Trước kia để phòng và trị bệnh ngoại ký sinh trùng cho vật nuôi nói chung, người ta thường sử dụng một số hóa dược.. Tuy nhiên, việc sử dụng hóa dược trong thời gian dài đã gây hiện tượn
Trang 1ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM KHOA CHĂN NUÔI THÚ Y
MÃ SỐ: T2016-11
Chủ nhiệm đề tài: TS DƯƠNG THỊ HỒNG DUYÊN
Thái Nguyên – năm 2016
Trang 2ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM KHOA CHĂN NUÔI THÚ Y
KHOA CHĂN NUÔI THÚ Y - TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
MÃ SỐ: T2016-11
Chủ nhiệm đề tài Xác nhận của Hội đồng nghiệm thu
(Ký, họ tên) (Ký, ghi rõ họ tên)
Trang 3DANH SÁCH THÀNH VIÊN THAM GIA VÀ ĐƠN VỊ PHỐI HỢP
A Danh sách thành viên tham gia
1 TS Phạm Diệu Thùy
B Đơn vị phối hợp
1 Khoa Chăn nuôi thú y - Trường Đại Học Nông Lâm Thái Nguyên
2 Bệnh viên Đa khoa Trung ương Thái Nguyên
Trang 4MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1 Tính cấp thiết 1
2 Mục tiêu nghiên cứu 2
3 Ý nghĩa khoa học của đề tài 2
4 Ý nghĩa thực tiễn của đề tài 2
Phần 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3
1.1 Cơ sở khoa học của đề tài 3
1.1.1 Một số đặc điểm sinh học của chó 3
1.1.2 Cơ sở khoa học của việc sử dụng thuốc thảo dược phòng trừ ngoại ký sinh trùng cho vật nuôi 4
1.1.3 Thu hái, bảo quản, chế biến dược liệu 8
1.1.4 Hiểu hiết chung về hạt Na và củ Bách bộ 10
1.1.5 Ve Rhipicephalus sanguineus ký sinh ở chó 14
1.2 Tình hình nghiên cứu trong và ngoài nýớc 21
1.2.1 Tình hình nghiên cứu trong nước 21
1.2.2 Tình hình nghiên cứu ở nước ngoài 22
Phần 2: ĐỐI TƯỢNG, VẬT LIỆU, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 25
2.1 Đối tượng và vật liệu nghiên cứu 25
2.1.1 Đối tượng nghiên cứu 25
2.1.2 Vật liệu nghiên cứu 25
2.2 Địa điểm và thời gian nghiên cứu 25
2.2.1 Địa điểm 25
2.2.2 Thời gian nghiên cứu 25
2.3 Nội dung nghiên cứu 26
2.3.1 Một số đặc điểm dịch tễ bệnh ve chó tại Tp Thái Nguyên 26
2.3.2 Nghiên cứu về triệu chứng lâm sàng của chó bị ve ký sinh 26
2.3.3 Bào chế và thử nghiệm dịch chiết xuất từ hạt Na và củ Bách bộ để diệt ve chó thí nghiệm 26
2.3.4 Sử dụng dịch chiết xuất từ hạt Na và củ Bách bộ để trị ve cho chó 26
2.4 Phương pháp nghiên cứu 26
2.4.1 Phương pháp thu thập mẫu 26
Trang 52.4.2 Phương pháp xác định tỷ lệ và cường độ nhiễm ve 27
2.4.3 Quy định một số yếu tố liên quan đến các chỉ tiêu nghiên cứu dịch tễ bệnh ve ở chó 27
2.4.4 Phương pháp theo dõi các biểu hiện lâm sàng chủ yếu của chó bị ve ký sinh 27
2.4.5 Phương pháp xác định sự thay đổi một số chỉ tiêu sinh lý máu của chó bị ve ký sinh 27
2.4.6 Phương pháp thử nghiệm chiết xuất hoạt chất từ Hạt Na và củ Bách bộ để trị ve cho chó 28
2.4.7 Chuẩn bị dược liệu 30
2.4.8 Chuẩn bị động vật thí nghiệm 30
2.4.9 Bố trí và tiến hành thí nghiệm 31
Phần 3: KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 35
3.1 Nghiên cứu đặc điểm dịch tễ bệnh ve ở chó tại Tp Thái Nguyên 35
3.1.1 Tỷ lệ và cường độ nhiễm ve ở chó tại một số xã, phường của Tp Thái Nguyên 35
3.1.2 Tỷ lệ và cường độ nhiễm ve theo tuổi chó 36
3.1.3 Tỷ lệ và cường độ nhiễm ve theo tính biệt chó 37
3.1.4 Tỷ lệ và cường độ nhiễm ve theo loại chó 38
3.1.5 Tỷ lệ và cường độ nhiễm ve ở chó theo mùa trong năm 39
3.2 Nghiên cứu về lâm sàng bệnh ve ở chó 39
3.2.1 Những biểu hiện lâm sàng chủ yếu của chó bị ve ký sinh 39
3.2.2 Sự thay đổi một số chỉ số máu của chó bị ve ký sinh 40
3.2.3 Công thức bạch cầu của chó khỏe và chó bị ve ký sinh 41
3.3 Bào chế và thử nghiệm sử dụng hạt Na và củ Bách bộ trị ve cho chó 42
3.3.1 Xác định dung môi chiết xuất thích hợp với hạt Na và củ Bách bộ 42
3.3.2 Thí nghiệm xác định thời gian chiết xuất thích hợp của hạt Na và củ Bách bộ trong dung môi NaOH 5% 46
3.3.3 Xác định nồng độ chiết xuất thích hợp của hạt Na và Bách bộ trên ve chó thí nghiệm 49
3.4 Sử dụng dịch chiết xuất từ hạt Na và củ Bách bộ để trị ve cho chó 51
3.4.1 Sử dụng dịch chiết xuất từ hạt Na và củ Bách bộ để trị ve cho chó trên diện hẹp 51
3.4.2 Sử dụng dịch chiết xuất từ hạt Na và củ Bách bộ để trị ve cho chó trên diện rộng 53
Trang 6Phần 4: KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 54
4.1 Kết luận 54
4.1.1 Một số đặc điểm dịch tễ bệnh ve trên chó 54
4.1.2 Bào chế và sử dụng dịch chiết hạt Na trị ve chó 54
4.1.3 Bào chế và sử dụng dịch chiết củ Bách bộ tươi trị ve chó 54
4.2 Đề nghị 55
TÀI LIỆU THAM KHẢO 56
Trang 7DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 3.1 Tỷ lệ và cường độ nhiễm ve ở chó tại một số xã, phường của Tp
Thái Nguyên 35
Bảng 3.2 Tỷ lệ và cường độ nhiễm ve theo tuổi chó 36
Bảng 3.3 Tỷ lệ và cường độ nhiễm ve theo tính biệt chó 37
Bảng 3.4 Tỷ lệ và cường độ nhiễm ve theo loại chó 38
Bảng 3.5 Tỷ lệ và cường độ nhiễm ve ở chó theo mùa trong năm 39
Bảng 3.6 Tỷ lệ và những biểu hiện lâm sàng chủ yếu của chó bị ve ký sinh 40
Bảng 3.7 So sánh số lượng hồng cầu, bạch cầu, hàm lượng huyết sắc tố giữa chó khỏe và chó bị ve ký sinh 41
Bảng 3.8 Công thức bạch cầu của chó khỏe và chó bị ve ký sinh 41
Bảng 3.9 Kết quả kiểm tra độc tính dịch chiết hạt Na 10% sau 24 giờ trong các dung môi 42
Bảng 3.10 Kết quả kiểm tra độc tính dịch chiết củ Bách bộ 10% sau 24 giờ trong các môi trường 45
Bảng 3.11 Kết quả kiểm tra độc tính dịch chiết hạt Na 10% trong môi trường NaOH 5% tại các thời điểm chiết xuất 46
Bảng 3.12 Kết quả kiểm tra độc tính dịch chiết củ Bách bộ 10% trong môi trường NaOH 5% tại các thời điểm chiết xuất 48
Bảng 3.13 Kết quả kiểm tra độc tính dịch chiết hạt Na với các nồng độ khác nhau được làm ẩm bằng NaOH 5%, thời gian ngâm chiết 36 giờ 50
Bảng 3.14 Kết quả kiểm tra độc tính dịch chiết củ Bách Bộ với các nồng độ khác nhau được làm ẩm bằng NaOH 5%, thời gian ngâm chiết 24 giờ 51
Bảng 3.15 Kết quả điều trị thử nghiệm cho chó nhiễm ve bằng dịch chiết hạt Na ngâm trong NaOH 5% (thời gian ngâm 36 giờ) 52
Bảng 3.16 Kết quả điều trị thử nghiệm cho chó nhiễm ve bằng dịch chiết Của Bách bộ ngâm trong NaOH 5% (thời gian ngâm 24 giờ) 52
Bảng 3.17 Hiệu lực điều trị ve cho chó bằng dịch chiết hạt Na và củ Bách bộ 10% 53
Trang 8DANH MỤC CÁC HÌNH
Hình 1.1 Cây Na (Annona squamosa L.) 10 Hình 1.1 Các giai đoạn phát triển của ve Rhipicephalus sanguineus ký
sinh trên chó 16 Hình 3.1 Biểu đồ kết quả kiểm tra độc tính dịch chiết phôi hạt Na 10% sau 24
giờ trong các dung môi 44 Hình 3.2 Biểu đồ kết quả kiểm tra độc tính dịch chiết củ Bách bộ 5% sau
24 giờ trong các dung môi 45 Hình 3.3 Biểu đồ kết quả kiểm tra độc tính dịch chiết phôi hạt Na 10%
trong môi trường NaOH 5% tại các thời điểm chiết xuất 47 Hình 3.4 Biểu đồ kết quả kiểm tra độc tính dịch chiết củ Bách bộ 10%
trong môi trường NaOH 5% tại các thời điểm chiết xuất 49 Hình 3.5 Biểu đồ kết quả kiểm tra độc tính các nồng độ dịch chiết phôi
hạt Na trong môi trường NaOH 5%, thời gian ngâm chiết 36 giờ 50
Trang 9Thành phố
Trang 10THÔNG TIN KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
ĐỀ TÀI KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ CẤP TRƯỜNG
1 Thông tin chung
Tên đề tài: “Đặc điểm dịch tễ bệnh ve chó ở Tp Thái Nguyên và thử
nghiệm hiệu quả điều trị ve cho chó bằng dịch chiết của một số thảo dược trồng tại Vườn cây dược liệu Khoa Chăn nuôi thú y - trường ĐH Nông Lâm”
Mã số: T2016 - 11
Chủ nhiệm đề tài: Dương Thị Hồng Duyên Tell: 0977 265 171
E-mail: duongthihongduyen@tuaf.edu.vn
Cơ quan chủ trì đề tài: Trường Đại Học Nông Lâm Thái Nguyên
Cơ quan và cá nhân phối hợp thực hiện:
1 Khoa Chăn nuôi thú y – Trường ĐH Nông Lâm Thái Nguyên
2 Bệnh viên Đa khoa Trung ương Thái Nguyên
3 Chủ hộ chăn nuôi chó tại thành phố Thái Nguyên
* Một số đặc điểm dịch tễ bệnh ve chó tại Tp Thái Nguyên
- Tỷ lệ và cường độ nhiễm ve ở chó tại một số xã, phường thuộc Tp Thái Nguyên
- Tỷ lệ và cường độ nhiễm ve ở chó theo tuổi
- Tỷ lệ và cường độ nhiễm ve ở chó theo tính biệt
- Tỷ lệ và cường độ nhiễm ve theo loại chó
Trang 11- Tỷ lệ và cường độ nhiễm ve ở chó theo mùa
* Nghiên cứu về triệu chứng lâm sàng của chó bị ve ký sinh
- Tỷ lệ và những biểu hiện lâm sàng chủ yếu của chó bị ve ký sinh
- Sự thay đổi một số chỉ số máu của chó bị ve ký sinh
- Công thức bạch cầu của chó khỏe và chó bị ve ký sinh
* Bào chế và thử nghiệm dịch chiết xuất từ hạt Na và củ Bách bộ để diệt
ve chó thí nghiệm
* Sử dụng dịch chiết xuất từ hạt Na và củ Bách bộ để trị ve cho chó
4 Kết quả nghiên cứu đã đạt được
- Ve R sanguineus ký sinh rất phổ biến ở chó nuôi tại các xã, phường của
Tp Thái Nguyên (tỷ lệ nhiễm biến động từ 58,70 – 71,93%) Cường độ nhiễm biến động từ 2 - 156 ve /chó
- Tỷ lệ và cường độ nhiễm ve ở chó có xu hướng tăng dần theo lứa tuổi
- Tính biệt không có ảnh hưởng rõ rệt đến tỷ lệ và cường độ nhiễm ve ở chó
- Chó nội và chó lai nhiễm ve với tỷ lệ và cường độ cao hơn so với chó ngoại
- Tỷ lệ và cường độ nhiễm ve ở chó cao ở mùa Hè và thấp ở mùa Đông
- Chó bị ve ký sinh thể hiện các biểu hiện lâm sàng chủ yếu gồm: kém ăn, gầy yếu, niêm mạc nhợt nhạt; lông xù, da khô và dày lên; dùng chân gãi, gậm, liếm những chỗ bị ve ký sinh Tỷ lệ các biểu hiện lâm sàng biến động từ 6,73 – 75,96%
- Chó bị ve ký sinh có số lượng hồng cầu giảm, số lượng bạch cầu tăng; tỷ
lệ lâm ba cầu và bạch cầu đơn nhân lớn giảm, tỷ lệ và số lượng bạch cầu hạt tăng
rõ rệt so với chó khỏe
- Dịch chiết hạt Na 10% ngâm trong NaOH 5% có hiệu lực trên 90% và
an toàn trong điều trị ve cho chó
- Dịch chiết củ Bách bộ 10% ngâm trong NaOH 5% có hiệu lực trên 90%
và an toàn trong điều trị ve cho chó
5 Sản phẩm
- Dịch chiết hạt Na trong NaOH 5% diệt ve cho chó
- Dịch chiết củ Bách Bộ trong NaOH 5% diệt ve cho chó
6 Hiệu quả và khả năng áp dụng
Sử dụng dịch chiết hạt na vả củ Bách bộ điều trị ve cho chó trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên và các tỉnh trung du miền núi Dịch chiết có hiệu quả điều trị trên 90% và an toàn với chó
Trang 12INFORMATION ON RESEARCH RESULTS
1 1. General information
- Project Title: "Study on some epidemiological characteristics of dog’s
tick diseaseat Thai Nguyen city and appove some therapeutic efficacy on ticks by extracted liquid of several medicinal herbs cultivatedat medicinal garden in Faculty of Animal Science and Veterinary medicine –Thai Nguyen University of Agriculture and Forestry”
- Code number: T2016-11
- Implementing Institution: Thainguyen University of Agriculture and Forestry
- Cooperating Institution(s): Faculty of animal science and Veterinary medicine
- Duration: from January 2016 to December 2016
* Some epidemiological characteristics of canine ticks in Thai Nguyen city
- The prevalence and infection intensity of dog ticks at some communes and wards in Thai Nguyen city
- The prevalence and infection intensity of dog ticks in dogs according to age
- The prevalence and infection intensity of dog ticks in dogs according to specie
- The prevalence and infection intensity of dog ticks in dogs according to sex
- The prevalence and infection intensity of dog ticks in dogs according to season
* Study on clinical symptoms of parasitic tick dog
- The prevalence and mainly clinic manifestations of tick dog
- The change of some indicators of dog bloodparasited by ticks
- Leukocyte formula of healthy dogs and parasitic tick dogs
* Prepare and approve Na and Bach Bo roots extracts to desparasite ticks for experimental dogs
Trang 13* Using extracts from Na seeds and Bach Bo roots to treat ticks for dogs
4 Results obtained
- R sanguineus parasitic ticks are the most common in dogs raised at
communes, wards in Thai Nguyen city (prevalence varied from 58.70 to 71.93%) Infection intensity varied from 2-156 ticks/ dog
- The prevalence and infection intensityof ticksnn dogs increased in accordance with age
- The sex of dogs was not affected significantly to the prevalence and infectionintensity of dog ticks
- Local dogs and hybrid dogsinfected ticks higher prevalence and infectionintensity in comparison with foreign dogs
- The prevalence and infection intensity of ticks on dogs were high in summer and low in winter
- Dogs with parasitic ticks represented the major clinical manifestations such as: loss of appetite, thin, pale mucous membranes; fuzzy, dry and thickened skin; scratching feet, roaring, licking the site of parasitic ticks The prevalence of clinical symptoms varied from 6.73 to 75.96%
- Dogs with parasitic ticks have reduced the number of red blood cells, white blood cell count increased; the proportion of lymph and monocytes decreased, the proportion and number of granulocytes increased significantly in comparison with healthy dogs
- The extract of Na seeds 10% soaked in NaOH5% have efficacy over 90% and safe for treating dog ticks
- The extract of Bach Bo roots 10% soaked in NaOH 5% have efficacy over 90% and safe for treating dog ticks
5 Products:
- Extracts from Na seeds in NaOH 5% to treat ticks for dogs.
- Extracts from Bach Bo roots in NaOH 5% to treat ticks for dogs.
6 Effects and applicability:
Use extracts from Na seeds and Bach Bo roots to treat ticks for dogs in the
province of Thai Nguyen and mountainous midland Efficacy extracts are 90% effective and safe for dogs
Trang 14MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết
Từ lâu, chó đã được thuần hóa và coi như là người bạn gần gũi, thân thiện với con người Chó dễ nuôi, trung thành với chủ, các giác quan rất phát triển, thông minh, nhanh nhẹn và có tính thích nghi cao với điều kiện sống khác nhau
Do vậy, chó được nuôi phổ biến ở khắp nơi trên thế giới, phục vụ các mục đích khác nhau Những năm gần đây, nền kinh tế ngày càng phát triển, đời sống dân trí được nâng cao, do vậy việc nuôi chó không những để giữ nhà, mà còn để làm cảnh
và làm kinh tế Nhiều giống chó ngoại quý hiếm được nhập làm phong phú thêm
về số lượng và chủng loại chó ở nước ta Song chó là loài động vật rất mẫn cảm với các tác nhân gây bệnh Bệnh truyền nhiễm do vi khuẩn, vi rút và bệnh do ký sinh trùng đã và đang làm chết nhiều chó ở Thái Nguyên, gây thiệt hại kinh tế cho nhiều hộ chăn nuôi, đặc biệt là các hộ chăn nuôi những giống chó quý hiếm Việt Nam là một nước nằm trong khu vực nhiệt đới gió mùa, nóng ẩm, mưa nhiều, có điều kiện thuận lợi cho ký sinh trùng phát triển quanh năm, gây thiệt hại đáng kể về kinh tế cho người chăn nuôi Tuy nhiên, việc nghiên cứu về bệnh của chó chưa được quan tâm đúng mức, đặc biệt là bệnh do ký sinh trùng gây nên, trong đó có bệnh do ve ký sinh, gây tác hại lớn đối với chó
Bệnh ve ở chó là một trong những bệnh ngoại ký sinh trùng phổ biến nhất, không những gây tổn thương thực thể làm giảm sức đề kháng, giảm khả năng sinh trưởng và phát triển của chó… mà còn là kho lưu trữ mầm bệnh sống (vi khuẩn, vir rút, ký sinh trùng đường máu…)
Trước kia để phòng và trị bệnh ngoại ký sinh trùng cho vật nuôi nói chung, người ta thường sử dụng một số hóa dược Tuy nhiên, việc sử dụng hóa dược trong thời gian dài đã gây hiện tượng kháng thuốc, nhờn thuốc làm giảm hiệu quả điều trị bệnh, mặt khác có thể gây độc hại cho vật chủ, tồn dư trong sản phẩm động vật làm ảnh hưởng tới sức khỏe con người, gây ô nhiễm môi trường sinh thái
Từ xa xưa, ông cha ta đã biết sử dụng nguồn thảo dược nhiên nhiên sẵn có
để chữa bệnh và truyền lại cho các thế hệ sau
Ở Việt Nam, nguồn cây thuốc rất phong phú và đã cho thấy có hiệu quả trong phòng trị bệnh gia súc gia cầm, lại ít độc tính Sử dụng cây thuốc phòng trị cho gia súc gia cầm thay thế kháng sinh (đặc biệt trong phòng bệnh và có khả
Trang 15năng kích thích tăng trưởng) sẽ giảm được giá thành, tạo thực phẩm sạch và an toàn, đã được dân gian sử dụng phòng trị nhiều bệnh cho vật nuôi rất tốt… mà lại khắc phục được nhược điểm của các loại hóa dược
Những năm gần đây, phong trào nuôi chó ở tỉnh Thái Nguyên khá phát triển Tuy nhiên, việc phòng trị bệnh ngoại ký sinh trùng, đặc biệt là bệnh do ve
ký sinh ở chó còn ít được quan tâm; để có cơ sở khoa học cho việc ứng dụng các cây dược liệu trong điều trị bệnh ve cho chó chúng tôi tiến hành thực hiện đề tài:
“Đặc điểm dịch tễ bệnh ve chó ở Tp Thái Nguyên và thử nghiệm hiệu quả điều trị ve cho chó bằng dịch chiết của một số thảo dược trồng tại Vườn cây dược liệu Khoa Chăn nuôi thú y - trường ĐH Nông Lâm”
2 Mục tiêu nghiên cứu
- Nghiên cứu đặc điểm dịch tễ bệnh ve chó ở một số phường, xã của Tp Thái Nguyên
- Nghiên cứu tác dụng dược lý của hai loại dược liệu Việt Nam: hạt Na và
củ Bách bộ, từ đó xác định nồng độ thích hợp để diệt ve cho chó
- Điều trị thử nghiệm diệt ve ký sinh trên chó ở một số phường, xã của Tp Thái Nguyên
3 Ý nghĩa khoa học của đề tài
Kết quả của đề tài là những thông tin khoa học bổ sung và hoàn thiện thêm các nghiên cứu về đặc điểm dịch tễ bệnh ve ở chó Đưa ra biện pháp điều trị hiệu quả bệnh do ve ký sinh ở chó bằng dược liệu
4 Ý nghĩa thực tiễn của đề tài
Kết quả của đề tài là cơ sở khoa học để khuyến cáo những hộ gia đình nuôi chó tại Tp Thái Nguyên và các địa phương khác trên địa bàn Tỉnh sử dụng thảo dược trong phòng và trị bệnh do ve gây ra ở chó, góp phần hạn chế tỷ lệ và cường độ nhiễm, hạn chế thiệt hại do ve chó gây ra, giúp bảo vệ sức khỏe con người và vật nuôi
Trang 16Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1 Cơ sở khoa học của đề tài
1.1.1 Một số đặc điểm sinh học của chó
* Nguồn gốc chó nhà
Chó nhà hiện nay có nhiều nguồn gốc khác nhau, đã được con người nuôi
và thuần hóa sớm nhất, cách đây khoảng 13.000 - 15.000 năm Đông Nam Á là trung tâm thuần hóa chó cổ nhất Từ đó, chó nhà xâm nhập sang Châu Úc, các nước phương Đông, rồi du nhập vào Châu Mỹ
Chó cỏ hay chó ta, chó nội (để phân biệt với các giống chó ngoại) chó mực, chó vện hay còn gọi chung là chó Việt Nam là các giống chó thuần chủng có nguồn gốc tại Việt Nam Hiện ở Việt Nam có bốn giống chó nội có giá trị và được gọi là tứ đại quốc khuyển gồm: Chó Bắc Hà, chó Lài (Dingo Đông Dương,
tên khoa học: Canis lupus dingo), H’mông cộc đuôi và đặc biệt là chó Phú Quốc
Những giống chó nội địa này đã tồn tại từ lâu trên bán đảo Đông Dương và
ở Việt Nam từ hơn 6.000 năm nay với quá trình gắn bó cùng con người Trong các giống chó thì chó Lài khá phổ biến, đây là giống chó nguyên thủy đặc trưng tại các vùng trung du và miền núi của Việt Nam Giống này đang được người dân vùng cao tại Việt Nam nuôi rải rác khắp các vùng lãnh thổ Chó chủ yếu được người dân nuôi trông nhà và các hoặt động săn bắn hay đi rừng, chúng có bản năng trung thành với chủ Ngoài ra giống chó Phú Quốc là giống chó duy nhất đến nay của Việt Nam được công nhận trên thế giới
Các giống chó Việt Nam nhìn chung có tầm vóc trung bình và nhỏ, nặng khoảng 10 - 12 kg khi trưởng thành Chó Lài thì có tầm vóc trung bình, cân nặng
từ 15 - 30 kg, chiều cao 45 cm - 65 cm Cơ thể hơi dài hơn so với chiều cao, thông thường chó đực to hơn chó cái Đặc điểm dễ nhận biết với loài này nếu là thuần chủng phải có bốn chân có màu bít tất trắng và chóp đuôi trắng (đuôi bông lau), đuôi dài vừa phải, bình thường buông thõng (cụp đuôi), lúc hoạt động dựng hướng lên trên, hoặc cuộn trên lưng (cong đuôi) Chiều cao tới vai so với chiều dài cơ thể là 1: 1,2 trong đó phần thân nằm trong hình chữ nhật nằm ngang, lưng thẳng, bụng thon gọn
Trang 17Chiều dài toàn đầu so với chiều dài mõm là 2: 1, đầu chúng thon, dài vừa phải và cân đối, mặt có hình tam giác theo kiểu chó sói, mõm chó hình chữ V và ngắn, đầu mõm hơi nhọn, gốc mõm khá rộng Mõm dài gần bằng nửa chiều dài toàn đầu mũi có màu đen, lưỡi màu hồng hoặc có đốm màu đen Tai nằm hai bên hộp sọ, dựng đứng như hình vỏ sò và hướng về phía trước Tai to vừa phải, cân đối, không nhọn, phía trong tai ít lông; nếu nhìn thẳng trực diện thì hai tai dựng đứng, vuông góc với đỉnh sọ Các màu lông phổ biến là màu lông đỏ lửa, đen 4 mắt, trắng, đen tuyền, xám, đốm (khoang), nâu, vện Chó Việt Nam hay còn gọi
là chó ta có khả năng kháng bệnh rất cao
Độ tuổi thành thục về tính của chó nội đực khoảng 15 - 18 tháng tuổi, chó cái là 12 - 14 tháng tuổi Chó cái mang thai 60 ± 2 ngày rồi đẻ.Sự hoạt động rụng trứng của chó có chu kỳ 180 ngày, tức là 2 lần/năm (Nhóm tác giả, 2003 [26]) Theo Nhóm tác giả (2003) [26], chó nội khỏe mạnh trưởng thành có các chỉ tiêu sinh lý như sau:
có nhiều công trình nghiên cứu về đông dược nhằm tìm hiểu cơ sở khoa học của các bài thuốc để áp dụng vào việc phòng trị bệnh một cách có hiệu quả
Đối với ngành thú y, có thể nói lịch sử của quá trình sử dụng thuốc thảo dược trong thú y trước đây còn do kinh nghiệm mang tính truyền miệng hoặc được áp dụng tương tự như người (Lê Thị Ngọc Diệp,1999) [9]
Việc dùng các loại thuốc hóa dược trị ngoại ký sinh trùng tuy mang lại hiệu quả cao nhưng lại gây nhiều tác dụng phụ như gây hiện tượng nhờn thuốc, gây
Trang 18đột biến gen, tăng nguy cơ ung thư, ảnh hưởng tới sức khỏe vật nuôi, gây ô nhiễm môi trường… Trong khi đó dùng thuốc thảo dược sẽ khắc phục được những nhược điểm của thuốc hóa dược Nguồn thảo dược lại rất phong phú, dễ kiếm, dễ sử dụng, ít hoặc không gây độc, hiệu quả sử dụng cao, giá thành rẻ và đặc biệt không gây tồn dư trong sản phẩm động vật, không gây ô nhiễm môi trường Vì vậy, việc đi sâu khai thác thế mạnh của thảo dược là hướng nghiên cứu cần thiết không những trong giai đoạn hiện nay mà cả trong tương lai
1.1.2.1 Yêu cầu đối với thuốc trị ngoại ký sinh trùng
Mỗi loại ký sinh trùng đều có đặc điểm sinh trưởng, phát triển và đặc điểm
ký sinh riêng, vì vậy thuốc dùng ðể phòng trị ngoại ký sinh trùng ngoài những yêu cầu chung như những loại thuốc khác còn có những yêu cầu riêng Theo Bùi Thị Tho (2003) [36], Nguyễn Quang Tính (2014) [37], thuốc trị ngoại ký sinh trùng lý tưởng cần đạt các yêu cầu sau:
- Thuốc có khả năng tiêu diệt ngoại ký sinh trùng trong tất cả các chu kỳ phát triển, cả vòng đời biến thái của chúng (từ trưởng thành - trứng - ấu trùng - các biến thái của ấu trùng - dạng trưởng thành)
- Thuốc có tác dụng nhanh, không hoặc ít độc với vật chủ và người khi sử dụng
- Thuốc có tác dụng hiệp đồng hay được phân bố đồng đều trong dung dịch lỏng phù hợp với yêu cầu sử dụng
- Thuốc dễ sử dụng, tùy theo loại ký sinh có thể sử dụng dưới các dạng như trộn vào thức ăn, pha nước tắm, bơm xịt, bôi trên da hoặc tiêm dưới da…
- Không hoặc ít để lại tồn dư trong tế bào, tổ chức vật chủ
- Không gây ô nhiễm môi trường
Để có được một loại thuốc đáp ứng được các yêu cầu trên là hết sức khó khăn Những nghiên cứu về các loại thuốc trước đây và hiện nay vẫn đang sử dụng (phần lớn là các loại hóa dược) cho thấy chúng chỉ đáp ứng được mặt nào
đó trong điều trị Các thuốc này độc với ký sinh trùng song chúng cũng độc với
ký chủ và người, gây ô nhiễm môi trường vì khó phân hủy trong tự nhiên, đồng thời tồn dư trong sản phẩm chăn nuôi Do đó nhiều các thuốc trước kia sử dụng phổ biến như: Dipterex, DDT, 666… đã bị Nhà nước cấm sử dụng Trong những năm gần đây, các nhà khoa học trên thế giới, đặc biệt là các nhà khoa học vùng Đông Nam Á đã sử dụng các loại dược liệu (cây thuốc Cá, Cúc trừ trùng, cây Bách bộ…) có các hoạt chất: Rotenon, pyrethroids, Stemonin… để diệt ngoại ký
Trang 19sinh trùng Những loại dược liệu đó gần như đã đáp ứng được yêu cầu của thuốc diệt ngoại ký sinh trùng lý tưởng
1.1.2.2 Một số thành tựu nghiên cứu và ứng dụng thảo dược trong phòng và trị bệnh
Nằm trong khu vực Đông Nam Á, gần các trung tâm lớn về y dược truyền thống như Trung Quốc, Ấn Độ… Việt Nam cũng có nền y học cổ truyền xuất hiện từ rất sớm, có nhiều bài thuốc hay chữa bệnh cho người và vật nuôi Riêng
để trị ngoại ký sinh trùng, từ xa xưa nhân dân ta đã biết sử dụng một số thảo dược có hiệu quả như: Thuốc lá, hạt Na chữa ghẻ, hạt Thàn mát trị ve, ghẻ… Ngày nay, bằng việc ứng dụng thành tựu của khoa học người ta đã chứng minh được thuốc có nguồn gốc thiên nhiên dễ được cơ thể chấp nhận, ít có tác dụng phụ Trong khi đó các thuốc tổng hợp hóa học hay gây tác dụng phụ, đôi khi gây đột biến gen, quái thai hay các tổn thất nặng như điếc, tăng nguy cơ ung thư… Các kết quả nghiên cứu đã thu được càng khẳng định rõ mối quan hệ giữa dược liệu và sức khỏe cộng đồng Nhiều bệnh nan y được chữa trị nhờ sự đóng góp
của dược liệu Đã có nhiều công trình khoa học phát hiện được những đặc tính
quý mới của các thảo dược truyền thống và những cây thuốc mới
- Nhiều tác giả đã nghiên cứu được tác dụng kháng khuẩn của Bách bộ Theo
Vũ Ngọc Kim và cs (1996) [18], nước sắc Bách bộ có tính kháng khuẩn như vi khuẩn tả, phó thương hàn, trực khuẩn mủ xanh, tụ cầu vàng, vi khuẩn lao Tác giả cũng đã thí nghiệm cho thỏ uống Bách bộ (có so sánh nhiều đối chứng) thấy số lượng đại thực bào ở phế nang tăng lên sau 15 - 20 ngày dùng thuốc Khả năng loại trừ tụ cầu vàng gây bệnh phổi qua đường phế quản cũng được tăng lên Điều này giải thích Bách bộ trị được một số bệnh nhiễm khuẩn đường phổi là có cơ sở
- Trong lá cây Chè (Thea cinensis) có hoạt chất như cafein, glucozid, men
oxy hóa theaza, ngoài những tác dụng thông thường như giải cảm, giải độc, lợi tiểu người ta còn mới phát hiện ra một giá trị đặc biệt đó là khả năng làm tăng sức đề kháng của trẻ em đối với virus gây bệnh Viêm não B Nhật Bản (Bùi Ngân Tâm, 2003) [31]
- Cây Actiso (Cynara Scolymus L) chứa nhiều hoạt chất có tác dụng chống
viêm, lợi tiểu, thông mật, bổ gan… (Lê Thị Ngọc Diệp,1999) [9]
- Theo Vũ Xuân Quang (1993) [30], từ cây Đại (Phumeria rubra linn var
acutifolia baill) chiết được chất fulvoplumierin có tác dụng ức chế vi khuẩn lao ở
nồng độ 1 -5 µg/ml
Trang 20- Vừa qua, các nhà khoa học trên thế giới phát hiện thêm nhiều đặc tính quý
của nấm Linh chi (Ganoderrma lucidum) trong việc chữa các chứng bệnh gan,
mật, ung thư… Thậm chí cả hiệu ứng ngăn ngừa và chống căn bệnh thế kỷ AIDS (Viện Dược liệu,2001) [40],
Đối với ngành thú y, Đông dược thú y đã có những nghiên cứu và thu được một số kết quả rất khả quan
- Trần Minh Hùng (1978) [15] đã nghiên cứu sử dụng kháng sinh thực vật trong nuôi dưỡng và phòng bệnh cho lợn, đặc biệt bệnh lợn con phân trắng đạt hiệu quả cao
- Theo tác giả Bùi Thị Tho (1996) [36], qua theo dõi tính kháng thuốc của
hai loại vi khuẩn E.coli và Salmonella đã cho biết:
+ Các vi khuẩn này kháng lại thuốc hóa học trị liệu (streptomycin, neomycin, tetracylin…) rất nhanh, đồng thời giữa chúng lại có hiện tượng kháng
chéo Trong khi đó hiện nay chưa thấy E.coli và Salmonella kháng lại phytoncyd
của tỏi, hẹ mặc dù ông cha ta đã sử dụng hai loại dược liệu này từ xa xưa và rất thường xuyên
+ Trong phòng thí nghiệm, thời gian để tạo được các chủng vi khuẩn kháng lại phytoncid của tỏi, hẹ phải lâu hơn 3 - 5 lần so với thuốc hóa học trị liệu Khi tăng nồng độ phytoncid lên 5 lần so với nồng độ tạo kháng vi khuẩn đã bị tiêu diệt Nhưng đối với thuốc hóa học trị liệu, mặc dù đã tăng nồng độ lên 120 lần (thậm chí cao hơn) so với nồng độ tạo kháng vi khuẩn mà vi khuẩn vẫn sống Riêng đối với ngoại ký sinh trùng thú y, Đông dược đã đạt được một số thành tựu nhất định
- Theo Trần Quang Hùng (1995) [16] trong thuốc lá và hạt Na có chứa kiềm thực vật Nicotin và Nornicotin, chế phẩm Nicotin trừ được ngoại ký sinh trùng
và côn trùng hại rau màu và cây công nghiệp Nicotin nhanh chóng phân giải trong môi trường
- Theo Phạm Khắc Hiếu và Bùi Thị Tho (1994) [13], dùng cao hạt mát: hạt mát giã nhỏ (3 phần), hạt dầu trẩu giã nhỏ (1 phần), lưu huỳnh phi (1 phần), nước (8 phần) Trộn đều tất cả 4 thứ trên, cô cách thủy trong vòng 30 phút thành cao
thể diệt được cả ve cứng lẫn ve mềm
Trang 21- Theo Bùi Thị Tho (2003) [36], dùng củ bách bộ nồng độ 5% ngâm trong môi trường HCl 5%, thời gian ngâm 12 - 24 giờ diệt 91,04% ve chó
- Kết quả nghiên cứu về chế phẩm thuốc mỡ chế từ cây thuốc cá của Nguyễn Thanh Hải (2007) [12] cho thấy:
Thuốc mỡ 10% sau 2 lần bôi thuốc, sau 48 giờ điều trị chó, bò sạch ve Thuốc mỡ 20% sau 2 lần bôi thuốc, sau 36 giờ điều trị chó, bò sạch ve Thuốc mỡ 30% chỉ cần 1 lần bôi thuốc, sau 24 giờ chó, bò sạch ve
Khi sử dụng các chế phẩm thuốc mỡ trên bôi cho chó và bò không thấy động vật thí nghiệm nào có biểu hiện trúng độc, không dị ứng hay nổi mẩn trên da
- Trần Quang Hùng (1995) [16] cho biết, từ hai thập niên của cuối thế kỷ 20 các nhà khoa học vùng Đông Nam Á đã sử dụng hoạt chất của hoa Cúc trừ trùng
để chế những chế phẩm có hiệu lực cao đối với ngoại ký sinh trùng và côn trùng hại rau màu (chế phẩm Dilatian chứa khoảng 1% Pyrethrin) Người ta phát hiện trong hoa Cúc trừ trùng có 6 este của axit xiclopropan cacboxylic, độc đối với sâu đó là Pyrethrin I và II, Cinerin I và II, Jasmolin I và II Trong bột hoa Cúc trừ trùng các este Pyrethrin chiếm 75% Cũng theo tác giả này các Pyrethrin có hiệu lực trừ sâu, ngoại ký sinh trùng cao hơn và có nhiều ưu điểm hơn các este tổng hợp Đồng thời kết quả nghiên cứu bước đầu cho thấy Pyrethroit dưới tác động của men và ánh sáng mặt trời thì quá trình chuyển hóa và phân giải xảy ra nhanh, các hợp chất chuyển hóa trung gian ít độc hơn dạng hợp chất ban đầu hoặc không độc Mặt khác sau khi sử dụng trên cơ thể, thuốc chỉ có tác dụng diệt ngoại ký sinh trùng trên bề mặt da mà không gây tồn lưu ít có nguy cơ tích lũy trong sản phẩm động vật
- Theo Brander G C và cs (1991) [44] các hoạt chất trong hoa Cúc trừ trùng có hiệu quả tốt trên ngoại ký sinh trùng và côn trùng, ít độc đối với động vật có vú
1.1.3 Thu hái, bảo quản, chế biến dược liệu
1.1.3.1 Thu hái dược liệu
Thu hái dược liệu đúng quy trình, kỹ thuật có vai trò lớn, ảnh hưởng không ít đến hiệu quả điều trị Theo các tác giả Lê Trần Đức (1977) [11], Đỗ Tất Lợi (1991) [22], Phạm Khắc Hiếu, Bùi Thị Tho (1994) [13], thu hái dược liệu phải tuân theo hai quy tắc: đúng thời vụ và đúng bộ phận dùng làm thuốc Phải xác định đúng thời điểm, đúng bộ phận thu hái để có lượng hoạt chất cao nhất
Trang 22Tỷ lệ hoạt chất trong dược liệu liên quan mật thiết với thời kỳ phát triển của cây thuốc Hàm lượng hoạt chất còn khác nhau qua từng năm với cây lưu niên, có khi qua từng giờ trong ngày Vì vậy lịch thu hái dược liệu chỉ có tính chất hướng dẫn chung, tùy thời tiết, tùy từng cây thuốc mà thu hái cho thích hợp
1.1.3.2 Bảo quản dược liệu
Là khâu quan trọng sau thu hái, bảo quản không tốt sẽ làm thuốc bị giảm hoạt chất, hư hỏng làm ảnh hưởng tới hiệu quả điều trị Kho bảo quản dược liệu phải khô ráo, thoáng mát để đảm bảo hình thức và chất lượng thuốc Khi bảo quản dược liệu trong kho phải chú ý: chống ẩm; chống mốc; chống sâu mọt, kiến, chuột, mối, gián
1.1.3.3 Chế biến dược liệu
Chế biến dược liệu nhằm mục đích:
- Giúp cho việc bảo quản, sử dụng thuận tiện hơn: qua chế biến thuốc gọn nhẹ hơn; vi khuẩn, nấm mốc, men bị tiêu diệt để ổn định dược liệu Mặt khác thuốc được chế thành những dạng phù hợp cho từng đối tượng sử dụng mà tác dụng dược lý vẫn được đảm bảo
- Làm cho tác dụng dược lý của vị thuốc tốt hơn bằng cách loại bỏ tạp chất
và những bộ phận không có tác dụng, khai thác triệt để hoạt chất, điều khiển tác dụng của vị thuốc dẫn vào cơ quan và bộ phận mong muốn trong cơ thể Thí dụ tẩm dấm sao có tác dụng dẫn thuốc vào gan, tẩm muối sao tăng khả năng dẫn thuốc vào thận
- Thông qua chế biến có thể thêm hoặc thay đổi hoàn toàn tác dụng dược lý của vị thuốc Thí dụ sao thâm làm cho vị thuốc có thêm tác dụng kích thích tiêu hóa, sao cháy làm cho dược liệu chỉ còn tác dụng cầm máu
- Làm giảm bớt độc tính của thuốc hay những chất không cần thiết với một loại bệnh nhất định
Có một số phương pháp chế biến thường được áp dụng trong Đông dược thú y:
Dạng khô
* Cắt nhỏ làm khô:
- Phơi:
+ Phơi ngoài nắng
+ Phơi trong bóng râm và có mái che (phơi âm can)
- Sấy bằng không khí nóng và khô
Trang 23- Làm khô bằng tia hồng ngoại
- Làm khô ở tủ sấy nóng và tủ sấy chân không
* Sao (hỏa chế): Là phương pháp dùng sức lửa trực tiếp hay gián tiếp để xử
lý dược liệu Đây là phương pháp hay gặp nhất trong bào chế dược liệu
- Sao không thêm chất khác: sao qua, sao vàng, sao thâm, sao tồn tính, sao cháy
- Sao có thêm chất khác: cát, bột căn cáp, hoạt thạch…
- Tẩm sao: tùy từng trường hợp cụ thể mà tẩm sao với: rượu, dấm, muối…
* Làm bột
* Làm viên
* Làm thuốc mềm
Dạng lỏng: thuốc sắc, ngâm rượu, phương pháp phối hợp
Các dạng khác: nhũ dịch, cao thuốc, thuốc chế phẩm mới, dầu thuốc
1.1.4 Hiểu hiết chung về hạt Na và củ Bách bộ
* Mô tả cây và phân bố, thu hái
Theo Đỗ Tất Lợi (2000) [23], Na thuộc dạng cây thân gỗ nhỏ, cao 2 – 6 mét Thân gỗ tròn, vỏ nháp, nhiều cành Lá mọc so le hình bầu dục dài 7 - 10cm, rộng 3 - 4cm Hoa đơn, nở vào tháng 3 - 4, cánh hoa màu mỡ gà, hoa thường mọc đối diện với lá Nhị nhiều, chỉ nhị rộng, chỉ hơi hẹp hơn bao phấn một chút Quả kép, dạng quả mọng màu xanh lục nhạt, gồm nhiều múi, mỗi múi là một phân quả Thịt quả trắng mềm, ngọt và thơm Mùa quả từ tháng 8 - 11 Hạt hình bầu dục, một đầu thuôn tròn, vỏ hạt màu đen, nhẵn bóng, dài từ 2 – 3 cm
Hình 1.1 Cây Na (Annona squamosa L.)
Trang 24Na được trồng ở khắp nơi trong nước ta, nhiều và ngon nhất là giống Na dai Trồng Na cần chọn nơi đất cao, nhiều phân, mát, thấm nước Cần chọn những quả to nhất, thật chín, bóc vỏ, để nguyên cả múi và hột đem ươm, như vậy cây giống sẽ lâu cỗi và cho quả cũng ngon như cây đã cho giống Khi ươm cây
đã cao 40 - 50cm thì đem trồng Đầu mùa mưa, đất dọn sẵn, đào lỗ sâu 30cm, mỗi lỗ cách nhau 2m x 2m, cho chừng 2kg phân chuồng Cây trồng xong ít phải trông nom, chỉ cần làm cỏ xung quanh và tỉa bớt cành khô Từ năm thứ 4 trở đi mới có nhiều quả, khi ấy hàng năm chỉ cần bón 5 - 10kg phân Nếu thấy cây cho nhiều quả nhỏ thì đầu mùa mưa nên cắt bớt những cành cách mặt đất chừng 1m, cây sẽ cho nhiều cành non và nhiều quả hơn
Cây Na mau cỗi, sau 7 - 8 năm nên đẵn đi và trồng lại
* Thành phần hóa học
Trong lá Na có một ancaloit vô định hình, không có glucozit
Trong quả Na có chứa 72% glucoza; 14,52% sacaroza; 1,73% tinh bột; 2,7% protit
Trong hạt có chứa chừng 39,5 - 42% dầu, trong đó các axit béo là những axit myristic, panmitic, stearic, arachidic, hexadecanoic và oleic Trong hạt Na có
Quả na có vị ngọt chua, tính ấm, có tác dụng hạ khí tiêu đờm Quả xanh làm săn da, tiêu sưng Hạt na có vị đắng, hơi hôi, tính lạnh, có tác dụng thanh can,
Trang 25giải nhiệt, tiêu độc, sát trùng Lá cũng có tác dụng kháng sinh, tiêu viêm, sát trùng Rễ cầm tiêu chảy
Lá Na được nhân dân dùng để chữa sốt rét: Chọn các lá không bị sâu, rửa sạch vò lấy nước uống tươi hoặc sắc lấy nước uống Liều dùng: người lớn 20 lá, trẻ con 10 lá, giã nhỏ, thêm ít nước lọc vào vắt lấy nước uống 2 giờ trước khi lên cơn sốt Ngày chỉ dùng một liều, thường chỉ cần uống 3 - 4 ngày là hết
Hạt Na tán nhỏ dùng trừ chấy rận: Giã nhỏ, nấu nước gội đầu hay giặt quần
áo Chú ý khi gội đầu cần tránh đừng để hạt Na hay nước hạt Na bắn vào mắt Nhân hạt Na rất độc, chỉ cần nhấm một ít đã thấy khó chịu nhưng khi ăn hạt Na
vô ý nuốt vào không làm sao là do lớp vỏ cứng che chở không cho nhân tác dụng Có thể ngâm hạt vào rượu, rồi dùng rượu mà vò đầu hoặc nhỏ vào tóc Vẫn cần tránh dây thuốc vào mắt
Quả Na điếc (quả Na bị một giống nấm làm hỏng, tự nhiên có màu đỏ tím rồi rụng) nhân dân hay dùng quả Na này để giã nhỏ đắp lên vú bị sưng
1.1.4.2 Cây Bách bộ (Củ ba mươi, cây diệt ác)
Giới: Plantae
Bộ: Pandanales
Họ: Stemonaceae
Chi: Stemona
Loài: Stemona tuberosa
* Mô tả cây, phân bố
- Mô tả cây: Dây leo có thân mảnh, nhẵn, dài 6 - 8 m, ở gốc có nhiều rễ củ mọc thành chùm, 10 - 20 hoặc 30 củ (củ ba mươi), có khi tới gần một trăm củ, dài 15 - 20 cm, rộng 1,5 - 2 cm Lá mọc đối hay so le, hình tim, nhưng đặc biệt
có hệ gân ngang dày song song với các gân chính hình cung, dài 10 - 15 cm, rộng
4 mm, mặt ngoài màu vàng lục, mặt trong màu đỏ tươi, có mùi thối; 4 nhị dài 4 -
5 cm Quả nang chứa nhiều hạt (Phạm Khắc Hiếu, Bùi Thị Tho, 1994 [13], Đỗ Tất Lợi, 2000 [23])
Đỗ Tất Lợi (2006) [24] cho biết: rễ củ gồm 10 đến 20 hoặc 30 củ, có khi tới
100 củ dài 15 - 20 cm, đường kính 1,5 - 2 cm Màu trắng vàng, vị ngọt, sau rất đắng
- Phân bố: Cây mọc hoang ở các vùng núi nước ta và nhiều nước khác Cây Bách bộ mọc hoang ở khắp các tỉnh nước ta: Hà Tây, Hòa Bình, Bắc Cạn, Thái Nguyên (Đỗ Tất Lợi, 2000 [23])
Trang 26* Thu hái chế biến
Có thể thu hoạch củ vào mùa xuân hoặc mùa thu Cắt bỏ rễ con, rửa sạch, nhúng trong nước sôi, hoặc đồ vừa chín Loại nhỏ để nguyên, loại to bổ dọc dài, phơi nắng hoặc sấy khô
Dược điển Việt Nam 4 (Bộ Y tế - 2010) [2] quy định việc chế biến Bách bộ như sau: Đào củ khi trời khô ráo, rửa sạch đất cát, cắt bỏ đầu rễ đem đồ vừa chín hoặc nhúng nước sôi, rễ nhỏ để nguyên, loại to bổ đôi hay 3, 4 tuỳ kích thước
Đỗ Tất Lợi (1991) [22] cho biết: củ Bách bộ muốn để được lâu phải rửa với rượu rồi sao vàng cho khô hoặc phải bổ dọc thành miếng hình thoi dài 15 - 30 cm dày 1,5 - 2 cm phơi nắng
punin, simostemonin nhưng chủ yếu vẫn là stemonin chiếm 0,18% có tinh thể
Trang 27Theo Đỗ Huy Bích và Bùi Xuân Chương 1980 [1]: bộ rễ Bách bộ có thể trị được gián
Đốt rễ hoặc củ cây Bách bộ hơ lấy khói để trị muỗi, bọ chó, rận (Đỗ Tất Lợi, 1991 [22])
+ Tác dụng kháng khuẩn:
Theo Vũ Ngọc Kim (1996) [18], nước sắc Bách bộ có tính kháng khuẩn với nhiều loại vi khuẩn như vi khuẩn tả, phó thương hàn, trực khuẩn mủ xanh, tụ cầu vàng, vi khuẩn lao
1.1.5 Ve Rhipicephalus sanguineus ký sinh ở chó
Dantas-Torres F., Otranto D (2015) [48] cho biết: Rhipicephalus
sanguineus là một loài ve được mô tả bởi Latreille vào năm 1806 dựa trên mẫu
vật thu thập được từ Pháp
1.1.5.1 Vị trí của ve R sanguineus trong hệ thống phân loại động vật học
Theo tác giả Trịnh Văn Thịnh (1963) [33], Phan Trọng Cung (1977) [5], Phan Trọng Cung và cs (1977) [6], Phạm Văn Khuê và Phan Lục (1996) [17], vị
trí của ve Rhipicephalus sanguineus trong hệ thống phân loại động vật như sau:
Phân họ Ixodoidea Leach, 1815
Giống Rhipicephalus Latreille, 1806
Loài Rhipicephalus sanguineus Latreille, 1806 Theo nghiên cứu của nhiều tác giả cho thấy, ve R sanguineus là loài
thường gặp và ký sinh nhiều nhất ở chó
Nguyễn Thị Kim Lan và cs (1999) [19] cho biết: nhiều loài ve là môi giới truyền bệnh dịch hạch của loài gặm nhấm, bệnh viêm não của người, bệnh sốt phát ban, các bệnh nguyên trùng, đặc biệt là bệnh lê dạng trùng của trâu, bò, dê, cừu, ngựa, chó, lợn…
Trang 281.1.5.2 Đặc điểm hình thái, cấu tạo của ve R sanguineus
Ve R sanguineus là động vật tiết túc có thân hình quả lê Ve đực màu nâu
đen, có kích thước khoảng 3,5 x 1,5 mm Ve cái to hơn nhiều (kích thước 11 x 7 mm), màu nâu xẫm, vàng hay xám bẩn
Cơ thể ve phân đốt nhưng không rõ, được phân thành hai phần chính: đầu
giả (Capililum) và thân (Idiosoma)
* Đầu giả (Capililum)
Đầu giả ngắn gồm 2 phần chính: gốc đầu giả hay gốc đầu (Basiscapituli) và vòi (Gnathosoma)
- Gốc đầu: là một bao kitin đầu chắc, nơi gắn những cơ vận động xúc biện
và các phụ miệng Gốc đầu hình sáu cạnh, hai góc bên nhọn và nhô ra ngoài Trên lưng gốc đầu ve cái có một đôi hõm đầu - cơ quan cảm giác có liên hệ với ống sản trứng
- Vòi: gồm có một đôi kìm (Chelicera), tấm dưới miệng (Hypostoma) có nhiều hàng gai nhọn hướng về phía sau và một đôi xúc biện
+ Xúc biện ngắn và không lồi cạnh, có bốn đốt có cấu tạo khác nhau, đánh
số từ I đến IV bắt đầu từ đốt gốc, ba đốt nhìn rõ mặt lưng, đốt IV nằm ở mặt bụng của đốt III Xúc biện của ve là cơ quan cảm giác giúp phát hiện ra những nơi có da mỏng, nơi có mạch máu
+ Đôi kìm hay hàm miệng: nằm giữa hai xúc biện được bao bọc bên ngoài bởi bao kìm Đôi kìm này có tác dụng rạch da vật chủ
+ Tấm dưới miệng: ngắn và không lồi cạnh, là một tấm lẻ, hình thoi gắn vào gốc vòi giữa hai xúc biện, trên đó phủ kín răng hướng về sau Răng trên tấm dưới miệng thường phân bố theo hàng dọc, công thức răng 3/3 Tấm dưới miệng
có tác dụng móc vào da vật chủ Đầu cuối của tấm này nhọn, sắc, cũng tham gia vào động tác dùi vào da vật chủ
* Thân (Idiosoma)
Thân gồm có mặt lưng và mặt bụng
- Mặt lưng: có mai lưng bằng kitin cứng rắn nên khi hút máu vật chủ, mai này vẫn không thay đổi, chỉ có những phần da mềm thì mới phình rộng ra Mai lưng của ve đực phủ toàn lưng Mai lưng của ve cái, thiếu trùng, ấu trùng chỉ phủ một phần ba phía trước lưng, phần còn lại là miền lưng Trên mai lưng có mắt, rãnh cổ, rãnh cạnh, rãnh giữa sau và mấu đuôi Ve cái có mai lưng hình bầu dục dài hơn rộng
Trang 29+ Mắt: nằm ở hai bên bờ trước mai Mắt có cấu tạo đơn giản
+ Hai rãnh cổ bắt đầu từ hai hõm bờ trước chạy song song với trục giữa xuống phía sau
+ Rãnh cạnh: nằm giới hạn giữa miền vai và hõm cổ
+ Rãnh giữa sau: nằm ở miền giữa theo trục thân
+ Mấu đuôi ngắn và tầy (khi ve hút no máu)
+ Rua (feston): là những ô viền ở bờ sau thân
Ve R sanguineus có rãnh hậu môn vòng sau, rãnh hậu môn vòng quanh lỗ
hậu môn Rãnh sau hậu môn bắt đầu từ giữa sau hậu môn đến bờ sau thân
Tấm thở nằm hai bên hông, sau gốc háng IV, là tấm kitin hẹp, dày Tấm thở hình dấu phẩy, ở ve đực dài, ở ve cái ngắn Trên tấm thở có lỗ thở
Tấm bụng là tấm hóa kitin còn gọi là tấm cạnh hậu môn, ở ve đực tấm cạnh hậu môn có hình tam giác
Chân ve đực, ve cái và thiếu trùng có bốn đôi chân, đánh số thứ tự từ I-IV,
từ đôi chân trước đến đôi chân sau cùng, còn ấu trùng thỉ chỉ có ba đôi chân Mỗi đôi chân gồm có sáu đốt: háng, chuyển, đùi, ống, chày và bàn chân Chân có cựa hay gai dùng để áp chặt vào lông của vật chủ Trên mặt lưng bàn chân I, ở phía cuối có cơ quan cảm giác Haller với nhiều chức năng khác nhau: thính giác, định hướng hoặc thăng bằng
Hình 1.2 Các giai đoạn phát triển của ve Rhipicephalus sanguineus
Ấu trùng
Trang 30Ấu trùng có 3 đôi chân, trĩ trùng (thiếu trùng) có 4 đôi chân, đều chưa có lỗ sinh dục (Phan Lục, 2006 [25])
1.1.5.3 Vòng đời phát triển của ve R sanguineus
Theo Nguyễn Thị Kim Lan và cs (1999) [19], (2012) [20], vòng đời phát
triển của ve R sanguineus như sau: ve đực và cái ký sinh ở ký chủ và giao phối,
sau khi hút no máu rơi xuống đất Ve cái đẻ trứng thành ổ trên mặt đất, có màng nhầy bảo vệ Trứng ve nhỏ, hình cầu, màu vàng nâu hay nâu sẫm Sau một thời gian, trứng nở ra ấu trùng, ấu trùng bò lên cây cỏ, ẩn dưới lá cây (nhất là cây có lông như sim, mua, cỏ tranh) Khi ký chủ đi qua, ấu trùng nhanh chóng bám vào
ký chủ, hút no máu rồi biến thái ngay trên ký chủ đó hoặc rơi xuống đất thành thiếu trùng Thiếu trùng vào ký chủ mới, lại hút no máu, phát triển thành ve trưởng thành và tiếp tục chu kỳ trên
Phạm Văn Khuê và Phan Lục (1996) [17] cho biết: vòng đời phát triển của
ve R sanguineus trải qua ba giai đoạn: ấu trùng, thiếu trùng và trưởng thành Đây
là loài ve 3 ký chủ, mỗi giai đoạn phát triển của ve R sanguineus sau khi hút no
máu đều rơi xuống đất, biến thái rồi lại bám vào ký chủ mới
- Ấu trùng: Ve đực và ve cái ký sinh ở ký chủ, giao cấu, sau khi hút máu no rơi xuống đất, đẻ trứng có lớp màng nhầy bảo vệ Sau quá trình phát triển của phôi, trứng nở thành ấu trùng Theo Lê Quốc Thái (1981) [32], Trịnh Văn Thịnh và cs
Sau khi trứng nở ra ấu trùng, ấu trùng bò lên cây cỏ Ở những vị trí này ấu trùng thuận lợi tiếp xúc với vật chủ, đồng thời tránh gió và ánh sáng mặt trời Thời gian nhịn đói của ấu trùng có thể lên đến trên 8 tháng rưỡi
Khi bám được vào vật chủ ấu trùng sẽ đi tìm nơi ký sinh thích hợp và thực hiện quá trình hút máu Thời gian bám và hút máu no gọi là bữa ăn Thời gian
này ở ấu trùng R sanguineus là 2 - 6 ngày
Theo Phan Trọng Cung và cs (1977) [6], Phan Trọng Cung và Lê Quốc Thái (1979) [7], sau khi no máu, ấu trùng rời vật chủ xuống dưới đất rồi mới lột
xác thành thiếu trùng Thời gian lột xác của ấu trùng R sanguineus là 6 - 12 ngày
Trang 31- Thiếu trùng:
Thiếu trùng vừa lột xác không cử động, sau một thời gian nó hoạt động, bám vào vật chủ hút máu Thiếu trùng có thể nhịn đói trên 6 tháng đến khi có thể bám vào vật chủ thì hút no máu Theo Lê Quốc Thái (1981) [32], Trịnh Văn Thịnh và Dương Công Thuận (1996) [35], sau khi no máu thiếu trùng biến thái
và lột xác thành ve trưởng thành ở môi trường ngoài Thời gian của quá trình này kéo dài khoảng 12 - 17 ngày
Nam, thời kỳ có chửa của ve R sanguineus là 4 - 7 ngày
Ve cái đẻ trứng thành ổ trên mặt đất và có màng nhày bảo vệ Thời gian đẻ trứng của ve cái là 10 ngày, mỗi lần đẻ 1301 - 2433 trứng (trung bình 1387 trứng) (Phạm Văn Khuê và Phan Lục, 1996 [17])
1.1.5.4 Đặc điểm dịch tễ học của bệnh ve ở chó
Khi ve ký sinh trên ký chủ, chúng gây ra những tổn thương thực thể cho ký chủ Những tác động cơ giới của ve làm cho da bị hình thành sẹo hay thủng da làm giảm chất lượng sản phẩm, giảm tăng trưởng, còi cọc, chậm lớn… Song tác
hại to lớn nhất của ve R sanguineus là trung gian truyền bệnh nguy hiểm cho
người và vật nuôi Ký chủ chính là chó và một số gia súc khác như mèo, cừu, bò,
trâu, ngựa, lạc đà một bướu, R sanguineus ký sinh trên cả động vật hoang dại
như nhím, cầy bạc má và ký sinh cả ở người
Latrofa M S và cs (2014) [56] đã thu thập 204 mẫu ve từ chó để định loại
Kết quả cho thấy có 81/204 mẫu là loài R sanguineus, 17/204 mẫu là R
turanicus và 106 mẫu Rhipicephalus spp
Trong tháng 1 năm 2011, Barbieri A R và cs (2014) [42] đã xác định tỷ lệ nhiễm ve ở chó tại các hộ gia đình tại của bang Santa Catarina, miền nam Brazil
Kết quả cho thấy có 34% nhiễm Amblyomma ovale, 18,9% nhiễm Amblyomma
aureolatum, chỉ có 3,8% nhiễm Rhipicephalus sanguineus
Trang 32Cicuttin G L và cs (2014) [46] đã thu thập 207 mẫu ve Rhipicephalus
sanguineus ký sinh ở chó tại thành phố Buenos Aires (Argentina) để xác định
khả năng lây truyền anaplasmosis Các tác giả đã phát hiện 13,5% số ve
Rhipicephalus sanguineus mang đơn bào Anaplasma platys Điều đó chứng tỏ ve Rhipicephalus sanguineus là vecto truyền anaplasmosis
Ionică A M và cs (2014) [63] nghiên cứu và cho biết, chó ở Châu Âu bị
bệnh microfilariae, mầm bệnh cư trú ở lớp hạ bì và lây truyền qua ve
Rhipicephalus sanguineus
Adamu M và cs (2014) [41] thu thập 146 ve và xác định: 73% là loài
Rhipicephalus sanguineus, 18% là loài Haemaphysalis leachi, 2% là loài R turanicus và Amblyomma variegatum; các loài H elliptica, R lunulatus, R muhsamae và R senegalensis chiếm khoảng 1%
1.1.5.5 Đặc điểm bệnh lý của bệnh ve chó
Ve đói hút máu làm chó thiếu máu, gày yếu, sinh trưởng và phát triển chậm, gây thiệt hại về kinh tế cho người chăn nuôi Những nơi ve đốt thường để lại sẹo hay lỗ thủng làm giảm chất lượng da
Hoepple R và Feny L C (1933) [52] khi nghiên cứu vết đốt của ve trên các súc vật thí nghiệm đã nhận thấy, tất cả các vị trí của cơ thể bị các loài ve đốt đều bị viêm, thâm Những nơi ve bám đều có hiện tượng tăng bạch cầu eosin cục bộ
Inokuma và cs (1998) [53] cho biết, nước bọt của ve R sanguineus pha
loãng 20 lần làm vẫn ức chế yếu tố phân bào lectin (83%) và hạn chế tăng trưởng của tế bào limpho T cảm ứng (69%), dẫn đến giảm sản xuất interleukin 2 (IL 2) làm giảm quá trình đáp ứng miễn dịch
1.1.5.6 Biện pháp phòng, trị ve R sanguineus
Áp dụng các biện pháp phòng trừ tổng hợp để diệt tận gốc ve R
sanguineus:
* Diệt ve trên cơ thể vật nuôi
Tùy theo số lượng vật nuôi mà áp dụng các biện pháp phù hợp sau:
- Biện pháp cơ học:
Áp dụng với trường hợp số lượng gia súc ít Lấy que quấn bông tẩm dầu hỏa bôi vào nơi có nhiều ve (háng, nách, kẽ chân, vú, tai) Dầu hỏa có tác dụng bịt lỗ thở của ve (ở vị trí sau đốt háng của đôi chân thứ IV) làm ve nhả kìm ra Sau đó dùng kẹp bắt ve ra, điều này giúp làm giảm tổn thương cơ giới cho da của gia súc
Trang 33- Biện pháp hóa học:
Áp dụng cho những đàn chó có số lượng lớn, có thể dùng bình xịt, dùng thuốc bôi hoặc sát lên da, xây bể tắm cho chó… Theo Nguyễn Thị Nguyệt (1999) [27], bôi và sát thuốc tập trung cả vào những nơi ấu trùng và thiếu trùng tập trung
ký sinh, không nên chỉ chú trọng vào chỗ bám của ve trưởng thành Vì diệt ve vào giai đoạn ấu trùng và thiếu trùng sẽ làm giảm lượng máu vật chủ bị mất do
ve hút Hơn nữa, một số mầm bệnh truyền được từ giai đoạn ấu trùng như loài
Ablyomma variegatum, nếu ve cái mang mầm bệnh, mầm bệnh được di truyền
qua trứng Ấu trùng đói chứa mầm bệnh đã trưởng thành Khi ấu trùng bám và hút máu vật chủ thứ nhất, đồng thời lan truyền mầm bệnh đó cho vật chủ Sau lần lột xác thứ nhất do thiếu trùng đói đã chứa mầm bệnh thành thục nên khi hút máu vật chủ thứ hai sẽ truyền mầm bệnh cho vật chủ thứ hai Sau lần lột xác thứ hai
ve trưởng thành đói cũng đã chứa mầm bệnh thành thục, khi hút máu cũng lan truyền mầm bệnh cho vật chủ thứ ba
Theo Phạm Khắc Hiếu và Lê Thị Ngọc Diệp (1997) [14], những thuốc trị ngoại ký sinh trùng gồm 3 nhóm:
+ Nhóm dẫn xuất chứa clo
+ Nhóm các estephospho hữu cơ
+ Nhóm carbamat
Có thể dùng thuốc thảo mộc để trị ve Theo Phạm Khắc Hiếu và Bùi Thị Tho (1994) [13], có nhiều loại thảo mộc có thể dùng để trị ve:
+ Hạt Thàn mát: dùng hạt cho vào nước nóng cho mềm rồi giã nát, ngâm
+ Rễ cây Thuốc cá 3 phần, 100 phần nước, 4 phần xà phòng dùng xát cho chó, mèo, bê, nghé
+ Nấu nước sắc Bách bộ tắm cho gia súc
+ Dùng hạt Na khô, Thuốc lá ngâm trong axit acetic 5% để phun hoặc bôi trị ve, ghẻ
+ Dùng củ Bách bộ giã nát, dùng dầu sở để diệt ve
Trang 34ocharceus từ ve Rhipicephalus sanguineus, là tác nhân gây bệnh làm cho ve
không đẻ trứng, cơ thể khô lại và chết Cũng có thể trồng cây làm ve sợ để xua ve trên đồng cỏ (cây Thuốc cá, Mần tưới, Hương nhu…)
* Diệt ve ở chuồng vật nuôi
Sau khi ve hút máu no trên vật chủ sẽ rơi xuống đất, chúng tìm đến khe tường, vách tường, nơi nham nhở của tường chuồng để sống và đẻ trứng Mặt khác, ấu trùng và thiếu trùng sẽ theo cỏ cây vào chuồng Vì vậy, phải làm nhẵn tường chuồng, định kỳ phun thuốc diệt ve ở chuồng trại, không dùng lá cây, cỏ tươi làm chất độn chuồng, cỏ tươi khi thu về phải phơi tái Khi gia súc mới nhập đàn cần phải nuôi cách ly và diệt ve xong mới cho nhập đàn
* Diệt ve ngoài thiên nhiên
Cần thực hiện các biện pháp sau:
- Làm thay đổi môi trường, điều kiện sống của ve: phát quang các bụi rậm quanh chuồng trại, bãi chăn, đồng cỏ Dùng biện pháp canh tác như cày, bừa, làm khô bãi chăn ẩm ướt
- Chăn dắt luân phiên đồng cỏ để ve chết đói
- Dùng thuốc hóa học phun diệt ve trên đồng cỏ, bãi chăn
* Tạo ra các giống gia súc có sức đề kháng tự nhiên với ve
Theo Phạm Gia Ninh, Nguyễn Đức Tâm (2000) [28], một số giống bò có sức đề kháng tự nhiên đối với ve bò và các bệnh do ve truyền, ví dụ bò Zebu (Bos indicus) Một số công trình gần đây ở Australia cho thấy chi phí có hiệu quả hơn khi nuôi bò Zebu, mặc dù sức sinh sản kém bò Bos taurus của Châu Âu, nhưng đòi hỏi mức khống chế thấp hơn nhiều với ve Boophilus và các bệnh do
ve truyền
1.2 Tình hình nghiên cứu trong và ngoài nýớc
1.2.1 Tình hình nghiên cứu trong nước
Theo Tô Du và Xuân Giao (2006) [10], có một số loài côn trùng ký sinh ở
da và lông của chó, chúng hút màu và truyền một số bệnh cho chó như bệnh lê
dạng trùng, bệnh xuất huyết do Rickettsia, bệnh sán hạt dưa trong đó có loài
Rhipicephalus sanguineus
Nguyễn Thanh Hải (2007) [12], đã nghiên cứu và bào chế được 12 chế phẩm dạng thuốc mỡ từ cây Thuốc cá sử dụng để điều trị bệnh ve cho chó và bò đạt hiệu quả cao
Trang 35Bùi Thị Tho (2003) [36] đã dùng hạt cây Củ đậu chế thành dạng thuốc bột
và thuốc mỡ ở các nồng độ khác nhau trị ve ký sinh trên bò ở Gia Lâm (Hà Nội),
chết ve là 100% Thuốc mỡ nồng độ 20% chỉ cần bôi 1 lần đã sạch ve ký sinh trên cơ thể bò
Nguyễn Thị Kim Lan (2012) [20] cho biết, ở nước ta gặp 2 loài thuộc giống
ve Rhipicephalus có đặc điểm: thường không có màu sắc, có mắt và tua Tấm
dưới miệng và xúc biện ngắn Ve đực có mai bụng
1.2.2 Tình hình nghiên cứu ở nước ngoài
Beck S và cs (2014) [43] cho biết, ve chó có khả năng lây truyền một số bệnh quan trọng ở người và động vật Từ tháng 3/2010 - 4/2011, các tác giả đã kiểm tra 441 chó nuôi tại 392 gia đình thuộc Berlin - Brandenburg thấy có 251 chó nhiễm ve, chiếm 57% Các tác giả cũng đã thu thập được 1728 ve bao gồm
46,0% là Ixodes ricinus, 45,1% là Dermacentor reticulatus, 8,8% là Ixodes
hexagonus và 0,1% Rhipicephalus sanguineus
Rojas A và cs (2014) [60] đã điều tra tỷ lệ nhiễm các bệnh truyền nhiễm ở
chó tại Costa Rica và cho biết: Ehrlichia canis được phát hiện trong 34%,
Anaplasma platys trong 10% và Babesia vogeli trong 8% số mẫu máu xét
nghiệm (146 mẫu) Tỷ lệ nhiễm A platys, B vogeli hoặc E canis đều có liên quan đáng kể với tỷ lệ nhiễm R sanguineus ở chó (p <0,029)
Iwakami S và cs (2014) [54] đã tiến hành một cuộc khảo sát về các loài ve
ký sinh ở chó và mèo trên diện rộng tại Nhật bản Các tác giả đã thu thập được
4.237 con ve từ 1.162 chó để định loại và cho biết: Haemaphysalis longicornis là loài ve thường gặp nhất (trên 739 con chó), tiếp theo là H flava (166 chó), Ixodes
ovatus (139 chó) và Rhipicephalus sanguineus (70 chó) Ngoài ra còn phát hiện
các loài ve khác như: H hystricis, H japonica, H megaspinosa, H formosensis,
H campanulata, I nipponensis, I persulcatus và Amblyomma testudinarium
Theo Latrofa M S và cs (2014) [56], ve R sanguineus có vai trò là vật môi giới truyền một số mầm bệnh nguy hiểm ở chó như: A platys, H canis và
Cercopithifilaria spp
Cicuttin G L và cs (2014) [46] cho biết: bằng phương pháp PCR phát hiện
Rickettsia massiliae trong 3,4% số mẫu ve R sanguineus (207 mẫu) và Anaplasma platys trong 13,5% số mẫu máu chó (52 mẫu) thu thập từ thành phố
Trang 36Trong một cuộc thám hiểm khảo cổ học tại El Deir, Otranto D và cs
(2014) [59] đã xác định được loài R sanguineus ký sinh ở xác ướp chó từ Ai Cập
cổ đại (khoảng thế kỷ 1 - thế kỷ thứ 4)
Theo Maia C và cs (2014) [58] đã thu thập 925 cá thể ve ở các giai đoạn phát triển (ấu trùng, thiếu trùng và trưởng thành) từ chó, mèo và thảm thực vật tại 4 địa phương thuộc Bồ Đào Nha Kết quả cho thấy, tất cả ve thu thập từ chó và thảm thực
vật là R sanguineus; chỉ có 6 cá thể ve thu thập từ mèo là loài Ixodes rcinus
Một cuộc điều tra tỷ lệ nhiễm ve ở chó theo mùa đã được tiến hành tại khu vực đông nam Romania từ 01/12/2012 - 30/11/2013 Dumitrache M O và cs (2014) [50] đã tiến hành kiểm tra 8 chó/ lần và 4 lần/ tháng, tổng cộng đã kiểm tra 384 chó trong thời gian nghiên cứu Kết quả cho thấy, tỷ lệ và cường độ nhiễm ve cao vào tháng 5, 6 và 7; thấp hơn ở các tháng khác và không thấy ve ký sinh ở chó vào tháng 9, 12 và tháng 1 trong năm Thu thập được 893 cá thể ve
thuộc 6 loài: R rossicus (95,6%), Dermacentor reticulatus (3,2%), Ixodes ricinus (0,5%), Hyalomma marginatum (0,3%), Rhipicephalus sanguineus (0,2%) và
Ixodes crenulatus (0,1%)
Otranto D và cs (2014) [59] cho biết, ve Rhipicephalus sanguineus là một
trong những động vật môi giới làm lây truyền các bệnh do vi sinh vật nguy nhất cho chó và cả ở người
Dhivya B và cs (2014) [49] đã kết hợp pheromone với deltamethrin thành hỗn hợp (Chitosan) để thử nghiệm khả năng diệt các giai đoạn phát triển của
Rhipicephalus sanguineus Kết quả cho thấy, có 79% ấu trùng, 88% thiếu trùng
và 61% ve trưởng thành chết trong vòng 24h sau khi sử dụng thuốc
Khi nghiên cứu về hình thái học của loài R sanguineus, Otranto D và cs (2014) [59] cho biết: có ít nhất 4 hình thái khác nhau của loài ve R sanguineus ký
sinh ở chó đã được xác định tại châu Âu, châu Phi, châu Mỹ và châu Đại Dương
Cafarchia C và cs (2015) [45] cho biết: nấm Beauveria bassiana có độc lực rất cao và ảnh hưởng đến tất cả các giai đoạn phát triển của ve R sanguineus;
đây có thể là một phương pháp sinh học tiềm năng dùng để kiểm soát tốc độ phát
triển của ve R sanguineus
Từ 5/2010 - 5/2013, Koc S và cs (2015) [55] đã nghiên cứu về thành phần loài ve thu thập từ vật nuôi, động vật hoang dã và môi trường tại 5 huyện thuộc Antalya Metropolitan, Thổ Nhĩ Kỳ Các tác giả cho biết, thành phần các loài ve
Trang 37thu thập được gồm 8 loài: Argas persicus, Rhipicephalus annulatus, R
sanguineus, R turanicus, Hyalomma aegyptium, H marginatum, Haemaphysalis parva và Dermacentor niveus Trong đó R sanguineus và R turanicus là 2 loài
ve ký sinh phổ biến ở chó nuôi tại các địa phương nghiên cứu
Rotondano T E và cs (2015) [61] đã thu thập được 1.151 con ve ký sinh ở
100 chó nuôi tại Paraíba, Đông bắc Brazil Các tác giả cho biết, tất cả số ve thu
thập đều thuộc loài Rhipicephalus sanguineus
Costa A P và cs (2015) [47] đã tiến hành thu thập ve ở 172 chó nuôi ở vùng nông thôn và 150 chó nuôi ở các khu đô thị của Chapadinha, bang Maranhão, đông bắc Brazil Các tác giả cho biết, tất cả số ve thu thập từ chó nuôi ở các khu đô thị đều
là loài Rhipicephalus sanguineus; trong khi ve thu thập từ chó nuôi ở các vùng nông thôn thuộc các loài R sanguineus, Amblyomma cajennense và Amblyomma ovale
Lee G K và cs (2015) [57] đã kiểm tra 78 chó nuôi trên các quần đảo Ấn
Độ Dương của Mauritius, thấy có 52 chó nhiễm ve Rhipicephalus sanguineus
Tiến hành thu thập ve từ 52 chó để định loài, thấy có 175/178 ve là loài
Rhipicephalus sanguineus và 3/178 ve là loài Amblyomma variegatum
Trang 38Chương 2 ĐỐI TƯỢNG, VẬT LIỆU, NỘI DUNG
VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Đối tượng và vật liệu nghiên cứu
2.1.1 Đối tượng nghiên cứu
- Chó nuôi ở một số phường, xã của Tp Thái Nguyên
2.2 Địa điểm và thời gian nghiên cứu
2.2.1 Địa điểm
- Địa điểm lấy mẫu và thử nghiệm thuốc điều trị: Phường Gia Sàng, phường Đồng Quang, xã Quyết Thắng, phường Tân Thịnh, Tp Thái Nguyên
- Địa điểm xét nghiệm mẫu:
+ Phòng thí nghiệm Khoa Chăn nuôi thú y - Trường Đại học Nông Lâm - Đại học Thái Nguyên
+ Bệnh viện Đa khoa tỉnh Thái Nguyên
2.2.2 Thời gian nghiên cứu
Từ tháng 1/2016 đến tháng 12/2016