Nghiên cứu đề tài tiểu luận ''Chính sách an sinh xã hội đối với dân cư vùng khó khăn, vùng dân tộc, miền núi nước ta giai đoạn 2017 - 2020" sẽ giúp chúng ta hiểu rõ hơn thế nào là An sin
Trang 1BÀI THUYẾT MINH CHO ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU LUẬN VĂN THẠC SỸ
Tên đề tài: Chính sách An sinh Xã hội đối với dân cư vùng khó khăn,
vùng Dân tộc, Miền núi nước ta giai đoạn 2017 - 2020
A MỞ ĐẦU
I THÔNG TIN CHUNG VỀ ĐỀ TÀI
1 Tên đề tài:
“CHÍNH SÁCH AN SINH XÃ HỘI ĐỐI VỚI DÂN CƯ VÙNG KHÓ KHĂN, VÙNG DÂN TỘC, MIỀN NÚI NƯỚC TA GIAI ĐOẠN 2017 – 2020”
2 Loại đề tài: Đề tài bảo vệ luận văn thạc sỹ Chính sách công.
3 Giảng viên hướng dẫn: PGS.TS Lê Quốc Hội Trường đại học Kinh tế
Quốc Dân
4 Những người thực hiện đề tài: Nhóm 03 lớp Chính sách công Quảng Ninh
Trương Văn Pha, Nguyễn Lan Phương, Đinh Mai Phương, Vũ Thị Việt Nga,
Vũ Thị Thúy Nhân, Hoàng Hải Ninh, Nguyễn Hồng Nhung, Tống Thị Nguyệt
II MỤC ĐÍCH VÀ LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI
1 Lý do chọn đề tài
Bảo đảm an sinh xã hội (ASXH) là chủ trương nhất quán và xuyên suốt của Đảng trong lãnh đạo đất nước, là chính sách cơ bản để giảm nghèo, bảo đảm đời sống của nhân dân, thực hiện công bằng, tạo sự đồng thuận xã hội, góp phần giữ vững ổn định chính trị, đảm bảo trật tự, an toàn xã hội, củng cố và tăng cường quốc phòng, an ninh Bảo đảm an sinh xã hội (ASXH) không chỉ là bảo vệ quyền của công dân như đã nêu trong Tuyên ngôn thế giới về quyền con người, mà còn
là một nhiệm vụ quan trọng của mỗi quốc gia trong quá trình phát triển Tuy nhiên, mức độ, quy mô, phạm vi an sinh xã hội và phúc lợi xã hội của các nước có
sự khác nhau, tùy thuộc vào quan niệm, chế độ chính trị - xã hội, trình độ phát triển và chính sách của mỗi quốc gia Đối tượng cần được ASXH quan tâm ở Việt Nam khá đa dạng bao gồm nhiều thành phần dân cư, dân tộc, xã hội thuộc diện người nghèo, người yếu thế
Đối với nước ta, bảo đảm ngày càng tốt hơn an sinh xã hội và phúc lợi xã hội luôn là một chủ trương, nhiệm vụ lớn của Đảng và Nhà nước, thể hiện bản chất tốt đẹp của chế độ ta và có ý nghĩa rất quan trọng đối với sự ổn định chính trị - xã hội và phát triển bền vững của đất nước Đặc biệt, Nghị quyết số
15-NQ/TW ngày 1/6/2012 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng (Khóa XI) “Một số
vấn đề về chính sách xã hội giai đoạn 2012-2020”, Nghị quyết đầu tiên của Ban
Chấp hành Trung ương Đảng về vấn đề xã hội, đã đặt ra yêu cầu: “Chính sách xã
hội phải được đặt ngang tầm với chính sách kinh tế và thực hiện đồng bộ với phát triển kinh tế, phù hợp với trình độ phát triển và khả năng nguồn lực trong từng thời
Trang 2kỳ” 1; coi bảo đảm an sinh xã hội là nhiệm vụ thường xuyên, quan trọng của Đảng, Nhà nước, của cả hệ thống chính trị và toàn xã hội; xây dựng hệ thống an sinh xã hội đa dạng, toàn diện, có tính chia sẻ giữa Nhà nước, xã hội và người dân, giữa các nhóm dân cư trong một thế hệ và giữa các thế hệ Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 2085/QĐ-TTg ngày 31/10/2016 phê duyệt Chính sách đặc thù
hỗ trợ phát triển kinh tế - xã hội vùng dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2017
- 2020 Với ý nghĩa đó, trong quá trình nghiên cứu học tập, nhóm 3 lựa chọn vấn
đề : ''Chính sách an sinh xã hội đối với dân cư vùng khó khăn, vùng dân tộc, miền
núi nước ta, giai đoạn 2017 - 2020" để làm đề tài nghiên cứu.
2 Mục đích.
Nghiên cứu đề tài tiểu luận ''Chính sách an sinh xã hội đối với dân cư vùng
khó khăn, vùng dân tộc, miền núi nước ta giai đoạn 2017 - 2020" sẽ giúp chúng ta
hiểu rõ hơn thế nào là An sinh Xã hội, các bộ phận, cấu trúc của an sinh xã hội, ý nghĩa của việc triển khai chính sách an sinh xã hội ở nước ta hiện nay, thực trạng chính sách an sinh xã hội, để từ đó tiếp tục xác định các mục tiêu, biện pháp giải quyết vấn đề
3 Giới hạn.
3.1 Đối tượng.
Đối tượng ASXH ở vùng nông thôn, vùng nghèo, vùng khó khăn, vùng dân tộc và miền núi là nhóm cộng đồng dân cư cần có nhiều nhu cầu hỗ trợ toàn diện
và cấp bách nhất trong các đối tượng cần được quan tâm, các hộ nghèo được xác định theo tiêu chí về thu nhập quy định tại Quyết định số 59/2015/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ về việc ban hành chuẩn nghèo tiếp cận đa chiều áp dụng cho giai đoạn 2016-2020, cụ thể :
- Vùng nông thôn : là địa bàn sinh sống chủ yếu của người nông dân, trong
đó có nông dân là người dân tộc thiểu số Nông thôn vùng dân tộc thiểu số và miền núi là khu vực có nhiều khó khăn trong phát triển xây dựng nông thôn mới,
ít có điều kiện tiếp cận với các dịch vụ để phát triển cơ sở hạ tầng, giáo dục, y tế
- Vùng nghèo, vùng khó khăn : Chủ yếu là vùng mà các cộng đồng dân cư
có mức sống thấp, bấp bênh, ít có cơ hội và năng lực để vươn lên thoát nghèo Trong đối tượng dân cư vùng nghèo đó, thì vùng dân tộc thiểu số chiếm tỷ lệ đáng
kể Đối tượng xóa đói giảm nghèo, chương trình 135 hai giai đoạn, chương trình
134, chương trình 63 huyện nghèo đều có liên quan đến vùng đồng bào dân tộc thiểu số
- Vùng dân tộc miền núi là địa bàn sinh sống của cộng đồng nhiều dân tộc
anh em với những điều kiện khó khăn về cơ sở hạ tầng, phát triển sản xuất và tiếp cận với các dịch vụ công để tồn tại bình thường, hội nhập và phát triển Trong nhiều năm qua, tuy khu vực này được đầu tư không nhỏ trong thực hiện các chính
1 Một số chỉ tiêu chính bao gồm: Đến năm 2020, tỷ lệ lao động tham gia BHXH đạt 50%; tỷ lệ lao động tham gia
BH thất nghiệp đạt 35%; tỷ lệ lao động qua đào tạo đạt 70%; tỷ lệ lao động tham gia BHYT đạt trên 90%; trên 3% tổng dân số được hưởng trợ giúp xã hội
Trang 3sách dân tộc, chính sách phát triển kinh tế - xã hội song đời sống của không nhỏ
bộ phận dân cư, dân tộc trong khu vực còn nhiều khó khăn
Như vậy trên bình diện chung của quốc gia, đối tượng chịu tác động của chính sách ASXH khu vực trên đây là đối tượng đặc thù Trong chiến lược phát triển của quốc gia từ nay đến 2020 ngoài các chính sách cụ thể (chính sách dân tộc, chính sách phát triển kinh tế - xã hội ) thì các chính sách dưới góc độ ASXH cần được quan tâm đâu tư, lên kế hoạch trong việc xác định rõ hơn các nhóm đối tượng và lộ trình tác động để có hiệu quả cao và đảm bảo tính bền vững
3.2 Không gian : Nghiên cứu tiểu luận về Chính sách an sinh xã hội đối
với dân cư vùng khó khăn, vùng dân tộc, miền núi trên phạm vi cả nước
3.3 Thời gian : Giai đoạn 2016 - 2021.
4 Phương pháp nghiên cứu : Sử dụng kết hợp các phương pháp :
- Nghiên cứu tài liệu, các văn bản chỉ đạo của Trung ương, tỉnh, thành phố
về chính sách an sinh xã hội, đề án phát triển kinh tế xã hội giai đoạn 2016 - 2021
- Điều tra, khảo sát thực tế
- Phân tích biện chứng
- Quan sát, đánh giá thực tế
5 Ý nghĩa thực tiễn.
Nghiên cứu tiểu luận ''Chính sách an sinh xã hội đối với dân cư vùng khó
khăn, vùng dân tộc, miền núi nước ta, giai đoạn 2016 - 2021" sẽ cho thấy vai trò
và ý nghĩa to lớn của hệ thống an sinh xã hội đối với sự phát triển và ổn định kinh tế - xã hội nước ta hiện nay và trong tương lai, cụ thể :
Thứ nhất, an sinh xã hội góp phần ổn định đời sống của người lao động.
Hệ thống an sinh xã hội sẽ góp phần thay thế hoặc bù đắp một phần thu nhập khi người lao động bị ốm đau, mất khả năng lao động, mất việc làm, hoặc chết Nhờ
có sự thay thế hoặc bù đắp thu nhập kịp thời mà người lao động khắc phục nhanh chóng được những tổn thất về vật chất, nhanh phục hồi sức khỏe, ổn định cuộc sống để tiếp tục quá trình hoạt động bình thường
Thứ hai, an sinh xã hội góp phần đảm bảo an toàn, ổn định cho toàn bộ
nền kinh tế - xã hội Để phòng ngừa, hạn chế tổn thất, các đơn vị kinh tế phải đề
ra các quy định chặt chẽ về an toàn lao động buộc mọi người phải tuân thủ Khi
có rủi ro xảy ra với người lao động, hệ thống an sinh xã hội kịp thời hỗ trợ, tạo điều kiện cho người lao động nhanh ổn định cuộc sống và sản xuất Tất cả những yếu tố đó góp phần quan trọng làm ổn định nền kinh tế - xã hội
Thứ ba, hệ thống an sinh xã hội, trong đó có bảo hiểm xã hội (BHXH) làm
tăng thêm mối quan hệ gắn bó giữa người lao động, người sử dụng lao động và Nhà nước Người lao động, người sử dụng lao động, Nhà nước đều tham gia đóng góp vào quỹ BHXH, điều đó làm cho người lao động có trách nhiệm hơn trong công việc, trong lao động sản xuất Người sử dụng lao động tham gia đóng
Trang 4góp quỹ BHXH cho người lao động được hưởng các chế độ BHXH cũng thấy rõ trách nhiệm của mình đối với người lao động Nhà nước vừa tham gia đóng góp, vừa điều hành hoạt động của quỹ BHXH, đảm bảo sự công bằng, bình đẳng cho mọi đối tượng thụ hưởng… Điều đó làm tăng thêm mối quan hệ gắn bó giữa Nhà nước - người sử dụng lao động - người lao động, góp phần ổn định nền kinh
tế - xã hội
Thứ tư, hệ thống an sinh xã hội góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế và
công bằng xã hội Quỹ an sinh xã hội, trong đó có quỹ BHXH là nguồn tài chính tập trung khá lớn, được sử dụng để chi trả các chế độ cho người lao động và gia đình họ, phần nhàn dỗi được đầu tư vào các hoạt động sản xuất, kinh doanh để bảo tồn và tăng trưởng quỹ Như vậy xét trên cả phương diện chi trả các chế độ, cũng như đầu tư tăng trưởng quỹ, hoạt động của quỹ an sinh xã hội đều góp phần thúc đẩy sự tăng trưởng kinh tế
Bên cạnh đó, phân phối trong an sinh xã hội là sự phân phối lại theo
hướng có lợi cho những người có thu nhập thấp; là sự chuyển dịch thu nhập của những người khỏe mạnh, may mắn có việc làm ổn định cho những người ốm, yếu, gặp phải những biến cố rủi ro trong lao động sản xuất và trong cuộc sống
Vì vậy, an sinh xã hội góp phần làm giảm bớt khoảng cách giữa người giàu và người nghèo, góp phần bảo đảm sự công bằng xã hội
An sinh xã hội là một trong những chính sách xã hội cơ bản thể hiện đường lối chủ trương của Đảng và Nhà nước ta hướng vào mục tiêu phát triển con người, thúc đẩy công bằng và tiến bộ, nâng cao chất lượng cuộc sống của nhân dân, phù hợp với điều kiện kinh tế - xã hội của đất nước Để chính sách này đảm bảo tốt hơn đời sống cho người dân, đặc biệt là dân cư vùng khó khăn, vùng dân tộc và miền núi, góp phần tích cực vào việc ổn định, an toàn xã hội, đẩy mạnh sự nghiệp phát triển kinh tế của đất nước thì việc xây dựng và hoàn thiện Pháp luật về an sinh xã hội ở Việt Nam là hết sức cần thiết Pháp luật an sinh xã hội phải trên cơ sở kế thừa và phát huy những thành tựu lập pháp đã đạt được cũng như điều chỉnh các quan hệ mới theo điều kiện thực tế để Việt Nam
có được một hệ thống an sinh xã hội phát triển, đủ sức chống đỡ với các rủi ro
xã hội
6 Cấu trúc tiểu luận.
Tiểu luận gồm 3 phần chính
I THÔNG TIN CHUNG VỀ ĐỀ TÀI
II MỤC ĐÍCH, LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI
1 Lý do chọn đề tài tiểu luận
2 Mục đích
3 Giới hạn (đối tượng, không gian, thời gian)
4 Phương pháp nghiên cứu
5 Ý nghĩa thực tiễn
Trang 56 Cấu trúc tiểu luận.
B NỘI DUNG
1 Cơ sở lý luận của nội dung nghiên cứu
2 Phân tích thực trạng nội dung nghiên cứu
3 Những biện pháp/giải pháp giải quyết
4 Đề xuất, kiến nghị
C KẾT LUẬN
TÀI LIỆU THAM KHẢO
B NỘI DUNG.
1 Cơ sở lý luận của chính sách an sinh xã hội.
Hệ thống an sinh xã hội (ASXH) là một bộ phận trong mô hình phát triển
xã hội để thực hiện mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh
Hoạt động của hệ thống ASXH là nơi thể hiện rõ nhất tính “định hướng xã hội
chủ nghĩa” của nền kinh tế thị trường, trong đó, con người luôn có được, bao gồm
cả cảm nhận được, một cuộc sống yên ổn và an toàn, có khả năng phòng ngừa
những cú sốc và có những “chiếc phao cứu sinh” khi gặp phải những biến cố, rủi
ro bất thường
Từ nhiều năm qua, Đảng và Nhà nước ta luôn quan tâm xây dựng và tổ chức thực hiện các chính sách ASXH, coi đây vừa là mục tiêu, vừa là động lực để phát triển bền vững, ổn định chính trị - xã hội Diện thụ hưởng chính sách ngày càng mở rộng, mức hỗ trợ được nâng lên Nguồn lực đầu tư phát triển các lĩnh vực xã hội ngày càng lớn Nước ta đã đạt được nhiều thành tựu quan trọng, nhất là trong giảm nghèo, tạo việc làm, giáo dục và đào tạo, y tế, trợ giúp người có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn Đời sống vật chất và tinh thần của người người nghèo, đồng bào dân tộc thiểu
số được cải thiện và đã được quốc tế ghi nhận và đánh giá cao
Tuy nhiên, trên thực tế, hệ thống chính sách ASXH của nước ta hiện còn phân tán, chồng chéo, hiệu quả chưa cao, tạo việc làm và giảm nghèo chưa bền vững, tỉ lệ hộ cận nghèo, tái nghèo còn cao; mức trợ cấp xã hội còn thấp; giáo dục
và đào tạo chưa đáp ứng yêu cầu phát triển; công tác bảo vệ, chăm sóc sức khoẻ người dân, nhất là đối với người nghèo, đồng bào vùng sâu, vùng xa, vùng dân tộc thiểu số còn nhiều hạn chế; tỉ lệ trẻ em suy dinh dưỡng còn cao và giảm chậm; tỉ
lệ người tham gia BHXH, BHYT còn thấp; đời sống của một bộ phận người nghèo, đồng bào dân tộc thiểu số chưa bảo đảm được mức tối thiểu và có sự chênh lệch giữa miền núi, vùng đồng bào dân tộc thiểu số với mức trung bình của
cả nước
Những hạn chế trên do nhiều nguyên nhân, trong đó có sự thiếu thống nhất trong nhận thức về nội dung, vai trò và vị trí của ASXH trong mô hình phát triển
xã hội nên hệ thống ASXH chưa theo kịp sự phát triển kinh tế, nguồn lực thực
Trang 6hiện bảo đảm ASXH còn hạn chế, chủ yếu phải dựa vào Nhà nước, chưa khuyến khích người dân và các đối tác xã hội tích cực chủ động tham gia
Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XI đặt ra nhiệm vụ “Phải coi trọng việc kết
hợp chặt chẽ giữa tăng trưởng kinh tế với thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội; bảo đảm an sinh xã hội, chăm lo đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân, nhất là đối với người nghèo, đồng bào ở vùng sâu, vùng xa, đặc biệt là trong tình hình kinh tế khó khăn, suy giảm”… “Tiếp tục sửa đổi, hoàn chỉnh hệ thống bảo hiểm xã hội, bảo hiểm thất nghiệp, trợ giúp và cứu trợ xã hội đa dạng, linh hoạt,
có khả năng bảo vệ, trợ giúp mọi thành viên trong xã hội, nhất là các nhóm yếu thế dễ bị tổn thương vượt qua khó khăn hoặc các rủi ro trong đời sống”; “tập trung triển khai có hiệu quả các chương trình xoá đói, giảm nghèo ở các vùng sâu, vùng xa, vùng đặc biệt khó khăn”.
Nghị Quyết số 15 của Ban chấp hành TW Đảng về “Một số vấn đề về
chính sách xã hội giai đoạn 2012 - 2020” cũng yêu cầu “Chính sách xã hội phải được đặt ngang tầm với chính sách kinh tế và thực hiện đồng bộ với phát triển kinh tế, phù hợp với trình độ phát triển và khả năng nguồn lực trong từng thời kỳ ”, đồng thời thực hiện có trọng tâm, trọng điểm; bảo đảm mức sống tối thiểu
và hỗ trợ kịp thời người có hoàn cảnh khó khăn
Với quan điểm đó, Chính phủ đã đặt ra mục tiêu đến năm 2020 cơ bản hình thành một hệ thống ASXH bao phủ toàn dân nhằm bảo đảm để người dân có việc làm, thu nhập tối thiểu; tham gia BHXH, bảo đảm hỗ trợ những người có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn (trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt, người cao tuổi thu thập thấp, người khuyết tật nặng, người nghèo…); bảo đảm cho người dân tiếp cận được các dịch vụ xã hội cơ bản ở mức tối thiểu (y tế, giáo dục, nhà ở, nước sạch, thông tin), góp phần giảm nghèo bền vững, ổn định chính trị và phát triển kinh tế
- xã hội
2 Thực trạng thực hiện chính sách an sinh xã hội ở Việt Nam những năm qua.
2.1 Ưu điểm.
2.2 Hạn chế.
3 Yêu cầu và giải pháp thực hiện hiệu quả chính sách an sinh xã hội giai đoạn 2017 - 2020
* Mục tiêu, yêu cầu của hệ thống an sinh xã hội
Tiếp tục phát triển thị trường lao động, tăng cường điều kiện hoạt động của các đối tác tham gia thị trường lao động (Nhà nước, doanh nghiệp, các tổ chức môi giới trung gian và người lao động); tăng cường hỗ trợ của Nhà nước đối với
người lao động yếu thế trên thị trường thông qua các chính sách hỗ trợ tạo việc làm
* Yêu cầu.
Trước hết, cần khẳng định bảo đảm an sinh xã hội là một chức năng, nhiệm
vụ chủ yếu của Nhà nước và là quyền lợi, trách nhiệm của toàn xã hội Thông qua
Trang 7hệ thống các cơ chế chính sách và nguồn lực của mình, Nhà nước thực hiện vai trò chủ đạo trong việc bảo đảm an sinh xã hội và phúc lợi xã hội cho nhân dân Nhà nước thực hiện tốt chính sách phân phối và phân phối lại thu nhập quốc dân, phân bổ hợp lý và sử dụng hiệu quả nguồn lực từ kinh tế nhà nước để thực hiện chính sách cơ cấu nhằm thúc đẩy tăng trưởng nhanh, bền vững và bảo đảm các yêu cầu cơ bản về an sinh xã hội và phúc lợi xã hội, coi việc thực hiện nhiệm vụ này là một nội dung quan trọng thể hiện vai trò chủ đạo của kinh tế Nhà nước
Thứ hai, hệ thống an sinh xã hội và phúc lợi xã hội phải bảo đảm chủ
động, tích cực và có tính xã hội hóa cao Theo đó, cùng với tăng cường vai trò của Nhà nước, phải huy động mọi nguồn lực của xã hội, nâng cao trách nhiệm
và năng lực tự an sinh của mỗi cá nhân, gia đình và cộng đồng; vừa trợ giúp kịp thời, hiệu quả trong việc bảo đảm mức sống tối thiểu của người dân, vừa góp phần quan trọng thúc đẩy xóa đói giảm nghèo, không ngừng nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân
Thứ ba, xây dựng một hệ thống an sinh xã hội và phúc lợi xã hội đa tầng,
linh hoạt, bền vững, có thể hỗ trợ lẫn nhau, công bằng về trách nhiệm và lợi ích, chia sẻ rủi ro, hướng tới bao phủ toàn dân, tập trung hỗ trợ cho những người nghèo, hộ nghèo, những đối tượng dễ bị tổn thương, đặc biệt là những trẻ em có hoàn cảnh khó khăn, phù hợp với điều kiện kinh tế - xã hội của đất nước và tiếp cận với thông lệ quốc tế
* Nhiệm vụ và giải pháp hiện thực hóa các mục tiêu về an sinh xã hội trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội.
Để thực hiện tốt các yêu cầu trên đây, hiện thực hóa các mục tiêu về an sinh
xã hội và phúc lợi xã hội trong Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 2011-2020, cần tập trung thực hiện có hiệu quả các nhiệm vụ và giải pháp sau :
Một là, Đẩy mạnh triển khai các chương trình phát triển kinh tế - xã hội
gắn với giải quyết việc làm Khuyến khích tối đa các thành phần kinh tế, các loại hình doanh nghiệp phát triển mạnh sản xuất, kinh doanh để tạo nhiều việc làm, đồng thời hỗ trợ người dân có việc làm, tăng thu nhập là giải pháp xóa đói giảm nghèo và bảo đảm an sinh xã hội tích cực, hiệu quả, bền vững Để thực hiện tốt nhiệm vụ này, một mặt phải hoàn thiện các chính sách khuyến khích đầu tư, chính sách ưu đãi đối với các cơ sở sản xuất, kinh doanh sử dụng nhiều lao động, nhất là
ở địa bàn nông thôn; mặt khác phải tiếp tục thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia về việc làm gắn với thực hiện đề án Đổi mới và phát triển dạy nghề đến năm
2020, chương trình dạy nghề cho lao động nông thôn với các giải pháp toàn diện, đồng bộ và có hiệu quả; phát triển mạnh thị trường lao động Thực hiện tốt các chính sách hỗ trợ cho cả người học và cơ sở dạy nghề, như cho vay ưu đãi học nghề, hỗ trợ đào tạo nghề cho lao động nông thôn, bộ đội xuất ngũ, phụ nữ, thanh niên…; đẩy mạnh việc đưa lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài
Phấn đấu hàng năm tuyển mới dạy nghề cho khoảng 1,8 triệu người, trong đó có 1 triệu lao động nông thôn; đến năm 2015 giảm tỷ lệ thất nghiệp ở thành thị xuống còn 4%; năm 2020 lao động qua đào tạo đạt trên 70%, đào
Trang 8tạo nghề chiếm 55% trong tổng lao động xã hội Tiếp tục hoàn thiện hệ thống pháp luật về lao động, việc làm; chú trọng xây dựng quan hệ lao động hài hòa, điều kiện và môi trường lao động an toàn
Hai là, Phát triển đồng bộ, đa dạng và nâng cao chất lượng hệ thống bảo
hiểm, đồng thời có chính sách hỗ trợ phù hợp để người dân tích cực tham gia Trong điều kiện có những tác động tiêu cực của kinh tế thị trường, cùng biến đổi khí hậu, thiên tai, dịch bệnh có xu hướng gia tăng, việc phát triển hệ thống bảo hiểm và sự tham gia rộng rãi của người dân được coi là giải pháp quan trọng nhằm chia sẻ rủi ro và trợ giúp người tham gia bảo hiểm khi xảy ra các tác động bất lợi về kinh tế, xã hội, môi trường Cần khẩn trương hoàn thiện và thực hiện có hiệu quả các cơ chế, chính sách nhằm phát triển hệ thống bảo hiểm ngày càng đa dạng, đồng bộ, bền vững, với chất lượng được nâng cao, phục vụ có hiệu quả các mục tiêu về an sinh, kinh tế và xã hội, đáp ứng nhu cầu đa dạng của người tham gia bảo hiểm Hệ thống này được xây dựng và hoạt động theo nguyên tắc đóng - hưởng; có sự chia sẻ hợp lý về quyền lợi và nghĩa vụ Nhà nước có sự hỗ trợ phù hợp cho các đối tượng tham gia, nhất là người nghèo, cận nghèo, trẻ em, các đối tượng chính sách và bảo trợ xã hội… Phát triển mạnh cả bảo hiểm bắt buộc và bảo hiểm tự nguyện Nghiên cứu sửa đổi, bổ sung các chế độ bảo hiểm xã hội phù hợp với yêu cầu của giai đoạn mới, gắn với điều chỉnh lương hưu và lộ trình cải cách tiền lương Xây dựng chính sách bảo hiểm xã hội tự nguyện cho người lao động, trong đó có chính sách hỗ trợ người lao động có thu nhập thấp, lao động
ở nông thôn tham gia các loại hình bảo hiểm xã hội Thực hiện tốt chế độ bảo hiểm thất nghiệp
Tiếp tục hoàn thiện đồng bộ các chính sách về bảo hiểm y tế, viện phí và khám chữa bệnh Đặc biệt chú trọng chính sách đối với bà mẹ, trẻ em, người nghèo, người dân ở vùng khó khăn, người lao động trong các khu vực phi chính thức Khẩn trương nghiên cứu, thí điểm để mở rộng các hình thức bảo hiểm khác thích ứng với điều kiện kinh tế thị trường và hội nhập quốc tế, trong đó có chính sách hỗ trợ nông dân tham gia bảo hiểm sản xuất nông nghiệp nhằm duy trì sản xuất và bảo đảm đời sống
Ba là, Thực hiện có hiệu quả chương trình xóa đói giảm nghèo bền vững.
Trong thời gian tới, xóa đói giảm nghèo vẫn là một nhiệm vụ bức thiết với quy mô rộng lớn, mang ý nghĩa chính trị, xã hội, nhân văn sâu sắc và là một trọng tâm trong công tác bảo đảm an sinh xã hội và phúc lợi xã hội ở nước ta
Để thực hiện xóa đói giảm nghèo nhanh và bền vững, phải đẩy mạnh triển khai các chương trình phát triển kinh tế - xã hội, trong đó trọng tâm là triển khai có hiệu quả Chương trình quốc gia về xóa đói giảm nghèo giai đoạn
2011 - 2020 với chuẩn nghèo mới phù hợp với tình hình phát triển của nước ta
và tiếp cận với chuẩn quốc tế Các chính sách và giải pháp xóa đói giảm nghèo phải thiết thực, đồng bộ cả về hỗ trợ phát triển sản xuất và đời sống, tạo việc làm, tiếp cận thị trường; nâng cao khả năng tự vươn lên thoát nghèo bền vững của người dân Phải bảo đảm lồng ghép có hiệu quả các chương
Trang 9trình, dự án và nguồn lực trên từng địa bàn; sự tham gia chủ động của người dân, cộng đồng và cơ sở
Cùng với việc ưu tiên bố trí kinh phí từ ngân sách nhà nước, tiếp tục huy động sự trợ giúp của cộng đồng doanh nghiệp và của toàn xã hội, động viên người nghèo, vùng nghèo nỗ lực vươn lên thoát nghèo bền vững, tiến tới làm giàu Thực hiện có hiệu quả các chương trình, dự án, chính sách giảm nghèo hiện có, nhất là chương trình giảm nghèo ở các địa phương có số hộ nghèo cao Thực hiện cuộc vận động xã hội sâu rộng triển khai Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới, trong đó gắn phát triển kinh tế với xã hội
và bảo vệ môi trường, xóa đói giảm nghèo, giải quyết việc làm và bảo đảm an sinh xã hội, phúc lợi xã hội, phát triển nông thôn bền vững
Bốn là, Thực hiện tốt chính sách ưu đãi đối với người có công và chính
sách trợ giúp xã hội cho các đối tượng bảo trợ xã hội Hiện nay, nước ta có hơn 1,4 triệu người có công với nước đang hưởng chính sách trợ cấp ưu đãi và hơn 1,6 triệu người đang hưởng chính sách trợ cấp xã hội thường xuyên hàng tháng Ngoài ra, nhu cầu trợ giúp đột xuất còn rất lớn do tỷ lệ người nghèo, hộ nghèo, cận nghèo còn cao, đa số người già chưa được hưởng chế độ hưu trí, tác động của kinh tế thị trường, dịch bệnh, thiên tai gây thiệt hại ngày càng lớn Vì vậy, thực hiện tốt hơn chính sách ưu đãi người có công với nước và chính sách trợ giúp xã hội không những có ý nghĩa quan trọng trong việc bảo đảm an sinh, ổn định xã hội, mà còn thể hiện bản chất tốt đẹp của chế độ ta, dân tộc ta
Thấm nhuần đạo lý và truyền thống “uống nước nhớ nguồn”, “ăn quả
nhớ người trồng cây”, cần tiếp tục hoàn chỉnh các chính sách và nâng cao chế
độ ưu đãi đối với người có công, phù hợp với sự phát triển kinh tế; đồng thời
hỗ trợ các gia đình người có công phát triển sản xuất, kinh doanh, nâng cao
thu nhập; vận động toàn xã hội tham gia phong trào “đền ơn đáp nghĩa”, bảo
đảm cho những người có công có mức sống cao hơn mức trung bình của dân
cư cùng địa bàn
Hoàn thiện các chính sách và phát triển hệ thống trợ giúp xã hội linh hoạt, ứng phó có hiệu quả với các biến cố, rủi ro, theo hướng cùng với việc tăng cường trợ giúp thường xuyên và đột xuất từ ngân sách nhà nước, phải đẩy mạnh xã hội hóa, đa dạng các kênh và hình thức trợ giúp xã hội và cứu trợ xã hội tự nguyện, nhân đạo dựa vào cộng đồng với sự tham gia rộng lớn của các doanh nghiệp, của xã hội và kiều bào ta ở nước ngoài; tranh thủ sự trợ giúp của cộng đồng quốc tế Tiếp tục mở rộng đối tượng và điều kiện hưởng thụ trợ giúp xã hội đến toàn bộ các nhóm dân cư dễ bị tổn thương với mức trợ giúp phù hợp Phấn đấu bảo đảm cho mọi người dân khi có thu nhập dưới mức sống tối thiểu đều được nhận trợ giúp xã hội
Năm là, Nhà nước tăng thêm nguồn lực và phát huy vai trò chủ đạo để nâng
cao phúc lợi xã hội và phát triển đa dạng hệ thống các dịch vụ xã hội cơ bản Không ngừng nâng cao phúc lợi xã hội và khả năng tiếp cận các dịch vụ
xã hội, trước hết là các dịch vụ công cộng cơ bản, bảo đảm công bằng, bình
Trang 10đẳng cho mọi người Điều này có ý nghĩa quan trọng trong việc điều chỉnh các quan hệ xã hội và phân phối lại một bộ phận thu nhập quốc dân, nhằm thỏa mãn những nhu cầu thiết yếu về vật chất và tinh thần, giảm bớt sự chênh lệch về thu nhập và mức sống giữa các thành viên, các tầng lớp dân cư, các nhóm xã hội và các vùng miền Trong điều kiện đất nước còn nhiều khó khăn, thực hiện tốt yêu cầu này cũng là một biểu hiện thực tế và sinh động bản chất
ưu việt của chế độ ta
Trong thời gian tới, việc bảo đảm phúc lợi xã hội gắn với đẩy mạnh phát triển các dịch vụ xã hội phải vừa trợ giúp mọi người dân được tiếp cận với các dịch vụ xã hội cơ bản tối thiểu về khám chữa bệnh, học hành, nhà ở, điện, nước sinh hoạt, văn hóa, thông tin và truyền thông, bảo đảm vệ sinh môi trường, đi lại…, vừa đáp ứng nhu cầu ngày càng cao, đa dạng của nhân dân đối với các dịch vụ này Cần đẩy mạnh phát triển các quỹ phúc lợi xã hội ở cả
3 cấp độ: quỹ tập trung của Nhà nước; quỹ của các doanh nghiệp, đơn vị kinh doanh; quỹ của các tập thể và cộng đồng Phát triển hệ thống dịch vụ ngày càng đa dạng, đồng bộ, mở rộng độ bao phủ, với chất lượng ngày càng nâng lên Quy định rõ công khai, minh bạch mức thụ hưởng các phúc lợi xã hội và dịch vụ cơ bản tối thiểu của người dân; đồng thời phải khắc phục các tiêu cực, phiền hà, tạo điều kiện thuận lợi cho mọi người dân tiếp cận hệ thống dịch vụ này; có chính sách hỗ trợ phù hợp cho các đối tượng khó khăn
Xây dựng và triển khai có hiệu quả các chương trình quốc gia về phát triển giáo dục, y tế, văn hóa, thông tin, thể thao, dân số, gia đình và trẻ em Tiếp tục đẩy mạnh xây dựng kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội, nhất là ở các vùng nghèo, đặc biệt khó khăn; đồng thời hoàn thiện các chính sách về miễn giảm học phí, học bổng, tín dụng ưu đãi cho người học, phổ cập giáo dục mầm non 5 tuổi; chính sách khám, chữa bệnh, thụ hưởng văn hóa, thông tin, trợ giúp pháp lý; chính sách nhà ở… cho các đối tượng chính sách, đối tượng khó khăn Đặc biệt, phải quan tâm làm tốt hơn công tác chăm sóc, bảo vệ và giáo dục trẻ em để con em chúng ta phát triển toàn diện cả về thể chất, trí tuệ, tinh thần và nhân cách Đẩy mạnh cuộc vận động xây dựng gia đình văn hóa,
ấm no, hạnh phúc
Sáu là, Huy động sự tham gia của toàn xã hội để thực hiện tốt an sinh xã
hội và phúc lợi xã hội : An sinh xã hội và phúc lợi xã hội có bản chất xã hội sâu sắc gắn kết hữu cơ giữa quyền lợi và trách nhiệm của mỗi người với mỗi đơn vị, cộng đồng và toàn xã hội Cùng với việc nâng cao vai trò, chức năng và tăng thêm
nguồn lực của Nhà nước, phải thực hiện chủ trương “các chính sách xã hội được
tiến hành theo tinh thần xã hội hóa” Phải huy động các nguồn lực của toàn xã
hội để nâng cao an sinh xã hội và phúc lợi xã hội
Tiếp tục hoàn thiện cơ chế chính sách nhằm mở rộng sự tham gia của mọi chủ thể vào cung cấp ngày càng nhiều hơn với chất lượng tốt hơn các dịch vụ công cộng Tạo điều kiện thuận lợi để mọi người dân đề cao trách nhiệm, nâng cao năng lực và tham gia thiết thực vào việc bảo đảm an sinh xã hội, phúc lợi xã hội Khuyến khích phát triển các mô hình an sinh xã hội tự