Nghiên cứu đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng và kết quả điều trị phẫu thuật xoắn tinh hoàn cấp tính ở trẻ em tại Bệnh viện Nhi Trung ƣơngNghiên cứu đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng và kết quả điều trị phẫu thuật xoắn tinh hoàn cấp tính ở trẻ em tại Bệnh viện Nhi Trung ƣơngNghiên cứu đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng và kết quả điều trị phẫu thuật xoắn tinh hoàn cấp tính ở trẻ em tại Bệnh viện Nhi Trung ƣơngNghiên cứu đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng và kết quả điều trị phẫu thuật xoắn tinh hoàn cấp tính ở trẻ em tại Bệnh viện Nhi Trung ƣơngNghiên cứu đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng và kết quả điều trị phẫu thuật xoắn tinh hoàn cấp tính ở trẻ em tại Bệnh viện Nhi Trung ƣơngNghiên cứu đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng và kết quả điều trị phẫu thuật xoắn tinh hoàn cấp tính ở trẻ em tại Bệnh viện Nhi Trung ƣơngNghiên cứu đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng và kết quả điều trị phẫu thuật xoắn tinh hoàn cấp tính ở trẻ em tại Bệnh viện Nhi Trung ƣơngNghiên cứu đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng và kết quả điều trị phẫu thuật xoắn tinh hoàn cấp tính ở trẻ em tại Bệnh viện Nhi Trung ƣơngNghiên cứu đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng và kết quả điều trị phẫu thuật xoắn tinh hoàn cấp tính ở trẻ em tại Bệnh viện Nhi Trung ƣơng
Trang 1Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn
ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y DƯỢC
CHÂU VĂN VIỆT
NGHIÊN CỨU ĐẶC ĐIỂM LÂM SÀNG, CẬN LÂM SÀNG VÀ KẾT QUẢ ĐIỀU TRỊ PHẪU THUẬT XOẮN TINH HOÀN Ở
TRẺ EM TẠI BỆNH VIỆN NHI TRUNG ƯƠNG
LUẬN VĂN THẠC SĨ Y HỌC
THÁI NGUYÊN – 2015
Trang 2Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn
ĐẶT VẤN ĐỀ
Xoắn tinh hoàn (XTH) là hiện tượng thừng tinh bị xoắn quanh trục của
nó làm tắc nghẽn mạch máu nuôi tinh hoàn, dẫn đến phù nề xung huyết và hoại tử tinh hoàn [11] Nếu kéo dài có thể dẫn đến hoại tử TH và các mô xung quanh Bệnh được mô tả lần đầu tiên năm 1840 bởi Delasiauve [41]
Tỷ lệ XTH hàng năm khoảng 1/4000 nam giới ở độ tuổi dưới 25 [46] Bệnh thường gặp ở trẻ nhỏ, tuổi dậy thì [15]
Ngày nay, để chẩn đoán XTH chủ yếu dựa vào lâm sàng, và kết hợp một số phương pháp chẩn đoán hình ảnh như siêu âm Doppler màu tinh hoàn khi mà lâm sàng chưa rõ ràng
Xoắn tinh hoàn có thể coi là một tối cấp cứu nếu được chẩn đoán và điều trị sớm có thể bảo tồn được TH, ngược lại, nếu xử trí muộn thường phải cắt TH Khi cắt bỏ TH thì không những ảnh hưởng đến việc sinh con cái do thiếu tinh trùng, mà còn ảnh hưởng đến nhiều triệu chứng toàn thân do thiếu
testosteron
Theo Cuckow tại Anh, mỗi năm có khoảng 400 trẻ em phải cắt bỏ tinh hoàn do xoắn để muộn [46], [8] Thực tế tại Việt Nam bệnh lý này chưa được phổ cập rộng rãi nên tỷ lệ chẩn đoán sớm và khả năng bảo tồn tinh hoàn hiện nay vẫn còn thấp Trong thời gian gần đây bệnh lý XTH đã được chú ý nhiều hơn, tuy nhiên chỉ ở các trung tâm phẫu thuật lớn Việc phổ biến kinh nghiệm chẩn đoán và điều trị XTH chưa được rộng rãi, nhất là ở các tuyến y
tế xã Ngay cả ở các bệnh viện trung tâm, tỷ lệ bệnh nhân phải cắt TH do xoắn để muộn vẫn còn cao
Tại khoa ngoại Bệnh viện Nhi Đồng I trong 5 năm 1996 - 2001 có 16 trường hợp XTH được phẫu thuật, trong đó có 13 trường hợp phải cắt bỏ TH chiếm 80% [11] Hiện nay, tại Bệnh viện Nhi Trung ương số lượng BN bị XTH đến khám ở giai đoạn muộn và phải cắt bỏ TH có xu hướng gia tăng
Trang 3Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn
Trước thực trạng thiếu thông tin về chẩn đoán và điều trị dẫn đến tỷ lệ phải cắt bỏ TH cao, gây ảnh hưởng đến chất lượng cuộc sống về lâu dài của
BN Do vậy, cần phải có một nghiên cứu đầy đủ về XTH ở trẻ em để rút ra kinh nghiệm chẩn đoán, điều trị và đưa ra khuyến cáo giúp chẩn đoán sớm, hạn chế biến chứng teo tinh hoàn cũng như cắt bỏ TH do xoắn để muộn
Chính vì vậy chúng tôi thực hiện đề tài: “Nghiên cứu đặc điểm lâm sàng,
cận lâm sàng và kết quả điều trị phẫu thuật xoắn tinh hoàn cấp tính ở trẻ
em tại Bệnh viện Nhi Trung ƣơng” nhằm mục tiêu:
1 Mô tả một số đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng của xoắn tinh hoàn cấp tính
ở trẻ em được phẫu thuật tại Bệnh viện Nhi trung ương từ tháng 01/2012 đến tháng 10/2014
2 Đánh giá kết quả điều trị phẫu thuật và phân tích một số yếu tố liên quan đến kết quả phẫu thuât của bệnh xoắn tinh hoàn cấp tính ở trẻ em tại Bệnh viện Nhi trung ương
Trang 4Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn
Chương 1 TỔNG QUAN
1.1 Phôi thai học và mô học của tinh hoàn
1.1.1 Sự phát triển của tinh hoàn
Bắt đầu từ tuần thứ 7 của quá trình phát triển phôi, ở phôi có giới tính
di truyền nam, tuyến sinh dục trung tính bắt đầu biệt hóa thành tinh hoàn Nhờ tác động của một protein do tế bào mầm tiết ra dưới sự điều hòa của gen TDF – gen biệt hóa tinh hoàn nằm trên nhiễm sắc thể Y, những dây sinh dục nguyên phát tiến sâu vào trung tâm của tuyến sinh dục, dài ra và cong queo Những dây ấy, gọi là dây tinh hoàn tách rời khỏi biểu mô khoang cơ thể phủ đầy tuyến sinh dục Ngay dưới biểu mô này, trung mô tạo ra một màng liên kết gọi là màng trắng ngăn cách biểu mô phủ tuyến sinh dục với các dây tinh hoàn, sau đó biểu mô khoang cơ thể phủ tuyến sinh dục mỏng đi rồi biến mất Màng trắng bọc hầu như toàn bộ tuyến sinh dục Từ màng trắng phát sinh những vách xơ tiến vào trung mô bên dưới tuyến để giới hạn những tiểu thùy (khoảng 150 tiểu thùy) Vào khoảng tháng thứ 4 trong bào thai tinh hoàn trở thành hình thoi và sau đó trở thành hình trứng [6], [36]
1.1.2 Sự phát triển của ống sinh tinh
Trong thời kỳ bào thai, mỗi dây tinh hoàn chia ra thành 3 - 4 dây nhỏ hơn nằm trong một tiểu thùy, mỗi dây nhỏ hơn sẽ thành một ống sinh tinh Vào tháng thứ 6 ống vẫn đặc, trong ống sinh tinh một số tế bào sinh dục nguyên thủy thoái hóa, số còn lại biệt hóa tạo thành tinh nguyên bào Những tế bào biểu mô nằm trong ống sinh tinh có nguồn gốc trung mô, vây quanh các tinh nguyên bào sẽ biệt hóa thành tế bào Sertoli Đến tuổi dậy thì lòng ống sinh tinh xuất hiện, có sự biệt hóa các tế bào dòng tinh để tạo ra tinh trùng [6]
Trang 5Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn
1.1.3 Sự phát triển của tuyến kẽ
Từ trung mô xen vào giữa những ống sinh tinh là những tế bào kẽ Tế bào này phát triển mạnh từ tháng thứ 3 đến tháng thứ 5, sau đó số lượng giảm
đi về sau tái xuất hiện cùng với mạch máu nằm trong mô liên kết xen giữa các ống sinh tinh [6], [7]
1.1.4 Sự di chuyển của tinh hoàn
Cuối tháng thứ 2 của quá trình phát triển phôi, tinh hoàn ngày càng biệt hóa, tách dần khỏi trung thận Mạc treo niệu sinh dục treo tinh hoàn và trung thận vào thành sau của khoang cơ thể tách dần ra thành mạc treo sinh dục và mạc treo trung thận Sau khi phần lớn trung thận đã thoái hóa đi, đường gắn mạc treo sinh dục vào thành sau của khoang cơ thể hẹp lại và mạc treo sinh dục trở thành mạc treo tinh hoàn Đoạn dưới của nó tồn tại dưới dạng một dây liên kết gọi là dây kéo tinh hoàn, dây này nối cực dưới tinh hoàn với gờ mô bìu Thân phôi và hố chậu càng lớn lên nhưng dây kéo tinh hoàn không dài ra một cách tương ứng nên giữ tinh hoàn ở vị trí gần bìu Vào tháng thứ 5 của bào thai, tinh hoàn nằm gần bẹn, sau màng bụng, sau đó khoang màng bụng lồi xuống tạo thành một ống gọi là ống màng bụng Các ống tiến vào trung
mô vùng bìu, kéo tinh hoàn theo nó Tháng thứ 6 tinh hoàn nằm ở lỗ bẹn sâu, qua ống bẹn vào tháng thứ 7, nằm vĩnh viễn ở bìu vào cuối tháng thứ 8, sau
đó đầu ống màng bụng bị bịt kín lại và ống bẹn khép kín [6]
Trang 6Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn
Hình 1.1 Sự di chuyển của tinh hoàn trong thời kỳ phôi thai
* Nguồn: Frank H Netter – 2004 [12]
1.1.5 Mô học tinh hoàn
- Tinh hoàn được bọc bởi một lớp màng trắng, một lớp vỏ xơ dày, cấu tạo bởi mô liên kết giàu sợi keo Ở mặt sau trên vỏ liên kết dày lên tạo thành
một khối gọi là thể Highmore
Trang 7Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn
- Tinh hoàn được chia thành nhiều tiểu thùy (khoảng 250 - 300 tiểu thùy) ngăn cách bởi các vách từ thể Highmore tới vỏ trắng Mỗi tiểu thùy có
từ 1 - 4 ống sinh tinh, mỗi ống rất ngoằn nghoèo dài từ 80 - 150cm
- Ống sinh tinh có cấu trúc biểu mô tầng chứa tế bào sinh dục, gồm 2 loại tế bào: Sertoli và tế bào mầm sinh tinh Giữa các ống sinh tinh có lớp tế
bào kẽ Leydig tiết testosteron
- Ống dẫn tinh đi từ ống sinh tinh đến niệu đạo gồm có ống thẳng, lưới Haller, nón xuất (nằm trong tinh hoàn) và đoạn ống tinh, thừng tinh đi từ mào tinh quặt ngược lên trên ra trước chạy vào thừng tinh qua ống bẹn vào chậu hông để tới ống phụt tinh kết hợp với túi tinh ở sau bàng quang đổ vào niệu
đạo tiền liệt tuyến [7]
1.2 Giải phẫu tinh hoàn
1.2.1 Hình thể kích thước tinh hoàn
Tinh hoàn là một cơ quan hình trứng nằm trong bìu, mặt trắng nhẵn
Có hai tinh hoàn, tinh hoàn trái thường nằm thấp hơn tinh hoàn phải khoảng 1cm Cực trên của tinh hoàn được phủ bởi một một phần của mào tinh, đoạn này lan xuống phía dưới theo bờ sau bên của tinh hoàn để tạo ra thân và đuôi của mào tinh hoàn, mào tinh hoàn tiếp nối với ống dẫn tinh Cực dưới có dây kéo tinh hoàn cột tinh hoàn vào mô bìu [14] Ống dẫn tinh dài khoảng 30cm, trên đường đi được chia thành 6 đoạn: mào tinh, thừng tinh, đoạn ống bẹn,
đoạn chậu hông, đoạn sau bàng quang, đoạn tiền liệt tuyến (Hình 1.2)
Trang 8Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn
Hình 1.2 Cấu tạo tinh hoàn và ống dẫn tinh
* Nguồn: Frank H Netter – 2004 [12]
Trang 9Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn
Kích thước tinh hoàn ở người trưởng thành có đường kính: 2,5 x 4,5
cm, nặng 20g Thể tích trong giới hạn 18,6 ± 4,8m [10], [2] Kích thước tinh
hoàn của trẻ em có sự thay đổi theo tuổi [2]
1.2.2 Liên quan giải phẫu TH với các lớp của bìu, phương tiện cố định TH
- Bìu là một túi do thành bụng trĩu xuống để chứa tinh hoàn, mào tinh hoàn và một phần thừng tinh Cấu tạo của bìu từ ngoài vào trong gồm 7 lớp:
+ Da: mỏng, có nhiều nếp nhăn ngang nên có thể căng rộng hay co lại được và có một đường dọc rõ ngăn cách hai bìu
+ Lớp cơ bám da: là lớp tạo bởi các sợi cơ trơn, sợi đàn hồi và sợi tương tự như một cơ bám da Da bìu co lại được nhờ sự co bóp của lớp cơ bám da này
+ Lớp tế bào dưới da: là lớp mỡ và tế bào nhăn dưới da
+ Lớp mạc nông: liên tục bên trên với mạc tinh ngoài của thừng tinh + Lớp cơ bìu: cơ bìu do cơ chéo bụng trong trĩu xuống trong quá trình di chuyển đi xuống của tinh hoàn, lớp cơ này có tác dụng nâng tinh hoàn lên trên
+ Lớp mạc sâu: là một phần của mạc ngang qua lỗ sâu của ống bẹn xuống bọc quanh thừng tinh, mào tinh hoàn và tinh hoàn
+ Lớp bao tinh hoàn: được tạo nên do phúc mạc bị lôi xuống bìu trong quá trình đi xuống của tinh hoàn, gồm có hai lá: lá thành và lá tạng
- Các phương tiện cố định tinh hoàn trong bìu bao gồm:
+ Thừng tinh, dây chằng của tinh hoàn và dây chằng giữa
+ Thừng tinh cố định treo tinh hoàn ở cực trên của nó giống cuống của quả, do đó tinh hoàn dễ xoay xoắn, và thừng tinh sẽ chịu hậu quả của xoay xoắn Chức năng của nó như là một dây hãm phía sau, có khả năng duy nhất
là tránh cho tinh hoàn không xoay vào phía trong khoang màng tinh hoàn hơn
là xoay toàn bộ khoang màng tinh hoàn và các thành phần chứa trong nó
Trang 10Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn
+ Dây chằng tinh hoàn cố định cực dưới của tinh hoàn Điểm bám cố định này tạo với thừng tinh thành một trục dễ xoay
+ Lớp màng tinh hoàn là một dải cân phía sau không có lớp thanh mạc,
ở đó có nhiều thành phần hợp thành thừng tinh
- Tính chất không ổn định của tinh hoàn:
+ Tinh hoàn nằm không ổn định theo trục chạy chéo từ trên xuống dưới
và ra trước, làm cho cực trên dễ bị đảo ra trước
+ Lớp màng tinh hoàn là thanh mạc nên tinh hoàn rất dễ di động
+ Các lớp sợi cơ của lớp cơ bìu chạy theo hình xoắn ốc khi đến lớp màng tinh lại tận hết làm cho tinh hoàn dễ xoay xoắn
Hình 1.3 Cấu tạo của bìu, các phương tiện cố định tinh hoàn
* Nguồn: Frank H Netter – 2004 [12]
Trang 11Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn
1.2.3 Cấu tạo và liên quan giải phẫu của thừng tinh
- Thừng tinh là một ống chứa các thành phần từ bìu qua ống bẹn vào trong ổ bụng, cấu tạo từ ngoài vào trong gồm có:
+ Mạc tinh ngoài: có nguồn gốc từ cơ chéo bụng ngoài, là lớp ngoài cùng của thừng tinh
+ Cơ bìu và mạc cơ bìu: có nguồn gốc từ cơ chéo bụng trong
+ Mạc tinh trong: có nguồn gốc từ mạc ngang, là bao xơ trong cùng của thừng tinh
- Các thành phần chứa trong thừng tinh gồm có:
+ Ống dẫn tinh, động mạch, tĩnh mạch và đám rối thần kinh của ống dẫn tinh, động mạch cơ bìu
+ Động mạch tinh hoàn ở giữa thừng tinh, xung quanh có tĩnh mạch tạo thành đám rối tĩnh mạch hình dây leo
+ Di tích mỏm bọc tinh hoàn: còn gọi là dây chằng phúc tinh mạc
1.2.4 Mạch máu tinh hoàn
- Động mạch tinh hoàn tách ra từ động mạch chủ bụng ngang mức đốt sống thắt lưng II – III, chạy ở thành bụng bên tới lỗ bẹn sâu chui vào thừng tinh cùng các thành phần khác của thừng tinh qua ống bẹn xuống bìu tới tinh hoàn chia làm hai nhánh:
+ Nhánh mào tinh đi từ đầu đến đuôi mào tinh hoàn tiếp nối với động mạch ống tinh (nhánh của động mạch rốn thuộc động mạch chậu trong) và động mạch cơ bìu (một nhánh thuộc động mạch thượng vị dưới nhánh của động mạch chậu ngoài)
+ Nhánh tinh hoàn chui qua vỏ trắng đi vào tinh hoàn
- Đặc điểm phân bố và cấp máu của động mạch cho mô tinh hoàn: động mạch cấp máu cho tinh hoàn là nhánh tận, không có vòng nối do đó nếu xoắn thừng tinh sẽ gây thiếu máu cho mô tinh hoàn sớm và không hồi phục
Trang 12Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn
- Tĩnh mạch đi kèm động mạch, tĩnh mạch ở tinh hoàn và đầu mào tinh
đổ vào đám rối tĩnh mạch trước Tĩnh mạch ở thân và đuôi của mào tinh
đổ vào đám rối tĩnh mạch tinh sau và tĩnh mạch trên vị Tĩnh mạch ống dẫn tinh chạy vào tĩnh mạch thừng tinh hoặc đám rối tĩnh mạch bàng quang, tiền liệt tuyến Trong thừng tinh, tĩnh mạch tạo thành đám rối như hình dây leo (Hình 1.4)
Hình 1.4 Mạch máu và vòng nối nuôi tinh hoàn
* Nguồn: Frank H Netter – 2004 [12]
1.3 Sinh lý, chức năng tinh hoàn
Tinh hoàn có 2 chức năng: nội tiết (bài tiết testosteron) và ngoại tiết (sản sinh ra tinh trùng)
- Chức năng nội tiết của tinh hoàn: Tinh hoàn bài tiết testosteron và inhibin Testosteron được bài tiết từ tế bào Leydig của tinh hoàn thai nhi vào tuần thứ 7 qua quá trình chuyển hóa từ cholesteron và kéo dài vài tuần sau đó,
Trang 13Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn
giảm từ 1 tuổi cho đến trước dậy thì Testosteron tăng lên ở tuổi dậy thì, có tác dụng thúc đẩy biệt hóa trung tâm hướng sinh dục của vùng dưới đồi, điều hòa chức năng sinh dục nam từ tuổi dậy thì Testosteron làm phát triển cơ quan sinh dục và kích thích sự di chuyển của tinh hoàn thai nhi trong 2 tháng cuối của thời kỳ bào thai Từ tuổi dậy thì, testosteron làm phát triển và hoàn thiện cơ quan sinh dục để xuất hiện những đặc tính sinh dục nam thứ phát Testosteron cùng với FSH (Follicle - Stimulating Hormone) có tác dụng dinh dưỡng lên ống sinh tinh làm phát triển tinh trùng Ở giai đoạn này testosteron có tác dụng lên quá trình chuyển hóa như tăng tổng hợp protein, phát triển hệ thống cơ xương và tăng chuyển hóa cơ sở Điều hòa bài tiết testosteron trong thời kì bào thai do HCG (Human Chrionic Gonadotropin), thời kì trưởng thành do LH (Luteinizing Hormone) từ tuyến yên Inhibin được bài tiết từ tế bào Sertoli, có tác dụng điều hòa sản sinh tinh trùng qua cơ chế điều hòa ngược với FSH
- Chức năng ngoại tiết của tinh hoàn: Quá trình sinh tinh trùng trải qua nhiều giai đoạn, từ những nguyên bào nguyên thủy thành tiền tinh trùng và tinh trùng, quá trình này khoảng 74 ngày Sau khi tinh trùng được tạo ra phải trải qua quá trình trưởng thành mới thực hiện được chức năng của nó Sự điều hòa sản sinh tinh trùng bởi hormone GnRH, FSH, LH và chịu ảnh hưởng của nhiều yếu tố khác như vỏ não và hệ viền thông qua vùng dưới đồi Một nam giới trưởng thành bình thường mỗi ngày có thể sản xuất 200 triệu tinh trùng
- Các yếu tố ảnh hưởng đến sinh sản và trưởng thành của tinh trùng + Nhiệt độ: tinh trùng được tạo ra ở nhiệt độ thấp hơn nhiệt độ cơ thể 1-
20C, cơ dartos của bìu co dãn để điều chỉnh nhiệt độ cho phù hợp Nhiệt độ cao làm ảnh hưởng đến sinh sản tinh trùng
+ Thiếu cung cấp máu nuôi dưỡng tinh hoàn sau 30 phút gây thiếu máu trong biểu mô tinh, các tế bào bong ra từng mảng và sau 1 đến 6 giờ các tế bào dòng tinh bị hoại tử toàn bộ
Trang 14Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn
1.4 Đặc điểm bệnh lý xoắn tinh hoàn
1.4.1 Tần suất
XTH là một trong những cấp cứu thường gặp trong ngoại khoa tiết niệu, trong tất cả các nguyên nhân gây đau bìu cấp ở nam giới thì XTH thường gặp nhất với tỷ lệ mắc hàng năm vào khoảng 4,5/1000 nam giới dưới
25 tuổi Bệnh có thể gặp ở bất kỳ lứa tuổi nào, nhưng thường gặp nhất là trong giai đoạn dậy thì (14 - 18 tuổi) chiếm khoảng 65% và trẻ nhũ nhi (1 - 12 tháng) chiếm tỷ lệ ít hơn [46] XTH bên trái thường gặp hơn bên phải, chỉ có khoảng 2% trường hợp xoắn cả hai bên
1.4.2 Nguyên nhân, cơ chế bệnh sinh
- Nguyên nhân gây xoắn tinh hoàn được cho là do phản xạ co cơ bìu đột ngột xảy ra trên những bệnh nhân có dị dạng về giải phẫu [19]:
+ Màng tinh hoàn rộng, tinh hoàn di động như quả lắc
+ Mạc treo tinh hoàn rộng làm cho tinh hoàn dễ di động
+ Thừng tinh dài, dây kéo tinh hoàn dài, hoặc thừng tinh ngắn, mạc treo tinh hoàn hẹp kéo ngược tinh hoàn lên
- Các yếu tố môi trường như thời tiết lạnh, độ ẩm cao và áp xuất khí quyển thấp làm cho cơ bìu phản ứng co bóp mạnh hơn, gây ra phản xạ co cơ bìu đột ngột cũng được cho là một trong những nguyên nhân gây xoắn [23]
- Các yếu tố như chấn thương, một số hoạt động thể thao như đạp xe, bơi lội trượt tuyết, hay hoạt động tình dục quá mạnh cũng làm xoắn thừng tinh trên những tinh hoàn không được cố định tốt trong bìu
- Tuy nhiên phần lớn các trường hợp XTH là không rõ nguyên nhân,
cơ chế xoắn cũng chưa được giải thích đầy đủ
1.4.3 Diễn biến và hậu quả của xoắn tinh hoàn
- Theo các tác giả thì 4 - 8 giờ sau khi xuất hiện triệu chứng ban đầu nếu được can thiệp kịp thời thì tinh hoàn sẽ được bảo tồn Sau 8 - 12 giờ nếu
cố gắng bảo tồn có thể tinh hoàn sẽ teo, nhưng khoảng 4% các trường hợp
Trang 15Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn
tinh hoàn bị hoại tử và phải cắt bỏ Còn sau 24 giờ không còn khả năng bảo
tồn tinh hoàn [46], [25]
- XTH có thể làm giảm khả năng sinh sản Một phân tích tinh dịch cho thấy bất thường gặp ở 40 - 60% bệnh nhân sau XTH cấp, hơn nữa sự bảo tồn
tinh hoàn bên xoắn không cải thiện khả năng sinh sản [69]
- XTH một bên gây ra tổn thương tinh hoàn bên đối diện, sự giảm tưới máu tinh hoàn đối bên bắt đầu ngay khi xoắn thừng tinh xảy ra và tăng dần nếu không được tháo xoắn [27] Tác giả Krarup báo cáo 74 bệnh nhân được điều trị XTH và xác định có giảm khả năng sinh sản thứ phát, nguyên nhân có
liên quan đến cơ chế tự miễn [38]
- Cắt bỏ tinh hoàn bên này thì đường kính ống dẫn tinh của tinh hoàn còn lại bị hẹp và có sự thay đổi mạch máu Theo Rogloe và Dungan làm thí nghiệm trên chuột thì lúc đầu dòng máu đến cả hai tinh hoàn đều giảm, sau đó cùng tăng lên Tác giả còn cho rằng tổn thương tinh hoàn bên đối diện có thể
giảm thiểu nếu cắt bỏ tinh hoàn xoắn
1.4.4 Phân loại xoắn tinh hoàn
- Xoắn ngoài tinh mạc: toàn bộ tinh hoàn và tinh mạc xoắn quanh trục
dọc của thừng tinh, hay gặp ở trẻ sơ sinh
- Xoắn trong tinh mạc: do bẩm sinh tinh mạc bám cao vào thừng tinh gây nên tình trạng biến dạng như quả lắc chuông, làm cho tinh hoàn xoay
quanh thừng tinh, hay gặp ở thiếu niên và người lớn
Trang 16Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn
Hình 1.5 Phân loại xoắn tinh hoàn
(A, B: Xoắn ngoài tinh mạc; C: Xoắn trong tinh mạc)
+ Buồn nôn hoặc nôn
+ Sốt nhẹ
- Thực thể:
+ Da bìu đỏ hoặc bầm tím
+ Tinh hoàn sưng to dần, đau khi chạm vào
+ Tinh hoàn nằm cao trong bìu và bị co kéo sát tới lỗ bẹn nông
+ Sờ nắn tinh hoàn thấy tinh hoàn có mật độ cứng chắc
Trang 17Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn
+ Ấn đau chói thừng tinh ở vị trí lỗ bẹn nông
+ Mất phản xạ cơ bìu Phản xạ cơ bìu được thực hiện bằng cách cho
BN nằm ngửa, đùi hơi dạng ra ngoài, kích thích 1/3 trên ở mặt trong của đùi cùng bên với bên tinh hoàn đau Trong trường hợp bình thường, da bìu co dúm lại tinh hoàn đi lên trên, nếu bìu bên tổn thương không có phản ứng là mất phản xạ
+ Dấu hiệu Prehn âm tính Dấu hiệu Prehn được phát hiện bằng cách để
BN ở tư thế đứng, thầy thuốc dùng tay nâng bìu bên bị bệnh lên, dương tính là khi BN thấy đỡ đau hơn, còn âm tính là khi BN thấy đau tăng lên
- Siêu âm Doppler: Là một phương tiện quan trọng trong chẩn đoán các bệnh lý ở bìu bẹn vì có khả năng mô tả hình thái giải phẫu cũng như các biến đổi theo thời gian Siêu âm Doppler phát hiện XTH nhờ đánh giá dòng chảy động mạch trong nhu mô tinh hoàn Nếu XTH sẽ giảm hoặc mất tín hiệu mạch, tăng trong trường hợp viêm tinh hoàn Siêu âm có độ nhạy 86%
và độ đặc hiệu 100% trong chẩn đoán xác định XTH [28], ở trẻ em độ nhạy
và độ đặc hiệu kém hơn người lớn [66], [16] Siêu âm còn có giá trị trong chẩn đoán phân biệt XTH với các nguyên nhân đau bìu cấp khác
Hình 1.6 Hình ảnh siêu âm Doppler tinh hoàn bình thường
* Nguồn: Harriet J Paltiel, MD Leslie A Kalish [53]
Trang 18Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn
Hình 1.7 Hình ảnh Doppler xoắn tinh hoàn giai đoạn sớm
(Không có tín hiệu mạch trong nhu mô tinh hoàn, phản hồi âm bình thường)
* Nguồn: Harriet J Paltiel, MD Leslie A Kalish [53]
Hình 1.8 Hình ảnh siêu âm Doppler xoắn tinh hoàn muộn
(Phản hồi âm không đồng nhất, tăng tín hiệu mạch xung quanh tinh hoàn)
1.4.6 Chẩn đoán xác định xoắn tinh hoàn
Chẩn đoán xác định XTH dựa vào các dấu hiệu lâm sàng là chính với các triệu chứng:
Trang 19Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn
+ Cơ năng: đau dữ dội đột ngột ở bìu, ống bẹn Đau lan dọc theo thừng tinh, ống bẹn đến hố chậu kèm cảm giác buồn nôn hay nôn Đau liên tục không thành cơn nhưng mỗi lúc một tăng, sốt ít gặp
+ Thực thể: bìu sưng to, da bìu có thể đỏ hoặc tím, đôi khi có phù lan rộng sang bên đối diện BN rất đau khi chạm vào TH Khám thấy tinh hoàn nằm cao gần lỗ bẹn nông, mất phản xạ cơ bìu và dấu hiệu Prehn âm tính + Siêu âm Doppler mạch thừng tinh thấy có giảm hoặc mất tín hiệu mạch cấp máu cho tinh hoàn, giúp chẩn đoán xác định đồng thời phân biệt XTH với các triệu chứng đau bìu cấp khác [16]
1.4.7 Chẩn đoán phân biệt xoắn tinh hoàn
XTH cần phân biệt với các bệnh lý sau:
- Viêm tinh hoàn – mào tinh hoàn cấp tính: Đây là chẩn đoán phân biệt
quan trọng nhất dễ nhầm với XTH Với trường hợp viêm thì khởi phát sốt, đau, rối loạn tiểu tiện Đau khu trú ở TH, mào TH cũng lan lên hố chậu [15]
Để phân biệt giữa đau TH do xoắn và do viêm có thể dùng nghiệm pháp Prehn: nâng TH lên làm đau tăng thêm trong trường hợp XTH và đau có thể giảm bớt trong trường hợp viêm tinh hoàn
Trong giai đoạn sớm, siêu âm bìu có thể có ích nhưng làm chậm trễ trong việc phẫu thuật giải xoắn Ở giai đoạn trễ thì siêu âm không phân biệt được giữa TH hoại tử do vi trùng hay do xoắn Do vậy, kinh nghiệm lâm sàng
là quan trọng nhất, siêu âm bìu là không cần thiết [13]
- Xoắn phần phụ mào tinh hoàn: Đây là một bệnh rất hiếm gặp Phần
phụ này là di tích của ống Mueller, khi bị xoắn cũng có bệnh cảnh tương tự Tuy nhiên, điểm đau trong xoắn phần phụ không khu trú rõ và bệnh này có một dấu hiệu đặc trưng là dấu hiệu đốm xanh ở da bìu Dấu hiệu này chỉ thấy
ở trẻ nhỏ do da bìu mỏng Siêu âm Doppler bìu trong trường hợp này sẽ giúp ích rất nhiều và phẫu thuật không cần đặt ra nếu có chẩn đoán xác định Phần phụ sẽ bị hoại tử và tự teo [13]
Trang 20Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn
- Thoát vị bẹn nghẹt, viêm ruột thừa cấp thể tiểu khung: Theo bệnh
cảnh lâm sàng đều có chỉ định can thiệp cấp cứu [15]
1.4.8 Điều trị xoắn tinh hoàn
Việc điều trị nhằm 3 mục đích: Phải gỡ xoắn cứu lấy TH bị xoắn, vì có tới 70% trường hợp cả 2 bên đều có cấu trúc giải phẫu để bị xoay như vậy
Chỉ phát hiện ngay từ đầu mới có khả năng gỡ xoắn không cần mổ Chỉ
có can thiệp phẫu thuật mới có thể gỡ xoắn ở một hoặc cả hai bên
- Phẫu thuật tháo xoắn và cố định TH: Khi đã chẩn đoán là XTH thì phải tiến hành phẫu thuật tháo xoắn và cố định TH càng sớm càng tốt, thời gian tốt nhất để có thể bảo tồn TH là trước 6 giờ từ khi xuất hiện triệu chứng đầu tiên Phẫu thuật được thực hiện càng sớm càng tốt và được coi là một cấp cứu không trì hoãn Cố gắng bảo tồn TH, tháo xoắn ngay cả khi đến muộn sau
6 giờ và đánh giá kết quả điều trị bằng sự hồng trở lại của TH Ngoài ra có thể
cố định TH đối diện đề phòng tái phát
- Tháo xoắn ngoài: được Nash mô tả lần đầu tiên vào năm 1883 [58] Tiến hành gây tê thừng tinh, phẫu thuật viên đứng đối diện BN, nắm TH xoắn quay ra ngoài như mở quyển vở nhằm mục đích gỡ xoắn và làm giảm mức độ thiếu máu của TH Phương pháp này có ưu điểm là nhanh chóng, dễ thực hiện Tuy nhiên không thể xác định chính xác số vòng xoắn, chiều xoắn trong đồng thời không cố định được TH phòng tái phát Do vậy phương pháp này chỉ nên được sử dụng nhằm mục đích giảm mức độ thiếu máu cho TH và chờ đợi phẫu thuật, trong quá trình thực hiện phải theo dõi sát bằng siêu âm [19], [67] Việc gỡ xoắn ngoài chỉ tranh thủ được một vài giờ khi chưa kịp mổ, và không bao giờ tránh được việc không phải mổ Do đó cần thông báo cho BN nếu là người lớn, cho gia đình nếu là trẻ con, nếu không mổ kịp thời sẽ mất khả năng giữ được TH [4]
Trang 21Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn
1.5 Tình hình nghiên cứu xoắn tinh hoàn trong và ngoài nước
Bệnh lý XTH đã được biết đến từ lâu, trường hợp XTH đầu tiên được
mô tả năm 1840 bởi Delasiauve, năm 1987 Taylor báo cáo trường hợp XTH đầu tiên ở trẻ sơ sinh Năm 1992 Colt mô tả một trường hợp XTH phụ Năm
1952 Dean Moheet ở Dallas là người đầu tiên đề xuất phương pháp điều trị phẫu thuật đơn giản ít xâm lấn, mở nhỏ ở bìu tháo xoắn và cố định TH, ông cũng đề xuất cố định TH đối diện tránh xoắn thứ phát Tại Mỹ có 4 nghiên cứu báo cáo về XTH trong độ tuổi 1 - 17 và tỷ lệ bảo tồn TH là 68,1% [32] Theo Zhao và cộng sự báo cáo tỷ lệ bảo tồn TH là 58,1% ở những BN dưới
18 tuổi [26]
Ở nước ta, tại bệnh viện Bình Dân trong 2 năm từ 2008 - 2010 có 49 trường hợp được chẩn đoán là XTH và điều trị tại khoa Nam học Tuổi trung bình của các BN là 22 tuổi, trong đó nhóm từ 16 - 21 lớn nhất với 24 trường hợp chiếm 48,9% Thời gian từ khi có triệu trứng đau đến khi đến viện là 141,2 ± 22,1 giờ Chỉ có 1 trường hợp được chẩn đoán đúng là XTH, còn lại đều được chẩn đoán là viêm TH và đã được điều trị nội khoa Tỷ lệ bảo tồn
TH là 14,3% [27] Tại bệnh viện Việt Đức, theo dõi 63 trường hợp XTH được điều trị, tuổi trung bình là 22 tuổi, thời gian đến khám trung bình là 145,2 giờ Siêu âm chẩn đoán đúng 59/63 trường hợp (93,6%) Tỷ lệ cắt bỏ TH 84,1% (53/63 BN) [28] Theo nghiên cứu của Bùi Đức Hậu và cộng sự, tại bệnh viện Nhi Trung ương trong thời gian từ 01/2012 đến 12/2012 có 76 trường hợp đau bìu cấp trong đó có 11 BN bị XTH chiếm tỷ lệ 14,5% và tỷ lệ cắt bỏ TH là 5/11 chiếm 45,5% [5]
Trang 22Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn
Chương 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Đối tượng nghiên cứu
Gồm 61 bệnh nhân được chẩn đoán sau phẫu thuật XTH tại Khoa Ngoại - Bệnh viện Nhi Trung ương từ tháng 01/2012 đến 10/2014
2.1.1 Tiêu chuẩn lựa chọn bệnh nhân
Chúng tôi tiến hành nghiên cứu trên những BN phù hợp với những tiêu chuẩn sau:
- Độ tuổi: dưới 15 tuổi
- Lâm sàng: BN được khám và mô tả triệu chứng lâm sàng trong hồ sơ bệnh án với chẩn đoán là XTH
- Cận lâm sàng: BN được làm siêu âm Doppler mạch thừng tinh xác định chẩn đoán XTH trước mổ
- BN được chẩn đoán sau phẫu thuật là XTH
- BN được chẩn đoán trước mổ không phải XTH nhưng sau phẫu thuật được chẩn đoán là XTH
2.1.2 Tiêu chuẩn loại trừ
- Những BN không đủ tiêu chuẩn lựa chọn
- Những BN đầy đủ tiêu chuẩn lựa chọn nhưng không đủ dữ liệu nghiên cứu
2.2 Phương pháp nghiên cứu
2.2.1 Thiết kế nghiên cứu
Nghiên cứu tiến cứu kết hợp hồi cứu, không so sánh Tiến hành nghiên cứu theo 2 giai đoạn
- Hồi cứu giai đoạn từ tháng 01/2012 đến tháng 05/2014
- Tiến cứu giai đoạn từ tháng 06/2014 đến tháng 10/2014
Trang 23Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn
2.2.2 Phương pháp nghiên cứu
- Sử dụng phương pháp nghiên cứu mô tả cắt ngang
2.3 Thời gian và địa điểm nghiên cứu
- Thời gian: Từ 01/2012 đến 10/2014
- Địa điểm: Khoa Ngoại – Bệnh viện Nhi Trung ương
2.4 Các chỉ tiêu nghiên cứu
2.4.1 Chỉ tiêu đặc điểm lâm sàng
- Phân bố bệnh theo nhóm tuổi: Ghi nhận theo hồ sơ bệnh án, tuổi BN được chia thành 4 nhóm dựa trên tuổi đi học (nhà trẻ mẫu giáo, tiểu học, trung học
cơ sở):
+ Dưới 2 tuổi
+ Từ 2 tuổi đến dưới 6 tuổi
+ Từ 6 tuổi đến dưới 11 tuổi
+ Từ 11 tuổi đến 15 tuổi
- Thời gian bị bệnh: được tính từ lúc xuất hiện triệu chứng đau cho tới khi BN đến khám tại Bệnh viện nhi Trung ương, chúng tôi chia thành 3 nhóm theo nghiên cứu của Hoàng Long và cộng sự [9]:
+ Nhóm < 6 giờ
+ Nhóm từ 6 giờ tới 24 giờ
+ Nhóm > 24 giờ
- Các nguyên nhân đến viện muộn
+ Đau bìu không rõ ràng
Trang 24Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn
+ Điều trị ở tuyến trước
+ Đã khám ở nhiều nơi
- Các yếu tố tiền sử liên quan của xoắn tinh hoàn:
+ Đau tinh hoàn
+ Tiền sử xoắn tinh hoàn
+ Chấn thương tinh hoàn
+ Phẫu thuật vùng bẹn bìu
- Phân bố tinh hoàn bị xoắn theo bên phải và trái:
Tinh hoàn nằm cao trong bìu (không sờ thấy thừng tinh)
Tinh hoàn sưng to
Mật độ tinh hoàn cứng chắc (sờ cứng hơn TH bên đối diện)
Da bìu nóng đỏ
+ Phản xạ cơ bìu: mất phản xạ, còn phản xạ Phản xạ cơ bìu được thực hiện bằng cách cho BN nằm ngửa, đùi hơi dạng ra ngoài, kích thích 1/3 trên ở
Trang 25Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn
mặt trong của đùi cùng bên với bên tinh hoàn đau Trong trường hợp bình thường, da bìu co dúm lại tinh hoàn đi lên trên, nếu bìu bên tổn thương không
có phản ứng là mất phản xạ [15]
+ Dấu hiệu Prehn: âm tính hoặc dương tính Dấu hiệu Prehn được phát hiện bằng cách để BN ở tư thế đứng, thầy thuốc dùng tay nâng bìu bên bị bệnh lên, dương tính là khi BN thấy đỡ đau hơn, còn âm tính là khi BN thấy đau tăng lên [15]
2.4.2 Chỉ tiêu đặc điểm cận lâm sàng
- Siêu âm Doppler: kết quả siêu âm Doppler mạch thừng tinh đánh giá còn tín hiệu mạch hay mất tín hiệu mạch
- Số lượng bạch cầu
- Kết quả giải phẫu bệnh với các trường hợp cắt bỏ tinh hoàn
2.4.3 Đánh giá trong phẫu thuật XTH
- Phân loại xoắn:
+ Xoắn ngoài tinh mạc: toàn bộ tinh hoàn và tinh mạc xoắn quanh trục
dọc của thừng tinh
Trang 26Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn
+ Xoắn trong tinh mạc: do bẩm sinh tinh mạc bám cao vào thừng tinh gây nên tình trạng biến dạng như quả lắc chuông, làm cho tinh hoàn xoay
quanh thừng tinh
- Các phương pháp xử lý TH:
+ Tháo xoắn và không cố định TH
+ Tháo xoắn và cố định TH vào bìu
+ Tháo xoắn và cố định hai TH vào bìu
+ Cắt TH xoắn và cố định TH còn lại
2.4.4 Kết quả phẫu thuật XTH và một số yếu tố liên quan
- Kết quả phẫu thuật:
+ Bảo tồn tinh hoàn
- Kết quả phẫu thuật theo thời gian nghiên cứu
- Một số yếu tố liên quan:
+ Nhóm tuổi, địa dư, nghề nghiệp mẹ với kết quả phẫu thuật
+ Thời gian bị bệnh, số vòng xoắn, màu sắc TH với kết quả phẫu thuật + Phân loại xoắn với nhóm tuổi
+ Thời gian bị bệnh, số vòng xoắn với màu sắc tinh hoàn
2.4.5 Theo dõi sau phẫu thuật xoắn tinh hoàn
- Các BN trong nghiên cứu được khám lại vào tháng 06 - 09/2014
- Bệnh nhân được đánh giá về lâm sàng và siêu âm Doppler
+ Lâm sàng: hỏi bệnh và khám lâm sàng phát hiện các triệu chứng đau tức vùng bìu, kích thước tinh hoàn phẫu thuật, tình trạng bìu và kích thước tinh hoàn đối bên
Trang 27Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn
+ Siêu âm Doppler tinh hoàn: đánh giá tình trạng cấp máu cho tinh hoàn bảo tồn và tinh hoàn đối bên Đánh giá kích thước tinh hoàn, phát hiện teo tinh hoàn bảo tồn và teo tinh hoàn đối bên Kích thước tinh hoàn được xác định chủ yếu trên siêu âm, so sánh với kích thước tinh hoàn bình thường theo tuổi và so sánh với tinh hoàn đối bên, kết luận là có hay không có giảm kích thước tinh hoàn bảo tồn
2.5 Kỹ thuật mổ
- Phương pháp vô cảm: gây mê nội khí quản hoặc gây tê khe cùng kết hợp mê hít bằng Sevoflurane
- Tư thế: nằm ngửa
- Đường mổ: đường ống bẹn hoặc bìu
- Phong bế 3 - 4ml lidocain 0,5% trên ống thừng tinh (gốc bìu) hoặc novocain 0,25% giúp cho sự hồi phục tinh hoàn và làm cho bệnh nhân dễ chịu sau phẫu thuật
- Đối với đường rạch qua bìu:
+ Dùng ngón tay cái và ngón trỏ ép giữ tinh hoàn ra bìu (Hình 2.1)
Hình 2.1 Rạch da bìu
* Nguồn: Lê Ngọc Từ - 2007 [15]
+ Rạch ngang bìu một đoạn (chừng 3 - 4cm), thành bìu có thể bị phù
nề Qua các lớp cơ bìu đi tới màng tinh hoàn có màu tím đen do có máu hoặc
Trang 28Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn
dịch máu trong lớp màng tinh hoàn
- Mở lớp màng tinh hoàn, lấy hết dịch màng tinh hoàn và dịch xuất tiết, đánh giá tình trạng tinh hoàn về màu sắc; nhiệt độ và xác định số vòng xoắn thừng tinh, nhẹ nhàng tháo xoắn tinh hoàn, ngược chiều với vòng xoắn Đắp huyết thanh ấm hay gạc tẩm novocain 0,25%; chờ sau khoảng 10 phút, nhận định tình trạng tinh hoàn sau tháo xoắn (Hình 2.2)
Hình 2.2 Mở màng tinh hoàn, tháo xoắn
* Nguồn: Lê Ngọc Từ - 2007 [15]
- Nếu tinh hoàn vẫn tím đen tiết dịch có máu, không thấy mạch đập
là biểu hiện tinh hoàn không bảo tồn được phải cắt bỏ tinh hoàn, hoặc mở lớp bao tinh hoàn lấy hết tuỷ tinh hoàn để lại vỏ bao tinh hoàn (nếu còn khả năng giữ lại vỏ bao để có thể thay thế tinh hoàn bằng vật liệu giả - tinh hoàn thay thế)
- Nếu sau 10 phút, tinh hoàn hồng trở lại, mạch đập rõ, có khả năng bảo tồn, tiếp tục cầm máu mép màng tinh hoàn đã rạch và khâu lộn màng tinh hoàn 3 - 4 mũi ra phía sau tinh hoàn (Hình 2.3)
Trang 29Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn
Hình 2.3 Khâu lộn màng tinh hoàn
* Nguồn: Lê Ngọc Từ - 2007 [15]
- Để đề phòng tái phát, khâu 2 mũi chỉ không tiêu hay chỉ tiêu chậm ở thành bên và 1 mũi ở thành dưới bao tinh hoàn với lớp cơ Dartos ở thành bìu
và vách ngăn của bìu (Hình 2.4)
Hình 2.4 Khâu cố định tinh hoàn
Trang 30Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn
+ Rút ống dẫn lưu 24 - 48 giờ sau phẫu thuật, khi hết dịch
+ Theo dõi phát hiện xoắn tinh hoàn tái phát khi không cố định hoặc dùng chỉ tiêu nhanh
+ Tinh hoàn bảo tồn sau khi tháo xoắn có thể teo nhỏ vì thiếu máu
2.6 Phương pháp xử lý số liệu
Các số liệu xử lý được ghi chép theo một mẫu bệnh án nghiên cứu, thu thập lại, các chỉ số nghiên cứu được xử lý theo thuật toán thống kê trong chương trình SPSS 16.0 So sánh các số liệu: Trung bình, độ lệch chuẩn (SD), lấy mức so sánh có ý nghĩa thống kê với p ≤ 0,05
2.7 Đạo đức nghiên cứu
- Đề tài được thông qua đề cương tại Bộ môn Ngoại - Trường Đại học Y Dược Thái Nguyên
- Được sự đồng ý của bệnh nhân, giải thích cho người bệnh nguy cơ của bệnh và sự cần thiết khám lại sau mổ
- Tuân thủ nguyên tắc giữ bí mật các tài liệu, thông tin của bệnh nhân
nghiên cứu
Trang 31Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn
Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
Trong thời gian từ 1/2012 đến tháng 10/2014 chúng tôi đã lựa chọn 61 bệnh án của những bệnh nhân XTH thỏa mãn tiêu chuẩn nghiên cứu và tiêu chí loại trừ được điều trị tại Bệnh viện Nhi Trung ương bao gồm 57 bệnh án hồi cứu và 4 bệnh án tiến cứu Các kết quả nghiên cứu như sau:
3.1 Đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng của BN trong nghiên cứu
3.1.1 Phân bố BN bị XTH cấp theo nhóm tuổi
Biểu đồ 3.1 Phân bố bệnh nhân theo nhóm tuổi
Nhận xét:
- Tuổi trung bình là 5± 4,5 tuổi
- Tuổi cao nhất là 15 tuổi
- Tuổi thấp nhất là 5 ngày tuổi
- Nhóm tuổi XTH nhiều nhất là < 2 tuổi chiếm tỷ lệ 32,8%
Trang 32Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn
3.1.2 Thời gian khởi phát bệnh XTH đến lúc vào viện
- Thời gian bị bệnh là khoảng thời gian được tính từ lúc xuất hiện triệu chứng
đau cho tới khi bệnh nhân đến khám tại Bệnh viện Nhi Trung ương
- Thời gian đến khám sớm nhất là 1 giờ
- Thời gian đến khám muộn nhất là 168 giờ
- Thời gian từ trung vị là 10 giờ
- Nhóm bệnh nhân đến khám trong khoảng 6 - 24 giờ nhiều nhất chiếm 44,3%
3.1.3 Các nguyên nhân đến viện muộn
Bảng 3.2 Các nguyên nhân đến viện muộn (n = 61)
Nhận xét:
- Đa số bệnh nhân có đau bìu không rõ ràng chiếm tỷ lệ 63,9%
- Có 23% bệnh nhân đã điều trị ở tuyến trước
- Bệnh nhân đã đi khám ở nhiều nơi chiếm 13,1%
Trang 33Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn
3.1.4 Các yếu tố tiền sử liên quan của XTH
Biểu đồ 3.2 Các yếu tố tiền sử liên quan của XTH
Nhận xét:
- Đa số bệnh nhân XTH không rõ tiền sử chiếm 72,1%
- Có 8/61 BN trong tiền sử đã có ít nhất một lần đau cấp ở TH sau đó tự khỏi chiếm tỷ lệ 13,1%
- Tiền sử XTH nhưng không phải can thiệp PT gặp ở 4 BN chiếm tỷ lệ 6,6%
- Tiền sử chấn thương vùng bìu và phẫu thuật vùng bìu chiếm tỷ lệ thấp
3.1.5 Phân bố bệnh xoắn tinh hoàn theo mùa
Biểu đồ 3.3 Phân bố bệnh xoắn tinh hoàn theo mùa
Nhận xét:
- Tỷ lệ mắc bệnh cao nhất vào mùa xuân (22/61) trường hợp chiếm 36,1%
- Mùa đông có 19 BN (chiếm 31,1%) Mùa hạ và mùa thu có tỷ lệ mắc ít hơn
Tỷ lệ mắc bệnh vào mùa đông - xuân cao hơn mùa hạ - thu, sự khác
biệt này có ý nghĩa thống kê với p < 0,05
Trang 34Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn
3.1.6 Các triệu chứng lâm sàng của bệnh XTH
Biểu đồ 3.4 Triệu chứng lâm sàng của bệnh XTH
Nhận xét:
- Triệu chứng: đau bìu cấp tính, sưng bìu và mật độ tinh hoàn cứng chắc là triệu chứng gặp ở 100% các trường hợp
- Sốt không phải là dấu hiệu thường gặp ở XTH chiếm tỷ lệ 19,6%
- Ngoài ra cũng gặp các dấu hiệu như da bìu nóng đỏ chiếm tỷ lệ 59% Dấu hiệu tinh hoàn nằm cao trong bìu chiếm tỷ lệ 64%
3.1.7 Dấu hiệu Prehn và phản xạ cơ bìu
Bảng 3.3 Dấu hiệu Prehn và phản xạ cơ bìu (n = 25)
Nhận xét:
- Trong nghiên cứu, chỉ có 25/61 bệnh án mô tả đầy đủ hai dấu hiệu này
- Dấu hiệu Prehn âm tính có ở 25/25 bệnh nhân chiếm tỷ lệ 100%
- Mất phản xạ cơ bìu thấy ở 24/25 bệnh nhân chiếm tỷ lệ 96%
Trang 35Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn
3.1.8 Phân bố tinh hoàn bị xoắn theo bên phải - trái
Biểu đồ 3.5 Phân bố tinh hoàn bị xoắn theo bên phải - trái
Nhận xét:
- Đa số các trường hợp xoắn tinh hoàn gặp ở bên trái chiếm tỷ lệ 67,2%
- Xoắn tinh hoàn bên phải gặp ít hơn (20/61) chiếm tỷ lệ 32,8%
- Không có trường hợp nào xoắn cả hai bên
Tỷ lệ XTH bên trái cao hơn so với bên phải, khác biệt có ý nghĩa thống
kê với p < 0,05
3.1.9 Kết quả siêu âm Doppler tinh hoàn
Biểu đồ 3.6 Kết quả siêu âm Doppler tinh hoàn
Nhận xét:
- Kết quả siêu âm đa số còn tín hiệu mạch chiếm tỷ lệ 73,8% Mất tín hiệu
mạch ít hơn chiếm tỷ lệ 26,2%
Trang 36Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn
- Tất cả các trường hợp trên siêu âm chẩn đoán XTH thì đều phù hợp với kết quả phẫu thuật và giải phẫu bệnh sau mổ
3.1.11 Kết quả giải phẫu bệnh
Tất cả 16 trường hợp cắt bỏ tinh hoàn đều được làm giải phẫu bệnh với
kết quả trả lời 100% tinh hoàn hoại tử chảy máu
3.2 Kết quả phẫu thuật XTH
3.2.1 Đường mổ XTH
Biểu đồ 3.7 Đường mổ XTH
Nhận xét:
- Đa số các phẫu thuật viên sử dụng đường mổ ở bìu chiếm tỷ lệ 85,2%
- Còn lại mổ theo đường ống bẹn chiếm tỷ lệ 14,8%
Trang 37Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn
3.2.2 Các phương pháp xử lý tinh hoàn
Bảng 3.5 Các phương pháp xử lý tinh hoàn
Trang 38Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn
3.2.4 Phân loại xoắn tinh hoàn
Biểu đồ 3.8 Phân loại xoắn tinh hoàn
Nhận xét:
- BN xoắn ngoài tinh mạc hay gặp hơn ở 34/61 trường hợp (55,7%)
- Số bệnh nhân xoắn trong tinh mạc gặp ít hơn 27/61 trường hợp (44,3%)
3.2.5 Màu sắc tinh hoàn
Bảng 3.7 Màu sắc tinh hoàn
- Tinh hoàn tím sẫm thấy ở 39/61 trường hợp (64%)
- Tinh hoàn tím đen thấy ở 16/61 trường hợp (26,2%)