1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Nghiên cứu tạo sản phẩm trứng gà isa shaver brown giàu omega 3 tại trại chăn nuôi gia cầm khoa chăn nuôi thúy

86 299 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 86
Dung lượng 1,11 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn của đề tài Cân đối khẩu phần dầu hạt lanh vào công thức thức ăn hỗn hợp của gà đẻ sẽ nâng cao năng suất và chất lượng trứng gà, đặc biệt cung cấp k

Trang 1

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM KHOA CHĂN NUÔI THÚ Y - -

BÁO CÁO TỔNG KẾT

ĐỀ TÀI KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ CẤP TRƯỜNG

Tên đề tài:

NGHIÊN CỨU TẠO SẢN PHẨM TRỨNG GÀ ISA SHAVER BROWN

GIÀU OMEGA-3 TẠI TRẠI CHĂN NUÔI GIA CẦM

KHOA CHĂN NUÔI THÚ Y

Trang 2

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM KHOA CHĂN NUÔI THÚ Y - -

BÁO CÁO TỔNG KẾT

ĐỀ TÀI KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ CẤP TRƯỜNG

Tên đề tài:

NGHIÊN CỨU TẠO SẢN PHẨM TRỨNG GÀ ISA SHAVER BROWN GIÀU

OMEGA-3 TẠI TRẠI CHĂN NUÔI GIA CẦM

KHOA CHĂN NUÔI THÚ Y

Trang 3

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM KHOA CHĂN NUÔI THÚ Y - -

BÁO CÁO TỔNG KẾT

ĐỀ TÀI KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ CẤP TRƯỜNG

Tên đề tài:

NGHIÊN CỨU TẠO SẢN PHẨM TRỨNG GÀ ISA SHAVER BROWN GIÀU

OMEGA-3 TẠI TRẠI CHĂN NUÔI GIA CẦM

KHOA CHĂN NUÔI THÚ Y

Mã số : T2016- 10

Chủ nhiệm đề tài Xác nhận của Hội đồng nghiệm thu

(Ký, họ tên) (Ký, ghi rõ họ tên)

Trang 4

DANH SÁCH NHỮNG THÀNH VIÊN THAM GIA

NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI VÀ ĐƠN VỊ PHỐI HỢP

I Những thành viên tham gia nghiên cứu đề tài

6 TS Nguyễn Hưng Quang

II Đơn vị phối hợp chính

Trại Chăn nuôi Gia cầm khoa Chăn nuôi Thú y – trường ĐHNL – Thái Nguyên.

Trang 5

MỤC LỤC

DANH MỤC CÁC BẢNG

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

TÓM TẮT KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC CẤP CƠ SỞ

SUMMARY

MỞ ĐẦU 1

1 Đặt vấn đề 1

2 Mục tiêu của đề tài 1

3 Ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn của đề tài 2

3.1 Ý nghĩa khoa học 2

3.2 Ý nghĩa thực tiễn 2

Chương 1.TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3

1.1 Cơ sở khoa học của đề tài 3

1.1.1 Cấu tạo cơ quan sinh dục của gia cầm 3

1.1.2 Một số đặc điểm sinh học sinh sản của gia cầm đẻ trứng 6

1.2 Những hiểu biết về gà đẻ trứng thương phẩm Isa shaver 19

1.3 Lipit trong thức ăn chăn nuôi 20

1.3.1 Giới thiệu chung 20

1.3.1.1 Nguồn gốc: 20

1.3.1.2 Đặc điểm cấu tạo 20

1.3.1.3 Tính chất lý hóa học 20

1.3.2 Vai trò của lipit với cơ thể động vật 21

1.3.3 Một số loại axit béo không no 22

1.4 Tình hình nghiên cứu bổ sung dầu vào thức ăn chăn nuôi 25

1.4.1 Tình hình nghiên cứu trên thế giới 25

1.4.2 Nghiên cứu trong nước 27

Trang 6

Chương 2.ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN

CỨU 29

2.1 Đối tượng, địa điểm và thời gian nghiên cứu 29

2.1.1 Đối tượng nghiên cứu 29

2.1.2 Địa điểm và thời gian nghiên cứu 29

2.2 Nội dung 29

2.2.1 Nội dung nghiên cứu 29

2.2.2 Phương pháp nghiên cứu 29

2.2.2.1 Bố trí thí nghiệm: Nghiên cứu ảnh hưởng của việc bổ sung dầu hạt lanh đến năng suất và chất lượng trứng gà Isa shaver 29

2.2.2.2 Các chỉ tiêu và phương pháp theo dõi 30

2.2.3 Phương pháp xử lý số liệu 32

Chương 3.KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 33

3.1 Tỷ lệ nuôi sống của gà thí nghiệm 33

3.2 Khối lượng gà trước và sau thí nghiệm 34

3.1.3 Tỷ lệ đẻ của gà thí nghiệm 35

3.1.4 Năng suất trứng của gà thí nghiệm 38

3.1.5 Chất lượng trứng gà thí nghiệm 40

3.1.6 Thành phần hóa học và hàm lượng omega-3, 6, 9 trong trứng gà thí nghiệm 42

3.1.7 Ảnh hưởng của dầu hạt lanh đến độ đậm màu của lòng đỏ trứng 44

3.1.8 Khả năng tiêu thụ thức ăn của gà thí nghiệm 45

3.1.9 Hiệu quả sử dụng và chuyển hóa thức ăn 45

3.1.10 Hiệu quả kinh tế 47

KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 49

1 Kết luận 49

2 Đề nghị 49

TÀI LIỆU THAM KHẢO 1

Trang 7

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 3.1 Tỷ lệ nuôi sống của gà thí nghiệm 33

Bảng 3.2 Khối lượng gà trước và sau khi kết thúc thí nghiệm (kg) 34

Bảng 3.3 Tỷ lệ đẻ qua các tuần của gà thí nghiệm (%) (n = 3) 36

Bảng 3.4 Năng suất trứng gà thí nghiệm qua các tuần đẻ 38

Bảng 3.5 Một số chỉ tiêu chất lượng trứng gà thí nghiệm (n=40) 40

Bảng 3.6 Thành phần hóa học và tỷ lệ omega-3, 6, 9 trong trứng gà (n=5) 42

Bảng 3.6 Thành phần hóa học và tỷ lệ omega-3, 6, 9 trong trứng gà (n=5) 42

Bảng 3.8 Ảnh hưởng của việc bổ sung dầu hạt lanh đến tiêu tốn, chi phí thức ăn cho 10 quả trứng 46

Bảng 3.9 Hiệu quả kinh tế trong thời gian làm thí nghiệm 48

Trang 8

DANH MỤC SƠ ĐỒ VÀ ĐỒ THỊ

Bảng 2.1 Sơ đồ bố trí thí nghiệm 30 Hình 3.1: Đồ thị tỷ lệ đẻ qua các tuần của gà thí nghiệm 37

Trang 9

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

TTTA : Tiêu tốn thức ăn VCK : Vật chất khô KPCS : Khẩu phần cơ sở TN1 : Lô thí nghiệm 1 TN2 : Lô thí nghiệm 2

Trang 10

TÓM TẮT KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC CẤP CƠ SỞ

1 Thông tin chung:

Tên đề tài:“Nghiên cứu tạo sản phẩm trứng gà Isa Shaver brown giàu

omega-3 tại trại Chăn nuôi gia cầm khoa Chăn nuôi Thú y”

Mã số: T2016- 10

Chủ nhiệm đề tài:

PGS.TS Từ Trung Kiên ĐT: 0902 119 828

Email: tutrungkien@tuaf.edu.vn

Cơ quan chủ trì đề tài: Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên

Cơ quan và cá nhân phối hợp:

- Trại chăn nuôi gia cầm khoa Chăn nuôi Thú y

Cá nhân:

TS Trần Thị Hoan – Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên

Thời gian thực hiện: Tháng 1/2016 – 12/2016

2 Mục tiêu

- Xây dựng được đàn gà để sinh viên thực hành, thực tập và rèn nghề

- Tạo ra sản phẩm trứng gà mang thương hiêu Nhà trường

3 Nội dung chính

- Đánh giá năng suất trứng của gà đẻ

- Đánh giá chất lượng trứng của gà đẻ

4 Kết quả chính đạt được

Thí nghiệm được tiến hành trên 270 gà đẻ thương phẩm giống Isa Shaver giai đoạn từ 49-56 tuần tuổi, được chia làm 3 nghiệm thức, mỗi nghiệm thức 30 con, lặp lại 3 lần (30 x 3 = 90 con/nghiệm thức) Thức ăn thí nghiệm là dầu hạt lanh (DHL) được bổ sung với các tỷ lệ 0; 0,5 và 1% vào khẩu phần cho gà đẻ và không cân đối lại năng lượng Kết quả cho thấy: Khi bổ sung dầu hạt lanh vào khẩu phần đã làm tăng tỷ lệ đẻ và năng suất trứng/mái, làm giảm tiêu tốn và chi phí thức ăn cho 10 trứng, với sự sai khác có ý nghĩa thống kê giữa mức bổ sung

Trang 11

0,5% dầu hạt lanh (lô TN1) so với mức 0% DHL (lô ĐC) và mức bổ sung 1% DHL (lô TN2) với p < 0,001, còn lô TN2 lớn hơn lô ĐC nhưng sai khác không

có ý nghĩa thống kê với p > 0,05 Bổ sung dầu hạt lanh vào khẩu phần làm tăng khối lượng trứng, khối lượng lòng trắng, lòng đỏ, vỏ nhưng không có sự sai khác thống kê so với lô đối chứng, ngoại trừ khối lượng lòng đỏ ở lô TN2 sai khác có

ý nghĩa thống kê so với lô TN1 và ĐC với p < 0,05

5 Sản phẩm:

Sản phẩm đào tạo: 01 đề tài tốt nghiệp đại học

Sản phầm khoa học: 01 bài báo đăng trên tạp chí Đại học Thái Nguyên Sản phẩm ứng dụng: 400 gia cầm đẻ và trên 1000 trứng giàu omega-3

6 Hiệu quả và khả năng áp dụng

Hiệu quả đạt được trong đề tài là đã xác định được tỷ lệ bổ sung dầu hạt lanh thích hợp nhất trong khẩu phần gà đẻ Áp dụng tốt trong chăn nuôi gà Isa Shaver

Trang 12

SUMMARY

1 Information

Project title: “Study to create egg product rich in omega-3 on Isa Shaver

brown laying hen at Poultry farm of Faculty of Animal science and Veterinary medicine”

- Had a group of laying hen for study of student

- Create egg product for Thai Nguyen University of Africulture and Forestry

3 Content of study

Evaluate the egg productivity of laying hen

Evaluate the egg quality of laying hen

4 Main results obtained

The experiment was carried out on 270 Isa shaver laying hens ta 49-56 weeks of age, were divided into three treatments, each treatment was repeated 3 times with 30 hens/group (30 x 3 = 90 hens/treatment) Linseed oil was added to the rate of 0, 0.5 and 1% in diets of laying hens without rebalancing of energy and feed for feeding The results showed that: adding linseed oil in the diet was increased the survival rate, egg production/hen, was reduced feed consumption per 10 eggs and the cost of feed per 10 eggs, with significant different between treatment 1 with control treatment and treatment 2 with p < 0.001, but no

Trang 13

significant different between treatment 2 with control treatment with p > 0.05 Supplying 0.5% linseed oil into the diet did not effect on egg weight but also increases the rate of egg yolk, egg shell, but reduced egg white, thereby increased the rate of egg yolk per egg white However, at the rate of 1% linseed was added to the diet to reduce egg weight, egg yolk, egg shell, but increase the rate of egg white to compared with control treatment

5 Production

Education product: 01 thesis

Scientific product: 01 article published in the journal of TNU

Applications: had 500 laying hen and over 1000 eggs rich in omega- 3

6 Effectiveness and applicability

The result of the study was to determine the optimum percentage of linseed oil added in the layer chicken diet Apply well in raising Isa Shaver chicken

Trang 14

MỞ ĐẦU

1 Đặt vấn đề

Ngày nay, khi điều kiện kinh tế được cải thiện, người tiêu dùng quan tâm nhiều đến chất lượng hơn là số lượng của sản phẩm Những sản phẩm có tác dụng tăng sức khỏe, đồng thời có thêm tác dụng làm đẹp đang được sự quan tâm đặc biệt của người tiêu dùng Một trong những chất đó là omega-3, omega-6 và omega-9 Trong đó, omega-3 có thể giúp bảo vệ hệ tim mạch, làm tăng cholesterol có lợi trong máu, hạ huyết áp, làm đẹp da và bảo vệ mắt… Trong thành phần của omega-3 có 3 loại axit béo: ALA, EPA và DHA

Axit α-linolenic (ALA) là một loại axit béo được tìm thấy ở thực vật Nó tương tự như các axit béo trong dầu cá, omega-3 là tiền chất của axit eicosapentaenoic (EPA) và axit docosahexaenoic (DHA) Ba loại axit này rất hiếm trong các thực phẩm nguồn gốc thực vật ngoại trừ dầu đậu nành, dầu hướng dương, dầu hạt lanh Mặc dù có đôi chút khác biệt nhưng cơ thể động vật

có thể biến đổi chúng thành axit béo omega-3 tương tự như loại có trong dầu cá Thậm chí các nhà khoa học cho rằng axit béo omega-3 trong thực vật còn tốt hơn trong dầu cá vì axit béo omega-3 trong dầu cá có phản ứng phụ, làm cho các phân tử tế bào trở nên không ổn định, dễ sản sinh các gốc oxy tự do gây ung thư

và làm xáo trộn insulin gây ra bệnh tiểu đường Vì vậy, việc thay thế chất béo động vật bằng nguồn chất béo thực vật không sinh cholesterol như dầu hạt hướng dương, dầu đậu nành, dầu hạt lanh là rất cần thiết để làm giảm lượng

mỡ bụng và mỡ trong thân thịt (Newman và cs, 2002 [37]; Wongsuthavas và cs,

2008 [42])

Tuy nhiên, chưa có nhiều nghiên cứu về các ảnh hưởng của dầu hạt lanh đến năng suất, chất lượng trứng gà Xuất phát từ những vấn đề nêu trên, chúng

tôi tiến hành đề tài nghiên cứu “Nghiên cứu tạo sản phẩm trứng gà Isha shaver

brown giàu omega-3 tại trại chăn nuôi gia cầm khoa Chăn nuôi Thú y”

2 Mục tiêu của đề tài

- Xây dựng được đàn gà để sinh viên thực hành, thực tập và rèn nghề

Trang 15

- Tạo ra sản phẩm trứng gà mang thương hiêu Nhà trường

3 Ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn của đề tài

Cân đối khẩu phần dầu hạt lanh vào công thức thức ăn hỗn hợp của gà đẻ

sẽ nâng cao năng suất và chất lượng trứng gà, đặc biệt cung cấp khẩu phần thích hợp cho gà đẻ trứng nhằm tạo dòng sản phẩm có giá trị dinh dưỡng đặc biệt giúp nâng cao sức khỏe cộng đồng và làm giàu cho các hộ, doanh nghiệp chăn nuôi

Trang 16

Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU

1.1 Cơ sở khoa học của đề tài

1.1.1 Cấu tạo cơ quan sinh dục của gia cầm

Cấu tạo cơ quan sinh dục gia cầm

- Cơ quan sinh dục cái của gia cầm

Gồm một buồng trứng và một ống dần trứng Buồng trứng có chức năng tạo lòng đỏ, còn ống dẫn trứng có chức năng tạo ra lòng trắng đặc, lòng trắng loãng, màng vỏ, vỏ mỏng và lớp keo mỡ bao quanh ngoài vỏ trứng Thời gian trứng lưu lại trong ống dẫn trứng từ 20 - 24 giờ

+ Buồng trứng:

Buồng trứng nằm phía trái xoang bụng, thấp hơn thận trái, kích thước và hình dạng buồng trứng khác nhau tùy theo tuổi gia cầm Gà con 10 ngày tuổi buồng trứng có hình phiến mỏng, kích thước từ 1 - 2 mm, khối lượng 0,03g, đến

4 tháng tuổi buồng trứng có dạng hình thoi, khối lượng 2,66g, đến thời kỳ đẻ trứng buồng trứng giống như chùm nho có khối lượng 55g, ở thời kỳ gà nghỉ đẻ thay lông thì khối lượng buồng trứng giảm xuống 5g Theo Nguyễn Duy Hoan

và cs (1998) [8] xác định ở giai đoạn phôi thai, hai phía trái và phải của gà mái đều có buồng trứng phát triển nhưng sau khi nở thì buồng trứng bên phải tiêu biến chỉ còn lại buồng trứng bên trái

Sự phát triển của mỗi tế bào trứng gồm 3 giai đoạn:

Thời kỳ tăng sinh của các tế bào trứng bắt đầu xảy ra ngay trong thời kỳ phát triển phôi thai và kết thúc ở giai đoạn gà con nở ra

Thời kỳ sinh trưởng gồm có:

Thời kỳ sinh trưởng nhỏ: Từ khi gia cầm nở ra đến khi thành thục về sinh dục Thời kỳ sinh trưởng lớn: Chỉ từ 4 đến 13 ngày, đây là thời kỳ tích lũy lớn nhất 90 - 95% khối lượng trứng được tích lũy trong giai đoạn này Vào thời kỳ

đẻ đường kính của tế bào trứng là 35 - 45mm

Trang 17

Số lượng tế bào trứng của gà mái có thể đến hàng triệu Số lượng trứng lúc gà bắt đầu đẻ từ 900 - 3600 nhưng chỉ có một số lượng hạn chế trứng chín và rụng Trong thời gian phát triển, lúc đầu các tế bào trứng được bao bọc bởi một tầng tế bào không có liên kết với biểu bì phát sinh, tầng tế bào này phát triển trở thành nhiều tầng và sự tạo thành tiến tới bề mặt buồng trứng, cấu tạo này gọi là follicun Bên trong follicun có một khoảng trống chứa đầy dịch, bên ngoài follicun giống như một cái túi Trong thời kỳ đẻ trứng nhiều follicun chín dần làm thay đổi hình dạng buồng trứng trông giống như chùm nho Sau thời kỳ đẻ trứng, buồng trứng trở về hình dạng ban đầu, các follicun trứng vỡ ra, quả trứng chín chuyển ra ngoài cùng với dịch của follicun và rơi vào phễu ống dẫn trứng

Sự rụng trứng đầu tiên báo hiệu sự thành thục sinh dục, đó là quá trình đi ra của

tế bào trứng chín Từ buồng trứng, sự rụng trứng chỉ xảy ra một lần trong ngày,

có những trường hợp đặc biệt có thể hai hoặc ba tế bào cùng rụng một lúc, trường hợp quả trứng của ngày hôm trước đẻ sau 4 giờ chiều thì phải sang ngày hôm sau mới xảy ra quá trình rụng trứng Tính chu kỳ của sự rụng trứng phụ thuộc vào nhiều yếu tố khác nhau như: điều kiện nuôi dưỡng chăm sóc, lứa tuổi, trạng thái sinh lý của gia cầm Song điều kiện chung nhất là sự rụng trứng của gia cầm chịu ảnh hưởng của thần kinh và thể dịch (Nguyễn Duy Hoan và cs

1998 [8])

+ Ống dẫn trứng là một ống dài có nhiều khúc cuộn, tại đây xảy ra quá trình thụ tinh và hình thành trứng của gia cầm Tùy thuộc vào hình dạng và chức năng của ống dẫn trứng mà người ta chia thành các loại khác nhau Kích thước

và hình dạng ống dẫn trứng thay đổi theo lứa tuổi và các hoạt động của cơ quan sinh dục Trước khi đẻ quả trứng đầu tiên ống dẫn trứng dài ra, khối lượng tăng lên rất nhiều và nó chia thành từng phần khác nhau: Ở gà không đẻ trứng (trưởng thành) chiều dài ống dẫn trứng: 1 - 18cm Ở gà đẻ trứng (lúc trưởng thành) chiều dài ống dẫn trứng: 55 - 68cm Ở thời kỳ thay lông chiều dài ống dẫn trứng chỉ còn khoảng 7cm

Trang 18

Theo đặc điểm hình thái và chức năng sinh lý ống dẫn trứng chia thành 5 phần: loa kèn, phần tiết lòng trắng, phần eo, tử cung, âm đạo

- Loa kèn: Bề mặt niêm mạc của loa kèn thì không có ống tuyến chỉ phần cổ phễu có ống tuyến tiết ra một phần lòng trắng đặc hình thành dây chằng lòng đỏ Tại đây trứng được thụ tinh nếu gặp tinh trùng, trứng chỉ dừng

ở đây từ 15 đến 20 phút

- Phần tiết lòng trắng: Là bộ phận dài nhất của ống dẫn trứng Ở thời kỳ gia cầm đẻ với tỷ lệ cao, chúng có thể dài từ 20 - 30 cm, niêm mạc phần này có nhiều tuyến hình ống giống như cổ phễu để tiết ra lòng trắng đặc hình thành dây chằng lòng đỏ và tiết ra lòng trắng loãng, trứng dừng ở đây khoảng 3 giờ

- Phần eo: Là phần hẹp hơn của ống dẫn trứng, dài khoảng 8cm, các tuyến

ở đây tiết ra một phần lòng trắng và tiết ra một chất hạt hình thành nên tấm màng dưới vỏ gồm 2 lớp, 2 lớp này tách nhau tại đầu lớn của vỏ trứng hình thành nên buồng khí Các dung dịch muối và nước có thể thấm qua màng này đi vào lòng trắng Trứng dừng ở đây khoảng 60 - 70 phút

- Tử cung: Là phần tiếp theo của quá trình tạo vỏ là phần mở to ra tạo thành tử cung dài từ 8 - 12cm, tuyến vách tử cung tạo thành một lớp dịch lỏng, chất dịch thẩm thấu qua màng vỏ đi vào lòng trắng làm cho tăng khối lượng lòng trắng, mặt khác một số tuyến ở tử cung tiết ra một chất dịch hình thành nên vỏ cứng, quá trình hình thành của vỏ diễn ra chậm chạp Trứng dừng lại ở đây khá lâu từ 18 - 20 giờ

- Âm đạo: Là đoạn cuối cùng của ống dẫn trứng, là cửa ngõ để trứng ra ngoài cơ thể Giữa âm đạo và tử cung có một van cơ dài 17 - 20 cm, niêm mạc nhăn nhưng không có các tuyến hình ống Tại chính mép biểu mô của âm đạo tiết ra một chất dịch tham gia hình thành lớp màng keo ở trên vỏ Trứng đi qua phần âm đạo rất nhanh

Trang 19

1.1.2 Một số đặc điểm sinh học sinh sản của gia cầm đẻ trứng

1.1.2.1 Khả năng sinh sản của gia cầm

Để duy trì sự phát triển của đàn gia cầm dù là hướng trứng hay hướng thịt thì khả năng sinh sản là yếu tố cơ bản quyết định đến quy mô, năng suất và hiệu quả sản xuất đối với gia cầm Đối với gà hướng trứng thì sản phẩm trứng là hướng sản phẩm chính còn thịt là sản phẩm phụ Do đó chúng có năng suất trứng cao, năng suất thịt rất thấp Ngược lại đối với gà hướng thịt thì thịt lại là sản phẩm chính còn trứng lại là sản phẩm phụ Sinh sản là chỉ tiêu cần được quan tâm trong công tác giống của gia cầm Ở các loại gia cầm khác nhau thì đặc điểm sinh sản cũng khác nhau rõ rệt

1 Tuổi đẻ đầu hay tuổi thành thục

2 Chu kỳ đẻ trứng hay cường độ đẻ trứng

3 Tần số thể hiện bản năng đòi ấp

4 Thời gian nghỉ đẻ, đặc biệt là nghỉ đẻ mùa đông

5 Thời gian đẻ kéo dài hay chu kỳ đẻ (hay tính ổn định sức đẻ)

Các yếu tố trên có sự điều khiển bởi kiểu gen di truyền của từng giống gia cầm Ngoài ra, nó còn phụ thuộc vào chăm sóc nuôi dưỡng, nhiệt độ môi trường, ánh sáng và các yếu tố tiểu khí hậu khác

Năng suất trứng

Năng suất trứng hay sản lượng trứng của một gia cầm mái là tổng số trứng

đẻ ra trên một đơn vị thời gian Đối với gia cầm thì đây là chỉ tiêu quan trọng, nó phản ánh trạng thái sinh lý và khả năng hoạt động của hệ sinh dục Năng suất trứng phụ thuộc nhiều vào loài, giống, hướng sản xuất, mùa vụ và đặc điểm của

Trang 20

cá thể Năng suất trứng là một tính trạng số lượng nên nó phụ thuộc nhiều vào điều kiện ngoại cảnh Năng suất trứng được đánh giá qua cường độ đẻ và thời gian kéo dài sự đẻ

Giống gia cầm nào có tỷ lệ đẻ cao và kéo dài trong thời kỳ sinh sản, chứng

tỏ là giống tốt, nếu chế độ dinh dưỡng đảm bảo thì năng suất sinh sản sẽ cao Năng suất trứng/năm của một quần thể gà mái cao sản được thể hiện theo quy luật, cường độ đẻ trứng cao nhất vào tháng thứ hai, thứ ba sau đó giảm dần cho đến hết năm đẻ

Cường độ đẻ trứng là sức đẻ trứng trong một thời gian ngắn Trong thời gian này có thể loại trừ ảnh hưởng của môi trường Thời gian kéo dài sự đẻ có liên quan đến chu kỳ đẻ trứng Chu kỳ đẻ kéo dài hay ngắn phụ thuộc vào cường

độ và thời gian chiếu sáng Đây là cơ sở để áp dụng chiếu sáng nhân tạo trong chăn nuôi gà đẻ Giữa các trật đẻ, gà thường có những khoảng thời gian đòi ấp

Sự xuất hiện bản năng đòi ấp phụ thuộc nhiều vào yếu tố di truyền vì ở các giống khác nhau có bản năng ấp khác nhau Điều này chịu ảnh hưởng nhiều bởi yếu tố như: Nhiệt độ, ánh sáng, dinh dưỡng Theo Brandsch H và Bilchel H (1978) [3] thì nhiệt độ cao và bóng tối kích thích sự ham ấp, đồng thời yếu tố gen chịu tác động phối hợp giữa các gen thường và gen liên kết giới tính Trên cơ sở tỷ lệ

đẻ hằng ngày hoặc tuần cho phép đánh giá một phần nào về chất lượng giống và mức độ ảnh hưởng của chế độ ngoại cảnh đến sự sản xuất của đàn giống Ông cũng cho rằng gà thịt nặng cân đẻ ít hơn do tồn tại nhiều thể vàng nên lấn át buồng trứng thường xuyên hơn so với gà dòng trứng

Thời gian nghỉ đẻ ngắn hay dài có ảnh hưởng trực tiếp đến sản lượng trứng cả năm Gà thường hay nghỉ đẻ vào mùa đông do nguyên nhân giảm dần

về cường độ và thời gian chiếu sáng tự nhiên Ngoài ra, sự nghỉ đẻ này còn do khí hậu, sự thay đổi thức ăn, chu chuyển đàn Thời gian nghỉ đẻ là một tính trạng

số lượng có hệ số di truyền cao, do đó người ta có thể cải thiện di truyền bằng cách chọn lọc giống Trong chọn lọc cần chú ý tới chỉ số trung bình chung của giống Khối lượng trứng phụ thuộc vào khối lượng cơ thể, giống, tuổi đẻ, tác

Trang 21

động dinh dưỡng tới gà sinh sản Đồng thời khối lượng trứng lại quyết định tới chất lượng trứng giống, tỷ lệ ấp nở, khối lượng và sức sống của gà con Nó là chỉ tiêu không thể thiếu của việc chọn lọc con giống

Theo Brandsch H và Bilchel H (1978) [3] cho biết: Trứng gia cầm khi bắt đầu đẻ nhỏ hơn trứng gia cầm lúc trưởng thành Khối lượng trứng phụ thuộc trực tiếp vào chiều dài, chiều rộng của quả trứng cũng như khối lượng lòng trắng, lòng đỏ và vỏ

Theo Nguyễn Duy Hoan và cs (1998) [8] trong cùng một độ tuổi thì khối lượng trứng tăng lên chủ yếu do khối lượng lòng trắng lớn hơn nên giá trị năng lượng giảm dần Khối lượng gà con khi nở thường bằng 62 - 78% khối lượng trứng ban đầu Khối lượng trứng của các loại giống khác nhau thì khác nhau

1.1.2.2 Một số đặc điểm sinh học của trứng gia cầm

Trứng gà có 3 phần cơ bản: Vỏ, lòng đỏ và lòng trắng Tỷ lệ các phần/khối lượng trứng thì vỏ chiếm 10 - 11,6%; lòng trắng chiếm 57 - 60%; lòng

đỏ chiếm 30 - 32% Thành phần hoá học của trứng không vỏ: Nước chiếm 73,5 - 74,4%; protein 12,5 - 13%; mỡ 11 - 12%; khoáng 0,8 - 1,0%

Đặc điểm hình thái

Hình dạng quả trứng: Hình dạng quả trứng thường có hình oval hoặc elip, một đầu lớn và một đầu nhỏ Theo Brandsch H và Bilchel H (1978) [8] thì tỷ lệ giữa chiều dài và chiều rộng của quả trứng là một chỉ số ổn định 1 : 0,75 Hình dạng của quả trứng tương đối ổn định, sự biến động theo mùa cũng không có ảnh hưởng lớn Nói chung, hình dạng quả trứng luôn có tính di truyền bền vững và

có những biến dị không rõ rệt

Chỉ số hình thái ở mỗi loài gia cầm khác nhau và được quy định bởi nhiều gen khác nhau Nguyễn Hoài Tạo, Tạ An Bình (1985) [13] cho rằng: Khoảng biến thiên trị số hình thái của trứng gà là 1,34 – 1,36; của trứng vịt là 1,57 – 1,64; còn những trứng có hình dạng quá dài hoặc quá tròn đều cho chất lượng thấp

Trang 22

Trứng gia cầm có cấu tạo từ ngoài vào bao gồm những thành phần chính sau: vỏ cứng, màng vỏ, lòng trắng, lòng đỏ có chứa đĩa phôi Mỗi thành phần chiếm tỷ lệ khác nhau ở mỗi cá thể, dòng, giống, chế độ chăm sóc nuôi dưỡng Tuy nhiên, vẫn có sự dao động tương đối

Vỏ trứng: Vỏ trứng là lớp vỏ bọc ngoài cùng bảo vệ về mặt cơ học, hoá học, lý học cho các thành phần khác bên trong trứng Màu sắc của vỏ trứng phụ thuộc vào giống, lá tai của từng loại gia cầm khác nhau Bên ngoài, nó được bao phủ bởi một lớp keo dính do âm đạo tiết ra, có tác dụng làm giảm ma sát giữa thành âm đạo và trứng, tạo thuận lợi cho việc đẻ trứng, hạn chế sự bốc hơi nước của trứng và ngăn cản sự xâm nhập của vi khuẩn

Vỏ trứng có hai lớp màng đàn hồi tách nhau tạo thành buồng khí có ý nghĩa trong quá trình trao đổi khí với môi trường bên ngoài Vỏ trứng được cấu tạo chủ yếu từ canxi, trên bề mặt có nhiều lỗ khí Số lượng lỗ khí phụ thuộc vào nhiều yếu tố Theo Nguyễn Duy Hoan và cs (1998) [8], trên bề mặt vỏ trứng gà trung bình có khoảng 10.000 lỗ khí, tính trên 1 cm2 có khoảng 150 lỗ, đường kính các lỗ khí dao động 4 – 10 μm Mật độ lỗ khí không đều, nhiều nhất ở đầu

to giảm dần ở hai bên và ít nhất ở đầu nhỏ

Chất lượng vỏ trứng thể hiện ở độ dày và độ bền của vỏ trứng Nó có ý nghĩa trong vận chuyển và ấp trứng Độ dày vỏ trứng gà dao động từ 0,229 – 0,373 mm, độ chịu lực là 2,44 – 3 kg/cm2 (Ngô Gia Luyện, 1994) [10] Theo Nguyễn Duy Hoan và cs (1998) [8] thì chất lượng vỏ trứng không những chịu ảnh hưởng của các yếu tố như canxi (70% canxi cần cho vỏ trứng là lấy trực tiếp

từ thức ăn), ngoài ra vỏ trứng hình thành cần có photpho, vitamin D3, vitamin K, các nguyên tố vi lượng khi nhiệt độ tăng từ 20 -300C thì độ dày vỏ trứng giảm 6- 10% khi đó gia cầm đẻ ra trứng không có vỏ hoặc bị biến dạng Theo Nguyễn Thị Bạch Yến (1996) [17] nếu vỏ trứng quá mỏng, sẽ làm quá trình bốc hơi nước diễn ra quá nhanh, dẫn tới trứng bị mất nước gây chết phôi, sát vỏ, gà con nở ra yếu hoặc tỷ lệ nuôi sống giảm Ngược lại, nếu vỏ trứng quá dầy cũng ảnh hưởng đến khả năng ấp nở, trao đổi khí kém, gà con không mổ vỏ ra ngoài được Độ

Trang 23

dày vỏ ở đầu tù khoảng 0,279 - 0,588 mm, ở đầu nhọn khoảng 0,294 - 0,334

mm

Dưới lớp vỏ cứng là hai lớp màng dưới vỏ: Hai lớp màng này rất mỏng, lớp ngoài sát với vỏ trứng Lớp trong nằm sát với lòng trắng, lớp ngoài dày hơn lớp trong, độ dày của hai lớp khoảng 0,057 - 0,069 mm Cả hai lớp đều có lỗ thở cho không khí đi vào giúp phôi thai phát triển ở giai đoạn cuối

Lòng trắng: Tiếp theo của lớp màng là đến lớp loàng trắng Lòng trắng là phần bao bọc bên ngoài lòng đỏ, nó là sản phẩm của ống dẫn trứng Lòng trắng

chủ yếu là albumin giúp cho việc cung cấp khoáng và muối khoáng, tham gia

cấu tạo lông, da trong quá trình phát triển cơ thể ở giai đoạn phôi chất lượng lòng trắng được xác định qua chỉ số lòng trắng và đơn vị Haugh Hệ số di truyền của tính trạng này khá cao

Lòng trắng chiếm tỷ lệ cao nhất trong trứng gia cầm, tới 56 %, gồm 4 lớp: Lớp loãng ngoài, lớp đặc giữa, lớp loãng giữa, lớp đặc trong… Đây là nguồn cung cấp chất dinh dưỡng và nước cho phôi phát triển Độ keo dính của lòng trắng phụ thuộc vào các yếu tố như: Nuôi dưỡng, giống, tuổi, bảo quản trứng.v.v Bảo quản trứng không đúng, kéo dài thời gian bảo quản làm cho lòng trắng trở nên loãng hơn dẫn tới pha lẫn giữa các lớp lòng trắng sẽ làm rối loạn cấu trúc sinh học và làm giảm chất lượng trứng Trong lòng trắng còn chứa dây chằng lòng đỏ có tác dụng giữ cho lòng đỏ luôn ở trung tâm của trứng Theo Trần Huê Viên (2001) [16] thì Awang (1987) cho biết khối lượng trứng tương quan rõ rệt với khối lượng lòng trắng (r = 0,86) khối lượng lòng đỏ (r = 0,72) và khối lượng

Trang 24

cao lòng trắng đặc so với trung bình cộng đường kính nhỏ và đường kính lớn của lòng trắng trứng Chỉ số lòng trắng chịu ảnh hưởng của giống, tuổi, chế độ nuôi dưỡng và thời gian bảo quản

Lòng đỏ: Là tế bào trứng có dạng hình cầu đường kính 35 – 40 mm (chiếm khoảng 32% khối lượng trứng) và được bao bọc bởi màng lòng đỏ rất mỏng dao động từ 16 – 20 µm, có tính đàn hồi, luôn giữ cho tế bào trứng ở dạng hình cầu, tính đàn hồi của màng lòng đỏ giảm theo thời gian bảo quản, ở giữa có hốc lòng đỏ nối với đĩa phôi lấy chất dinh dưỡng từ nguyên sinh chất để cung cấp cho phôi phát triển Ngoài ra, màng này còn có tính thẩm thấu chọn lọc để thực hiện việc trao đổi chất giữa lòng trắng và lòng đỏ Lòng đỏ có độ đậm đặc cao nằm giữa lòng trắng đặc, được giữ ổn định nhờ dây chằng là những sợi protein quy tụ ở hai đầu lòng đỏ, phía trên lòng đỏ là mầm phôi Lòng đỏ cung cấp dinh dưỡng chủ yếu cho phôi Thông qua nguồn năng lượng dự trữ cho phôi

mà người ta có thể đánh giá được chất lượng lòng đỏ

Theo Card và Nesheim (1970) [22] thì chỉ số lòng đỏ của trứng tươi là 0,4 – 0,42; trứng có chỉ số lòng đỏ cao sẽ cho tỷ lệ ấp nở cao Theo Ngô Giản Luyện (1994) [10]: Chỉ số lòng đỏ ít bị biến đổi hơn lòng trắng Theo Tạ An Bình, (1973) [2] cho biết: khi chỉ số lòng đỏ giảm xuống còn 0,33 thì lòng đỏ bị biến dạng Chỉ số lòng đỏ giảm xuống còn 0,25 – 0,29 nếu bị tăng nhiệt độ và bảo quản lâu (Nguyễn Quý Khiêm, 1999 [9])

Màu lòng đỏ phụ thuộc vào sắc tố màu và caroten có trong thức ăn Màu lòng đỏ ổn định trong suất thời gian đẻ trứng, nó thay đổi khi khẩu phần ăn của

gà mái thay đổi trước vài tuần Tuy không biểu thị giá trị dinh dưỡng của trứng nhưng nó có giá trị thương phẩm lớn

Chỉ số Haugh (HU)

Là chỉ số đánh giá chất lượng trứng xác định thông qua khối lượng trứng

và chiều cao lòng trắng đặc Chỉ số HU càng cao thì chất lượng trứng càng cao, trứng đạt chất lượng tốt Chỉ số này chịu ảnh hưởng của nhiều yếu tố tác động:

Trang 25

Thời gian bảo quản trứng, tuổi gia cầm, bệnh tật, nhiệt độ môi trường, sự thay lông, giống, dòng

Thành phần hóa học của trứng

Trứng gia cầm nói chung là một loại thực phẩm rất giàu dinh dưỡng, đặc biệt là lòng đỏ, nó cung cấp khoảng 50% protein và tất cả các chất béo của trứng Thành phần dinh dưỡng của các loại trứng gia cầm khác nhau thì khác nhau Protein trong trứng thường là những protein dễ tiêu hóa Hàm lượng axit amin trong trứng thường rất cân đối Hàm lượng mỡ trong trứng ở dạng nhũ hóa dễ tiêu hóa Trong trứng chứa hàm lượng axit béo không no cao, hàm lượng khoáng cao đặc biệt là hàm lượng sắt và photpho Thành phần khoáng trong trứng có thể thay đổi theo khẩu phần ăn của gia cầm đẻ

Theo Gilbert (1971), trong một lòng đỏ trứng khối lượng 19g có chứa: 10,5mg Na; 17,9mg K; 25,7mg Ca; 2,6mg Mg; 1,5mg Fe; 29,8mg S; 24,7mg Cl; 94,8mg P

Hàm lượng vitamin trong trứng rất cao: 200 - 800UI vitamin A; 20UI vitamin D; 49mg vitamin B1; 84mg vitamin B2; 30mg axit nicotic; 58mg vitamin B6; 580mg axit pantothenic; 10mg biotin; 4,5mg axit folic; 0,3mg vitamin B12; 150mg vitamin E và 25mg vitamin K1

+ Thành phần hóa học của lòng đỏ

Lòng đỏ trứng của tất cả các loại gia cầm (trừ thủy cầm) có chứa 49% là nước, 16% là protein, 33% là mỡ Hai phần ba mỡ trong lòng đỏ là triglyxerit, 30% là photpholipit và 5% là cholesterol Lòng đỏ trứng thủy cầm chứa nhiều mỡ (36%) và 18% protein Hàm lượng nước trong lòng đỏ có thể thay đổi (46 - 50%) tùy thuộc vào thời gian và điều kiện bảo quản Hàm lượng mỡ trong lòng đỏ cũng

có thể biến đổi thông qua khẩu phần ăn, chỉ riêng hàm lượng axit béo không no như palmitic và stearic là không thay đổi Hàm lượng các axit béo này duy trì ở mức 30 - 38% trong tổng số chất béo Nếu khẩu phần ăn chứa nhiều axit béo không no mạch đa thì hàm lượng các axit béo này trong trứng cũng tăng lên Thông thường tỷ lệ axit béo không no và no là 2 : 1

Trang 26

+ Thành phần hóa học của lòng trắng

Lòng trắng là nơi dự trữ nước của trứng khoảng 88% Phần còn lại là protein như globulin, ovomuxin và albumin Ovomuxin chiếm 75% tổng số protein trong lòng trắng trứng, globulin chiếm khoảng 20% Theo kết quả của các nhà khoa học Nga, methionin có vai trò quan trọng trong quá trình tổng hợp lòng trắng, còn quá trình tổng hợp ovoxumin thì lysine lại chiếm vị trí quan trọng Thành phần hóa học của lòng trắng ở tất cả các loại trứng gia cầm đều giống nhau Lòng trắng đặc có hàm lượng ovomuxin cao gấp 4 lần lòng trắng loãng đây chính

là nguyên nhân tạo nên cấu trúc keo của lòng trắng Chất lượng lòng trắng thay đổi theo thời gian bảo quản Giá trị pH của lòng trắng trứng gà tươi là 7,6 sau 14 ngày bảo quản chúng có thể tăng lên pH = 9,2

- Đặc điểm omega-3 trong trứng gà

Omega-3 là loại chất béo thiết yếu đối với cơ thể con người Tuy nhiên, đây là chất mà cơ thể ta không tự tổng hợp được nên phải bổ sung từ thực phẩm bên ngoài vào như: từ trứng, từ dầu thực vật Ngoài ra, các nghiên cứu gần đây cho thấy thành phần omega-3 có thể giúp bảo vệ hệ tim mạch, làm tăng cholesterol có lợi trong máu, hạ huyết áp, làm đẹp da và bảo vệ mắt…

Axit béo omega-3 là một hợp chất vô cùng quan trọng đối với cơ thể đồng thời giúp bảo vệ sức khỏe tim mạch hữu hiệu Axit này rất hiếm trong các thực phẩm nguồn gốc thực vật ngoại trừ đậu nành Mặc dầu có đôi chút khác biệt nhưng cơ thể chúng ta có thể biến đổi chúng thành axit béo omega-3 tương tự như loại có trong dầu cá Thậm chí các nhà khoa học cho rằng axit béo omega-3 trong đậu nành còn tốt hơn trong dầu cá vì axit béo omega-3 trong dầu cá có phản ứng phụ, làm cho các phân tử tế bào trở nên không ổn định, dễ sản sinh các gốc oxy tự do gây ung thư và làm xáo trộn insulin gây ra bệnh tiểu đường

Các axit béo chư no nhiều nối đôi như axit linoleic (C18:2) và alpha axit linoleic (C18:3) còn được phân loại là axit béo omega-6 và omega-3, có vai trò quan trọng trong dinh dưỡng động vật, nhất là ở người Các axit béo omega-6 là tiền chất của các eicosanoids của hệ thống nội tiết trong cơ thể Các axit béo

Trang 27

omega-3 có chức năng quan trọng trong việc hình thành mô hần kinh và mắt, đáp ứng cho các hoạt động ổn định của hệ thống tim mạch và điều hòa hoạt động của

hệ thống miễn dịch Động vật nói chung và gia cầm nói riêng không thể tự sản xuất các loại axit béo này trong cơ thể nên để tạo ra sản phẩm giàu axit béo chưa bão hòa, con đường duy nhất là bổ sung vào thức ăn các loại nguyên liệu có chứa nhiều axit béo này

Trước đây, để tăng hàm lượng omega-3 và omega-6 trong trứng gà, hay

sử dụng các nguyên liệu có nguồn gốc biển như dầu các biển, rong biển để bổ sung vào thức ăn, tuy nhiên gần đây một số nước đã sử dụng một số loại dầu thực vật giàu các axit béo thiết yếu bổ sung vào khẩu phần của gà mái đẻ để làm tăng hàm lượng và thay đổi thành phần axit béo trong lòng đỏ trứng như dầu hạt lanh, dầu đậu nành, dầu hướng dương ưu điểm của các loại dầu này là giá rẻ, dễ kiếm hơn các sản phẩm có xuất sứ từ biển

Từ những năm 1990, đã có rất nhiều nghiên cứu trên thế giới về omega-3, đặc biệt là các nghiên cứu tạo ra các sản phẩm thực phẩm giàu omega-3 Một số sản phẩm đã và đang được thương mại hóa trên thị trường như: sữa tăng cường omega-3, trứng gà giàu omega-3 Các sản phẩm này có mặt hầu hết tại các quốc gia tiên tiến như: Mỹ, Úc, Canada, Nhật Bản và châu Âu…

Tại Việt Nam, phòng thí nghiệm Công nghệ sinh học Động vật thuộc Viện Sinh học nhiệt đới đã nghiên cứu và tạo thành công sản phẩm trứng gà giàu omega-3 trên thị trường, sản phẩm trứng gà này có hàm lượng omega-3 cao hơn

từ 5 - 8 lần so với trứng gà bình thường Tuy nhiên, việc sản xuất loại trứng này còn hạn chế ở quy mô nhỏ, kết quả nghiên cứu mới được chuyển giao cho 1 công ty độc quyền và chưa công bố rộng rãi Mặt khác, loại trứng gà trên chủ yếu sử dụng dầu cá, rong tảo biển trong khẩu phần do vậy giá thành cao, và khó phát triển rộng rãi Chính vì lí do đó, tôi tiến hành nghiên cứu bổ sung nguồn omega-3 từ dầu thực vật để giảm giá thành và phổ biến rộng rãi cho sản xuất

Sự phát triển mạnh mẽ của xu thế công nghiệp hoá trong chăn nuôi là một trong những mối đe doạ đến sức khỏe cũng như sự sống của con người Vì lợi

Trang 28

nhuận và cung cấp đủ số lượng nên người chăn nuôi đã không quan tâm đến chất lượng của sản phẩm làm ra Các sản phẩm như thịt, trứng, sữa… tuy đã đủ số lượng nhưng chất lượng lại kém Mặt khác, nhu cầu của người tiêu dùng hiện nay, họ quan tâm hàng đầu là chất lượng trong từng sản phẩm để đảm bảo nhu cầu về dinh dưỡng, sức khỏe Họ luôn tìm đến những sản phẩm có nguồn gốc, có chức năng Chính vì vậy, để đáp ứng được nhu cầu như vậy, chúng ta cần sử dụng biện pháp nghiên cứu nâng cao thành phần dinh dưỡng cụ thể là thành phần omega-3 trong trứng gà

Dựa trên kết quả các nghiên cứu cho thấy khẩu phần ăn có ảnh hưởng trực tiếp đến hàm lượng axit béo của trứng gà, do đó có thể làm giàu hàm lượng omega-3 trong trứng gà thông qua việc chọn lọc khẩu phần thức ăn giàu omega-

3 cho gà mái đẻ trứng Việc sử dụng các nguồn thức ăn này cho gà mái đẻ trứng không làm ảnh hưởng đến thể trạng của gà mái, các chỉ tiêu chất lượng của trứng

và năng suất đẻ trứng của gà

Trong thành phần của omega-3 có 3 loại axit béo: ALA (axit α-linolenic), EPA, và DHA Các chuyên gia y tế đã xác nhận rằng ALA là cơ sở vật chất quan trọng trong việc duy trì sự phát triển não bộ của con người và là thành phần quan trọng của các tế bào não Nó là tiền chất thiết yếu của các axit béo không no để cấu tạo nên các eicosanoids có chức năng hỗ trợ hệ miễn dịch, giúp cơ thể trẻ khỏe mạnh hơn Axit α-linolenic là một loại omega-3 được tìm thấy ở thực vật

Nó tương tự như các axit béo omega-3 trong dầu cá, được gọi là axit eicosapentaenoic (EPA) và axit docosahexaenoic (DHA) Đây là các chất dinh dưỡng quan trọng nhất cho sự phát triển não bộ của trẻ sơ sinh, trong bào thai hoặc độ tuổi sớm Để đảm bảo sự tăng trưởng nhanh chóng và thuận lợi cho sự phát triển não bộ của bào thai, các chuyên gia của Tổ chức Y tế thế giới khuyến cáo nên bổ sung lượng axit α-linolenic khoảng 1000 mg mỗi ngày Nhưng trong thực tế, do hấp thu chế độ ăn uống nghèo axit α-linolenic nên nhiều phụ nữ mang thai không đảm bảo cung cấp lượng cần thiết cho cơ thể Vì vậy, việc chú ý tiêu thụ các thực phẩm giàu axit α-linolenic là rất quan trọng Nguồn thực phẩm giàu

Trang 29

axit α-linolenic bao gồm hạt lanh, dầu hạt lanh, hạt cải và dầu hạt cải, đậu nành

và dầu đậu nành, hạt bí ngô và dầu hạt bí ngô, dầu hạt tía tô, đậu hũ Axit linolenic dầu có sẵn trên các loại dầu nấu ăn và trong các loại dầu thuốc Trong

α-đó, chúng tôi chọn dầu hạt cải và dầu đậu nành vì chúng có sẵn trên thị trường,

dễ sử dụng Dầu hạt cải dầu có hàm lượng omega-3 cao (trong 100 g có tối thiểu 5g omega-3;18g omega-6; 55g omega-9 ngoài ra có 20mg vitamin E) Dầu đậu nành (trong 100g có năng lượng tối thiểu 900Kcal; omega-3: 4g; omega-6: 50g; omega-9: 20g; vitamin E: 3mg)

Trên thế giới gần đây rất quan tâm đến tỷ lệ axit béo 0mega-6/omega-3 vì đây là yếu tố rất quan trọng đối với sức khỏe của người sử dụng, vì nó chỉ ra sự cân bằng các axit béo chưa no Một quả trứng tiêu chuẩn có tỉ số này là 20:1 Trong khi trứng gà nuôi tự nhiên có tỷ số là 1:1 (Simopoulos, 1999) Theo Bourre (2005), các nước châu Âu khuyến cáo tỉ số axit béo omega-6/omega-3 trong khẩu phần của người là 5:1 – 6:1 và theo FAO và WHO thì tỷ số này có thể từ 5:1 – 10:1

1.1.2.3 Những yếu tố ảnh hưởng đến sức sản xuất trứng của gà

Sức sản xuất trứng là đặc điểm phức tạp và biến động, nó chịu ảnh hưởng bởi tổng hợp các yếu tố bên trong và bên ngoài

Giống, dòng

Ảnh hưởng đến sức sản xuất một cách trực tiếp Cụ thể giống Leghorn trung bình có sản lượng 250 – 270 trứng/năm, gà Ri chỉ đạt 90 - 100 quả/mái/năm, gà Ai Cập là 160- 180 quả/mái/năm Về sản lượng trứng, những dòng chọn lọc kỹ thường đạt chỉ tiêu cao hơn những dòng chưa được chọn lọc kỹ khoảng 15% - 30%

Tuổi gà

Có liên quan chặt chẽ tới sự đẻ trứng của nó Như một quy luật, ở gà sản lượng trứng giảm dần theo tuổi, trung bình năm thứ hai giảm 15- 20% so với năm thứ nhất

Tuổi thành thục sinh dục

Trang 30

Liên quan đến sức đẻ trứng của gà, nó là đặc điểm di truyền cá thể Có nhiều yếu tố ảnh hưởng tới tuổi thành thục sinh dục của gia cầm: loài, loại hình, giống, dòng, mùa vụ, thức ăn, chăm sóc,

Mùa vụ

Ảnh hưởng đến sức đẻ trứng rất rõ rệt Ở nước ta, mùa hè sức đẻ trứng giảm xuống nhiều so với mùa xuân, đến mùa thu lại tăng lên

Nhiệt độ môi trường

Liên quan mật thiết đến sản lượng trứng Ở điều kiện nước ta nhiệt độ chăn nuôi thích hợp với gia cầm đẻ trứng là 14 - 220C Nếu nhiệt độ dưới giới hạn thấp thì gia cầm phải huy động năng lượng chống rét và trên giới hạn cao sẽ thải nhiệt nhiều qua hô hấp

Ánh sáng

Ánh sáng ảnh hưởng đến sản lượng trứng của gia cầm Nó được xác định qua thời gian chiếu sáng và cường độ chiếu sáng Yêu cầu của gà đẻ thời gian chiếu sáng 12 - 16 h/ngày, có thể sử dụng ánh sáng tự nhiên và ánh sáng nhân tạo để đảm bảo giờ chiếu sáng và cường độ chiếu sáng 3 - 3,5 w/m2 Theo Letner

và Taylor (1987) [35], cho biết thời gian gà đẻ trứng thường từ 7 - 17 giờ, nhưng

đa số đẻ vào buổi sáng Cụ thể số gà đẻ 7 – 9 giờ đạt 17,7 % so với tổng gà đẻ trong ngày Ở nước ta do khí hậu khác với các nước, cho nên cường độ đẻ trứng

ở gà cao nhất là khoảng từ 8 - 12 giờ chiếm 60 % gần 70 % so với gà đẻ trứng trong ngày

Cường độ đẻ trứng

Liên quan mật thiết với sản lượng trứng, nếu cường độ đẻ trứng cao thì sản lượng trứng cao và ngược lại

Chu kỳ đẻ trứng

Chu kỳ đẻ trứng được tính từ khi đẻ quả trứng đầu tiên đến khi ngừng đẻ

và thay lông, đó là chu kỳ thứ nhất và lặp lại tiếp tục chu kỳ thứ hai Chu kỳ đẻ trứng liên quan tới vụ nở gia cầm con mà bắt đầu và kết thúc ở các tháng khác nhau thường ở gà là một năm Nó có mối tương quan thuận với tính thành thục

Trang 31

sinh dục, nhịp độ đẻ trứng, sức bền đẻ trứng và chu kỳ đẻ trứng, yếu tố này do hai gen P và p điều hành Sản lượng trứng phụ thuộc vào thời gian kéo dài chu

kỳ đẻ trứng

Thay lông

Sau mỗi chu kỳ đẻ trứng sinh học gia cầm nghỉ đẻ và thay lông Ở điều kiện bình thường, lần thay lông đầu tiên là những điểm quan trọng để đánh giá gia cầm đẻ tốt hay xấu Những con thay lông sớm là những con đẻ kém và thời gian thay lông kéo dài tới 4 tháng Ngược lại, nhiều con thay lông muộn và nhanh, thời gian nghỉ đẻ dưới 2 tháng Đặc biệt ở một số cá thể hoặc đàn cao sản, thời gian nghỉ đẻ chỉ khoảng 4 - 5 tuần, có những cá thể đẻ ngay khi chưa thay xong bộ lông mới hay đẻ trong thời gian thay lông

Ngày nay, người ta sử dụng rộng rãi các biện pháp thay lông cưỡng bức dựa vào một số các yếu tố: thuốc kích thích, ánh sáng, nước uống, chế độ cho ăn

và thành phần thức ăn… nhằm rút nhắn thời gian thay lông và điều khiển thay lông hàng loạt

Ngoài ra gia cầm đẻ trứng còn chịu sự chi phối trực tiếp của khí hậu, dinh dưỡng, thức ăn, chăm sóc quản lý, tính ấp bóng

Ảnh hưởng của độ ẩm đến sản lượng trứng của gia cầm

Khi độ ẩm quá cao làm cho chất độn chuồng bị ướt, tạo thành một lớp hơi nước bao phủ không gian của chuồng nuôi Nếu tình trạng này kéo dài sẽ ảnh hưởng đến sự hô hấp của gia cầm và làm ảnh hưởng đến năng suất và tiêu tốn thức ăn Độ ẩm quá thấp (< 31 %) sẽ làm cho gia cầm mổ lông và rỉa thịt nhau, ảnh hưởng đến tỷ lệ hao hụt và khả năng sản xuất

Ảnh hưởng của yếu tố dinh dưỡng đến sản lượng trứng

Theo Bùi Quang Tiến (dẫn theo Bạch Thị Thanh Dân, 1997) cho biết gà nội (gà Ri) đẻ 90 – 120 trứng/mái/năm Đối với giống gà nội thì ảnh hưởng của yếu tố dinh dưỡng là không lớn lắm nhưng đối với gà nuôi nhốt thì nhu cầu dinh dưỡng lại cần được quan tâm chú ý

Trang 32

1.2 Những hiểu biết về gà đẻ trứng thương phẩm Isa shaver

Shaver đen (Shaver Black) là giống gà thích nghi cao tuy nhiên lại tiêu tốn thức ăn lớn

- Chỉ tiêu năng suất:

Về khả năng sinh trưởng của gà Isa Shaver ở giai đoạn hậu bị (giai đoạn 9

- 18 tuần tuổi) được nuôi trong điều kiện khí hậu của Thái Nguyên Việt Nam thì

tỷ lệ nuôi sống của gà khảo nghiệm tương đối cao Đến 18 tuần tuổi, tỷ lệ nuôi sống đạt 99,6 %, sức sống và sức đề kháng của gà Isa Shaver là rất tốt, phù hợp với điều kiện khí hậu và điều kiện chăn nuôi ở Việt Nam

Khối lượng cơ thể của gà đến 18 tuần tuổi đạt 1594,58 g, cao hơn khối lượng chuẩn 44,58 g Tiêu tốn thức ăn đến hết 18 tuần tuổi là 6713 g/con Tỷ lệ

Trang 33

chết do nhiễm bệnh của đàn gà giai đoạn 9 - 18 tuần tuổi là 0 % Cho thấy gà Isa Shaver có khả năng thích nghi cao với điều kiện khí hậu ở Thái Nguyên

1.3 Lipit trong thức ăn chăn nuôi

1.3.1 Giới thiệu chung

1.3.1.1 Nguồn gốc:

Hiện nay, người ta chưa chứng minh được chất béo nguồn gốc động vật

có giá trị dinh dưỡng cao hơn chất béo nguồn gốc thực vật Chỉ có hai điều khác biệt: chất béo nguồn gốc thực vật có nhiều axit béo chưa bão hòa dạng đa và không có cholesterol (trừ dầu dừa, dầu cọ có nhiều chất béo bão hòa), còn trong

cá lại có nhiều chất béo chưa bão hòa

Nguồn chất béo động vật: Lipit trong thịt lợn mỡ 37,3%, thịt lợn nạc 7%, trứng gà toàn phần 14,2%, sữa 3%

Hạt một số loại thực vật: trong hạt lạc 44,5%, đậu tương 18,4%, hạt dẻ 59%, hạt điều khô 49,3%

1.3.1.2 Đặc điểm cấu tạo

Lipit là hợp chất hữu cơ được cấu tạo chủ yếu từ các nguyên tố C, H, O gồm nhiều loại với cấu trúc và chức năng khác nhau Lipit đơn giản được tạo ra

từ glixerol và axit béo nhờ liên kết este Các lipit phức tạp ngoài thành phần như các lipit đơn giản còn có thêm các nhóm khác Mỡ và dầu là nguồn nguyên liệu

dự trữ năng lượng chủ yếu của tế bào Photpholipit có vai trò cấu trúc nên màng sinh chất Steroit tham gia cấu tạo nên các hormore của cơ thể Ngoài ra, lipit còn tham gia vào nhiều chức năng sinh học khác

Lipit đơn giản: trong phân tử chỉ chứa C, H, O

Lipit phức tạp: ngoài C, H, O còn có một số nguyên tố khác như N, P, S

Mỡ ở động vật chứa các axit béo no nên thường có dạng rắn

Mỡ ở thực vật và 1 số loại cá chứa các axit béo không no nên thường có dạng lỏng

1.3.1.3 Tính chất lý hóa học

- Tính chất vật lí của lipit

Trang 34

Ở nhiệt độ phòng, lipit động vật (mỡ), thường ở trạng thái rắn (mỡ bò, mỡ cừu ) Lipit loại này chứa chủ yếu các gốc axit béo no Một số ít lipit động vật ở trạng thái lỏng (dầu cá ), do thành phần gốc axit béo không no tăng lên

Lipit thực vật (dầu thực vật) hầu hết ở trạng thái lỏng (dầu lạc, dầu dừa )

do chứa chủ yếu gốc axit béo không no

Các lipit đều nhẹ hơn nước, không tan trong nước, nhưng tan nhiều trong chất hữu cơ benzen, xăng, clorofom

- Tính chất hóa học của lipit

Là chất kỵ nước không tan trong nước nhưng tan trong các hợp chất dung môi hưu cơ không phân cực: ether etylic, ether petrol (ether dầu hỏa), hexan, toluen, acetone, benzen…các phản ứng cơ bản: phản ứng xà phòng hóa, phản ứng khử, tạo ester, oxy hóa, halogen hóa

1.3.2 Vai trò của lipit với cơ thể động vật

Chất béo cần thiết cho sự sống của động vật và thực vật trong nhiều mặt Chúng thường được biết đến như năng lượng từ thức ăn Rất nhiều cơ quan trong

cơ thể dự trữ thức ăn dưới dạng chất béo Điển hình như các loại thực vật chứa đựng chất béo như một loại thức ăn trong thời kỳ phôi mầm Ở ruột non nhờ tác dụng xúc tác của các enzyme lipza và dịch mật chất béo bị thuỷ phân thành các axit béo và glyxerol rồi được hấp thụ vào thành ruột

Mỗi dạng chất béo thể hiện một phần quan trọng trong màng tế bào của cơ thể, giúp bảo vệ các tế bào sống Màng tế bào giống nhau bao quanh cơ thể cùng với tế bào, giúp cho mỗi tế bào trong cơ thể có thể làm công việc mà không cần đến sự can thiệp không cần thiết của các tế bào khác

Chất béo không hòa tan với nước, nhưng chúng có khả năng hòa tan các chất khác như vitamin A, D, E, và K Ngoài ra chất béo giúp:

- Ngăn ngừa xơ vữa động mạch bằng cách kết hợp với cholesterol tạo các ester cơ động, không bền vững và dễ bài xuất ra khỏi cơ thể

- Điều hòa tính bền vững của thành mạch: nâng cao tính đàn hồi và hạ thấp tính thấm của thành mạch

Trang 35

- Có liên quan đến cơ chế chống ung thư

- Cần thiết cho các chuyển hoá các vitamin nhóm B

- Một số tổ chức như: gan, não, tim, các tuyến sinh dục có nhu cầu cao về các axit béo chưa no, nên khi không được cung cấp đủ từ thức ăn thì các rối loạn

sẽ xuất hiện ở các cơ quan này trước tiên

- Chất béo tham gia vào cấu trúc của tất cả các mô, là thành phần thiết yếu của tế bào, của các màng cơ thể và có vai trò điều hòa sinh học cao Não bộ và các mô thần kinh đặc biệt giàu chất béo Các rối loạn chuyển hóa chất béo ảnh hưởng đến chức phận nhiều cơ quan kể cả hệ thần kinh

- Thiếu axit béo omega-3 dẫn đến ảnh hưởng khả năng nhận thức, khả năng nhìn

- Chất béo cung cấp các axit béo thiết yếu không no đa nối đôi, chuỗi dài là tiền chất của một loạt các chất có hoạt tính sinh học cao như prostaglandin, leukotrienes, thromboxanes…Các eicosanoids này là các chất điều hòa rất mạnh 1 số tế bào và chức năng như: kết dính tiểu cầu, co mạch, đóng ống động mạch Botalli…

- Trong cơ thể chất béo là nguồn dự trữ năng lượng lớn nhất

- Chất béo kéo dài thời gian thức ăn ở dạ dày và đi qua đường tiêu hóa, tạo cảm giác no sau khi ăn Mặt khác chất béo tạo cảm quan ngon lành cho thực phẩm

1.3.3 Một số loại axit béo không no

Các axit béo này có 2 hoặc nhiều hơn các liên kết đôi cis, được tách khỏi nhau bằng một nhóm methylen (dạng này còn được gọi là kiểu divinylmethan)

Các axit béo thiết yếu là tất cả các axit béo omega-3 và omega-6 được tách bởi methylen

Trang 36

Omega-3

Trang 37

all-cis-6,9,12,15,18,21-Omega-6

all-cis-7,10,13,16-docosatetraenoic

Axit docosapentaenoic

all-cis-4,7,10,13,16-Axit béo omega-9 không no một nối đôi và nhiều nối đôi

Trang 38

Axit béo tiếp hợp có hai hoặc nhiều liên kết đôi tiếp hợp

Axit linoleic tiếp hợp (chứa hai liên kết đôi tiếp hợp)

Axit linolenic tiếp hợp (3 liên kết đôi tiếp hợp)

Khác

9E,11Z,13Z,15E-octadeca-9,11,13,15-trienoic

trans

Các axit không no nhiều liên kết đôi khác

1.4 Tình hình nghiên cứu bổ sung dầu vào thức ăn chăn nuôi

1.4.1 Tình hình nghiên cứu trên thế giới

Omega 3 rất quan trọng đối với sức khỏe con người, do vậy trong ngành công nghiệp thực phẩm đã quan tâm đến việc cung cấp omega 3 trong khẩu phần

Trang 39

ăn của con người thông qua thịt và trứng gà Hàm lượng omega-3 trong trứng gà

có thể được làm giàu lên một cách dễ dàng thông qua việc cung cấp các chất giàu omega-3 vào khẩu phần như dầu cá, dầu hạt cải, dầu hạt lanh (Hargis và Elswyk, 1993) [31]

Nhiều nghiên cứu về hạt lanh, hạt cải và dầu của chúng như một nguồn omega-3 cung cấp cho gà đẻ và ảnh hưởng của chúng đến năng suất và chất lượng trứng Dầu hạt lanh cung cấp với tỷ lệ 1, 2, 3, 4% vào khẩu phần không ảnh hưởng đến năng suất trứng (Gonacuglu và Ergun, 2004) [27]

Nhiều nghiên cứu đã chỉ ra rằng việc cung cấp vào khẩu phần ăn cho gà các chất dinh dưỡng giàu omega-3 hầu như không làm ảnh hưởng đến năng suất trứng (Schreiner và cs, 2004 [39]; Carrillo-Dominguez và cs, 2005 [24]; Ebeid

và cs, 2008 [25]) Gonzalez-Esquerra và Leeson (2000) [28] cho biết khi khẩu phần thức ăn được bổ sung omega-3 ở các mức khác nhau thì năng suất trứng tất

cả các giai đoạn đẻ đều không bị ảnh hưởng

Gonzalez-Esquerra và Leeson (2000) [28] khi nghiên cứu cung cấp vào khẩu phần thức ăn giàu omega-3 cho biết năng suất trứng tất cả các giai đoạn đẻ đều không bị ảnh hưởng bởi việc bổ sung ở các mức khác nhau

Similarly và cs (2001) thông báo khi bổ sung 5% dầu hạt lanh trong khẩu phần gà đẻ và các tác giả không tìm thấy sự ảnh hưởng của việc bổ sung đến năng suất trứng gà Grobas và cs (2001) [29], đã bổ sung 5% và 10% dầu hạt lanh vào khẩu phần cho gà đẻ trong 12 tuần đẻ và thấy rằng chúng không bị ảnh hưởng đến năng suất trứng

Jiang và cs (1991) [33]; Novak và Scheideler (2001) [38]; Bean và Leeson (2003) [21] cho biết sản lượng trứng không bị ảnh hưởng khi bổ sung cho gà đẻ 10% hạt lanh Yannakopoulos và cs (1999) [43] bổ sung 10 và 20% hạt lanh trong khẩu phần gà đẻ và tác giả không thấy sự ảnh hưởng của việc bổ sung đến năng suất trứng gà Gonacuglu và Ergun (2004) [27]; Jiang và cs, (1991) [33]; Novak và Scheideler (2001) [38]; Bean và Leeson (2003) [21] cho biết sản lượng trứng không bị ảnh hưởng khi bổ sung cho gà đẻ 10% hạt lanh Yếu tố ảnh hưởng chính đến giá trị dinh dưỡng của các nguồn chất béo chính là khả năng

Trang 40

tiêu hóa Khả năng tiêu hóa bị ảnh hưởng bởi nồng độ các axit béo no, cacbon trong chuỗi, sự tập trung các axit tự do, vị trí các phân tử glyxerin, cũng như sự tương tác giữa các axit béo no và không no

Grobas và cs (2001) [29] cho biết khi khẩu phần gà đẻ được bổ sung 5 hoặc 10% dầu hạt lanh sẽ làm giảm thu nhận thức ăn nhưng cải thiện hiệu quả chuyển hóa thức ăn Tương tự như vậy, Augustyn và cs (2006) cho biết khi bổ sung dầu hạt lanh thu nhận thức ăn gà đẻ giảm 14%, nhưng tăng hiệu quả chuyển hóa thức ăn

Theo Bean và Leeson (2003) [21] cho biết khi bổ sung 4% dầu hạt lanh sẽ làm giảm thu nhận thức ăn so với lo đối chứng Tuy nhiên, Celebi và Utlu, 2006 cho biết ở mức bổ sung này không ảnh hưởng đến hiệu quả chuyển hóa thức ăn Theo Novak và Scheideler (2001) [38]; Ansari và cs (2006) [19] thì bổ sung hạt lanh như nguồn chất béo vào khẩu phần gà đẻ làm tăng thu nhận thức

ăn Tuy nhiên, chưa rõ nguyên nhân làm tăng lượng thức ăn thu nhận Vì vậy, chúng ta cần nghiên cứu them về ảnh hưởng của việc bổ sung chất béo đến thu nhận thức ăn của gà

Filardi và cs, (2005) [26] cũng không thấy sự sai khác về năng suất trứng khi bổ sung 3,12% dầu hạt cải vào khẩu phần cho gà đẻ

1.4.2 Nghiên cứu trong nước

Lê Thanh Phương (2015) [11] đã nghiên cứu ảnh hưởng chất béo của thức

ăn trong khẩu phần đến thành phần axit béo của trứng gà công nghiệp Tác giả

đã sử dụng 3 loại dầu là cám gạo, dầu nành và dầu cá hồi với 3 tỷ

lệ là 1, 2 và 3% trong khẩu phần Kết quả cho thấy bổ sung dầu đã nâng cao năng suất sinh sản của gà; tỷ lệ đẻ cao nhất ở khẩu phần bổ sung 2% dầu cám gạo (96,81%) Gà nuôi khẩu phần bổ sung dầu cá hồi đã tăng tích lũy DHA, giảm hàm lượng cholesterol và tỷ lệ acid béo ω-6/ω-3 của lòng đỏ trứng

Lê Phúc Chiến và cs (2012) [4], đã tiến hành nghiên cứu ảnh hưởng của thức ăn bổ sung đến hàm lượng axit béo omega 3 trong trứng gà Tác giả sử dụng 10% chất bổ sung vào khẩu phần ăn cho gà đẻ Isha brown đã làm tăng hàm

Ngày đăng: 12/09/2017, 08:50

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w