Công tác quản lý nợ xấu tại các chi nhánh Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam trên địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc (LV thạc sĩ)Công tác quản lý nợ xấu tại các chi nhánh Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam trên địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc (LV thạc sĩ)Công tác quản lý nợ xấu tại các chi nhánh Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam trên địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc (LV thạc sĩ)Công tác quản lý nợ xấu tại các chi nhánh Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam trên địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc (LV thạc sĩ)Công tác quản lý nợ xấu tại các chi nhánh Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam trên địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc (LV thạc sĩ)Công tác quản lý nợ xấu tại các chi nhánh Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam trên địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc (LV thạc sĩ)Công tác quản lý nợ xấu tại các chi nhánh Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam trên địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc (LV thạc sĩ)Công tác quản lý nợ xấu tại các chi nhánh Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam trên địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc (LV thạc sĩ)Công tác quản lý nợ xấu tại các chi nhánh Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam trên địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc (LV thạc sĩ)Công tác quản lý nợ xấu tại các chi nhánh Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam trên địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc (LV thạc sĩ)Công tác quản lý nợ xấu tại các chi nhánh Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam trên địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc (LV thạc sĩ)
Trang 1Số hoá bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn
ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ VÀ QUẢN TRỊ KINH DOANH
BÙI THỊ THANH THẢO
CÔNG TÁC QUẢN LÝ NỢ XẤU TẠI CÁC CHI NHÁNH NGÂN HÀNG NÔNG NGHIỆP
VÀ PHÁT TRIỂNNÔNG THÔN VIỆT NAM
TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH VĨNH PHÚC
LUẬN VĂN THẠC SĨ THEO ĐỊNH HƯỚNG ỨNG DỤNG
Chuyên ngành: QUẢN LÝ KINH TẾ
THÁI NGUYÊN - 2016
Trang 2Số hoá bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn
ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ VÀ QUẢN TRỊ KINH DOANH
BÙI THỊ THANH THẢO
CÔNG TÁC QUẢN LÝ NỢ XẤU TẠI CÁC CHI NHÁNH NGÂN HÀNG NÔNG NGHIỆP
VÀ PHÁT TRIỂNNÔNG THÔN VIỆT NAM
TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH VĨNH PHÚC
Chuyên ngành: QUẢN LÝ KINH TẾ
Mã số: 60.34.04.10
LUẬN VĂN THẠC SĨ THEO ĐỊNH HƯỚNG ỨNG DỤNG
Người hướng dẫn khoa học:TS TRẦN VĂN DUNG
THÁI NGUYÊN - 2016
Trang 3Số hoá bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn
LỜI CAM ĐOAN
Tác giả cam đoan rằngtrong luận văn này:
- Các số liệu, thông tin đƣợc trích dẫn theo đúng quy định
- Các số liệu đƣợc sử dụng là trung thực, có căn cứ
- Lập luận, phân tích, đánh giá, kiến nghị đƣợc đƣa ra dựa trên quan điểm cá nhân và nghiên cứu của các tác giả luận văn, không có sự sao chép của bất kỳ tài liệu nào đã đƣợc công bố
Thái Nguyên, tháng 3 năm 2016
Tác giả luận văn
Bùi Thị Thanh Thảo
Trang 4Số hoá bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn
LỜI CẢM ƠN
Trong hoạt động nghiên cứu ngoài cố gắng của bản thân, em đã được
sự hướng dẫn nhiệt tình của cácthầy cô giáo đồng thời được sự giúp đỡ tận tình của các cán bộ thuộc các Chi nhánh Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam trên địa bàn Tỉnh Vĩnh Phúc
Qua đây, em xin gửi lời cảm ơn chân thành tới thầy giáo TS Trần VănDung cũng như các Cán bộNgân hàng tại đơn vị đã giúp em hoàn thành Luận văn này
Em xin chân thành cảm ơn!
Thái Nguyên, tháng 3 năm 2016
Tác giả luận văn
Bùi Thị Thanh Thảo
Trang 5Số hoá bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn
MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
MỤC LỤC iii
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT vi
DANH MỤC CÁC BẢNG vii
DANH MỤC CÁC HÌNH viii
MỞ ĐẦU 1
1 Sự cần thiết nghiên cứu đề tài 1
2 Mục tiêu nghiên cứu 2
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 3
4 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của Luận văn 3
5 Bố cục của Luận văn 4
Chương 1: CƠ SỞ KHOA HỌC VỀ QUẢN LÝ NỢ XẤU CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 5
1.1 Cơ sở lý luận 5
1.1.1.Khái quát về nợ xấu 5
1.1.2 Quản lý nợ xấu của Ngân hàng thương mại 17
1.1.2.1 Khái niệm quản lý nợ xấu 17
1.1.2.2 Mục tiêu của công tác quản lý nợ xấu 17
1.1.2.3 Nội dung công tác quản lý nợ xấu 18
1.1.2.4 Các yếu tố ảnh hưởng đến quản lý nợ xấu 21
1.2 Cơ sở thực tiễn 26
1.2.1 Kinh nghiệm quản lý nợ xấu từ các NHTM nước ngoài 26
1.2.2 Bài học kinh nghiệm 29
Chương 2: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 32
2.1 Câu hỏi nghiên cứu 32
2.2 Phương pháp nghiên cứu 32
2.2.1 Phương pháp thu thập thông tin 32
Trang 6Số hoá bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn
2.2.2 Phương pháp tổng hợp thông tin 34
2.2.3 Phân tích thông tin 35
2.3 Hệ thống chỉ tiêu nghiên cứu 37
2.3.1 Nhóm chỉ tiêu phản ánh thực trạng nhận biết và phân loại nợ xấu 37
2.3.2 Nhóm chỉ tiêu phản ánh thực trạng đo lường nợ xấu 38
2.3.3.Nhóm chỉ tiêu phản ánh thực trạng ngăn ngừa nợ xấu 38
2.3.4 Nhóm chỉ tiêu phản ánh thực trạng xử lý nợ xấu 39
2.3.5 Nhóm chỉ tiêu phản ánh các nhân tố ảnh hưởng đến hoạt động quản lý nợ xấu 39
Chương 3: THỰC TRẠNG CÔNG TÁC QUẢN LÝ NỢ XẤUTẠI CÁC CHI NHÁNH NGÂN HÀNG NÔNG NGHIỆP VÀ PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN VIỆT NAM TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH VĨNH PHÚC 41
3.1 Khái quát về các đơn vị được nghiên cứu 41
3.1.1 Quá trình hình thành và phát triển 41
3.1.2 Chức năng, nhiệm vụ và mô hình tổ chức bộ máy của các đơn vị được nghiên cứu 42
3.1.3 Khái quát kết quả hoạt động kinh doanh giai đoạn 2011 - 2015 45
3.1.4 Đặc điểm địa bàn kinh doanh 47
3.2.Thực trạng quản lý nợ xấu tại các chi nhánh Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam trên địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc 48
3.2.1 Thực trạng nhận biếtvà phân loại nợ xấu 48
3.2.2 Thực trạng đo lường nợ xấu 52
3.2.3 Thực trạng ngăn ngừa nợ xấu 57
3.2.4 Thực trạng xử lý nợ xấu 59
3.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến công tác quản lý nợ xấu tại địa bàn nghiên cứu 61
3.3.1 Các yếu tố chủ quan 61
3.3.2 Yếu tố khách quan 64
3.4 Đánh giá chung 67
3.4.1 Kết quả đạt được 67
Trang 7Số hoá bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn
3.4.2 Tồn tại, hạn chế 70
3.4.3 Nguyên nhân của hạn chế 72
Chương 4: GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN CÔNG TÁC QUẢN LÝ NỢ XẤU TẠI CÁC CHI NHÁNH NGÂN HÀNG NÔNG NGHIỆP VÀ PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN VIỆT NAM TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH VĨNH PHÚC 76
4.1 Căn cứ đề xuất giải pháp 76
4.1.1 Định hướng và mục tiêu công tác quản lý nợ xấu tại các chi nhánh Ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam trên địa bàn Tỉnh Vĩnh Phúc 76
4.1.2 Kết quả nghiên cứu đề tài 79
4.2 Một số giải pháp 79
4.2.1.Xây dựng chính sách tín dụng hợp lý 79
4.2.2 Đẩy mạnh công tác đào tạo cán bộ, bồi dưỡng về chuyên môn nghiệp vụ của cán bộ tín dụng 83
4.2.3 Định kỳ phân loại nợ và trích lập dự phòng rủi ro 85
4.2.4 Mở rộng nghiệp vụ mua bán nợ và phát triển một thị trường nợ 86
4.2.5 Nâng cao hoạt động kiểm tra, kiểm toán nôi bộ 86
4.3 Kiến nghị 87
4.3.1 Đối với Chính phủ 87
4.3.2 Đối với Ngân hàng Nhà nước 90
4.3.3 Đối với Ngân hàng nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam 96
KẾT LUẬN 98
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 100
PHỤ LỤC 102
Trang 8Số hoá bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
AGRIBANK : Ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn
AMC : Công ty quản lý tài sản (Asset Management Company)
CIC : Trung tâm thông tin tín dụng (Credit Information Center)
DNNN : Doanh nghiệp nhà nước
DPRR : Dự phòng rủi ro
ECB : Ngân hàng Trung Ương Châu Âu (The European Central Bank)
FED : Cục dự trữ liên bang (Federal Reserve System)
GDP : Tổng sản phẩm quốc nội (Gross Domestic Product)
HĐQT : Hội đồng quản trị
IMF : Quỹ tiền tệ quốc tế (The International Monetary Fund)
NDT : Nhân dân tệ
NHNN : Ngân hàng Nhà nước
NHNo & PTNT : Ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn
NHTM : Ngân hàng thương mại
NHTW : Ngân hàng Trung Ương
RRTD : Rủi ro tín dụng
TCTD : Tổ chức tín dụng
TSCĐ : Tài sản cố định
TSĐB : Tài sản đảm bảo
USD : Đô la Mỹ (The United States Dollar)
WB : Ngân hàng thế giới (World Bank)
WTO : Tổ chức thương mại thế giới (World Trade Organization)
Trang 9Số hoá bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn
DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 3.1 Chênh lệch Thu nhập - Chi Phícủa các chi nhánh NHNo Việt
Nam trên địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc năm 2011 - 2015 46 Bảng 3.2: Dƣ nợ tín dụng của các chi nhánh NHNo Việt Nam trên địa
bàn tỉnh Vĩnh Phúc năm 2011 - 2015 48 Bảng 3.3 Nợ xấu của NHNo Việt Nam chi nhánh tỉnh Vĩnh Phúc 49 Bảng 3.4 Nợ xấu của NHNo Việt Nam chi nhánh Phúc Yên (giai đoạn
2011 - 2015) 49 Bảng 3.5 Phân loại nợ xấu tại các chi nhánh NHNo trên địa bàn tỉnh
Vĩnh Phúc (2011 - 2015) 53 Bảng 3.6: Dƣ nợ cho vay theo kỳ hạn qua các năm 2011 - 2015 59 Bảng 3.7 Trích lập và sử dụng dự phòng cụ thể tại các chi nhánh NHNo
trên địabàn tỉnh Vĩnh Phúc 60 Bảng 3.8: Nợ xấu ngoại bảng của các chi nhánh NHNo & PTNT Việt
Nam trên địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc 61 Bảng 3.9:Dự phòng rủi ro 2014 - 2015 62 Bảng 3.10: Cơ cấu nợ tín dụng có tài sản đảm bảo 64
Trang 10Số hoá bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn
DANH MỤC CÁC HÌNH
Sơ đồ 3.1: Cơ cấu trình độ nhân sự tại NHNo&PTNTchi nhánh Tỉnh
Vĩnh Phúc và Phúc Yên 45 Biểu đồ 3.1 Thực trạng nợ xấu của NHNo chi nhánh tỉnh Vĩnh Phúc 50 Biểu đồ 3.2 Thực trạng nợ xấu của NHNo chi nhánh Phúc Yên (giai
đoạn 2011 - 2015) 50 Biểu đồ 3.3 Nợ xấu theo nhóm tại các Chi nhánh NHNoChi nhánh tỉnh
Vĩnh Phúc năm 2011 54 Biểu đồ 3.4 Nợ xấu theo nhóm tại các Chi nhánh NHNoChi nhánh tỉnh
Vĩnh Phúc năm 2012 55 Biểu đồ 3.5 Nợ xấu theo nhóm tại các Chi nhánh NHNo Chi nhánhtỉnh
Vĩnh Phúc năm 2013 55 Biểu đồ 3.6 Nợ xấu theo nhóm tại các Chi nhánh NHNo Chi nhánh tỉnh
Vĩnh Phúc 2014 56 Biểu đồ 3.7 Nợ xấu theo nhóm tại các Chi nhánh NHNo Chi nhánh tỉnh
Vĩnh Phúc 2015 57
Trang 11MỞ ĐẦU
1 Sự cần thiết nghiên cứu đề tài
Ngân hàng thương mại (NHTM) là loại hình doanh nghiệp đặc biệt chuyên kinh doanh tiền tệ Trong số các nghiệp vụ kinh doanh của mình thì tín dụng là nghiệp vụ kinh doanh chủ yếu và cũng đem lại doanh thu lớn nhất cho hoạt động của ngân hàng Lợi nhuận thu được từ hoạt động tín dụng có thể chiếm tới 2/3 tổng lợi nhuận thu được của ngân hàng, tuy nhiên đây cũng
là hoạt động ẩn chứa nhiều rủi ro lớn nhất trong các nghiệp vụ của ngân hàng
Có vô số những rủi ro khác nhau khi cấp một khoản tín dụng, mà nguyên nhân của nó có thể do nhiều yếu tố khác nhau: có thể do yếu tố chủ quan từ phía ngân hàng, có thể do nguyên nhân từ phía khách hàng hoặc cũng có thể
do những rủi ro bất thường không lường trước được của thị trường cũng như của điều kiện tự nhiên
Các chi nhánh Ngân hàng nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam trên địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc là đầu mối trong việc tập trung thanh toán của hệ thống ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn Agribank trực tiếp kinh doanh đa năng trên địa bàn Vĩnh Phúc với lợi thế là một ngân hàng
có bề dày lịch sử, hoạt động kinh doanh có uy tín và có tiềm lực tài chính mạnh so với các ngân hàng khác trên địa bàn Đứng trước nhu cầu phát triển của nền kinh tế, hệ thống ngân hàng thương mại nói chung và các chi nhánh NHNo & PTNT trên địa bàn Vĩnh Phúc nói riêng cần có những kế hoạch cụ thể để nâng cao năng lực cạnh tranh và khẳng định vị thế của mình trên trường quốc tế Một trong những vấn đề cần quan tâm là việc quản lý nợ xấu tại các ngân hàng thương mại
Tại tỉnh Vĩnh Phúc đã có rất nhiều luận văn nghiên cứu về đề tài nợ xấu, tuy nhiên chưa có luận văn nào nghiên cứu về công tác quản lý nợ xấu tại các chi nhánh Ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam trên địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc
Trang 12Tại Việt Nam có nhiều đề tài nghên cứu về đề tài quản lý nợ xấu, như của
tác giả: Nguyễn Thị Hoài Phương (2012), Quản lý nợ xấu tại các Ngân hàng
thương mại Việt Nam Luận án Tiến sĩ, Hà Nội Tuy nhiên, vẫn chưa chúng
minh được khi nào nợ xấu được nhận biết và đo lường một cách chính xác
Hiện nay, với tỷ lệ nợ xấu cao ở hầu hết các ngân hàng thương mại, tình hình tài chính thiếu lành mạnh của các ngân hàng thương mại Việt Nam đang được xem là vấn đề trọng tâm trong tiến trình tái cơ cấu hệ thống ngân hàng thương mại Việt Nam Chính vì vậy, việc quản lý nợ xấu nhằm làm lành mạnh hóa hệ thống tài chính của các ngân hàng thương mại đang là vấn đề được quan tâm, bởi sự yếu kém của hệ thống ngân hàng thương mại có tác
động tiêu cực đến toàn bộ nền kinh tế Từ thực tế đó, đề tài: “Công tác quản
lý nợ xấu tại các chi nhánh Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam trên địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc”được lựa chọn nghiên cứu nhằm
tìm kiếm những giải pháp cho vấn đề nợ xấu trong hệ thống ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn
2 Mục tiêu nghiên cứu
Trang 13- Phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến công tác quản lý nợ xấu tại các chi nhánh Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam trên địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc
- Đề xuất giải pháp nhằm hoàn thiện công tác quản lý nợ xấu tại các chi nhánh Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt trên địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Công tác quản lý nợ xấu của Ngân hàng thương mại
3.2 Phạm vi nghiên cứu
3.2.1 Phạm vi không gian: Tại các chi nhánh của NHNo & PTNT Việt
Nam trên địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc bao gồm: Ngân hàng Nông nghiệp và phát triển Nông thôn Việt Nam chi nhánh Vĩnh Phúc và Ngân hàng Nông nghiệp
và Phát triển Nông Thôn Việt Nam chi nhánh Phúc Yên
3.2.2 Phạm vi thời gian: Luận văn nghiên cứu công tác quản lý nợ xấu
trong giai đoạn 2011 đến 2015 và đề xuất giải pháp hoàn thiện công tác quản
lý nợ xấu đến năm 2020
3.2.3 Phạm vi nội dung
Luận văn đã đưa ra quy trình quản lý nợ xấu mang tính khoa học, luận văn chứng minh rằng khi nào nợ xấu được nhận biết và đo lường một cách chính xác thì các ngân hàng mới có thể quản lý có hiệu quả Bởi vậy trong quy trình quản lý nợ xấu nhất thiết phải bổ xung cách thức đo lường nợ xấu như thế nào
4 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của Luận văn
- Luận văn góp phần hệ thống hóa các vấn đề lý luận về công tác quản
lý nợ xấu tại Ngân hàng thương mại
- Nghiên cứu đã cung cấp những bằng chứng khoa học về thực trạng quản lý nợ xấu trong hệ thông NHNo & PTNT Việt Nam tại một địa phương cấp tỉnh
Trang 14- Nghiên cứu đã đề xuất được một số giải pháp thiết thực nhằm khắc phục những tồn tại và hoàn thiện công tác quản lý nợ xấu trong hệ thống NHNo & PTNT Việt Nam nói chung và tại Tỉnh Vĩnh Phúc nói riêng
5 Bố cục của Luận văn
Ngoài phần Mở đầu và Kết luận, Luận văn gồm 4 chương:
Chương 1: Cơ sở khoa học về quản lý nợ xấu của NHTM
Chương 2: Phương pháp nghiên cứu
Chương 3: Thực trạng công tác quản lý nợ xấu tại các chi nhánh
NHNo & PTNT Việt Nam trên địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc
Chương 4: Một số giải pháp và kiến nghị
Trang 15Chương 1
CƠ SỞ KHOA HỌC VỀ QUẢN LÝ NỢ XẤU CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1.1 Cơ sở lý luận
1.1.1.Khái quát về nợ xấu
1.1.1.1 Khái niệm
Ngân hàng là doanh nghiệp kinh doanh loại hàng hóa đặc biệt - “tiền tệ” Trong đó, ngân hàng đóng vai trò là thành phần trung gian trong nhận tiền gửi từ dân cư đồng thời là người cho vay đối với nền kinh tế Cho tới nay, hoạt động chủ yếu trong ngân hàng vẫn là hoạt động tín dụng Tín dụng là hoạt động sinh lời lớn nhất song cũng đem lại rủi ro cao nhất cho Ngân hàng thương mại, rủi ro này có thể xảy ro do luồng thu nhập dự tính mang lại từ các tài sản có sinh lời của Ngân hàng có thể không được hoàn trả đầy đủ xét
về cả số lượng hay thời hạn Vì vậy để có thể phát huy được vai trò của tín dụng, ngân hàng cần có biện pháp quản lý nợ tốt nhằm hạn chế rủi ro có thể xảy ra hay nói cách khác là hạn chế các khoản nợ xấu phát sinh
Hiện nay, có rất nhiều định nghĩa nợ xấu của các tổ chức được đưa ra Một cách chung nhất nợ xấu được hiểu là các khoản nợ mà Ngân hàng cho vay ra mà không thu hồi được gốc và lãi đúng thời hạn đã cam kết trong hợp đồng tín dụng Một số định nghĩa về nợ xấu được đưa ra hiện nay
a) Theo định nghĩa của Phòng Thống kê Liên hợp quốc
Một khoản nợ được coi là nợ xấu khi mang các đặc điểm sau:
Khi quá hạn trả lãi và gốc trên 90 ngày
Các khoản lãi chưa trả từ 90 ngày trở lên đã được nhập gốc; tái cấp vốn hoặc chậm trả theo thỏa thuận
Các khoản phải thanh toán đã quá hạn dưới 90 ngày những có lý do chắc chắn để nghi ngờ về khả năng khoản vay này được thanh toán đầy đủ.[6]
Trang 16b) Theo định nghĩa của Ngân hàng Liên minh Châu Âu
Theo định nghĩa của Ngân hàng Liên minh Châu Âu thì nợ xấu tại các NHTM gồm:
Là khoản nợ không thể thu hồi được, bao gồm:
- Khoản nợ hết hiệu lực hoặc những khoản nợ không có căn cứ đòi bồi thường từ nợ
- Những khoản nợ mà ngân hàng không thể liên lạc được với người mắc
nợ hoặc không thể tìm ra được người mắc nợ
- Người mắc nợ trốn hoặc bị mất tích, không còn tài sản để thanh toán nợ
- Những khoản nợ mà khách nợ chấm dứt hoạt động kinh doanh, thanh
lý tài sản, hoặc kinh doanh bị thua lỗ và tìa sản còn lại không đủ để trả nợ
Khoản nợ có thể không thanh toán đầy đủ cho ngân hàng
Là những khoản nợ không có tài sản đảm bảo hoặc có nhưng tài sản này không đủ để trả nợ Điều đó có nghĩa là khách nợ không thu hồi đầy đủ món nợ do khách hàng kinh doanh thua lỗ và không liên lạc với ngân hàng để trả lãi hoặc gốc đúng thời hạn thanh toán, hoặc hoàn cảnh chỉ ra rằng khoản
nợ sẽ không thể thu hồi được đầy đủ như:
- Khoản nợ mà khách hàng đồng ý thanh toán trong quá khứ, nhưng phần còn lại không thể được đền bù, hoặc những khoản nợ trong đó tài sản được chuyển để thanh toán những giá trị còn lại không đủ bù đắp cho khoản nợ
- Khoản nợ mà khách nợ khó có thể trả nợ và yêu cầu gia hạn nợ nhưng không thực hiện được trong thời gian thỏa thuận
- Khoản nợ mà tài sản thế chấp không đủ để trả nợ hay tài sản thế chấp
ở ngân hàng không được chấp thuận về mặt pháp lý, dẫn đến khách nợ không trả nợ Ngân hàng đầy đủ[6]
c) Theo định nghĩa của Việt Nam
Theo công bố về số liệu nợ xấu hàng năm của hệ thống ngân hàng Việt Nam hiện nay vẫn có sự khách biệt xa so với báo cáo kiểm toán của một số tổ
Trang 17chức nước ngoài Có điều này một phần là do định nghĩa về nợ xấu của Việt Nam và các tổ chức quốc tế khác nhau Tuy nhiên định nghĩa về nợ xấu của
Việt Nam đang tiến dần theo chuẩn mực của thế giới
Theo Thông tư02/2013/TT - NHNNquy định về phân loại tài sản có, mức trích, phương pháp trích lậpdự phòng rủi ro và việc sử dụng dự phòng để
xử lý rủi ro của tổ chức tín dụng thì nợ xấu được định nghĩa như sau:
Là các khoản nợ thuộc các nhóm 3 (nợ dưới tiêu chuẩn), nhóm 4 (nợ nghi ngờ), nhóm 5 (nợ có khả năng mất vốn) Về cơ bản định nghĩa nợ xấu của Việt Nam cũng dựa trên 2 yếu tố là, (1) đã quá hạn trên 90 ngày và (2) khả năng trả nợ nghi ngờ.[7]
Như vậy nợ xấu cơ bản được xác định trên 2 yếu tố
- Quá hạn trên 90 ngày
- Khả năng trả nợ nghi ngờ
Đây cũng được coi là định nghĩa của IAS đang được sử dụng trên thế giới
1.1.1.2 Phân loại nợ xấu
Tổ chức tín dụng thực hiện phân loại nợ không chỉ căn cứ vào thời gian quá hạn mà còn căn cứ vào khả năng thu hồi món vay Đối với một món vay
đã quá thời gian trả nợ nhưng nếu xét thấy khả năng trả nợ của khách hàng là
có thể thì món vay đó có thể chưa phải xếp vào nợ xấu Ngược lại, một món vay dù chỉ mới quá hạn 1 ngày nhưng Ngân hàng thấy rõ và có cơ sở xác minh được khả năng thua lỗ và dấu hiệu lừa đảo của khách hàng thì khoản nợ
đó cũng được cho là nợ xấu[7]
Tại Việt Nam, theo Thông tư 02/2013/TT - NHNN quy định về phân loại tài sản có, mức trích, phương pháp trích lậpdự phòng rủi ro và việc sử dụng dự phòng để xử lý rủi ro của tổ chức tín dụng thì có 2 cách phân loại nợ xấu trên cơ sở cả về thời gian trả nợ và khả năng trả nợ của khách hàng
a) Phân loại theo phương pháp định lượng
Tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài thực hiện phân loại
nợ (trừ các khoản trả thay theo cam kết ngoại bảng) theo 05 nhóm như sau:
Trang 18Nhóm 1 (Nợ đủ tiêu chuẩn) bao gồm:
(i) Nợ trong hạn và được đánh giá là có khả năng thu hồi đầy đủ cả nợ gốc và lãi đúng hạn;
(ii) Nợ quá hạn dưới 10 ngày và được đánh giá là có khả năng thu hồi đầy đủ nợ gốc và lãi bị quá hạn và thu hồi đầy đủ nợ gốc và lãi còn lại đúng thời hạn;
(iii) Nợ được phân loại vào nhóm 1 theo quy định tại khoản 2 Điều này[7]
Nhóm 2 (Nợ cần chú ý) bao gồm:
(i) Nợ quá hạn từ 10 ngày đến 90 ngày;
(ii) Nợ điều chỉnh kỳ hạn trả nợ lần đầu;
(iii) Nợ được phân loại vào nhóm 2 theo quy định tại khoản 2 và khoản
3 Điều này[7]
Nhóm 3 (Nợ dưới tiêu chuẩn) bao gồm:
(i) Nợ quá hạn từ 91 ngày đến 180 ngày;
(ii) Nợ gia hạn nợ lần đầu;
(iii) Nợ được miễn hoặc giảm lãi do khách hàng không đủ khả năng trả lãi đầy đủ theo hợp đồng tín dụng;
(iv) Nợ thuộc một trong các trường hợp sau đây:
- Nợ của khách hàng hoặc bên bảo đảm là tổ chức, cá nhân thuộc đối tượng mà tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài không được cấp tín dụng theo quy định của pháp luật;
- Nợ được bảo đảm bằng cổ phiếu của chính tổ chức tín dụng hoặc công ty con của tổ chức tín dụng hoặc tiền vay được sử dụng để góp vốn vào một tổ chức tín dụng khác trên cơ sở tổ chức tín dụng cho vay nhận tài sản bảo đảm bằng cổ phiếu của chính tổ chức tín dụng nhận vốn góp;
- Nợ không có bảo đảm hoặc được cấp với điều kiện ưu đãi hoặc giá trị vượt quá 5% vốn tự có của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài khi cấp cho khách hàng thuộc đối tượng bị hạn chế cấp tín dụng theo quy định của pháp luật;
Trang 19- Nợ cấp cho các công ty con, công ty liên kết của tổ chức tín dụng hoặc doanh nghiệp mà tổ chức tín dụng nắm quyền kiểm soát có giá trị vượt các tỷ lệ giới hạn theo quy định của pháp luật;
- Nợ có giá trị vượt quá các giới hạn cấp tín dụng, trừ trường hợp được phép vượt giới hạn, theo quy định của pháp luật;
- Nợ vi phạm các quy định của pháp luật về cấp tín dụng, quản lý ngoại hối và các tỷ lệ bảo đảm an toàn đối với tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài;
- Nợ vi phạm các quy định nội bộ về cấp tín dụng, quản lý tiền vay, chính sách dự phòng rủi ro của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài
(v) Nợ đang thu hồi theo kết luận thanh tra;
(vi) Nợ được phân loại vào nhóm 3 theo quy định tại khoản 2 và khoản
3 Điều này[7]
Nhóm 4 (Nợ nghi ngờ) bao gồm:
(i) Nợ quá hạn từ 181 ngày đến 360 ngày;
(ii) Nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần đầu quá hạn dưới 90 ngày theo thời hạn trả nợ được cơ cấu lại lần đầu;
(iii) Nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần thứ hai;
(iv) Khoản nợ quy định tại điểm c (iv) khoản 1 Điều này quá hạn từ 30 ngày đến 60 ngày kể từ ngày có quyết định thu hồi;
(v) Nợ phải thu hồi theo kết luận thanh tra nhưng đã quá thời hạn thu hồi đến 60 ngày mà vẫn chưa thu hồi được;
(vi) Nợ được phân loại vào nhóm 4 theo quy định tại khoản 2 và khoản
3 Điều này[7]
Nhóm 5 (Nợ có khả năng mất vốn) bao gồm:
(i) Nợ quá hạn trên 360 ngày;
(ii) Nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần đầu quá hạn từ 90 ngày trở lên theo thời hạn trả nợ được cơ cấu lại lần đầu;
Trang 20(iii) Nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần thứ hai quá hạn theo thời hạn trả
nợ được cơ cấu lại lần thứ hai;
(iv) Nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần thứ ba trở lên, kể cả chưa bị quá hạn hoặc đã quá hạn;
(v) Khoản nợ quy định tại điểm c (iv) khoản 1 Điều này quá hạn trên 60 ngày kể từ ngày có quyết định thu hồi;
(vi) Nợ phải thu hồi theo kết luận thanh tra nhưng đã quá thời hạn thu hồi trên 60 ngày mà vẫn chưa thu hồi được;
(vii) Nợ của khách hàng là tổ chức tín dụng được Ngân hàng Nhà nước công bố đặt vào tình trạng kiểm soát đặc biệt, chi nhánh ngân hàng nước ngoài bị phong tỏa vốn và tài sản;
(viii) Nợ được phân loại vào nhóm 5 theo quy định tại khoản 3 Điều này[7]
đủ các điều kiện sau đây:
(i) Khách hàng đã trả đầy đủ phần nợ gốc và lãi bị quá hạn kể cả lãi áp dụng đối với nợ gốc quá hạn) và nợ gốc và lãi của các kỳ hạn trả nợ tiếp theo trong thời gian tối thiểu 03 (ba) tháng đối với nợ trung và dài hạn, 01 (một) tháng đối với nợ ngắn hạn, kể từ ngày bắt đầu trả đầy đủ nợ gốc và lãi bị quá hạn;
(ii) Có tài liệu, hồ sơ chứng minh việc khách hàng đã trả nợ;
(iii) Tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài có đủ cơ sở thông tin, tài liệu đánh giá khách hàng có khả năng trả đầy đủ nợ gốc và lãi còn lại đúng thời hạn[7]
Đối với nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ, tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài phân loại lại vào nhóm nợ có rủi ro thấp hơn (kể cả nhóm 1) khi đáp ứng đầy đủ các điều kiện sau đây:
Trang 21(i) Khách hàng đã trả đầy đủ nợ gốc và lãi theo thời hạn trả nợ được cơ cấu lại trong thời gian tối thiểu 03 tháng đối với nợ trung và dài hạn, 01 (một) tháng đối với nợ ngắn hạn, kể từ ngày bắt đầu trả đầy đủ nợ gốc và lãi theo thời hạn được cơ cấu lại;
(ii) Có tài liệu, hồ sơ chứng minh việc khách hàng đã trả nợ;
(iii) Tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài có đủ cơ sở thông tin, tài liệu để đánh giá khách hàng có khả năng trả đầy đủ nợ gốc và lãi còn lại đúng thời hạn đã được cơ cấu lại[7]
Các chỉ tiêu về khả năng sinh lời, khả năng thanh toán, tỷ lệ nợ trên vốn, dòng tiền, khả năng trả nợ của khách hàng suy giảm liên tục hoặc có biến động lớn theo chiều hướng suy giảm qua 03 lần đánh giá, phân loại nợ liên tục;
Khách hàng không cung cấp đầy đủ, kịp thời và trung thực các thông tin tài chính theo yêu cầu của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài để đánh giá khả năng trả nợ của khách hàng
Khoản nợ đã được phân loại vào nhóm 2, nhóm 3, nhóm 4 theo quy định tại điểm a, b và c khoản này từ 01 (một) năm trở lên nhưng không đủ điều kiện phân loại vào nhóm nợ có rủi ro thấp hơn[7]
Nợ mà hành vi cấp tín dụng bị xử phạt vi phạm hành chính theo quy định của pháp luật
Phân loại cam kết ngoại bảng và khoản trả thay theo cam kết ngoại bảng:
Phân loại cam kết ngoại bảng:
(i) Phân loại vào nhóm 1 nếu tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài đánh giá khách hàng có khả năng thực hiện đầy đủ các nghĩa vụ theo cam kết
Trang 22(ii) Phân loại vào nhóm 2 trở lên nếu tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài đánh giá khách hàng không có khả năng thực hiện các nghĩa
vụ theo cam kết
(iii) Phân loại vào nhóm 3 trở lên đối với cam kết ngoại bảng thuộc một trong các trường hợp quy định tại điểm c (iv) khoản 1 Điều này[7]
Phân loại khoản trả thay theo cam kết ngoại bảng:
(i) Ngày quá hạn được tính ngay từ ngày tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài thực hiện nghĩa vụ theo cam kết
(ii) Khoản trả thay theo cam kết ngoại bảng được phân loại như sau:
- Phân loại vào nhóm 3 nếu quá hạn dưới 30 ngày;
- Phân loại vào nhóm 4 nếu quá hạn từ 30 ngày đến dưới 90 ngày;
- Phân loại vào nhóm 5 nếu quá hạn từ 90 ngày trở lên
Trường hợp khoản trả thay phân loại vào nhóm rủi ro thấp hơn nhóm
mà cam kết ngoại bảng được trả thay đã phân loại theo quy định tại điểm a (ii), điểm a (iii) khoản này thì phải chuyển vào nhóm mà cam kết ngoại bảng
đó đã phân loại[7]
b) Phân loại theo phương pháp định tính
Tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài phân loại nợ, cam kết ngoại bảng theo 05 nhóm như sau:
Nhóm 1 (Nợ đủ tiêu chuẩn) bao gồm: Các khoản nợ được tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài đánh giá là có khả năng thu hồi đầy đủ
cả nợ gốc và lãi đúng hạn
Các cam kết ngoại bảng được tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài đánh giá là khách hàng có khả năng thực hiện đầy đủ nghĩa vụ theo cam kết
Nhóm 2 (Nợ cần chú ý) bao gồm: Các khoản nợ được tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài đánh giá là có khả năng thu hồi đầy đủ
cả nợ gốc và lãi nhưng có dấu hiệu khách hàng suy giảm khả năng trả nợ
Trang 23Các cam kết ngoại bảng được tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài đánh giá là khách hàng có khả năng thực hiện nghĩa vụ theo cam kết nhưng có dấu hiệu suy giảm khả năng thực hiện cam kết
Nhóm 3 (Nợ dưới tiêu chuẩn) bao gồm: Các khoản nợ được tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài đánh giá là không có khả năng thu hồi nợ gốc và lãi khi đến hạn Các khoản nợ này được tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài đánh giá là có khả năng tổn thất
Các cam kết ngoại bảng được tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài đánh giá là khách hàng không có khả năng thực hiện đầy đủ nghĩa
Các cam kết ngoại bảng mà khách hàng không còn khả năng thực hiện nghĩa vụ cam kết[7]
1.1.1.3 Dấu hiệu nhận biết nợ xấu
Một khoản nợ được coi là nợ xấu về cơ bản dựa trên 2 tiêu chí: quá hạn trên 90 ngày và khả năng trả nợ nghi ngờ Nhưng do chỉ là những dấu hiệu cơ bản để có thể đánh giá một khoản nợ là xấu, còn những dấu hiệu cụ thể để nhận biết nợ xấu được xem xét trên 2 khía cạnh: từ phía khách hàng và
từ bản thân ngân hàng cho vay
Dấu hiệu từ phía khách hàng
Thanh toán tiền không đúng kế hoạch: Là trường hợp người vay liên tục trả nợ không đúng hạn, dẫn đến việc kỳ hạn trả nợ của khách hàng bị kéo dài ra hoặc khách hàng yêu cầu được gia hạn nợ
Trang 24Các số liệu, báo cáo cần thiết không được kê khai và nộp cho ngân hàng một cách chính xác và đúng kế hoạch như: báo cáo kết quả kinh doanh, bảng cân đối kế toán, báo cáo lưu chuyển tiền tệ, thuyết minh báo cáo tài chính…mà không có sự giải thích của người vay trong việc kê nộp các báo cáo này, cũng như sự trì hoãn trong giao tiếp với ngân hàng
Xuất hiện độ lệch về doanh thu hay dòng tiền thực tế so với mức dự kiến báo cáo khi khách hàng xin vay Đó là những dấu hiệu của dự án hoạt động không hiệu quả và khả năng trả nợ của khách hàng đáng nghi ngờ
Tài sản đảm bảo không đủ tiêu chuẩn, ví dụ như giá trị tài sản đảm bảo thấp hơn so với khi định giá cho vay, hoặc có dấu hiệu tài sản đã cho người khác thuê, hoặc bán, bị mất…
Những thay đổi bất lợi về giá cổ phiếu của doanh nghiệp vay vốn
Thay đổi trong cơ cấu của người vay (tỷ lệ nợ/vốn chủ sở hữu), khả năng thanh khoản (Khả năng thanh toán nhanh, khả năng thanh toán tức thời…), hay mức độ hoạt động…
Hoạt động kinh doanh của khách hàng thu lỗ trong một hoặc nhiều năm liên tục, đặc biệt thể hiện qua các chỉ số tài chính như ROA, ROE, EBIT, lợi nhuận trước thuế, lợi nhuận sau thuế…
Những thay đổi bất thường ngoài dự kiến và không giải thích được trong số dư tiền gửi của khách hàng
Dấu hiệu từ phía ngân hàng
Có đánh giá không chính xác về rủi ro của khách hàng
Cho vay dựa trên các sự kiện bất thường có thể xảy ra trong tương lai,
ví dụ như sát nhập…
Hồ sơ tín dụng không đầy đủ
Do có sự cạnh tranh giữa các ngân hàng: một số cán bộ tín dụng có thể đạt chỉ tiêu doanh số được giao hoặc nhằm giữ khách hàng, không để họ chạy sang ngân hàng khác, có thể chấp nhận cấp tín dụng cho khách hàng mà
Trang 25không quan tâm tới khả năng hoàn trả nợ vay của họ Đối với những khoản vay này, khả năng xảy ra rủi ro là rất lơn
Do cơ cấu tín dụng của ngân hàng không hợp lý, chỉ tập trung cho vay một hoặc một số doanh nghiệp, một số lĩnh vực chủ chốt mà không đa dạng hóa danh mục khách hàng cho vay dẫn đến rủi ro lón khi hoạt động của lĩnh vực đó gặp bất lợi Ngược lại, một số cán bộ tín dụng lại chia nhỏ danh mục cho vay ra quá nhiều mà không hoàn toàn am hiểu kỹ càng về lĩnh vực đó, không hiểu được tính chất quy luật của từng ngành, cũng là nguyên nhân gây
ra nợ xấu đối với ngân hàng.Cho vay để tài trợ các hoạt động đầu cơ
1.1.1.4 Ảnh hưởng của nợ xấu đến hoạt động của Ngân hàng thương mại và nền kinh tế
a) Ảnh hưởng của nợ xấu đến hoạt động của Ngân hàng thương mại
Ngân hàng là một thực thể quan trọng trong nền kinh tế, vì vậy bất cứ rủi ro nào xảy ra đối với ngân hàng cũng đều ảnh hưởng tới nền kinh tế dù ít hay nhiều Nợ xấu là một trong những vấn đề nhức nhối mà mỗi ngân hàng đều cố gắng tìm giải pháp hạn chế một cách triệt để nhất Nợ xấu có ảnh hưởng tới hệ thống ngân hàng thương mại như sau:
Làm chậm quá trình tuần hoàn và chu chuyển vốn của các tài chính tín dụng, giảm vòng quay của vốn, từ đó làm giảm hiệu quả sử dụng vốn, giảm lợi nhuận, và khi lợi nhuận của ngân hàng giảm, phần trích ra nộp vào ngân sách nhà nước cũng giảm tương ứng
Chi phí phát sinh do nợ xấu rất lơn: Lợi nhuận của ngân hàng hình thành từ các khoản thu, trong đó thu từ lãi vay chiến tỷ trọng lớn Nợ xấu
phát sinh tác động lớn tới lợi nhuận của ngân hàng Thứ nhất: ngân hàng
không thu được lãi (có thể còn không thu được gốc) từ khách hàng và phải
hạch toán ngoại bảng, làm cho lợi nhuận của ngân hàng giảm Thứ hai: khi
nợ xấu tăng, tỷ lệ trích lập dự phòng của ngân hàng cũng tăng, làm tăng chi phí và lợi nhuận giảm đi
Trang 26Uy tín của ngân hàng giảm xút: Nợ xấu tăng cao tạo tâm lý không ổn định đối với khách hàng khi sử dụng dịch vụ của ngân hàng, không ai muốn gửi tiền vào ngân hàng vì họ lo ngại khả năng thanh khoản của ngân hàng giảm sút, đồng thời họ cũng mất lòng tin vào trình độ quản lý của ngân hàng Một khi lượng khách hàng giảm xuống, khả năng huy động cũng nhu cho vay của ngân hàng đều giảm sút và uy tín của ngân hàng giảm sút không chỉ đối với các
cá nhân tài chính trong nước mà còn đối với các cá nhân tài chính nước ngoài
Nợ xấu ảnh hưởng trực tiếp đến khả năng tài chính của ngân hàng: Nợ xấu gia tăng ảnh hưởng xấu tới khả năng thanh khoản và kế hoạch kinh doanh của ngân hàng Các khoản nợ không được thanh toán đúng thời hạn gây mất cân bằng về vốn đối với ngân hàng, làm chậm quá trình chu chuyển vốn của ngân hàng Khi đó hệ số an toàn vốn (CAR = [(Vốn cấp I + Vốn cấp II)/(Tài sản đã điều chỉnh rủi ro)]x 100%) của ngân hàng thấp, và kế hoạch kinh doanh phải thay đổi
Cản trở quá trình hội nhập và phát triển của ngân hàng: nợ xấu cao là nhân tố cản trở ngân hàng tiếp cận được với các tiêu chuẩn quốc tế, là nhân tố bất lợi trong cạnh tranh và mất cơ hội khi tham gia hội nhập quốc tế
b) Ảnh hưởng của nợ xấu đến nền kinh tế
Ngân hàng là chủ thể trung gian luân chuyển vốn theo chu trình: khách hàng - ngân hàng - khách hàng Khách hàng gửi tiền vào ngân hàng, ngân hàng
sử dụng số vốn đó cho vay ra đối với nền kinh tế Vì vậy, hoạt động của ngân hàng có ảnh hưởng trực tiếp tới từng cá nhân, doanh nghiệp nói riêng và cả nền kinh tế nói chung Dù cho nợ xấu phát sinh là nguyên nhân từ phía khách hàng hay ngân hàng đều vậy Đứng trên khía cạnh nợ xấu xảy ra do nguyên nhân chủ quan từ ngân hàng, khi đó khả năng khai thác, đáp ứng vốn và cung ứng đơn vị của ngân hàng đều giảm và có ảnh hưởng tới nền kinh tế Ngược lại, khi
nợ xấu phát sinh do nguyên nhân từ phía khách hàng Một khách hàng khi không đủ khả năng trả nợ, hoặc khoản nợ bị quá hạn là dấu hiệu của việc hoạt
Trang 27động kinh doanh kém hiệu quả của khách hàng, làm cho lượng vốn vay bị ứ đọng dẫn đến làm chậm quá trình chu chuyển vốn, điều này tác động đến toàn
bộ nền kinh tế, ảnh hưởng tới khả năng tăng trưởng của quốc gia
1.1.2 Quản lý nợ xấu của Ngân hàng thương mại
Một ngân hàng có khối lượng nợ xấu lớn sẽ có ảnh hưởng nghiêm trọng không chỉ tới hoạt động của ngân hàng mà còn tới cả nền kinh tế Một khoản nợ xấu phát sinh có thể do nhiều nguyên nhân, chủ quan từ phía Ngân hàng, nguyên nhân khách quan do khách hàng hoạt động kinh doanh kém hiệu quả, hoặc cũng có thể do các yếu tố bất thường của thiên nhiên Tuy nhiên, việc xác định rõ nguyên nhân dẫn đến một khoản nợ xấu chỉ giúp ngân hàng
có những biện pháp phòng ngừa nhằm hạn chế tối thiểu các khoản nợ xấu mà không hoàn toàn tránh được những rủi ro trong kinh doanh tín dụng Vì vậy, việc quản lý rủi ro tín dụng được coi là nhiệm vụ trọng tâm trong hoạt động quản trị rủi ro của ngân hàng thương mại
1.1.2.1 Khái niệm quản lý nợ xấu
Quản lý nợ xấu của ngân hàng thương mại là quá trình xây dựng và thực thi các chiến lược, các chính sách quản lý và kinh doanh tín dụng nhằm đạt được các mục tiêu an toàn, hiệu quả và phát triển bền vững, trong đó tăng cường các biện pháp nhằm phòng ngừa và hạn chế phát sinh nợ xấu, đồng thời với việc xử lý các khoản nợ xấu đã phát sinh, từ đó làm tăng doanh thu, giảm chi phí và nâng cao hiệu quả hoạt động kinh doanh cả trong ngắn hạn và
dài hạn của ngân hàng thương mại
1.1.2.2 Mục tiêu của công tác quản lý nợ xấu
Quản lý nợ xấu là một bộ phận của quản lý rủi ro tín dụng, đây là một trong những hoạt động chủ đạo của Ngân hàng thương mại Quản lý nợ xấu phải hướng vào việc đảm bảo tính hiệu quả của hoạt động tín dụng và không ngừng nâng cao chất lượng hoạt động tín dụng của ngân hàng thương mại Quản lý nợ xấu phải hướng vào mục tiêu đem lại cách xử lý có hiệu quả nhất và giảm tới mức thấp nhất tổn thất cho Ngân hàng thương mại Nói một cách cụ thể thì quản
Trang 28lý nợ xấu luôn phải nhằm vào việc hạ thấp tổn thất, nâng cao mức độ an toàn kinh doanh của mỗi ngân hàng thương mại bằng các chính sách,các biện pháp quản lý, giám sát hoạt động tín dụng và khoa học có hiệu quả
Trong xu hướng toàn cầu hóa hiện nay, đòi hỏi các nước phải tự do hóa,
mở cửa thị trường trong lĩnh vực tài chính - ngân hàng Do vậy, các hoạt động ngân hàng cần được thực hiện và quản lý thông qua các tiêu chuẩn, tiêu chí có tính
thong lệ quốc tế, đặc biệt là hoạt động quản lý nợ xấu ngân hàng thương mại
1.1.2.3 Nội dung công tác quản lý nợ xấu
Nhận biết và phân loại nợ xấu
Nhận biết nợ xấu là bước đầu tiên trong quá trình quản lý nợ xấu ngân hàng, mà trong đó NHTM sẽ căn cứ vào một số tiêu thức nhất định để nhận diện hoặc xác định khoản nợ đó có phải là nợ xấu hay không
Để nhận biết các khoản nợ xấu, mỗi quốc gia với sự phát triển của hệ thống ngân hàng và thị trường tài chính khác nhau sẽ có những quan điểm khác nhau
Tại Việt Nam, Ngày 21 tháng 01 năm 2013 Thống Đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam ký Thông tư số 02/2013/TT-NHNN quy định về “Phân loại tài sản có, mức trích, phương pháp trích lập dự phòng rủi ro và việc sử dụng
dự phòng để xử lý rủi ro của tổ chức tín dụng” thay thế cho quyết định số 493/2005/QĐ-NHNN ban hành ngày 22/4/2005
Đo lường nợ xấu
Sau khi nhận biết được nợ xấu, các NHTM sẽ tiến hành đo lường, ước lượng xác xuất vỡ nợ và tổn thất mà khoản nợ xấu đó gây ra Nếu các NHTM có thể ước lượng xác suất vỡ nợ tức là ngân hàng đã đo lường được nợ xấu theo phương pháp định lượng Còn nếu chỉ dự đoán, nhưng không ước lượng xác suất
xảy ra tổn thất thì ngân hàng mới chỉ đo lường theo phương pháp định tính
Ngăn ngừa nợ xấu
Đối với các biện pháp ngăn ngừa nợ xấu, có các nguyên tắc chung:
Trang 29 Xây dựng mô hình quản lý rủi ro tín dụng
Xây dựng mô hình quản lý rủi ro tín dụng là xây dựng cách thức quản
lý rủi ro tín dụng tổng thể của một ngân hàng, trong đó thể hiện được cách thức tổ chức quản lý, thực hiện quy trình tín dụng, nhận biết, đo lường, kiểm soát rủi ro tín dụng nhận biết, đo lường, kiểm soát rủi ro tín dụng nhằm khống chế rủi ro trong một giới hạn cho phép theo nguyên tắc tối đa hóa lựoi nhuận
Việc xây dựng mô hình quản lý rủi ro tín dụng giúp cho ngân hàng có
sự nhìn nhận chính xác hơn về triển vọng kinh doanh của ngân hàng trong tương lai, từ đó có khả năng hoạch định chính sách knh doanh phù hợp So với các chỉ tiêu phản ánh thực tế kinh doanh như doanh thu, mức sinh lời, các
khoản lãi và phí … thì “rủi ro” lại mang tính ”dự đoán” Nói đến rủi ro tức là
nói đến những biến cố xảy ra không chắc chắn.Và trên thực tế thì người ta có thể bỏ qua những kết quả xảy ra trong tương lai để chú trọng hơn vào những mục tiêu trước mắt.Việc xem nhẹ rủi ro như vậy có nghĩa là ngân hàng có thể
sẽ phải chịu những tổn thất nặng nề xảy đến trong tương lai Chính bởi vậy, quan tâm đến việc áp dụng mô hình quản lý rủi ro có nghĩa là các ngân hàng
đã đưa rủi ro vào thành một vấn đề cấp thiết trong hoạt động kinh doanh bên cạnh mục tiêu “lợi nhuận” ngay cả khi rủi ro chưa xảy ra
Xây dựng chiến lược quản lý rủi ro
Cần có chiến lược quản lý rủi ro phù hợp với chiến lược kinh doanh của ngân hàng trong từng thời kỳ và có thể được điều chỉnh một cách linh hoạt tùy theo diễn biến thị trường tín dụng Chiến lược quản lý rủi ro nói chung nhằm hạn chế nợ xấu phát sinh phải chỉ rõ điểm mạnh điểm yếu của ngân hàng, các cơ hội cũng như các mối đe dọa từ môi trường kinh doanh… Chiến lược phải được hoạch định một cách nhất quán về các thứ tự ưu tiên cho đến các mực tiêu có sự xung đột trong hoạt động kinh doanh Chiến lược phòng ngừa, hạn chế rủi ro phải đặc biệt chú trọng đến việc đa dạng hóa danh mục tín dụng trên cơ sở phân bổ hợp lý các nguồn vốn cũng như chi phí quản
Trang 30lý rủi ro sẽ được hình thành trên cơ sở là một bộ phận hữu cơ phù hợp và gắn chặt với chiến lược kinh doanh tổng thể của ngân hàng
Xây dựng hệ thống cảnh báo sớm đối với các khoản nợ xấu phát sinh Khi những khoản nợ có nguy cơ chuyển thành nợ xấu thì các ngân hàng cần phải xây dựng một hệ thống cảnh báo sớm đối với những khoản nợ này
Đối với những khoản nợ,ngay từ những khoản nợ thuộc nhóm 2 đã cần phải sớm phân tích nguyên nhân và có biện pháp tín dụng, không để kéo dài thời gian quá hạn, dễ dẫn đến nguy cơ nợ xấu
Với ý nghĩa là nợ cần chú ý,nợ nhóm 2 được coi như chiếc nhiệt kế đo lường và cảnh báo sớm mức độ rủi ro tín dụng tại ngân hàng Cho dù là món vay lớn hay món vay nhỏ, cho vay doanh ngiệp nhà nước hay kinh tế dân doanh, cho vay có hay không có tài sản đảm bảo thì khả năng phát sinh nợ nhóm 2, nguy cơ chuyển từ nợ nhóm 2 sang nợ xấu là hết sức tiềm ẩn ở mọi ngân hàng cho vay
Thực hiện tốt quy trình quản lý tín dụng
Bản thân hoạt động tín dụng luôn chứa đựng nguy cơ rủi ro tiềm ẩn, chính vì vậy, các ngân hàng khi xem xét cho vay đều phải thực hiện nghiêm ngặt quy trình quản lý tín dụng: từ khâu thẩm định, giải ngân cho vay đến các khâu kiểm tra trước và sau khi cho vay… Việc thực hiện và quản lý nghiêm ngặt quy trình quản lý tín dụng sẽ giúp cho ngân hàng tránh được rủi ro các khoản nợ xâu phát sinh, phát hiện và chấn chỉnh kịp thời các sai phạm và các thiếu sót trong hoạt động kinh doanh của ngân hàng
Kiểm tra, giám sát hoạt động tín dụng
Kiểm tra, giám sát để đảm bảo chắc chắn rằng khách hàng vay không làm những việc rủi ro bằng món tiền của ngân hàng cho vay Ngân hàng thực hiện việc kiểm tra sử dụng vốn vay sau khi giải ngân, kiểm tra hoạt động sản xuất kinh doanh của khách hàng theo định kỳ Đây là một yêu cầu bắt buộc trong quy trình tín dụng của bất cứ một NHTM nào
Trang 311.1.2.4 Các yếu tố ảnh hưởng đến quản lý nợ xấu
Nợ xấu luôn là vấn đề đáng lo ngại với các ngân hàng thương mại Vì vậy việc quản lý nợ xấu luôn được các ngân hàng quan tâm Có rất nhiều nguyên nhân gây ra nợ xấu: nguyên nhân từ phía khách hàng, từ phía ngân hàng, hoặc do những yếu tố bất ngờ xảy ra trong nền kinh tế, những biến động của thiên nhiên…Các yếu tố cơ bản ảnh hưởng đến công tác quản lý nợ
xấu tại ngân hàng thương mại bao gồm:
a) Yếu tố chủ quan
Sự quản lý yếu kém của ngân hàng
Hoạt động tín dụng là nghiệp vụ lớn nhất của mỗi ngân hàng đồng thời
cũng là nghiệp vụ mang lại nguồn thu chủ yếu cho ngân hàng Mỗi ngân hàng luôn phải thiết lập cho mình một hệ thống quản lý nợ phù hợp với điều kiện
mà mục tiêu kinh doanh hướng tới của ngân hàng, Bất cứ sai xót nào trong khâu quản lý cũng như triển khai đều có thể gây ra rủi ro Ngược lại sự quản
lý hợp lý, đồng bộ trong các khây sẽ giúp ngân hàng ngăn ngừa đáng kể tình trạng nợ xấu phát sinh
Sự quản lý điều hành của ngân hàng luôn đi đôi với tình trạng nợ quá hạn cao Điều này có thể xảy ra do sơ hở của nhân viên tín dụng hoặc do
Trang 32chính sự sai xót của nhà quản lý Một sự nhầm lẫn trong khâu thẩm định, khâu lập hồ sơ, hay trong khâu phân tích tín dụng đều dẫn đến những quyết định sai lầm khi cho vay dù hiệu quả xảy ra là nhỏ hay lớn, rủi ro tín dụng xảy
ra là điều tất yếu Một số nguyên nhân thường gặp như:
- Sự tập trung tín dụng vào một khu vực khách hàng, một lĩnh vực ngành nghề mà không đa dạng hóa danh mục tín dụng cũng là một nguyên nhân làm cho rủi ro của ngân hàng tăng cao
- Không có sự điều chỉnh danh mục tín dụng trước những biến động bất lợi của nền kinh tế vĩ mô Chẳng hạn năm 2008 là năm mà tỷ lệ dư nợ bất động sản tăng cao, nợ xấu bất động sản luôn là bài toán khó giải đối với hầu hết các ngân hàng thương mại Đứng trước tình hình đó, nhiều ngân hàng đã hạn chế cho vay đối với lĩnh vực bất động sản
- Thiếu hệ thống chấm điểm tín dụng, đánh giá khách hàng hoặc hệ thống này xây dựng còn nhiều thiếu xót Hiện nay, Việt Nam trung tâm thông tin tín dụng (CIC) được thành lập và có vai trò quan trọng với việc định hướng hoạt động, tổ chức, hướng dẫn triển khai nghiệp vụ thông tin tín dụng trong toàn hệ thống Đồng thời CIC có nhiệm vụ triển khai xếp hạng tín dụng doanh nghiệp và xử lý các thông tin đó và lại tiếp tục cung cấp lại cho các ngân hàng thương mại Điều đó giúp cho các ngân hàng thương mại hạn chế được rủi ro có thể xảy ra
- Rủi ro đạo đức: Khi nói tới rủi ro đạo đức trong hoạt động tín dụng của các ngân hàng chúng ta thường đề cập tới rủi ro đạo đức của cán bộ tín dụng mà ít nhắc tới rủi ro xuất phát từ phía người quản lý Một người quản lý làm đúng chức năng, nhiệm vụ thì phòng ngừa được phát sinh của nợ xấu Những trên thực tế vì lợi ích cá nhân hay một nhóm tập thể cán bộ quản lý trong công tác điều hành đã vô tình hoặc cố ý tạo điều kiện, kẽ hở cho các loại rủi ro này phát sinh Ví dụ như khi nhà quản lý có quan hệ lợi ích với khách hàng, mặc dù khách hàng đã được thẩm định là không đủ điều kiện nhưng vì
Trang 33một lý do nào đó nhà quản lý giúp đỡ khách hàng hợp thức hóa hồ sơ vay vốn hoặc trong một số trường hợp còn yêu cầu cán bộ tín dụng phải thực hiện theo
ý kiến chỉ đạo.Bên cạnh đó, rủi ro đạo đức cũng có thể xảy ra do cán bộ tín dụng sơ hở hoặc câu kết với khách hàng, hay do khách hàng vay vốn nhưng không thức hiện vốn đúng như cam kết…Tất cả những yếu tố đó là nguyên nhân đẩy ngân hàng vào nguy cơ nợ xấu ngày càng cao
Ngoài ra còn một số nguyên nhân như sự bất ổn định của chủ trương chính sách từ chính phủ, hay do quy mô một số ngân hàng nhỏ nên không có điều kiện về vốn, mạng lưới để cải tiến, áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật thể theo tiêu chuẩn quốc tế và quản lý nợ xấu nên xác xuất rủi ro cũng cao hơn
Quy trình nghiệp vụ của ngân hàng còn thiếu chặt chẽ, thiếu đồng bộ
Vì có sự thiếu chặt chẽ trong quy trình nghiệp vụ dẫn đến việc khách
hàng lợi dụng lừa đảo, chiếm đoạt vốn của ngân hàng Mỗi ngân hàng đều xây dựng cho mình một chính sách tín dụng riêng biệt phù hợp với chiến lược kinh doanh của họ Tuy nhiên nhếu duy trì chính sách tín dụng một cách cứng nhắc, chậm chễ trong việc sửa đổi chính sách, hoặc áp dụng thiếu linh hoạt giữa các bộ phận khách hàng khác nhau có thể gây ra rủi ro cho ngân hàng
Bên cạnh đó sự ra đời ngày càng nhiều các ngân hàng thương mại khiến môi trường cạnh tranh ngày càng trở nên gay gắt hơn, việc các ngân hàng tìm mọi biện pháp mở rộng chiếm lĩnh thị phần bằng cách đơn giản hóa các thủ tục cho vay (ví dụ như cho vay tín chấp), hạ thấp tiêu chuẩn đánh giá khách hàng cũng là nguyên nhân làm cho nợ xấu cảu ngân hàng gia tăng
Cơ chế trích lập và sử dụng quỹ dự phòng rủi ro chưa hợp lý
Quỹ dự phòng rủi ro là nguồn quan trọng của ngân hàng nhằm phòng ngừa những rủi ro có thể xảy ra trong hoạt động kinh doanh tín dụng Quỹ dự phòng phải được sử dụng để xử lý rõ ràng ngay khi khoản nợ được xếp vào nhóm 5, và phải tuân thủ nguyên tắc sử dụng dự phòng cụ thể cho từng khoản vay, sau đó phát mại tài sản để thu hồi khoản nợ, nếu không đủ bù đắp những tổn thất mới sử dụng đến dự phòng chung
Trang 34 Cán bộ tín dụng còn thiếu kinh nghiệm
Một số cán bộ tín dụng mới bắt đầu với công việc còn thiếu kinh
nghiệm Việc thẩm định, đánh giá tình hình tài chính của các đối tượng khách hàng không chỉ đơn thuần dựa trên các con số mà phải dựa trên cả kinh nghiệm thực tiễn Một cán bộ tín dụng lâu năm có thể dễ dàng nhận thấy những điểm bất lợi của khách hàng như môi trường kinh doanh, bộ máy quản
lý, chiến lược phát triển…cho dù số liệu thẩm định là tốt, những điều đó cũng
có thể là yếu tố cản trở quyết định cho vay của ngân hàng, Tuy nhiên đó là điều mà nhân viên tín dụng mới vào ngành khó có thể nắm bắt được ngay
Cán bộ tín dụng phải có đầu óc phán đoán nhanh nhạy, dự báo được triển vọng trong tương lai, có hội cũng như thách thức mà khách hàng có thể gặp phải, nếu đánh giá không đúng có thể sẽ dẫn tới những quyết định cho vay sai lầm
Việt Nam gia nhập WTO, các điều kiện về thương mại quốc tế vẫn còn nhiều mới mẻ đối với cán bộ ngân hàng vì vậy việc đào tạo đội ngũ cán bộ trẻ năng động, có trình độ để có thể tiếp cận với chuẩn quốc tế là vấn đề đang được chú trọng
Cơ cấu cho vay không hợp lý
Tín dụng của ngân hàng vẫn chủ yếu tập trung ở tín dụng ngắn hạn
(chiếm gần 70% trong tổng dư nợ) và phần lớn là cho vay đất nước vừa và nhỏ Việc tập trung chủ yếu thị phần tín dụng vào các đất nước vủa và nhỏ, không
đa dạng hóa danh mục tín dụng trong điều kiện nền kinh tế chịu nhiều biến động bất lợi từ cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới khiến hco ngân hàng gặp nhiều rủi ro hơn Có thể thấy tỷ lệ nợ xấu trong khối NHTM nhà nước hiện nay vẫn cao nhất, điều này một phần lý do do cơ cấu cho vay không hợp lý cũng có thể có nguyên nhân từ các khoản cho vay theo chỉ định từ chính phủ
Trang 35b) Yếu tố khách quan
Môi trường pháp lý chưa đầy đủ
Hệ thống Luật là cơ sơ pháp lý vững chắc cho hoạt động của nền kinh
tế nói chung và hoạt động ngân hàng nói riêng Một môi trường pháp lý rõ ràng, đồng bộ là cơ sở cho các NHTM lựa chọn và đánh giá khách hàng chính xác hơn và đưa ra những quyết định đúng đắn hơn Sự thiếu chặt chẽ trong các bộ Luật sẽ tạo điều kiện cho khách hàng lách luật, tìm cách lừa đảo, chiếm dụng vốn gây khó khăn cho ngân hàng
Việt Nam chuyển đổi từ nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung sang kinh
tế thị trường, gia nhập ngày càng sâu rộng vào nền kính tế thế giới nền nhiều ngành nghề lĩnh vực mới mà luật còn chưa đề cập đến hay vẫn đang còn trong
dự thảo đã gây khó khăn cho các ngân hàng trong việc thi hành luật
Khách hàng gặp rủi ro trong kinh doanh
Khách hàng có thể gặp rủi ro từ những nguyên nhân bất khả kháng như
thiên tai, địch họa, bệnh dịch Chẳng hạn như trận lũ năm vừa qua ở miền Trung đã cuốn sạch của cải của các doanh nghiệp…Những nguyên nhân này nằm ngoài tầm kiểm soát của ngân hàng và ngay cả bản thân khách hàng Vì vậy, những tổn thất này doanh nghiệp cần được sự chia sẻ của nhà nước và toàn xã hội
Ngoài ra từ những biến động bất ngờ nằm ngoài dự đoán của thị trường như: thay đổi tỷ giá, lãi suất, tác động của khủng hoảng kinh tế, ảnh hưởng từ những yếu tố chính trị hoặc do những thay đổi từ chính sách điều tiết nền kinh
tế vĩ mô của chính phủ…cũng là những nguyên nhân ảnh hưởng tới hoạt động quản lý nợ xấu của ngân hàng thương mại
Sự yếu kém trong hoạt động kinh doanh của khách hàng
Khách hàng có năng lực tài chính yếu, hoạt động chủ yếu bằng vốn vay
hoặc năng lực quản lý điều hành kinh doanh của doanh nghiệp, kém nhanh nhạu trước biến động thị trường khiến hoạt động kinh doanh kém hiệu quả, thua lỗ dẫn tới có thể không trả được nợ gây rủi ro cho ngân hàng
Trang 361.2 Cơ sở thực tiễn
1.2.1 Kinh nghiệm quản lý nợ xấu từ các NHTM nước ngoài
Hơn 10 năm về trước, khủng hoảng tài chính Châu Á 1997 đã đẩy nhiều công ty, tập đoàn và hệ thống ngân hàng rơi vào tình cảnh nguy khốn
về tài chính, đặc biệt là những nước đang phát triển như Thái Lan, Indonesia, Hàn Quốc, Malaysia và Philippines Cũng từ đó, khủng hoảng tài chính 1997 cũng tạo ra một thị trường mua bán nợ khó đòi khổng lồ với nhiều tiềm năng lớn cho các tổ chức kinh doanh nợ Theo nhận định của các nhà phân tích kinh tế, cuộc khủng hoảng này có phần bắt nguồn từ khủng hoảng nợ của khu vực tư được chính phủ đứng ra bảo lãnh
Sau hơn 10 năm, kể từ khủng hoảng tài chính 1997, bước sang năm
2008 cả thế giới lại tiếp tục phải đối mặt với cơn bão khủng hoảng tài chính toàn cầu Đây là cuộc khủng hoảng bao gồm sự đổ vỡ hàng loạt trong hệ thống ngân hàng, xuất hiện tình trạng đói tín dụng, tình trạng sụt giá chứng khoán và mất giá tiền tệ với quy mô lớn ở nhiều nước trên thế giới mà có nguồn gốc sâu xa khủng hoảng tài chính ở Hoa Kỳ
Và cho đến tận ngày nay, sự kiện nhiều NHTM trên thế giới liên tiếp công bố các khoản nợ xấu và thua lỗ của mình cũng đang là hồi chuông cảnh báo cho hoạt động quản lý nợ xấu của các NTHM trên toàn thế giới Trước tình hình đó, các Ngân hàng lớn, có tầm ảnh hưởng toàn cầu đang tiến hành nhiều biện pháp để sẵn sang đối phó với khủng hoảng tín dụng thế giới
1.2.1.1 Quản lý nợ xấu ngân hàng thương mại tại Hàn Quốc giai đoạn khủng hoảng 1997
Nguyên nhân phát sinh nợ xấu
- Sự yếu kém về cấu trúc trong các khu vực kinh tế Khu vực các công
ty Hàn Quốc nổi bật với các đặc điểm chính là: Lợi nhuận thấp với tỷ lệ Nợ/Tổng vốn vô cùng cao, năng lực quản trị yếu kém, thiếu hệ thống giám sát nhằm duy trì tính trách nhiệm và minh bạch
Trang 37- Sự can thiệp quá đà theo lối mòn của chính phủ trong cách thức quản
lý nội bộ các định chế tài chính Gần như ở đây không có khái niệm về “phá sản”, vì các định chế tài chính luôn được Chính phủ đứng ra bảo lãnh Do vậy hoạt động của các định chế tài chính Hàn Quốc ngày càng trở lên yếu kém và
tỷ lệ nợ xấu đã tăng lên mạnh mẽ khiến nhiều công tỷơi vào tình trạng phá sản
từ đầu năm 1997
Các phương pháp quản lý nợ xấu sau khủng hoảng:
Cơ cấu lại khu vực tài chính - ngân hàng
Phân loại các khoản vay
Thành lập hệ thống thanh tra giám sát
Thành lập Công ty Quản lý tài sản
1.2.1.2 Quản lý nợ xấu ngân hàng thương mại tại Trung Quốc
Nguyên nhân gây ra nợ xấu
- Tốc độ tăng trưởng dư nợ tín dụng của các NHTM Trung Quốc quá cao, trong khi trình độ chuyên môn của cán bộ tín dụng chưa đạt tiêu chuẩn Các NHTM Trung Quốc luôn sẵn lòng “tài trợ” cho “cuộc chạy đua phát triển
cơ sở hạ tầng” của các chính quyền địa phương Trung Quốc như Bắc Kinh, Thượng Hải, Quảng Châu và Vũ Hán… Tốc độ tăng trưởng tín dụng này đã được IMF và WB khuyến cáo là tăng trưởng “quá nóng”, không có lợi cho việc
ổn định kinh tế vĩ mô và chiến lược phát triển dài hạn của hệ thống ngân hàng
- Các NHTM Trung Quốc luôn sẵn sang cho vay những lĩnh vực ngoài thị trường truyền thống như cho vay bất động sản, cho vay đối với các dự án xây dựng phát triển đô thị Các khoản cho vay này luôn có nhiều tiềm ẩn rủi
ro Thậm chí, giá trị của các dự án cơ sở hạ tầng này hiện chiếm tới 70% GDP Trung Quốc, đó là con số mà không một quốc gia lớn nào chạm đến trong lịch
sử hiện đại Có những dấu hiệu ngày càng rõ rệt cho thấy nền kinh tế tăng trưởng nhanh nhiều năm qua của Trung Quốc đang gặp nguy cơ từ chính những dự án này, bởi nguồn tài chính bơm vào chúng là tiền đi vay, trong đó
Trang 38con nợ chủ yếu là các chính quyền địa phương, và quy mô của các khoản nợ được những bàn tay kế toán khéo léo tô vẽ để trông có vẻ nhỏ hơn thực tế
- Tỷ lệ cho vay trên giá trị TSĐB quá cao thể hiện sự dễ dãi trong chính sách tín dụng của các NHTM Trung Quốc Ngoài ra, các ngân hàng này cũng cho vay với kỳ vọng tài sản hình thành từ vốn vay sẽ có giá trị cao Tình trạng sốt và giảm giá nhà đất nghiêm trọng tại các thành phố lớn ở Trung Quốc trong năm vừa qua đã làm cho sự kỳ vọng vô nghĩa, giá bất động sản sụt giảm, trị giá thé chấp không đủ bù đắp khoản vay, thanh toán kém, nguy cơ không trả được nợ là rất lớn
- Công tác giám sát sau giải ngân kém; các NHTM Trung Quốc đã không giám sát thỏa đáng đối với các khoản cho vay xây dựng như trực tiếp tiến hành đi thực địa, theo dõi tiến độ rút vốn vay, thanh tra tại chỗ Ngoài
ra, các NHTM Trung Quốc cũng không tích cực thường xuyên thu thập, xác minh tính chính xác của thông tin và phân tích các báo cáo tài chính của người vay trong suốt kỳ hạn hiệu lực khoản vay, từ đó, không nhận biết được các dấu hiệu cảnh báo rủi ro sớm
Các biện pháp quản lý nợ xấu
Hoàn thiện quy trình quản lý tín dụng tại các NHTM
Thực hiện phân loại các nhóm nợ và trích lập dự phòng rủi ro
Tăng cường hoạt động của các công ty quản lý tài sản (AMC)
1.2.1.3 Quản lý nợ xấu ngân hàng thương mại tại Mỹ
Nguyên nhân phát sinh nợ xấu
Từ việc tái hiện cuộc khủng hoảng tín dụng tại Mỹ năm 2008 ta có thể nhận thấy nguyên nhân phát sinh nợ xấu tại các NHTM Mỹ là do:
Chính sách tín dụng của các NHTM Mỹ dễ dãi, lỏng lẻo và kém hiệu quả
Năng lực giám sát và quản trị rủi ro của các NHTM Mỹ không theo kịp sự phát triển của thị trường tài chính
Trang 39 Các NHTM Mỹ quá lạm dụng đòn bẩy tài chính
Thiếu sự giám sát chặt chẽ từ phía các cơ quan quản lý
Các biện pháp quản lý nợ xấu
- Cùng với các nước khác, Mỹ đã sửa đổi các quy định hiện hành để bảo vệ quyền lợi của người gửi tiền nhằm ngăn chặn nguy cơ rút tiền hàng loạt của dân chúng trong thời gian ngắn
- Tiến hành quốc hữu hóa các NHTM trên diện rộng, nhà nước mua lại các khoản nợ xấu của ngân hàng, mua lại cổ phần chi phối và nắm quyền điều hành Ngoài ra, Chính phủ cũng khuyến khích các ngân hàng, các tổ chức tài chính, doanh nghiệp mua lại các tổ chức đổ vỡ và phá sản
- NHTW tiến hành cơ cấu lại các ngân hàng và hệ thống tài chính trong nước; cơ cấu lại hệ thống quản trị các ngân hàng, đặc biệt là tăng cường hệ thống kiểm tra, giám sát Các NHTM quy định lại các hệ số bảo đảm an toàn,
cơ cấu lại các khoản vay, cắt giảm nhân viên, tiết chi phí, chấn chỉnh lại các quy định nội bộ…
1.2.2 Bài học kinh nghiệm
Thứ nhất, cần sớm thiết lập hệ thống phân loại tín dụng trong quá trình
hướng tới lượng hóa RRTD, nhằm nâng cao khả năng quản lý RRTD, tập trung xủ lý có hiệu quả các khoản nợ xấu đồng thời với việc tập trung ngăn chặn và phòng ngừa các khoản nợ xấu phát sinh trong tương lai Việc xử lý
nợ xấu cần có lộ trình cụ thể và phải tuân thủ thời hạn đã đề ra
Thứ hai, thực hiện tái cơ cấu hệ thống ngân hàng theo các đề án đã
được chính phủ phê duyệt, phù hợp cam kết với các tổ chức tài chính quốc tế nhằm tạo ra các ngân hàng có quy mô lớn, hoạt động an toàn, hiệu quả, và có
đủ sức cạnh tranh trên thị trường trong nước cũng như ngoài nước Cụ thể:
- Cơ cấu lại tổ chức: Tách hoàn toàn các hoạt động cho vay theo chính sách hoặc dưới dạng chỉ đinh ra khỏi hoạt động kinh doanh thương mại của các ngân hàng để các ngân hàng thực hiện tốt chức năng kinh doanh theo nguyên tác thị trường
Trang 40- Cơ cấu lại tài chính: Tăng dần quy mô vốn chủ sở hữu và xử lý dứt điểm nợ tồn đọng của các ngân hàng nhằm lành mạnh hóa tài chính, nâng cao khả năng cạnh tranh và khả năng cạnh tranh và khả năng chống chịu rủi ro Đối với các chi nhánh ngân hàng Nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Namcần tiếp tục bổ sung quy mô vốn chủ sở hữu nhằm đặt được tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu
- Từng ngân hàng phải xây dựng và thực hiện chiến lược kinh doanh mới, nhất là chú trọng việc mở rộng quy mô hoạt động, hiện đại hóa công nghệ ngân hàng Xây dựng chiến lược phát triển công nghệ ngân hàng, nhất là
hệ thống thông tin quản lý cho toàn bộ hệ thống ngân hàng, phục vụ công tác điều hành kinh doanh, kiểm soát, quản lý nguồn vốn, tài sản, quản lý rủi ro, quản lý công nợ và công tác kế toán, hệ thống thanh toán liên ngân hàng, hệ thống giao dịch điện tử và giám sát từ xa Ngoài ra các ngân hàng cũng cần chú trọng tới hoạt động Marketing, đa dạng hóa và nâng cao tiện ích các sản phẩm Cung ứngdịch vụ ngân hàng hiện đại dựa trên công nghệ kỹ thuật tiên tiến; cải cách bộ máy quản lý và điều hành theo tư duy kinh doanh mới
- Qua kinh nghiệm của một số quốc gia, có thể thấy giải pháp xử lý nợ xấu, nợ tồn đọng nói chung đều thông qua một tổ chức trung gian đó là các công ty quản lý khai thác tài sản thuộc ngân hàng, công ty mua bán nợ hoặc
cơ quan xử lý nợ trực thuộc chính phủ Tùy theo thực tế của mỗi nước mà tổ chức mà tổ chức trung qian này có cách thức và quy mô hoạt động khác nhau, nhưng tất cả đều có nhiệm vụ chung là mua các khoản nợ đang bị tồn đọng của ngân hàng để xử lý, bán ra thu hồi vốn về… Và điều quan trọng nhất là phải làm sao để các tổ chức này hoạt động có hiệu quả, giảm thiểu tổn thất để đưa các ngân hàng trở lại hoạt động bình thường, có khả năng sinh lời, và hoạt động có hiệu quả nhất
- Xây dựng các quy chế quản lý và hoạt động phù hợp với chuẩn mực quốc tế như quản trị rủi ro, quản trị tài sản nợ, tài sản có,trích lập dự phòng,