1. Trang chủ
  2. » Cao đẳng - Đại học

Phát triển chủ đề Tết và mùa xuân cho trẻ 5-6 tuổi theo hướng tích hợp

70 1,5K 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 70
Dung lượng 1,12 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Qua đó sẽ giúp cho giáo viên dễ dàng đưa ra các biện pháp, các cách tổ chức hoạt động phù hợp với nhu cầu, khả năng của trẻ và điều kiện thực tế ở trường, dễ dàng bổ sung những điểm còn

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2 KHOA GIÁO DỤC MẦM NON

======

VÕ THỊ VÂN

PHÁT TRIỂN CHỦ ĐỀ “TẾT VÀ MÙA XUÂN”

CHO TRẺ 5-6 TUỔI THEO HƯỚNG TÍCH HỢP

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Chuyên ngành: Môi trường xung quanh

Người hướng dẫn khoa học

TS NGUYỄN THỊ HƯƠNG

Trang 2

LỜI CẢM ƠN

Để hoàn thành khóa luận, em xin gửi lời cảm ơn chân thành đến các thầy cô giáo trong trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2, và Quý thầy (cô) giáo trong Khoa Giáo dục Mầm non, đã hướng dẫn, chỉ bảo và truyền đạt kiến thức cho em trong suốt quá trình học tập cũng như trong quá trình thực hiện khóa luận này

Đặc biệt, em xin tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới cô giáo - TS Nguyễn Thị Hương

đã tận tình hướng dẫn, động viên và giúp đỡ em trong suốt quá trình nghiên cứu và thực hiện đề tài

Em xin gửi lời cảm ơn chân thành tới các thầy (cô) giáo, bạn bè và tất cả mọi người đã cùng cộng tác và giúp em hoàn thành khóa luận

Trong quá trình nghiên cứu, do thời gian có hạn và bước đầu làm quen với phương pháp nghiên cứu khoa học nên không tránh khỏi những thiếu xót

em rất mong nhận được sự đóng góp ý kiến của Quý thầy (cô) để đề tài được hoàn thiện hơn

Em xin chân thành cảm ơn!

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan những kết quả nghiên cứu trong khoá luận này là của riêng tôi Đề tài của tôi chƣa đƣợc công bố trong bất kì công trình khoa học nào khác

Hà Nội, ngày 03 tháng 5 năm 2017

Sinh viên

Võ Thị Vân

Trang 4

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 9

1 Lí do chọn đề tài 9

2 Mục đích nghiên cứu 11

3 Đối tượng nghiên cứu và khách thể nghiên cứu 11

4 Nhiệm vụ nghiên cứu 11

5 Phạm vi nghiên cứu 11

6 Giả thuyết khoa học 11

7 Phương pháp nghiên cứu 12

8 Câu trúc đề tài 13

NỘI DUNG 14

Chương 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN CỦA VIỆC PHÁT TRIỂN CHỦ ĐỀ “TẾT VÀ MÙA XUÂN” CHO TRẺ 5-6 TUỔI THEO HƯỚNG TÍCH HỢP 14

1.1 Khái niệm 14

1.1.1 Chương trình giáo dục 14

1.1.2.Khái niệm phát triển 16

1.1.3 Phát triển chương trình Giáo dục 16

1.1.4 Phát triển chủ đề 17

1.1.5 Sự phát triển chương trình Giáo dục mầm non 18

1.2 Các cách tiếp cận phát triển chủ đề 23

1.2.1 Tiếp cận nội dung 23

1.2.2 Tiếp cận mục tiêu 24

1.2.3 Tiếp cận hệ thống 24

1.2.4 Định hướng phát triển chủ đề 25

1.3 Một số vấn đề về tích hợp 25

1.3.1 Khái niệm 25

Trang 5

1.3.2 Dạy học tích hợp 27

1.3.3 Đặc trưng của dạy học theo hướng tích hợp 28

1.3.4 Vai trò của dạy học tích hợp trong dạy học mầm non 29

1.4 Đặc điểm của trẻ mẫu giáo lớn 30

1.4.1 Đặc điểm sinh lí 30

1.4.2 Đặc điểm tâm lí 31

1.4.3 Đặc điểm nhận thức 33

1.5 Dạy học chủ đề Tết và mùa xuân cho trẻ 5-6 tuổi theo hướng tích hợp ở mầm non 34

1.5.1 Nội dung, đặc điểm chủ đề “Tết và mùa xuân” 34

1.5.2 Phương pháp và hình thức dạy học tích hợp chủ đề “Tết và mùa xuân” cho trẻ 5-6 tuổi 35

Kết luận chương 1 37

Chương 2: CƠ SỞ THỰC TIỄN CỦA VIỆC PHÁT TRIỂN CHỦ ĐỀ “TẾT VÀ MÙA XUÂN” CHO TRẺ 5-6 TUỔI THEO HƯỚNG TÍCH HỢP 38

2.1 Khảo sát việc tổ chức thực hiện các hoạt động giáo dục trong chủ đề “ Tết và mùa xuân” cho trẻ 5-6 tuổi theo hướng tích hợp 38

2.1.1 Mục đích khảo sát thực trạng 38

2.1.2 Đối tượng khảo sát thực trạng 38

2.1.3 Nội dung khảo sát thực trạng 38

2.1.4 Phương pháp khảo sát thực trạng 39

2.1.5 Kết quả khảo sát thực trạng việc tổ chức thực hiện các hoạt động giáo dục trong chủ đề “Tết và mùa xuân” cho trẻ mẫu giáo lớn theo hướng tích hợp 41

2.1.5.1 Thực trạng việc hướng dẫn tổ chức các hoạt động giáo dục trong chủ đề “Tết và mùa xuân” cho trẻ 5-6 tuổi 41

Trang 6

2.1.5.2.Thực trạng việc phát triển chủ đề Tết và mùa xuân cho trẻ 5-6 tuổi ở

trường mầm non 43

2.2 Thực trạng việc phát triển chủ đề Tết và mùa xuân cho trẻ 5-6 tuổi theo hướng tích hợp 46

Kết luận chương 2 48

Chương 3: ĐỀ XUẤT QUY TRÌNH PHÁT TRIỂN CHỦ ĐỀ “TẾT VÀ MÙA XUÂN” CHO TRẺ 5-6 TUỔI THEO HƯỚNG TÍCH HỢP 49

3.1 Nguyên tắc đề xuất quy trình phát triển chủ đề “Tết và mùa xuân” cho trẻ 5-6 tuổi theo hướng tích hợp 49

3.1.1 Nguyên tắc đảm bảo tính phát triển về nội dung và cách thức tiến hành chủ đề “Tết và mùa xuân” cho trẻ 5-6 tuổi theo hướng tích hợp 49

3.1.2 Nguyên tắc đảm bảo tính mục đích, phù hợp với bộ chuẩn phát triển trẻ 5 tuổi 50

3.1.3 Nguyên tắc đảm bảo sự phù hợp của nội dung trọng tâm và nội dung tích hợp trong chủ đề “Tết và mùa xuân” của trẻ 5-6 tuổi 51

3.1.4 Nguyên tắc đảm bảo tính thực tiễn khi phát triển chủ đề “ Tết và mùa xuân” cho trẻ 5-6 tuổi 51

3.1.5 Nguyên tắc đảm bảo tính hấp dẫn để trẻ phát huy tính tích cực, tự do, tự nguyện tham gia vào các hoạt động được phát triển trong chủ đề 52

3.2 Quy trình phát triển chủ đề “Tết và mùa xuân” cho trẻ 5-6 tuổi theo hướng tích hợp 53

3.3 Ví dụ minh họa: 55

Kết luận chương 3 60

KẾT LUẬN 61

1 Lí luận 61

2 Thực tiễn 61

3 Đóng góp 62

Trang 7

TÀI LIỆU THAM KHẢO 64 PHỤ LỤC

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT

GV: Giáo viên

NXB: Nhà xuất bản

Trang 9

MỞ ĐẦU

1 Lí do chọn đề tài

Giáo dục đào tạo đóng vai trò quan trọng là nhân tố chìa khóa, là động lực thúc đẩy nền kinh tế phát triển Không chỉ ở Việt Nam mà ở hầu hết các quốc gia khác trên thế giới, các chính phủ đều coi giáo dục là quốc sách hàng đầu Việt Nam cũng là một trong những quốc gia rất coi trọng sự phát triển của nền giáo dục, đã và đang củng cố xây dựng nền giáo dục thực sự vững mạnh và có chất lượng Vì vậy mà trong suốt những năm qua Đảng và nhà nước đã luôn quan tâm và tập trung đầu tư rất nhiều cho nền giáo dục Việt Nam

Sau khi chỉ ra hàng loạt những khó khăn, yếu kém cũng như thế mạnh của nền giáo dục Việt Nam, Nghị quyết số 29-NQ/TW về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục, đào tạo chỉ rõ mục tiêu cụ thể đối với từng cấp học

Đối với giáo dục mầm non, giúp trẻ phát triển thể chất, tình cảm, hiểu biết, thẩm mỹ, hình thành các yếu tố đầu tiên của nhân cách, chuẩn bị tốt cho trẻ bước vào lớp một Hoàn thành phổ cập giáo dục mầm non cho trẻ 5 tuổi và nâng cao chất lượng phổ cập trong những năm tiếp theo

Ở trẻ mầm non, đặc biệt là trẻ 5- 6 tuổi, đây là giai đoạn mà sự phát triển của các chức năng dần đi vào hoàn thiện, trẻ được khám phá làm quen tiếp xúc nhiều với thế giới xung quanh qua gia đình và nhà trường, qua những hiểu biết mà trẻ được tự mình trải nghiệm Đây cũng là giai đoạn quan trọng tạo tiền đề cho trẻ bước vào lớp một Vì vậy, ngay trong chính bản thân trẻ cũng luôn có nhu cầu học tập được đổi mới và nâng cao Trẻ thích được khám phá, mở rộng theo nhiều hướng đi khác nhau

Bởi vậy, việc phát triển chương trình cũng là một khâu rất quan trọng trong quá trình đổi mới, phát triển dựa trên cơ sở của chương trình đã có để có thể tạo ra một chương trình mới tốt hơn phù hợp với nhận thức và sở thích

Trang 10

của trẻ đã có Việc phát triển chủ đề theo hướng tích hợp nói riêng cho trẻ 5-6 tuổi là cần thiết và tất yếu Nó không chỉ dừng lại ở một khía cạnh hay ở một lĩnh vực của trẻ mà còn có sự kết hợp, đan xen của các lĩnh vực phát triển tác động đồng bộ đến các mặt phát triển của trẻ Qua đó sẽ giúp cho giáo viên dễ dàng đưa ra các biện pháp, các cách tổ chức hoạt động phù hợp với nhu cầu, khả năng của trẻ và điều kiện thực tế ở trường, dễ dàng bổ sung những điểm còn yếu và bồi dưỡng các mặt phát triển của trẻ, không quá gò bó với bất kì một nội dung chương trình nào

Trong chương trình giáo dục cho trẻ 5-6 tuổi không thể không nhắc đến chủ đề “Tết và mùa xuân” _ một chủ đề gần gũi và hấp dẫn đối với trẻ, cung cấp cho trẻ những kiến thức bổ ích về thế giới xung quanh Thông qua chủ đề này, trẻ có cơ hội trải nghiệm thực tế nhiều hơn và có thể tự mình khám phá những sự vật, sự việc diễn ra xung quanh trẻ

Tuy nhiên, qua quá trình khảo sát tại các trường mầm non khi cho trẻ khám phá chủ đề “Tết và mùa xuân”, đa số giáo viên còn dựa nhiều vào bộ sách Hướng dẫn thực hiện chương trình giáo dục mầm non Các hoạt động trong chủ đề Tết và mùa xuân còn hạn chế, ít đổi mới, rất ít giáo viên sáng tạo trong việc hướng dẫn và giảng dạy mà thường dập khuôn theo cách soạn cũ, ngại đổi mới các hoạt động khiến cho các hoạt động trở nên nhàm chán, không có được sự hứng thú của trẻ…

Là một giáo viên mầm non trong tương lai, là người sẽ trực tiếp chăm sóc và giáo dục trẻ, tôi rất quan tâm đến việc phát triển chương trình Giáo dục cho trẻ mầm non, đặc biệt là phát triển chủ đề “Tết và mùa xuân” cho trẻ 5-6 tuổi nhằm có những biện pháp giúp giáo viên có thể tổ chức các hoạt động cho trẻ học tập và vui chơi có hiệu quả

Với những lí do trên, tôi chọn đề tài: “Phát triển chủ đề Tết và mùa xuân cho trẻ 5-6 tuổi theo hướng tích hợp”

Trang 11

2 Mục đích nghiên cứu

Mục đích nghiên cứu của đề tài là đề xuất quy trình phát triển chủ đề “Tết

và mùa xuân” cho trẻ 5-6 tuổi theo hướng tích hợp

3 Đối tượng nghiên cứu và khách thể nghiên cứu

3.1 Đối tượng nghiên cứu

Việc phát triển chủ đề “Tết và mùa xuân” cho trẻ 5-6 tuổi theo hướng tích hợp

3.2 Khách thể nghiên cứu

Qúa trình giáo dục mầm non

4 Nhiệm vụ nghiên cứu

- Tìm hiểu cơ sở lí luận của việc phát triển chủ đề “Tết và mùa xuân” cho

trẻ 5-6 tuổi theo hướng tích hợp

- Tìm hiểu cơ sở thực tiễn của việc phát triển chủ đề “Tết và mùa xuân”

cho trẻ 5-6 tuổi theo hướng tích hợp

- Đề xuất quy trình phát triển chủ đề “Tết và mùa xuân” cho trẻ 5-6 tuổi

- Trường mầm non Xuân Hoà

- Trường mầm non Hoa Hồng

- Trường mầm non Hùng Vương

6 Giả thuyết khoa học

Nếu đề xuất được quy trình phát triển chủ đề “Tết và mùa xuân” cho trẻ

Trang 12

5-6 tuổi theo hướng tích hợp được triển khai một cách đồng bộ và rộng rãi sẽ giúp đỡ hỗ trợ các giáo viên mầm non trong việc xây dựng và tổ chức các hoạt động dễ dàng và hiệu quả hơn Bên cạnh đó vận dụng linh hoạt, sáng tạo đề tài góp phần tăng hứng thú cho trẻ khi đến lớp, hiệu quả của quá trình giáo dục sẽ nâng cao

7 Phương pháp nghiên cứu

- Phương pháp nghiên cứu lí luận

Nghiên cứu tài liệu về chương trình giáo dục mầm non, về phát triển chương trình giáo dục/ Phát triển chủ đề “Tết và mùa xuân” cho trẻ 5-6 tuổi theo hướng tích hợp

- Phương pháp nghiên cứu thực tiễn

Quan sát cách tổ chức hoạt động và một số giáo án của GV mầm non cho trẻ 5-6 tuổi theo chủ đề

Khảo sát thực trạng phát triển chủ đề Tết và mùa xuân cho trẻ 5-6 tuổi của các giáo viên mầm non trong 3 trường mầm non trên địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc

- Phương pháp thống kê, xử lí số liệu

Trong quá trình khảo sát tại các trường mầm non, người nghiên cứu đã gửi các phiếu hỏi cho GV Sau khi thu lại các phiếu, tôi tiến hành thống kê các câu trả lời của GV và tính toán, xử lí số liệu vào bảng

- Phương pháp phân tích, so sánh, tổng hợp

Thông qua các phiếu hỏi, các phiếu điều tra và các tài liệu liên quan đến phát triển chương trình, tôi đã tiến hành phân tích để đánh giá thực trạng dạy học và phát triển chủ đề “Tết và mùa xuân” cho trẻ 5-6 tuổi theo hướng tích hợp Qua đó rút ra những mặt tích cực và các mặt hạn chế để từ đó có cái nhìn tổng quát về thực trạng thiết kế và phát triển chủ đề “tết và mùa xuân” cho trẻ 5-

6 tuổi tại các trường mầm non và xác định hướng phát triển cho chủ đề

Trang 13

- Phương pháp đánh giá

Trong quá trình nghiên cứu, người nghiên cứu đã tìm hiểu về nội dung chủ đề theo chương trình hiện hành , giáo án tổ chức các hoạt động trong chủ đề và quá trình tổ chức các hoạt động thông qua các tiết dạy để từ đó xem xét chủ đề “Tết và mùa xuân” có mang lại kết quả không? Trẻ có hứng thú không?… để từ đó xác định vấn đề cần giải quyết khi phát triển chủ đề này

8 Cấu trúc đề tài

Ngoài phần mở đầu, kết luận và tài liệu tham khảo, nội dung chính của khóa luận bao gồm:

Chương 1: Cơ sở lí luận của việc phát triển chủ đề “Tết và mùa xuân”

cho trẻ 5-6 tuổi theo hướng tích hợp

Chương 2: Cơ sở thực tiễn của việc phát triển chủ đề “Tết và mùa

xuân” cho trẻ 5-6 tuổi theo hướng tích hợp

Chương 3: Đề xuất quy trình phát triển chủ đề “Tết và mùa xuân” cho

trẻ 5-6 tuổi theo hướng tích hợp

Trang 14

NỘI DUNG Chương 1

CƠ SỞ LÍ LUẬN CỦA VIỆC PHÁT TRIỂN CHỦ ĐỀ “TẾT VÀ MÙA

XUÂN” CHO TRẺ 5-6 TUỔI THEO HƯỚNG TÍCH HỢP

1.1 Khái niệm

1.1.1 Chương trình giáo dục

Thuật ngữ Curriculum trong tiếng Anh đã được nhiều dịch giả, nhà khoa học, nhà giáo dục học chuyển sang tiếng Việt là chương trình giáo dục, chương trình dạy học, chương trình học,…hay đơn thuần chỉ là chương trình Khi nhắc đến khái niệm chương trình giáo dục đã có rất nhiều quan điểm khác nhau Theo thời gian và các cách tiếp cận khác nhau mà khái niệm được hiểu ngày một mở rộng và phù hợp Khái niệm được nhấn mạnh và mở rộng hơn với những giá trị mà người học có thể đạt được “Chương trình học của nhà trường là nội dung dạy học và các hoạt động chính thức và không chính thức; quá trình triển khai nội dung hoạt động, thông qua đó người học thu nhận được kiến thức và sự hiểu biết, phát triển kĩ năng, thái độ, tình cảm và các giá trị đạo đức dưới sự tổ chức của nhà trường.”(Ronal C Doll,1996) Hoặc khi đứng dưới góc độ là người quản lí, người thiết kế các hoạt động thì các các quan điểm lại hướng đến mục tiêu, nội dung và cách tổ chức Như TimWentling (1993) cho rằng: “Chương trình là bản thiết kế tổng thể cho một hoạt động đào tạo Hoạt động đó có thể chỉ là một khóa học trong thời gian vài giờ, một ngày, một tuần hoặc vài năm Bản thiết kế tổng thể đó cho ta biết nội dung cần đào tạo, chỉ rõ những gì có thể kì vọng ở người học sau khi kết thúc khóa học, nó phác họa quy trình thực hiện nội dung đào tạo, nó cũng cho

ta biết các phương thức đào tạo và cách thức kiểm tra _ đánh giá kết quả học tập, và toàn bộ các vấn đề của bản thiết kế này được sắp xếp theo một thời gian biểu chặt chẽ.”

Trang 15

Theo Nguyễn Hữu Chí, Viện KHGD 2002: chương trình giáo dục là sự

trình bày có hệ thống một kế hoạch tổng thể các hoạt động giáo dục trong một thời gian xác định, trong đó nêu lên các mục tiêu học tập mà người học cần đạt được, đồng thời xác định rõ phạm vi, mức độ nội dung học tập, các phương tiện, phương pháp, cách thức tổ chức học tập, cách đánh giá kết quả học tập,… nhằm đạt được các mục tiêu học tập đề ra (Nguyễn Hữu Chí, Viện

KHGD 2002)

Có rất nhiều quan điểm nói về chương trình giáo dục Ở mỗi góc độ ta lại tìm được những cách hiểu khác nhau về chương trình giáo dục Nhưng điều chúng ta quan tâm không phải là tìm xem định nghĩa nào là đúng nhất mà ở mỗi quan điểm là cách nhìn nhận đánh giá về chương trình giáo dục của các tác giả

Theo T.S Trần Hữu Hoan: “Chương trình giáo dục là bản thiết kế tổng thể được trình bày một cách có hệ thống cho một hoạt động giáo dục, đào tạo của một khóa học trong một khoảng thời gian xác định, và thể hiện ở 4 yếu tố sau: 1) Mục tiêu đào tạo thể hiện rõ kết quả đào tạo; 2) Nội dung cần đào tạo

và thời lượng của chương trình, môn học; 3) Quy trình và các phương pháp triển khai thực hiện nội dung đào tạo đã được quy định trong chương trình để đạt được mục tiêu đào tạo; 4) Phương thức kiểm tra đánh giá kết quả đào tạo, ngoài ra còn cần có hướng dẫn thực hiện chương trình.”[14;tr8]

Là một người đang tìm hiểu và nghiên cứu về chương trình giáo dục, tôi nhận thấy rằng ở mỗi một quan điểm lại đề cập đến những góc độ khác nhau Tôi đồng ý với quan điểm của T.S Trần Hữu Hoan Quan điểm này khá rõ ràng và chặt chẽ Tuy nhiên để hiểu cách ngắn gọn hơn tôi xin đưa ra quan

điểm: “Chương trình giáo dục là việc tổ chức một cách trình tự các hoạt

động học tập, với mục đích, nội dung, phương thức, xác định, định hướng kết quả học tập nhằm đạt đến mục tiêu của giáo dục nhà trường.”

Trang 16

1.1.2.Khái niệm phát triển

Phát triển là một khái niệm rộng bao hàm mọi mặt của đời sống được nhiều nhà nghiên cứu tìm hiểu Ở mỗi lĩnh vực nghiên cứu và mỗi góc độ nghiên cứu khác khau người ta có những quan niệm khác nhau về sự phát triển

Trong lịch sử triết học, quan điểm siêu hình xem sự phát triển chỉ là sự tăng giảm thuần tuý về lượng, không hề có sự thay đổi về chất của sự vật; đồng thời, nó cũng xem sự phát triển là quá trình tiến lên liên tục, không trải qua những bước quanh co, phức tạp

Đối lập với quan điểm siêu hình, trong phép biện chứng khái niệm phát triển dùng để chỉ quá trình vận động theo khuynh hướng đi từ thấp đến cao từ kém hoàn thiện đến hoàn thiện hơn Như vậy, khái niệm phát triển không đồng nhất với khái niệm vận động nói chung: đó không phải là sự biến đổi tang lên hay giảm đi đơn thuần về lượng hay sự biến đổi tuần hoàn lặp đi lặp lại ở chất cũ mà là sự biến đổi về chất theo hướng hoàn thiện của sự vật

Phát triển cũng là quá trình phát sinh và giải quyết mâu thuẫn khách quan vốn

có của sự vật; là quá trình thống nhất giữ phủ định những nhân tố tiêu cực và

kế thừa, nâng cao nhân tố tích cực từ sự vật cũ trong hình thái mới của sự vật Theo quan điểm của cá nhân tôi cho rằng: “Phát triển là sự tăng lên lớn thêm cả về số lượng và chất lượng của sự vật hiện tượng” Phát triển là quá trình diễn ra liên tục, xảy ra với tất cả các sự vật hiện tượng từ hữu hình đến

vô hình Chủ đề giáo dục cũng không nằm ngoài sự tác động của quá trình ấy theo thời gian , số lượng, chủ đề giáo dục, số lượng các chủ đề nhánh trong mỗi chủ đề hay cách thức tổ chức các hoạt động trong suốt chủ đề trong chương trình giáo dục mầm non sẽ thay đổi

1.1.3 Phát triển chương trình Giáo dục

Theo tác giả Hách Đức Vĩnh trong phương pháp luận phát triển chương

Trang 17

trình NXB khoa học giáo dục Kinh Bắc, thuật ngữ phát triển chương trình _Curriculum development chỉ hoạt động lựa chọn, tổ chức, điều chỉnh nhằm làm cho học sinh thu được kinh nghiệm mang tính giáo dục, thúc đẩy sự phát triển thể chất và tinh thần của học sinh và khiến cho các kinh nghiệm đó được quy phạm hoá [6]

Qua quá trình nghiên cứu, viện nghiên khoa học Giáo dục Việt Nam cũng thông qua định nghĩa : “Phát triển chương trình nhà trường là quá trình

cụ thể hóa làm chương trình chung quốc gia phù hợp với thực tiễn của địa phương trên cơ sở đảm bảo yêu cầu chung của chương trình quốc gia; Lựa chọn xây dựng nội dung và xác định cách thức thực hiện, phản ánh đặc trưng

và phù hợp với thực tiễn nhà trường nhằm đáp ứng yêu cầu phát triển của người học, thực hiện có hiệu quả mục tiêu giáo dục”[5]

Tóm lại, phát triển chương trình là những việc làm thực tiễn nhằm thay

đổi kế hoạch giáo dục hướng đến cải thiện chất lượng giáo dục Những việc

làm thực tiễn này được chính GV chủ động và thực hiện dựa trên nhu cầu của trẻ mẫu giáo lớn, “Lấy trẻ làm trung tâm” và điều kiện thực tế tại cơ sở, tại địa phương Những chương trình phù hợp, sáng tạo, không gò bó, mới mẻ, đa dạng và phong phú giúp cho trẻ mầm non không nhàm chán nhưng được phát triển cách toàn diện hơn cả về kiến thức cũng như các kĩ năng cần thiết trong cuộc sống

1.1.4 Phát triển chủ đề

Chủ đề (Themel topic) là nội dung hoặc phần kiến thức mà trẻ có thể tìm

hiểu, khám phá theo nhiều cách khác nhau dưới sự tổ chức và hướng dẫn của giáo viên, diễn ra trong một khoảng thời gian thích hợp, thường là 1- 2 tuần.[13;tr27]

Một chủ đề lớn có thể bao gồm một số chủ đề nhánh Phạm vi kiến thức

và hoạt động của chủ đề được mở ra rất linh hoạt, không bị khép kín (Từ kiến

Trang 18

thức cốt lõi sẽ mở rộng ra cho phép trẻ tìm hiểu và lĩnh hội tùy theo trình độ phát triển của độ tuổi và của cá thể trẻ Kiến thức trong một chủ đề thường mang tính tích hợp, hay nói cách khác, để có được sự hiểu biết đầy đủ về một chủ đề nào đó người dạy và người học phải vận dụng tri thức từ các ngành khoa học

Phát triển chủ đề là việc thiết kế, tổ chức các hoạt động giáo dục sao cho phù hợp với thực tiễn và nhu cầu của trẻ nhằm nâng cao chất lượng giáo dục

1.1.5 Sự phát triển chương trình Giáo dục mầm non

“Chương trình giáo dục mầm non thể hiện mục tiêu giáo dục mầm non;

cụ thể hóa các yêu cầu về nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục trẻ em ở từng độ tuổi; quy định việc tổ chức các hoạt động nhằm tạo điều kiện để trẻ em phát triển về thể chất, tình cảm, trí tuệ, thẩm mỹ; hướng dẫn cách thức đánh giá sự phát triển của trẻ em ở tuổi mầm non.”[4; Điều 24]

Trải qua các giai đoạn phát triển khác nhau của đất nước và xu thế chung của nền giáo dục trên toàn thế giới, Giáo dục mầm non cũng có từng bước phát triển và đổi mới mạnh mẽ cả về nội dung, phương pháp và hình thức tổ chức

Từ khi hình thành và phát triển, ngành Giáo dục mầm non đã thực hiện 4 loại chương trình:

1) Chương trình cải tiến (1980) Nội dung chương trình được cấu trúc theo 2 phương thức là giáo dục và giáo dưỡng Tuy nhiên chương trình được thực hiện cách cứng nhắc, mang tính áp đặt, và đồ dùng phương tiện còn hạn chế…

2) Chương trình cải cách ra đời năm 1986, ra đời sau 6 năm nên chương trình cải cách đã khắc phục được những nhược điểm của chương trình cải tiến Các tiết học trở nên “mềm hóa” hơn và các hoạt động học, lao động, lễ hội phong phú hơn Tuy nhiên, sự hướng dẫn gợi ý chi tiết đã khiến cho cách

Trang 19

tổ chức các hoạt động được áp dụng đồng loạt trong cả nước mà chưa tính đến điều kiện thực tiễn của từng địa phương Giáo viên còn thiếu sự chủ động, sáng tạo, ngại phát triển chương trình Các tiết học còn bị phụ thuộc vào tài liệu hướng dẫn khiến cho trẻ lĩnh hội kiến thức bằng ghi nhớ mà chưa có sự trải nghiệm, khám phá

3) Chương trình đổi mới hình thức Giáo dục mầm non (1998)

Đây là chương trình được coi là bước đệm cho sự phát triển chương trình hiện hành Chương trình đổi mới ra đời với sự tích hợp các chủ điểm và tập trung phát triển 5 lĩnh vực cho trẻ (Phát triển thể chất, phát triển nhận thức, phát triển ngôn ngữ, phát triển thẩm mĩ, phát triển tình cảm xã hội) Các hoạt động, kế hoạch chăm sóc trẻ cũng được thực hiện cách khoa học hơn Chế độ sinh hoạt của trẻ không cứng nhắc, có thể thay đổi theo mùa và từng vùng miền Môi trường giáo dục trong nhà trường và trong lớp học được mở rộng

và đổi mới giúp trẻ hứng thú hơn khi đến trường Tuy nhiên nhận thức của giáo viên về tích hợp còn chưa rõ nên giáo viên còn ôm đồm quá nhiều kiến thức trong tiết học và thậm chí còn không làm nổi bật nội dung trọng tâm của bài học, khiến trẻ căng thẳng và nhàm chán Một bộ phận giáo viên còn trì chệ, ngại đổi mới…

4) Chương trình giáo dục mầm non mới

Chương trình giáo dục mầm non mới được Bộ giáo dục ban hành tháng

7 năm 2009

Chương trình có độ mở, cho phép giáo viên chủ động, linh hoạt trong việc lựa chọn nội dung phù hợp với khả năng nhận thức của trẻ và điều kiện thực tiễn của địa phương

Nội dung được triển khai phù hợp với từng trường, từng vùng miền Khi thực hiện chương trình này, trẻ có cơ hội tham gia các hoạt động trải nghiệm đa dạng hơn Trẻ hứng thú khám phá, tích cực, chủ động, sáng tạo

Trang 20

Tuy nhiên, chúng ta không thể phủ nhận những hạn chế của chương trình mới này là sự phát triển các chủ đề vẫn chưa khai thác hết tiềm năng của trẻ

Vì giáo viên chưa chủ động nên một bộ phận không nhỏ giáo viên còn dập khuôn kế hoạch từ năm này đến năm khác Giáo viên còn phụ thuộc vào chương trình kế hoạch của nhà trường mà chưa thực hiện “Lấy trẻ làm trung tâm”, chưa mạnh dạn phát triển chương trình theo nhu cầu của trẻ

* Cơ sở khoa học của phát triển chương trình

Cơ sở triết học

Cơ sở triết học được cho là kiến thức trọng tâm cho việc thiết kế xây dựng chương trình giáo dục hay phát triển chủ đề vì cơ sở triết học phản ánh ý tưởng, trường phái riêng của các nhà thiết kế chương trình giáo dục, và ảnh hưởng trực tiếp đến mục đích, mục tiêu cụ thể và nội dung cũng như cách thức tổ chức các hoạt động của chương trình giáo dục Nghiên cứu cơ sở lý luận triết học không chỉ giúp chúng ta hiểu rõ hơn mục đích chung của nhà trường và chương trình giáo dục hay chủ đề mà trường đang triển khai, mà nó còn giúp chúng ta nhận ra được mối quan hệ giữa các cá nhân và thế giới xung quanh

Trong việc phát triển chủ đề “Tết và mùa xuân” cho trẻ 5-6 tuổi, cơ sở lí luận cung cấp cho nhà giáo dục đặc biệt là các nhà thiết kế chương trình giáo dục hệ thống các nguyên lí cũng như tư tưởng trong quá trình giáo dục, đồng thời giúp họ xác định rõ giá trị nội dung của chủ đề, trẻ tiếp nhận nội dung này như thế nào? Và phương pháp dạy học ra sao? nhằm triển khai nội dung chủ đề một cách hiệu quả nhất

Cơ sở triết học còn cung cấp cho họ hệ thống các chính sách, nhiệm vụ cần thực hiện như xác định mục đích giáo dục, nội dung chương trình giáo dục, phương pháp triển khai nội dung chương trình, cũng như quá trình dạy học Cơ sở triết học còn là cơ sở nền tảng cho chúng ta thực hiện các nhiệm

Trang 21

vụ cụ thể trong hoạt động của nhà trường, trong việc đưa ra các quyết định cụ thể, ví dụ như: Sự chuẩn bị của giáo viên, sự chuẩn bị của trẻ, cách thức tiến hành nội dung dạy học v.v… Thomas Hopkins đã khẳng định ý nghĩa quan trọng của cơ sở triết học trong việc xác định và đưa ra những quyết định trong quá trình xây dựng chương trình/ phát triển chủ đề: “Cơ sở triết học đã đi sâu vào từng quyết định quan trọng trong việc xây dựng chương trình giáo dục và giảng dạy trong nhà trường và sẽ mãi mãi là cơ sở vững chắc cho các quyết định được đưa ra trong khi xây dựng chương trình giáo dục, v.v… hầu như tất

cả các thành tố của chương trình đều dựa trên cơ sở triết học”

Như vậy, cơ sở triết học cho thấy tầm quan trọng của việc phát triển chương trình Giáo dục đối với việc cải thiện chất lượng giáo dục, cập nhật với nhu cầu xã hội Phát triển chương trình giáo dục là điều kiện quan trọng để nâng cao chất lượng giáo dục đáp ứng những đòi hỏi cấp thiết của xã hội, của đất nước trong thời buổi công nghiệp hóa, hiện đại hóa, thích nghi với xu hướng phát triển chung trên toàn thế giới

Cơ sở tâm lí

Yếu tố tâm lí học có ý nghĩa và vai trò to lớn trong cuộc sống của mỗi con người nói chung đặc biệt trong lĩnh vực giáo dục Cơ sở tâm lí học là cơ

sở quan trọng cho người thiết kế phát triển chủ đề

Tâm lí học hoạt động - một trường phái tâm lí học hiện đại, xác định vai trò to lớn của hoạt động trong việc hình thành và phát triển tâm lí, ý thức, phát triển tư duy, kĩ năng, kĩ xảo…của cá nhân Hoạt động từ chỗ được hiểu

là môi trường biểu hiện tâm lí người đã trở thành nguồn gốc, phương thức, phương tiện phát triển tâm lí người Căn cứ vào đó, việc phát triển chủ đề đặc biệt là chủ đề “Tết và mùa xuân” phải đảm bảo cho trẻ được hoạt động thường xuyên, có cơ hội thể hiện tính chủ động, năng động, tích cực và sáng tạo

Trang 22

Như vậy, phát triển chủ đề cần phải đảm bảo phần thực hành phù hợp với nhu cầu người học tránh lí thuyết, kiến thức quá nặng đối với trẻ Theo quan điểm của tâm lí học hiện đại, việc tiếp thu, lĩnh hội kiến thức cần phải dựa trên nền của những cái đã có Các hoạt động tổ chức tích hợp đa dạng và phong phú, tránh tình trạng nhồi nhét khiến trẻ nhàm chán và mệt mỏi

Cùng với đó các hoạt động tổ chức với thời gian phù hợp với sự hứng thú của trẻ Trẻ được rèn luyện kĩ năng, ôn luyện thường xuyên và tổ chức theo hình thức “Học mà chơi, chơi mà học”

Trong việc phát triển chủ đề “Tết và mùa xuân” cho trẻ 5-6 tuổi, người nghiên cứu cần dựa vào đặc điểm tâm lí của trẻ, những thắc mắc theo lứa tuổi của trẻ Tuy nhiên cũng tránh lạm dụng việc phát triển để nhồi nhét vào trẻ những kiến thức cao siêu, dung lượng lớn khiến trẻ căng thẳng và chất lượng giáo dục không cao

Dựa trên cơ sở tâm lý học hiện đại, việc xây dựng chương trình học theo quan điểm lấy người học làm trung tâm cần phải đảm bảo một số yêu cầu sau:

- Đảm bảo khối lượng kiến thức, phù hợp với yêu cầu người học và xã hội, nội dung học phải được sắp xếp theo hệ thống, đảm bảo tính lôgic

- Việc rèn luyện kỹ năng, kỹ xảo phải dựa trên nguyên tắc thực hành hợp

lý và đảm bảo tính hoạt động của người học

- Phát huy được tính tích cực, chủ động của người học, duy trì được động lực học tập của người học

Trẻ mầm non luôn có những đặc điểm khác biệt so với các giai đoạn trung học phổ thông Các đặc điểm tâm lí được bắt đầu hình thành nhưng cũng được phát triển cách nhanh chóng và mạnh mẽ Cơ sở tâm lí học đã một lần nữa khẳng định vai trò quan trọng của việc phát triển chương trình Giáo dục Nó không chỉ phù hợp với nhu cầu của xã hội nữa nhưng đáp ứng ngay trong chính bản thân trẻ, tạo điều kiện cho trẻ phát triển tiềm năng một cách

Trang 23

tối đa và tác động tích cực tới sự phát triển sau này của trẻ

Cơ sở lí luận dạy học hiện đại

Xây dựng và phát triển chương trình đào tạo là một nội dung quan trọng thuộc phạm trù lý luận về nội dung dạy học Dựa trên quan điểm của lí luận dạy học hiện đại, việc phát triển chủ đề đảm bảo các yêu cầu sau:

- Đảm bảo chuẩn kiến thức bậc học, chuẩn kiến thức kĩ năng , và chuẩn kiến thức môn học

- Đảm bảo tính cập nhật, hiện đại về nội dung chương trình

- Đảm bảo các nguyên tắc, quy luật của quá trình dạy học

Đây là cơ sở quan trọng giúp cho GV, người thiết kế xây dựng chương trình mạnh dạn phát triển chương trình, phát triển chủ đề Sở dĩ vậy vì cơ sở lí luận dạy học hiện đại đã cho thấy việc phát triển chương trình Giáo dục không đi một cách chung chung hay xa vời mà phát triển chương trình Giáo dục lấy sự phát triển của trẻ và các điều kiện thực tế làm nền tảng đồng thời

áp dụng những phương pháp tiên tiến trên thế giới giúp cho chất lượng giáo dục mang bản sắc của văn hóa truyền thống, văn hóa dân tộc nhưng luôn cập nhật và mới mẻ

1.2 Các cách tiếp cận phát triển chủ đề

1.2.1 Tiếp cận nội dung

Với quan niệm giáo dục là quá trình truyền thụ nội dung - kiến thức, phát triển chủ đề giáo dục chú trọng hình thành hệ thống nội dung đào tạo và việc trang bị cho người học hệ thống tri thức, kỹ năng cơ bản Cách tiếp cận này tạo điều kiện hình thành ở người học hệ thống các tri thức khoa học đầy đủ song dễ gây hiện tượng dạy học thụ động, quá tải, nặng về ghi nhớ , nhồi nhét nội dung trong một thời gian đào tạo hạn chế, không phù hợp với sự phát triển nhanh chóng về khoa học và công nghệ hiện nay

Vậy tiếp cận nội dung trong phát triển chương trình của chủ đề nghĩa là

Trang 24

làm cho nội dung dạy học không mất đi những kiến thức căn bản đòi hỏi ở mỗi giai đoạn, phù hợp với quá trình phát triển của trẻ 5 tuổi nhưng được đổi mới về cách thức truyền tải, làm phong phú mới mẻ, hấp dẫn ở các hoạt động, trẻ được tự trải nghiệm, tự khám phá nhiều hơn chứ không thụ động tiếp thu kiến thức Nội dung trong phát triển chương trình của chủ đề đảm bảo quy luật phát triển từ gần đến xa, từ đơn giản đến phức tạp

1.2.2 Tiếp cận mục tiêu

Phát triển chủ đề giáo dục được thiết kế dựa trên mục tiêu đào tạo cho trẻ mẫu giáo nói chung Chủ đề được xây dựng và phát triển thể hiện mục tiêu, mạng nội dung và hoạt động cũng như đánh giá quá trình hoạt động của trẻ

Ưu điểm cơ bản của cách tiếp cận này là tạo sự tường minh và quy trình chặt chẽ, quy chuẩn của cả quá trình đào tạo, dễ kiểm tra, đánh giá nhưng cũng có nhược điểm là tạo ra sự cứng nhắc, khuôn mẫu, đồng nhất trong quá trình đào tạo chưa quan tâm đến tính đa dạng và nhiều khác biệt của các nhân tố trong quá trình đào tạo như người học, môi trưòng văn hoá-xã hội v.v

Như vậy, tiếp cận mục tiêu trong phát triển chương trình của chủ đề có nghĩa là chủ đề được phát triển đảm bảo các yêu cầu mà trẻ MGL cần đạt được, các mục tiêu được thể hiện cách cụ thể và rõ ràng nhưng không máy móc dập khuôn mà phải phù hợp với điều kiện thực tế của trẻ, của GV và của địa phương

1.2.3 Tiếp cận hệ thống

Phát triển chủ đề là một bản thiết kế tổng thể gồm các khâu lựa chọn chủ

đề, xác định mục tiêu, nội dung và cách thức tổ chức hoạt động Các khâu này tuân theo một hệ thống có sự gắn kết logic chặt chẽ và tác động qua lại với nhau Tiếp cận hệ thống giúp cho giáo viên xác đinh rõ ràng cách thức cũng như tiến trình thực hiện các hoạt động

Như vậy, chương trình phát triển của chủ đề cần được thiết kế một cách

Trang 25

khoa học, có hệ thống rõ ràng, mạch lạc, có sự liên kết logic và sự nâng cao dần về kiến thức nhằm giúp cho GV dễ dàng nắm bắt được nội dung và triển khai thực hiện đạt kết quả cao nhất

1.2.4 Định hướng phát triển chủ đề

- Phát triển chủ đề cần xuất phát từ thực tế chăm sóc và giáo dục trẻ Cần phân tích các đặc điểm tâm sinh lí cũng như khả năng nhận thức của trẻ về chủ đề Thường xuyên gần gũi, giao tiếp với trẻ đề biết nhu cầu và mong muốn của trẻ

- Xây dựng nội dung chủ đề dựa trên mục tiêu chung và chuẩn kiến thức dành cho trẻ mẫu giáo Các nội dung phát triển không chỉ bao hàm mục tiêu

mà còn phản ánh cả các khía cạnh nội dung, phương pháp, phương tiện, hình thức tổ chức học tập, kiểm tra đánh giá v.v

- Phát triển các chủ đề mở, tạo điều kiện thường xuyên cập nhật tri thức,

kỹ năng mới và khuyến khích sự sáng tạo của giáo viên.Thực hiện đánh giá thường xuyên và kiểm định đánh giá theo các chuyên đề

- Chú trọng yêu cầu phát triển năng lực giảng dạy, giảm bớt các tri thức hàn lâm, tăng cường năng lực hành động và thích ứng nhanh với những đổi mới trong Giáo dục mầm non

1.3 Một số vấn đề về tích hợp

1.3.1 Khái niệm

Tích hợp là xu thế dạy học hiện đại đã và đang được quan tâm, nghiên cứu và áp dụng vào nhiều nhà trường trong nước và trên thế giới Quan điểm dạy học tích hợp là một định hướng trong đổi mới căn bản và toàn diện giáo dục, là một bước chuyển từ cách tiếp cận nội dung giáo dục sang tiếp cận năng lực nhằm đào tạo con người có tri thức mới, năng động, sáng tạo khi giải quyết các vấn đề trong thực tiễn cuộc sống

Trong tiếng Anh, tích hợp được viết là “integration” một từ gốc Latin

Trang 26

(integer) có nghĩa là “whole” hay “toàn bộ, toàn thể” Có nghĩa là sự phối hợp

các hoạt động khác nhau, các thành phần khác nhau của một hệ thống để bảo đảm sự hài hòa chức năng và mục tiêu hoạt động của hệ thống ấy

Theo ThS Đào Thị Hồng, VNCSP, Trường ĐHSP Hà Nội “Tích hợp (Intergrate) có nghĩa là kết hợp những bộ phận với nhau trong một tổng thể Những phần, những bộ phận này có thể khác nhau nhưng thích hợp với nhau”[10] Theo cách hiểu này, tích hợp là việc gắn kết các bộ phận trong một đối tượng lại với nhau nhưng việc gắn kết các bộ phận đó ở mức nào thì định nghĩa lại chưa chỉ ra được Và liệu giữa các bộ phận của đối tượng khác nhau

có thể gắn kết với nhau được hay không?

Trong từ điển tiếng Việt (Hoàng Phê chủ biên), tích hợp là lắp ráp, nối kết các thành phần của một hệ thống theo quan điểm tạo nên một hệ thống toàn bộ [8;tr981] Như vậy, tích hợp không chỉ dừng lại ở việc gắn kết các phần trong một tổng thể mà còn tạo nên một chỉnh thể toàn vẹn Tuy nhiên, quan điển này còn chung chung, chưa chỉ ra được mối quan hệ của các thành phần sẽ lắp ráp và kết nối

Theo quan niệm về giáo dục tích hợp, TS Phạm Mai Chi cho rằng:

“Tích hợp không chỉ là đặt cạnh nhau, liên kết với nhau, mà là sự xâm nhập, đan xen các đối tượng hay các bộ phận của một đối tượng vào nhau, tạo thành một chỉnh thể” [13;tr13] Trong đó không những các giá trị của từng bộ phận được bảo tồn và phát triển, mà đặc biệt là ý nghĩa thực tiễn của toàn bộ cái chỉnh thể đó được nhân lên Quan điểm này chỉ ra, tích hợp không chỉ là một phép cộng đơn thuần là đặt cạnh nhau nhưng là sự “đan xen, xâm nhập” của các đối tượng hay các bộ phận để tạo nên một chỉnh thể toàn vẹn Sự đan xen, kết hợp ấy không làm giảm đi giá trị của các bộ phận mà góp phần làm cho giá trị của toàn bộ chỉnh thể được nhân lên

Như vậy, ta có thể rút ra được, tích hợp là sự kết hợp, liên kết và đan sen

Trang 27

giữa các thành phần, bộ phận để tạo nên một chỉnh thể toàn vẹn thống nhất góp phần làm cho giá trị của tổng thể được nhân lên

Tích hợp trong chương trình giáo dục mầm non là thiết kế các nội dung và

tổ chức các hoạt động thành một thể thống nhất, có ý nghĩa cho trẻ tham gia để trẻ phối hợp áp dụng và phát triển các kinh nghiệm từ các lĩnh vực khác nhau, thông qua việc trẻ tham gia tích cực và trực tiếp một cách tự nhiên

là bảo đảm để mỗi học sinh biết cách vận dụng kiến thức học được trong nhà trường vào các hoàn cảnh mới lạ, khó khăn, bất ngờ, qua đó trở thành một người công dân có trách nhiệm, một người lao động có năng lực Dạy học tích hợp đòi hỏi việc học tập trong nhà trường phải được gắn với các tình huống của cuộc sống mà sau này học sinh có thể đối mặt” [11] Như vậy, ta có thể thấy được PGS.TS Đào Thị Oanh đã đưa ra kết luận cho việc dạy học tích hợp nhằm hình thành cho trẻ những năng lực giải quyết các tình huống diễn ra trong thực tiễn Điều này cũng đồng nghĩa với việc phát triển toàn diện cho trẻ vì chỉ có phát triển toàn diện ở các lĩnh vực trẻ mới có thể giải quyết được các tình huống đa dạng trong cuộc sống

“Dạy học tích hợp là hành động liên kết các đối tượng nghiên cứu, giảng dạy, học tập của cùng một lĩnh vực hoặc tài liệu, khác nhau trong cùng một kế hoạch dạy học.”[11]

Dạy học tích hợp thực chất là kết hợp dạy học lí thuyết và thực hành trong cùng một không gian và thời gian nhằm giúp trẻ thông minh, vận dụng

Trang 28

một cách sáng tạo kiến thức, kĩ năng mà trẻ được tìm hiểu nhằm giải quyết các tình huống khác nhau và mới mẻ trong cuộc sống hiện đại

1.3.3 Đặc trưng của dạy học theo hướng tích hợp

- Dạy học lấy người học làm trung tâm : Đây là phương pháp đáp ứng yêu cầu cơ bản của mục tiêu giáo dục, nhất là đối với giáo dục mầm non, các hoat động chăm sóc, giáo dục trẻ đều hướng đến việc “lấy trẻ làm trung tâm” Trẻ là chủ thể trong các hoạt động Trẻ được chủ động tham gia vào các hoạt động và tích cực tự mình trải nghiệm Với vốn kinh nghiêm sẵn có, đòi hỏi trẻ phải tham gia vào các tình huống trong thực tiễn Dạy học tích hợp biểu hiện cách tiếp cận lấy người học là trung tâm, đây là xu hướng chung có nhiều ưu thế so với dạy học truyền thống

- Dạy học tích hợp có thể hiểu là một hình thức dạy học kết hợp giữa dạy

lý thuyết và dạy thực hành Quá trình dạy học mang tính mục đích rõ rệt qua

đó ở người học hình thành một năng lực nào đó nhằm đáp ứng được mục tiêu của mô đun Trong chủ đề “Tết và mùa xuân” của trẻ 5-6 tuổi, hầu hết các hoạt động trẻ có thể tự trải nghiệm và phát huy tính sáng tạo của mình Các hoạt động không khô cứng mà luôn cho trẻ “học mà chơi, chơi mà học”, các tiết học được biến thành các hoạt động cho trẻ tham gia vì chỉ có thông qua hoạt động trẻ mới tiếp thu kiến thức cách hiệu quả nhất

- Trong dạy học tích hợp, trẻ được đặt vào những tình huống của đời sống thực tế, trẻ phải trực tiếp quan sát, thảo luận và đưa ra ý kiến của mình,

so sánh với ý kiến của bạn khác… Trẻ phải tiếp nhận đối tượng qua các phương tiện nghe, nhìn, trực quan sinh động và phân tích đối tượng nhằm làm bộc lộ và phát hiện ra các mối quan hệ bản chất, tất yếu của sự vật, hiện tượng Từ đó, trẻ vừa nắm được kiến thức vừa cảm thấy thích thú Như vậy,

GV không chỉ đơn thuần truyền đạt kiến thức mà còn hướng dẫn, tổ chức các thao tác thực hành

Trang 29

Hoạt động nào cũng cần có kiểm soát, trong dạy học cũng vậy, trẻ cần có

sự kiểm soát, củng cố những nhận thức đúng, uốn nắn những nhận thức chưa đúng Việc kiểm soát sự thực hiện qua thông tin, tự đánh giá, điều chỉnh Việc đánh giá và xác định các năng lực phải theo các quan điểm là người học phải thực hành được các công việc giống như người công nhân thực hiện trong thực tế

1.3.4 Vai trò của dạy học tích hợp trong dạy học mầm non

Thứ trưởng Bộ GD-ĐT Nguyễn Vinh Hiển cho biết: "Dạy học tích

hợp sẽ mang lại nhiều lợi ích như giúp học sinh áp dụng được nhiều kỹ năng, nền tảng kiến thức tích hợp giúp việc tìm kiếm thông tin nhanh hơn, khuyến khích việc học sâu và rộng, thúc đẩy thái độ học tập tích cực đối với học sinh Thay đổi cách dạy này không gây ra sự xáo trộn về số lượng và cơ cấu giáo viên, không nhất thiết phải đào tạo lại mà chỉ cần bồi dưỡng một số chuyên

đề dạy học tích hợp Không đòi hỏi phải tăng cường quá nhiều về cơ sở vật chất và thiết bị dạy học"

Quan điểm tích hợp và phương pháp dạy học theo hướng tích hợp đã được giáo viên tiếp nhận nhưng ở mức độ thấp Phần lớn giáo viên lựa chọn mức độ tích hợp “liên môn” hoặc tích hợp “nội môn” Tuy nhiên mặt tích cực của cách dạy theo hướng tích hợp là các bài dạy theo hướng tích hợp sẽ làm cho nhà trường gắn liền với thực tiễn cuộc sống, với sự phát triển của cộng đồng Những nội dung dạy trẻ theo các chủ đề “Gia đình”, “Thực vật”, “Quê hương đất nước”, “Nước và các hiện tượng tự nhiên”, “Tết và mùa xuân”…làm cho trẻ có nhu cầu học tập để giải đáp được những thắc mắc, phục vụ cho cuộc sống của mình và cộng đồng Học theo hướng tích hợp sẽ giúp cho các trẻ quan tâm hơn đến con người và xã hội ở xung quanh mình, việc học gắn liền với cuộc sống đời thường là yếu tố để trẻ học tập Những thắc mắc nảy sinh từ thực tế làm nảy sinh nhu cầu giải quyết vấn đề của trẻ

Trang 30

Chẳng hạn “Vì sao tết lại có bánh trưng?”, “vì sao tết lại được nhận lì xì?”,

“vì sao….?.”

Thực tế ở một số trường mầm non, các bài soạn để dạy học theo hướng tích hợp đã giúp cho giáo viên tổ chức các hoạt động cho trẻ Tiết dạy linh hoạt, trẻ học tích cực và hứng thú, được chủ động tìm tòi, khám phá và rèn luyện kĩ năng Muốn tiến hành có hiệu quả, cần phải chú trọng đến việc bồi dưỡng giáo viên Giáo viên phải hiểu được thế nào là tích hợp, phải nghiên cứu chương trình, tài liệu xem nó dựa trên môn khoa học xác định nào, có thể

mở rộng quan hệ tương tác với các khoa học khác như thế nào, mức độ tích hợp thể hiện ra sao?

Từ thực tiễn Giáo dục mầm non ở nhiều nước và Việt Nam cho thấy, dạy học theo hướng tích hợp là xu thế mà nhiều nước trên thế giới đã áp dụng, đặc biệt là các nước trong khu vực châu Á - Thái Bình Dương Đa số giáo viên đã quen với cách dạy tích hợp nên các tiết dạy sáng tạo, hấp dẫn hơn, cách xử lí tình huống cũng linh hoạt và mềm dẻo hơn Dạy học theo hướng tích hợp phát huy được tính tích cực của trẻ, góp phần đổi mới nội dung và phương pháp dạy học ở trường mầm non

1.4 Đặc điểm của trẻ mẫu giáo lớn

1.4.1 Đặc điểm sinh lí

Hệ tuần hoàn: Tim của trẻ có tốc độ phát triển khá nhanh Ở độ tuổi này, tim của trẻ có trọng lượng nặng gấp 5 lần so với các lứa tuổi khác nhưng vẫn còn khá nhanh so với người lớn

Thành phần máu của trẻ 5 - 6 tuổi cũng tăng lên và biến đổi về chất, huyết sắc tố 80- 90%, hồng cầu 4,5 - 5 triệu đơn vị, bạch cầu 7- 10 nghìn, tiểu cầu 200- 300 nghìn

Hệ thần kinh: Sự hoạt động của trẻ 5- 6 tuổi là thời kì phát triển nhanh,

rõ nhất trong cả đời người Kết cấu thần kinh của não có xu thế sớm trưởng

Trang 31

thành, song ở lứa tuổi này, do khả năng hưng phấn và ức chế của hệ thần kinh chưa ổn định nên nếu trẻ làm gì đơn thuần sẽ bị mệt mỏi

Hệ hô hấp: Hệ hô hấp của trẻ đã phát triển, tuy nhiên chưa đầy đủ như ở người lớn Vì vậy, trẻ phải hít thở nhiều hơn để nhận đủ lượng oxy cần thiết Càng nhỏ, nhịp thở càng nhanh và nông (khoảng 20 - 25 lần trên 1 phút)

Như vậy, ở thời kì này, các cơ quan và hệ cơ quan của trẻ phát triển

mạnh nên người lớn cần cung cấp đủ các chất dinh dưỡng, rèn luyện cơ thể trẻ giúp các cơ quan và hệ cơ quan phát triển phát triển Đây chính là điều kiện giúp trẻ phát huy khả năng tìm tòi, sáng tạo, các kĩ năng trải nghiệm … một cách hiệu quả nhất chủ đề “Tết và mùa xuân” cũng như các chủ đề khác

1.4.2 Đặc điểm tâm lí

Độ tuổi mẫu giáo lớn là giai đoạn cuối cùng của trẻ em ở lứa tuổi mầm non Ở giai đoạn này, những cấu tạo tâm lí đặc trưng của con người đã được hình thành trước đây, đặc biệt là trong độ tuổi mẫu giáo nhỡ tiếp tục được phát triển mạnh.Với sự giáo dục của người lớn, các chức năng tâm lí đó sẽ được hoàn thiện về mọi phương diện của hoạt động tâm lí, để hoàn thành cơ

sở ban đầu cho sự phát triển nhân cách con người.[12;tr304]

* Trẻ sử dụng thành thạo tiếng mẹ đẻ theo các hướng:

- Nắm vững ngữ âm và ngữ điệu khi sử dụng tiếng mẹ đẻ: Trẻ biết đọc diễn cảm, biết dùng điệu bộ bổ sung cho ngôn ngữ nói

- Vốn từ và cơ cấu ngữ pháp phát triển

Trang 32

câu nói của trẻ thường ngắn gọn, rõ ràng

+ Tính địa phương trong ngôn ngữ nền văn hoá của địa phương, cộng đồng thể hiện rõ trong ngôn ngữ của trẻ (nói ngọng, nói mất dấu )

+ Tính cá nhân đã bộc lộ rõ qua các sắc thái khác nhau của trẻ, đặc biệt ở chức năng ngôn ngữ biểu cảm

Việc sử dụng ngôn ngữ trong giao tiếp và các tính chất của ngôn ngữ ở trẻ phụ thuộc phần lớn vào việc hướng dẫn và sự gương mẫu về lời nói của người lớn

* Sự xác định ý thức bản ngã:

Tiền đề của ý thức bản ngã là việc tự tách mình ra khỏi người khác đã được hình thành từ cuối tuổi ấu nhi Tuy nhiên phải trải qua một quá trình phát triển thì ý thức bản ngã của trẻ mới được xác định rõ ràng Đến cuối tuổi mẫu giáo, trẻ mới hiểu được mình như thế nào, có những phẩm chất gì, những người xung quanh đối xử với mình ra sao, và tại sao mình có hành động này hay hành động khác ý thức bản ngã được thể hiện rõ nhất trong sự tự đánh giá về thành công và thất bại của mình, về những ưu điểm và khuyết điểm của bản thân, về những khả năng và cả sự bất lực nữa

Để đánh giá bản thân một cách đúng đắn, đầu tiên đứa trẻ phải học cách đánh giá người khác và nghe những người xung quanh đánh giá mình như thế nào.Thoạt đầu sự đánh giá của trẻ về người khác còn phụ thuộc nhiều vào thái độ của nó đối với người này Chẳng hạn mọi đứa trẻ đều đánh giá mẹ mình bao giờ cũng tốt

Cuối tuổi mẫu giáo lớn, trẻ nắm được kỹ năng so sánh mình với người khác, điều này là cơ sở để tự đánh giá một cách đúng đắn hơn và cũng là cơ

sở để noi gương những người tốt, việc tốt

Ở tuổi mẫu giáo lớn, sự tự ý thức còn được biểu hiện rõ trong sự phát triển giới tính của trẻ Trẻ không những nhận ra mình là trai hay gái mà còn

Trang 33

biết nếu mình là trai hay gái thì hành vi này phải thể hiện như thế nào cho phù hợp với giới tính của mình

Ý thức bản ngã được xác định rõ ràng giúp trẻ điều khiển và điều chỉnh hành vi của mình dần dần phù hợp với những chuẩn mực, những quy tắc xã hội, từ đó hành vi của trẻ mang tính xã hội

Ý thức bản ngã được xác định rõ ràng còn cho phép trẻ thực hiện các hành động có chủ tâm hơn Nhờ đó các quá trình tâm lý mang tính chủ định

rõ rệt

Thời điểm lúc trẻ tròn 6 tuổi là một bước ngoặt quan trọng của trẻ em Ở

độ tuổi mẫu giáo lớn là thời kỳ trẻ đang tiến vào bước ngoặt đó với sự biến đổi của hoạt động chủ đạo Hoạt động vui chơi vốn giữ vị trí chủ đạo trong trong suốt thời kỳ mẫu giáo, nhưng vào cuối tuổi này không còn giữ nguyên dạng hoàn chỉnh của nó, những yếu tố của hoạt động học tập bắt đầu nảy sinh

1.4.3 Đặc điểm nhận thức

Các đặc điểmvề nhận thức về cơ bản là sự nối tiếp sự phát triển ở lứa tuổi từ 4 - 5 tuổi nhưng chất lượng mới hơn Thể hiện ở: Mức độ phong phú của các kiểu loại, mức độ chủ định các quá trình tâm lý rõ ràng hơn, có ý thức hơn, tính mục đích hình thành và phát triển ở mức độ cao hơn, độ nhạy cảm của các giác quan được tinh nhạy hơn, khả năng kiềm chế các phản ứng tâm

lý được phát triển

Ở đây chúng ta chỉ đề cập tới quá trình tâm lý phát triển mạnh mẽ và đặc trưng nhất, đó là tư duy.Sự phát triển tư duy ở độ tuổi này mạnh mẽ về kiểu loại, các thao tác và thiết lập nhanh chóng các mối quan hệ giữa các sự kiện, hiện tượng, thông tin giữa mới và cũ, gần và xa

Đặc tính chung của sự phát triển tư duy: Trẻ đã biết phân tích tổng hợp không chỉ dừng lại ở đồ vật, hình ảnh mà ngay cả từ ngữ.Tư duy của trẻ dần dần mất đi tính duy kỷ, tiến dần đến khách quan, hiện thực hơn Dần dần trẻ

Trang 34

phân biệt được thực và hư Đã có tư duy trừu tượng với các con số, không gian, thời gian, quan hệ xã hội Ý thức rõ về những ý nghĩ, tình cảm của mình, trách nhiệm đối với hành vi Các phẩm chất của tư duy đã bộc lộ đủ về cấu tạo và chức năng hoạt động của nó như tính mục đích, độc lập sáng tạo, tính linh hoạt, độ mềm dẻo

Ở trẻ 5 - 6 tuổi phát triển cả 3 loại tư duy, tư duy hành động trực quan vẫn chiếm ưu thế Tuy nhiên do nhiệm vụ hoạt động mà cả loại tư duy hình ảnh trực quan, tư duy trừu tượng được phát triển ở trẻ Loại tư duy này giúp trẻ đến gần với hiện thực khách quan Trẻ có khả năng chú ý có chủ định từ

37 - 51 phút, đối tượng chú ý hấp dẫn, nhiều thay đổi, kích thích được sự tò

mò, ham hiểu biết của trẻ Trẻ có thể phân phối được chú ý vào 2,3 đối tượng cùng một lúc, tuy nhiên thời gian phân phối chú ý chưa bền vững, dễ dao động Di chuyển chú ý của trẻ nhanh, nếu sự hướng dẫn di chuyển tốt Sự phân tán chú ý ở trẻ còn mạnh, nhiều khi trẻ không tự chủ được do xung lực bản năng chi phối Do vậy cần thay đổi đồ chơi, trò chơi hấp dẫn hơn

1.5 Dạy học chủ đề Tết và mùa xuân cho trẻ 5-6 tuổi theo hướng tích hợp

ở mầm non

1.5.1 Nội dung, đặc điểm chủ đề “Tết và mùa xuân”

Tết là ngày lễ lớn nhất trong năm của người Việt, trong những ngày đó mọi người sẽ tạm ngưng công việc để đến thăm, chúc tết lẫn nhau chúc một năm mới thuận buồm xuôi gió, an lành, hạnh phúc Không khí tết rộn vang trên khắp nẻo đường, đó là ngày gia đình sum họp, những chiếc bánh chưng bánh giầy mang đậm chất Việt Nam, những bao lì xì thể hiện sự yêu thương, may mắn hay những lễ hội mùa xuân

Để chào đón năm mới mọi gia đình đều dọn dẹp nhà cửa ngăn nắp, trang trí lại căn nhà cho thật đẹp, bày mâm ngũ quả chu đáo và đầy đủ, trang trí ngôi nhà bằng các loại hoa thật đẹp và sặc sỡ, đặc biệt có hai loài hoa chỉ Tết

Trang 35

mới nở đó là hoa đào hồng, đỏ ở miền bắc và hoa mai vàng ở miền nam, cây quất,…mỗi nơi có một phong tục khác nhau nhưng đều có một điểm chung là cầu may mắn cho một năm mới sắp đến

Cần tổ chức cho trẻ đón xuân, đón Tết năm mới với tâm trạng vui mừng Giới thiệu cho trẻ những hoạt động tốt đẹp trong ngày tết: chúc tết ông

bà, bố mẹ, người thân, thầy cô giáo,…mọi người mặc quần áo đẹp, gia đình sum họp, mừng thọ người cao tuổi, tổ chức các trò chơi dân gian, đi chơi xuân, đi tham quan các di tích lịch sử, đi lễ hội…; thời tiết mùa xuân, cây cối đâm chồi nảy lộc,các loài hoa đua nhau khoe sắc, không khí trong lành, vui

vẻ, mỗi dân tộc có những phong tục tập quán khác nhau Tết có rất điều điều thú vị khiến trẻ em tò mò, vì vậy cần dạy cho trẻ hiểu những truyền thống tốt đẹp đó, những phong tục tập quán ngày tết, những nét đẹp văn hoá truyền thống của dân tộc để từ đó nuôi dưỡng lòng yêu đất nước, yêu quê hương, dân tộc trong lòng trẻ

1.5.2 Phương pháp và hình thức dạy học tích hợp chủ đề “Tết và mùa xuân” cho trẻ 5-6 tuổi

Khi tổ chức các hoạt động cho trẻ KP – MTXQ theo hướng tích hợp có thể sử dụng một số phương pháp kích thích tư duy và khuyến khích trẻ vận dụng kiến thức, kĩ năng đã biết vào các tình huống có ý nghĩa với trẻ Các phương pháp có thể kể đến như: phương pháp quan sát, phương pháp đàm thoại, phương pháp trò chơi,…các phương pháp này hỗ trợ và bổ sung lẫn nhau trong quá trình giáo dục trẻ theo chủ đề

Phương pháp quan sát: là phương pháp được sử dụng rộng rãi nhất trong

dạy học theo chủ đề Nó phù hợp với đặc điểm tư duy của trẻ mẫu giáo Vì vậy giáo viên cần tăng cường cho trẻ sử dụng phương pháp này trong quá trình tìm hiểu, khám phá chủ đề.quan sát có thể tổ chức trong tiết học, hoạt động ngoài trời, tham quan và sinh hoạt hàng ngày…

Ngày đăng: 12/09/2017, 10:14

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Bộ Giáo dục và Đào tạo, Chương trình giáo dục mầm non, ban hành kèm theo thông tƣ số 17/2009/TT-BGDĐT ngày 25 tháng 7 năm 2009 của Bộ Giáo dục và Đào tạo, NXB Giáo dục Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chương trình giáo dục mầm non
Nhà XB: NXB Giáo dục Việt Nam
2. Lê Thu Hương, Hướng dẫn tổ chức thực hiện các hoạt động giáo dục trong trường mầm non theo chủ đề (Trẻ 5- 6 tuổi), 2014, NXB giáo dục Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hướng dẫn tổ chức thực hiện các hoạt động giáo dục trong trường mầm non theo chủ đề (Trẻ 5- 6 tuổi)
Nhà XB: NXB giáo dục Việt Nam
6. Hách Đức Vĩnh, Phương pháp luận phát triển chương trình, 2001, NXB Khoa học giáo dục Bắc kinh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương pháp luận phát triển chương trình
Nhà XB: NXB Khoa học giáo dục Bắc kinh
9. TS. Nguyễn Thị Hoa, Giáo dục tích hợp ở bậc học mầm non, 2010, NXB Đại học Sƣ phạm Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo dục tích hợp ở bậc học mầm non
Nhà XB: NXB Đại học Sƣ phạm
10. ThS. Đào Thị Hồng, Sự cần thiết và hấp dẫn của dạy học tích hợp, Viện NCSP- Trường Đại học sư phạm Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sự cần thiết và hấp dẫn của dạy học tích hợp
11. Bộ giáo dục và Đào tạo, Tài liệu tập huấn dạy học ở trường tiểu học, 2014, NXB Đại học sƣ phạm Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tài liệu tập huấn dạy học ở trường tiểu học
Nhà XB: NXB Đại học sƣ phạm
12. Nguyễn Ánh Tuyết, Tâm lí học trẻ em lứa tuổi mầm non,2008, NXB Đại học sƣ phạm Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tâm lí học trẻ em lứa tuổi mầm non
Nhà XB: NXB Đại học sƣ phạm
13. Phạm Thị Mai Chi, Hỏi đáp về tình hình tổ chức các hoạt động giáo dục mẫu giáo theo hướng tích hợp chủ đề, 2004, Trung tâm nghiên cứu chiến lược và phát triển chương trình giáo dục mầm non Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hỏi đáp về tình hình tổ chức các hoạt động giáo dục mẫu giáo theo hướng tích hợp chủ đề
14. TS. Trần Hữu Hoan, Phát triển chương trình giáo dục, 2011, ĐH Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phát triển chương trình giáo dục
15. TS. Trần Thị Ngọc Trâm, Hướng dẫn tổ chức thực hiện chương trình giáo dục mầm non mẫu giáo lớn, NXB Giáo dục Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hướng dẫn tổ chức thực hiện chương trình giáo dục mầm non mẫu giáo lớn
Nhà XB: NXB Giáo dục Việt Nam
17. Cao Thị Thặng, Vận dụng quan điểm tích hợp trong việc phát triển chương trình giáo dục Việt Nam giai đoạn sau 2015, 2010, đề tài KHCN cấp Bộ B2008- 37- 60 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vận dụng quan điểm tích hợp trong việc phát triển chương trình giáo dục Việt Nam giai đoạn sau 2015
3. Quyết định của Thủ tướng chính phủ số : 149/2006/QĐ-TTG, phê duyệt đề án phát triển giáo dục mầm non giai đoạn 2006 - 2015.4. Luật giáo dục 2005 Khác
7. (Hướng dẫn thực hiện chương trình chăm sóc giáo dục trẻ mẫu giáo 5- 6 tuổi , Vụ GDMN - TTNCGDMN, BGDĐT,NXB HÀ NỘI,2004) Khác
16. Bộ giáo dục và đào tạo, Quy Định về Bộ chuẩn phát triển trẻ em năm tuổi, (Ban hành kèm theo Thông tư số 23/2010/TT-BGDĐT ngày 22 tháng 7 năm 2010 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo) Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w