Mục tiêu: - Thu thập được bộ mẫu vật côn trùng, bệnh cây - Xử lý, bảo quản được mẫu sâu, bệnh hại - Tư liệu hóa bộ ảnh triệu chứng bệnh và hình thái sâu hại phục vụ cho công tác giảng
Trang 1ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
NGHIÊN CỨU THU THẬP VÀ TƯ LIỆU HÓA BỘ TIÊU BẢN
SÂU, BỆNH HẠI CÂY TRỒNG NÔNG NGHIỆP PHỤC VỤ GIẢNG DẠY
VÀ HỌC TẬP CHO SINH VIÊN NGÀNH TRỒNG TRỌT
Trang 2ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
KHOA NÔNG HỌC
==============
BÁO CÁO TỔNG KẾT ĐỀ TÀI KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ CẤP TRƯỜNG TÊN ĐỀ TÀI: NGHIÊN CỨU THU THẬP VÀ TƯ LIỆU HÓA BỘ TIÊU BẢN SÂU, BỆNH HẠI CÂY TRỒNG NÔNG NGHIỆP PHỤC VỤ GIẢNG DẠY VÀ HỌC TẬP CHO SINH VIÊN NGÀNH TRỒNG TRỌT MÃ SỐ : T2016-08 Chủ trì đề tài Xác nhận của Hội đồng nghiệm thu Lê Thị Kiều Oanh - Chủ tịch HĐ : PGS.TS.Nguyễn Hữu Hồng
- Phản biện 1: TS Nguyễn Thị Lân
- Phản biện 2: TS Lưu Thị Xuyến
Trang 3
DANH SÁCH NHỮNG THÀNH VIÊN THAM GIA NGHIÊN CỨU
ĐỀ TÀI VÀ ĐƠN VỊ PHỐI HỢP CHÍNH
TT Tên đơn vị/cá nhân phối hợp Địa chỉ
2 Nguyễn Thị Mão BM Sinh thái & BVTV,
ĐH Nông lâm TN
3 Nguyễn Thị Phương Oanh BM Sinh thái & BVTV,
ĐH Nông lâm TN
Trang 4Chương 2 Đối tượng, phạm vi, nội dung và phương pháp nghiên
cứu
15
3.1 Thu thập, phân loại mẫu côn trùng, bệnh cây 17 3.2 Xử lý và bảo quản mẫu côn trùng, bệnh cây 19 3.3 Thu thập và tư liệu hóa bộ ảnh triệu chứng sâu, bệnh hại cây trồng 19
Trang 5MỤC LỤC BẢNG BIỂU
1 Bảng 2.1 Các dung dịch ngâm côn trùng 6
2 Bảng 3.1 Thành phần và số lượng mẫu côn trùng thu thập năm
Trang 6THÔNG TIN KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
ĐỀ TÀI KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ CẤP TRƯỜNG
1 Thông tin chung:
- Tên đề tài: Nghiên cứu thu thập và tư liệu hóa bộ tiêu bản sâu, bệnh hại cây trồng nông
nghiệp phục vụ giảng dạy và học tập cho sinh viên ngành Trồng trọt
- Mã số: T2016 -08
- Chủ nhiệm đề tài: Lê Thị Kiều Oanh
Điện thoại: 0978 626 877 E-mail: lkoanh77@gmail.com
- Cơ quan chủ trì đề tài: Trường Đại học Nông lâm Thái Nguyên
- Cơ quan và cá nhân phối hợp thực hiện:
+ Cơ quan: Viện Bảo vệ Thực vật
+ Cá Nhân: PGS.TS Nguyễn Thị Mão; Ths Nguyễn Thị Phương Oanh, Bộ môn Sinh thái nông nghiệp & BVTV
- Thời gian thực hiện: Tháng 4/2016 đến T11/2016
2 Mục tiêu:
- Thu thập được bộ mẫu vật côn trùng, bệnh cây
- Xử lý, bảo quản được mẫu sâu, bệnh hại
- Tư liệu hóa bộ ảnh triệu chứng bệnh và hình thái sâu hại phục vụ cho công tác giảng dạy
và học tập
3 Nội dung chính:
- Thu thập và phân loại mẫu một số loài sâu hại chính
- Xử lý, bảo quản mẫu
- Tư liệu hóa bộ ảnh
4 Kết quả nghiên cứu đã đạt được (khoa học, ứng dụng, đào tạo, kinh tế – xã hội, v.v…)
- Hoàn chỉnh 10 bộ tiêu bản sâu hại dạng mẫu khô, 10 tiêu bản bệnh hại dạng mẫu khô và nhiều mẫu sâu dạng ngâm dung dịch
- Xây dựng bộ ảnh gồm trên 200 ảnh triệu chứng sâu, bệnh hại và hình thái một số loài sâu hại phổ biến
5 Sản phẩm:
- 10 bộ tiêu bản sâu 10 tiêu bản bệnh hại dạng mẫu khô và nhiều mẫu sâu dạng ngâm dung dịch
Trang 76 Hiệu quả và khả năng áp dụng:
Kết quả nghiên cứu phục vụ cho học tập và giảng dạy cho sinh viên
Trang 8SUMMARY
1 Genaral information:
– Research Title: Researching, collecting and making samples of agricultural
insect, plant disease for learning and teaching
– Code number: T2016-08
– Coordinator: Le Thi Kieu Oanh
Tel.: 0978 626 877 E-mail: lkoanh77@gmail.com
– Implementing Institution: Thai Nguyen University of Agriculture and Forestry (TUAF)
– Cooperating Institution(s): Plant Protection Research Institute (PPRI)
+ Prof Dr Nguyen Thi Mao – Plant Protection Department, Faculty of
Agronomy, TUAF
+ Master Nguyen Thi Phuong Oanh - Plant Protection Department
– Duration: from April to December, 2016
2 Objectives:
- Collecting plant pests and plant diseases
- Making insect and plant disease samples
- Arrange photos of insect morphology and plant disease symptoms on cultivated plants for teaching and learning
3 Main contents:
- Collecting insect and plant disease samples
- Making and preservation insect and plant disease samples
- Arrange photos of insect morphology and plant disease symptom
photos of insect morphology and symptoms on cultivated plants
Trang 96 Effects and applicability:
Research results applied for studying and teaching student
Trang 10PHẦN MỞ ĐÂU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Để nâng cao chất lượng đào tạo thì việc đổi mới phương pháp giảng dạy
là biện pháp hết sức quan trọng Phương pháp giảng dạy lấy người học làm trung tâm đang dần thay thế cho phương pháp giảng dạy truyền thống, với sự thụ động của người học Hệ thống đào tạo theo tín chỉ và phương pháp lấy người học làm trung tâm cần trang thiết bị học tập đầy đủ, giáo cụ trực quan sinh động để làm tăng khả năng tư duy, nhận thức của người học
Ngành học trồng trọt có một số môn học cơ sở như Côn trùng, bệnh cây với đặc thù về nội dung là phải mô tả triệu chứng gây hại và nhận dạng hình thái của chúng Đặc biệt nhiều loài trong tự nhiên rất khó phân biệt và nhận dạng về màu sắc, kích cỡ, hình dạng nếu chỉ được học trên sách vở và nhận dạng qua hình ảnh vẽ đen trắng Mặt khác trong điều kiện học tập không phải thường xuyên bắt gặp tất cả các đối tượng gây hại tại một thời điểm, các giai đoạn phát triển, các loại hình biến thái của chúng Số lượng loài sâu, bệnh hại trên đồng ruộng rất đa dạng về thành phần loài và diễn biến phức tạp trên nhiều đối tượng cây trồng khác nhau Vì vậy để thuận lợi cho công tác chuẩn đoán, xác định được đúng loài dịch hại cần có bộ mẫu tiêu bản các loài dịch hại chính trên cây trồng Nâng cao kiến thức thực tế và tay nghề cho sinh viên
Xuất phát từ tình hình thực tế trên, chúng tôi thay mặt bộ môn Bảo vệ
thực vật, khoa Nông học trường Đại học Nông lâm tiến hành đề tài: ‘Nghiên
cứu thu thập và tư liệu hóa bộ tiêu bản sâu, bệnh hại cây trồng nông nghiệp phục vụ giảng dạy và học tập cho sinh viên ngành Trồng trọt”
2 Mục tiêu đề tài:
- Xây dựng được bộ tiêu bản gồm 10 tiêu bản bệnh hại, 10 tiêu bản sâu
hại cây trồng nông nghiệp
Trang 11Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1 Tình hình nghiên cứu trên thế giới
Phương pháp thu thập, xử lý và bảo quản mẫu cũng được nhiều tác giả trên thế giới đề cập, như tác giả M.E SCHAUFF (Phòng Thí nghiệm côn trùng học, Viện BTSH Mỹ) [6] có đưa ra một số phương pháp thu thập, xử lý và bảo quản mẫu côn trùng Một số phương pháp bảo quản mẫu như bảo quản lạnh, bảo quản mẫu khô, bảo quản trong giấy không thấm dầu, bảo quản trong dung dịch Một số tác giả khác như Lars Krogmann và Joachim Holstein cũng đưa ra một số phương pháp làm mẫu và bảo quản mẫu côn trùng tương tự [7] Một số tác giả khác như SIMON R LEATHER cũng đưa ra phương pháp lấy mẫu côn trùng trong hệ sinh thái rừng [8]
1.2 Tình hình nghiên cứu trong nước
Để xác định được thành phần dịch hại cây trồng, chủ yếu dựa vào công tác phân loại giám định Mà việc giám định phân loại có đạt được hay không là phần lớn phụ thuộc vào chất lượng mẫu vật và phương pháp bảo quản Nếu thu thập được nhiều thành phần loài mà bảo quản không đúng, gây hư hỏng, mất màu thì sẽ không giám định được hoặc không chính xác, vứt bỏ sẽ gây tốn kém
và mất thời gian cho nghiên cứu Do vậy công tác điều tra, thu thập mẫu, làm mẫu và bảo quản mẫu có một ý nghĩa hết sức quan trọng trong nghiên cứu Ngoài ra nó còn có ý nghĩa vô cùng to lớn phục vụ cho công tác học tập, giảng dạy tại nhà trường Mẫu vật bảo quản tốt sẽ giúp sinh viên dễ dàng nhận dạng dịch hại khi thực hành, thực tập ngoài đồng ruộng Từ đó xây dựng được biện pháp phòng trừ hợp lý nhất
1.2.1 Phương pháp thu thập và bảo quản mẫu côn trùng:
Đã có nhiều bài viết hướng dẫn cách điều tra, thu thập và làm mẫu bảo quản côn trùng như tác giả Trần Huy Thọ giới thiệu phương pháp điều tra thu thập sâu hại lúa Tác giả Lê Văn Trịnh giới thiệu phương pháp điều tra, đánh giá sâu hại rau [5] Tác giả Phạm Văn Cảm giới thiệu phương pháp làm mẫu và
Trang 12bảo quản mẫu vật côn trùng [3] Tùy thuộc từng loại côn trùng và mục đích sử dụng để chọn phương pháp làm mẫu phù hợp Phổ biến nhất có 3 phương pháp như sau:
1 Phương pháp làm mẫu khô hay mẫu cắm kim:
Những loài côn trùng có kích thước to, trung bình hoặc không quá nhỏ thuộc
bộ cánh thẳng, cánh nửa, cánh vẩy, cánh cứng, cánh màng thường được giữ mẫu theo phương pháp này
B1: Giết côn trùng:
* Bằng lọ độc Cyanure Kali (KCN),
Dùng lọ thủy tinh có nắp chặt kín (nút mài) cho 1 lớp KCN độ 5-10 ml, sau đó cho bột mùn cưa mịn lên trên, nén chặt xuống có độ dày 10mm Cho tiếp bột cao lanh lên trên, rưới nước đều, nện chặt lần 2, lượng nước vừa phải, nếu quá nhiều nước sẽ bị dính KCN sẽ tiếp xúc với hơi nước trong không khí tạo thành acid cyanhydric bốc hơi cho côn trùng bị chết ngạt
Đối với từng loại côn trùng to nhỏ mà dùng lọ độc rộng hay hẹp cho phù hợp Chú ý không nên bỏ chung các loại côn trùng thuộc bộ khác nhau ví dụ bỏ chung bướm với các loại côn trùng khác để tránh bị mất phấn và rách cánh
* Bằng hóa chất gây mê như: Chloroform (CHCl3), Ethyl acetate (CH3CO2 - C2H5)
Dùng bông thấm nước cho thấm dung dịch trên sau đó bỏ vào lọ để giết chết côn trùng Tùy theo loài côn trùng to hay nhỏ mà cho nhiều hay ít thuốc
mê Không nên để dính Chloroform, Ethyl acetate vào côn trùng se mất màu
* Bằng Carbone dioxide: Dùng acid citric tinh thể và soda bicarbonate qua tiếp xúc với nước sẽ tạo thành carbone dioxyde – Phương pháp này an toàn
và rẻ tiền Dùng một lượng nhỏ acid citric và soda bicarbonate bằng nhau đựng
ở đáy bình, đặt miếng xốp hoặc giấy lọc lên trên Khi cho côn trùng vào lọ dùng seringe cho vào ít nước hóa chất sẽ phản ứng tạo thành CO2 làm lạnh gây
Trang 13* Bằng nước sôi 99oC trong vòng từ 1-5 phút Đối với những loài côn trùng thân cứng, không có lông có thể dùng phương pháp này hoặc bằng cách cho vào ngăn đá tủ lạnh qua đêm
Đối với côn trùng to nên để đói ít nhất là 24 giờ để cho chúng bài tiết hết phân ra ngoài rồi mới đem giết Những côn trùng mới vũ hóa cũng phải giết sau 24 giờ vì để cho chúng cứng cáp thân thể
B3 Cắm kim
Kim côn trùng có nhiều loài từ nhỏ đến to theo số từ 1-5, sử dụng phụ thuộc vào kích cỡ côn trùng Tùy thuộc từng họ, bộ mà lỗ cắm kim khác nhau sao cho kim xuyên qua thân xuống giữa ổ xương chậu chân trước và chân giữa
là được Bộ cánh thẳng căm một bên mảnh lưng ngực trước, bộ cánh nửa cắm góc bên phải phiến thuẫn, bộ cánh cứng cắm vào giữa mảnh lưng ngực trước Cắm kim xong cắm vào miến gỗ hoặc xốp để điều chỉnh tư thế râu, chân Sau đó cắm côn trùng lên bàn căng như bướm, ong, ruồi Đặt côn trùng vào miếng xốp sao cho thân côn trùng lọt giữa 2 tấm gỗ, dùng panh chỉnh các mép cánh cho vuông góc với thân, dùng giấy chặn lên mặt cánh và dùng kim
cố định lại (hình 2)
Những loài côn trùng nhỏ thì cắm kim ngược ngắn hoặc dán lên trên bìa carton Có thể dán côn trùng lên bìa hình chữ nhật hoặc bìa nhọn ở 3 tư thế: Sấp, nghiêng, ngửa
Trang 14Sau khi cắm kim xong thì cắm nhãn ghi các thông tin thu thập như sau: Nhãn 1: Địa điểm và thời gian thu thập , tên cây trồng, tên người thu thập
Nhãn 2: Tên khoa học hay số ký hiệu
Nhãn 3: Tên họ côn trùng (Có thể gộp vào nhãn 2)
Cuối cùng mẫu được đưa vào tủ sấy, sấy ở nhiệt độ 50oC hoặc để phơi ra nắng bằng cách đậy giấy báo lại tránh ánh nắng trực tiếp để cho mẫu thật khô
2 Mẫu ngâm nước
Những loại côn trùng nhỏ, mình mềm không cắm kim được như rệp muội, rệp sáp, ong ký sinh nhỏ, nhện hoặc các loại sâu non, nhộng, trứng thì phải ngâm vào dung dịch ngâm côn trùng
Trước khi ngâm nên để sâu nhịn đói (đối với sâu lớn), sau đó ngâm vào nước nóng 80oC để sâu chết ở tư thế bình thường Sâu đã chết vớt ra bỏ vào dung dịch ngâm sâu (bảng 1)
Bảng 1 Các dung dịch ngâm côn trùng Tên
dung dịch
A.acetic glacial
Cồn
95 độ
Nước cất Formalin Chloroform Kerosone Glycerine
Trang 15Hình 1 Lọ độc giết côn trùng
HÌNH 2 MỘT SỐ HÌNH ẢNH MẪU CẮM KIM
Trang 17
Dung dịch KAA thường dùng để ngâm những loại sâu non to của các loài bướm, cánh cứng, ong với mục đích dùng để định loại, tối thiểu ngâm trong 2 giờ và không quá 24-36 giờ Nếu bảo quản tiếp thì ngâm trong cồn hoặc dung dịch ngâm sâu
Dung dịch cồn acetic thường được dùng để ngâm bọ trĩ, nhện Ngoài ra còn dùng dung dịch AGA Đối với rệp muội, rệp sáp nên dùng cồn lactic Cồn lactic gồm 2 phần cồn ethylic 95% và 1 phần acid lactic 75% Dung dịch ngâm côn trùng thường dùng ở nồng độ loãng, sâu dần dần đậm đặc
Dung dịch ngâm tổng hợp bao gồm: Formaline 8cc, cồn 95 độ 20 cc, acid acetic 10 cc, sacharose 3 gr Glycerine 3-5 cc, nước 100 cc
Trang 18B4: Nhuộm mẫu bằng acid fuschine ít nhất trong 2 giờ
B5: Rửa bớt thuốc nhuộm trong cồn 95o trong 2 phút, sau đó chuyển sang cồn tuyệt đối để làm khô
B6: Nhỏ dầu đinh hương trong 15 phút
B7: Cố định lên lame và gắn lamen
Có nhiều dung dịch gắn như dung dịch cải tiến của Hoyer gồm
- Keo đào (gum arabic): 50 gr
- Chloral hydrate: 125 gr
- Glycerine: 30 cc
- Nước cất: 50 cc
1.2.2 Phương pháp thu thập và bảo quản mẫu bệnh hại
Việc lựa chọn mẫu bệnh cho dù với mục dích giám dịnh hay nghiên cứu
về phân loại học đều phải hết sức cẩn thận Thời điểm thu mẫu cây bệnh thích hợp nhất là ở giai đoạn đầu hoặc giữa của bệnh, khi vi sinh vật hại vẫn đang ở trạng thái hoạt động Việc lựa chọn vị trí lấy mẫu trên cây bệnh cũng rất quan trọng Nguời thu thập mẫu bệnh cần phải có kiến thức cơ bản về triệu chứng bệnh và nguyên nhân gây bệnh để bảo đảm rằng mẫu lấy đựơc có vi sinh vật hại
Trang 19∗ Nhận dạng cây ký chủ Nếu chưa xác dịnh đuợc tên cây ký chủ thì phải lấy mẫu cây khỏe, đặc biệt là hoa và quả Nguời lấy mẫu phải bảo đảm rằng mẫu cây khỏe lấy về chính là cây ký chủ Ðiều này đặc biệt quan trọng khi lấy mẫu bệnh than đen và một số bệnh phá hủy hoa của một số loài trong họ Hòa thảo
vì những bệnh này thuờng phát triển trên những tập doàn ký chủ khác nhau
* Sử dụng túi giấy để lấy giữ mẫu bệnh Không bao giờ sử dụng túi nilon dể giữ mẫu tuơi vì mẫu vẫn có thể hô hấp, làm ẩm túi tạo điều kiện cho vi sinh vật hoại sinh xâm nhập và phát triển nhanh, phá hủy các mô thực vật Túi nilon chỉ
có thể đuợc sử dụng dể giữ các mẫu uớt trong thời gian ngắn
* Ðóng, gói mẫu cẩn thận để tránh va đập và hơi nuớc ngưng tụ Bề mặt ẩm
sẽ tạo điều kiện cho vi sinh vật hoại sinh phát triển, khiến cho mẫu bệnh không thể sử dụng được
* Sử dụng bút chì để viết nhãn (mực sẽ không thích hợp vì có thể bị nhòe khi
ẩm uớt)
1.2.2.1 Ðối với lá, thân và quả
Nên lấy mẫu lá có bề mặt khô ráo, nếu trong điều kiện mưa ẩm, bề mặt
lá uớt thì có thể dùng giấy báo thấm khô truớc khi kẹp mẫu giữa các lớp giấy báo hoặc các loại giấy thấm nuớc khác (không nên sử dụng giấy ăn vì khi uớt giấy an có thể tan rã ra và khó tách chúng ra khỏi mẫu lá) Khi ép và làm khô mẫu lá, cần chú ý rải lá ra sao cho không trùng lên nhau Nếu lá dày và mọng nuớc, cần thay giấy báo hàng ngày cho đến khi lá khô hẳn Khi lấy mẫu thân cây bị bệnh cần lấy ở vị trí bao gồm cả mô khỏe và mô bệnh Gói cẩn thận mỗi thân bệnh vào một tờ báo vì chúng rất dễ bị xây sát hoặc gãy khi được gói thành một bó chung Khi lấy mẫu quả mọng nuớc, thịt quả nhiều cần chọn những mẫu mới xuất hiện triệu chứng hoặc triệu chứng đang ở giai doạn giữa của sự phát triển Các vi sinh vật gây thối thứ yếu và hoại sinh thuờng xâm nhập quả ở giai đoạn cuối của sự phát triển bệnh, gây cản trở cho việc giám dịnh vi sinh vật gây bệnh Gói mỗi quả bệnh vào một tờ giấy báo riêng rẽ Không dùng túi nilon để gói mẫu quả
Trang 201.2.2.2 Ðối với rễ và đất
Thông thuờng các mô rễ hay các cấu trúc vi sinh vật hại ở vùng rễ thuờng rất mỏng manh Không nên nhổ cây vì có thể làm đứt rễ, không lấy đuợc phần rễ hay vi sinh vật hại, gây khó khăn cho việc giám dịnh
Lắc nhẹ để loại bỏ phần đất bám vào rễ, nếu có thể nên rửa rễ nhẹ nhàng (trong truờng hợp dịnh kiểm tra tuyến trùng thì không nên rửa) Trong đất có rất nhiều vi sinh vật hoại sinh xâm nhập vào các phần rễ đã chết hoặc đang chết, cản trở việc phân lập vi sinh vật gây bệnh Bọc rễ trong giấy báo để vận chuyển dến phòng thí nghiệm Các vi sinh vật hại trong đất thuờng không phân bố đồng đều mà có xu huớng tập hợp thành từng nhóm trong điều kiện thích hợp hoặc xung quanh điểm xâm nhiễm trên cây ký chủ Cách tốt nhất là nên lấy ngẫu nhiên một số mẫu đất
Ðất lấy mẫu nên ở độ sâu ít nhất 5-10cm so với mặt đất vì đây là vùng rễ cây nên vi sinh vật hại tập trung nhiều nhất
Nếu có thể nên lấy mẫu đất có chứa cả rễ cây, rễ có thể để lẫn trong đất hoặc để riêng Ðối với cây thân thảo, lấy khoảng 25-100 g rễ là đủ tùy thuộc vào loại cây, ví dụ đối với rau có thể lấy ít rễ (khoảng 25 g) trong khi đối với các loại cây có rễ to như chuối thì nên lấy nhiều hơn (khoảng 100 g) Ðối với cây thân gỗ có thể phải đào sâu tới 30 cm gần gốc cây hoặc đào đến khi nhìn thấy đường ranh giới giữa mô khỏe và mô bệnh Mẫu đất nên giữ trong túi nilon và đặt nhãn giấy hoặc nhựa vào bên trong túi (ghi nhãn bằng bút chì nếu dùng nhãn giấy) Nếu diều kiện không thể gửi mẫu di hoặc xử lý mẫu ngay thì nên bảo quản mẫu trong tủ lạnh tại 4 - 8 °C trong vài ngày mà không sợ mẫu bị hỏng
* PHƯƠNG PHÁP BẢO QUẢN MẪU
1 Mẫu côn trùng
Sau khi mẫu vật làm xong cắm vào khay đựng mẫu sấy thật khô rồi cho
Trang 21Trong hộp có bỏ Naphthaline hoặc băng phiến để chống mối mọt và thymol để chống mốc Thường xuyên kiểm tra mẫu định kỳ, nếu có mọt thì xử
lý hóa chất kho như CS2 hoặc Chloruapicrin bromua metyl
Mẫu lamen được xếp vào hộp đựng lame và bảo quản mẫu lam như mẫu bệnh cây
Trang 222 Mẫu bệnh cây
Tiêu bản khô
Mẫu cây bệnh và nấm bệnh được ép và làm khô bằng cách đặt chúng giữa các lớp giấy thấm hoặc giấy báo Dùng 2 tấm bìa dạng làn sóng ép các lớp giấy thấm hoặc giấy báo chứa mẫu lại với nhau Dùng 2 tấm gỗ (hoặc 2 tấm nguyên liệu cứng) ép chặt 2 mặt của khối mẫu rồi dùng dây buộc chặt lại tạo ra lực ép lên mẫu cây bệnh
Mẫu cây bệnh phải khô nhưng không được nhăn hoặc co lại Mẫu cây bệnh có thể đạt tiêu chuẩn sau vài ngày ép Ðể làm nhanh quá trình khô (đặc biệt là trong các khu vực khí hậu ẩm như các vùng nhiệt dới) nên dùng tủ sấy hoặc quạt Thay giấy thấm hoặc báo thuờng xuyên Tiếp tục quá trình ép đến khi mẫu bệnh khô hoàn toàn Có thể đặt mẫu ép duới ánh nắng mặt trời, trong phòng có máy diều hòa hoặc gần hơi nóng để thúc đẩy quá trình khô Thời gian
để mẫu khô hoàn toàn phụ thuộc vào loại mẫu cây và độ ẩm Lấy mẫu ra khỏi lớp giấy thấm hoặc báo ép quá sớm sẽ làm mẫu bị nhăn hoặc tạo điều kiện cho
Trang 23sau 5 -10 ngày Truớc khi để mẫu vào phòng tiêu bản phải xông hơi khử trùng hoặc đặt mẫu trong tủ đá (tủ lạnh sâu) để diệt nhện và côn trùng
Tiêu bản lam
Tiêu bản cố định bằng axit lactic có thể được hàn bằng cách dùng thuốc đánh móng tay quệt 2 – 3 lớp lên mép lamen Cách này có thể giữ cho tiêu bản lam không bị khô trong vài năm Dùng polyvinyl alcohol (dạng bột) hòa tan trong axit lactic để tạo ra chất keo gắn, cách này có thể giữ tiêu bản được lâu dài Có thể áp dụng quá trình loại nước trong trường hợp muốn giữ tiêu bản lam lâu dài Quá trình loại nuớc đòi hỏi phải ngâm mẫu cây hoặc nấm liên tục trong chuỗi các dung dịch cồn với nồng dộ tăng dần (ví dụ 40%, 50%, 60%, 70%, 80%, 90% và cồn nguyên chất 100%), mỗi nồng độ ngâm vài phút Bằng cách này có thể loại bỏ toàn bộ hàm lượng nước trong mẫu Làm sạch mẫu bằng xylene C6H4(CH3)2 và dán vào lam bằng các môi truờng như bôm Canada Tốt nhất không nên giữ tiêu bản lam trong các gói tiêu bản mà dùng các hộp dựng tiêu bản lam chuyên dụng Chú ý nên để các tấm bìa nhỏ ghi rõ
số truy cập ở dúng vị trí và chú thích nơi để lam tiêu bản
Trang 24CHƯƠNG II ĐỐI TƯỢNG, PHẠM VI, NỘI DUNG VÀ
PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
- Mẫu sâu, bệnh hại cây trồng nông nghiệp được thu thập tại Trường ĐH Nông lâm và khu sản xuất rau màu huyện Đồng Hỷ, Thái Nguyên
- Mẫu vật được xử lý, bảo quản làm tiêu bản phục vụ học tập
2.2 Nội dung và phương pháp nghiên cứu
2.2.1 Nội dung nghiên cứu:
- Thu thập mẫu sâu, bệnh hại cây trồng nông nghiệp
- Xử lý, bảo quản và làm tiêu bản sâu bệnh hại dạng khô và mẫu ngâm
- Thu thập và tư liệu hóa bộ ảnh triệu chứng sâu, bệnh hại cây trồng
Phương pháp nghiên cứu
- Thu thập mẫu sâu, bệnh theo phương pháp của Viện Bảo vệ TV [3,4] + Sâu hại: Sử dụng vợt, khay để thu thập trực tiếp mẫu Mẫu sau khi thu được bảo quản trong lọ nhựa có thông khí sau đó đem về phân loại, giám định tên loài Nếu loài trưởng thành lớn, sử dụng lọ độc giết sau đó đem về phân loại
+ Bệnh hại: Thu thập mẫu bệnh cây trên đồng ruộng, bảo quản trong túi giấy phục vụ giám định, xác định nguyên nhân gây bệnh
- Phân loại, giám định tên dịch hại: Theo khóa phân loại và quyển atlat côn trùng hại cây trồng nông nghiệp, Viện Bảo vệt thực vật [1], [2], [3],[4] Phương pháp phân loại, giám định định loài sâu, loại bệnh hại được thực hiện tại phòng thí nghiệm
Đối với sâu hại dựa vào đặc điểm hình thái và triệu chứng gây hại, ngoài
ra dựa vào khóa phân loại để định tên loài gây hại
Đối với bệnh hại được quan sát bằng mắt thường những triệu chứng điển
Trang 25- Xử lý và bảo quản mẫu: Theo phương pháp của Phạm Văn Cảm - viện BVTV và của Roger Shivas và Dean Beasley, 2005[5], [9]
+ Các loài côn trùng thuộc bộ cánh thẳng, cánh nửa, cánh cứng, hai cánh hoặc 1 số loài bộ cánh đều thu từng cá thể riêng lẻ vào ống tuýp mang về phòng để ngăn lạnh cho côn trùng chết và làm mẫu có thể dùng lọ độc để giết sau đó để tủ lạnh để bảo quản mẫu ngâm
+ Côn trùng cánh vảy giết chết bằng chất gây mê Ethyl acetate sau đó gói vào giấy parafin mang về làm mẫu
+ Trưởng thành bộ cánh thẳng, cánh nửa, cánh cứng phải được căng sao cho giống với tư thế đang đậu Cánh vẩy, cánh màng, hai cánh giống với tư thế đang bay
+ Sau khi mẫu được cố định, cho mẫu vào tủ sấy ở nhiệt độ 50-55oC trong 3-5 ngày và cứ 2 tuần sau sấy lại 1 lần (trong 1-2 ngày) trong 2 tháng, sau đó có thể 2 tháng sấy lại 1 lần Sau đó đưa mẫu vào khung gỗ nệm bông Mẫu ngâm: Sau khi mẫu thu được, phân loại, định tên sẽ được ngâm trong dung dịch cồn lactic gồm 2 phần cồn ethylic 95% và 1 phần acid lactic 75% Dung dịch ngâm côn trùng thường dùng ở nồng độ loãng, sâu dần dần đậm đặc Hoặc dung dịch ngâm tổng hợp bao gồm: Formaline 8cc, cồn 95 độ
20 cc, acid acetic 10 cc, sacharose 3 gr Glycerine 3-5 cc, nước 100 cc
+ Bệnh cây:
Mẫu bệnh sau khi thu thập từ ngoài đồng được trữ trong túi giấy, có nhãn ghi địa điểm, thời gian thu mẫu
Sau đó được phân lập và xác định nguyên nhân gây bệnh
Bảo quản mẫu tươi: Mẫu sau khi được giám định, dùng giấy báo thấm khô sau đó kẹp mẫu giữa các lớp giấy báo bằng hộp gỗ ép mẫu
Mẫu được thay giấy bọc thường xuyên làm khô mẫu, có thể kết hợp sấy nhẹ hoặc phơi nắng nhẹ
Bảo quản mẫu khô trong hộp lót bông gắn kín hoặc tủ lạnh sâu
Trang 26CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
3.1 Thu thập, phân loại mẫu côn trùng, bệnh cây
Kết quả thu thập mẫu trong vụ hè thu và thu đông năm 2016 như sau:
Bảng 3.1: Thành phần và số lượng mẫu côn trùng thu thập năm 2016
5 Bướm phượng Cây cam quýt Sâu non 5
(Papilio polytes L) Trưởng thành 5
6 Ve sầu vòi (Fulgora
candelaria L)
Cây nhãn, vải Trưởng thành 5
7 Xen tóc xanh lục Cây roi Trưởng thành 5
Trang 27Kết quả thu thập mẫu cho thấy, các mẫu thu được là những loài phổ sâu hại phổ biến trong sản xuất nông nghiệp như trên cây lương thực (lúa), rau màu
và cây ăn quả
Kết quả thu thập mẫu bệnh hại được thể hiện ở bảng 2
Bảng 3.2: Thành phần và số lượng mẫu bệnh hại thu thập năm 2016
ký chủ
Bộ phận gây hại
Số lượng mẫu
1 Bệnh đạo ôn
(Pyricularia oryzae)
Cây lúa Lá, cổ bông 10
2 Bệnh khô vằn hại lúa
Trang 283.2 Xử lý và bảo quản mẫu côn trùng, bệnh cây
Đề tài đã xử lý và bảo quản được 10 mẫu tiêu bản bệnh hại dạng hộp khô, 10 mẫu tiêu bản sâu hại dạng hộp khô và nhiều mẫu tiêu bản sâu dạng mẫu ngâm Hình ảnh mẫu cụ thể như sau:
3.3 Thu thập và tư liệu hóa bộ ảnh triệu chứng sâu, bệnh hại cây trồng
Hình ảnh triệu chứng gây hại và hình thái các pha phát triển của sâu, bào
Trang 29Sâu hại lúa: SÂU ĐỤC THÂN LÚA 2 CHẤM – Stem borer
TRIỆU CHỨNG GÂY HẠI (Scipophaga incertulas Walker)