1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

So sánh sách giáo khoa văn tuyển cấp II trong cuộc cải cách giáo dục năm 1950 và sách giáo khoa ngữ văn trung học cơ sở trong cuộc cải cách giáo dục năm 2000 (LV thạc sĩ)

107 212 1
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 107
Dung lượng 1,41 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

So sánh sách giáo khoa văn tuyển cấp II trong cuộc cải cách giáo dục năm 1950 và sách giáo khoa ngữ văn trung học cơ sở trong cuộc cải cách giáo dục năm 2000 (LV thạc sĩ)So sánh sách giáo khoa văn tuyển cấp II trong cuộc cải cách giáo dục năm 1950 và sách giáo khoa ngữ văn trung học cơ sở trong cuộc cải cách giáo dục năm 2000 (LV thạc sĩ)So sánh sách giáo khoa văn tuyển cấp II trong cuộc cải cách giáo dục năm 1950 và sách giáo khoa ngữ văn trung học cơ sở trong cuộc cải cách giáo dục năm 2000 (LV thạc sĩ)So sánh sách giáo khoa văn tuyển cấp II trong cuộc cải cách giáo dục năm 1950 và sách giáo khoa ngữ văn trung học cơ sở trong cuộc cải cách giáo dục năm 2000 (LV thạc sĩ)So sánh sách giáo khoa văn tuyển cấp II trong cuộc cải cách giáo dục năm 1950 và sách giáo khoa ngữ văn trung học cơ sở trong cuộc cải cách giáo dục năm 2000 (LV thạc sĩ)So sánh sách giáo khoa văn tuyển cấp II trong cuộc cải cách giáo dục năm 1950 và sách giáo khoa ngữ văn trung học cơ sở trong cuộc cải cách giáo dục năm 2000 (LV thạc sĩ)So sánh sách giáo khoa văn tuyển cấp II trong cuộc cải cách giáo dục năm 1950 và sách giáo khoa ngữ văn trung học cơ sở trong cuộc cải cách giáo dục năm 2000 (LV thạc sĩ)So sánh sách giáo khoa văn tuyển cấp II trong cuộc cải cách giáo dục năm 1950 và sách giáo khoa ngữ văn trung học cơ sở trong cuộc cải cách giáo dục năm 2000 (LV thạc sĩ)So sánh sách giáo khoa văn tuyển cấp II trong cuộc cải cách giáo dục năm 1950 và sách giáo khoa ngữ văn trung học cơ sở trong cuộc cải cách giáo dục năm 2000 (LV thạc sĩ)

Trang 1

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC

Người hướng dẫn khoa học: TS Hoàng Mai Diễn

THÁI NGUYÊN - 2016

Trang 2

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan rằng đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi và được sự hướng dẫn khoa học của TS Hoàng Mai Diễn Các nội dung nghiên cứu, kết quả trong luận văn này là trung thực và chưa từng được công bố dưới bất kỳ hình thức nào Nếu phát hiện có bất kỳ sự gian lận nào tôi xin chịu hoàn toàn trách nhiệm về nội dung luận văn của mình

Mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn này đã được cảm ơn và các thông tin trích dẫn trong luận văn đều được ghi rõ nguồn gốc

Tác giả luận văn

Bùi Thị Hạnh

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Trong quá trình nghiên cứu để triển khai luận văn này, tác giả luận văn

đã thực sự gặp nhiều khó khăn trong việc lựa chọn tên luận văn, tài liệu nghiên cứu, cách thức triển khai và trình bày một công trình nghiên cứu khoa học Nhưng được sự chỉ bảo, định hướng của các giáo sư, nhà khoa học về lĩnh vực giáo dục Ngữ văn, đặc biệt là hướng dẫn tận tình, tỉ mỉ của TS Hoàng Mai Diễn, bản thân đã nỗ lực hoàn thành luận văn đúng thời hạn và được bảo vệ trước Hội đồng khoa học

Chúng tôi trân trọng được gửi lời cảm ơn đến các nhà khoa học về giáo dục Ngữ văn như GS.TS Lê A, PGS TS Vũ Nho, PGS TS Nguyễn Văn Lộc, PGS TS Nguyễn Huy Quát, PGS TS Đỗ Ngọc Thống …các cán bộ, giảng viên Khoa Ngữ văn, Phòng Đào tạo của Trường Đại học Sư phạm Thái Nguyên đã giúp đỡ tôi trong quá trình học tập, nghiên cứu và hoàn thành luận văn

Tôi cũng xin gửi lời cảm ơn đến Ban Giám hiệu và các giáo viên dạy học môn Ngữ văn Trường THCS Nguyễn Văn Cừ, thành phố Uông Bí tỉnh Quảng Ninh đã giúp đỡ tôi, cảm ơn bạn bè đồng nghiệp và người thân trong gia đình

đã tạo điều kiện thuận lợi giúp đỡ tôi trong thời gian học tập và nghiên cứu

Cuối cùng, như trên đã nói đề tài được thực hiện trong thời gian tương đối ngắn và chúng tôi chưa thực sự có kinh nghiệm nên khó tránh khỏi các sai sót Vì vậy chúng tôi thực sự mong các độc giả thông cảm và gửi các ý kiến đóng góp

Thái Nguyên, tháng 4 năm 2016

Tác giả

Bùi Thị Hạnh

Trang 4

MỤC LỤC

Trang Trang bìa phụ

Lời cam đoan i

Lời cảm ơn ii

Mục lục iii

Danh mục các chữ viết tắt iv

MỞ ĐẦU 1

Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI 10

1.1 Quan niệm về sách giáo khoa 10

1.2 Chức năng của sách giáo khoa 11

1.2.1 Chức năng thông tin kiến thức 13

1.2.2 Chức năng hướng dẫn chỉ đạo cho học sinh học tập 15

1.2.3 Chức năng kích thích hứng thú học tập 16

1.2.4 Chức năng giáo dục nhân văn 16

1.3 Yêu cầu chung về sách giáo khoa 17

1.3.1 Yêu cầu về nội dung 18

1.3.2 Yêu cầu về cấu trúc 21

1.3.3 Yêu cầu về hình thức 25

1.4 Sơ lược về lịch sử phát triển sách giáo khoa Ngữ văn ở Việt Nam 26

Chương 2 SO SÁNH CẤU TRÚC, NỘI DUNG VÀ HÌNH THỨC CỦA SÁCH GIÁO KHOA VĂN TUYẾN VÀ SÁCH GIÁO KHOA NGỮ VĂN 34 2.1 So sánh cấu trúc của sách giáo khoa Văn tuyển và sách giáo khoa Ngữ văn 34

2.1.1 So sánh cấu trúc chung của sách giáo khoa Văn tuyển và sách giáo khoa Ngữ văn 34

2.1.2 So sánh cấu trúc bài học trong sách giáo khoa Văn tuyển và sách giáo khoa Ngữ văn 47

Trang 5

2.2 So sánh nội dung dạy học đọc hiểu trong sách giáo khoa Văn tuyển và sách

giáo khoa Ngữ văn 50

2.2.1 So sánh mục tiêu dạy học đọc hiểu trong sách giáo khoa Văn tuyển và sách giáo khoa Ngữ văn 50

2.2.2 So sánh hệ thống văn bản đọc hiểu trong sách giáo khoa Văn tuyển và sách giáo khoa Ngữ văn 56

2.2.3 So sánh hệ thống phụ trợ dạy học đọc hiểu trong sách giáo khoa Văn tuyển và sách giáo khoa Ngữ văn 63

2.3 So sánh hình thức trình bày trong sách giáo khoa Văn tuyển và sách giáo khoa Ngữ văn 71

2.3.1 Hình thức trình bày trong sách giáo khoa Văn tuyển 72

2.3.2 Hình thức trình bày trong sách giáo khoa Ngữ văn 73

2.3.3 Điểm giống nhau và khác nhau về hình thức trình bày trong sách giáo khoa Văn tuyển và sách giáo khoa Ngữ văn 74

Chương 3 MỘT SỐ KIẾN NGHỊ VỀ XÂY DỰNG CHƯƠNG TRÌNH VÀ BIÊN SOẠN SÁCH GIÁO KHOA MÔN NGỮ VĂN TRONG TƯƠNG LAI76 3.1 Kiến nghị về việc xây dựng chương trình giáo dục phổ thông môn Ngữ văn Trung học cơ sở 76

3.1.1 Kiến nghị mục tiêu xây dựng chương trình 76

3.1.2 Kiến nghị về xây dựng nội dung chương trình 79

3.1.3 Kiến nghị về đổi mới kiểm tra, đánh giá kết quả học tập 82

3.2 Kiến nghị về việc biên soạn sách giáo khoa Ngữ văn Trung học cơ sở 83

3.2.1 Kiến nghị về cấu trúc của sách giáo khoa 83

3.2.2 Kiến nghị về hình thức trình bày sách giáo khoa Ngữ văn 88

KẾT LUẬN 94

TÀI LIỆU THAM KHẢO 95 PHỤ LỤC

Trang 7

Để làm việc với SGK, GV phải hiểu được những nội dung bài học cơ bản, cấu trúc bài học và quan điểm biên soạn bộ sách qua từng thời kì Đồng thời bộ SGK mới cũng thể hiện sự tiến bộ hơn so với bộ SGK cũ Mỗi bộ SGK chứa đựng những kiến thức cơ bản thích hợp với nhận thức của HS, là bộ sách dùng chung cho GV và HS SGK có mục đích nhằm hình thành, phát triển phương pháp tự học cho HS, nâng cao năng lực làm việc độc lập, hỗ trợ đổi mới phương pháp dạy học ở từng cấp học theo hướng phát huy tính tích cực chủ động của HS

Như vậy SGK có vai trò quan trọng trong quá trình học tập và nghiên cứu của GV và HS

1.2 Để có thể dạy tốt bộ SGK mới GV phải có cái nhìn tổng thể, có sự

so sánh, phân tích đánh giá với bộ SGK cũ Việc lựa chọn bộ SGK Văn tuyển năm 1950 để so sánh vì đây là bộ SGK đầu tiên của Việt Nam trong cuộc cải cách giáo dục lần thứ nhất sau năm 1945 Nghiên cứu, so sánh bộ SGK Văn tuyển năm 1950 với bộ SGK Ngữ văn hiện nay giúp chúng ta thấy

Trang 8

được những ưu, nhược điểm của hai bộ sách Qua đó rút kinh nghiệm để xây dựng bộ SGK sắp tới

Nghị quyết số 44- NQ – CP ngày 09/06/2014 Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương khóa XI có viết: “Khuyến khích cá nhân, tổ chức tham gia biên soạn sách giáo khoa (sách in và sách điện tử) trên cơ sở chương trình giáo dục phổ thông đã được Bộ Giáo dục và Đào tạo phê duyệt, sử dụng thống nhất trong toàn quốc Xây dựng hệ thống ngân hàng bài giảng điện tử để giáo viên

có thể tham khảo trong quá trình dạy học”

1.3 Nghị quyết số 29-NQ/TW ngày 04/11/2013 Hội nghị Trung ương 8 khoá XI đã xác định mục tiêu của giáo dục: “Tạo chuyển biến căn bản, mạnh

mẽ về chất lượng, hiệu quả giáo dục, đào tạo; đáp ứng ngày càng tốt hơn công cuộc xây dựng, bảo vệ Tổ quốc và nhu cầu học tập của nhân dân Giáo dục con người Việt Nam phát triển toàn diện và phát huy tốt nhất tiềm năng, khả năng sáng tạo của mỗi cá nhân; yêu gia đình, yêu Tổ quốc, yêu đồng bào; sống tốt và làm việc hiệu quả

Xây dựng nền giáo dục mở, quản lý tốt; có cơ cấu và phương thức giáo dục hợp lý, gắn với xây dựng xã hội học tập; bảo đảm các điều kiện nâng cao chất lượng; chuẩn hóa, hiện đại hóa, dân chủ hóa, xã hội hóa và hội nhập quốc

tế hệ thống giáo dục và đào tạo; giữ vững định hướng xã hội chủ nghĩa và bản sắc dân tộc Phấn đấu đến năm 2030, nền giáo dục Việt Nam đạt trình độ tiên tiến trong khu vực”

Giáo dục là nhân tố hàng đầu cho sự phát triển của mỗi quốc gia Tiến hành đổi mới giáo dục, vấn đề tự học giữ vai trò quan trọng Để tiến hành việc tự học, người học và người dạy không thể thiếu sự hỗ trợ của bộ sách giáo khoa

Từ điển Tiếng Việt định nghĩa: “Sách giáo khoa là sách soạn theo chương

trình dùng để dạy và học trong nhà trường” [59 tr 924]

Điều lệ trường Trung học, điều 23 ghi “Sách giáo khoa Trung học bao

gồm sách bài học và sách bài tập theo danh mục được Bộ Giáo dục và Đào tạo

Trang 9

quy định để sử dụng chính thức, ổn định, thống nhất trong giảng dạy, học tập ở trường Trung học” [11 tr 144]

Vì lí do trên chúng tôi chọn đề tài “So sánh sách giáo khoa Văn tuyển cấp II trong cuộc cải các giáo dục năm 1950 và sách giáo khoa Ngữ Văn Trung học cơ sở trong cuộc cải cách giáo dục năm 2000” để xem xét một cách tương đối toàn diện về hai bộ SGK này Đồng thời chúng tôi cũng có tiến hành đối chiếu, so sánh hai bộ SGK để thấy được những điểm giống và khác nhau giữ hai bộ sách Chúng tôi hy vọng đề tài nghiên cứu này sẽ góp phần nhỏ bé vào việc biên soạn bộ SGK Ngữ văn trong tương lai

2 Lịch sử vấn đề

Những công trình nghiên cứu chuyên sâu về hai bộ SGK Văn tuyển cấp

II và SGK Ngữ văn không nhiều Có thể nêu ra một số công trình của các nhà nghiên cứu sau:

Bài viết “Một số vấn đề về đánh giá chương trình, SGK Ngữ văn hiện hành và đề xuất định hướng biên soạn chương trình, SGK mới” của GS Nguyễn Minh Thuyết in trong “Kỷ yếu hội thảo khoa học quốc gia về dạy học Ngữ văn ở trường phổ thông Việt Nam”, trong bài viết tác giả đề cập đến vấn đề quan niệm đối tượng, tên gọi, ưu điểm và hạn chế của môn Ngữ văn trong nhà trường phổ thông Môn Ngữ văn là một môn học tích hợp nhằm kết hợp năng lực phân tích với việc hình thành 4 kĩ năng nghe – nói – đọc – viết vốn là hai quá trình gắn bó hữu cơ và hỗ trợ nhau hết sức tích cực Vấn đề biên soạn chương trình, SGK Ngữ văn mới cũng được tác giả

đề cập đến

“Chương trình Ngữ văn trong nhà trường phổ thông” tác giả Đỗ Ngọc Thống đã nêu ra những vấn đề về phát triển chương trình môn học Ngữ văn, nội dung chương trình môn Ngữ văn qua trong nhà trường phổ thông qua các thời kì lịch sử, quan niệm dạy học tác phẩm văn chương qua

Trang 10

chương trình và phát triển chương trình giáo dục phổ thông và chương trình môn Ngữ văn trong bối cảnh mới

Cuốn “Đổi mới phương pháp dạy học, chương trình và sách giáo khoa” của Trần Bá Hoành Tác giả nhận định CT phổ thông ở nước ta trải qua ba lần thay đổi, mỗi lần thay đổi CT là mỗi lần biên soạn lại SGK Bộ SGK Ngữ văn được áp dụng “một chương trình - vài ba bộ SGK” Theo tác giả do những biến đổi bất lợi trong thực tế sử dụng ở từng địa phương thì nên thống nhất một bộ SGK

Tài liệu “Ngữ văn 6 sách giáo viên tập 1” do GS Nguyễn Khắc Phi làm tổng chủ biên, tác giả đề cập đến chương trình Ngữ văn, cấu trúc nội dung và

mô hình SGK Ngữ văn Trung học cơ sở và một số vấn đề cần lưu ý trong việc giảng dạy phân môn

Nhan đề “Sách giáo khoa một số vấn đề lí luận và thực tiễn” là phần bốn trong tài liệu “Nguyễn Khắc Phi tuyển tập” GS Nguyễn Khắc Phi giới thiệu một số bài viết trao đổi về chương trình và SGK Ngữ văn bậc Trung học cơ sở, nhấn mạnh một số điểm về phương pháp tiếp cận SGK mới nhằm phát huy ưu thế của phương châm tích hợp trong quá trình dạy học bộ môn

Trong cuốn “Những yêu cầu chủ yếu về nội dung và cấu trúc phương pháp của sách giáo khoa phổ thông” (NXB Giáo dục – 1981) các tác giả có nhận định SGK trên thế giới có nhiều chuyển biến cơ bản, từ những hình thức

sơ khai như viết trên đất sét, cuốn sách viết tay, cho đến những quyển SGK hiện đại về mọi mặt nội dung và hình thức ra đời với những hình ảnh minh họa màu sắc phong phú, tươi đẹp Đáp ứng và phù hợp với những thành tựu văn hóa, khoa học, kỹ thuật đặc biệt là những thành tựu về tâm lý, giáo dục học ở các nước hiện đại trên thế giới Chính vì vậy đối với nước ta trong giai đoạn hiện nay cần gấp rút xây dựng một bộ SGK mới đáp ứng được yêu cầu cải cách giáo dục Bộ SGK Ngữ văn cũng cần có sự thay đổi phù hợp với hoàn cảnh đất nước hiện nay

Trang 11

“Giáo trình phương pháp dạy học văn Trung học cở sở” của GS Nguyễn Thanh Hùng, tác giả có nói đến những vấn đề về phương pháp dạy học môn Ngữ văn, nguyên tắc tích hợp trong dạy học Ngữ văn ở Trung học cơ sở Trong chương 2 tác giả có nói về nguyên tắc tích hợp dạy học Ngữ văn ở nhà trường phổ thông Theo tác giả dạy học ba phân môn Văn học, Tiếng Việt và Tập làm văn hòa trộn trong nhau, hợp nhất với nhau Và “Việc sử dụng tích hợp ngang

và tích hợp dọc khi dạy học Ngữ văn cũng nên quan niệm một cách tương đối linh hoạt không rập khuôn” [46 tr 23]

Tác giả Phan Trọng Luận trong cuốn “Văn học Giáo dục thế kỉ XXI” đưa

ra một số nhận xét về bộ SGK hiện nay Theo tác giả bộ SGK hiện nay không thể viết theo lối cũ “Không ai lại cực đoan cho rằng những SGK chúng ta vừa viết ra cho tiểu học và THCS hoàn toàn cũ kĩ nhưng thật sự nghiêm khắc và khách quan thì không phải không còn những chỗ này, chỗ nọ, ở tác giả này hay tác giả kia sự thay đổi vẫn còn manh mún chưa thực sự được hướng dẫn một cách thật minh triết về yêu cầu hiện đại hóa phương pháp sự phạm trong từng bài soạn SGK thế kỉ XXI Một sự thay đổi có tính hệ hình về nguyên lí soạn SGK hiện đại chưa thật định hình và thấu triệt” [49 tr 118]

Trong cuốn “Chương trình Ngữ văn trong nhà trường phổ thông” tác giả Đỗ Ngọc Thống đã tiến hành khảo sát SGK môn Văn từ Cách mạng tháng Tám đến nay Tác giả đưa ra nhận định “chúng tôi nhận thấy sự thay đổi, cải cách chương trình, tên gọi môn học cũng có sự thay đổi” [67 tr 22] Trước đây bộ SGK Văn có tên là “Văn tuyển”, năm 1956 có tên gọi là “Quốc văn”, đến năm 1979 bộ SGK lúc này có tên gọi ngắn gọn là “Văn”, hiện nay bộ SGK có tên gọi là “Ngữ văn” Bộ SGK Ngữ văn trung học chính thức đầu tiên

đã được biên có tên là “Văn tuyển” xuất bản từ lớp 5 đến lớp 9 Bậc trung học

cơ sở bao gồm sáu cuốn có tên đầy đủ là: Văn tuyển lớp 5 (tập 1, 2), Văn tuyển lớp 6 (tập 1, 2), Văn tuyển lớp 7 (tập 1, 2) Bộ SGK Văn Tuyển được xuất bản đầu tiên vào năm 1955

Trang 12

Tác giả cũng đã so sánh chương trình, SGK Ngữ văn với các bản chương trình SGK môn Văn ở Việt Nam thuộc những lần cải cách giáo dục trước đó

Qua sự so sánh đó ta thấy có sự khác nhau căn bản trong việc xác định mục tiêu dạy học “Chương trình, SGK trước đây nhấn mạnh mục tiêu giáo dục

tư tưởng tình cảm của môn Văn, hoặc là tư tưởng, đạo đức chính trị, hoặc là những tình cảm nhân văn cao đẹp và theo đó là sự coi trọng đặc biệt đến kiến thức (cái cần dạy cho HS) thì chương trình, SGK lần này lại nhấn mạnh trước hết đến mục tiêu rèn luyện năng lực văn học cho HS và cái nhấn mạnh hàng đầu chính là kĩ năng (dạy như thế nào)” [54 tr 242]

Bộ SGK Ngữ văn bậc Trung học cơ sở được biên soạn theo chương trình THCS ban hành kèm theo Quyết Định số 03/2002/QĐ- BCD & ĐT ngày 24 tháng 1 năm 2002 của Bộ trưởng Bộ Giáo Dục và Đào tạo, cụ thể theo hướng

“tích hợp” ba phân môn Văn học, Tiếng Việt và Tập làm văn gộp vào một bộ sách có tên gọi là Ngữ văn

Qua việc khảo sát các công trình nghiên cứu trên, có thể thấy vấn đề so sánh hai bộ SGK chưa có công trình nào đi sâu vào tìm hiểu chi tiết và có hệ thống Tuy nhiên những đánh giá, ý kiến và nhận định nêu trên là cơ sở giúp chúng tôi thực hiện luận văn này

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

bộ SGK trong quá trình giảng dạy

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

Luận văn so sánh hai bộ SGK “Văn tuyển” cấp II và “Ngữ văn” Trung học cơ sở để thấy được điểm giống và khác nhau, ưu điểm và nhược điểm của

Trang 13

từng bộ SGK Từ đó đưa ra đề xuất, kiến nghị trong việc xây dựng chương trình và biên soạn sách giáo khoa Ngữ văn trong thời gian tới phù hợp với định hướng đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo

4 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu

- Bộ SGK Văn tuyển cấp 2 bao gồm:

+ “Văn tuyển lớp 5” (tập 1, 2) do tác giả: Nguyễn Tiến Cường - Nguyễn Đăng Châu - Nguyễn Đăng Ngọc - Nguyễn Nghĩa Dân - Hoàng Trọng Oanh,

Bộ Giáo dục phổ thông xuất bản lần thứ nhất năm 1955

+ “Văn tuyển lớp 6” (tập 1, 2) Nguyễn Nghĩa Dân - Nguyễn Đăng Châu - Nguyễn Đăng Ngọc, Bộ Giáo dục phổ thông xuất bản lần thứ nhất năm 1955

+ “Văn tuyển lớp 7” (tập 1, 2) Nguyễn Đăng Ngọc - Hoàng Trọng Hanh

- Nguyễn Nghĩa Dân, Bộ Giáo dục phổ thông xuất bản lần thứ nhất năm 1955

- Bộ SGK Ngữ văn bậc Trung học cơ sở bao gồm:

+ “Ngữ văn 6” (tập 1) do Nguyễn Khắc Phi (Tổng chủ biên) – Nguyễn Đình Chú (Chủ biên phần Văn) – Nguyễn Minh Thuyết (Chủ biên phần Tiếng Việt) – Trần Đình Sử (Chủ biên phần Tập làm văn) – Bùi Mạnh Nhị - Nguyễn Quang Ninh – Đỗ Ngọc Thống biên soạn

“Ngữ văn 6” (tập 2) do Nguyễn Khắc Phi (Tổng chủ biên) – Nguyễn Đình Chú (Chủ biên phần Văn) – Nguyễn Minh Thuyết (Chủ biên phần Tiếng Việt) – Trần Đình Sử (Chủ biên phần Tập làm văn) – Nguyễn Văn Long – Nguyễn Quang Ninh – Đỗ Ngọc Thống biên soạn

+ “Ngữ văn 7” (tập 1) do Nguyễn Khắc Phi (Tổng chủ biên) - Nguyễn Đình Chú- Nguyễn Minh Thuyết- Đỗ Kim Hồi- Nguyễn Văn Long- Bùi Mạnh Nhị- Lê Xuân Thại - Đỗ Ngọc Thống biên soạn

“Ngữ văn 7” (tập 2) do Nguyễn Khắc Phi (Tổng chủ biên) – Nguyễn Đình Chú (Chủ biên phần Văn) – Nguyễn Minh Thuyết (Chủ biên phần Tiếng

Trang 14

Việt) – Trần Đình Sử (Chủ biên phần Tập làm văn) – Đỗ Kim Hồi – Nguyễn Văn Long – Bùi Mạnh Nhị - Đỗ Ngọc Thống biên soạn

+ “Ngữ văn 8” (tập 1) do Nguyễn Khắc Phi (Tổng chủ biên) - Nguyễn Hoàng Khung (Chủ biên phần Văn) - Nguyễn Minh Thuyết (Chủ biên phần Tiếng Việt) - Trần Đình Sử (Chủ biên phần Tập làm văn) - Lê A- Diệp Quang Ban- Hồng Dân - Đỗ Kim Hồi - Bùi Mạnh Hùng - Lê Quang Hưng - Lê Xuân Thại- Lã Nhâm Thìn - Đỗ Ngọc Thống - Phùng Văn Tửu biên soạn

“Ngữ văn 8” (tập 2) do Nguyễn Khắc Phi (Tổng chủ biên) – Nguyễn Hoành Khung (Chủ biên phần Văn) – Nguyễn Minh Thuyết (Chủ biên phần Tiếng Việt) – Trần Đình Sử (Chủ biên phần Tập làm văn) – Lê A – Diệp Quang Ban – Hồng Dân – Đỗ Kim Hồi – Bùi Mạnh Hùng – Lê Quang Hưng –

Lê Xuân Thại – Lã Nhâm Thìn – Đỗ Ngọc Thống – Phùng Văn Tửu biên soạn

+ “Ngữ văn 9” (tập 1) do Nguyễn Khắc Phi (Tổng chủ biên) - Nguyễn Văn Long (Chủ biên phần Văn) - Nguyễn Minh Thuyết (Chủ biên phần Tiếng Việt) - Trần Đình Sử (Chủ biên phần Tập làm văn) - Diệp Quang Ban - Hồng Dân - Bùi Mạnh Hùng - Lê Quang Hưng - Lã Nhâm Thìn - Đỗ Ngọc Thống - Trịnh Thị Thu Tiết - Phùng Văn Tửu biên soạn

“Ngữ văn 9” (tập 2) do Nguyễn Khắc Phi (Tổng chủ biên) – Nguyễn Văn Long (Chủ biên phần Văn) – Nguyễn Minh Thuyết (Chủ biên phần Tiếng Việt) – Trần Đình Sử (Chủ biên phần Tập làm văn) – Lê A – Diệp Quang Ban – Lê Quang Hưng – Lê Xuân Thại – Đỗ Ngọc Thống – Phùng Văn Tửu biên soạn

4.2 Phạm vi nghiên cứu

Đề tài tập trung nghiên cứu, tìm hiểu và so sánh hai bộ SGK “Văn tuyển năm 1955” bao gồm: Văn tuyển lớp 5, 6 và 7 (tập 1 và 2) Bộ SGK “Ngữ văn năm 2002” bậc Trung học cơ sở bao gồm: Ngữ văn lớp 6, 7, 8 và 9 (tập 1 và 2)

5 Phương pháp nghiên cứu

Các phương pháp sử dụng trong luận văn là:

+ Phương pháp nghiên cứu lí thuyết, nghiên cứu liên ngành, phân tích tổng hợp các tài liệu có liên quan trực tiếp hoặc gián tiếp đến đề tài đang được triển khai

Trang 15

+ Phương pháp so sánh đối chiếu nhằm đưa ra những kết luận, những quan điểm về bộ SGK từ đó đề xuất ý kiến cá nhân xây dựng bộ SGK mới sau 2015

7 Cấu trúc luận văn

Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, luận văn gồm 3 chương:

Chương 1: Một số vấn đề lí luận chung của đề tài

1.1 Quan niệm về sách giáo khoa

1.2 Chức năng của sách giáo khoa

1.3 Yêu cầu chung về sách giáo khoa

1.4 Sơ lược về lịch sử phát triển sách giáo khoa Ngữ văn ở Việt Nam

Chương 2: So sánh cấu trúc, nội dung và hình thức của sách giáo khoa Văn tuyển và sách giáo khoa Ngữ văn

2.1 So sánh cấu trúc của sách giáo khoa Văn tuyển và sách giáo khoa Ngữ văn

2.2 So sánh nội dung dạy học đọc hiểu trong sách giáo khoa Văn tuyển

và sách giáo khoa Ngữ văn

2.3 So sánh hình thức trình bày trong sách giáo khoa Văn tuyển và sách giáo khoa Ngữ văn

Chương 3: Một số kiến nghị về xây dựng chương trình và biên soạn sách giáo khoa môn Ngữ văn trong tương lai

3.1 Kiến nghị về việc xây dựng chương trình giáo dục phổ thông môn Ngữ văn Trung học cơ sở

3.2 Kiến nghị về việc biên soạn sách giáo khoa Ngữ văn Trung học cơ sở

Trang 16

Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI

Trong chương 1 này, tác giả luận văn sẽ tổng hợp một số vấn đề chung liên quan đến đề tài như khái niệm, chức năng, yêu cầu của sách giáo khoa và

sơ lược về lịch sử phát triển SGK Ngữ văn ở Việt Nam

1.1 Quan niệm về sách giáo khoa

SGK là một tài liệu dạy học quan trọng trong nhà trường phổ thông, nhưng cho đến nay khái niệm về SGK chưa có sự thống nhất

Từ điển Tiếng Việt định nghĩa: “Sách giáo khoa là sách soạn theo chương trình dùng để dạy và học trong nhà trường” [59 tr 924]

Luật Giáo dục, chương 2 mục 2 điều 29 quy định: “Sách giáo khoa cụ

thể hóa yêu cầu về nội dung kiến thức và kĩ năng quy định trong chương trình giáo dục của các môn học ở những lớp của giáo dục phổ thông, đáp ứng yêu cầu về phương pháp giảng dạy phổ thông Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành chương trình phổ thông, duyệt sách giáo khoa để sử dụng chính thức,

ổn định của Hội đồng quốc gia thẩm định chương trình giáo dục phổ thông và sách giáo khoa” [10 tr 16]

Điều lệ trường Trung học, điều 23 ghi “Sách giáo khoa Trung học bao gồm sách bài học và sách bài tập theo danh mục được Bộ Giáo dục và Đào tạo quy định để sử dụng chính thức, ổn định, thống nhất trong giảng dạy, học tập ở trường Trung học” [11 tr 144]

Tác giả Trần Bá Hoành đưa ra quan niệm về SGK như sau: “SGK theo cách hiểu thông thường là sách viết cho học sinh, căn cứ và chương trình đã được xác định chính thức” [43 tr 189]

Trong cuốn sách “Những yêu cầu chủ yếu về nội dung và cấu trúc phương pháp của sách giáo khoa phổ thông”, tác giả…… đưa quan niệm về SGK như sau: “Sách giáo khoa trường phổ thông là một loại hình sách dành cho học sinh nghiên cứu học tập với sự chỉ đạo của giáo viên Đó là cách học tập chính thức, có tính tiêu chuẩn đối với học sinh, giúp các em nắm vững

Trang 17

kiến thức, rèn luyện kĩ năng và tư duy một cách tích cực, có ý thức để phát triển nhân cách và đào luyện mình thành con người mới xã hội chủ nghĩa Việt Nam” [55 tr 10]

TS Trần Đức Tuấn trong bài viết “Sách giáo khoa và vấn đề nghiên cứu sách giáo khoa ở Việt Nam” đưa ra khái niệm về SGK (được hiểu là một bộ SGK) “là loại sách dùng riêng cho các trường phổ thông, là phương tiện dạy học đặc biệt do Bộ Giáo dục và Đào tạo tổ chức biên soạn thẩm định, duyệt và

sử dụng chính thức, thống nhất ổn định trong giảng dạy, học tập ở nhà trường

và các cơ sở giáo dục khác nhằm thực hiện những mục tiêu cơ bản của giáo dục phổ thông” [54.tr 37]

Mặc dù có nhiều cách diễn đạt khác nhau, nhưng các khái niệm trên đều

đề cập đến những nội dung cụ thể sau: SGK là sách soạn theo chương trình trong nhà trường phổ thông, được biên soạn với mục đích dạy và học nhằm cung cấp những kiến thức và kĩ năng cho HS

1.2 Chức năng của sách giáo khoa

Chức năng của SGK đã được đề cập đến trong một số cuốn sách và bài viết cụ thể sau:

Trong cuốn sách “Những yêu cầu chủ yếu vế nội dung và cấu trúc phương pháp của sách giáo khoa phổ thông”, (NXB Giáo dục – 1981) các tác giả đã đưa ra ba chức năng của SGK:

1 Chức năng thông tin: Đây là chức năng thông báo những nội dung: khoa học, tài liệu, bao gồm phương pháp của bộ môn khoa học, phương pháp

tư duy và và phương pháp học tập bộ môn

2 Chức năng hướng dẫn chỉ đạo học tập: SGK phải góp phần phát triển tư duy, năng lực độc lập học tập và sáng tạo Ngoài ra SGK còn phát triển kỹ năng và năng khiếu, giúp HS có thể tự học, tự rèn luyện, và tự kiểm tra đánh giá

3 Chức năng kích thích hứng thú học tập: Ngoài hai chức năng trên, SGK phổ thông còn có nhiệm vụ kích thích HS lòng say mê học tập, yêu thích

bộ môn và thấy được vui, hạnh phúc trong lao động, học tập và khám phá

Trang 18

Bài viết “Sách giáo khoa và vấn đề nghiên cứu sách giáo khoa ở Việt Nam” trong cuốn “Sách giáo khoa trong xã hội hiện đại” TS Trần Đức Tuấn đã chỉ ra SGK có hai chức năng sau:

1 Chức năng trung tâm (định hướng và hỗ trợ phát triển bền vững): SGK những kiến thức, những vấn đề, những kĩ năng, những viễn cảnh và những giá trị phát triển bền vững về 3 phương diện: môi trường, kinh tế và xã hội phải được thể hiện đầy đủ rõ nét trong chương trình SGK

2 Các chức năng cơ bản gồm 4 chức năng: thông tin/ tái tạo, định hướng

tổ chức dạy học (Điều khiển), tạo động cơ, gây hứng thứ và kiểm tra, đánh giá

Trong bài viết tác giả đã đưa ra một số ý kiến của các tác giả ở châu Âu

về chức năng của SGK: “Trong những thập kỉ cuối thế kỉ thứ XX, khi đề cập các chức năng của SGK nhiều tác giả ở châu Âu thường nhấn mạnh đến các

chức năng sư phạm và lí luận dạy học và thống nhất khi cho rằng các chức năng tái tạo (thông tin), chức năng điều khiển, chức năng luyện tập và kiểm tra, chức năng tạo động cơ, gây hứng thú học tập là những chức năng rất cơ bản của SGK” [54 tr 38]

Tuy nhiên, các tác giả còn đề cập đến một số chức năng khác nữa Dưới đây là kết quả nghiên cứu chức năng của SGK của một số tác giả:

Sorina (Liên Xô

2 Củng cố, tự kiểm tra

3 Tự giáo dục, Liên kết/ phối hợp

4 Nghiên cứu giáo dục/ phát triển

1 Thông tin

2 Điều khiển

3 Củng cố kết quả

4 Kích thích

5 Hợp lí hóa tổ chức DH

1 Thông tin/

Chuyển đạt thông tin

2 Điều khiển

3 Tự giáo dục, Liên kết/ phối hợp

4 Nghiên cứu giáo dục/ phát triển

Trang 19

Trong cuốn sách “Các vấn đề sách giáo khoa” (NXB Giáo dục- 1998) tác giả đưa ra hai chức năng của SGK:

1 Chức năng thông tin tức là chức năng cung cấp kiến thức cho HS

2 Chức năng dạy học và phát triển Là chức năng hướng dẫn phương pháp học tập, nghiên cứu, trên cơ sở củng cố và phát triển năng lực tư duy của HS

Trong luận văn này, tác giả luận văn quan niệm SGK gồm có bốn chức năng sau: chức năng thông tin kiến thức, chức năng hướng dẫn chỉ đạo học tập, chức năng kích thích hứng thú học tập và chức năng giáo dục nhân văn

1.2.1 Chức năng thông tin kiến thức

Chức năng thông tin kiến thức là chức năng truyền thống, chức năng quan trọng nhằm thông báo nội dung khoa học, nội dung tài liệu, phương pháp dạy học Một số quan điểm cho rằng chức năng thông tin kiến thức là chức năng duy nhất còn các chức năng khác có thể không cần thiết, chỉ là sự kéo theo Trong quá trình giảng dạy, GV phải thực hiện được chức năng thông tin, bản thân GV phải hướng dẫn HS kích thích hứng thú học tập cho HS Vì vậy, SGK cần được tổ chức tốt hệ thống thông tin kiến thức nhằm phục vụ cho việc giảng dạy và học tập của GV và HS

Chức năng thông tin thể hiện qua nội dung SGK, được trình bày dưới dạng kênh hình (hình ảnh, sơ đồ, biểu đồ…) và kênh chữ Thông thường, sách giáo khoa bậc Tiểu học kênh hình và kênh chữ gần như tương đương nhau Còn SGK Trung học cơ sở và Trung học phổ thông kênh hình chiếm số lượng ít hơn kênh chữ Kênh chữ trong SGK giữ vai trò chủ đạo trong việc thực hiện chức năng thông tin Lượng kênh hình trong SGK phải có sự tính toán phù hợp sao cho HS lĩnh hội kiến thức một cách phù hợp và không để HS phân tán Kênh chữ và kênh hình là những thông tin được dùng chủ yếu trong SGK ở các cấp học Vì vậy, chúng cần phải được thể hiện chính xác, khoa học, hài hòa về mặt thẩm mỹ, phù hợp với tâm lí từng cấp học và đặc biệt phải mang tính sư phạm Các thông tin trong SGK qua kênh chữ và kênh hình thường đa dạng, phong

Trang 20

phú được đưa ra dưới dạng gợi mở, đòi hỏi ở người học tư duy linh hoạt mới có thể giải quyết vấn đề được đặt ra Kênh hình bao gồm ảnh chụp, tranh ảnh, hình

vẽ, sơ đồ, các hình ảnh khá rõ nét chi tiết mang tính cân đối thẩm mỹ…phù hợp với kênh chữ, thể hiện đúng đối tượng nghiên cứu, phù hợp với môi trường sư phạm Kênh hình có khả năng kích thích hứng thú học tập, tạo tâm thế học tập cho HS, nó có giá trị rất lớn về vấn đề nhận thức của HS

Nội dung và lượng thông tin trong SGK gồm những đơn vị kiến thức môn học Kiến thức không bao giờ đứng yên mà luôn vận động, kiến thức trong SGK thì phải ổn định, lâu dài Giải quyết vấn đề này chức năng thông tin phải hướng đến tính khoa học, ổn định, tính vừa sức và tính hấp dẫn SGK là bộ sách được biên soạn phù hợp với từng cấp học, chính vì vậy lượng kiến thức phải đảm bảo vừa sức với học sinh từng cấp học Kiến thức được thể hiện ở nhiều mức độ khác nhau như: khái niệm, quy luật, định lí, định nghĩa, quy tắc…SGK cấp trên không thể dùng được cho cấp dưới và ngược lại Đặc biệt đơn vị kiến thức được đưa vào SGK phải phù hợp với từng lứa tuổi, đặc điểm tâm lí của HS Khác với những loại sách khác kiến thức trong SGK phải được lựa chọn, đưa vào chương trình những kiến thức phổ thông cơ bản, chuẩn mực và ổn định Số lượng, chất lượng và sự bố trí, sắp xếp thông tin trong mỗi bài học phải đảm bảo yêu cầu vừa sức với mỗi HS Tiến trình những kiến thức được chuyển tải qua nội dung các môn học ở các khối lớp

từ đơn giản đến phức tạp, từ thấp đến cao

SGK không những cung cấp thông tin kiến thức mà còn chỉ dẫn các cách lĩnh hội những kiến thức đó, trang bị cho HS phương pháp tư duy, học tập, rèn luyện kỹ năng thực hành SGK trong nhà trường phổ thông đã trở thành tài liệu định hướng, hỗ trợ phương pháp dạy và học cho GV và HS

Hệ thống bài tập, câu hỏi trong SGK phải bám sát nội dung bài học, vừa kích thích hứng thú học tập của HS, giúp HS tự nghiên cứu, tìm ra phương pháp tự học Qua đó tạo điều kiện cho HS khai thác kiến thức mới của bài học,

Trang 21

làm xuất hiện tình huống có vấn đề GV hướng dẫn HS quan sát, tìm tòi, giải thích và phân tích cách giải quyết vấn đề một cách hợp lí Vì vậy nội dung thông tin trong mỗi cuốn SGK phải được xây dựng theo một hệ thống, một phương pháp nhất định

1.2.2 Chức năng hướng dẫn chỉ đạo cho học sinh học tập

So với các loại sách khác, SGK thể hiện tương đối rõ chức năng hướng dẫn chỉ đạo học tập

SGK hiện đại cần tập trung giúp học sinh có được phương pháp tự học

để góp phần đổi mới phương pháp giảng dạy, HS chuyển từ học tập thụ động sang học tập chủ động tích cực SGK cần chuyển trình bày kiểu thông báo, giải thích sang cách tổ chức chỉ đạo hoạt động học tập Việc đổi mới này giúp GV phát triển các phương pháp dạy học tích cực, tạo hứng thú cho HS trong quá trình học tập góp phần phát triển tư duy, năng lực học tập sáng tạo và phát triển những kỹ năng cho HS

Cấu trúc bài học trong SGK mới chủ yếu xoay quanh thiết kế các hoạt động học tập khám phá Hoạt động học tập khám phá thể hiện ở nhiều dạng khác nhau như trả lời câu hỏi, điều vào phiếu học tập, lập bảng, lập sơ đồ, đóng kịch, thảo luận về một vấn đề, các bảng đáp số, những bài đọc thêm… Tương ứng với các hoạt động trên GV có các hình thức tố chức hoạt động: cá nhân, theo cặp, theo nhóm, sắm vai…

GV là người dẫn dắt HS, đưa HS vào các tình huống cụ thể, buộc HS phải làm việc, tư duy, tự mình tìm ra đáp án Thông qua các hoạt động học tập

đó HS xây dựng được cho bản thân khả năng tìm tòi, khám phá, phát hiện các tình huống có vấn đề, khả năng làm việc cá nhân và theo nhóm Cách học tập này kích thích khả năng tự học cho HS, thúc đẩy các em tự khám phá bài học,

tự trau dồi những kiến thức của bản thân Nếu SGK đem kiến thức cho HS dưới dạng sẵn có, HS sẽ khó nắm vững kiến thức, khả năng ghi nhớ chỉ là máy móc theo công thức nhất định

Trang 22

Chức năng hướng dẫn chỉ đạo học tập ở mỗi bài học trong SGK nhằm hình thành kiến thức, kỹ năng, thái độ, mục tiêu học tập cho HS Chức năng hướng dẫn chỉ đạo học tập luôn đi cùng với chức năng thông tin kiến thức, qua

đó trang bị cho HS những phương pháp tư duy, phương pháp học tập và kỹ năng vận dụng thực hành Chính vì vậy, kiến thức trong SGK được xây dựng theo những hệ thống về phương pháp và trình tự nhất định để HS sử dụng hệ thống kiến thức làm tư liệu học tập dưới chỉ đạo, dẫn dắt của GV

Để thực hiện chức năng này, chương trình và SGK cần có sự ổn định tương đối ở các cấp học Nội dung SGK cần được gọn nhẹ, đảm bảo cho HS nắm vững những kiến thức cơ bản, hiện đại, tiên tiến về phương pháp giảng dạy Nâng cao sức hấp dẫn của bộ SGK phổ thông sao cho HS dễ nhớ, dễ hiểu Hình ảnh minh họa phải hấp dẫn, màu sắc hài hòa phù hợp với tâm lí HS Ngôn ngữ trong sử dụng trong SGK đảm bảo sự chính xác, giàu hình ảnh, chuẩn mực, chuẩn về chính tả, về viết hoa, phiên âm và phù hợp với lứa tuổi HS

Như vậy mới tạo sự hứng thú, kích thích học tập, say mê sáng tạo và nâng cao sự hiểu biết cho HS

1.2.4 Chức năng giáo dục nhân văn

SGK thực hiện các nguyên tắc chung như đảm bảo mục tiêu giáo dục, đặc trưng bộ môn, phù hợp với khả năng nhận thức của học sinh Một cuốn SGK thông thường không chỉ nhằm truyền thụ kiến thức cơ bản, mà có thể còn

Trang 23

phát triển khả năng nhận biết cho HS Nhận biết những vấn đề cơ bản trong xã hội, gia đình, văn hóa, dân tộc…Chức năng giáo dục nhân văn được biểu hiện

rõ trong SGK các môn khoa học xã hội và nhân văn Chức năng giáo dục tư tưởng, tình cảm đạo đức không chỉ thông qua những bài học mà còn thông qua những tranh ảnh minh họa trong SGK Chức năng giáo dục thẩm mỹ của tranh ảnh bao hàm cả chức năng giáo dục tư tưởng, tình cảm, nhân cách cho HS SGK giáo dục HS về nhân cách, đạo đức, tình yêu quê hương đất nước, đem lại cho HS tinh thần say mê học tập, khám phá thế giới, nó phải đồng bộ và phù hợp với mục tiêu chương trình

1.3 Yêu cầu chung về sách giáo khoa

Những yêu cầu đối với SGK đã được các nhà nghiên cứu đề cập đến trong nhiều tài liệu khác nhau:

Trong cuốn sách “Những yêu cầu chủ yếu về nội dung và cấu trúc phương pháp của sách giáo khoa phổ thông”, tác giả đã đưa ra 3 yêu cầu của SGK:

1 Những yêu cầu về nội dung Về nội dung SGK, cần quán triệt 5 yêu cầu: biên soạn theo đúng yêu cầu của chương trình bộ môn, SGK phải đảm bảo kiến thức khoa học cơ bản nhất, nội dung phải đảm bảo thấm nhuần thế giới quan khoa học và nhân sinh quan cách mạng, nội dung phải đảm bảo tính thực tiễn và nội dung phải được viết theo quan điểm giáo dục kỹ thuật tổng hợp

2 Các yêu cầu về cấu trúc phương pháp của SGK Yêu cầu về cấu trúc và phương pháp cần đảm bảo tính vừa sức, đảm bảo cách trình bày và phát triển tư duy, rèn luyện con người thông minh, sáng tạo, đảm bảo cách trình bày nhất quán đối với từng loại kiến thức trong một cuốn SGK, thuộc một bộ môn trong một cấp học và phải đặc biệt quan tâm đến các thành phần ngoài bài học của SGK

3 Một số yêu cầu về hình thức trình bày và minh họa đối với SGK mới:

về hình thức trình bày cần đảm bảo những yêu cầu sau: hình thức cân đối, hài hòa, phải có tác dụng hướng dẫn tốt và phù hợp với yêu cầu vệ sinh về mắt Về hình ảnh minh họa cần đảm bảo các chức năng như: chức năng thông tin, chức

Trang 24

giáo dục tư tưởng, tình cảm đạo đức và giáo dục thẩm mỹ Ngoài ra còn đáp ứng một số tiêu chuẩn cơ bản như: tính khoa học, tính sư phạm và tính thẩm mỹ

Trong bài viết “Những yêu cầu đặt ra đối với sách giáo khoa” in trong cuốn “Sách giáo khoa trong xã hội hiện đại”, ThS Bùi Tất Tươm chỉ ra, SGK cần phải đảm bảo 4 yêu cầu sau:

1 Nội dung tri thức truyền thụ phải cơ bản, chính xác và hiện đại Những tri thức đã trở thành không thể thiếu trong cuộc sống hiện đại của xã hội văn minh và không thể vắng mặt trong SGK phổ thông Tốt nghiệp Trung học cơ

sở, HS không viết sai chính tả, không nói sai ngữ pháp, không dùng sai từ…

2 Về cách thức trình bày nội dung Người biên soạn phải phát huy cao

độ những ưu điểm đã đạt được trong SGK mới hiện nay Một bộ SGK viết đủ

rõ và một bộ sách giáo viên viết đủ cho GV thống nhất nội dung dạy là một điều cần thiết

3 Về hình thức sách giáo khoa Hình thức cần đáp ứng yêu cầu như: bìa cứng, trình bày đẹp, có màu sắc đường nét hợp với lứa tuổi HS Giấy trắng hơn, kênh hình được tăng cường, kiểu chữ và cỡ chữ cũng cần phải quan tâm đúng mức

4 Khâu phát hành và tổ chức sử dụng sách giáo khoa phải đảm bảo những yêu cầu đề ra

Trong luận văn này, tác giả luận văn quan niệm SGK cần phải đảm bảo được 3 yêu cầu sau: Yêu cầu về nội dung, yêu cầu về cấu trúc và yêu cầu

về hình thức

1.3.1 Yêu cầu về nội dung

SGK là một phương tiện dạy học dùng trong trường phổ thông, cho một đối tượng rộng lớn, đa dạng về các ngành khoa học tự nhiên, khoa học xã hội SGK trình bày những nội dung cơ bản, chính xác, khoa học và hiện đại, biên

soạn theo một chương trình giáo dục đã được Bộ Giáo dục và Đào tạo

Trong cuốn “Sách giáo khoa trong xã hội hiện đại”, TS Vũ Văn Thành

có suy nghĩ như sau trong bài “Hiểu đúng vai trò của sách giáo khoa để soạn và

Trang 25

dạy cho tốt” có viết: “Sách giáo khoa là quyển sách quy định nội dung cơ bản của môn học trong chương trình, dựa vào đấy giáo viên dạy cho học trò phương pháp củng cố và phát triển kiến thức, tiếp tục học tập để làm việc có hiệu quả” [54 tr 54] Yêu cầu về nội dung được thể hiện cụ thể như sau:

1.3.1.1 Nội dung SGK phải được biên soạn theo đúng yêu cầu của chương trình giáo dục phổ thông đã được ban hành

Đây là yêu cầu chung, có tính tất yếu SGK không thể tách rời chương

trình giáo dục phổ thông của môn học

Nội dung cần phải đảm báo tính hệ thống: Tức là tuân theo hệ thống các chương, các mục được sắp xếp hợp lí đảm bảo tính khoa học, sư phạm Không thể đảo lộn trật tự, hệ thống, cấu trúc theo quan điểm cá nhân Đảm bảo quan điểm khoa học, quan điểm học thuật do chương trình quy định Không thể tự ý đưa thêm vào chương trình những quan điểm học thuật trái với quy định, lạc

hậu, lỗi thời, không hợp với thuần phong mĩ tục, mang tính phản động

SGK phải luôn bám sát các quan điểm, đường lối chính sách của Đảng

và nhà nước trong cải cách giáo dục Mục tiêu của việc đổi mới biên soạn SGK phổ thông nhằm xây dựng chương trình, phương pháp giáo dục, nâng cao chất lượng dạy và học Đổi mới nội dung SGK phải được thực hiện đồng bộ theo đúng tiêu chuẩn đặt ra

1.3.1.2 Sách giáo khoa phải đảm bảo kiến thức khoa học cơ bản

Những kiến thức, phương pháp khi đưa vào SGK phải được chọn lọc, sắp xếp hết sức cẩn thận theo một trình tự khoa học hợp lí

Việc lựa chọn sắp xếp kiến thức phải đảm bảo các yêu cầu sau:

Cần phân biệt đơn vị và yếu tố kiến thức: đơn vị kiến thức được hiểu là kiến thức cơ bản như khái niệm, qui tắc, qui luật, định lý, định luật…Đơn vị kiến thức là do chương trình quy định Cuốn “Những yêu cầu chủ yếu về nội dung và cấu trúc phương pháp của sách giáo khoa phổ thông” các tác giả có viết: “Có thể thống nhất với nhau rằng đơn vị kiến thức là một kiến thức cơ bản

Trang 26

có cấu trúc trọn vẹn và có thể hình thành cho học sinh qua một tiết giảng hoặc vài tiết giảng là cùng” [55 tr 20]

Cấu trúc của kiến thức có thể nhiều tầng bậc, phụ thuộc vào các yếu tố như: cấu trúc chương trình, học thuật, cách lựa chọn trình tự thông tin cần chuyển tải đến HS…Chương trình không thể quy định cụ thể các đơn vị kiến thức, nhiệm vụ của người biên soạn chính là sắp xếp, tổng hợp lại các đơn vị kiến thức đó Cuốn “Những yêu cầu chủ yếu về nội dung và cấu trúc phương pháp của sách giáo khoa phổ thông” có định nghĩa về yếu tố kiến thức như sau:

“Yếu tố kiến thức là các bộ phận kiến thức nhỏ hơn kết hợp lại với nhau theo một angorit nào đó để tạo thành một đơn vị kiến thức” [55 tr 20]

Việc lựa chọn các yếu tố kiến thức đưa và chương trình tuân thủ theo các yêu cầu:

Thứ nhất: kiến thức được lựa chọn phải là những gì cơ bản, chọn lọc, có tính ổn định lâu dài, phù hợp với tâm sinh lí lứa tuổi HS Mạnh dạn gạt bỏ những yếu tố kiến thức vụn vặt hoặc tính chất thời sự nhất thời

Hai là: tránh tối thiểu hiện tượng trùng lặp kiến thức Lượng kiến thức được đưa vào SGK các môn học cần được kiểm duyệt kĩ lưỡng để tránh hiện tượng xuất hiện đồng thời cùng một lúc

Ba là: chọn các yếu tố kiến thức phù hợp với tâm sinh lí tuổi học trò, trên hết là phù hợp với khả năng nhận thức, tiếp nhận của HS

1.3.1.3 Nội dung phải đảm bảo tính khoa học và thực tiễn

Nội dung giáo dục trong SGK cần quán triệt đầy đủ các Nghị quyết của Đảng, đảm bảo thực tiễn ở Việt Nam Thực tiễn được đưa vào SGK phải có tính cơ bản, tính hiện đại phù hợp với nhận thức của HS

Hệ thống kiến thức khoa học được đưa vào SGK trước hết phải hình thành cho HS thế giới quan khoa học Chính vì vậy trong quá trình biên soạn cần lựa chọn những kiến thức phù hợp, hợp lí về khoa học tự nhiên, khoa học

xã hội đây chính là nhiệm vụ của bộ SGK SGK mới đòi hỏi phải phát huy

Trang 27

nguyên tắc lấy HS làm trung tâm, phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo của HS trong quá trình học tập ở tất cả các khâu

Cuốn “Những yêu cầu chủ yếu về nội dung và cấu trúc phương pháp của sách giáo khoa phổ thông”, tác giả có viết: “Quan điểm lịch sử cụ thể cũng tạo điều kiện nâng cao tính khoa học của các kiến thức, làm cho các em nắm kiến thức sâu sắc hơn Đồng thời nó giúp học sinh thấy rằng nhận thức là một quá trình lịch sử ngày càng đi sâu vào bản chất của sự vật, rằng khoa học phát triển dưới ảnh hưởng của thực tiễn sản xuất xã hội và rồi tác động ngược lại, ảnh hưởng tới sự phát triển của thực tiễn sản xuất” [55 tr 23]

Thế giới quan duy vật biện chứng đã được các nhà biên soạn SGK lựa chọn đưa vào, hình thành cho HS những nhận biết từ đơn giản đến phức tạp Để

HS nắm rõ được sức mạnh của khoa học trong thời đại hiện nay Đồng thời SGK cần chỉ rõ cho HS những tư tưởng yêu nước tiến bộ, cách mạng, lên án những tư tưởng phản động ảnh hưởng xấu đến chủ nghĩa xã hội Xây dựng và hình thành cho HS tinh thần đoàn kết, yêu Tổ quốc, niềm tự hào dân tộc, bảo vệ vững chắc chế độ xã hội chủ nghĩa

1.3.2 Yêu cầu về cấu trúc

Cuốn “Những yêu cầu chủ yếu về nội dung và cấu trúc phương pháp của sách giáo khoa phổ thông” tác giả đưa ra định nghĩa cấu trúc phương pháp của SGK là: “Cấu tạo logic của sự trình bày các nội dung của sách” [55 tr 26] Cấu trúc SGK phải đáp ứng được đầy đủ những quan điểm của lý luận dạy học và phương pháp

dạy học bộ môn Cấu trúc SGK cần đảm bảo những yêu cầu sau:

1.3.2.1 Cấu trúc chung của sách giáo khoa

Nghị quyết 40/2000/QH10 và chỉ thị 14/2001/CT-TTG về đổi mới chương trình giáo dục phổ thông, SGK với tư cách là một văn bản được sử dụng chính thức, ổn định trong dạy học ở trường phổ thông Theo đó SGK vừa cung cấp thông tin vừa hướng dẫn HS hình thành và phát triển phương pháp kĩ năng học tập, nghiên cứu, giúp HS vận dụng kiến thức vào giải quyết các vấn

Trang 28

đề, các tình huống có vấn đề nảy sinh trong quá trình học tập SGK phải phù hợp với tâm sinh lí từng lứa tuổi, phù hợp với khả năng nhận thức của từng HS

số kí hiệu chú thích cách viết tắt, hoặc thuật ngữ khoa học được thống nhất sử dụng trong bộ SGK

Phần chính SGK:

Phần chính SGK bao gồm các chương, các mục, các bài học cụ thể được phân chia theo đặc trưng bộ môn Những đơn vị kiến thức được trình bày dưới dạng kênh chữ và kênh hình, những câu hỏi bài tập chỉ dẫn cách tiến hành lĩnh hội các đơn vị kiến thức

Phần chính cần đảm bảo trình bày một cách khoa học, hợp lí và cân đối với các chương, mục và những bài học

Trang 29

kí hiệu, công thức, đơn vị đo lường…

Phần tra cứu: tra cứu từ mới, bảng tên riêng, thuật ngữ khoa học của từng chuyên ngành khác nhau…Được sắp xếp theo thứ tự ABC và ghi theo số thứ tự từng trang trong SGK

Phần câu hỏi thêm và trả lời bài tập: câu hỏi thêm và trả lời bài tập thường ngắn gọn, tổng hợp các kiến thức của các bài học

Bìa phụ: ghi tên nhà xuất bản, năm xuất bản, ban biên tập của bộ SGK 1.3.3.2 Cấu trúc một chương sách giáo khoa

Tùy theo từng môn học mà SGK có thế được cấu trúc theo phần hay chương Một chương SGK có thể cấu trúc như sau:

Trang mở đầu của mỗi chương hay mỗi bài học bao gồm tên chương, số thứ tự của chương Mở đầu mỗi chương là những kiến thức khái quát toàn chương, những vấn đề cần nghiên cứu, kết quả cần đạt

Các bài học trong một chương được bố trí giảng dạy theo phân phối chương trình đã đặt ra, cụ thể hóa kiến thức đặt ra trong chương

Cuối mỗi chương có những phần như sau:

Tóm tắt nội dung kiến thức cơ bản của chương và phần bài tập củng cố thêm cho HS Phần nội dung kiến thức cơ bản là những kiến thức học sinh phải nắm chắc sau khi kết thúc một chương Phần bài tập củng cố dựa theo đặc trưng bộ môn có thể là những bài tập thực hành thí nghiệm, bài tập trắc nghiệm, bài tập tự luận, dựa vào đó có thể đánh giá khả năng tiếp thu bài học của HS

Khác với các SGK khác SGK Ngữ Văn được chia thành các bài học Văn bản, Tiếng Việt, Tập làm văn

Trang 30

1.3.3.3 Cấu trúc bài học trong sách giáo khoa

Bài học là hình thức cơ bản, chủ yếu của việc tổ chức học tập và giảng dạy trong nhà trường phổ thông Bài học có liên quan đến chương trình và biên soạn SGK

Tác giả Trần Thanh Bình trong bài viết “Nghiên cứu cấu trúc đơn vị bài học trong SGK Văn học PTTH Cộng hòa Liên bang Nga” có nhận xét về bài học như sau: “Theo truyền thống của lí luận dạy học và phương pháp dạy học

bộ môn, bài học được xác định là hình thức cơ bản, chủ yếu nhất của việc tổ chức các hoạt động dạy học trong nhà trường Mỗi bài học là một đơn vị, đơn

vị đó vận dụng nhiều phương pháp, biện pháp sư phạm phong phú, đa dạng để

tổ chức các tập thể học sinh thực hiện hoạt động học tập trong một thời gian nhất định và theo một thiết kế dạy học nhất định Như một chỉnh thể kiến thức, mỗi bài học đều có mục tiêu, nhiệm vụ, nội dung, hình thức, tiến trình, phương pháp, biện pháp dạy học…của mình; đồng thời, như một mắt xích nhận thức, mỗi bài học đều có những mối liên hệ logic, mật thiết với các bài học trước và sau nó trong một chương trình dạy học- giáo dục thống nhất” [1 tr 63]

Cấu trúc bài học trong SGK có thể mô tả như sau:

Phần mở bài: nhằm xác định mục tiêu cần đạt (kết quả cần đạt) của bài học Phần này được trình bày ngắn gọn, súc tích, nêu lên các phương pháp học tập của bài học nhằm hướng HS đến đích cuối cùng Tùy theo đặc trưng của môn học, phần mở bài có thể trình bày một thí nghiệm, một câu

đố vui hay một hiện tượng làm nảy sinh vấn đề nghiên cứu Phần mở bài nhằm tạo tâm thế cho HS hứng thú khi bước vào bài học GV có thể sử dụng phần này như lời vào bài

Nội dung bài học: thường gồm 3 phần thông báo các kiến thức bài học,

xử lí kiến thức, kết quả cần đạt được Kiến thức trong bài học được chuyển tải dưới dạng kênh chữ và kênh hình Kênh chữ có thể là các văn bản, các sự kiện, các quy luật, kí hiệu…Kênh hình thường là những hình ảnh kèm theo để minh

Trang 31

họa cho kênh chữ được rõ ràng Nội dung bài học thể hiện qua tên bài học nhằm dẫn dắt HS đến vấn đề cần giải quyết được đặt ra Xử lí kiến thức là cách

GV hướng dẫn HS lần lượt giải quyết các hoạt động, các câu hỏi của bài học,

GV có thể đặt ra các tình huống có vấn đề để HS tìm cách trả lời GV có thể tổ chức các hoạt động cho HS như học tập trao đổi thảo luận theo nhóm, thí nghiệm thực hành, hay tổ chức các trò chơi nhằm dẫn dắt HS xử lí kiến thức của bài học Qua việc xử lí kiến thức dưới sự chỉ đạo của GV, HS phải tự mình rút ra kết luận cho bài học Đây chính là cái đích cuối cùng cần hướng tới Thành phần này yêu cầu HS phải chiếm lĩnh được ngay sau khi xử lí các kiến thức Hình thức trình bày của mục kết quả cần đạt thường là phần đóng khung, hay chữ in nghiêng, tô đậm

Phần bài tập: tùy theo đặc trưng từng môn học mà số lượng bài tập có thể dao động ít hay nhiều Đặc trưng truyền thống là các bài tập dưới dạng tự luận,

GV có thể ra thêm một số bài tập củng cố kiến thức bài học cho HS dưới dạng câu hỏi trắc nghiệm nhiều đáp án Nội dung câu hỏi hướng vào vận dụng các kiến thức đã học ở bài học Dựa vào mức độ bài tập có thể đánh giá được sự tiếp thu bài học của HS Tăng cường một số dạng bài tập tạo lập, nhận biết cho HS

Dựa vào cấu trúc bài học GV có thể xây dựng được phương pháp dạy

học, thiết kế bài học phù hợp

1.3.3 Yêu cầu về hình thức

Yêu cầu về hình thức trình bày liên quan đến vấn đề tâm lý của HS phổ thông, hình thức phải cân đối, hài hòa Việc trình bày bộ SGK cần đảm bảo sự cân đối giữa kênh chữ và kênh hình Kênh chữ trong SGK có vai trò lớn đối với việc phát triển năng lực của HS Kênh hình có chức năng chủ yếu nhằm đa dạng hóa nguồn kiến thức, là một phương tiện trực tiếp quan trọng góp phần tích cực vào quá trình tiếp thu kiến thức của HS Tạo hình ảnh, rèn luyện kĩ năng, kỹ xảo giúp HS lĩnh hội kiến thức một cách sinh động, tạo hứng thú với bài học Ngoài ra lượng kênh hình trong SGK còn có vai trò quan trọng trong

Trang 32

việc giáo dục thái độ, tư tưởng, tình cảm và đạo đức cho HS Lượng kênh hình cần được chú trọng và được tăng cường nhiều hơn nữa trong bộ SGK, việc sử dụng kênh hình là một biện pháp hữu hiệu nằm trong tổng thể những biện pháp nhằm phát triển năng lực cho HS Bài học trong SGK cần được sử dụng nhiều hình ảnh minh họa hơn, màu sắc trong kênh hình được in màu hơn thay vì hai màu trắng đen như hiện nay Màu sắc sử dụng cần hài hòa, hợp lý phù hợp với lứa tuổi HS Trung học cơ sở

Kiểu chữ và cỡ chữ cần được trình bày theo đúng chuẩn mực được đề ra

Sử dụng kiểu chữ và cỡ chữ làm nổi bật sự phân chia chương, mục, bài học, thể loại, chú thích và bài tập Mật độ chữ và chế độ dãn dòng, sử dụng phông chữ

cơ bản phải phù hợp với HS Ví dụ như: Đầu đề của chương, mục được in đậm bằng cỡ chữ lớn ở giữa trang giấy Tên bài học được in bằng cỡ chữ bình thường, chú thích in nghiêng bằng cỡ chữ nhỏ

Màu sắc sử dụng để minh họa hình ảnh, phông chữ trong SGK đạt theo chuẩn mực được đề ra Màu sắc hài hòa phù hợp với từng cấp học Ví dụ cấp Tiểu học sử dụng những màu sắc tươi vui, dí dỏm, cấp Trung học cở sở và Trung học phổ thông sử dụng những gam màu trầm Những đường nét như nét đậm, nét nhạt hoặc những đường nét đứt cần được chú ý đến độ đậm nhạt

Sử dụng một số kí hiệu in ở phần lề trang SGK để báo cho HS biết đâu là phần kết quả cần đạt, chú thích, câu hỏi đọc hiểu và phần luyện tập Một số kí hiệu trong SGK có tác dụng hướng dẫn HS

Ví dụ: Chú thích về tác giả, thể loại của tác phẩm: ()

Ý chính: 

Bài tập nâng cao: *

1.4 Sơ lược về lịch sử phát triển sách giáo khoa Ngữ văn ở Việt Nam

Từ năm 1945 đến nay chúng ta đã trải qua bốn lần thay đổi SGK: lần thứ nhất năm 1950, lần thứ hai năm 1954, lần thứ ba năm 1981 và lần thứ

tư năm 2002

Lần thứ nhất năm 1950, Việt Nam tiến hành cuộc cải cách giáo dục với việc thay đổi hệ thống giáo dục phổ thông từ 12 năm xuống còn 9 năm cho phù

Trang 33

hợp với điều kiện đất nước lúc bấy giờ Chương trình giáo dục phổ thông môn Văn được xây dựng theo nguyên tắc “dân tộc, khoa học, đại chúng” Tài liệu giảng dạy của môn Ngữ văn trong nhà trường chủ yếu dựa vào cuốn “Việt Nam văn học sử yếu” của Dương Quảng Hàm được biên soạn trước năm 1945 Việc biên soạn bộ SGK cũng được tiến hành nhanh chóng “Tháng 8 năm 1950, Bộ

tổ chức một Trại Tu ở Phú Thọ gồm 30 giáo viên có kinh nghiệm để viết sách, sau vì tình hình chiến sự lại phải tạm ngừng Đến năm 1951, Trại Tu thư được

tổ chức ở lại Tuyên Quang và đã hoàn thành viết sách giáo khoa về khoa học tự nhiên” [64 tr 77] Do tình hình chiến tranh đến năm 1956 bộ SGK Ngữ văn đầu tiên mới được hoàn chỉnh và xuất bản

Năm 1954, chiến thắng Điện Biên Phủ đã kết thúc cuộc kháng chiến 9 năm chống thực dân Pháp của nhân dân ta Hòa bình được lập lại nhưng sau hiệp định Giơ - ne - vơ Việt Nam bị chi cắt làm hai miền Nam - Bắc Cuộc cải cách giáo dục lần thứ hai được tiến hành năm 1956, miền Bắc Việt Nam quân Pháp đã hoàn toàn rút khỏi nhưng miền Nam vẫn chịu sự đô hộ của đế quốc Mĩ

và chính quyền tay sai Cách mạng Việt Nam xác định hai nhiệm vụ: Miền Bắc xây dựng chủ nghĩa xã hội, Miền Nam tiếp tục cuộc các mạng dân tộc dân chủ nhân dân Ngay sau khi miền Bắc hoàn toàn giải phóng, hệ thống giáo dục phổ thông được thay đổi 10 năm thay vì 9 năm như trước kia Hệ thống giáo dục 10 năm gồm ba cấp: cấp 1 (4 năm), cấp 2 (3 năm), cấp 3 (3 năm) Công cuộc biên soạn SGK được diễn ra nhanh chóng, khẩn trương Cuộc cải cách giáo dục lần này nhằm mục tiêu đào tạo, bỗi dưỡng thế hệ trẻ trở thành những người công dân có ích cho xã hội và đất nước

Trong cuốn “Giáo trình Lịch sử Giáo dục học Việt Nam (từ thời phong kiến đến năm 1975)” Vũ Văn Thái và Vũ Thị Huệ đã đưa ra dẫn chứng sau:

“Chỉ trong vòng một năm đã cho phát hành hơn sáu mươi loại sách giáo khoa lớn nhỏ từ lớp 1 đến lớp 10, có nội dung tư tưởng và khoa học phong phú”[64 tr 93] Theo đó bộ SGK ở cấp 1 gồm hai phân môn “Tập đọc” và

“Tiếng Việt”, cấp 2 và cấp 3 gọi là môn “Quốc văn” được chia làm ba phân môn rõ ràng: Giảng văn, Ngữ pháp và Tập làm văn, từ lớp 5 đến lớp 7 So

Trang 34

với hai bộ SGK trước đây, bộ SGK này cơ bản có nhiều điểm tương đồng về cấu trúc bài học và nguyên tắc sắp xếp các bài học SGK mới đã chính thức

có các bài đọc thêm cho HS, có các bài đọc dành riêng cho HS miền núi Phần văn học dành riêng cho HS miền núi sau này được biên soạn thành chương trình văn học địa phương

Trong cuốn “Chương trình phổ thông cấp II môn Quốc Văn” xuất bản năm 1956 (trang 1 – 25) có nêu ra nhiệm vụ của môn Quốc Văn được xác định

rõ ở ba lĩnh vực đó là: lĩnh vực kiến thức, kĩ năng và tư tưởng Cụ thể như sau:

“ - Về mặt kiến thức, việc dạy Quốc Văn cấp II nhằm mục đích:

1) Giới thiệu cho học sinh những thơ ca truyền miệng, những văn thơ viết có giá trị tư tưởng và nghệ thuật của văn học Việt Nam từ xưa đến nay, những khái niệm về các loại văn, những kiến thức sơ lược về những giai đoạn lớn của văn học nước nhà

2) Cung cấp cho học sinh một số vốn từ ngữ cần dùng cho việc học các môn học khác, cho việc hoạt động sau này trong các ngành sản xuất, đồng thời dạy cho các em cách cấu tạo và biến nghĩa của các từ, cách diễn đạt bóng bẩy,

cô đọng, chính xác của ngôn ngữ Việt Nam

3) Đặc biệt dạy cho các em hiểu được nội dung tư tưởng và giá trị nghệ thuật của một số tác phẩm dài qua đặc điểm của nhân vật, tình tiết, bố cục, hình tượng, ngôn ngữ của tác phẩm ấy

- Về mặt kỹ năng, việc dạy Quốc Văn ở cấp II nhằm mục đích giúp học sinh biết đọc có ý nhị, gợi cảm, biết diễn đạt ý tưởng gọn gàng, chính xác trong khi nói và viết

- Về mặt tư tưởng, mục đích dạy văn học ở cấp II là lấy nghệ thuật văn chương trong các loại tác phẩm nói trên để xây dựng cho học sinh một thế giới quan tiến bộ và giáo dục các em theo tinh thần đạo đức cách mạng Cụ thể là:

1) Giáo dục cho các em biết yêu đất nước Việt Nam giàu đẹp, tiếng nói Việt Nam uyển chuyển, văn vẻ; văn học Việt Nam phong phú; nhân dân Việt Nam cần cù, anh dũng…

Trang 35

2) Rèn luyện cho các em tinh thần tự tôn dân tộc kết hợp với tinh thần quốc tế, lòng kính mến lãnh tụ, lòng thiết tha yêu mến chế độ dân chủ nhân dân tiến lên xã hội chủ nghĩa và chí kiên quyết bảo vệ xây dựng chế độ ấy

3) Giáo dục cho các em phẩm giá con người mới, có ý thức tập thể, tự giác, có thái độ đúng đắn đối với lao động và sẵn sàng tham gia lao động để thiết thực phục vụ nhân dân

4) Giáo dục cho các em ghét cay ghét đắng xã hội người bóc lột người,

xã hội dưới chế độ thực dân phong kiến thối nát, căm thù sâu sắc bọn đế quốc gây chiến, phá hoại hòa bình mà hiện nay đầu sỏ là đế quốc Mĩ và giai cấp địa chủ đã hàng nghìn năm kìm hãm đàn áp nhân dân ta, cấu kết với giặc ngoại xâm để phản lại dân tộc”

Căn cứ vào chương trình Quốc Văn thì bộ SGK Ngữ Văn chính thức đầu tiên được do Bộ giáo dục biên soạn và xuất bản từ lớp 5 đến lớp 7 có tên gọi là Văn tuyển Bộ SGK “Văn tuyển” được biên soạn chưa có sự thống nhất về cấu trúc tổng thể như bộ SGK Ngữ văn hiện nay

1 Văn tuyển lớp 5 (tập 1, 2) do Nguyễn Tiến Cường, Nguyễn Đăng Châu, Nguyễn Đăng Ngọc, Nguyễn Nghĩa Dân và Hoàng Trọng Oanh biên soạn

2 Văn tuyển lớp 6 (tập 1, 2) do Nguyễn Nghĩa Dân, Nguyễn Đăng Châu

và Nguyễn Đăng Ngọc biên soạn

3 Văn tuyển lớp 7 (tập 1, 20 do Nguyễn Đăng Ngọc, Hoàng Trọng Oanh

và Nguyễn Nghĩa Dân biên soạn

Theo đó SGK “Văn tuyển” lớp 5 (tập 1, 2) được biên soạn theo từng loại bài học: loại miêu tả, loại kể chuyện, loại ca dao cổ SGK “Văn tuyển” lớp 6 (tập 1, 2) và lớp 7 (tập 1, 2) được biên soạn theo từng phần: phần thứ nhất là văn chương cách mạng và kháng chiến - văn dịch, phần thứ hai là cổ văn và ca dao cổ Bộ SGK Văn ban đầu còn sơ sài, được in trên giấy đen khá mộc mạc

Lần thứ ba năm 1981, nhằm thống nhất nền giáo dục chung cho cả nước chương trình giáo dục phổ thông được xây dựng 12 năm Thực hiện nghị quyết của

Bộ Chính trị, Bộ Giáo dục Việt Nam cho tiến hành biên soạn bộ SGK mới Bộ SGK lúc này có tên ngắn gọn là “Văn” bao gồm: Văn 6, Văn 7, Văn 8 và Văn 9

Trang 36

1 Văn 6 (Tập 1, 2) do Huỳnh Lý, Võ Phi Hồng, Nguyễn Quốc Túy biên soạn

2 Văn 7 (Tập 1, 2) do Vũ Ngọc Khánh, Tống Trần Ngọc, Nguyễn Ngọc Hóa biên soạn

3 Văn 8 (Tập 1) do Nguyễn Sĩ Cần, Nguyễn Quốc Túy biên soạn

Văn 8 (Tập 2) do Nguyễn Sĩ Cần, Nguyễn Quốc Túy, Vũ Ngọc Khánh biên soạn

4 Văn 9 (Tập 1, 2) do Nguyễn Lộc và Đỗ Quang Lưu biên soạn

Lần thứ tư năm 2002 chúng ta thay đổi bộ SGK nhằm đáp ứng nhu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước Bộ SGK được biên soạn theo hướng tích hợp giữa các phân môn Văn- Tiếng Việt- Tập làm văn Có tên gọi là “Ngữ văn” bao gồm:

1 Ngữ văn 6 (tập 1) do Nguyễn Khắc Phi (Tổng chủ biên) – Nguyễn Đình Chú (Chủ biên phần Văn) – Nguyễn Minh Thuyết (Chủ biên phần Tiếng Việt) – Trần Đình Sử (Chủ biên phần Tập làm văn) – Bùi Mạnh Nhị - Nguyễn Quang Ninh – Đỗ Ngọc Thống biên soạn

Ngữ văn 6 (tập 2) do Nguyễn Khắc Phi (Tổng chủ biên) – Nguyễn Đình Chú (Chủ biên phần Văn) – Nguyễn Minh Thuyết (Chủ biên phần Tiếng Việt) – Trần Đình Sử (Chủ biên phần Tập làm văn) – Nguyễn Văn Long – Nguyễn Quang Ninh – Đỗ Ngọc Thống biên soạn

2 Ngữ văn 7 (tập 1) do Nguyễn Khắc Phi (Tổng chủ biên) - Nguyễn Đình Chú- Nguyễn Minh Thuyết- Đỗ Kim Hồi- Nguyễn Văn Long- Bùi Mạnh Nhị- Lê Xuân Thại - Đỗ Ngọc Thống biên soạn

Ngữ văn 7 (tập 2) do Nguyễn Khắc Phi (Tổng chủ biên) – Nguyễn Đình Chú (Chủ biên phần Văn) – Nguyễn Minh Thuyết (Chủ biên phần Tiếng Việt) – Trần Đình Sử (Chủ biên phần Tập làm văn) – Đỗ Kim Hồi – Nguyễn Văn Long – Bùi Mạnh Nhị - Đỗ Ngọc Thống biên soạn

3 Ngữ văn 8 (tập 1) do Nguyễn Khắc Phi (Tổng chủ biên) - Nguyễn Hoàng Khung (Chủ biên phần Văn) - Nguyễn Minh Thuyết (Chủ biên phần Tiếng Việt) - Trần Đình Sử (Chủ biên phần Tập làm văn) - Lê A- Diệp Quang

Trang 37

Ban- Hồng Dân - Đỗ Kim Hồi - Bùi Mạnh Hùng - Lê Quang Hưng - Lê Xuân Thại- Lã Nhâm Thìn - Đỗ Ngọc Thống - Phùng Văn Tửu biên soạn

Ngữ văn 8 (tập 2) do Nguyễn Khắc Phi (Tổng chủ biên) – Nguyễn Hoành Khung (Chủ biên phần Văn) – Nguyễn Minh Thuyết (Chủ biên phần Tiếng Việt) – Trần Đình Sử (Chủ biên phần Tập làm văn) – Lê A – Diệp Quang Ban – Hồng Dân – Đỗ Kim Hồi – Bùi Mạnh Hùng – Lê Quang Hưng –

Lê Xuân Thại – Lã Nhâm Thìn – Đỗ Ngọc Thống – Phùng Văn Tửu biên soạn

4 Ngữ văn 9 (tập 1) do Nguyễn Khắc Phi (Tổng chủ biên) - Nguyễn Văn Long (Chủ biên phần Văn) - Nguyễn Minh Thuyết (Chủ biên phần Tiếng Việt)

- Trần Đình Sử (Chủ biên phần Tập làm văn) - Diệp Quang Ban - Hồng Dân - Bùi Mạnh Hùng - Lê Quang Hưng - Lã Nhâm Thìn - Đỗ Ngọc Thống - Trịnh Thị Thu Tiết - Phùng Văn Tửu biên soạn

Ngữ văn 9 (tập 2) do Nguyễn Khắc Phi (Tổng chủ biên) – Nguyễn Văn Long (Chủ biên phần Văn) – Nguyễn Minh Thuyết (Chủ biên phần Tiếng Việt) – Trần Đình Sử (Chủ biên phần Tập làm văn) – Lê A – Diệp Quang Ban – Lê Quang Hưng – Lê Xuân Thại – Đỗ Ngọc Thống – Phùng Văn Tửu biên soạn

Nếu như trước đây SGK Ngữ văn được biên soạn theo ba bộ sách: Văn học, Tiếng Việt, Tập làm văn, hiện nay chỉ còn một bộ sách duy nhất là Ngữ văn Sự đổi mới rõ nét trong việc biên soạn đó là tích hợp theo chiều ngang ba phân môn: Văn, Tiếng Việt và Tập làm văn vào một chỉnh thể gọi là Ngữ văn Qua đó đã kế thừa những thành tựu các phân môn Văn – Tiếng Việt và Tập làm văn trước đây đạt được Lần cải cách này vừa kế thừa và phát triển các kinh nghiệm sẵn có của những lần biên soạn, xuất bản SGK trước đó SGK lần này được biên soạn nhằm thực hiện các mục tiêu của cấp học, nhằm hình thành phát triển năng lực tự học, nâng cao năng lực làm việc độc lập, tư duy sáng tạo của

HS Việc sát nhập ba cuốn sách làm một không phải là sự sát nhập một cách máy móc ba phân môn mà là sự đáp ứng yêu cầu tích hợp của chương trình Ngữ văn mới Nhằm hướng đến việc rèn luyện kỹ năng đọc văn làm văn và củng cố phát triển kỹ năng tiếng Việt cho HS

Trang 38

Sự tích hợp này thể hiện cụ thể trong từng bài học Bao gồm phần Văn bản, Tiếng Việt và Tập làm văn, tạo sự thuận lợi cho việc học tập của học sinh, đảm bảo tính liên thông, đồng bộ nhất quán của hệ thống chương trình môn học Phần Văn bản bao gồm phần đọc hiểu, văn bản văn học cấu trúc theo thể loại hoặc theo trục lịch sử Phần Tiếng Việt có hai kiểu cấu trúc theo chủ điểm nội dung và theo hệ thống kiến thức ngôn ngữ, nội dung bài Tập làm văn được cấu trúc theo hệ thống kiểu bài làm văn GV khi tiến hành dạy học đơn vị kiến thức của một trong ba phần, đồng thời cũng tích hợp dạy học được hai phần còn lại Nguyên tắc tích hợp phát huy vai trò tích cực học tập, rèn luyện của học sinh tạo theo quen tự học Trong một hệ thống bài học có sự liên kết chặt chẽ giữa ba phần với nhau tạo nên một hệ thống chỉnh thể Bên cạnh việc tích hợp theo chiều ngang thì SGK Ngữ văn mới còn được tích hợp theo chiều dọc của nội dung chương trình Theo đó kiến thức được học ở lớp trên bao giờ cũng cao hơn và bao hàm kiến thức ở lớp dưới theo vòng đồng tâm Hai vòng ở cấp THCS lớp 6, 7 là vòng 1, lớp 8, 9 là vòng 2 Việc tích hợp SGK như vậy sẽ tiết kiệm được nhiều mặt đặc biệt chương trình học trở nên khoa học, chặt chẽ hơn Phần đọc hiểu văn bản có thể lấy làm ngữ liệu minh họa cho phần Tiếng Việt

và Tập làm văn Điểm tích cực của bộ SGK mới đó là sự kết hợp hài hòa giữa kiến thức với phương pháp theo trình tự: thông tin – kỹ năng – thái độ Nội dung kiến thức có sự tinh giản, gãy gọn, chặt chẽ, vận dụng có chọn lọc các nguyên tắc xây dựng chương trình Ngữ văn của các nước tiên tiến trên thế giới SGK Ngữ văn Trung học còn được biện soạn theo nguyên tắc tích cực GS.VS Nguyễn Cảnh Toàn trong cuốn “Đổi mới việc biên soạn trình bày và sử dụng sách giáo khoa” đã viết như sau: “SGK Ngữ văn đã được biên soạn theo hướng phát huy cao độ tính tự giác, chủ động của người học- của chủ thể học sinh- trung tâm của quá trình dạy học Ngữ văn Thật ra nguyên tắc này đã được ý thức từ vài ba thế kỷ trước, và đã được thực hiện trong những bộ SGK Trích giảng văn học, Văn, Văn học, Từ ngữ và Ngữ pháp, Tiếng Việt và Tập làm văn… Thế nhưng đến bộ SGK Ngữ văn hiện nay, nguyên tắc này đã được thấu

Trang 39

triệt hơn nữa, thêm một bước quan trọng về nhận thức Đây là bộ SGK dạy cho học sinh có thể học và tự học chính là quan niệm tiên tiến và hiện đại của SGK thế giới trong thời đại hiện nay SGK hướng vào học sinh, giúp học sinh tự phát triển Sao cho SGK vừa khái quát sâu sắc, vừa tinh giản, nhẹ nhàng vừa định hướng thiết thực” [71 tr 120]

Bộ SGK trong lần cải cách này đã đáp ứng được như cầu của đất nước ta trong thời đại bùng nổ công nghệ thông tin hiện nay, phát huy vai trò tích cực của học sinh, rèn luyện cho học sinh có thói quen tự học, thích hợp với tâm sinh lí lứa tuổi Một số cuốn SGK hiện đại hiện nay được biên soạn và thiết kế theo lối mới như in màu, nhiều hình ảnh sinh động, hấp dẫn, nội dung bài học

đa dạng Thời đại công nghệ thông tin như hiện nay người ta khó có thể chấp nhận những cuốn SGK chỉ thiên về cung cấp kiến thức dưới dạng lý thuyết khô cứng, không chú trọng việc thực hành, ứng dụng kiến thức và thực tiễn Trong thế kỉ XXI, SGK phải trở thành phương tiện, công cụ hữu ích cho sự phát triển bền vững của giáo dục

Mặc dù bộ SGK Ngữ văn được nhiều nhà khoa học biên soạn nhưng thực

tế vẫn còn một số hạn chế nhất định Như phần học tập của học sinh, phần hướng dẫn tự học, tự chiếm lĩnh của học sinh nói chung bị xem nhẹ Hệ thống câu hỏi và nội dung chưa phù hợp phương pháp giảng dạy trong nhà trường phổ thông, thiếu định hướng cho GV

GS.TS Đinh Quang Báo trong cuốn “Xã hội với sách giáo khoa - tập 2” nhận xét: “So với khu vực và thế giới thì CT và SGK đổi mới lần này của chúng ta tuy có cố gắng nhưng chưa kịp họ, chưa kịp cả về khối lượng kiến thức và chất lượng nội dung” [12 tr 57] Việc biên soạn SGK ở Việt Nam còn nhiều hạn chế, nhưng qua đó đã để lại kinh nghiệm, lý luận khoa học thiết thực cho lần biên soạn đổi mới SGK sau năm 2015

Do khuôn khổ của luận văn, ở đây chúng tôi chỉ nghiên cứu về nội dung dạy học đọc hiểu văn bản trong SGK Văn tuyển, và SGK Ngữ văn

Trang 40

Chương 2

SO SÁNH CẤU TRÚC, NỘI DUNG VÀ HÌNH THỨC CỦA SÁCH GIÁO

KHOA VĂN TUYẾN VÀ SÁCH GIÁO KHOA NGỮ VĂN

- So sánh cấu trúc của SGK Văn tuyển và SGK Ngữ văn

- So sánh nội dung dạy học đọc hiểu văn bản của SGK Văn tuyển và SGK Ngữ văn

- So sánh hình thức của SGK Văn tuyển và SGK Ngữ văn

2.1 So sánh cấu trúc của sách giáo khoa Văn tuyển và sách giáo khoa Ngữ văn

Trong phần này, tác giả luận văn sẽ tập trung làm rõ hai nội dung nhỏ là so sánh cấu trúc chung và cấu trúc bài học trong SGK Văn tuyển và SGK Ngữ văn

2.1.1 So sánh cấu trúc chung của sách giáo khoa Văn tuyển và sách giáo khoa Ngữ văn

2.1.1.1 Cấu trúc chung của sách giáo khoa Văn tuyển

Bộ SGK Văn tuyển cấp II (lớp 5, 6, 7) bao gồm 6 cuốn, mỗi lớp có 2 cuốn học trong hai học kỳ Cấu trúc của các cuốn SGK Văn tuyển cơ bản là giống nhau, có thể chia thành các phần sau: hệ thống trang bìa, lời giới thiệu,

hệ thống các bài học, mục lục và thông tin xuất bản

Hệ thống trang bìa bao gồm bìa chính và bìa phụ Bìa chính và bìa phụ của SGK Văn tuyển thống nhất với nhau, bao gồm các thông tin sau: quốc hiệu, tên tác giả, tên cuốn sách, lớp, cấp học, số tập sách, cơ quan ban hành, nhà xuất bản, địa điểm và năm xuất bản Phần quốc hiệu ghi trên trang bìa bao gồm hai dòng chữ “VIỆT – NAM DÂN CHỦ CỘNG HÒA” và “Độc lập – Tự do – Hạnh phúc” Phần thông tin về tác giả ghi đầy đủ họ tên của tất cả các tác giả biên soạn sách Tên sách “VĂN TUYỂN” được viết in hoa cỡ chữ to ở chính giữ trang bìa Tiếp theo là thông tin về lớp và cấp học Ví dụ ghi rõ “LỚP NĂM” hoặc “LỚP SÁU” hoặc “LỚP BẢY” và thông tin “TRƯỜNG PHỔ THÔNG CẤP II” Bên dưới trang bìa ghi rõ cơ quan “BỘ GIÁO DỤC”

Ngày đăng: 12/09/2017, 08:18

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Trần Thanh Bình (2007), Nghiên cứu cấu trúc đơn vị bài học trong SGK Văn học PTTH Cộng hòa Liên bang Nga, Kỷ yếu Hội nghiên cứu khoa học, NXB Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu cấu trúc đơn vị bài học trong SGK Văn học PTTH Cộng hòa Liên bang Nga
Tác giả: Trần Thanh Bình
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 2007
2. Bộ giáo dục và đào tạo (1955), Văn Tuyển lớp 5 (tập 1), NXB Giáo dục phổ thông Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn Tuyển lớp 5 (tập 1)
Tác giả: Bộ giáo dục và đào tạo
Nhà XB: NXB Giáo dục phổ thông
Năm: 1955
3. Bộ giáo dục và đào tạo (1955), Văn Tuyển lớp 5 (tập 2), NXB Giáo dục phổ thông Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn Tuyển lớp 5 (tập 2)
Tác giả: Bộ giáo dục và đào tạo
Nhà XB: NXB Giáo dục phổ thông
Năm: 1955
4. Bộ giáo dục và đào tạo (1955), Văn Tuyển lớp 6 (tập 1), NXB Giáo dục phổ thông Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn Tuyển lớp 6 (tập 1)
Tác giả: Bộ giáo dục và đào tạo
Nhà XB: NXB Giáo dục phổ thông
Năm: 1955
5. Bộ giáo dục và đào tạo (1955), Văn Tuyển lớp 6 (tập 2), NXB Giáo dục phổ thông Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn Tuyển lớp 6 (tập 2)
Tác giả: Bộ giáo dục và đào tạo
Nhà XB: NXB Giáo dục phổ thông
Năm: 1955
6. Bộ giáo dục và đào tạo (1955), Văn Tuyển lớp 7 (tập 1), NXB Giáo dục phổ thông Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn Tuyển lớp 7 (tập 1)
Tác giả: Bộ giáo dục và đào tạo
Nhà XB: NXB Giáo dục phổ thông
Năm: 1955
7. Bộ giáo dục và đào tạo (1955), Văn Tuyển lớp 7 (tập 2), NXB Giáo dục phổ thông Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn Tuyển lớp 7 (tập 2)
Tác giả: Bộ giáo dục và đào tạo
Nhà XB: NXB Giáo dục phổ thông
Năm: 1955
8. Bộ giáo dục và đào tạo (1981), Những yêu cầu chủ yếu về nội dung và cấu trúc phương pháp của SGK phổ thông, NXB Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những yêu cầu chủ yếu về nội dung và cấu trúc phương pháp của SGK phổ thông
Tác giả: Bộ giáo dục và đào tạo
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 1981
9. Bộ giáo dục và đào tạo (1998), Các vấn đề sách giáo khoa, tập 13, NXB Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các vấn đề sách giáo khoa, tập 13
Tác giả: Bộ giáo dục và đào tạo
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 1998
10. Bộ giáo dục và đào tạo (2001), Tìm hiểu những quy định mới về giáo dục, NXB Lao động Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tìm hiểu những quy định mới về giáo dục
Tác giả: Bộ giáo dục và đào tạo
Nhà XB: NXB Lao động
Năm: 2001
11. Bộ giáo dục và đào tạo (2001), Các văn bản pháp luật hiện hành về Giáo dục- Đào tạo, NXB Thống kê Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các văn bản pháp luật hiện hành về Giáo dục- Đào tạo
Tác giả: Bộ giáo dục và đào tạo
Nhà XB: NXB Thống kê
Năm: 2001
12. Bộ giáo dục và đào tạo (2003), Xã hội với SGK, tập 2, NXB Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Xã hội với SGK, tập 2
Tác giả: Bộ giáo dục và đào tạo
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 2003
14. Bộ giáo dục và đào tạo (2006), Ngữ văn 6 (tập 1), NXB Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngữ văn 6 (tập 1)
Tác giả: Bộ giáo dục và đào tạo
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 2006
15. Bộ giáo dục và đào tạo (2006), Ngữ văn 6 (tập 2), NXB Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngữ văn 6 (tập 2)
Tác giả: Bộ giáo dục và đào tạo
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 2006
16. Bộ giáo dục và đào tạo (2006), Ngữ văn 7 (tập 1), NXB Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngữ văn 7 (tập 1)
Tác giả: Bộ giáo dục và đào tạo
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 2006
17. Bộ giáo dục và đào tạo (2006), Ngữ văn 7 (tập 2), NXB Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngữ văn 7 (tập 2)
Tác giả: Bộ giáo dục và đào tạo
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 2006
18. Bộ giáo dục và đào tạo (2006), Ngữ văn 8 (tập 1), NXB Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngữ văn 8 (tập 1)
Tác giả: Bộ giáo dục và đào tạo
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 2006
19. Bộ giáo dục và đào tạo (2006), Ngữ văn 8 (tập 2), NXB Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngữ văn 8 (tập 2)
Tác giả: Bộ giáo dục và đào tạo
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 2006
20. Bộ giáo dục và đào tạo (2006), Ngữ văn 9 (tập 1), NXB Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngữ văn 9 (tập 1)
Tác giả: Bộ giáo dục và đào tạo
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 2006
21. Bộ giáo dục và đào tạo (2006), Ngữ văn 9 (tập 2), NXB Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: ), Ngữ văn 9 (tập 2)
Tác giả: Bộ giáo dục và đào tạo
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 2006

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w