1. Đặt vấn đề. Lọc màng bụng và thận nhân tạo là hai phương thức lọc máu điều trị thay thế thận suy phổ biến hiện nay. Lọc máu tốt giúp điều chỉnh các rối loạn cho các bệnh nhân suy thận mạn tính, từ đó nâng cao chất lượng cuộc sống cũng như kéo dài thời gian sống của người bệnh. Sức khỏe nói chung và sức khỏe của người bệnh lọc máu nói riêng theo như định nghĩa của Tổ chức Y tế Thế giới là một tình trạng thoải mái cả về thể chất, tinh thần. Như vậy để đánh giá đúng chất lượng cuộc sống của bệnh nhân lọc máu bao gồm hai phần lớn: thứ nhất, điều kiện tiên quyết là đảm bảo hiệu quả lọc máu tốt thể hiện bằng các thông số kỹ thuật lọc máu cụ thể, khách quan; Và thứ hai là sự tự đánh giá chất lượng cuộc sống về tình trạng thể chất và cảm giác chủ quan về sức khoẻ của chính người bệnh. Tại Việt Nam, tại các cơ sở y tế lớn, tuyến trung ương, đã có nhiều công bố về hiệu quả lọc máu của bệnh nhân suy thận mạn tính. Tuy nhiên các bệnh viện tuyến tỉnh hoặc khu vực với điều kiện cơ sở vật chất thiếu thống và con người còn non trẻ rất cần có những nghiên cứu thực trạng tình hình lọc máu và chất lượng cuộc sống ở những người bệnh này. Do đó, chúng tôi đã thực hiện đề tài: “Nghiên cứu một số chỉ số đánh giá kết quả điều trị, chất lượng cuộc sống ở bệnh nhân suy thận mạn tính được lọc máu bằng thận nhân tạo và lọc màng bụng” với các mục tiêu sau: 1.Đánh giá thực trạng và sự thay đổi một số kết quả điều trị lọc máu theo dõi trong 2 năm ở bệnh nhân suy thận mạn tính được lọc máu bằng thận nhân tạo và lọc màng bụng tại Bệnh viện đa khoa khu vực Củ chi. 2.Đánh giá chất lượng cuộc sống bằng bộ câu hỏi SF-36 và sự thay đổi sau 2 năm ở bệnh nhân suy thận mạn tính được lọc máu bằng thận nhân tạo và lọc màng bụng tại Bệnh viện đa khoa khu vực Củ chi. 2. Tính cấp thiết của đề tài. Duy trì sự sống cho người bệnh là mục tiêu ban đầu trong điều trị. Tuy nhiên, với mục tiêu đưa người bệnh mắc bệnh mạn tính nói chung và bệnh nhân suy thận mạn giai đoạn cuối được điều trị lọc máu về với cuộc sống thường ngày, qua đó họ có những đóng góp cụ thể cho xã hội là rất thiết thực và có ý nghĩa nhân văn. Đánh giá kết quả điều trị lọc máu bằng lâm sàng, chỉ số cận lâm sang với các thông số kỹ thuật lọc máu cụ thể kết hợp với sự tự đánh giá chất lượng cuộc sống của mình thông qua bộ câu hỏi SF36 của người bệnh là khá toàn diện, cần thiết và dễ thực hiện. 3. Những đóng góp của luận án. Nghiên cứu được thực hiện ở bệnh viện đa khoa khu vực ở 174 bệnh nhân suy thận mạn giai đoạn cuối điều trị lọc máu chu kỳ theo dõi trong 2 năm. Luận án có giá trị thực tiễn, phản ánh được thực trạng lọc máu của người bệnh. Điều này giúp cho cơ sở y tế nơi đây có những nhìn nhận đầy đủ, khách quan hơn về chất lượng chăm sóc, phục vụ người bệnh từ đó có những điều chỉnh, cải thiện chất lượng dịch vụ y tế tốt hơn nữa. 4. Bố cục của luận văn. Luận án gồm 131 trang trong đó: Đặt vấn đề 2 trang, tổng quan tài liệu 34 trang, đối tượng và phương pháp nghiên cứu 20 trang, kết quả nghiên cứu 31 trang, bàn luận 41 trang, kết luận 2 trang, kiến nghị 1 trang.
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ QUỐC PHÒNG
VÀ LỌC MÀNG BỤNG
TÓM TẮT LUẬN ÁN TIẾN SĨ Y HỌC
HÀ NỘI – 2017
Trang 2GIỚI THIỆU LUẬN ÁN
1 Đặt vấn đề.
Lọc màng bụng và thận nhân tạo là hai phương thức lọc máu điềutrị thay thế thận suy phổ biến hiện nay Lọc máu tốt giúp điều chỉnhcác rối loạn cho các bệnh nhân suy thận mạn tính, từ đó nâng caochất lượng cuộc sống cũng như kéo dài thời gian sống của ngườibệnh Sức khỏe nói chung và sức khỏe của người bệnh lọc máu nóiriêng theo như định nghĩa của Tổ chức Y tế Thế giới là một tình trạngthoải mái cả về thể chất, tinh thần Như vậy để đánh giá đúng chấtlượng cuộc sống của bệnh nhân lọc máu bao gồm hai phần lớn: thứnhất, điều kiện tiên quyết là đảm bảo hiệu quả lọc máu tốt thể hiệnbằng các thông số kỹ thuật lọc máu cụ thể, khách quan; Và thứ hai là
sự tự đánh giá chất lượng cuộc sống về tình trạng thể chất và cảmgiác chủ quan về sức khoẻ của chính người bệnh Tại Việt Nam, tạicác cơ sở y tế lớn, tuyến trung ương, đã có nhiều công bố về hiệu quảlọc máu của bệnh nhân suy thận mạn tính Tuy nhiên các bệnh việntuyến tỉnh hoặc khu vực với điều kiện cơ sở vật chất thiếu thống vàcon người còn non trẻ rất cần có những nghiên cứu thực trạng tìnhhình lọc máu và chất lượng cuộc sống ở những người bệnh này Do
đó, chúng tôi đã thực hiện đề tài: “Nghiên cứu một số chỉ số đánh
giá kết quả điều trị, chất lượng cuộc sống ở bệnh nhân suy thận mạn tính được lọc máu bằng thận nhân tạo và lọc màng bụng” với
các mục tiêu sau:
1 Đánh giá thực trạng và sự thay đổi một số kết quả điều trị lọc máu theo dõi trong 2 năm ở bệnh nhân suy thận mạn tính được lọc máu bằng thận nhân tạo và lọc màng bụng tại Bệnh viện đa khoa khu vực Củ chi.
2 Đánh giá chất lượng cuộc sống bằng bộ câu hỏi SF-36
và sự thay đổi sau 2 năm ở bệnh nhân suy thận mạn tính được lọc máu bằng thận nhân tạo và lọc màng bụng tại Bệnh viện đa khoa khu vực Củ chi.
Trang 32 Tính cấp thiết của đề tài.
Duy trì sự sống cho người bệnh là mục tiêu ban đầu trong điều trị.Tuy nhiên, với mục tiêu đưa người bệnh mắc bệnh mạn tính nóichung và bệnh nhân suy thận mạn giai đoạn cuối được điều trị lọcmáu về với cuộc sống thường ngày, qua đó họ có những đóng góp cụthể cho xã hội là rất thiết thực và có ý nghĩa nhân văn Đánh giá kếtquả điều trị lọc máu bằng lâm sàng, chỉ số cận lâm sang với cácthông số kỹ thuật lọc máu cụ thể kết hợp với sự tự đánh giá chấtlượng cuộc sống của mình thông qua bộ câu hỏi SF36 của ngườibệnh là khá toàn diện, cần thiết và dễ thực hiện
3 Những đóng góp của luận án.
Nghiên cứu được thực hiện ở bệnh viện đa khoa khu vực ở 174bệnh nhân suy thận mạn giai đoạn cuối điều trị lọc máu chu kỳ theodõi trong 2 năm Luận án có giá trị thực tiễn, phản ánh được thựctrạng lọc máu của người bệnh Điều này giúp cho cơ sở y tế nơi đây
có những nhìn nhận đầy đủ, khách quan hơn về chất lượng chăm sóc,phục vụ người bệnh từ đó có những điều chỉnh, cải thiện chất lượngdịch vụ y tế tốt hơn nữa
4 Bố cục của luận văn.
Luận án gồm 131 trang trong đó: Đặt vấn đề 2 trang, tổng quan tàiliệu 34 trang, đối tượng và phương pháp nghiên cứu 20 trang, kết quảnghiên cứu 31 trang, bàn luận 41 trang, kết luận 2 trang, kiến nghị 1 trang
Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.1 Suy thận mạn và các phương pháp điều trị.
Suy thận mạn tính (STMT) là một hội chứng lâm sàng và sinh hóa
do tổn thương nhu mô thận từ từ, nặng dần, không hồi phục, bệnh tiếntriển kéo dài qua nhiều năm tháng, có từng đợt nặng lên và cuối cùngdẫn đến suy thận giai đoạn cuối cho dù bệnh khởi phát từ phần nào củanhu mô thận Suy thận mạn tính nói riêng và bệnh thận mạn tính(BTMT) nói chung có tỷ lệ mắc khá cao và ngày càng gia tăng với tốc
độ nhanh ở nhiều nước trên thế giới Nó để lại những hậu quả nặng nề
về sức khỏe và gánh nặng về kinh tế do có nhiều biến chứng và chi phíđiều trị rất cao
Trang 4* Chẩn đoán giai đoạn suy thận mạn tính:
Cách phân chia của Nguyễn Văn Xang chỉ chú ý từ khi bệnh nhân
có mức lọc cầu thận < 60 ml/phút, cách phân chia của Hội thận học quốc
tế chú ý những bệnh nhân có bệnh thận mạn kèm theo hoặc chưa có suythận mạn Bệnh thận mạn tính từ giai đoạn 3 tương đương với bắt đầuvới phân chia giai đoạn suy thận của Nguyễn Văn Xang
* Điều trị suy thận mạn tính
- Điều trị bảo tồn: Chỉ định cho bệnh nhân suy thận mạn tính từ
giai I đến IIIa theo Nguyễn Văn Xang Điều trị bảo tồn gồm:
+ Điều trị các nguyên nhân gây suy thận mạn:
Loại bỏ cản trở đường tiết niệu, chống nhiễm khuẩn đường tiếtniệu trong viêm thận - bể thận mạn, không sử dụng các kháng sinhđộc với thận, điều trị bệnh lupus ban đỏ hệ thống, điều trị bệnh đáitháo đường, điều trị tăng huyết áp … nếu đây là nguyên nhân gây suythận mạn tính
Kiểm soát huyết áp: Cần đưa huyết áp bệnh nhân < 120/80
mmHg Lựa chọn các thuốc hạ huyết áp ít ảnh hưởng lên chức năngthận như nhóm thuốc ức chế thần kinh giao cảm trung ương(dopegyt ), nhóm chẹn kênh canxi (amlordipin )
+ Dự phòng và loại trừ các yếu tố làm suy thận mạn tiến triển:Dự phòng và điều trị nhiễm khuẩn: cần tránh dùng các kháng sinh
độc với thận như nhóm amynoglycozid (gentamycin ) Tránh dùng cácthuốc hoặc các chất độc cho thận Điều chỉnh thể tích dịch cơ thể vàđiều trị suy tim ứ huyết
+ Chế độ ăn: Chế độ ăn hạn chế protein, đủ axit amin thiết yếu,
đủ năng lượng (35 - 50 Kcal/kg/ngày), đủ vitamin và canxi, hạn chếkali và phosphat Cân bằng nước - muối, ít toan, đủ canxi, ítphosphat Nếu phù, suy tim cần ăn giảm muối (2 - 3 g/ngày)
+ Sử dụng các thuốc tác động lên chuyển hoá: Thuốc làm tăng
đồng hoá đạm (durabolin, decadurabolin), thuốc chống gốc oxy tự
do, bổ xung natri bicarbonat để dự phòng toan hóa khi có chỉ định
+ Điều trị triệu chứng:
Điều trị phù: hạn chế nước và muối trong chế độ ăn hàng ngày Sử
dụng thuốc lợi tiểu chú ý đề phòng giảm thể tích tuần hoàn hiệu dụng
Điều trị thiếu máu: Sử dụng erythropoietin người tái tổ hợp từ
công nghệ gen (EPO) Liều thấp nhất 15 IU/ kg/ lần × 3 lần/ tuần
Trang 5Liều trung bình 40 - 50 IU/ kg/ lần × 3 lần/ tuần Duy trì sắt huyếtthanh 10 - 20 µmol/l hoặc ferritin huyết thanh 100 - 150 µg/l, cungcấp đủ dinh dưỡng và yếu tố tạo máu (axit folic, vitamin B12) Duytrì hemoglobin 100-110 g/l.
Điều chỉnh cân bằng nước và điện giải: Kiểm soát tốt tình trạng
quá tải dịch, kiểm soát tốt nồng độ kali, natri, canxi và phospho máu
- Các phương pháp điều trị thay thế thận: áp dụng cho BN
STMT giai đoạn IIIb và IV, gồm lọc máu TNT, lọc màng bụng hoặcghép thận
+ Lọc màng bụng: là sử dụng màng bụng làm màng lọc, theo
nguyên lý khuyếch tán riêng phần và thẩm thấu Khi điều trị lọcmàng bụng mạn tính, BN được đặt một ống thông cố định được luồnqua một đường hầm dưới da thành bụng vào khoang phúc mạc Trongthời gian tiến hành lọc màng bụng mạn tính bệnh nhân vẫn sinh hoạtgần như bình thường
+ Lọc máu ngoài cơ thể hay còn gọi thận nhân tạo: là quá trình
lọc máu diễn ra ở ngoài cơ thể dựa trên hai cơ chế cơ bản là khuyếchtán và siêu lọc Để tiến hành lọc máu ngoài cơ thể, người ta phải thiếtlập hệ thống tuần hoàn ngoài cơ thể gồm đường dẫn máu ra khỏi cơthể đến bộ lọc (đường động mạch), máu qua bộ lọc nhân tạo, đườngdẫn máu từ bộ lọc trở lại cơ thể (đường tĩnh mạch) Tốc độ dòng máutrong vòng tuần hoàn ngoài cơ thể trung bình 250 ml/ph Dịch lọc: cóthể sử dụng dịch lọc acetat hoặc dịch lọc bicacbonat Tốc độ dịch lọctrong vòng tuần hoàn ngoài cơ thể trung bình 500 - 800 ml/ph Ngườibệnh cần lọc 12 giờ/tuần, chia 3 chu kỳ, mỗi kỳ lọc 4 giờ
+ Ghép thận: Cho đến nay ghép thận vẫn là phương pháp điều trị
thay thế thận hoàn hảo nhất Thận ghép có thể thay thế cả chức năngđiều hoà nội môi và chức năng nội tiết của thận suy Bệnh nhân đượcghép thận có sức khoẻ và cuộc sống gần hoàn toàn bình thường Tuynhiên ghép thận gặp nhiều khó khăn do nguồn tạng ghép khan hiếm,sau ghép bệnh nhân phải sử dụng các thuốc chống thải ghép hàngngày… nên tỉ lệ BN được ghép thận còn thấp
Trang 61.2.Hiệu quả điều trị lọc máu và chất lượng cuộc sống của bệnh nhân lọc máu
1.2.1 Hiệu quả điều trị lọc máu.
* Đối với lọc máu thận nhân tạo: Sự phục hồi lại sức khoẻ tối đa
cho các bệnh nhân suy thận mạn giai đoạn cuối điều trị bằng TNTchu kỳ được coi là chất lượng lọc máu Hiệu quả của điều trị lọc máuđánh giá bằng những thông số sau:
- Lâm sàng:
+ Không có triệu chứng lâm sàng của hội chứng Ure máu cao.+ Huyết áp ổn định
+ Không có triệu chứng thiếu máu
+ Khôi phục lại cân bằng nước, điện giải và cân bằng kiềm toan.+ Giữ được cân bằng phospho-canxi
+ Bệnh nhân không bị suy dinh dưỡng
Với K: là độ thanh thải Ure của màng lọc
t : là thời gian lọc máu V: là thể tích khuyếch tán của Urea
e = 2,718
+ Tỷ lệ giảm Ure sau buổi lọc (URR - Urea Reduction Ratio): tỉ lệ
% ure máu giảm được sau buổi lọc máu so với ure máu trước buổilọc máu
URR = (Co-Ct)/Co %URR cho phép ước lượng phần ure đã được lấy ra khỏi cơ thểtrong một buổi lọc máu
Theo khuyến cáo của chương trình hành động vì chất lượng lọcmáu TNT của Quĩ thận học quốc gia Mỹ (K/DOQI: National KidneyFoundation Dialysis Outcomes Quality Initiative) để đạt được chấtlượng của cuộc lọc máu thì: Kt/Vure ≥ 1,2 và URR ≥ 65%
Trang 7* Đối với lọc màng bụng:
Đánh giá hiệu quả lọc màng bụng căn cứ vào các yếu tố, cụ thể là
- Độ thanh thải các chất hoà tan ure và creatinin:
+ Độ thanh thải chất hoà tan toàn phần gồm độ thanh thải của thận
và của màng bụng: Ktoàn phần (tuần) = Kthận (tuần) + Kmàng bụng (tuần)
Độ thanh thải ure thường được ký hiệu Kt/ Vure (tuần), độ thanhthải của creatinin thường được ký hiệu là CCr (tuần)
Tại Việt nam, theo khuyến cáo của Bộ y tế, bệnh nhân đạt hiệuquả lọc khi Kt/Vure tuần > 1,7 và CCr tuần > 50 lít/tuần/1,73m2da
* Đánh giá tình trạng dinh dưỡng: albumin máu, nPNA
+ Albumin máu: là chỉ số đánh giá tình trạng dinh dưỡng chung
cũng như tiên lượng nguy cơ tử vong của bệnh nhân
+ nPNA (normalized Protein Nitrogen Apearance): Protein đưa vào
cơ thể, qua quá trình chuyển hóa các nitơ protein thải ra ngoài qua nướctiểu và dịch lọc màng bụng Đối với bệnh nhân LMB, ước lượng proteinđưa vào cơ thể cần cộng thêm với lượng protein mất qua dịch lọc Giá trịmục tiêu theo khuyến cáo là nPNA cần đạt trên 1,0
1.2.2 Chất lượng cuộc sống bệnh nhân lọc máu:
Theo Tổ chức Y tế Thế giới, sức khỏe là trạng thái hoàn toàn khỏemạnh về thể chất, tâm lý và xã hội và không chỉ đơn thuần là sựkhông có bệnh tật
Đối với các bệnh nhân suy thận mạn giai đoạn cuối điều trị lọcmáu, chất lượng cuộc sống là vấn đề đang rất được quan tâm Hộithận học Mỹ đã sử dụng bảng câu hỏi Short Form 36 để đánh giá chấtlượng cuộc ở bệnh nhân điều trị thay thế thận
* Nội dung của bảng Short Form 36 (SF36):
Trong hệ thống tính điểm SF-36, thang điểm được đánh giá địnhlượng, mỗi câu trả lời là cơ sở để đánh giá theo thang điểm từ 0 đến
100 dựa trên các hướng dẫn rõ ràng, điểm số cao hơn thì có tình trạngsức khoẻ tốt hơn Nội dung đánh giá của SF36 được tổng hợp phânthành hai loại Những mục đầu tiên là đánh giá về "sức khỏe thểchất" và các mục cuối cùng đánh giá về "sức khỏe tâm thần" Các xếploại về sức sống và tổng trạng thuộc cả về 2 phân loại (tinh thần và
Trang 8thể chất) Do đó, mỗi chiều bao gồm ba mục chuyên biệt và hai phân độtrùng nhau SF36 này cũng bao gồm các câu hỏi tự đánh giá về sự thayđổi sức khỏe trong năm qua và số điểm tổng SF36 dựa trên trung bìnhtoán học SF36 là một hệ thống điều tra y tế đã được sử dụng rộng rãi vàxác nhận như là một công cụ đánh giá chất lượng cuộc sống cho dân sốnói chung cũng như các bệnh nhân lọc máu nói riêng
Cách tính điểm:Mỗi bệnh nhân sẽ được điều tra từng nội dung của
bảng điểm này, nhân viên y tế sẽ đánh dấu vào các nội dung tươngứng, số liệu được đưa vào phần mềm tự động tính toán cho kết quả
từng bệnh nhân trên máy tính theo nguồn sau:
http://www.sf-36.org/demos/SF-36.html
Chương 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2.1 Đối tượng nghiên cứu
2.1.1 Tiêu chuẩn chọn bệnh nhân
+ Bệnh nhân STM giai đoạn cuối được lọc máu chu kỳ bằng haiphương thức TNT hoặc LMB liên tục ngoại trú
+ Các bệnh nhân được quản lí điều trị ngoại trú lọc máu kết hợpđiều trị nội khoa thiếu máu, tăng huyết áp…theo khuyến cáo của HộiThận học Việt Nam
+ Bệnh nhân đồng ý tham gia nghiên cứu
2.1.2 Tiêu chuẩn loại trừ
+ Bệnh nhân suy tim mạn tính nặng độ 3,4 hay suy gan nặng, cổtrướng lớn
+ Bệnh nhân mắc ung thư giai đoạn cuối kèm theo
+ Bệnh nhân suy chức năng cầu nối thông động tĩnh mạch
- Đối với bệnh nhân lọc màng bụng:
+ Bệnh nhân có suy giảm chức năng màng bụng
+ Bệnh nhân LMB đang viêm phúc mạc
+ Bệnh nhân chuyển đổi phương thức lọc máu trong thời gian nghiên cứu.+ Không hợp tác nghiên cứu
2.2 Phương pháp nghiên cứu
Nghiên cứu tiến cứu, mô tả, theo dõi dọc trong thời gian 2 năm
Trang 92.3 Nội dung nghiên cứu
2.3.1 Thu thập thông tin: Tiến cứu theo mẫu bệnh án thống nhất 2.3.2 Qui trình theo dõi
T0: bắt đầu vào nghiên cứu
T1: sau 1 năm lọc máu và
T2: sau 2 năm lọc máu
2.3.3 Đánh giá kết quả lọc máu
* Khám lâm sàng: phù, tính BMI, tình trạng huyết áp
* Các xét nghiệm cận lâm sàng:
+ Công thức máu: hồng cầu, hemoglobin, hematocrit
+ Hóa sinh máu: glucose, ure, creatinin, protein, albumin,cholesterol, triglycerid, HDL-C, LDL-C, CRP, điện giải máu.+ Đánh giá cuộc lọc máu: khuyến cáo K/DOQI (2006) và Bộ Y TếViệt Nam
Lọc máu thận nhân tạo: sử dụng chỉ số thanh thải từng phần ureKt/Vure và tỉ lệ giảm ure URR
Lọc màng bụng: Kt/Vure tuần, độ thanh thải Creatinin tuần CCr tuần
2.2.4 Tiêu chuẩn sử dụng trong nghiên cứu
* Tiêu chuẩn chẩn đoán suy thận mạn tính: theo Nguyễn Văn Xang
* Chẩn đoán và phân độ thiếu máu: theo WHO
Bảng 2.1 Phân độ thiếu máu
* Chẩn đoán THA: theo JNC 7.
- HA tâm thu ≥ 140mmHg và/hoặc HA tâm trương ≥ 90 mmHg
- Hoặc HA bình thường nhưng đang dùng thuốc giảm HA
* Phân loại BMI: theo tiêu chuẩn của hiệp hội ĐTĐ Đông Nam Á 2001:
Gầy: BMI < 18,5 kg/m2Bình thường: BMI từ 18,5 đến 22,9 kg/m2Thừa cân: BMI ≥ 23,0 kg/m2
Trang 10- Diện tích da cơ thể (BSA) được tính theo công thức Dubois:BSA (m2) = 0,007184 x W0,425 x H0,725 (W là trọng lượng cơ thểtính bằng kg, H là chiều cao tính bằng cm).
* Một số chỉ số sinh hoá máu:
Bảng 2.2 Các chỉ số sinh hoá máu
Chỉ số Giá trị bình thường Bất thường
URR ≥ 0,70
+ Bệnh nhân LMB:
Hiệu quả lọc máu đạt khi: Kt/Vure tuần > 1,7 và
CCr tuần > 50 lít/tuần/1,73m2da Hiệu quả lọc máu tốt khi: Kt/Vure ≥ 2,0 và
CCr tuần > 60 lít/tuần/1,73m2da
* Phân chia mức đánh giá chất lượng cuộc sống theo SF36:
chia làm 4 mức như sau
Trang 11Bảng 2.3 Phân chia mức độ chất lượng cuộc sống
Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
Nghiên cứu 174 bệnh nhân suy thận mạn giai đoạn cuối gồm có
129 bệnh nhân TNT và 45 bệnh nhân LMB liên tục ngoại trú tạiBệnh viện đa khoa Củ chi từ tháng 6/ 2011 đến tháng 12/ 2013, kếtquả như sau:
3.1 Đặc điểm chung của các bệnh nhân nghiên cứu
- Tuổi: trung bình chung 52,57 ± 15,89 tuổi Nhóm LMB 51,82 ±15,46 tuổi và nhóm TNT 52,84 ± 16,09 tuổi, p > 0,05
là bệnh lý tiết niệu 8,62%, cầu thận 6,32%, thận đa nang 1,72%
- Một số đặc điểm xã hội khác: Chủ yếu BN có trình độ văn hóa
từ THCS trở xuống chiếm 77,6%, kinh tế gia đình ở mức nghèo vàcận nghèo 67,2%, nghề nghiệp lao động chân tay 89,1% 100% BNlọc máu theo chế độ BHYT
3.2 Thực trạng kết quả lọc máu
Trang 12- Tỷ lệ thiếu máu chung 87,4% BN, nhóm LMB có 80,0% BN vànhóm TNT 89,9%, không có khác biệt thống kê về tỷ lệ thiếu máugiữa nhóm LMB và TNT
Nồng độ Hemoglobin chung 100,86 ± 18,91g/l, ở nhóm LMB là108,80 ± 18,41g/l và ở nhóm TNT là 98,09 ± 18,36g/l, có sự khác biệtthống kê về nồng độ Hb giữa hai nhóm LMB và TNT (p < 0,001)
- Tỷ lệ tăng huyết áp chung là 100,0%
- Tỷ lệ rối loạn ít nhất một thành phần lipid máu là 70,7% Tỷ lệnày ở nhóm LMB cao hơn nhóm TNT (73,3% so với 69,8%, p> 0,05)
Nồng độ ure, creatinin máu lần lượt là 20,36 ± 9,23mmol/l và810,43±276,26 µmol/l Nhóm LMB có ure, creatinin máu thấp hơn
có ý nghĩa so với nhóm TNT (tương ứng 13,54 ± 3,89mmol/l so với22,74 ± 9,38mmol/l, p< 0,001; 718,75 ± 262,42µmol/l so với 842,40
± 274,76µmol/l, p< 0,01) Nồng độ natri, kali, canxi toàn phần máuđều trong giới hạn cho phép
25,9% BN tăng CRP máu Nồng độ CRP chung 11,28 ± 28,91 mg/dl,nồng độ chất này ở nhóm LMB cao hơn có ý nghĩa thống kê so với nhómTNT (15,01 ± 23,85 mg/dl so với 9,98 ± 21,49 mg/dl, p < 0,05)
- Hiệu quả cuộc lọc máu
+ Nhóm lọc màng bụng: độ thanh thải Kt/Vure tuần 2,16 ± 0,52, độthanh thải CCr tuần 55,86 ± 9,33 (lít/tuần/1,73m2da) Có 80,0% bệnhnhân đạt chỉ số Kt/Vure tuần > 1,7 và 73,3% bệnh nhân đạt chỉ số CCr
tuần > 50 lít/ tuần/ 1,73m2da theo khuyến cáo
+ Nhóm TNT: Kt/Vure và URR trung bình tương ứng là 0,96 ±0,34 và 0,59 ± 0,15 24,8% BN đạt Kt/Vure ≥ 1,2 và 41,9% BN đạtURR ≥ 0,65 theo khuyến cáo
3.3 Kết quả lọc máu và sự biến đổi sau 2 năm theo dõi