Tình hình nghiên cứu về năng suất một số loại cỏ và ảnh hưởng của thức ăn đến khả năng sinh trưởng của thỏ trong nước .... Ảnh hưởng của cỏ Ghinê trong khẩu phần đến sinh trưởng và chuyể
Trang 1KHOA CHĂN NUÔI THÚ Y - -
Chủ nhiệm đề tài: TS Trần Thị Hoan
Thái Nguyên, tháng 3 năm 2017
Trang 2ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM KHOA CHĂN NUÔI THÚ Y - -
Trang 3ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM KHOA CHĂN NUÔI THÚ Y - -
(Ký, họ tên) (Ký, ghi rõ họ tên)
Trang 4DANH SÁCH NHỮNG THÀNH VIÊN THAM GIA
NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI VÀ ĐƠN VỊ PHỐI HỢP
I Những thành viên tham gia nghiên cứu đề tài
1 PGS.TS Từ Trung Kiên
2 ThS Hà Thị Hảo
3 TS Nguyễn Thị Thúy Mỵ
II Đơn vị phối hợp chính
Trại Chăn nuôi Gia cầm khoa Chăn nuôi Thú y, trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên
Trang 5MỤC LỤC
TÓM TẮT KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 8
ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC CẤP CƠ SỞ 8
SUMMARY 10
MỞ ĐẦU 1
1.1 Tính cấp thiết của đề tài 1
1.2 Mục tiêu của đề tài 2
Chương 1 3
TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3
1.1 Cơ sở khoa học của đề tài 3
1.1.1 Kỹ thuật trồng cây hòa thảo 4
1.1.2 Cây họ đậu 7
1.1.3 Một số loại cây khác 12
1.1.3.1 Rau muống (Ipomoea aquatica) 12
1.1.4 Nguồn gốc phân loại và đặc điểm tiêu hóa của thỏ 14
1.1.5 Đặc điểm giống thỏ NewZealand 20
1.2 Tình hình nghiên cứu trên thế giới và trong nước 20
1.2.1.Tình hình nghiên cứu về năng suất một số loại cỏ và ảnh hưởng của thức ăn đến khả năng sinh trưởng của thỏ ở trên thế giới 20
1.2.1 Tình hình nghiên cứu về năng suất một số loại cỏ và ảnh hưởng của thức ăn đến khả năng sinh trưởng của thỏ trong nước 23
Chương 2 25
NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 25
2.1 Đối tượng nghiêncứu 25
2.2 Địa điểm và thời gian nghiên cứu 25
2.2.1 Địa điểm nghiên cứu 25
2.3 Nội dung nghiên cứu 25
2.4 Phương pháp nghiên cứu 26
3.5 Phương pháp xử lý số liệu 29
Chương 3 30
Trang 6KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 30
3.1 Nghiên cứu năng suất và sản lượng một số giống cỏ hòa thảo, cây họ đậu và các cây thức ăn khác 30
3.1.1 Thành phần dinh dưỡng đất thí nghiệm 30
3.1.2 Khí tượng khu vực thí nghiệm năm 2016 30
3.1.3 Tỷ lệ sống của cây thức ăn thí nghiệm 31
3.1.4 Năng suất chất xanh trung bình của các cây thức ăn thí nghiệm 33
3.1.5 Sản lượng tươi, vật chất khô và protein của các cây thức ăn 34
3.2 Ảnh hưởng của cỏ Ghinê trong khẩu phần đến sinh trưởng và chuyển hóa thức ăn của thỏ 36
3.2.1 Ảnh hưởng của cỏ Ghinê trong khẩu phần đến sinh trưởng và chuyển hóa thức ăn của thỏ 36
3.2.2 Ảnh hưởng của cỏ Ghinê trong khẩu phần đến tỷ lệ tiêu hóa thức ăn của thỏ 37
3.2.3 Hiệu quả kinh tế 37
KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 39
TÀI LIỆU THAM KHẢO 40
Trang 7DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 2.1: Thành phần hóa học của hai loại phân thỏ 17
Bảng 3.1 Thành phần dinh dưỡng đất thí nghiệm 33
Bảng 3.2 Giá trị trung bình về khí tượng Thái Nguyên năm 2016 34
Bảng 3.3 Tỷ lệ sống của các cây thức ăn thí nghiệm sau trồng 30 ngày 35
Bảng 3.5 Năng suất các lứa cắt của các cây thức ăn (tạ/ha/lứa) 36
Bảng 3.6 Sản lượng tươi, vật chất khô và protein của các cây thức ăn (tấn/ha/năm) 38
Bảng 3.7 Ảnh hưởng của cỏ ghinê đến khả năng sinh trưởng và chuyển hóa thức ăn 39 Bảng 3.8 Tỷ lệ tiêu hóa thức ăn trong khẩu phần ăn của thỏ 40
Bảng 3.9 Sơ bộ hạch toán kinh tế (VNĐ/con) từ 40-45 ngày đến kết thúc thí nghiệm 41
Trang 8DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
ADF (Acid detergent fibre) : Xơ axit
CP (Gude protein) : Protein thô
CF (Crude fibre) : Xơ thô
DM (Dry matter) : Vật chất khô
EE (Ether extract) : Béo thô
FCR (Feed conversion ratio) : Hệ số chuyển hóa thức ăn
Trang 9TÓM TẮT KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC CẤP CƠ SỞ
1 Tông tin chung:
Tên đề tài:“Xây dựng mô hình tập đoàn cây thức ăn phục vụ sinh viên thực tập, rèn nghề và sử dụng cỏ trong nuôi thỏ thịt tại trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên”
Mã số: T2016- 09
Chủ nhiệm đề tài:
TS Trần Thị Hoan ĐT: 0988 520 086
Email: tranthihoan@tuaf.edu.vn
Cơ quan chủ trì đề tài: Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên
Cơ quan và cá nhân phối hợp:
- Trại chăn nuôi gia cầm khoa Chăn nuôi Thú y
Cá nhân:
PGS TS Từ Trung Kiên – Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên
Thời gian thực hiện: Tháng 3/2016 – T12/2016
- Đánh giá khả năng sinh trưởng của thỏ Newzealand White
4 Kết quả nghiên cứu đã đạt được:
Đã xây dựng được 18 giống cỏ khác nhau làm mô hình cho sinh viên rèn nghề và thực tập nghề nghiệp, trong đó có 11 giống cỏ hòa thảo, 3 giống cây họ đậu, 4 loại cây thức ăn khác
Tỷ lệ sống của các cây thức ăn cho gia súc gia cầm trồng tại vườn tiêu bản khoa Chăn nuôi Thú y đạt khá cao, từ 70,55 đến 100 %
Năng suất trung bình của các cây thức ăn trồng tại vường tiêu bản khoa Chăn nuôi Thú y dao động từ 50,39 đến 378,30 tạ/ha/lứa, trong đó NSTB đạt cao nhất là cỏ VA06 (378,30 tạ/ha/lứa) còn thấp nhất là cây lạc dại 50,39 tạ/ha/lứa
Trang 10Sản lượng VCK, protein cao nhất ở cỏ VA06 lần lượt là 21,033; 2,527 tấn/ha/năm, sản lượng VCK thấp nhất ở cỏ lạc dại (chỉ đạt 3,110 tấn/ha/năm), còn sản lượng protein thấp nhất là cây sắn 0,518 tấn/ha/năm
Khả năng sinh trưởng của thỏ New Zealand khi ăn khẩu phần thay thế 25 % thức
ăn hỗn hợp bằng cỏ ghinê tương đương với thỏ nuôi bằng khẩu phần có 100 % thức ăn hỗn hợp, kết quả này giảm dần khi tăng lượng cỏ ghinê trong khẩu phần
Tiêu tốn thức ăn tăng dần khi tăng hàm lượng cỏ ghinê trong khẩu phần (từ 3,34 đến 6,56 kg VCK/kg tăng trọng) Khả năng thu nhận và tiêu hóa vật chất khô, CP, NDF, ADF cao nhất ở khẩu phần 100 % thức ăn hỗn hợp và giảm dần khi tăng hàm lượng cỏ trong khẩu thay thế thức ăn hỗn hợp
Hiệu quả kinh tế đạt cao nhất ở lô thay thế 25 % thức ăn hỗn hợp bằng cỏ ghinê nên sử dụng mức này để chăn nuôi thỏ trong nông hộ
5 Sản phẩm:
Sản phầm khoa học: 01 bài báo đăng trên tạp chí Đại học Thái Nguyên
Sản phẩm ứng dụng: Tạo ra mô hình tập đoàn cây thức ăn cho gia súc và gia cầm
6 Hiệu quả và khả năng áp dụng
Hiệu quả đạt được tropng đề tài là đã xác định được mức thay thế thích hợp nhất thức ăn hỗn hợp bằng cỏ ghinê nên sử dụng mức này để chăn nuôi thỏ trong nông hộ
Áp dụng rất tốt trong chăn nuôi thỏ thịt
Trang 11Ordinating agency: Thai Nguyen University of Agriculture and Forestry
Cooperating agency and or individuals:
- Faculty of Animal science and Veterynary medicine
Individuals:
Tu Trung Kien - Thai Nguyen University of Agriculture and Forestry
Duration: from 3/2016 to 12/2016
1 Objectives:
- Developing of the green feed system for student’ pratical
- Number of scientific data on the growth capacity of Newzealand white rabbit
2 Content of study
Evaluate the productivity and yield of some grasses, legumes and some other plant
Evaluate the growth capacity of Newzealand white rabbit
3 Main results obtained
We had 18 different plant species as a model for studying of students, including
11 varieties grasses, legumes 3, 4 other plants
The survival rate of these plants are very high and ranged from 70.55 to 100% The average productivity of the feed stuff on the field of faculty of Animal science and veterinary medicine ranged from 50.39 to 378.30 quintal/ha/harvest, in which the highest average productivity was VA06 grass (378.30 quintal/ha/harvest) while the lowest was Arachis pintoy (50.39 quintal/ha/harvest)
VA06 grass had the highest DM yield and protein as 21.033; 2.527 ton/ha/year,
in respectively; the lowest DM yield was Arachis pintoy (only 3.110 ton/ha/year), while the lowest protein yield was cassava (0.518 ton/ha/year)
The performance of NewZealand white rabbits using the diets was replace 25%
of complete pallet feed by Panicum maximum as the same as rabbits fed the diets with
Trang 12100% complete pallet feed, and then the result reduced when the grass increase in the diet of rabbit
FCR increased gradually with increasing the levels of Panicum maximum in the diet (from 3.34 to 6.56 kg DM /kg body weight gain) Feed intake ability and digestion
of dry matter, CP, NDF, ADF were highest in the diet had 100% complete pellet feed and decreasing when the levels of grass increased in the diet
Economic efficiency is highest at 25% of complete pellet feed was replace by Panicum maximum, so that we should use this level to raising rabbits in households
Scientific product: 01 article published in the journal of TNU
Applications: had a model for growing cattle and poultry
Trang 13MỞ ĐẦU
1.1 Tính cấp thiết của đề tài
Thực hiện theo chủ trương của Bộ Giáo dục và Đào tạo về đổi mới toàn diện và căn bản nền giáo dục Đảng ủy, Ban Giám hiệu trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên
đã có nhiều chủ trương chính sách để nâng cao chất lượng dạy và học, đào tạo ra các cử nhân thú y, kỹ sư chăn nuôi, kỹ sư nuôi trồng thủy sản phù hợp với nhu cầu của các Doanh nghiệp và cơ quan tuyển dụng Ngoài những thay đổi căn bản trên giảng đường, Nhà trường còn chú trọng phát triển các mô hình rèn nghề ngoài thực địa để bổ sung những kiến thức thực tế cho sinh viên Xuất phát từ chủ trương đó hàng loạt các mô hình như: Trại Chăn nuôi lợn, Chăn nuôi gia cầm, Bệnh xá thú y, mô hình nuôi thỏ đã được thành lập và phục vụ thực hành và rèn nghề cho gần một nghìn lượt sinh viên mỗi năm Tuy nhiên, trong năm 2015 diện tích đất sử dụng cho rèn nghề đồng cỏ và cây thức ăn tại khu vực trại lợn cũ của Nhà trường đã bị thu hồi phục vụ cho xây dựng khu Công nghệ cao Vì vậy, mỗi năm hơn năm trăm sinh viên chuyên ngành Chăn nuôi Thú
y, Thú y và gần năm trăm sinh viên của ngành Kinh tế Nông nghiệp, Khuyến nông, Nông lâm kết hợp không có địa điểm rèn nghề, thực tập nghề nghiệp học phần đồng cỏ
và cây thức ăn
Mặt khác, ở nước ta gần đây chăn nuôi thỏ đã phát triển rất nhanh Nhiều giống thỏ ngoại đã được nhập nhằm tăng năng suất chăn nuôi Thỏ ngoại có tốc độ sinh trưởng nhanh nên khẩu phần ăn cho chúng cần có hàm lượng protein cao và cân bằng dinh dưỡng tốt Ở nước ngoài thỏ thường được chăn nuôi theo kiểu công nghiệp sử dụng thức ăn viên hỗn hợp hoàn chỉnh đáp ứng tốt nhu cầu của chúng Trong khi đó, khi nhập vào Việt Nam phần lớn thỏ ngoại vẫn được nuôi ở nông hộ và người chăn nuôi vẫn sử dụng thức ăn xanh trong khẩu phần Đó một phần là do thức ăn viên hỗn hợp hoàn chỉnh cho thỏ chưa được sản xuất phổ biến Mặt khác, người dân muốn tận dụng cây cỏ sản xuất tại chỗ để nuôi thỏ Khả năng sử dụng cây cỏ làm thức ăn là một lợi thế làm cho con thỏ ngày càng trở nên quan trọng, nhất là đối với những người dân nghèo nông thôn và miền núi Tuy nhiên, chất lượng khẩu phần thường là một yếu tố hạn chế chính trong chăn nuôi thỏ Do vậy, để phát triển chăn nuôi thỏ ngoại có hiệu quả kinh tế cao
và bền vững thì việc nghiên cứu tìm các khẩu phần ăn hợp lý trên cơ sở phối hợp các nguồn cây cỏ với thức ăn hỗn hợp là cần thiết, nhằm một mặt khai thác được tối đa các nguồn thức ăn có thể sản xuất tại chỗ, mặt khác vẫn phát huy được tiềm năng sinh trưởng nhanh của các giống thỏ nhập nội Trong các loại thức ăn xanh thì cỏ Ghinê là
Trang 14loại cỏ mềm, gia súc thích ăn và thường được người dân sử dụng để nuôi thỏ Mục tiêu của để tài còn muốn xác định được mức thay thế thích hợp thức ăn viên hỗn hợp bằng
cỏ Ghinê và đánh giá được khả năng sinh trưởng của thỏ thịt New Zealand
Xuất phát từ thực tế trên chúng tôi tiến hành đề tài: “Xây dựng mô hình tập đoàn cây thức ăn phục vụ sinh viên thực tập, rèn nghề và sử dụng cỏ trong nuôi thỏ thịt tại trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên”
1.2 Mục tiêu của đề tài
- Xây dựng được mô hình tập đoàn cây thức ăn phục vụ sinh viên rèn nghề và thực tập nghề nghiệp
- Số liệu khoa học về khả năng sinh trưởng của thỏ New Zealand
Trang 15Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1 Cơ sở khoa học của đề tài
Cây thức ăn là cụm từ dùng để chỉ tất cả các loại thực vật gồm cây cỏ hoà thảo, cây đậu thân thảo hay thân gỗ và những cây khác, được sử dụng để làm thức ăn gia súc (chủ yếu là động vật nhai lại) Khái niệm cây thức ăn hàm chứa cả cây thức ăn tự nhiên
và cây thức ăn được trồng với mục đích sử dụng làm thức ăn cho gia súc Ngoài ra những cây này còn có thể được sử dụng vào việc quản lý tốt hơn nguồn tài nguyên như bảo vệ đất chống xói mòn, làm tăng độ mầu mỡ của đất và hạn chế cỏ dại
Cây thức ăn được chia thành hai nhóm lớn sau:
- Cây hoà thảo:
Đặc điểm của nhóm này thường là những cây lâu năm, phần lớn là cây thân thảo,
có khi thân bụi và thân gỗ, có đốt rỗng, rễ chùm, tái sinh nhanh, có năng suất cao, ngon miệng đối với gia súc Thông thường chúng chiếm tỷ lệ cao trong toàn bộ khẩu phần ăn của gia súc nhai lại Cây hoà thảo là nguồn thức ăn cung cấp năng lượng chủ yếu cho gia súc nhai lại Tuy nhiên, hầu hết các loại hoà thảo chứa hàm lượng protein thấp, chỉ vào khoảng 5 - 14 % so với vật chất khô (VCK), tỷ lệ này phụ thuộc vào các yếu tố như
di truyền, dinh dưỡng của đất, mùa vụ, tuổi thu hoạch,… Cây hoà thảo rất quan trọng vì phần lớn cây làm thức ăn cho gia súc và được sử dụng rộng rãi, chúng có tỷ lệ dinh dưỡng cao, toàn diện, đặc biệt là lượng gluxit và có tỷ lệ dinh dưỡng cân bằng nhất và chúng có khả năng chịu đựng tốt sự thu hoạch, dễ chế biến và nhất là ít độc với gia súc
- Cây họ đậu:
Đặc điểm của cây họ đậu là rễ cọc và có nốt sần, nơi vi khuẩn Rhizobium hoạt
động cố định đạm, là cây thân thảo, thân gỗ hay thân bụi, với nhiều kiểu sinh trưởng Đặc điểm quan trọng nhất của nhóm này là loại thức ăn xanh có hàm lượng protein cao, khoảng 15 - 25% trong VCK, đó là chưa kể tới lượng Ca, P và vitamin A, D Cây họ đậu chứa nhiều Ca, Mg, S, Cu nhưng lại ít Mn, Zn Cây họ đậu là nguồn cung cấp nitơ quan trọng cho gia súc nhai lại để thoả mãn nhu cầu của vi sinh vật dạ cỏ của gia súc Nguồn nitơ này ảnh hưởng lớn đến quá trình phân giải thức ăn của dạ cỏ Nếu bữa ăn kém chất lượng thì các vi sinh vật dạ cỏ không thể phân giải thức ăn một cách hiệu quả
và hậu quả là gia súc sẽ không thu nhận đủ thức ăn để sinh trưởng, phát triển tốt để làm việc, tăng trọng hoặc cung cấp sữa
Trang 16Cây họ đậu cũng rất có ý nghĩa trong đồng cỏ kết hợp, nó giúp tăng năng suất và giá trị dinh dưỡng của loại đồng cỏ này Ngày nay, cây họ đậu giữ vị trí quan trọng trong chăn nuôi trâu bò, đây là nguồn thức ăn cung cấp giàu protein Ngoài ra do có vi khuẩn cố định đạm sống cộng sinh nên cỏ họ đậu có thể lấy được 1/2 lượng nitơ trong cây và có khả năng cải tạo đất rất tốt Hàng năm cây họ đậu cho 100 - 400 kg N/ha
Bên cạnh những ưu việt trên, cây họ đậu có nhược điểm lớn là độ ngon miệng, năng suất thấp, chiếm tỷ lệ nhỏ (10 - 30% ở đồng cỏ ôn đới và không đáng kể ở đồng cỏ nhiệt đới) Gia súc thường ăn cây họ đậu ít hơn cây hoà thảo Hơn nữa, một số cây họ đậu có chứa độc tố nhóm glycoside và chất kháng dinh dưỡng, nên nếu bổ sung với tỷ lệ cao loại này cho gia súc dạ dày đơn thì chúng có thể bị trúng độc Tuy nhiên, với động vật nhai lại thì liều gây độc cao hơn do khu hệ vi sinh vật trong dạ cỏ có khả năng phân giải những độc tố này
Trong mô hình tập đoàn cây thức ăn có những cây họ đậu như sau: Cây keo dậu
(leucaena leucocephala), cây cỏ stylo (Stylosanthes guianensis), cỏ lạc dại ( A Pintoi) Ngoài cây họ đậu và cây hòa thảo, trong tập đoàn cây thức ăn còn có cây sắn, cây chè đại, khoai lang, rau muống,
1.1.1 Kỹ thuật trồng cây hòa thảo
Tại mô hình tập đoàn cây thức ăn của chúng tôi, có các loại cây cỏ hòa thảo như sau: cỏ VA06, cỏ Voi, cỏ Ruzi, cỏ Mulato 1, cỏ Mulato 2, cỏ Goatemala, cỏ ghinê
Hamin, cỏ Ghinê TD58, cỏ Brachiria Brizantha, cỏ Brachiria Decumben, Paspalum A tratum Từ 11 giống, dòng cỏ trên, kỹ thuật trồng chia thành 2 loại: cây thân đứng (cỏ
VA06, cỏ Voi), cây thân bụi (cỏ Goatemala, cỏ Ghinê Hamin, cỏ Ghinê TD58,
Paspalum A tratum, cỏ Brachiria Brizantha, cỏ Brachiria Decumben, cỏ Ruzi, cỏ
Mulato 1, cỏ Mulato 2)
1.1.1.1 Cỏ hòa thảo thân đứng
Cỏ hòa thảo thân đứng trong mô hình gồm cỏ voi (Pennisetum purpureum), cỏ VA06 (Varime số 6)
Thời vụ trồng: Từ tháng 2 đến tháng 6, tốt nhất tháng 2 đến tháng 3
Chuẩn bị đất: Đất trồng ở nơi đất thấp có độ ẩm cao Cày và bừa đảo (2 lần) làm
tơi đất, làm sạch cỏ dại và san phẳng mặt đất trồng Rạch hàng sâu 20 – 25 cm theo hướng Đông - Tây, khoảng cách hàng là 60 – 80 cm Đất trồng cỏ voi và cỏ VA06 cày ở
độ sâu 20 - 25 cm
Trang 17Phân bón: Đầu tư cho 100 m2 cỏ trồng
Giống: Sử dụng loại thân giống có độ tuổi 80 - 100 ngày và được chặt vát thành
hom có độ dài 50 - 60 cm/hom Mỗi hom có 3 - 5 mắt mầm Tốt nhất lấy phần thân bánh tẻ Sử dụng 60 đến 70 kg hom giống/100 m2
Cách trồng: Đất sau khi rạch hàng và bón phân đầy đủ theo quy định, đặt hom
theo lòng rãnh, đặt hom này gối lên nửa hom kia nối nhau, dùng cuốc lấp kín hom một lớp đất 3 - 5cm và đảm bảo mặt đất bằng phẳng sau khi lấp hom giống
Chăm sóc: Sau khi trồng 10 - 15 ngày, tiến hành kiểm tra tỷ lệ này mầm (mầm
nhô lên mặt đất) Trồng dặm những chỗ bị chết và làm cỏ phá vách (tránh không chạm
và thân giống đã trồng) Dùng cuốc làm cỏ dại 2 - 3 lần trước khi cỏ lên cao phủ kín đất trồng Bón thúc 1 - 2 kg urê/100m2 khi cỏ ở giai đoạn 20 - 25 ngày tuổi Sau mỗi lần thu hoạch, chăm sóc làm cỏ dại một lần và bón thúc phân đạm khi cỏ tái sinh lá mới (sau khi thu hoạch 15 ngày)
Thu hoạch: Thảm cỏ được thu hoạch khi cỏ đạt 35 - 50 ngày tuổi Khoảng cách
những lần thu hoạch tiếp theo là 30 - 45 ngày, khi thảm cỏ có độ cao khoảng 80 - 120
cm Mỗi lần thu hoạch lưu ý cắt gốc ở độ cao 5 cm trên mặt đất và cắt sạch, không để lại mầm cây, để cho cỏ mọc lại đều Cứ sau mỗi lần thu hoạch và cỏ ra lá mới lại tiến hành bón thúc bằng đạm urê
1.1.1.2 Cỏ hòa thảo thân bụi
Cỏ Ghinê(Panicum maximum), cỏ Goatemala (Tripsacum laxum), Cỏ Brachiria Brizantha, cỏ Brachiria Decumben, cỏ Brachiria Ruzi, cỏ BrachiriaMulato1, cỏ BrachiriaMulato 2
Những loại cỏ này sinh trưởng nhanh, phát triển thành cụm khóm, có năng suất cao, có khả năng chịu hạn và các điều kiện kham khổ Cỏ có khả năng chịu được hạn và bóng râm
Thời vụ trồng: Từ tháng 2 đến tháng 9, tốt nhất tháng 2 đến tháng 3
Chuẩn bị đất: Cày vỡ đất với độ sâu 20 cm, bừa và cày đảo (cày 2 lần), bừa tơi
Trang 18đất, làm sạch cỏ dại và san phẳng mặt đất trồng Rạch hàng với khoảng cách 40 - 50 cm,
sâu 15 cm (trồng bằng thân khóm) và 7 - 10 cm (gieo bằng hạt)
Phân bón: Đầu tư cho 100 m2 trồng cỏ:
Các loại phân hữu cơ, lân, kali dùng bón lót theo hàng; phân đạm bón chia đều cho mỗi lần thu hoạch trong năm và bón thúc
Giống: Khóm cỏ giống chuẩn bị bằng cách tách ra từ cụm lớn, trồng bằng thân,
khóm sử dụng 40 - 60 kg/100 m2 và được chuẩn bị như sau: Khóm cỏ Ghinê, Goatemala làm giống được xén bỏ phần lá ngọn để lại gốc cao khoảng 25 - 30 cm Dùng cuốc đánh khóm cỏ, đập rũ đất khỏi gốc rễ, cắt bớt rễ dài để lại còn 4 - 5 cm Sau đó tách khóm thành các cụm nhỏ liền khối, đảm bảo mỗi cụm có 3 - 4 thân nhánh tươi Sử dụng 40 đến 60 kg hom giống/100m2
Cách trồng: Đất sau khi rạch hàng, bón phân theo quy định, đặt từng cụm giống
vào thành hàng rạch với khoảng cách 20 - 25 cm/ khóm, Đặt hom, để hở phần ngọn,dùng cuốc lấp kín ½ độ dài của thân giống (phần gốc) lấp đất dày 10 cm và dùng chân dậm chặt đất lấp phần gốc để rễ cỏ tiếp xúc chặt với đất tạo điều kiện giữ độ ẩm, nhanh nảy mầm và đạt tỷ lệ sống cao (Nếu dùng hạt, gieo rải đều theo hàng rạch và dùng đất nhỏ lấp kín hạt một lớp mỏng hoặc dùng tay khỏa đều hạt với đất theo hàng trồng)
Chăm sóc: sau khi trồng 15 - 20 ngày kiểm tra tỷ lệ sống, những chỗ không có
mầm mọc thì trồng bổ sung Nếu là cây con mọc từ hạt thì phải chờ đén khi phân biệt rõ (rất dễ nhầm lẫn với cỏ dại mọc) mới chăm sóc cỏ trong hàng và trồng tỉa bổ sung Chăm sóc làm cỏ dại 2 lần trước khi cỏ phát triển tốt phủ đất Dùng phân đạm bón thúc khi thảm cỏ nảy mầm xanh và sau khi làm cỏ dại
Thu hoạch: Thu hoạch cỏ Ghinê cho lứa đầu sau khi trồng 45 - 55 ngày
Trong mùa mưa, lứa tái sinh cứ 25 - 30 ngày sau lại được thu cắt, mùa khô lứa tái sinh khoảng 40 - 50 ngày, khi thu cắt, độ cao gốc cắt từ 6 - 8 cm Sau khi thu hoạch cỏ xới ngay cho đất tơi xốp và làm sạch chế cỏ dại
Trang 191.1.2 Cây họ đậu
1.1.2.1.Cây keo dậu (Binh linh, táo nhơn, me, …) leucaena leucocephala
Keo dậu có nguồn gốc ở Trung, Nam, Mỹ và quần đảo Thái Bình Dương ở nước
ta keo dậu mọc tự nhiên ở vùng ven biển miền Trung, một số giống nhập vào nước ta từ australia
Keo dậu là cây chịu hạn rất tốt có thể duy trì bộ lá xanh trong suốt mùa khô Nó
có thể làm cây bóng cho các cây khác nên thường được chọn làm cây che bóng cho vườn chè, cà phê, rau Có thể sinh trưởng trên nhiều loại đất nhưng phải là đất thoát nước và không quá chua (pH > 5) nó ưa đất nhiều mùn, pH trung tinh hoạc hơi kiềm Thích hợp với những vùng có lượng mưa > 800 mm/năm, khí hậu vùng nhiệt đới chịu lạnh và sương muối kém
Năng suất chất xanh dùng làm thức ăn gia súc khá biến động tuỳ theo giống, đất đai, sự chăm sóc Ở nước ta năng suất chất xanh 40 –45 tấn/ha/năm Nếu sản xuất bột từ
lá cây có thể thu được 4-5 tấn/ha/năm Ở Ấn Độ người ta còn có thể thu được 20- 25 tấn/ha/năm Ngoài cành lá non làm thức ăn gia súc, nó còn có khả năng cung cấp lượng củi lớn làm chất đốt, và làm giầu cho đất thông qua bộ rễ có nốt sần
Keo dậu có thể trồng được ở rất nhiều nơi khác nhau như trồng tập trung để thu cắt chất xanh hay làm hàng rào, trồng làm đường đồng mức để chống sói mòn, trồng dọc các bờ mương máng Mặc dù trồng với mục đích tận thu nhưng năng suất chất khô
có thể đạt là 13 tấn/ha/năm
Về giá trị dinh dưỡng
Keo dậu là loại cây thức ăn thô xanh có giá trị dinh dưỡng cao Ngọn lá keo dậu tươi thường có từ 30-31% chất khô; protein thô 21- 25%; xơ thô 17-18%; khoáng tổng
số 6-8%; mỡ 5-6% ngoài ra keo dậu còn rất dầu caroten, vitamin, các chất khoáng đa
vi lượng khác
Keo dậu là cây thức ăn rất tốt cho gia súc cho sữa (bò, dê ) Cành lá keo dậu có thể phơi khô giũ lấy lá nghiền nhỏ làm bột cỏ cho gia súc gia cầm ăn rất tốt Trâu bò sữa cho ăn lá keo dậu có thể cho năng suất sữa tăng trung bình 10- 15% Gà đẻ trứng, gà thịt
ăn lượng 3% trong khẩu phần có tác dụng làm lòng đỏ trứng có mầu vàng sáng, da, chân và mỡ gà có mầu vàng đáp ứng thị hiếu người tiêu dùng, làm tăng giá trị sản phẩm, và tỷ lệ ấp nở, nuôi sống cũng tăng lên
Hạn chế: Trong lá, cành non và hạt có chứa độc tố mimosin nếu gia súc ăn quá nhiều có thể dẫn đến tình trạng rụng lông ở ngựa và trâu bò, làm giảm trọng lượng gia súc
Trang 20Kỹ thuật trồng:
Làm đất như các trồng như đối với các cây khác Rạch hàng cách nhau 70-80 cm
và cây cách cây 15-20 cm Nếu trồng theo đường đồng mức thì nên trồng 2-3 hàng so le nhau và hang cách hàng 50-60cm
Phân bón:
Bón lót:
Phân chuồng 10 tấn/ha
Kali clorua 150 kg/ha
Tất cả lượng phân này bón trước khi bừa lần cuối và hàng năm phải vun đất xung quanh gốc và bón phân cho cây vào đầu xuân
Thời vụ gieo trồng:
Thời vụ tốt nhất là tháng 4 Không nên trồng vào trước giai đoạn tháng 4 vì đó là thời kỳ phát triển của rệp nên ngọn cây thường bị tàn phá Trong trường hợp trồng sớm phát hiện thấy có rệp thì phải phun thuốc trừ rệp với chu kỳ 15 ngày/lần Mật độ trồng
là 20 kg/ha
Hạt cần được xử lý như sau:
Dùng nước lã rửa nhanh hạt để làm ướt hạt Đổ nước sôi 90- 1000C với lượng nước gấp 2 lần hạt Giữ cho nhiệt độ ổn định ở 70- 750C trong 4-5 phút Gạn hết nước,
đổ thêm nước lã ngập hạt, ngâm tiếp 6-10 giờ, sau đó gạn nước đi, thêm đất bột hoặc tro
đẻ gieo cho dễ Gặp đất khô hay thời tiết không thuận lợi thì sau khi xử lý hạt bằng nước nóng 4-5 phút đổ ra phơi khô ngay và đem bảo quản nơi khô ráo Khi thời tiết thuận lợi đem đi gieo mà không cần xử lý nữa Hạt đã qua xử lý không để quá 1 tháng Trường hợp trồng làm hàng rào có thể giâm hạt vào bầu Cây con cao 30- 40 cm có thể đem đi trồng như trồng rừng vẫn làm Mật độ trồng làm hàng rào thì tùy mục đích người
sử dụng
Hạt sau khi qua xử lý đem gieo theo hàng đã rạch sâu 7-10 cm, lấp sâu 4-5 cm Với lượng hạt 20 kg/ha Tỷ lệ nẩy mầm là 75%, trung bình 1m dài theo hàng gieo 20 hạt Nếu trồng bằng cây con thì cây cách cây là 10cm
Sau khi gieo hạt 7-10 ngày thì kiểm tra mức mọc của cây Cần trồng dặm lại những cây
đã chết Sau khi cây đã mọc 15 ngày cần làm cỏ đợt đầu Xới đất giữa hàng, nhổ cỏ trong hàng 20-30 ngày sau lần làm cỏ đợt đầu Xới lần hai thì chỉ cần xới với mục đích ngăn không cho cỏ phát triển ức chế keo lớn là được
Trang 21Thu hoạch và chế biến:
Khi cây cao 1,5- 1,6m có thể thu hoạch lứa đầu Thông thường phải mất 4-5 tháng mới đạt được độ cao này Khi thu hoạch để chừa lại phần gốc 70cm Các lứa sau thu hoạch sau 40-45 ngày và để lại nhánh tái sinh 5cm Một năm keo dậu cho thu hoạch
từ 4-5 lứa từ tháng 5 đến tháng 12 Keo dậu thu hoạch được nhiều năm và phải mất 5-6 năm mới phải trồng lại Từ năm thứ hai trở đi chỉ cần làm cỏ và bón phân vào đầu xuân
Có thể cho trâu, bò, dê tho ăn tươi bằng cách cắt về hay chăn thả ngoài cánh đồng, có thể cho trâu bò ăn từ 35- 40% trong khẩu phần
1.1.2.2 Cỏ Stylo
Cỏ Stylo là loại cây bộ đậu có khả năng thích nghi lớn đặc biệt là với khí hậu nhiệt đới Là cây có khả năng thích nghi rộng với các vùng sinh thái, yêu cầu lượng mưa từ 1500 – 2500mm Cỏ có thể sống được ở những vùng có lượng mưa trung bình khoảng 890 mm Tuy nhiên, với lượng mưa 650mm cây vẫn có thể sống được nhưng sinh trưởng rất kém, ở những nơi mùa khô kéo dài 7 – 8 tháng cây vẫn sống nhưng kém Vào mùa khô Độ ẩm không khí thích hợp là 70 – 80% Cỏ Stylo cũng có thể chịu được ngập tạm thời, ở những nơi quá ẩm, năng suất cỏ cũng bị giảm Cỏ Stylo phát triển tốt khi nhiệt độ không khí trong khoảng 20 – 350C Với nhiệt độ dưới 15,50C sinh trưởng của cỏ không ngừng trong khi nhiều hoà thảo không sống được Khi nhiệt độ dưới 50C
và trên 400C cây phát triển kém Đây là loại cỏ có khả năng chịu bóng kém vì vậy không nên trồng dưới tán các cây khác Ánh sáng có ảnh hưởng tích cực tới lượng chất xanh, nếu bị che nắng năng suất sẽ giảm
Thời vụ gieo trồng
Tùy theo nguồn giống mà thời vụ gieo trồng như sau:
- Nếu gieo hạt: Thời vụ tốt nhất là đầu mùa mưa (tháng 3 – 4 đối với miền Bắc
và tháng 5 – 6 đối với miền Nam)
- Nếu dùng cành giâm: Thời vụ tốt nhất là giữa mùa mưa (tháng 7 – 8)
Chuẩn bị đất
Yêu cầu làm đất kỹ như trồng cỏ Voi (cầy, bừa 2 lần) Cầy sâu 15 – 20 cm, bảo đảm đất tơi nhỏ, hạt đất có đường kính < 1 cm phải chiếm 70 – 80%, còn lại là chấp nhận hạt đất có đường kính 2 – 5cm
Giữa 2 lần cày bừa nên cách nhau 10 – 15 ngày để diệt được nhiều mầm cỏ dại trước khi gieo trồng
Phân bón
Trung bình mỗi ha trồng cỏ Stylo cần lượng phân bón như sau:
Trang 22- Phân chuồng hoai mục: 10 – 15 tấn, bón lót toàn bộ theo hàng rạch
- Super lân: 300 – 350 kg Bón lót toàn bộ theo hàng rạch
- Đạm urê: 50 kg Bón thúc khi cây cao 5 – 10 cm
Nếu đất chua thì bón lót thêm vôi bằng cách rải đều khi cày bừa Liều lượng là 0,5 tấn vôi/ha khi pH = 5
Chuẩn bị giống
Cỏ Stylo có khả năng thích ứng rộng và dễ nhân giống, có thể vừa trồng bằng hạt, vừa trồng bằng cành giâm
Có hai cách thiết lập như sau:
- Trồng bằng hạt: hạt sạch, có tỉ lệ nảy mầm từ 60 – 90%, tùy theo độ nảy mầm
Khả năng xen canh: cỏ Stylo co thể xen canh với rất nhiều loại cỏ hoà thảo như xen với pangola, ghinê để làm đồng cỏ chăn thả Xen với cỏvoi và các cỏ khác theo
Trang 23băng để thu cắt chất xanh tăng chất lượng thức ăn Cỏ Stylo trồng dưới tàn cây công nghiệp dài ngày như chè, cà phê, cao su làm thức ăn gia súc, phủ đất giữ ẩm và chống xói mòn
Chăm sóc
Khi cây mọc cao khoảng 5 – 10 cm thì tiến hành xới xáo cho đất tơi xốp Thảm cỏ cần được chăm sóc và nhổ cỏ dại 2 – 3 lần từ sau khi gieo trồng đến khi cây sinh trưởng khép tán Bón thúc phân đạm khi cây con mọc cao 5 – 10 cm là thời gian cây chưa có khả năng cố định đạm thông qua hệ vi khuẩn nốt sần cộng sinh Khoảng
2 tháng tuổi xới cỏ một lần nữa, tạo điều kiện cho cỏ phát triển tốt
Chỉ nên chăn thả gia súc sau khi thảm cỏ đã thu cắt chất xanh được 2 lứa
Độ cao gốc cỏ còn lại sau khi thu hoạch khoảng 20 – 25 cm là thích hợp cho khả năng mọc tái sinh lại của cỏ
1.1.2.3 Lạc dại (Arachis pintoi)
Lạc dạilà cây họ đậu thuộc loại thân bò, sinh trưởng vô hạn, hoa có màu vàng tươi, hạt nhỏ (8-12mm x 4-6mm), màu nâu nhạt, rễ có nhiều nốt sần có khả năng cố định đạm từ nitơ khí trời rất tốt Ghi nê dễ trồng, sinh trưởng, phát triển nhanh, có thể thích ứng với nhiều loại đất từ đất xấu bạc màu, nghèo dinh dưỡng, đất đồi núi dốc đến đất cát, đất chua mặn ven biển
Lạc dại là cây đa tác dụng: có thể trồng thuần dạng đồng cỏ hoặc xen với các loại cỏ khác để vừa nhằm bảo vệ, cải tạo đất trống đồi núi trọc rất tốt (có khả năng cố định đạm từ 200-300kg N/ha/năm hoặc với lượng chất xanh có thể cung cấp cho đất mỗi năm 595kg N/ha, 140kg P2O5/ha và 200kg K2O/ha), vừa cắt chất xanh làm phân xanh hay làm thức ăn cho chăn nuôi gia súc như trâu, bò, dê, cá… với khối lượng bình quân 150 tấn chất xanh/ha/năm (vì trong thân, lá có hàm lượng đạm rất cao, từ 2,5-3%N) hoặc trồng xen che phủ ở các vườn cây ăn quả, trồng che phủ thành các băng chống xói mòn trên vùng đất dốc cho các loại cây ngắn ngày (ngô, đậu)
- Chuẩn bị hom giống: Cắt sát gốc khi cây đang ở giai đoạn bánh tẻ, lá bắt đầu chuyển sang màu hơi vàng, cao 30-40cm
Trang 24- Chuẩn bị đất trồng: Phát, xới sạch cỏ dại đem tủ vào gốc cây ăn quả, dùng cuốc
xẻ rãnh sâu 20-25cm, hàng cách nhau 25-30cm Với những nơi đất dốc nên trồng theo đường đồng mức hoặc theo từng băng rộng, hẹp tùy địa hình để có tác dụng chống xói mòn cho đất Trồng cách gốc cây ăn quả khoảng 50-100cm
- Trồng theo lối áp tường, mỗi cụm gồm 2-3 hom cành cách nhau 10-15cm Lấp đất kỹ, dện chặt cho nhanh bén rễ Nếu có điều kiện thì tưới nhẹ vừa đủ ẩm
- Chăm sóc: Sau trồng 25-30 ngày cây lạc bắt đầu bén rễ, nẩy chồi, lúc này nên nhổ cỏ cho ghi nê bằng tay để tránh bật gốc, chết cây Với những nơi trồng thuần thành đồng
cỏ thì sau khoảng 3-4 tháng có thể cắt cây để làm giống nhân rộng ra hoặc làm phân xanh, làm thức ăn cho gia súc Cắt xong, làm cỏ, xới đất cho tơi xốp và tưới đủ ẩm cho cây tiếp tục sinh trưởng, phát triển cho các lứa cắt tiếp theo
1.1.3 Một số loại cây khác
1.1.3.1 Rau muống (Ipomoea aquatica)
Chuẩn bị đất: Trồng rau muống cạn đất được cày bừa kỹ làm sạch cỏ dại Lên
luống, mỗi luống rộng: 1,2 - 1,5 m, cao: 15 - 20 cm
Phân bón: Đầu tư cho 100m2 trồng cỏ:
Các loại phân hữu cơ, lân, kali dung bón lót theo hàng; phân hữu cơ hoại mục 50 -
100 kg, Supe lân 2,0 - 2,5 kg, Sulfat kali 1,0 - 2,0kg phân đạm urê
Bón thúc chia đều cho mỗi lần thu hoạch trong năm 3 - 3,5kg
Giống: Loại rau muống giống trắng Khi trồng chọn ngọn bánh tẻ, dài 20 - 25 cm
trồng ngay sau khi hái làm giống.Lượng giống trồng 60 - 70 kg ngọn rau giống /100m2
Cách trồng: Trồng theo hàng rạch sẵn, rãnh sâu 15 cm Khoảng cách khóm cách
khóm: 10 -15 cm, mỗi khóm trồng 2 - 3 ngọn, đặt hơi xiên, lấp đất dày 10 - 15 cm khoảng 4 - 5 đốt nén chặt và tưới nước
Kỹ thuật chăm sóc: Sau khi trồng 15 - 25 ngày, xới phá váng và diệt cỏ dại bón
thúc
Thu hoạch: Rau muống thu hái cho lứa đầu sau khi trồng được 25 - 35 ngày, khi
thu cắt, để lại độ cao gốc từ 2 - 3 đốt
1.1.3.2 Rau Lang (Ipomoea batatas)
Chuẩn bị đất: Cày vỡ đất với độ sâu 20cm, bừa và cày đảo (cày 2 lần), bừa tơi đất,
làm sạch cỏ dại và san phẳng mặt đất trồng, lên luống bề ngang rông 1m, cao 30 - 40
cm rãnh luống rông 20 cm sâu 25 cm tiện cho thoát nước,
Phân bón: Đầu tư cho 100m2 trồng cỏ:
Các loại phân hữu cơ, lân, kali dung bón lót theo hàng; Phân hữu cơ hoại mục 50 -
Trang 25100 kg, Supe lân 2,0 - 2,5 kg, Sulfat kali 1,0 - 2,0 kg, phân urê bón thúc sau khi trồng mới, lúc có đẻ nhánh và sau mỗi lần thu hoạch3,0 - 3,5 kg
Giống: Sử dụng giống khoai lang Hoàng Long Trồng bằng thân, giống tốt 3 - 4
tháng tuổi Sau khi cắt, xén bỏ phần ngọn non, nếu dài cắt thành đoạn 35 - 40cm có từ 6
- 7 mắt, mập, không sâu bệnh trồng hom ngon bánh tẻ cho năng suất cao hơn hom gốc
bó thành từng bó 5 - 7 kg bằng dây mềm để thân cỏ không bị dập nát Để 2 ngày cho các mắt đâm rễ mới khi đem trồng sẽ ra rễ và đâm chồi nhanh hơn, tỉ lệ sống cao Lượng giống trồng 65 - 75 kg hom giống/100m2
Cách trồng: Rạch hàng ở giữa luống sâu 15 - 18 cm, đặt hom giữa rãnh mỗi hom
cách nhau 15 - 20 cm lấp đất chặt, ngọn hom nhô khỏi mặt luống 10 cm
Kỹ thuật chăm sóc: Sau khi trồng 15 - 25 ngày, xới phá váng và diệt cỏ dại, bón
thúc
Thu hoạch: Rau lang thu cắt than lá lứa đầu sau khi trồng được 35 - 45 ngày
tuổi Trong mùa mưa, lứa tái sinh cứ 25 - 30 ngày sau lại được thu cắt, mùa khô lứa tái sinh khoảng 40 - 50 ngày, khi thu cắt, độ cao gốc cắt từ 6 - 8 cm Sau khi thu hoạch cỏ cần xới ngay cho đất tơi xốp và làm sạch cỏ dại
1.1.3.3 Chè đại (Trichanthera gigantean)
Chuẩn bị đất trồng: Cày vỡ đất với độ sâu 20cm, bừa và cày đảo (cày 2 lần), bừa tơi đất, làm sạch cỏ dại và san phẳng mặt đất trồng
Phân bón: Đầu tư cho 100m2 trồng chè đại:
Các loại phân hữu cơ, lân, kali dung bón lót theo trồng Phân hữu cơ hoại mục 50 -
100 kg; supe lân 2,0 - 2,5 kg, sulfat kali 1,0 - 2,0 kg Phân urê bón thúc sau khi trồng mới, lúc có đẻ nhánh và sau mỗi lần thu hoạch 3,0 - 3,5 kg
Giống: Trồng bằng thân, giống tốt 3 - 4 tháng tuổi, cắt thành đoạn 20-30cm có ít
nhất 2 cặp lá hay 2 đốt để khi trồng ít nhất 1 đốt được vùi dưới đất để ra rễ, đốt nằm trên mắt đất ra lá, hom bánh tẻ cho năng suất cao hơn hom gốc bó thành từng bó 5 - 7
kg bằng dây mềm để thân cỏ không bị trầy sước,dập nát
Cách trồng: Trước khi trồng các hom giống ươm 15 - 20 ngày cho mầm non xuất
xiện thì đem trồng, bổ hố trồng 4 hom /1m2 sâu 15 - 20cm hom cách nhau 45 - 50 cm lấp đất chặt, ngọn hom nho lên khỏi mặt luống 10 - 15cm
Kỹ thuật chăm sóc: Sau khi trồng 15 - 25 ngày, xới phá váng và diệt cỏ dại, bón
thúc
Thu hoạch: Chè đại thu hái lá lứa đầu sau khi trồng được 100 - 120 ngày thu
cắt Lứa tái sinh cứ 90 - 100 ngày sau lại được thu cắt Sau khi thu hoạch cần xới ngay
Trang 26cho đất tơi xốp và làm sạch cỏ dại, bón thúc
1.1.4 Nguồn gốc phân loại và đặc điểm tiêu hóa của thỏ
độ phòng trừ dịch bệnh được hình thành
Ngày nay nhờ áp dụng những tiến bộ khoa học hiện đại, con người đã chọn lọc, lai tạo được nhiều giống thỏ quý để lấy thịt, lông, da đáp ứng được nhu cầu của con người và chăn nuôi thỏ đã góp phần đáng kể vào nền kinh tế quốc dân ở nhiều nuớc trên thế giới
Theo Đinh Văn Bình và cs (2008) [1], nguồn gốc thỏ là giống thỏ rừng
Oryctolagus Cuniculus domesticies được xác định trên cơ sở thực nghiệm cho phối
giống giữa thỏ nhà với thỏ rừng thành công, nhưng thỏ nhà và thỏ rừng đều không phối giống được với thỏ đồng Sự khác biệt về đặc điểm sinh học giữa thỏ đồng với thỏ rừng và thỏ nhà còn được thể hiện qua một số đặc điểm ngoại hình:
Thỏ đồng nhỏ hơn thỏ rừng (khối lượng khoảng 1,5–2,5kg), chân và tai dài hơn Thỏ đồng chửa 42 ngày, để 2–3 con/lứa, con mới để đã có lông, mở mắt và chạy ra khỏi
mẹ Thỏ rừng chửa 30 ngày, đẻ từ 10–12 con, thỏ sơ sinh không có lông, chưa mở mắt
và không đi được (các đặc điểm này giống thỏ nhà) Thịt thỏ rừng trắng còn thịt thỏ đồng màu đỏ sẫm
1.1.4.2 Đặc điểm tiêu hóa củathỏ
*Đặc điểm cơ quan tiêuhóa
Ống tiêu hóa: Miệng, thực quản, dạ dày, ruột non, manh tràng, ruột già, ruột thẳng, hậu môn
- Miệng:Thỏ có công thức răng như sau:
Hàm trên: RC2 RN0 RH6
Hàm dưới: RC1 RN0 RH5
Trang 27Một nửa hàm trên có 2 răng cửa và 6 răng hàm, không có răng nanh Răng cửa trước lớn, cạnh răng vát ở đầu hàm răng từ ngoài vào trong, cong lồi ra phía ngoài, có một đường soi ở mặt ngoài răng Răng cửa phía sau thô kệch và hoàn toàn bị che lấp bởi răng cửa phía trước Vành răng hàm bằng phẳng, mọc nghiêng vào bên trong, răng hàm thứ nhất và răng hàm cuối cùng nhỏ hơn các răng hàm khác Giữa răng hàm và răng cửa
có 1 khoảng trống không có răng
Mỗi nửa hàm dưới có 1 răng cửa và 5 răng hàm cũng phân cách bởi 1 khoảng trống không có răng Răng cửa không có đường soi, vành răng không bằng phẳng mọc nghiêng ra phía ngoài Răng hàm sau cùng nhỏ nhất, răng hàm đầu tiên lớn nhất
- Thực quản: Thực quản chạy dài song song với đốt sống cổ và tận cùng đến dạ dày
Hình 1.1 Bộ máy tiêu hóa của thỏ (Đinh Văn Bình, 2008) [1]
Trang 28- Dạ dày: Thỏ có dạ dày đơn giống như dạ dày ngựa, co giãn tốt nhưng co bóp yếu Dạ dày thỏ luôn luôn chứa đầy thức ăn Nếu dạ dày lép kẹp hoặc chứa tạp chất thể lỏng là thỏ bị bệnh, phân thải ra sẽ nhão không thành viên
- Ruột non: Ruột non của thỏ dài 4-6m, gồm tá tràng, không tràng và hồi tràng
- Manh tràng: Manh tràng của thỏ là một túi mù thông với đoạn nối giữa ruột non
và ruột già Manh tràng của thỏ lớn gấp 5-6 lần dạ dày và có khả năng tiêu hoá chất xơ nhờ hệ vi sinh vật cộng sinh gồm có protozoa, nấm và vi khuẩn có lợi Nếu một yếu tố nào đó làm mất cân bằng của hệ vi sinh vật cộng sinh này (như stress, cho uống kháng sinh, khẩu phần nhiều mỡ nghèo xơ, hay qua nhiều bột đường, v.v.) thì các loại vi khuẩn gây hại sẽ phát triển và sản sinh ra độc tố có hại cho thỏ Nếu thiếu thức ăn thô thì dạ dày và manh tràng trống rỗng, gây cho thỏ có cảm giác đói Nếu ăn thức ăn nghèo
xơ hoặc ăn rau xanh, củ quả chứa nhiều nước, nẫu nát, dễ phân huỷ thì làm thỏ rối loạn tiêu hoá như tạo khí nhiều, phân không tạo viên cứng, đường ruột căng khí, đầy bụng và
ỉa chảy
- Ruột già:
Ruột già của thỏ gồm kết tràng và trực tràng Kết tràng được chia ra làm 2 phần, một phần lồi, tròn và nổi lên, một phần hẹp, có hình ống nối liền với trực tràng nằm trong xoang chậu Tỷ lệ dung tích các bộ phận đường tiêu hóa của thỏ cũng khác so với của các gia súc khác Ở thỏ manh tràng lớn nhất
Đặc điểm cấu tạo đường tiêu hóa ở thỏ là: dạ dày đơn, co giãn tốt nhưng co bóp rất yếu, đường ruột dài 4-6m, manh tràng lớn hơn dạ dày có khả năng tiêu hóa chất xơ nhờ hệ vi sinh vật; kết tràng được chia thành 2 phần: phần trên có nhiều lớp vân cuộn sóng, phần dưới nhẵn trơn Manh tràng dài 40-45cm với đường kính 3- 4cm, chứa 100-120g hỗn hợp nhão đồng nhất với khoảng 22% là vật chất khô Phần đuôi manh tràng 10-12cm có đường kính nhỏ dần ở phần cuối, vách của nó gồm các mô bạch huyết Kết tràng chia làm hai phần, phần trên có nhiều lớp cơ vân cuộn sóng, phần dưới nhăn và trơn (Lebas
và cs,1997 [27])
Theo Đinh Văn Bình và Nguyễn Quang Sức (2011) [2], manh tràng là một túi nhỏ bịt một đầu phân nhánh từ trục ruột non - ruột già Các nghiên cứu về sinh lý cho thấy rằng túi chứa này tạo thành một phần của đường tiêu hóa Các chất chứa bên trong dịch chuyển
từ gốc đáy đến đỉnh đầu bịt đi qua vùng giữa của manh tràng rồi quay lại gốc đáy dọc theo thành manh tràng Sau manh tràng là ruột già dài khoảng 1,5m