1. Trang chủ
  2. » Cao đẳng - Đại học

Phát triển kĩ năng chơi cho trẻ tự kỷ 3 - 4 tuổi trong lớp học hòa nhập ở trường mầm non

78 850 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 78
Dung lượng 1,11 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đối với TTK, phát triển kĩ năng chơi không chỉ giúp trẻ khắc phục khó khăn khi chơi mà thông qua chơi trẻ còn học được nhiều về kĩ năng giao tiếp, ngôn ngữ, vận động, và một số kĩ năng t

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2

KHOA GIÁO DỤC MẦM NON

-

NGÔ THỊ THU THÙY

PHÁT TRIỂN KĨ NĂNG CHƠI CHO

TRẺ TỰ KỶ 3 - 4 TUỔI TRONG LỚP HỌC HÕA NHẬP Ở TRƯỜNG MẦM NON

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Chuyên ngành: Giáo dục Mầm non

Người hướng dẫn khoa học

ThS LÊ THỊ NGUYÊN

Trang 2

LỜI CẢM ƠN

Tác giả xin được gửi lời cảm ơn chân thành đến cô giáo, Th.S Lê Thị Nguyên - giảng viên khoa Giáo dục Tiểu học, trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2 - người đã tận tình hướng dẫn, giúp đỡ tác giả trong suốt quá trình thực hiện và hoàn thành khóa luận

Tác giả cũng xin được gửi lời cảm ơn chân thành đến các thầy, cô giáo trong khoa Giáo dục Mầm non, trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2 đã giúp đỡ, tạo điều kiện thuận lợi cho tác giả trong suốt quá trình học tập tại nhà trường Xin được gửi lời cảm ơn đến Ban giám hiệu, các thầy cô giáo ở trường mầm non Hoa Hồng (T.x Phúc Yên - Vĩnh Phúc) đã tạo điều kiện cho tác giả điều tra, khảo sát các vấn đề thực tiễn có liên quan đến phạm vi nghiên cứu của đề tài

Hà Nội, tháng 4 năm 2017

Người thực hiện

Ngô Thị Thu Thùy

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tác giả cam đoan khóa luận là kết quả nghiên cứu của riêng tác giả, nội dung khóa luận không trùng với bất cứ một công trình nghiên cứu nào

Hà Nội, tháng 4 năm 2017

Người thực hiện

Ngô Thị Thu Thùy

Trang 4

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Mục đích nghiên cứu 1

3 Nhiệm vụ nghiên cứu 1

4 Đối tượng nghiên cứu và khách thể nghiên cứu 3

5 Giả thuyết khoa học 3

6 Phạm vi nghiên cứu 3

7 Phương pháp nghiên cứu 3

8 Cấu trúc khóa luận 3

CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC PHÁT TRIỂN KĨ NĂNG CHƠI CHO TRẺ TỰ KỶ 3-4 TUỔI TRONG LỚP HỌC HÒA NHẬP 5

Ở TRƯỜNG MẦM NON 5

1.1 Một số vấn đề về hội chứng tự kỷ 5

1.1.1 Lịch sử xuất hiện 5

1.1.2 Khái niệm tự kỷ 7

1.1.3 Phân loại tự kỷ 8

1.1.4 Ngu n nhân gâ tự ỷ 10

1.1.5 hu n oán ánh giá trẻ tự kỷ 12

1.1.6 i m trẻ tự ỷ lứa tuổi mầm non 15

1.2 Phát triển kĩ năng chơi cho trẻ tự kỷ 19

1.2.1 á hái niệm 19

1.2.2 Ý nghĩ a hoạt ộng hơi ối với trẻ tự kỷ 21

1.2.3 á h thứ hơi và tiếp cận trẻ tự kỷ 22

1.3 Phát triển kĩ năng chơi cho trẻ tự kỷ trong lớp học hòa nhập ở trường mầm non 24

Trang 5

1.3.1 Phương thứ giáo dụ hò nhập ở mầm non 24

1.3.2 Mụ í h a việc dạy trẻ tự kỷ hơi trong lớp họ hò nhập 25

1.3.3 i m c a trẻ tự kỷ trong hoạt ộng hơi 26

1.3.4 Phân loại hoạt ộng hơi a trẻ tự kỷ ở lớp họ hò nhập 28

1.3.5 Nội dung phát tri n ĩ năng hơi ho trẻ tự kỷ 30

1.4 Cơ sở thực tiễn của việc phát triển kĩ năng chơi cho trẻ tự kỷ trong lớp học hòa nhập ở trường mầm non 31

1.4.1 Mụ í h hảo sát thực trạng 31

1.4.2 ối tượng và phạm vi iều tra 32

1.4.3 Nội dung khảo sát thực trạng 32

1.4.4 Phương pháp hảo sát thực trạng 32

1.4.5 Kết quả iều tra thực trạng 33

CHƯƠNG 2 ĐỀ XUẤT BIỆN PHÁP PHÁT TRIỂN KĨ NĂNG CHƠI CHO TRẺ TỰ KỶ 3 – 4 TUỔI TRONG LỚP HỌC HÒA NHẬP Ở TRƯỜNG MẦM NON 39

2.1 Nguyên tắc phát triển kĩ năng chơi cho trẻ tự kỷ 3-4 tuổi trong lớp học hòa nhập mầm non 39

2.1.1 Ngu n tắ ảm bảo tính tổng th và toàn diện 39

2.1.2 Ngu n tắ ảm bảo tính á nhân hó 39

2.1.3 Ngu n tắ ẳm bảo tính dạng và linh hoạt 40

2.1.4 Ngu n tắ ảm bảo tính phù hợp với nhu cầu và hả năng c a trẻ 40 2.1.5 Ngu n tắ ảm bảo tính thự hành, lu ện tập 41

2.2 Biện pháp phát triển kĩ năng chơi cho trẻ tự kỷ 3-4 tuổi trong lớp học hòa nhập mầm non 41

2.2.1 Sử dụng á ĩ thuật rèn lu ện ĩ năng hơi 41

2.2.2 Một số bài tập bổ trợ phát tri n ĩ năng hơi ho trẻ tự kỷ 3-4 tuổi 46

Trang 6

2.2.3 Thiết kế môi trường hơi ho trẻ tự kỷ 53

KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 58

1 Kết luận 58

2 Khuyến nghị 59

TÀI LIỆU THAM KHẢO 61

Trang 7

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

ASD Autism Spectrum Disorder

AD Autism Disorder

DSM Diagnostic anh statistical Manual of Mental Discorders - Sổ tay chẩn

đoán và phân loại bệnh tâm thần (của hội tâm thần học Hoa Kỳ) GDHN Giáo dục hòa nhập

ICD The International Clasification of Disease – world Helth Oragnization:

Bảng phân loại bệnh quốc tế của Tổ chức Y tế Thế giới

KHCTCN Kế hoạch can thiệp cá nhân

RLPTK Rối loạn phổ tự kỷ

TTK Trẻ tự kỷ

Trang 8

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Trong xã hội hiện đại, “rối loạn tự kỷ” không còn là một thuật ngữ xa

lạ đối với mỗi người Hiện nay số lượng TTK tăng lên nhanh chóng ở tất cả các quốc gia trên thế giới, bao gồm tất cả các chủng tộc, màu da, các dân tộc

và nền kinh tế xã hội khác nhau Theo số liệu thống kê năm 2012 của trung tâm kiểm soát và phòng ngừa dịch bệnh Hoa Kì, hiện cứ 68 trẻ có một trẻ được xác minh với RLPTK (ASD – Autism Spectrum Disorder); tỷ lệ trẻ trai mắc chứng tự kỷ cao gấp 5 lần so với bé gái Ở Việt Nam, con số này cũng tăng lên nhanh chóng qua các năm Những năm 1980, tỉ lệ được phát hiện là 3-4/1000 trẻ; những năm 1990 là 10-20/10000 trẻ Sau năm 2000 là 62,6/100000 trẻ Dù chưa có một số liệu thống kê cụ thể nhưng sự gia tăng

về số lượng trẻ mắc chứng RLPTK đặt ra nhiều vấn đề cấp thiết trong công tác chăm sóc cũng như giáo dục trẻ ở trường mầm non

Tự kỷ là một hội chứng do rối loạn thần kinh gây ảnh hưởng đến chức năng hoạt động của não bộ Tự kỷ có thể xảy ra ở bất cứ cá nhân nào, không phân biệt giới tính, chủng tộc, điều kiện kinh tế xã hội Đặc điểm của tự kỷ là những khiếm khuyết về tương tác xã hội, giao tiếp ngôn ngữ và phi ngôn ngữ;

có hành vi sở thích và hoạt động mang tính hạn hẹp và lặp đi lặp lại, khiến trẻ gặp nhiều khó khăn trong cuộc sống không thể hòa nhập cộng đồng

Chơi là hoạt động chủ đạo của trẻ em, đặc biệt quan trọng trong gian đoạn 3- 6 tuổi.Thông qua chơi trẻ được khám phá, trải nghiệm, phát huy khả năng của bản thân và tương tác với bạn cùng chơi Thiếu hụt và hạn chế kĩ năng chơi làm ảnh hưởng các kĩ năng khác của trẻ Đối với TTK, phát triển kĩ năng chơi không chỉ giúp trẻ khắc phục khó khăn khi chơi mà thông qua chơi trẻ còn học được nhiều về kĩ năng giao tiếp, ngôn ngữ, vận động, và một số kĩ năng tự phục vụ bản thân Chơi còn giúp TTK phát triển cảm giác, biết cách

Trang 9

giải quyết vấn đề và khám phá thế giới xung quanh Chính vì vậy việc phát triển kĩ năng chơi cho TTK rất quan trọng trong quá trình phát triển

Ở nước ta hiện nay vấn đề chăm sóc, giáo dục TTK là một lĩnh vực khá mới mẻ Các công trình nghiên cứu về TTK chưa nhiều, đặc biệt là nghiên cứu về vấn đề phát triển kĩ năng chơi cho TTK Giáo viên mầm non còn thiếu nhiều kiến thức trong tổ chức hoạt động chơi cho TTK Vì vậy kết quả của giáo dục hòa nhập cho TTK chưa cao Mặt khác trẻ khuyết tật học cùng các bạn trong lớp hòa nhập với số lượng trẻ khá đông, cô giáo không có nhiều thời gian để can thiệp cho trẻ Hầu hết TTK chơi một mình trong một bàn học hoặc một góc lớp với một số đồ chơi quen thuộc với cá nhân trẻ, trẻ không được tương tác với cô giáo và bạn bè trong khi chơi Vì vậy, trẻ gặp rất nhiều khó khăn trong hòa nhập cộng đồng và phát triển các kĩ năng

Khóa luận nghiên cứu “Phát triển kĩ năng chơi cho trẻ tự kỷ 3 - 4 tuổi trong lớp học hòa nhập ở trường mầm non” là một đề tài mới mẻ đi sâu nghiên cứu về phát triển kĩ năng chơi cho TTK

2 Mục đích nghiên cứu

Đề xuất biện pháp nhằm phát triển kĩ năng chơi cho TTK 3 - 4 tuổi trong lớp học hòa nhập ở trường mầm non

3 Nhiệm vụ nghiên cứu

- Tìm hiểu cơ sở lí luận của việc phát triển kĩ năng chơi cho TTK trong lớp học hòa nhập mầm non

- Tìm hiểu cơ sở thực tiễn của việc phát triển kĩ năng chơi cho TTK trong lớp học hòa nhập mầm non

- Đề xuất một số biện pháp nhằm phát triển kĩ năng chơi cho TTK 3-4 tuổi

Trang 10

4 Đối tượng nghiên cứu và khách thể nghiên cứu

- Đối tượng nghiên cứu: Các biện pháp phát triển kĩ năng chơi cho TTK 3-4 tuổi trong lớp học hòa nhập mầm non

- Khách thể nghiên cứu: Quá trình phát triển kĩ năng chơi cho TTK 3-4 tuổi trong lớp học hòa nhập mầm non

5 Giả thuyết khoa học

Nếu các biện pháp phát triển kĩ năng chơi cho TTK 3 - 4 tuổi được đề xuất phù hợp với TTK sẽ hình thành được ở trẻ kĩ năng chơi, phát triển các mặt như ngôn ngữ, hành vi, trẻ tự tin hơn khi tiếp xúc với mọi người; góp phần nâng cao hiệu quả việc chăm sóc, giáo dục cho TTK nói chung cũng như

việc phát triển kĩ năng chơi cho TTK 3 - 4 tuổi nói riêng

6 Phạm vi nghiên cứu

Đề tài tập trung nghiên cứu và đề xuất một số biện pháp phát triển kĩ năng chơi cho TTK 3-4 tuổi đang học trong lớp học hòa nhập ở trường mầm non

Đề tài được tiến hành điều tra, khảo sát thực tế và tổ chức thực nghiệm

ở một trường mầm non có TTK học hòa nhập thuộc khu vực Thị xã Phúc Yên

- Vĩnh Phúc

7 Phương pháp nghiên cứu

Đề tài sử dụng phối hợp các phương pháp nghiên cứu:

- Phương pháp nghiên cứu lý luận

- Phương pháp nghiên cứu thực tiễn:

+ Phương pháp quan sát

+ Phương pháp điều tra, phỏng vấn

+ Phương pháp nghiên cứu trường hợp

8 Cấu trúc khóa luận

Ngoài phần mở đầu và kết luận, nội dung của khóa luận được chia thành

2 chương:

Trang 11

Chương 1: Cơ sở lí luận và thực tiễn của phát triển kĩ năng chơi cho TTK 3 - 4 tuổi trong lớp học hòa nhập mầm non

Chương 2: Đề xuất biện pháp phát triển kĩ năng chơi cho TTK trong lớp học hòa nhập mầm non

Trang 12

CHƯƠNG 1

CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC PHÁT TRIỂN KĨ NĂNG CHƠI CHO TRẺ TỰ KỶ 3-4 TUỔI TRONG LỚP HỌC HÕA NHẬP

Ở TRƯỜNG MẦM NON 1.1 Một ố vấn đề về hội chứng tự kỷ

1.1.1 Lịch sử xuất hiện

Thuật ngữ tự kỷ (Autism) được bác sỹ tâm thần người Thuỵ Sỹ Engen Bleuler (1857 – 1940) đưa ra năm 1919 để mô tả giai đoạn bắt đầu của rối loạn thần kinh ở người lớn, đây là hiện tượng mất nhận thức thực tế của người bệnh khi cách ly với đời sống thực tại hằng ngày và nhận thức của người bệnh

có xu hướng không thống nhất với kinh nghiệm thông thường của họ

Cho đến năm 1943, bác sỹ tâm thần người Mỹ là Leo Kanner mô tả trong một bài báo với nhan đề “Autism Disturbance of Effective Contract” Ông cho rằng TTK là trẻ thiếu quan hệ tiếp xúc về mặt tình cảm với người khác; cách thể hiện các thói quen hằng ngày rất giống nhau, tỉ mỉ và có tính rập khuôn; không có ngôn ngữ nói hoặc ngôn ngữ nói thể hiện sự bất thường

rõ rệt (nói nhại lời, nói lí nhí, không nhìn vào mắt khi giao tiếp); rất thích xoay tròn các đồ vật và thao tác rất khéo; có khả năng cao trong quan sát không gian và trí nhớ “như con vẹt”; khó khăn trong học tập ở những lĩnh vực khác nhau; thích độc thoại trong thế giới riêng của mình, khó khăn trong việc thực hiện các trò chơi đóng vai theo chủ đề như cho búp bê ăn, nói chuyện điện thoại, bác sỹ tiêm bệnh nhân; chỉ hiểu nghĩa đen của câu nói, thích tiếng động và vận động lặp đi lặp lại đơn điệu: giới hạn đa dạng các hoạt động tự phát, mặc dù vẻ bề ngoài nhanh nhẹn, thông minh Kanner nhấn mạnh triệu chứng tự kỷ có thể phát hiện được ngay khi trẻ ra đời hoặc trong khoảng 30 tháng đầu Công trình khoa học của Kanner đã đánh dấu một bước ngoặt

Trang 13

trong lịch sử giáo dục TTK, ngày nay là cơ sở của nhiều công trình nghiên cứu tại nhiều nước thế giới

Năm 1944, một bác sỹ tâm thần người Áo là Han Asperger (1906 – 1980)

sử dụng thuật ngữ Autism trong khi mô tả những vấn đề xã hội trong nhóm trẻ trai mà ông làm việc Mô tả của ông như sau: ngôn ngữ của trẻ phát triển bình thường, tuy nhiên trong cách diễn tả và cách phát âm nhiều cung điệu lên xuống không thích hợp với hoàn cảnh; có những rối loạn trong cách sử dụng đại từ nhân xưng ngôi thứ nhất “con, tôi” lẫn lộn với ngôi thứ hai và ba Trẻ vẫn có những tiếp xúc về mặt xã hội nhưng có xu hướng thích cô đơn, đơn độc Rối loạn đặc biệt nhất trong hội chứng này là cách suy luận rườm rà, phức tạp, không thích ứng với những điều kiện, hoàn cảnh xã hội Những trẻ này có sở thích đặc biệt về mặt kỹ thuật, toán học và có khả năng nhớ tốt một cách lạ thường, mọi người lấy tên của ông để đặt tên cho hội chứng này là Asperger Lorna Wing (1978) đã tìm ra những dấu hiệu rối loạn tự kỷ liên quan đến nhân vật “sư huynh Juniper” Theo nhận định của bà, người này có những dấu hiệu tự kỷ như: không muốn giao tiếp, tiếp xúc; thờ ơ với mọi người xung quanh, thích những hoạt động nhàm chán lặp đi, lặp lại; không hiểu và đáp lại những tình cảm của người khác Tuy chưa khẳng định một cách chắc chắn Juniper có bị tự kỷ hay không, nhưng theo mô tả của Lorna Wing cho thấy đó

là một số biểu hiện mà ngày nay chúng ta thường gặp ở TTK

Trong những thập niên nghiên cứu về tự kỷ đã có rất nhiều tranh cãi về việc định nghĩa hội chứng tự kỷ, vì ngày càng có nhiều mô tả gần giống như

mô tả của Kanner và Asperger Mặt khác, theo Jack Scott: Những người bị tự

kỷ là một dạng không thể tách biệt với những dạng bất thường bị xếp vào nhóm những “thằng ngốc” và những “người điên” trong nhiều thế kỉ Trước tình trạng này Lorna Wing và Fudith Gould đã tiến hành một cuộc nghiên cứu khảo sát tất cả các trẻ nhỏ dưới 15 tuổi tại một khu vực ở London có bất kì

Trang 14

chứng tật nào về thể chất và học tập cũng như những hành vi bất thường từ nặng tới nhẹ Sau nghiên cứu hai bà đưa ra kết luận như sau:

Thứ nhất, các hội chứng Kanner và Asperger thuộc về nhóm nhỏ nằm trong dãy các dạng rối loạn gây ảnh hưởng xấu tới quan hệ tương tác và giao tiếp xã hội

Thứ 2, các rối loạn này có thể có ở các trẻ với bất kì mức đồ thông minh nào

Thứ 3, rối nhiễu này gắn với các vấn đề thể chất nào đó hoặc với khuyết tật khác về phát triển

Qua khảo sát này, năm 1979, Lorna Wing đưa ra thuật ngữ “RLPTK” để

khái quát hiện tượng phức tạp này kèm theo các dấu hiệu chủ yếu của TTK

1.1.2 Khái niệm tự kỷ

Trong những thập niên vừa qua trên thế giới đã có rất nhiều nghiên cứu

và kết luận khác nhau về tự kỷ Những khái niệm về hội chứng này rất đa dạng và thay đổi theo thời gian Tuy nhiên, người nghiên cứu xin được trích dẫn một số khái niệm sau:

Theo cuốn Sổ tay ch n oán và thống những rối nhiễu tâm thần IV

(DSM-IV) định nghĩa: tự kỷ nằm trong nhóm các rối loạn phát triển lan tỏa

(Pervasive Developmental Disorders), là một nhóm hội chứng ượ trưng

bởi su ém n ng nề và l n tỏa trong những lĩnh vự phát tri n gồm: Tương

tá xã hội, giao tiếp và ó những hành vi rập huôn

Theo ICD-10: Tự kỷ là một dạng rối loạn lan tỏa sự phát tri n, ượ xá

ịnh bởi một sự phát tri n hông bình thường hay giảm sút bi u hiện trước 3 tuổi và bởi một hoạt ộng bất thường trưng trong b lĩnh vự : tá ộng

xã hội qua lại, giao tiếp và hành vi l p lại

Một khái niệm được sử dụng khá phổ biến là khái niệm về tự kỷ của

Liên hiệp quốc đưa ra vào năm 2008: “Tự kỷ là một dạng rối loạn phát tri n

Trang 15

tồn tại suốt cuộ ời, thường xuất hiện trong 3 năm ầu ời Tự kỷ là do rối loạn thần inh gâ ảnh hưởng ến chứ năng hoạt ộng c não bộ Tự kỷ ó

th xảy ra ở bất cứ á nhân nào hông phân biệt giới tính, h ng tộc ho c iều kiện kinh tế - xã hội i m c a tự kỷ là những khiếm khuyết về tương

tá xã hội, giao tiếp ngôn ngữ và phi ngôn ngữ và ó hành vi, sở thí h, hoạt ộng m ng tính hạn hẹp, l p i l p lại”

Liên quan đến tự kỷ còn có RLPTK, về cơ bản thì thuật ngữ này cũng biểu hiện các rối loạn có chung đặc điểm như Rối loạn tự kỷ song khác nhau

về phạm vi, mứ ộ n ng, khởi phát và tiến tri n c a triệu chứng theo thời

gian “Rối loạn phổ tự kỷ” được xem là tương đồng với “rối loạn phát triển

diện rộng” với 5 dạng rối loạn chính Theo DSM – V, “rối loạn phổ tự kỷ” được sử dụng thay cho tên gọi “rối loạn phát triển diện rộng”, cũng không còn

xu hướng phân chia các dạng “tự kỷ” mà thay vào đó là một tên gọi chung và tiêu chí chẩn đoán chung cho “rối loạn phổ tự kỷ”

Trên cơ sở phân tích các khái niệm và những thuật ngữ có liên quan người nghiên cứu chọn khái niệm tự kỷ do Liên hợp quốc đưa ra làm cơ sở lí luận cho đề tài nghiên cứu

1.1.3 Phân loại tự kỷ

Những nghiên cứu về TTK vẫn tồn tại rất nhiều vấn đề chưa được thống nhất Do sự đa dạng về phạm vi, mức độ năng nhẹ, khởi phát và tiến triển của

triệu chứng nên sự phân loại TTK cũng rất khác nhau Theo cuốn Phục hồi

chứ năng TTK của Bộ Y tế Việt Nam thì TK được phân loại theo ba tiêu chí

sau: Theo thời i m mắc tự kỷ, theo chỉ số thông minh và theo mứ ộ

* Theo thời điểm mắc tự kỷ:

Tự kỷ i n hình - hay tự kỷ b m sinh: triệu chứng tự kỷ xuất hiện dần

dần trong 3 năm đầu

Tự kỷ hông i n hình: trẻ phát triển về ngôn ngữ và giao tiếp bình

Trang 16

thường trong 3 năm đầu, sau đó triệu chứng tự kỷ xuất hiện dần dần và có sự thoái triển về ngôn ngữ-giao tiếp

* Theo chỉ số thông minh:

Tự kỷ ó hỉ số thông minh o và nói ược: Trẻ không có những hành vi

tiêu cực nhưng thụ động, trẻ có hững hành vi bất thường trong bối cảnh xã hội Trẻ có thể biết đọc sớm và khả năng nhìn rất tốt Tuy nhiên, trẻ lại có xu hướng bị ám ảnh và có nhận thức tốt hơn về hành vi khi trưởng thành

TTK ó hỉ số thông minh o và hông nói ược: trẻ có sự khác biệt về kĩ

năng nói và kĩ năng vận động, cử động, thực hiện Trẻ có thể quá nhạy cảm với kích thích thính giác Hành vi có thể bất thường ở mức độ nhẹ Trẻ có thể nhìn

đồ vật một cách chăm chú, có thể giữ im lặng hoặc tự cô lập một cách dễ dàng

TTK ó hỉ số thông minh thấp và nói ược: Trẻ thường xuyên la hét và

có thể trở nên hung hãn Trẻ có các hành vi kích thích, trí nhớ kém, lời nói lặp lại và khả năng tập trung kém

TTK ó hỉ số thông minh thấp và hông nói ược: Trẻ thường xuyên

im lặng, biết dùng một ít từ, ít cử chỉ Trẻ nhạy cảm với các âm thanh/tiếng động, có những kĩ năng xã hội không thích hợp và không có mối quan hệ với người khác

* Theo mức độ:

Mứ ộ nhẹ: Trẻ có thể giao tiếp bằng mắt tương đối bình thường, giao

tiếp với người ngoài hơi hạn chế, học được các hoạt động đơn giản, kĩ năng chơi và nói được tương đối bình thường

Mứ ộ trung bình: Trẻ có thể giao tiếp bằng mắt, giao tiếp với người

ngoài hạn chế và nói được nhưng hạn chế

Mứ ộ n ng: Trẻ không giao tiếp bằng mắt, không giao tiếp với người

ngoài và không nói được

Trang 17

1.1.4 Ngu n nhân gâ tự ỷ

Hiện nay có rất nhiều nghiên cứu về nguyên nhân gây ra hội chứng tư

kỷ, nhưng vẫn chưa có một nguyên nhân nào được coi là nguyên nhân chính thức gây ra chứng bệnh này Vấn đề này vẫn tiếp tục được các nhà khoa học nghiên cứu

* Di truyền:

Đa số các tác giả cho rằng tự kỷ là do nguyên nhân di truyền Tuy nhiên, chưa tìm ra được gen hay tổ hợp gen nào gây ra bệnh này Có thể đây là một gen tổ hợp, một biến dị gen hoặc tương tác gen nào đó, vì đại đa số các trường hợp TTK có bố mẹ hoàn toàn bình thường Một số hội chứng về di truyền có liên quan tới bệnh tự kỷ như hội chứng đứt gãy gen X …

Nghiên cứu trên các trường hợp sinh đôi hay di truyền phả hệ, người ta nhận thấy rằng có mối tương quan cao của kiểu hình tự kỷ (30%)

* Bất thường về phía mẹ (các bệnh lý mẹ mắc phải trước, trong thời ỳ mang thai):

Mắ Virus Rubell : việc mắc rubella trong thai kỳ có tỷ lệ lớn phát sinh

quái thai Bên cạnh đó, việc kết hợp giữa kháng thể của mẹ (IgG) và Protein não của thai nhi có thể làm cho não thai nhi kém phát triển, gây ra bệnh tự kỷ Ngoài ra, mắc virus rubella trong thai kỳ còn tăng nguy cơ mắc các bệnh lý tâm thần khác ở trẻ, đặc biệt là chứng tâm thần phân liệt

Bệnh lý tu ến giáp: sự thiếu hụt tyroxin của người mẹ trong tuần 8 – 12

của kỳ thai nghén được công nhận là sản sinh ra những thay đổi trong não thai nhi dẫn tới tự kỷ Sự thiếu hụt tyroxin có thể là nguyên nhân gây bởi thiếu I ốt trong bữa ăn hoặc người mẹ đã phẫu thuật tuyến giáp

Bệnh ái tháo ường: Bệnh đái tháo đường của bà mẹ trong suốt thời kỳ

thai nghén là nguy cơ quan trọng của tự kỷ; phương pháp phân tích tổng hợp

2009 thấy rằng đái tháo đường tăng gấp đôi nguy cơ bị tự kỷ

Trang 18

Thuố sử dụng trong th i ỳ: việc điều trị các bệnh của người mẹ trước

và trong thai kỳ cũng có thể ảnh hưởng: thuốc an thần kinh, Acid Valproic, thuốc điều trị dạ dày, viêm khớp

* Môi trường trong thời ỳ mang thai (môi trường sống và các ếu tố dinh dưỡng trong thai ỳ)

Stress trong thời ỳ m ng th i bao gồm những mâu thuẫn trong gia đình,

việc biến động về tài chính và tình cảm trong quá trình mang thai, tiếng ồn, nhiệt độ … có thể ảnh hưởng tới quá trình phát triển của não bộ thai nhi, là tiền đề phát sinh tự kỷ

Môi trường sống: mẹ mang thai sống trong khu vực tiếp xúc với thuốc

trừ sâu và thuốc diệt cỏ với nồng độ cao và liên tục có tỷ lệ cao gây ra những bất thường về gen, dễ phát sinh những đột biến gen

Acid folic: Các nhà khoa học đã khẳng định acid folic rất cần thiết cho sự

cấu tạo hệ thống thần kinh (bao gồm não bộ) của trẻ Tuy nhiên, lại có giả thuyết cho rằng việc có mặt của acid folic là nguyên nhân gây ra bệnh tự kỷ

do sự chuyển đổi thông tin di truyền trong tế bào suốt chu kỳ (giá thuyết này chưa được kiểm chứng và ít được các tác giả chấp thuận)

* Bất thường cấu trúc não:

Dựa trên các công cụ chẩn đoán hình ảnh (X-quang sọ, siêu âm qua thóp, chụp MRI, CT scanner), các tác giả đã đưa ra một số nhận xét về bệnh tự kỷ

như sau:

Kí h thướ não bộ trong thời kỳ thai nghén và lúc mới đẻ: nghiên cứu

trên các trẻ sơ sinh non tháng và có trọng lượng mới sinh thấp, những trẻ có khối lượng/kích thước não bộ bất thường dẫn tới nguy cơ cao gấp 3 lần so với trẻ nhẹ cân non tháng có khối lượng/kích thước não bình thường

Bất thường về á vùng não, đặc biệt là vùng chịu trách nhiệm về

cảm xúc và quan hệ xã hội Một số tác giả cho rằng vùng này nằm ở hai nhóm nơron hình quả hạch nằm sâu bên trong não (có thể đo bằng MRI)

Trang 19

* Bất thường chức năng của não:

Nhiều tác giả nhận thấy việc tăng cao nồng độ các chất dẫn truyền thần kinh, cụ thể là serotonin - một hóa chất có tác dụng chuyển tải các thông điệp của não Các công bố mới nhất về bệnh tự kỷ chỉ ra việc thiếu năng lượng của các tế bào não, đây là hệ quả của việc rối loạn chức năng ty lạp thể - đơn vị cung cấp năng lượng (ATP) cho não bộ Hiện tại, những nghiên cứu dựa trên giả thuyết này áp dụng trên điều trị trên động vật thực nghiệm đã cho những kết quả tốt Chất trung gian APT này có thể chữa triệu chứng tự kỷ ở các con vật thí nghiệm, thậm chí ngay cả khi việc điều trị được bắt đầu sau khi triệu chứng bệnh đã bùng phát mạnh mẽ Loại thuốc này phục hồi lại 17 loại triệu chứng bất thường, bao gồm việc bình thường hóa cấu trúc khớp thần kinh não, tín hiệu giữa các tế bào, hành vi xã hội, phối hợp hệ thần kinh vận động

và bình thường hóa quá trình trao đổi chất của ty lạp thể Tuy nhiên, hiện tại thuốc này chưa được áp dụng trên người

Tuy nguyên nhân gây ra chứng tự kỷ rất phức tạp, nhưng chắc chắn là chứng tự kỷ không phải do hậu quả của việc nuôi dạy con cái không đúng

cách của các bậc phụ huynh Theo cuốn “ m n ng dành ho h mẹ trẻ ó

rối loạn tự kỷ” (Keys to parenting the children with autism) thì có tới 33% số

trẻ có rối loạn tự kỷ bị rối loạn hệ thần kinh trung ương.Trong một cuộc điều tra ở Mĩ cho thấy những trẻ em rối loạn tự kỷ, tiểu não của họ nhỏ một cách bất thường.Chính điều này đã gây ra những triệu chứng của rối loạn tự kỷ

1.1.5 hu n đoán đánh giá trẻ tự kỷ

Hiện nay, có rất nhiều các công cụ chẩn đoán TTK Rối loạn tự kỷ thường được chẩn đoán khi trẻ được 2 tuổi, lúc này trẻ tham gia vào các hoạt động xã hội có tổ chức Những thiếu hụt về mặt xã hội sẽ bộc lộ rõ khi trẻ được so sánh với các bạn cùng trang lứa Rối loạn tự kỷ là một khuyết tật suốt đời và thường bắt đầu trong tuổi ấu thơ Phần lớn các trẻ có rối loạn tự kỷ bắt

Trang 20

đầu thể hiện các dấu hiệu đặc trưng của tự kỷ vào khoảng 2-3 tuổi Tuy nhiên, nhiều trẻ có rối loạn tự kỷ cũng có nhiều biểu hiện mà trẻ nhận thấy là “khác với trẻ bình thường” ngay từ khi sinh ra

Sổ tay chu n oán và thống rối nhiễu tinh thần (DSM-IV) của Hội

tâm thần Mĩ đã đưa ra những tiêu chí chẩn đoán tự kỷ như sau:

A Một tập hợp gồm áu hoặc nhiều hơn các tiêu chí của nhóm (1), (2), (3), trong đó có ít nhất hai tiêu chí từ nhóm (1) và một tiêu chí từ mỗi nhóm (2) và (3)

(1) Giảm khả năng định tính trong tương tác xã hội thể hiện ở ít nhất trong số các biểu hiện sau:

a, Giảm khả năng rõ rệt trong việc sử dụng các hành vi phi ngôn ngữ đa dạng như ánh mắt, nét mặt, các tư thế của cơ thể và các cử chỉ để tạo ra sự liên hệ mang tính chất xã hội

b, Không có khả năng xây dựng các mối quan hệ với bạn đồng trang lứa phù hợp với mức độ phát triển

c, Thiếu sự đòi hỏi tự nhiên đối với việc chia sẻ niềm vui, sở thích, các mối quan tâm hay các thành tích đạt được với những người khác (ví dụ như không bao giờ mang hay chỉ cho người khác xem những thứ mình thích)

d, Thiếu sự trao đổi qua lại về tình cảm xã hội

(2) Giảm khả năng định tính trong giao tiếp thể hiện ở ít nhất một trong

số các biểu hiện sau:

a, Chậm hoặc hoàn toàn không phát triển kĩ năng nói (không có ham muốn bù đắp lại hạn chế này bằng cách giao tiếp khác, ví dụ như những cử chỉ điệu bộ thuộc kịch câm)

b, Với những cá nhân có thể nói được thì lại suy giảm khả năng thiết lập

và duy trì đối thoại

Trang 21

c, Sử dụng ngôn ngữ trùng lặp và rập khuôn hoặc sử dụng những ngon ngữ khác thường

d, Thiếu nhưng hoạt động/ cách chơi đa dạng, trò chơi đóng vai, hoặc hoạt động/ cách chơi bắt chước mang tính xã hội

(3) Những kiểu hành vi, những mối quan tâm và hoạt động lặp đi lặp lại hoặc rập khuôn thể hiện ở ít nhất một trong các biểu hiện sau:

a, Quá bận tâm đến một hoặc một số những mối quan hệ có tính chất rập khuôn và bó hep với một mức độ tập trung hoặc cường độ bất thường

b, Gắn kết cứng nhắc với những thủ tục hoặc nghi thức riêng biệt và không mang tính chức năng

c, Có những biểu hiện vận động mang tính lặp đi lặp lại hoặc rập khuôn (ví dụ gõ tay hoặc vặn tay, hoặc có kiểu di chuyển cả thân người một cách phức tạp), đi trên đầu các ngón chân

d, Bận tâm dai dẳng với các bộ phận của một vật thể

B Chậm hoặc thực hiện một cách không bình thường các chức năng

ở ít nhất một trong các lĩnh vực sau, với mốc khởi đầu trước tuổi lên 3:

(1) tương tác xã hội

(2) sử dụng ngôn ngữ trong giao tiếp xã hội

(3) chơi/ hoạt động mang tính biểu tượng hoặc tưởng tượng

C Hội chứng không phải do rối loạn Rett hay rối loạn bất hòa nhập thời kì ấu thơ

Như vậy, những đặc điểm để chuẩn đoán rối loạn tự kỷ chính là sự xuất hiện tình trạng đặc biệt bất thường hoặc khuyết tật trong phối hợp và giao tiếp

xã hội cũng như sự xuất hiện của một tập hợp các hành động và sở thích đặc biệt hạn hẹp Dạng biểu hiện của tình trạng rối loạn này rất khác nhau, phụ thuộc vào mức độ phát triển và tuổi của cá nhân

Trang 22

* Những lưu ý trong quá trình ch n đoán rối loạn tự kỷ:

1 Những khiếm khuyết, những biểu hiện có thể được thực hiện bằng nhiều cách khác nhau, một số có thể rất tinh vi và khó có thể nhận ra

2 Rối loạn tự kỷ có thể đi kèm với những rối loạn về thể chất và tinh thần khác

3 Những biểu hiện về hành vi có thể xuất hiện cùng với việc trẻ ngày càng lớn lên

4 Những hành vi của trẻ thường biểu hiện rất khác nhau trong các môi trường khác nhau

5 Hành vi của trẻ tùy thuộc vào việc trẻ đang làm với ai Với người có kinh nghiệm trẻ thường ít bộc lộ hành vi hơn khi làm việc với người ít kinh nghiệm hoặc trong một nhóm không được tổ chức tốt

Ngoài ra, còn một số công cụ chuẩn đoán và phát hiện hội chứng được

sử dụng khá phổ biến như: M-CHAT bảng kiểm sàng lọc tự kỷ ở trẻ nhỏ (Checklist for Autism Toddlers), thang chuẩn đoán tự kỷ CARS (Childhood Autism Rating Scale), ADOS: Bảng quan sát chẩn đoán tự kỷ (The Autism Diagnostic Observation Schedule)…

1.1.6 c điểm của trẻ tự ỷ lứa tuổi mầm non

Qua nghiên cứu, người nghiên cứu thấy được TTK có những đặc điểm, biểu hiện khác thường trong các vấn đề như: các vấn đề tương tác xã hội, các vấn đề giao tiếp ngôn ngữ, những hành vi kỳ lạ, lặp đi lặp lại, các vấn đề về vận động, nhạy cảm quá mức, các vấn đề cảm giác, các hành vi tự gây thương tích hay các vấn đề an toàn Dưới đây là một số đặc điểm nổi bật của trẻ tự kỷ lứa tuổi mầm non:

* Về tương tác xã hội

Trong cuốn TTK của Nguyễn Xuân Giang có viết về sự tương tác xã hội của trẻ TK như sau: TTK Cách ly xã hội và không có khả năng liên hệ với

Trang 23

người khác Ví dụ: trong những tình huống mặt đối mặt, TTK nặng sẽ không nhìn vào mặt bạn, thậm chí còn tránh khỏi bạn

Có 3 kiểu suy kém về tương tác:

- Nhóm trẻ có khuynh hướng tách rời: Trẻ tách ly và nằm trong vỏ bọc của chúng, trẻ không đáp ứng xã hội với người khác, không tìm kiếm giao tiếp mắt và thường chủ động né tránh, không thích tiếp xúc thân thể như được

ôm, không đáp ứng với người chăm sóc bằng sự thích thú, phấn khởi

- Nhóm trẻ có khuynh hướng thụ động: Những trẻ này chấp nhận những khởi đầu xã hội của người khác nhưng theo cách dễ phục tùng và thờ ơ Ví dụ trẻ dễ làm theo trẻ khác, tuân theo một cách thụ động

- Nhóm trẻ kỳ quặc: Những trẻ này có quan tâm đến người khác nhưng lại thiếu hiểu biết xã hội và thiếu khả năng đánh giá những tiêu chuẩn cho 2 hành vi bình thường Ví dụ: Trẻ có thể tiếp cận người lạ , sờ vào họ mà không phân biệt lạ quen, hỏi những câu hỏi không thích hợp, không có nhận biết rằng những cách thức như thế sẽ làm khó chịu người khác Những nhóm trẻ này cũng có thể thay đổi về cách thức tương tác theo quá trình phát triển chứ không phải cố định ở một kiểu

Ngoài ra, trong quá trình chơi TTK khó xây dựng được mối quan hệ cá nhân, liên hệ mang tính xã hội gắn bạn bè, giáo viên theo hướng tích cực TTK gặp rất nhiều khó khăn trong thiết lập quan hệ tương tác do tín hiệu mà trẻ phát

ra, sự chủ động của trẻ là rất yếu Nếu sự đáp ứng của giáo viên mạnh, thì có thể phần nào xây dựng được mối quan hệ dù không được tốt nhất, nhưng nếu

sự đáp lại của giáo viên hay bạn bình thường yếu/không có thì sự phát triển mối quan hệ của trẻ với những người xung quanh là rất khó khăn

Hơn nữa, TTK không hứng thú vào các tương tác xã hội do tính thụ động của trẻ kéo dài trong giai đoạn đầu tiên nên TTK có thể không hứng thú tham gia vào các tương tác xã hội với môi trường Như thiếu sự tiếp xúc bằng mắt,

Trang 24

không đáp lại lời của cha mẹ, ít hoặc ko quan tâm đến việc kết bạn, thích ngồi

xa cách các bạn khác, thích các hoạt động một mình, hoặc nếu tham gia các hoạt động với trẻ khác thì chỉ xem chúng là sự trợ giúp máy móc hoặc như công cụ chơi của mình

Từ những đặc điểm đã nêu trên, có thể thấy TTK gặp khó khăn trong việc tương tác xã hội, vì vậy, trẻ khó tương tác với giáo viên, với bạn khi chơi

* Về ngôn ngữ - giao tiếp

Thường là ở mức độ nặng, khoảng một nửa TTK là ở dạng câm, tức là chưa bao giờ học nói, phần còn lại là trẻ có âm ngữ không giao tiếp (noncommunicative speech) ví dụ như: nhại lời tức là trẻ lập lại một cách chính xác những từ hay câu nói của người khác mà không có cố gắng để hiểu được ý nghĩa của câu nói, nói chuyện theo một kiểu riêng biệt như nói một câu không phù hợp với tình huống Ngôn ngữ của TTK cũng thường theo nghĩa đen Dùng đại từ nhân xưng ngược: “Bạn” thay vì “ tôi”, chẳng hạn khi trẻ muốn ra ngoài trẻ sẽ nói: Bạn muốn ra ngoài! Sử dụng tên thay vì dùng đại

từ tôi hay em hay con

TTK khó khăn trong việc hiểu và sử dụng ngôn ngữ và các công cụ phi ngôn ngữ, đặc biệt trong các tình huống giao tiếp.ví dụ, không hiểu ý nghĩa của cử chỉ, điệu bộ, điều kiện nét mặt, ngữ điệu giọng nói, và lời nói của người khác Cũng gặp khó khăn trong việc bắt đầu hoạc duy trì cuộc hội

thoại Dùng từ không có nghĩa hay sử dụng ngôn ngữ lặp đi lặp lại (Giáo trình

GDHN, Bùi Thị Lâm – Hoàng Thị Nho)

Trẻ bị suy giảm nhiều trong tương tác qua lại với mọi người, hầu hết TTK biểu hiện sự cô lập, thích chơi một mình, tránh giao tiếp với các bạn Số đông phụ huynh có con tự kỷ cho rằng trong năm đầu tiên trẻ rất ngoan, yên tĩnh, thích chơi một mình, không thích giao tiếp mắt, không có dấu hiệu dang tay khi

ai muốn bế bồng, không biết chỉ ngón chỏ và nhìn theo hướng chỉ tay của

Trang 25

người khác, không sợ người lạ và cũng không thân thiện với người chăm sóc, không biết cười ở tháng thứ 3, không biết khóc hay biểu hiện sợ hãi ở tháng thứ

8, không phản ứng khi được gọi tên, tránh né giao tiếp bằng mắt nhưng lại có thể nhìn chăm chú vào một điểm mà trẻ thích, khả năng gắn bó với người thân rất kém nhưng không bám theo cha mẹ giống như trẻ bình thường.

TTK không thích sự thay đổi TTK muốn tất cả mọi điều phải quen thuộc, gần gũi, trẻ rất ghét sự thay đổi, sáo trộn: từ những đồ dùng cá nhân, đồ dùng học tập cho đến nơi chốn sinh hoạt hằng ngày Một số trẻ rất thất vọng khi thói quen của trẻ bị ai thay đổi Đối với TTK, sự không quen thuộc đồng nghĩa với sự thiếu an toàn, trẻ sẽ cảm thấy bất an khi có một người lạ, đồ vật

lạ hay đến một nơi xa lạ

Những gắn bó bất thường TTK ở một giai đoạn nào đó có những gắn bó với đồ vật theo cách không bình thường như: Trẻ mất quá nhiều thời gian vào sưu tầm các tờ báo, vỏ chai, đồ hộp, tờ lịch, sợi dây, cọng cỏ, bao nilon; trẻ thích những đồ vật sinh hoạt trong nhà như: chai, bát, xoong, chảo, dĩa nhưng hoàn toàn không thích đồ chơi bình thường Với những loại đồ vật này, trẻ

Trang 26

tìm trong đó có một ý nghĩa thích thú nào đó mà người lớn không biết.Tuy nhiên, trẻ có thể chơi với những vật này trong nhiều ngày, nhiều tháng mà không chán Trẻ thường chỉ thích một vài hoạt động cụ thể như xoay tròn một vật hay sắp xếp đồ vật thành một hàng nhất định Như vậy trẻ mắc tự kỷ bị hạn chế về sở thích Sự hạn chế này của TTK sẽ ảnh hưởng tới sự tỉ mỉ, khám phá, tìm hiểu thế giới xung quanh của trẻ

Không biết cách chơi phù hợp với đồ chơi, mà chỉ thích một phần của đồ chơi, chẳng hạn chỉ tập trung quay bánh xe của một ô tô đồ chơi Khả năng phối hợp vận động của trẻ rất kém, khi được giao nhiệm vụ trẻ chỉ thực hiện được một thao tác đơn lẻ, cầm nắm đồ vật cũng rất nặng nề, vụng về khi thực hiện thao tác chơi đơn giản Đối với những trẻ bình thường đó là những hoạt động rất đơn giản Còn với TTK, để thực hiện được một nhiệm vụ đơn giản như cầm nắm đồ vật thì cũng cần được hướng dẫn giúp đỡ trong khỏang thời gian dài và đòi hỏi sự kiên trì của trẻ, giáo viên và phụ huynh Hơn nữa, để trẻ có thể phát triển được kĩ năng chơi thì trước hết trẻ phải thực hiện được việc cầm nắm đồ vật, biết đồ vật đó là cái gì, trẻ cảm nhận được đặc điểm về màu sắc, hình dạng, kích thước,… sau đó mới thực hiện được các thao tác phù hợp với đồ chơi

Từ những đặc điểm trên, người nghiên cứu nhận thấy rằng nhìn chung TTK khiếm khuyết về kĩ năng vận động tinh và kĩ năng vận động thô, khả năng cảm nhận là những yếu tố đầu tiên làm chậm phát triển kĩ năng chơi và ảnh hưởng xấu đến những kĩ năng khác của trẻ chẳng hạn như kĩ năng bắt chước, kĩ năng vận động, kĩ năng tập trung, chú ý,…

1.2 Phát triển kĩ năng chơi cho trẻ tự kỷ

1.2.1 ác hái niệm

Kĩ năng

Cho đến nay trên thế giới và ở nước ta có nhiều quan niệm về kĩ năng Khi nhìn nhận về kĩ năng, các nhà tâm lý học xem xét kĩ năng theo 2 khuynh hướng chính

Trang 27

Khuynh hướng thứ nhất, xem xét kĩ năng nghiêng về mặt kĩ thuật của hành động, theo các tác giả chỉ cần nắm vững cách thức của hành động là có

kĩ năng Đại diện cho nhóm này là V.X.Cudin, A.G.Covaliop, Trần Trọng Thuỷ…

Khuynh hướng thứ hai xem xét kĩ năng nghiêng về năng lực của con người trong quá trình giao tiếp Đại diện cho nhóm này là N.D Levitop, K.K.Platonop, G.G.Coluvep,…

Các nhà giáo dục Việt Nam quan niệm kĩ năng như là: “khả năng vận dụng kiến thức của con người để thực hiện có kết quả hành động tương ứng với mục đích và điều kiện trong đó hành động xảy ra Theo Lê Văn Hồng, kĩ

năng là “khả năng vận dụng kiến thứ giải quyết một nhiệm vụ mới” Còn tác giả Nguyễn Văn Đồng cho rằng: “ ĩ năng là năng lực vận dụng những tri

thứ ã ượ lĩnh hội thực hiện ó hiệu quả một hoạt ộng tương ứng trong những iều kiện cụ th ”

Qua việc tìm hiểu các nội dung, định nghĩa về kĩ năng người nghiên cứu

hiểu rằng: ĩ năng là hả năng on người thực hiện thuần thục một hoạt

ộng nào ó tr n inh nghiệm c a bản thân thông qu quá trình rèn lu ện,

luyện tập nhằm tạo ra kết quả mong ợi

Hoạt động chơi

Chơi là một phần thiết yếu trong sự phát triển của mọi trẻ.Thông qua chơi, trẻ phát triển các kĩ năng cần thiết và quan trọng trong mọi lĩnh vực phát triển

Chơi giúp phát triển giao tiếp, tư duy, tương tác xã hội, phát triển sự tự trọng và cá tính, sức khỏe, khả năng sáng tạo và thể chất

Kĩ năng chơi

Chơi là quá trình trải nghiệm và giúp trẻ học nhiều kĩ năng Nhờ vui chơi, trẻ phát triển được kĩ năng vận động thô, vận động tinh, phát triển tốt

Trang 28

các giác quan và nhận thức, ngôn ngữ Thông qua vui chơi, trẻ có nhiều bạn

bè, phát triển được kĩ năng xã hội Kĩ năng chơi của trẻ phát triển qua 3 giai đoạn: chơi khám phá, chơi tưởng tượng đóng vai và chơi theo nhóm

Mỗi hoạt động chơi gồm các hình thức chơi khác nhau, có mục đích, luật chơi, cách chơi khác nhau, sử dụng các đồ chơi, đồ dùng khác nhau và đòi hỏi người chơi có những kĩ năng khác nhau để chơi như:

- Kĩ năng nghe – hiểu luật chơi

- Kĩ năng vận động (nhất là các trò chơi vận động, trò chơi với đồ vật)

- Kĩ năng bắt chước

- Kĩ năng phối hợp mắt – bàn tay

Vì TTK gặp nhiều khó khăn trong giao tiếp ngôn ngữ, tương tác xã hội, hành vi rập khuôn, rối loạn các quá trình cảm giác nên TTK gặp rất nhiều khó khăn trong hoạt động chơi

Dạy trẻ kĩ năng chơi được hiểu là dạy trẻ cách chơi và chơi được theo đúng cách, đúng luật chơi (chơi đúng yêu cầu của trò chơi, chơi đúng chức năng của đồ chơi, nhằm giúp trẻ chơi được khi chơi một mình hay chơi trong nhóm

1.2.2 Ý nghĩa của hoạt động chơi đối với trẻ tự kỷ

Chơi rất quan trọng đối với trẻ em nói chung và TTK nói riêng vì nó đặt nền móng cho việc học của trẻ trong tương lai ở mọi lĩnh vực Trong khi chơi trẻ có thể thực hành những kĩ năng cũ và phát triển những kĩ năng mới

Bên cạnh đó, chơi còn giúp trẻ tạo dựng sự hiểu biết về con người và mọi thứ xung quanh trẻ Hoạt động chơi là nền tảng của sự giao tiếp Chơi cho phép trẻ thử nghiệm học mà không có nguy cơ bị thất bại

Chơi được dùng như là cách để phát triển kĩ năng về nhiều mặt ở một đứa trẻ như kĩ năng vận động, kĩ năng giao tiếp ngôn ngữ, kĩ năng tương tác Chơi giúp TTK tăng cường giao tiếp và bày tỏ cảm xúc của mình

Trang 29

Chơi giúp TTK có thể hòa nhập với các bạn cùng tuổi, ít tuổi và lớn tuổi hơn.Tạo cho trẻ TK sự tương tác vui vẻ, khiến trẻ cảm thấy hứng thú

Chơi còn giúp tăng tính kích thích trong TTK và nó cũng như là các thử thách để trẻ nỗ lực vượt qua

Đồng thời, trong khi chơi người lớn cũng có thể hiểu thêm được đặc điểm và nhu cầu của TTK khi chơi, cách tiếp cận và ứng xử khi chơi của trẻ

TK như thế nào

Chơi quan trọng vì nó khích thích và tạo sự hứng thú khi tham gia, là phương tiện giúp trẻ không chỉ hòa nhập được với mọi người trong gia đình, trong lớp học và môi trường xã hội bên ngoài Dạy trẻ chơi còn giúp trẻ bớt đi sự thu mình, tính ích kỉ và hành vi định hình lặp lại, cải thiện được mặt nào đó trong giao tiếp để được bạn bè chấp nhận hơn Thông qua chơi, cũng giúp TTK tự tin hơn, dần đối diện với các vấn đề của cuộc sống, được người khác chấp nhận hơn, chứ không phải lúc nào cũng né tránh - khó được chấp nhận hơn

TTK dễ bị các bạn tẩy chay vì trẻ không biết cách chơi và khiếm khuyết nhiều kĩ năng đặc biệt là kĩ năng giao tiếp, hệ quả là TTK bị cô lập Dạy cho trẻ cách chơi sẽ cải thiện được sự cô lập, khiến trẻ dễ được các bạn chấp nhận hơn, vì khi trẻ biết chơi trẻ có thể nhập cuộc chơi với các bạn dễ dàng.Viêc phát triển kĩ năng chơi cho TTK có ý nghĩa rất lớn trong việc giúp trẻ phát triển các kĩ năng khác đặc biệt là kĩ năng giao tiếp

1.2.3 ách thức chơi và tiếp cận trẻ tự kỷ

ách thức tiếp cận trẻ tự kỷ trong hoạt động chơi

Không phải TTK nào chúng ta cũng có thể tiếp xúc và chơi một cách dễ dàng Do đó chúng ta cũng cần một số lưu ý để có thể tiếp cận được trẻ

Tham gia vào các trò chơi mà trẻ đang chơi và cố gắng thể hiện trò chơi

ấy thật thú vị Sau đó trò chuyện với trẻ về trò chơi đang được thực hiện, có thể làm bắt chước theo trẻ, hát cùng một bài hát để hưởng ứng theo

Trang 30

Hãy quên đi cách thức chơi với trò chơi đó, chơi theo cách thức chơi của trẻ, không mang tính chất dạy dỗ hay bắt trẻ thực hiện theo ngay từ đầu mà hãy để trẻ cảm thấy an toàn và chấp nhận người cùng chơi một cách tích cực

Có thể đưa ra một vài gợi ý mới cho trò chơi, để cho trẻ chú ý, khi trẻ thấy thú

vị thì có thể bắt chước theo, khi đó nên khuyến khích trẻ và thể hiện sự hào hứng, bất ngờ với sự thay đổi đó Có thể làm từ từ, từng bước một, không nên quá vội vàng và luôn giữ vai trò của trẻ - là người chủ động trong trò chơi Không nên thay đổi và cố gắng thay đổi ngay lập tức, như vậy trẻ sẽ có phản ứng ngược trở lại hoặc từ chối sự tham gia của người chơi

Khi trẻ đã quen dần với sự tham gia của người cùng chơi, phải luôn đảm bảo hòa nhất vai trò của cả hai người trong trò chơi, để trẻ thấy luôn được tôn trọng trong khi tham gia chơi Sau đó dần hướng trẻ vào những trò chơi có mục đích và có cách thức chơi tích cực hơn

ách thức dạy trẻ chơi

Ngồi ngang mức với tầm mắt của trẻ để trẻ chú ý đến bạn và chú tâm dễ hơn đến chuyện đang làm Dùng ngôn ngữ thật giản dị và hướng tới vật trẻ

đang nhìn vào, ví dụ “bánh xe” hay “quay vòng vòng”

Người dạy trẻ chơi nên bắt chước hành động của trẻ, chẳng hạn quay bánh xe như trẻ đang làm, có thể ngồi cạnh đồ chơi khác mà cũng quay tít như vậy (con quay, thổi bong bóng)

Tỏ ra hào hứng khi chơi với trẻ, để thúc đẩy tương tác với bạn, dùng phần thưởng, chơi trò mà trẻ say mê, thích thú

Một trong những cách nên làm khi chơi với trẻ là chúng ta có thể bắt chước theo hành động, âm thanh hay bất cứ một điều gì đó mà trẻ tạo ra Việc bắt chước ấy có tác dụng khiến trẻ chú ý đến chúng ta hơn, chú ý vào hành động của chúng ta đang làm vì nó giống với những gì trẻ thực hiện Bắt chước theo cách chơi của trẻ giúp trẻ học được cách chấp nhận người khác cùng chơi bên cạnh, đây được xem như là một sự khởi đầu cho sự hợp tác về sau

Trang 31

Sau đó, chúng ta có thể dần thay đổi hoạt động của mình từng chút một với mục đích trẻ có thể bắt chước lại theo người cùng chơi Dần dần, vai trò của người cùng chơi sẽ thay đổi theo chiều ngược lại, hướng tới việc dẫn dắt

và hướng trẻ vào những hoạt động khác có mục đích hơn, là bước khởi đầu cho quá trình tiếp theo

Ngoài r , òn một vài i m áng lưu ý ũng ần thiết trong hi hướng dẫn trẻ hơi:

Trước khi chơi phải làm mẫu cho trẻ hiểu, cho trẻ chơi luân phiên lần lượt, chơi tương tác lẫn nhau (nhìn vào nhau để thể hiện cảm xúc) Bên cạnh

đó, GV cần phải thường xuyên gọi tên trẻ và tên đồ vật, luôn giữ cho trò chơi vui vẻ và liên tục Mỗi trò chơi không nên kéo dài để tránh nhàm chán

Chơi cùng một trò ở những nơi khác nhau trong nhà, tránh tiếng ồn xung quanh, lựa giờ thích hợp như khi trẻ không mệt hay đói

Giữ thái độ tích cực và thay đổi trò chơi và đồ chơi

1.3 Phát triển kĩ năng chơi cho trẻ tự kỷ trong lớp học hòa nhập ở trường mầm non

1.3.1 Phương thức giáo dục hòa nhập ở mầm non

Theo Giáo trình giáo dụ hò nhập của Bùi Thị Lâm – Hoàng Thị Nho:

“Giáo dụ hò nhập là phương thứ giáo dụ , trong ó, trẻ em khuyết tật học ùng với trẻ em bình thường trong trường phổ thông ng tại nơi á em sinh sống” Những đặc trưng cơ bản của GDHN là:

Giáo dục cho mọi đối tượng trẻ, đây là tư tưởng chủ đạo, yếu tố đầu tiên

để thể hiện bản chất của giáo dục hòa nhập.Trong giáo dục hòa nhập không có

sự tách biệt giữa các trẻ với nhau Mọi trẻ đều được tôn trọng và đều có giá trị như nhau.Trẻ được học ở nơi trẻ sinh sống Mọi trẻ đề cùng được hưởng một chương trình giáo dục phổ thông.Điều này vừa thể hiện sự bình đẳng trong giáo dục vừa thể hiện sự tôn trọng

Trang 32

Điều chỉnh chương trình, đổi mới phương pháp dạy học và thay đổi quan điểm, cách đánh giá là vấn đề cốt lõi để giáo dục hòa nhập đạt hiệu quả cao nhất Điều chỉnh chương trình là việc tất yếu của giáo dục hòa nhập, có điều chỉnh chương trình thì mới đáp ứng được nhu cầu và khả năng của mọi trẻ Giáo dục hòa nhập không đánh đồng mọi trẻ như nhau Mỗi trẻ là một cá nhân, một nhân cách có năng lực khác nhau, cách học khác nhau, tốc độ học không như nhau.Vì thế, điều chỉnh chương trình cho phù hợp là cần thiết Dạy học một cách sáng tạo, tích cực và hợp tác Đó là mục tiêu của dạy học hòa nhập Dạy học hòa nhập sẽ tạo ra được cho trẻ những kiến thức chung, tổng thể, cân đối Muốn thế, phương pháp dạy học phải có hiệu quả và đáp ứng được các nhu cầu khác nhau của trẻ Muốn dạy học hiệu quả, kế hoạch dạy học phải cụ thể, chú trọng phương pháp học hợp tác Phải biết lựa chọn phương pháp và sử dụng đúng lúc: phương pháp đồng loạt, phương pháp đa trình độ, phương pháp trùng lặp giáo án, phương pháp thay thế cá biệt

Như vậy, mô hình giáo dục hòa nhập là một mô hình giáo dục với nhiều

ưu điểm nổi bật, giúp cho trẻ khuyết tật có cơ hội được phát triển toàn diện hơn những mô hình giáo dục khác

Mặc dù có nhiều ưu điểm tuy nhiên mô hình giáo dục hòa nhập vẫn tồn tại những hạn chế nhất định, đó là làm giảm cơ hội tiếp cận cá nhân của TTK điều đó khiến cho không chỉ khả năng của cá nhân mỗi TTK không được phát huy mà còn ảnh hưởng đến cơ hội hòa nhập của các em

1.3.2 Mục đích của việc dạy trẻ tự kỷ chơi trong lớp học hòa nhập

Các tài liệu đều nhận định rằng vui chơi là một nhu cầu thiết yếu của mọi trẻ em Qua vui chơi trẻ được học hỏi, trải nghiệm, phát triển ngôn ngữ, phát triển cảm xúc và thiết lập các mối quan hệ xã hội Thông qua đồ chơi, trò chơi trẻ có thể phát triển về nhận thức và trí tuệ Vui chơi giúp trẻ được rèn luyện

về thể chất, hứng khởi về tinh thần Vui chơi là chuẩn bị cho trẻ các kĩ năng tiền học đường

Trang 33

Đối với TTK, vui chơi còn giúp trẻ tập trung hơn, giải tỏa các kĩ năng làm cho trẻ thoải mái, vui vẻ, hòa nhã hơn Trên cơ sở đó người nghiên cứu xác định mục đích hướng tới khi dạy TTK chơi là:

Giúp cho TTK học được các kĩ năng cần thiết để bắt chuyện, có tương tác với trẻ khác và ngược lại kĩ năng cần để đáp ứng với lời bắt chuyện của người khác, đẩy trẻ chủ động ra chơi với các bạn

Sau khi hướng dẫn trẻ chơi trẻ cảm thấy vui thú với việc chơi khiến trẻ

có động cơ thúc đẩy trẻ muốn chơi, trẻ cũng sẽ học được cách chia sẻ và luân phiên với các trẻ khác khi chơi

Dạy TTK chơi để trẻ biết chơi đúng cách, đúng chức năng của những loại đồ chơi Tạo cơ hội cho trẻ học bắt chước hành động, âm thanh và sau cùng là chữ cái – chữ viết Đồng thời dạy trẻ chơi cũng tạo cơ hội thích nghi cho TTK khi phải chuyển từ sinh hoạt này sang sinh hoạt khác

Người hướng dẫn trẻ chơi cần hiểu rằng thay vì dùng việc chơi để dạy

trẻ kĩ năng, thì từ ban đầu phải dạy trẻ á h hơi Khi đã học cách chơi với

một loạt đồ chơi và sinh hoạt khác nhau, lúc ấy chơi được dùng như một phương tiện để khuyến khích và dạy trẻ cách liên lạc tỏ ý và tương tác hữu hiệu hơn

1.3.3 c điểm của trẻ tự kỷ trong hoạt động chơi

Giao tiếp và tương tác là những kĩ năng cần thiết trong hoạt động chơi, tuy nhiên đây lại là những khiếm khuyết cốt lõi ở TTK Khó khăn mà trẻ gặp phải khi giao tiếp có liên hệ chặt chẽ với việc bày tỏ, do đó điều quan trọng ở đây là tập trung vào việc dạy cho trẻ biết cách bày tỏ và giao tiếp trong quá trình chơi và mức độ cao hơn nữa là giao tiếp và tương tác với người khác trong các hoàn cảnh sống

TTK không chơi giỏi vì thường thu mình và không quan tâm tới người khác, TTK không học bằng cách quan sát người khác để thực hiện mà cần phải

Trang 34

dạy Có khi trẻ thường hay bộc lộ cảm xúc của mình bằng cách gào to, cười, khóc lóc, ăn vạ… Nên có ít cơ hội chơi với những trẻ khác do những trẻ khác nhìn vào thấy sợ và không giám đến gần Một số trẻ sở thích hạn hẹp, có hành

vi định hình lặp làm cản trở việc trẻ tiếp cận các trò chơi khác nhau Ví dụ, trong một số trường hợp, khi người lớn muốn chuyển sang trò khác hay thay đổi trò đang chơi thì TTK không chịu và nhất nhất chỉ muốn chơi một trò chơi TTK cũng gặp khó khăn trong việc chia sẻ sự chú ý của mình với người xung quanh ngay cả người chơi ngồi đối diện, trẻ không chỉ tay vào vật khi muốn, không chủ động nói (với trẻ có ngôn ngữ) cũng như không có ý thức trong việc để ý đến người khác có đang chơi với mình hay không, không nhận

ra được dấu hiệu khi tương tác cả về ngôn ngữ cơ thể và biểu cảm của khuôn mặt từ phía người khác

Nhiều TTK tỏ dấu hiệu không muốn chơi với các trẻ khác, mà thích chơi một mình cùng với những trò chơi mà trẻ thích Cũng có trẻ muốn chơi với bạn mà không biết mở lời, trẻ gặp khó khăn trong việc bày tỏ ý muốn của mình Do vậy, TTK thường không có bạn chơi hoặc có nhưng cũng chỉ trong thời gian ngắn, hoặc bạn chơi sẽ bỏ đi Ngoài ra, trò chơi không phù hợp hoặc quá khó cũng khiến trẻ nhanh chán bỏ chơi, không hứng thú, có thể dẫn đến mức bực bội, khó chịu, đập phá đồ chơi…

Thường với những trò chơi biểu tượng, thì chúng ta thường thấy khả năng tưởng tượng của trẻ kém hoặc không tưởng tượng được Trẻ có thể chơi

đi chơi lại một cảnh trong băng video, tuy việc chơi có vẻ như có óc sáng tạo

và tưởng tượng nhưng thực chất nó không phải vậy Đặc tính chơi đi chơi lại

là điểm khác biệt của TTK, trẻ có thể lặp lại một trò chơi với cách thức chơi tương tự như hôm trước, không thay đổi từ ngày nay sang ngày khác Nếu có hướng dẫn TTK có thể chơi với trẻ khác cùng trò ấy, rồi cuối cùng tự mình kiếm bạn để chơi cũng chỉ trò này, tuy nhiên trẻ cần người lớn hướng dẫn từng bước một trong các cuộc chơi

Trang 35

Khi quan sát TTK, chúng ta còn thấy những trẻ nà òn bị th m hiếm

khuyết về việ hơi hông úng á h, hơi hông úng hứ năng a vật

Như đã phân tích ở trên về các đặc điểm của hoạt động chơi cũng như đặc điểm của TTK trong các hoạt động chơi có thể thấy rằng khi chơi nói chung TTK thường gặp khó khăn trong một số kĩ năng như: Kĩ năng vận động tinh, kĩ năng vận động thô, giao tiếp ngôn ngữ, bắt chước, lần lượt và luân phiên, tương tác…

Mặt khác, khi đến trường trẻ phải tham gia những trò chơi khác nhau mà mỗi trò chơi lại có những đặc điểm riêng để chơi cho phù hợp

Vì vậy, việc phát triển kĩ năng chơi cho TTK là việc rất quan trọng

1.3.4 Phân loại hoạt động chơi của trẻ tự kỷ ở lớp học hòa nhập

Trò chơi của trẻ mẫu giáo rất đa dạng và phong phú.Việc phân loại trò

chơi của trẻ ở trường mầm non vẫn còn nhiều tranh luận Theo cuốn giáo dụ

họ mầm non thì trò chơi ở trường mầm non được phân loại như sau:

Nhóm 1: Nhóm trò chơi sáng tạo, bao gồm:

Cũng phân loại trò chơi ở trường mầm, theo cuốn giáo trình phương

pháp tổ hứ ho trẻ làm quen với môi trường xung qu nh thì trò chơi của trẻ

Trang 36

- Trò chơi sáng tạo

- Trò chơi dùng ngôn ngữ

Khi học ở trường mầm non, TTK có cơ hội tham gia tất cả các hoạt động chơi với các bạn Tuy nhiên, do khiếm khuyết của dạng tật nên trẻ chưa thể tham gia tất cả những hoạt động đó mà trẻ có những hoạt động chơi riêng do

cô giáo hoặc những người trị liệu cho trẻ tổ chức để khắc phục những khó khăn mà trẻ gặp phải, ví dụ như: Trò chơi trị liệu cảm giác, trò chơi trị liệu hành vi, trò chơi rèn luyện các kĩ năng vận động (vận động tổng quát, vận động tinh, phối hợp mắt – bàn tay…), trò chơi phát triển lời nói – giao tiếp Với mỗi hoạt động chơi thì cần những kĩ năng khác nhau Khi chơi trò chơi đóng vai theo chủ đề trẻ cần có hiểu biết về các nghề để đóng vai, trẻ phải có kĩ năng bắt chước, kĩ năng nghe hiểu ngôn ngữ và tương tác xã hội…Vì vậy, trò chơi này phù hợp với trẻ 4-5 tuổi hơn

Chơi với đồ vật thì đòi hỏi trẻ phải có những kĩ năng như: Hiểu được chức năng của đồ vật, kĩ năng vận động tinh, vận động thô, bắt chước, luân phiên và lần lượt, kĩ năng phối hợp mắt – bàn tay…

Với trò chơi học tập trẻ phải nắm được những kĩ năng như khái quát, phân loại, so sánh, phân tích và tổng hợp… theo các đặc tính bên ngoài và bên trong của sự vật

Tham gia trò chơi vận động trẻ cần phải có những kĩ năng về vận động

cơ bản như chạy, nhảy, bò, trườn, ném, bắt v.v…

Trò chơi lắp ghép - xây dựng chủ yếu cần kĩ năng vận động tinh, tưởng tượng, bắt chước…

Nhìn chung, TTK thường gặp khó khăn trong việc vận dụng những kĩ năng đó khi chơi Vì vậy, cần phải xác định rõ mỗi loại trò chơi cần những kĩ năng gì để đưa ra biện pháp phát triển kĩ năng chơi phù hợp và đạt được hiệu quả cao Ví dụ: Trò chơi với đồ vật trẻ cần có những kĩ năng như kĩ năng hiểu

Trang 37

chức năng của đồ vật, nghe hiểu hướng dẫn luật chơi, kĩ năng cầm nắm, vận động… Trò chơi đóng vai, trẻ cần những kĩ năng như năng tưởng tượng, hiểu biết về các nghề… Trò chơi lắp ghép chủ yếu cần vận động tinh…

Vậy mỗi trò chơi khác nhau lại đòi hỏi những kĩ năng khác nhau để chơi cho phù hợp, đúng cách, đúng luật với từng dạng trò chơi

Như đã nói ở trên dạy trẻ kĩ năng chơi chính là dạy trẻ cách chơi, chơi đúng chức năng của đồ vật, chơi đúng luật, và vận dụng để chơi được khi chơi

cá nhân hay chơi theo nhóm Vậy thì với mỗi loại trò chơi khác nhau lại cần phải dạy trẻ những kĩ năng chơi khác nhau

Xét trong phạm vi nghiên cứu của đề tài, người nghiên cứu chọn dạy TTK chơi với đồ vật để phát triển kĩ năng chơi cho TTK lứa tuổi này

1.3.5 Nội dung phát triển ĩ năng chơi cho trẻ tự kỷ

Như đã nói ở trên tôi lựa chọn dạy TTK chơi với đồ vật Theo đó tôi sẽ dạy trẻ một số kĩ năng để trẻ có thể chơi được tốt trò chơi này

Chơi với đồ vật (hay còn gọi là chơi điều khiển) là khả năng phối kết hợp tay và mắt theo cách điều khiển và có kĩ năng (phối hợp tay - mắt), trẻ biết cách sử dụng đồ chơi theo đúng chức năng của nó

Những hành động chơi này là những bước khởi đầu cho những hành động chơi phức tạp hơn, giúp trẻ điều khiển được trò chơi và đồ vật, để trẻ có thể chơi độc lập như một người lớn, giúp trẻ nắm được kích thước, trọng lượng và hình dáng của đồ vật

Khi chơi với đồ vật trẻ cần rất nhiều kĩ năng khác nhau như: Kĩ năng vận động (vận động tổng quát, vận động tinh, phối hợp mắt – bàn tay), kĩ năng bắt chước, kĩ năng luân phiên và lần lượt… Những kĩ năng này sẽ phối hợp với nhau để trẻ hoàn thành nhiệm vụ chơi

Những đồ vật mà TTK thường chơi ở trường mầm non rất đa dạng và

phong phú

Trang 38

ồ hơi vận ộng tinh: Để phát triển kĩ năng vận động phối hợp tay -

mắt, sự kiên trì, điều hòa rối loạn cảm giác Ví dụ như: Bảng từ, giấy, bút sáp, chì màu, đất nặn, kéo cắt giấy màu, xâu con giống, hạt, lô gô, lắp ghép, nhặt vật nhỏ, gấp, xé, bóc, kẹp…

ồ hơi hấp dẫn về thị giá : Điểm mạnh của TTK là học bằng thị giác,

vì vậy, những đồ chơi, đồ vật hấp dẫn về thị giác có kết hợp với chuyển động

và âm thanh kết hợp vận động của tay đóng vai trò rất quan trọng trong phát triển chú ý chung của TTK Một số ví dụ về đồ chơi: Lô tô, đồ chơi chồng lắp, ô tô dây cót có âm thanh và ánh sáng, đóng mở cửa, chong chóng, thả hình vào cột hoặc hộp, đàn gõ, các đèn phát sáng màu khác nhau, ghép hình, tranh ảnh (ảnh chụp, lô tô, sách tranh, truyện, tranh chủ đề)

ồ hơi phát tri n khả năng tưởng tượng Ví dụ một số đồ chơi: Búp

bê, thú bông, bộ cốc chén, nấu ăn, bộ cắt hoa quả, bàn chải, lược, bát thìa, giấy ăn, nhà, ô tô…

Do khiếm khuyết về nhiều mặt nên nhìn chung khi chơi trò chơi với đồ vật, TTK khiếm khuyết ở những kĩ năng: vận động tinh, phối hợp tay - mắt, bắt chước, hiểu chức năng của đồ vật, nghe hiểu lời hướng dẫn…

Vì thời gian nghiên cứu có hạn và phạm vi nghiên cứu của đề tài người nghiên cứu lựa chọn dạy TTK bốn kĩ năng sau:

- Kĩ năng bắt hước

- Kĩ năng nghe hi u lời hướng dẫn (hi u luật hơi, á h hơi)

- Kĩ năng vận ộng tinh

- Kĩ năng phối hợp tay - mắt

1.4 Cơ ở thực tiễn của việc phát triển kĩ năng chơi cho trẻ tự kỷ trong lớp học hòa nhập ở trường mầm non

1.4.1 Mục đích hảo sát thực trạng

Tìm hiểu thực trạng việc phát triển kĩ năng chơi cho TTK ở trường mầm non, lấy đó làm căn cứ cho những đề xuất của đề tài

Trang 39

1.4.2 ối tượng và phạm vi điều tra

Người nghiên cứu tiến hành thu thập thông tin qua điều tra GV và TTK

ở Trường Mầm non Hoa hồng, Tx Phúc Yên, Tỉnh Vĩnh Phúc

1.4.3 Nội dung khảo sát thực trạng

Điều tra thông tin liên quan đến việc phát triển kĩ năng chơi cho TTK trong trường mầm non có lớp học hòa nhập gồm:

Nhận thức của giáo viên về việc phát triển kĩ năng chơi cho trẻ TK trong lớp học hòa nhập mầm non

Đặc điểm của TTK trong khi chơi ở lớp học hòa nhập mầm non

Việc sử dụng các biện pháp phát triển kĩ năng chơi cho trẻ TK trong lớp học hòa nhập mầm non

1.4.4 Phương pháp hảo sát thực trạng

Nghi n cứu tài liệu

Người nghiên cứu tiến hành nghiên cứu các tài liệu gồm có các công văn, chỉ thị, thông tư: Nghị định 28/2012 quy định chi tiết một số điều của Luật người khuyết tật; Thông tư liên tịch 42/2014 Quy định chính sách về giáo dục đối với người khuyết tật; Quyết định số 23/2006/QĐ-BGD&ĐT ban hành Quy định về giáo dục hòa nhập dành cho người tàn tật, khuyết tật của BGD&ĐT và một số sách giáo khoa, báo cáo khoa học như liên quan đến TTK

Quan sát, dự giờ

Người nghiên cứu tiến hành quan sát, theo dõi, ghi chép: đặc điểm chơi của TTK, các biện pháp được sử dụng để phát triển kĩ năng chơi cho TTK trong lớp học hòa nhập mầm non thông qua các hoạt động

Phỏng vấn:

Phỏng vấn GV ngoài giờ lên lớp: người nghiên cứu trao đổi trực tiếp với một số GV để thu thập các thông tin có liên quan đến việc sử dụng các biện pháp để phát triển kĩ năng chơi cho TTK trong lớp học hòa nhập mầm non

Ngày đăng: 12/09/2017, 10:02

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
[1] Đào Thanh Âm (chủ biên), Giáo dục mầm non (tập 1,2,3), Nxb Đại học quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo dục mầm non (tập 1,2,3)
Nhà XB: Nxb Đại học quốc gia Hà Nội
[3] Vũ Thị Bích Hạnh (2007), Trẻ tự kỉ - Phát hiện sớm, can thiệp sớm, Nxb Y học, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Trẻ tự kỉ - Phát hiện sớm, can thiệp sớm
Tác giả: Vũ Thị Bích Hạnh
Nhà XB: Nxb Y học
Năm: 2007
[4] Bùi Thị Lâm, Hoàng Thị Nho, giáo trình giáo dụ hò nhập, Nxb Giáo dục Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: giáo trình giáo dụ hò nhập
Nhà XB: Nxb Giáo dục Việt Nam
[6] Trung tâm nghiên cứu giáo dục và chăm sóc trẻ em, Những iều cần biết về hội chứng tự kỉ. Nxb Đại học Sƣ Phạm Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những iều cần biết về hội chứng tự kỉ
Nhà XB: Nxb Đại học Sƣ Phạm
[7] Nguyễn Ánh Tuyết (chủ biên), Nguyễn Thị Nhƣ Mai, Đinh Thị Kim Thoa (2008), Tâm lý học trẻ em lứa tuổi mầm non, Nxb Đại học Sƣ phạm Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tâm lý học trẻ em lứa tuổi mầm non
Tác giả: Nguyễn Ánh Tuyết (chủ biên), Nguyễn Thị Nhƣ Mai, Đinh Thị Kim Thoa
Nhà XB: Nxb Đại học Sƣ phạm
Năm: 2008
[8] Nguyễn Thị Xuyên, Phục hồi chứ năng trẻ tự kỷ (Tài liệu số 15) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phục hồi chứ năng trẻ tự kỷ
[9] Nguyễn Thị Hoàng Yến (chủ biên), Đỗ Thị Thảo, ại ương giáo dục trẻ khuyết tật trí tuệ, Nxb Đại học Sƣ Phạm Sách, tạp chí
Tiêu đề: ại ương giáo dục trẻ khuyết tật trí tuệ
Nhà XB: Nxb Đại học Sƣ Phạm
[2] Bộ giáo dục và đào tạo, Số 23/2006/QB-BGDĐT (2006), Quy định về giáo dục hòa nhập dành cho người tàn tật, khuyết tật, Hà Nội Khác
[5] Nguyễn Ngọc Khước – Trần Thị Khấn và B.s Phạm Ngọc Khanh. Những hoạt ộng dạy trẻ tư ỷ Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng phân loại bệnh quốc tế của Tổ chức Y tế Thế giới. - Phát triển kĩ năng chơi cho trẻ tự kỷ 3 - 4 tuổi trong lớp học hòa nhập ở trường mầm non
Bảng ph ân loại bệnh quốc tế của Tổ chức Y tế Thế giới (Trang 7)
Bảng 1.4.5: Nhận thức của giáo viên về tự kỷ - Phát triển kĩ năng chơi cho trẻ tự kỷ 3 - 4 tuổi trong lớp học hòa nhập ở trường mầm non
Bảng 1.4.5 Nhận thức của giáo viên về tự kỷ (Trang 41)
Bảng 1.4.7: Đánh giá của GV về đặc điểm của TTK khi chơi trong lớp - Phát triển kĩ năng chơi cho trẻ tự kỷ 3 - 4 tuổi trong lớp học hòa nhập ở trường mầm non
Bảng 1.4.7 Đánh giá của GV về đặc điểm của TTK khi chơi trong lớp (Trang 43)
Bảng 1.4.8 : Nhận thức của giáo viên về vai trò của việc phát triển - Phát triển kĩ năng chơi cho trẻ tự kỷ 3 - 4 tuổi trong lớp học hòa nhập ở trường mầm non
Bảng 1.4.8 Nhận thức của giáo viên về vai trò của việc phát triển (Trang 44)
Hình dáng cấu trúc cơ thể - Phát triển kĩ năng chơi cho trẻ tự kỷ 3 - 4 tuổi trong lớp học hòa nhập ở trường mầm non
Hình d áng cấu trúc cơ thể (Trang 69)

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w