CTRYT phải phân loại để quản lý ngay tại nơi phát sinh và tại thời điểm phát sinh

- Từng loại chất thải y tế phải phân loại riêng vào trong bao bì, dụng cụ, thiết bị lưu chứa chất thải

- Mỗi khoa, phòng, bộ phận phải bố trí vị trí để đặt các bao bì, dụng cụ phân loại chất thải y tế và có hướng dẫn cách phân loại và thu gom chất thải

* Thu gom chất thải y tế

- Chất thải lây nhiễm phải thu gom riêng từ nơi phát sinh về khu vực lưu giữ chất thải trong khuôn viên cơ sở y tế

- Trong quá trình thu gom, túi đựng chất thải phải buộc kín, thùng đựng chất thải phải có nắp đậy kín, bảo đảm không bị rơi, rò rỉ chất thải trong quá trình thu gom

Trang 21

d) Chất thải có nguy cơ lây nhiễm cao phải xử lý sơ bộ trước khi thu gom về khu lưu giữ, xử lý chất thải trong khuôn viên cơ sở y tế

- Tần suất thu gom chất thải lây nhiễm từ nơi phát sinh về khu lưu giữ chất thải trong khuôn viên cơ sở y tế ít nhất 01 (một) lần/ngày

- Chất thải nguy hại không lây nhiễm được thu gom, lưu giữ riêng tại khu lưu giữ chất thải trong khuôn viên cơ sở y tế

- Thu gom chất thải y tế thông thường: Chất thải y tế thông thường phục vụ mục đích tái chế và chất thải y tế thông thường không phục vụ mục đích tái chế được thu gom riêng

* Lưu giữ chất thải y tế

- Dụng cụ, thiết bị lưu chứa chất thải y tế nguy hại tại khu lưu giữ phải đáp ứng các yêu cầu sau đây:

+ Có thành cứng, không bị bục vỡ, rò rỉ dịch thải trong quá trình lưu giữ chất thải + Có biểu tượng loại chất thải lưu giữ theo quy định

+ Dụng cụ, thiết bị lưu chứa chất thải lây nhiễm phải có nắp đậy kín và chống được

sự xâm nhập của các loài động vật

- CTYT nguy hại và CTYT thông thường phải lưu giữ riêng tại khu vực lưu giữ chất thải trong khuôn viên cơ sở y tế

- CT lây nhiễm và CT nguy hại không lây nhiễm phải lưu giữ riêng trừ trường hợp các loại chất thải này áp dụng cùng một phương pháp xử lý

- CTYT thông thường phục vụ mục đích tái chế và CTYT thông thường không phục

vụ mục đích tái chế được lưu giữ riêng

- Thời gian lưu giữ chất thải lây nhiễm: Đối với chất thải lây nhiễm phát sinh tại cơ

sở y tế, thời gian lưu giữ chất thải lây nhiễm tại cơ sở y tế không quá 02 ngày trong điều kiện bình thường Trường hợp lưu giữ chất thải lây nhiễm trong thiết bị bảo quản lạnh dưới 8°C, thời gian lưu giữ tối đa là 07 ngày

* Vận chuyển CTRYT

- Phương tiện vận chuyển: sử dụng xe thùng kín hoặc xe bảo ôn chuyên dụng để vận

Trang 22

- Dụng cụ, thiết bị lưu chứa CTYT nguy hại trên phương tiện vận chuyển phải đáp ứng các yêu cầu sau:

+ Có thành, đáy, nắp kín, kết cấu cứng, chịu được va chạm, không bị rách vỡ bởi trọng lượng chất thải, bảo đảm an toàn trong quá trình vận chuyển

+ Có biểu tượng về loại chất thải lưu chứa theo quy định

+ Được lắp cố định hoặc có thể tháo rời trên phương tiện vận chuyển và bảo đảm không bị rơi, đổ trong quá trình vận chuyển chất thải

+ Chất thải lây nhiễm trước khi vận chuyển phải được đóng gói trong các thùng, hộp hoặc túi kín, bảo đảm không bị bục, vỡ hoặc phát tán chất thải trên đường vận chuyển

* Giảm thiểu chất thải y tế

- Lắp đặt, sử dụng các thiết bị, dụng cụ, thuốc, hóa chất và các nguyên vật liệu phù hợp, bảo đảm hạn chế phát sinh chất thải y tế

- Đổi mới thiết bị, quy trình trong hoạt động y tế nhằm giảm thiểu phát sinh chất thải y tế

- Quản lý và sử dụng vật tư hợp lý và hiệu quả

* Quản lý CTYT thông thường phục vụ mục đích tái chế

- Không được sử dụng vật liệu tái chế từ chất thải y tế để sản xuất các đồ dùng, bao gói sử dụng trong lĩnh vực thực phẩm

- Chất thải lây nhiễm sau khi xử lý đạt quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về môi trường được quản lý như chất thải y tế thông thường

- Bao bì lưu chứa chất thải phải được buộc kín và có biểu tượng chất thải tái chế theo quy định [9]

1.1.6 Những nguy cơ của chất thải y tế đối với sức khỏe con người

1.1.6.1 Nguy cơ của chất thải nhiễm khuẩn

Các vật thể trong thành phần của chất thải rắn y tế có thể chứa đựng một lượng lớn tác nhân vi sinh vật gây bệnh truyền nhiễm [27, 28, 45]

Trang 23

Các tác nhân gây bệnh này có thể xâm nhập vào cơ thể con người thông qua các cách thức sau: qua da, qua các niêm mạc, qua đường hô hấp, qua đường tiêu hóa

Bảng 1: Những nguy cơ của chất thải nhiễm khuẩn [18]

Các dạng nhiễm khuẩn Một số tác nhân gây

bệnh Chất truyền bệnh

Nhiễm khuẩn đường tiêu

hóa

Các vi khuẩn đường tiêu hóa: Samonella, Shigella, Vibrio cholera, trứng giun

sinh dục

Viêm gan B và C Virus viêm gan B và C Máu và dịch cơ thể

1.1.6.2 Nguy cơ của chất thải sắc nhọn

Các vật sắc nhọn không những có nguy cơ gây thương tích cho những người phơi nhiễm mà qua đó còn có thể truyền bệnh nguy hiểm Theo số liệu thống kê tại Nhật Bản, nguy cơ mắc bệnh sau khi bị bơm kim tiêm bẩn đâm xuyên qua da như sau: nhiễm HIV là 0,3 , nhiễm viêm gan B là 3 , viêm gan C là 3 – 5%

Ở Hoa Kỳ, tháng 6/1994, Trung tâm kiểm soát bệnh tật (CDC) đã phát hiện được 39 trường hợp mắc HIV/AIDS nghề nghiệp trong đó có 32 trường hợp do bị kim tiêm nhiễm khuẩn đâm qua da; 1 trường hợp do dao mổ cắt qua da, 1 trường

Trang 24

hợp bị tổn thương do vỏ của ống thủy tinh [44] Cũng theo nguồn số liệu của CDC tình trạng nhiễm virut viêm gan có liên quan đến tổn thương do vật sắc nhọn gây ra như sau:

Bảng 2: Nguy cơ của chất thải sắc nhọn [42]

Nghề nghiệp Số ca tổn thương do vật

sắc nhọn (người/năm)

Số ca bị viêm gan (người/năm)

Nhân viên xét nghiệm 800 – 7.500 2 – 15

Nhân viên vệ sinh bệnh

Nha sỹ ngoài bệnh viện 100 – 300 5 – 8

Nhân viên phụ giúp nha sĩ

ở hai đối tượng: điều dưỡng viên và nhân viên vệ sinh bệnh viện

1.1.6.3 Nguy cơ của chất thải hóa học và dược phẩm

Các chất thải hóa học có thể gây hại cho sức khỏe con người do các tính chất: ăn mòn, gây độc, dễ cháy, gây nổ, gây sốc hoặc ảnh hưởng đến di truyền Các

Trang 25

chất thải này thường chiếm số lượng nhỏ trong chất thải y tế, với số lượng lớn hơn

có thể tìm thấy khi chúng quá hạn, dư thừa hoặc hết tác dụng cần vứt bỏ Các chất này có thể gây nhiễm độc khi tiếp xúc cấp tính và mạn tính, gây ra các tổn thương như bỏng, ngộ độc Sự nhiễm độc này có thể là kết quả của quá trình hấp thụ hóa chất hoặc dược phẩm qua da, qua niêm mạc, qua đường hô hấp hoặc qua đường tiêu hóa [49] [43] Việc tiếp xúc với các chất dễ cháy, dễ ăn mòn, các chất gây phản ứng

có thể gây nên những tổn thương tới da, mắt hoặc niêm mạc đường hô hấp Các tổn thương hay gặp và phổ biến nhất là các vết bỏng

Các chất khử trùng là những thành phần đặc biệt quan trọng của nhóm này, chúng thường được sử dụng với số lượng lớn và thường là những chất ăn mòn Cũng cần phải lưu ý rằng, những loại hóa chất gây phản ứng có thể hình thành nên các hỗn hợp thứ cấp có độc tính cao [26]

1.1.7 Các phương pháp xử lý CTRYT

a Thiêu đốt:

Là phương pháp sử dụng nhiệt độ cao trong các lò đốt chuyên dụng có nhiệt

độ từ 800OC  1200OC hoặc lớn hơn để đốt CTRYT Phương pháp đốt có ưu điểm

là xử lý được đa số các loại CTRYT, làm giảm tối đa về mặt thể tích của chất thải Tuy vậy nhược điểm của phương pháp đốt là nếu chế độ vận hành không chuẩn và không có hệ thống xử lý khí thải sẽ làm phát sinh các chất độc hại như Dioxin, Furan gây ô nhiễm môi trường thứ cấp; chi phí vận hành, bảo dưỡng và giám sát môi trường cao

b Khử trùng bằng hơi nóng ẩm (lò hấp):

Là phương pháp tạo ra môi trường hơi nước nóng ở áp suất cao để khử trùng dụng cụ và CTYT Các loại CTLN có thể xử lý được: CTLN không sắc nhọn, chất thải có nguy cơ lây nhiễm cao, chất thải giải phẫu

Trang 26

c Khử trùng bằng hóa chất:

Phương pháp này thích hợp đối với chất thải lỏng như: nước tiểu, phân, máu, nước thải BV Tuy nhiên, hóa chất cũng có thể áp dụng để xử lý CTR, thậm chí cho

cả chất thải có nguy cơ lây nhiễm cao với một số lưu ý sau:

 Một số loại chất thải phải cắt nghiền nhỏ trước khi khử trùng Đây cũng là nhược điểm trong phương pháp khử trùng bằng hóa chất, vì các máy cắt, nghiền chất thải hay gặp sự cố về vấn đề cơ khí;

 Bản thân hóa chất khử trùng là những chất độc hại, vì vậy những người sử dụng phải được đào tạo về quy trình sử dụng và được trang bị đầy đủ các trang thiết bị bảo hộ an toàn;

 Hiệu quả khử trùng phụ thuộc vào điều kiện vận hành;

 Khử trùng chỉ có hiệu quả với bề mặt của CTR

 Phải kiểm soát dư lượng hóa chất, nếu cách xử lý không đúng có thể làm phát sinh các vấn đề môi trường sau xử lý như nước thải, hơi hóa chất phát tán vào môi trường không khí trong quá trình xử lý

d Phương pháp khử khuẩn bằng vi sóng:

Có hai phương pháp đó là sử dụng vi sóng thuần túy trong điều kiện áp suất thường (có hoặc không có bổ sung nước/hơi nước) và sử dụng vi sóng kết hợp hơi nước bão hòa trong điều kiện nhiệt độ, áp suất cao Trong phương pháp này thường

đi kèm các thiết bị máy cắt, nghiền và máy ép để giảm thể tích chất thải Các loại CTLN có thể xử lý được: Chất thải lây nhiễm không sắc nhọn (có thấm máu, dịch sinh học và chất thải từ buồng cách ly), chất thải có nguy cơ lây nhiễm cao và chất thải giải phẫu CTR sau khi khử khuẩn, giảm thể tích đạt tiêu chuẩn có thể xử lý, tái chế, tiêu hủy như chất thải thông thường

e Phương pháp chôn lấp hợp vệ sinh:

Chỉ áp dụng tạm thời đối với các BV thuộc các tỉnh miền núi và trung du chưa có cơ sở xử lý CTYTNH đạt tiêu chuẩn tại địa phương Không chôn chất thải lây nhiễm lẫn với chất thải thông thường Chất thải lây nhiễm phải được khử khuẩn trước khi chôn lấp

Trang 27

Đối với chất thải sắc nhọn sử dụng các bể đóng kén là thích hợp Theo quy định quản lý CTNH: Bể đóng kén có ba dạng: Chìm dưới mặt đất, nửa chìm nửa nổi, và nổi trên mặt đất; Đặt tại khu vực có mực nước ngầm ở độ sâu phù hợp; Diện tích đáy của mỗi bể ≤ 100 m2 và chiều cao ≤ 5 m; Vách và đáy bằng bê tông chống thấm, kết cấu cốt thép bền vững, đặt trên nền đất được gia cố; Xung quanh vách (phần chìm dưới mặt đất) và dưới đáy bể có bổ sung lớp lót chống thấm; Có mái che kín nắng, mưa cho toàn bộ mặt bể và biện pháp hạn chế gió trực tiếp vào trong bể; Sau khi đầy, phải đóng bể bằng nắp bê tông cốt thép chống thấm; nắp phải phủ

kín toàn bộ bề mặt bể đảm bảo tuyệt đối không để nước rò rỉ, thẩm thấu

g Phương pháp đóng rắn (trơ hóa):

Chất thải cần đóng rắn được nghiền nhỏ, sau đó được đưa vào máy trộn theo từng m Các chất phụ gia như xi măng, cát và polymer được bổ sung vào để thực hiện quá trình hòa trộn khô, sau đó tiếp tục bổ sung nước vào để thực hiện quá trình hòa trộn ướt Sau 28 ngày bảo dưỡng khối rắn, quá trình đóng rắn diễn ra làm cho các thành phần ô nhiễm trong chất thải hoàn toàn bị cô lập Khối rắn sẽ được kiểm tra cường độ chịu nén, khả năng rò rỉ và lưu giữ cẩn thận tại kho, sau đó vận chuyển đến bãi chôn lấp an toàn Phương pháp đóng rắn đơn giản, dễ thực hiện, chi phí thấp T lệ phổ biến cho hỗn hợp là 65 CTYT, 15 vôi, 15 xi măng, 5 nước

h Bao gói:

Chất kết dính vô cơ thường dùng là ximăng, vôi, pozzolan, thạch cao, silicat Chất kết dính hữu cơ thường dùng là epoxy, polyester, nhựa asphalt, polyolefin, ure formaldehyt;… Chất thải thường là chất thải hóa chất hoặc dược phẩm được đưa vào 3/4 thể tích các thùng bằng polyethylene hoặc thùng kim loại Sau đó được điền đầy bằng các chất kết dính - để khô - dán niêm phong và đưa đi chôn lấp

Trang 28

1.2 Thực trạng quản lý chất thải rắn y tế trên Thế giới

Nghiên cứu về chất thải y tế đã được tiến hành ở nhiều nước trên thế giới, đặc biệt là các nước phát triển như: Anh, Hoa Kỳ, Nhật Bản, Canada các công trình nghiên cứu quan tâm đến nhiều lĩnh vực như quản lý chất thải y tế (biện pháp giảm thiểu chất thải, biện pháp tái sử dụng, các phương pháp xử lý chất thải, đánh giá hiệu quả của các biện pháp xử lý chất thải ), tác hại của chất thải y tế đối với môi trường, biện pháp giảm thiểu tác hại của chất thải y tế và phòng chống tác hại của chất thải y tế đối với sức khỏe cộng đồng [16,18, 36, 33] Gần đây, nghiên cứu

về chất thải y tế được quan tâm ở nhiều khía cạnh [44, 49]:

- Sự đe dọa của chất thải nhiễm khuẩn tới sức khỏe cộng đồng

- Ảnh hưởng của nước thải y tế đối với việc lan truyền bệnh dịch trong và ngoài bệnh viện

- Những vấn đề liên quan của y tế công cộng với chất thải y tế

- Chất thải y tế nhiễm xạ với sức khỏe

- Tổn thương nhiễm khuẩn ở điều dưỡng, hộ lý và nhân viên thu gom chất thải, nhiễm khuẩn bệnh viện, nhiễm khuẩn ngoài bệnh viện đối với người thu gom chất thải, vệ sinh và cộng đồng

- Nguy cơ phơi nhiễm với HIV, HBV, HCV ở nhân viên y tế

Hiện nay trên thế giới đã có nhiều cơ quan quốc tế như IRPTC (tổ chức đăng

ký toàn cầu về hoá chất độc tiềm tàng), IPCS (chương trình toàn cầu về an toàn hoá chất), WHO (Tổ chức Y tế thế giới) đã xây dựng và quản lý các dữ liệu thông tin

về an toàn hoá chất

Tùy từng điều kiện kinh tế xã hội và mức độ phát triển khoa học kỹ thuật cùng với nhận thức về quản lý chất thải mà mỗi nước có những cách xử lý chất thải của riêng mình Cũng cần nhấn mạnh rằng các nước phát triển trên thế giới thường áp dụng đồng thời nhiều phương pháp để xử lý chất thải rắn, trong đó có chất thải rắn nguy hại, t lệ xử lý chất thải rắn bằng các phương pháp như đốt, xử lý cơ học, hóa/lý, sinh học, chôn lấp rất khác nhau Qua số liệu thống kê về tình hình xử lý

Trang 29

chất thải rắn của một số nước trên thế giới cho thấy, Nhật Bản là nước sử dụng phương pháp thu hồi chất thải rắn với hiệu quả cao nhất (38 ), sau đó đến Thụy Sỹ (33 ), trong khi đó Singapore chỉ sử dụng phương pháp đốt, Pháp lại sử dụng phương pháp xử lý vi sinh nhiều nhất (30 ) Các nước sử dụng phương pháp chôn lấp hợp vệ sinh nhiều nhất trong xử lý chất thải rắn là Phần Lan (84 ), Thái Lan (84 ), Anh (83 ), Liên Bang Nga (80 ) và Tây Ban Nha (80 ) [10, 24]

* Hoạt động quản lý

Theo WHO [48, 49], để đạt được những mục tiêu trong quản lý chất thải y tế các cơ

sở y tế cần có những hoạt động cơ bản sau:

- Đánh giá thực trạng phát sinh chất thải tại bệnh viện (khối lượng, thành phần)

- Đánh giá khả năng kiểm soát và các biện pháp xử lý chất thải

- Thực hiện phân loại chất thải theo các nhóm

- Xây dựng các quy trình, quy định để quản lý chất thải (nơi lưu giữ, màu sắc dụng

cụ, đặc điểm các túi, thùng thu gom và nhãn quy định )

- Nhân viên phải được tập huấn có kiến thức về quản lý chất thải và có các phương tiện bảo hộ đảm bảo an toàn khi làm việc

- Các cơ sở y tế phải chiụ trách nhiệm về các hoạt động quản lý chất thải

- Lựa chọn các biện pháp xử lý thích hợp

* Thực trạng phát sinh chất thải y tế

Khối lượng chất thải y tế thay đổi theo từng khu vực địa lý, theo mùa và phụ thuộc các yếu tố khách quan khác như: cơ cấu bệnh tật, dịch bệnh, quy mô bệnh viện, lượng bệnh nhân khám, chữa bệnh, điều kiện kinh tế, xã hội của khu vực, phương pháp và thói quen của nhân viên y tế trong việc khám, điều trị, chăm sóc, số lượng người nhà được phép đến thăm bệnh nhân

Các số liệu thống kê cho thấy, khối lượng chất thải hàng năm thay đổi theo mức thu nhập như sau:

Trang 30

Bảng 3: Lượng chất thải phát sinh tại các nước trên thế giới [48]

Mức thu nhập của

từng nước

Tổng lượng CTYT bệnh viện (kg/đầu người)

Lượng CTYT nguy hại (kg/đầu người)

Bảng 4: Lượng chất thải phát sinh tại các tuyến bệnh viện trên thế giới [48]

Tuyến bệnh viện Tổng lượng CTYT

1.3 Các nghiên cứu về quản lý chất thải rắn y tế tại Việt Nam

1.3.1 Các nghiên cứu quản lý chung về chất thải rắn y tế

Đa số (81,25%) bệnh viện đã thực hiện phân loại chất thải ngay tại nguồn phát sinh nhưng việc phân loại còn phiến diện và kém hiệu quả Hoạt động phân loại chất thải còn tồn tại một số vấn đề như: chưa tách vật sắc nhọn ra khỏi chất thải

y tế, còn để lẫn nhiều chất thải thông thường với chất thải y tế và ngược lại Hệ thống ký hiệu, màu sắc của túi và thùng đựng chất thải chưa đầy đủ và thống nhất Tình trạng nhiều bệnh viện (45 ) chưa tách riêng các vật sắc nhọn ra khỏi chất thải rắn y tế đang làm tăng nguy cơ rủi ro cho những người trực tiếp vận chuyển và tiêu hủy chất thải Trong số bệnh viện đã tách riêng vật sắc nhọn, vẫn còn một số bệnh

Trang 31

viện (11,4%) thu gom vật sắc nhọn vào các hộp chưa an toàn (vẫn có khả năng đâm, xuyên), còn lại đa số các bệnh viện (88,6 ) thường đựng chất thải sắc nhọn vào các vật tự tạo như chai truyền dịch, chai nhựa đựng nước khoáng [27]

Kết quả nghiên cứu của một số tác giả cho thấy: t lệ cán bộ y tế hiểu biết đầy đủ về cách thức phân loại chất thải thành 5 nhóm chưa cao, hiểu biết về mã màu sắc, dụng cụ đựng chất thải y tế chưa đầy đủ, bên cạnh đó công tác đào tạo, tập huấn của các bệnh viện chưa nhiều, do vậy hoạt động phân loại chất thải chưa đạt được kết quả như mong đợi [10, 18]

Năm 2003, Đào Nguyên Minh nghiên cứu đánh giá thực trạng quản lý chất thải y tế tại hai bệnh viện đa khoa tỉnh Quảng Nam và Quảng Ngãi, kết quả nghiên cứu cho thấy thấy hầu hết dụng cụ đựng chất thải tại 2 bệnh viện đều không có đủ các mã màu sắc theo quy định, công tác phân loại, thu gom chất thải của cả 2 bệnh viện còn nhiều vấn đề tồn tại, chưa thực hiện đúng với các quy định của Bộ y tế [16]

Năm 2004, Dương Thị Hương và cộng sự nghiên cứu tình hình vệ sinh môi trường tại 11 cơ sở y tế trên địa bàn thành phố Hải Phòng, kết quả nghiên cứu cho thấy: việc tổ chức phân loại, thu gom tập trung tại các bệnh viện đều chưa thực hiện tốt Hệ thống trang thiết bị thu gom, vận chuyển chất thải không được cung cấp đầy

đủ, khu vực lưu giữ chất thải chưa đáp ứng được các quy định của BYT ban hành [20]

Năm 2007, Đào Ngọc Phong nghiên cứu tình hình quản lý chất thải tại các bệnh viện huyện thuộc 4 tỉnh Yên Bái, Phú Thọ, Quảng Ngãi, Cần Thơ, kết quả nghiên cứu đã đưa ra nhiều kết luận về thực trạng quản lý chất thải y tế, tình hình ô nhiễm môi trường của các bệnh viện gây ra và các kết quả áp dụng mô hình quản lý chất thải y tế tại các bệnh viện tuyến huyện [17]

Năm 2008 – 2009, Nguyễn Duy Bảo và các cộng sự đã nghiên cứu thực trạng môi trường và hoạt động quản lý chất thải y tế của 22 bệnh viện tuyến trung ương và tuyến tỉnh thuộc khu vực phía Bắc, kết quả nghiên cứu đã chỉ ra rằng: công tác quản lý, xử lý chất thải rắn y tế đã được các bệnh viện quan tâm và thực hiện

Trang 32

nghiêm túc theo Quy chế quản lý chất thải y tế tại Quyết định 43/2007/QĐ-BYT, tuy nhiên còn phổ biến tình trạng thực hiện không đúng về mặt kỹ thuật theo quy định của BYT, nguyên nhân chủ yếu được cho là thiếu kinh phí thực hiện

Năm 2011, Hoàng Giang nghiên cứu thực trạng công tác quản lý chất thải rắn y tế tại các khoa lâm sàng bệnh viện Hữu nghị Việt đức, kết quả cho thấy vẫn còn 14,7 đến 64,7 các khoa phân loại chất thải sai, 3,1 nhân viên y tế phân loại chất thải sai với quy định [21]

Nghiên cứu của Hồ Thị Nga năm 2013 về Thực trạng quản lý chất thải rắn y

tế và một số yếu tố liên quan tại bệnh viện đa khoa Gia Lộc, tỉnh Hải Dương cho thấy công tác quản lý chất thải rắn y tế thực hiện khá tốt đáp ứng hầu hết các tiêu chí của Bộ y tế ban hành kèm theo Quyết định 43/2007/QĐ-BYT [23]

Kết quả từ một nghiên cứu đánh giá hiện trạng quản lý chất thải ở 80 bệnh viện trong cả nước, kết quả cho thấy lượng chất thải rắn phát sinh tăng dần từ bệnh viện tuyến huyện, đến tuyến tỉnh và cao nhất ở tuyến trung ương (Bảng 5) [27]:

Bảng 5: Lượng chất thải phát sinh tại các tuyến bệnh viện Việt Nam Tuyến bệnh viện

(Kg/giường bệnh)

Tổng lượng CTYT (Kg/giường bệnh)

CTYT nguy hại (Kg/giường bệnh)

Báo cáo thực trạng công tác quản lý chất thải rắn y tế tại bệnh viện năm 2009 của Cục Quản lý Khám chữa bệnh cho thấy: tổng lượng chất thải thông thường phát sinh trong một ngày của các bệnh viện trực thuộc Sở Y tế là 104.227kg, trung bình

là 0,76kg/giường bệnh/ngày, tổng lượng chất thải lây nhiễm cần được xử lý trong 1 ngày là 24.776kg, trung bình là 0,18kg/giường bệnh/ngày Ngoài ra còn có các loại chất thải y tế nguy hại khác: chất thải hóa học, chất thải phóng xạ, bình áp suất [25]

* Thu gom chất thải bệnh viện

Trang 33

Hầu hết các chất thải y tế đều được các bệnh viện thu gom, vận chuyển ngay trong ngày (90,9 ) Tuy nhiên t lệ thu gom chất thải đúng theo quy định chỉ đạt 50% trong tổng số các bệnh viện [32] Phương tiện thu gom chất thải như túi, thùng,

xe vận chuyển chất thải của các bệnh viện hầu hết còn thiếu và chưa đạt chuẩn Trong khi đó hiểu biết của nhân viên trong bệnh viện đặc biệt là của các nhân viên thu gom về hoạt động này chưa cao Các nghiên cứu đã chỉ ra rằng, t lệ các cán bộ

y tế hiểu biết đầy đủ về tác hại của chất thải y tế đối với sức khỏe còn thấp (46,2%), kiến thức về các đối tượng dễ bị ảnh hưởng của chất thải y tế không cao (24,6 ), chính vì vậy hoạt động thu gom, vận chuyển chất thải chưa đảm bảo an toàn và

chưa đúng quy trình của BYT vẫn còn ở mức phổ biến [36] Ngoài công tác đào tạo

trang bị kiến thức, hiểu biết cho cán bộ nhân viên còn ít, vấn đề trang bị các phương tiện bảo hộ cho các nhân viên trực tiếp tham gia vào các hoạt động thu gom, vận chuyển chất thải chưa được quan tâm

* Lưu giữ chất thải bệnh viện

Hầu hết các điểm tập trung chất thải đều nằm trong khu đất của bệnh viện, vệ sinh không đảm bảo, có nhiều nguy cơ gây rủi ro do vật sắc nhọn rơi vãi, nhiều côn trùng xâm nhập ảnh hưởng đến môi trường bệnh viện Một số điểm tập trung chất thải không có mái che, không có hàng rào bảo vệ, không có khóa vị trí ở khuất xa tầm kiểm soát của nhân viên nên các loại côn trùng, chuột, súc vật, người không có nhiệm vụ dễ xâm nhập Chỉ có ít bệnh viện có nơi lưu giữ chất thải đạt tiêu chuẩn

quy định

* Vận chuyển chất thải ra ngoài cơ sở y tế

Theo các báo cáo gửi về Cục Quản lý Khám chữa bệnh [25], hiện có 34/36 bệnh viện trực thuộc BYT thực hiện ký hợp đồng thuê công ty môi trường đô thị vận chuyển chất thải y tế thông thường ra ngoài các cơ sở y tế để xử lý Đối với chất thải y tế nguy hại, hiện có 8 bệnh viện có lò đốt còn lại 28/36 bệnh viện hợp đồng thuê Công ty môi trường đô thị xử lý bằng lò đốt tập trung của cơ sở thiêu hủy trên địa bàn Các bệnh viện ký hợp đồng với các công ty thu gom, vận chuyển chất thải

y tế là tương đối phổ biến (do số lượng các bệnh viện không có lò xử lý chất thải

Trang 34

còn nhiều, kinh phí vận hành cho các lò hoạt động cao), tuy nhiên sự phối hợp liên ngành giữa hai bên chưa thực sự tốt Hầu hết các nhân viên y tế trong bệnh viện đều không biết các yêu cầu cần thiết của quy trình vận chuyển chất thải y tế ra ngoài bệnh viện đồng thời cũng không quan tâm đến việc xử lý chất thải bên ngoài ra sao

[26]

1.3.2 Các nghiên cứu về kiến thức, thực hành trong quản lý CTRYT

Năm 2003, Đào Nguyên Minh nghiên cứu đánh giá thực trạng quản lý chất thải y tế tại hai bệnh viện đa khoa tỉnh Quảng Nam và Quảng Ngãi, kết quả nghiên cứu cho thấy: chỉ có 9,4 cán bộ y tế ở bệnh viện đa khoa Quảng Nam và 22,0 cán bộ y tế ở bệnh viện đa khoa Quảng Ngãi có kiến thức đúng về phân loại chất thải rắn y tế [16]

Một đánh giá về tình hình quản lý CTYT trên địa bàn huyện Long Thành năm 2010 cho thấy chỉ có 54,5 nhân viên có kiến thức chung đúng, 51,6 nhân viên có thái độ chung đúng, 46 nhân viên có thái độ chung đúng về quản lý CTYT

Trong kết quả nghiên cứu của Hoàng Giang tại bệnh viện Việt Đức năm

2011, cho thấy kiến thức, thực hành của nhân viên y tế trong quản lý CTRYT là khá tốt, hầu hết nhân viên y tế nhận thức đúng và có thực hành đúng về quản lý CTYT theo quy định của Bộ Y tế [21]

Cũng như trong nghiên cứu của tác giả Hoàng Thị Thúy ở viện đa khoa Đông Anh cho thấy kiến thức, thực hành của nhân viên y tế về các khâu phân loại, thu gom, vận chuyển và lưu giữ chất thải chưa cao, một số khâu t lệ nhân viên trả lời đúng còn thấp, cụ thể: T lệ nhân viên y tế đạt kiến thức chung về quản lý chất thải là 86,8 trong đó hiểu biết của nhân viên y tế về các nhóm chất thải, các chất thải lây nhiễm còn thấp Kiến thức về vận chuyển chất thải cao nhất đạt 96,3%, thấp nhất là kiến thức về thu gom chất thải 48,5%.[22]

Trang 35

1.4 Quản lý nước thải y tế tại Việt Nam

1.4.1 Khái niệm về nước thải y tế

Nu ớc thải y tế là nu ớc thải phát sinh từ các co sở y tế bao gồm: co sở khám chữa b nh, co sở dự phòng, co sở nghiên cứu, đào tạo y du ợc, co sở sản xuất thuốc Trong đó nước thải từ các cơ sở khám chữa bệnh càng có quy mô lớn, bệnh nhân nhiều thì lượng nước thải phát sinh càng lớn có thể từ vài trăm

m3/ngày đêm [13]

Các co sở khám chữa b nh: Nu ớc thải từ các co sở khám chữa b nh

phát sinh chủ yếu từ: khu vực va n phòng; các khoa lâm sàng; các khoa cạ n lâm sàng; nhà bếp Tuy nhiên, lu ợng phát thải tại các khu vực là khá khác nhau

Lu ợng nu ớc thải phát sinh lớn nhất là tại khu vực điều trị nọ i trú bao gồm

nu ớc thải tắm giạ t, v sinh, tiếp đến là khu vực phòng khám, phòng thí nghi m, phòng mổ và khu vực va n phòng

Các co sở y tế dự phòng, nghiên cứu đào tạo y, du ợc và các co sở sản xuất thuốc: Các nguồn thải phát sinh từ hoạt đọ ng chuyên môn của các co sở

nêu trên chủ yếu là từ quá trình thí nghi m, sản xuất thuốc, tiêm phòng

Các trạm y tế xã, phu ờng, thị trấn: Trạm y tế xã và các phòng khám tu

nhân thường không có b nh nhân điều trị nọ i trú Lu ợng ngu ời đến các trạm

y tế xã không nhiều trừ thời gian tiêm chủng Nu ớc thải phát sinh đối với hai loại hình co sở y tế này chủ yếu là nu ớc thải sinh hoạt và mọ t lu ợng nhỏ nu ớc thải phát sinh trong quá trình làm thủ thuạ t y tế đo n giản

1.4.2 Khối lượng phát sinh nước thải y tế

Luợng nuớc thải phát sinh tại mọ t co sở y tế xác định trên lu ợng nu ớc

sử dụng và có thể xác định bằng lu ợng nu ớc tiêu thụ Lu ợng nu ớc tiêu thụ phụ thuọ c rất nhiều vào các yếu tố nhu các loại dịch vụ y tế, số giu ờng b nh, tiêu chuẩn cấp nu ớc, điều ki n khí hạ u, mức đọ cha m sóc và tạ p quán sử dụng nu ớc

Trang 36

Ở các nu ớc có thu nhạ p cao, nu ớc thải phát sinh tại các b nh đu ợc xác định trên số b nh nhân nọ i trú Lu ợng nu ớc thải phát sinh nhu sau [13]:

o Co sở y tế vừa và nhỏ: 300 - 500 lít mỗi b nh nhân nọ i trú mỗi ngày;

o Co sở y tế lớn: 400 - 700 lít mỗi b nh nhân nọ i trú mỗi ngày;

o Co sở y tế tuyến cuối cùng: 500 - 900 lít cho mỗi b nh nhân nọ i trú mỗi ngày

Tại các phòng khám ban đầu, t l phát sinh chất thải thu ờng đu ợc đo bằng tổng số b nh nhân nọ i trú và ngoại trú Lu ợng nu ớc tối thiểu cần thiết trong các thiết lạ p y tế:

o 40 - 60 lít cho mỗi b nh nhân nọ i trú, cọ ng với;

o 5 lít cho mỗi b nh nhân ngoại trú;

o 100 lít cho mỗi thủ tục phẫu thuạ t

Đối với các co sở y tế dự phòng, các phòng khám đa khoa khu vực hoạ c các trạm y tế xã tiêu chuẩn cấp nu ớc thu ờng thấp ho n các giá trị nêu ở các cơ

sở y tế nêu trên Một nghiên cứu tại 15 trạm y tế Đồng Nai chỉ ra lượng nước thải phát sinh trung bình dao động trong khoảng 0,2 tới 0,4 m3/ngày Các phòng khám

đa khoa khu vực phát sinh nước thải y tế dao động trong khoảng 0,5 tới 1,5

m3/ngày Theo kinh nghi m thực tế, đối với những trạm y tế/ phòng khám đa khoa khu vực tại các khu vực tập trung đông dân cư, có khả năng thực hiện nhiều thủ thuật y tế trong khám chữa bệnh ước tính lu ợng nu ớc thải bằng 80 của

lu ợng nu ớc cấp cho TYT Đối với những trạm y tế nằm tại những khu vực dân

cư ít, không thực hiện nhiều các thủ thuật y tế thì nước nước thải phát sinh thấp, chiến khoảng 20-30 lượng nước cấp cho TYT

1.4.3 Các phương pháp xử lý nước thải y tế

Hiện nay có nhiều phương pháp khác nhau để quản lý nước thải y tế tại các cơ

sở y tế Việc sử dụng công nghệ nào trong quá trình quản lý nước thải y tế phụ thuộc vào nhiều yếu tố khác nhau như số lượng bệnh nhân, loại hình bệnh

Trang 37

viện,…Trong phần này, nghiên cứu đề cập tới một số mô hình công nghệ xử lý nước thải phổ biến được áp dụng tại các cơ sở y tế Việt Nam [13]

Trang 38

1.4.3.1 Công nghệ lọc sinh học nhỏ giọt (Biophil)

Nước thải bệnh viện được thu gom từ hệ thống cống thoát, qua song chắn rác thô nhằm cản những vật lớn như: quần áo, bơm tiêm, chai lọ, gạc có khả năng làm tắc nghẽn đường ống và hỏng bơm Nước từ ngăn thu được bơm tới bể điều hòa và

xử lý sơ bộ, nhằm điều hòa chất bẩn và lưu lượng nước thải đồng thời tại đây thực hiện xử lý sơ bộ, các vi sinh vật có sẵn trong nước thải ôxy hóa một phần hợp chất hữu cơ thành chất ổn định bông cặn dễ lắng, đồng thời khử một phần COD, BOD

Tiếp đó nước thải được chảy tràn hoặc bơm tới bể lọc sinh học nhỏ giọt tùy thuộc cách bố trí hệ thống ngầm hay nổi Tại đây dựa vào khả năng của vi sinh vật

sử dụng những chất hữu cơ có trong nước thải làm nguồn dinh dưỡng để sống và biến đổi chất, giải phóng các chất vô cơ vô hại Trong bể lọc sinh học nước thải được tưới đều xuống lớp vật liệu lọc là các loại đá cục, cuội có kích thước nhỏ hơn

30 mm, với chiều cao vật liệu lọc từ 1,5 - 2m Các hạt vật liệu lọc sẽ được bao bọc một lớp màng vi sinh vật

Nước ra khỏi bể lọc sinh học được bơm lên bể lắng thứ cấp, phần bùn lắng xuống đáy được đưa đến bể nén bùn, phần nước trong dẫn đến bể khử trùng để tiêu diệt vi sinh vật gây bệnh Nước sau khi xử lý thải ra hệ thống cống thành phố hoặc

ao hồ

1.4.3.2 Công nghệ AAO

Thời gian gần đây khi đầu tư xây dựng mới hệ thống xử lý nước thải bệnh viện người ta thường chú ý và lựa chọn một mô hình xử lý nước thải được chế tạo hợp khối nhập khẩu từ Nhật Bản đó là thiết bị hợp khối theo công nghệ AAO (Anaerobic/yếm khí – Anoxyc/thiếu khí – Oxyc/hiếu khí)

Nguyên lý xử lý của hệ thống

Nước thải từ hệ thống cống thu gom chung của bệnh viện được dẫn vào bể điều hòa có đặt song chắn rác inox kích thước khe hở 5-10 mm để tách rác và các vật thể lớn có trong nước thải Thời gian nước lưu trong bể điều hòa trung bình từ 3 giờ đến 4 giờ Nước thải sau đó được xử lý ở các công đoạn như sau:

Trang 39

Ngăn yếm khí dòng ngược với vi sinh vật lơ lửng được kết hợp với khối đệm giá thể bằng PVC chuyên dụng tạo nên màng vi sinh vật kỵ khí, làm tăng mật độ vi sinh vật lên đến khoảng 20.000 vi sinh vật/m3 nước thải, đảm bảo hiệu quả xử lý theo COD và tổng P lên đến 75-80%

Trong ngăn thiếu khí diễn ra quá trình khử nitrat khi một phần hỗn hợp bùn

và nước thải chứa nitrat được bơm ngược từ ngăn hiếu khí về Trong ngăn này chủ yếu diễn ra quá trình hô hấp thiếu khí và kết quả cuối cùng là giải phóng N2 bay lên

và một phần COD được xử lý

Trong ngăn hiếu khí, không khí được cấp bởi máy thổi khí, tạo điều kiện để diễn ra quá trình oxy hóa sinh hóa hiếu khí các chất hữu cơ và quá trình nitrat hóa diễn ra Kết quả là BOD trong nước thải giảm rõ rệt và amoni chuyển thành nitrat

Như vậy trong 3 ngăn AAO sẽ xử lý được các chất ô nhiễm chủ yếu là hữu

cơ (theo BOD và COD), tổng nitơ và tổng phospho

Sau khi qua các bậc xử lý nói trên, hỗn hợp nước thải và bùn được qua ngăn lắng thứ cấp để tách phần lớn lượng bùn hoạt tính nhằm hồi lưu về ngăn anoxyc và ngăn oxyc Phần bùn dư được đưa về bể chứa bùn

Nước thải sau ngăn lắng thứ cấp được đưa vào ngăn khử trùng Nước thải có thể được khử trùng bằng hai cách:

- Khử trùng bằng bộ màng siêu lọc MBR (Membrane Biological Reactor) với kích thước lỗ 0,3 - 0,5 µm Bằng màng MBR có thể loại được 98% vi khuẩn có

trong nước thải Hầu hết vi khuẩn E.coli được giữ lại trên màng lọc Ngoài chức

năng khử trùng, trên bề mặt MBR còn tập trung bùn hoạt tính mật độ cao để tiếp tục

xử lý triệt để nước thải Màng MBR được rửa ngược bằng thủy lực theo chương trình tự động lập sẵn

- Khử trùng bằng NaOCl hoặc Ca(OCl)2 dạng viên rắn Nước thải sau xử lý đi qua với vận tốc nhất định sẽ làm hòa tan hóa chất khử trùng vào nước Phương pháp này giảm đáng kể thiết bị cũng như chi phí chuẩn bị và định lượng hóa chất khử trùng theo phương pháp truyền thống

- Khử trùng bằng Cloramin B ( C6H5SO2NClNa.3H20) đang được một số cơ

sở y tế sử dụng để khử trùng nước thải

Trang 40

1.4.3.3 Nguyên lý hợp khối (hiếu khí – thiếu khí) (V69 hoặc CN 2000)

Phần nước thải sau khi qua bể điều hòa được lắng sơ bộ và phần nước gạn trong từ bể nén bùn được chảy sang bể hiếu khí gồm 2 ngăn, tại đây hàm lượng bùn hoạt tính được duy trì lơ lửng để ôxy hóa các chất bẩn, hợp chất hữu cơ thành những chất ổn định tạo thành bông cặn dễ lắng Tại bể này thực hiện quá trình khử BOD, COD và nitơ Môi trường hiếu khí trong bể đạt được do sử dụng hệ thống sục khí nhằm duy trì hỗn hợp lỏng trong thiết bị luôn ở chế độ khuấy trộn hoàn toàn

Sau khi qua xử lý tại bể hiếu khí, nước thải được bơm lên thiết bị hợp khối dạng tháp, thiết bị xử lý có đệm vi sinh được chế tạo từ vật liệu nhựa (hoặc vật liệu hữu cơ khác) có thông số: Độ rỗng > 90%, bề mặt riêng 250 - 300 m2/m3 Tại đây thực hiện các quá trình xử lý vi sinh như sau:

- Trộn khí cưỡng bức có cường độ cao bằng việc dùng không khí thổi cưỡng bức để hút và đẩy nước thải

- Lọc vi sinh dòng xuôi có lớp đệm vi sinh ngập nước

Thời gian lưu của nước thải trong thiết bị hợp khối là 2 - 2,5 giờ Khi nước thải tưới qua lớp vật liệu lọc bằng các phần tử rắn xốp, các vi khuẩn sẽ được hấp phụ, sinh sống và phát triển trên bề mặt đó Vi khuẩn dính bám vào vật rắn nhờ chất galatin do chúng tiết ra và có thể di chuyển dễ dàng trong lớp chất nhầy này Đầu tiên

vi khuẩn phát triển tập trung ở một khu vực sau đó chúng phát triển lan dần và phủ kín bề mặt vật liệu lọc Các chất dinh dưỡng như muối khoáng, hợp chất hữu cơ và

Ngày đăng: 12/09/2017, 11:24

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w