Việt nam là một nước có nền văn hóa phát triển khá sớm luôn tiếp thu, trắc lọc những tin hoa của nhân loại. Qua hơn 4000 năm văn hiến, nước ta chịu ảnh hưởng nặng nề của của bọn ngoại ban xâm lấn đã làm cho nước ta điêu tàn nhưng không vì thế mà trình độ, văn hóa của nước ta bị tuột hậu. Những tư tưởng lớn như Thuyết âm dương ngũ hành đã được các nhà triết học nước ta tiếp thu và phát huy vào cuộc sống như một phần đời sống văn hóa tin thần. Những tư tưởng lớn của Thuyết âm dương – ngũ hành còn được tiếp thu, chọn lộc sao cho phù hợp với điều kiện Việt Nam để đưa vào điều trị bệnh bằng các bài thuốc đơn giản nhưng lại có hiệu quả cao lại gần gủi dễ tìm. Vì vậy thuyết âm dương – ngũ hành có một vai trò quan trọng trong đời sống người Việt nam. Để làm rỏ hơn vấn đề này chúng ta cùng tìm hiểu chủ đề “vai trò của thuyết âm dương – ngũ hành trong đời sống người việt nam” để có cái nhìn bao quát hơn về tầm ảnh hưởng của học thuyết với con người việt nam.
Trang 12 Đối tượng nghiên cứu
3 Phương pháp nghiên cứu
B NỘI DUNG
Chương 1 Nội dung cơ bản của thuyết âm dương – ngũ hành
1.1 Nguồn gốc ra đời thuyết âm dương – ngũ hành
1.2 Những tư tưởng chính của thuyết âm dương – ngũ hành
Chương 2 vai trò của thuyết âm dương – ngũ hành đối với đời sống người Việt Nam
2.1 Đời sống văn hóa, tâm linh của người Việt
2.2 Áp dụng thuyết âm dương ngũ hành vào điều trị bệnh và ẩm thực người Việt
C KẾT LUẬN
TÀI LIỆU THAM KHẢO
Trang 2A MỞ ĐẦU
1 Đặt vấn đề
Khi tìm hiểu về triết học, không ít người cảm thấy chán nản, vô vị vì chođây là một lĩnh vực xa lạ với những khái niệm, những định nghĩa quá trừu tượngkhó hiểu và không cần thiết trong đời sống thực tế Nhưng thật sự triết học có phải
là lĩnh vực khó hiểu và xa rời thực tế như các nhận định trên Thực tế, triết họcđược xem như là khoa học của những khoa học, tuy đây là một nhận định còn chưachính xác về vai trò của triết học nhưng thực sự nó đã cho ta thấy được tầm quantrọng của việc nghiên cứu triết học
Triết học từ khi ra đời, tự nó đã mang trong mình sự thông thái, mênh mông,tri thức của loài người và nó cũng bắt nguồn từ yêu cầu khách quan của đời sốngcon người đó là mong muốn được hiểu về thế giới xung quanh, giải thích được cáchiện tượng thiên nhiên, các mối quan hệ và sự phát triển của sự vật Triết họcPhương Đông là một trong những nền tảng triết học ra đời sớm và phát triển từ lâu,nhưng bản thân triết học Phương Đông mang một màu sắc riêng, đóng góp quantrọng vào triết học nhân loại Trong đề tài này chúng ta sẽ bàn về một đề tài triếthọc quan trọng của Phương Đông là Thuyết âm dương – ngũ hành Đây là một họcthuyết quan trọng của Phương Đông được ra đời từ rất sớm nhưng với những đónggóp của nó cho nền triết học nó vẫn đang được nghiên cứu và khám phá với một hệthống tri thức đồ sộ mà ảnh hưởng của nó không còn hạn hẹp ở phương đông màtrên toàn nhân loại
Việt nam là một nước có nền văn hóa phát triển khá sớm luôn tiếp thu, trắc lọc những tin hoa của nhân loại Qua hơn 4000 năm văn hiến, nước ta chịu ảnh hưởng nặng nề của của bọn ngoại ban xâm lấn đã làm cho nước ta điêu tàn nhưng không
vì thế mà trình độ, văn hóa của nước ta bị tuột hậu Những tư tưởng lớn như
Thuyết âm dương - ngũ hành đã được các nhà triết học nước ta tiếp thu và phát huyvào cuộc sống như một phần đời sống văn hóa tin thần Những tư tưởng lớn của Thuyết âm dương – ngũ hành còn được tiếp thu, chọn lộc sao cho phù hợp với điều
Trang 3kiện Việt Nam để đưa vào điều trị bệnh bằng các bài thuốc đơn giản nhưng lại có hiệu quả cao lại gần gủi dễ tìm Vì vậy thuyết âm dương – ngũ hành có một vai trò quan trọng trong đời sống người Việt nam Để làm rỏ hơn vấn đề này chúng ta
cùng tìm hiểu chủ đề “vai trò của thuyết âm dương – ngũ hành trong đời sống
người việt nam” để có cái nhìn bao quát hơn về tầm ảnh hưởng của học thuyết với
con người việt nam
2 Đối tượng nghiên cứu
Trong qua trình nghiên cứu đề tài chúng tôi đã tiến hành tìm hiểu ảnh hưởng của Thuyết âm dương – ngũ hành đối với văn hóa người Việt Nam, những phương pháp chữa bệnh bằng đông y và cách thức giữ gìn sức khỏe bằng các món ăn của người Việt nam đặt biệt là khu vực miền Tây nước ta dựa vào triết lý âm dương ngũ hành
3 Phương pháp nghiên cứu
Để làm rõ nội dung, mục đích của đề tài chúng tôi kết hợp nhiều phương pháp nghiên cứu như phân tích và tổng hợp, thống kê và điều tra xã hội học, phương pháp lịch sử…
B NỘI DUNG
Chương 1 Nội dung cơ bản của thuyết âm dương – ngũ hành
1.1 Nguồn gốc ra đời thuyết âm dương – ngũ hành
1.1.1 Khởi đầu học Thuyết âm dương - ngũ hành
Trong quá trình phát triển của người Phương đông con người đã biết tích lũy số liệu, ghi chép thời gian, địa điểm, khí hậu… nhận biết được các biến đổi tốt xấu
Từ những ghi chép đó con người tiến hành so sánh phân loại đúc kết thành các kinh nghiệm để hình thành nên nhận thức về sự vật Họ nhận gọi sự thể hiện của vạn vật là “Tượng” Họ nhận thấy vạn vật luôn có sự đối lập nhau và từ đó phân chia ra làm hai loại “âm” và “dương” Dương là những tượng có thuộc tính nóng, sáng, đực…; âm là những tượng có thuộc tính lạnh, tối, cái…
Dần dần nhận thức của con người ngày một hoàn thiện hơn hai mặt đối lập âm và dương không còn đủ để giải thích thới giới người ta lại tiến hành phân loại sự vật theo quá trình từ sinh ra đến mất đi của vạn vât theo 5 năm bước gọi là “ngũ hành”
Trang 4Mỗi bước có tác động qua lại lẫn nhau người ta gọi chúng là ngũ hành tương sinh, ngũ hành tương khắc, ngũ hành tương chế, ngũ hành tương hóa.
Tuy đây chỉ là buổi đầu của học thức nhân loại nhưng Thuyết âm dương - ngũ hành đã là một công cụ sắc bén để nhận thức thới giới từ lúc sự vật sinh ra đến khi mất đi, từ nhận thức bằng cảm giác đến tư duy Tuy chưa thật sự hoàn chỉnh nhưng
nó đã tạo ra một tri thức khổng lồ, huyền diệu mà đến ngày nay các nhà triết học Phương đông và Phương tây vẫn đang nghiên cứu
1.1.2 sự ra đời của Thuyết âm dương - ngũ hành
cho đến nay nguồn góc chính xác về thời gian và người đã đặc nền tảng cho
Thuyết âm dương - ngũ hành vẫn chưa được xác định, có rất nhiều ý kiến bàn về
sự ra đời của Thuyết âm dương - ngũ hành nó được đề cập trong nhiều quyển sách
cổ như hoàng đê nội kinh, địa chí chỉ mong, thiên văn chí… một trong những cuốnđược nghiên cứu nhiều nhất về học thuyết này là cuốn kinh dịch
Tương truyền, Phục Hy (2852 trước CN) nhìn thấy bức đồ bình trên lưng con long
mã trên sông Hoàng Hà mà hiểu được lẽ biến hóa của vũ trụ, mới đem lẽ đó vạch thành nét Đầu tiên vạch một nét liền (-) tức "vạch lề" để làm phù hiệu cho khí dương và một nét đứt ( ) là vạch chẵn để làm phù hiệu cho khí âm Hai vạch (-), ( ) là hai phù hiệu cổ xưa nhất của người Trung Quốc, nó bao trùm mọi nguyên lý của vũ trụ, không vật gì không được tạo thành bởi âm dương, không vật gì không được chuyển hóa bởi âm dương biến đổi cho nhau Các học giả từ thời thượng cổ
đã nhận thấy những quy luật vận động của tự nhiên bằng trực quan, cảm tính của mình và ký thác những nhận thức vào hai vạch ( ) (-) và tạo nên sức sống cho hai vạch đó Dịch quan niệm vũ trụ, vạn vật luôn vận động và biến hóa không ngừng,
do sự giao cảm của âm dương mà ra, đồng thời coi âm dương là hai mặt đối lập vớinhau nhưng cùng tồn tại trong một thể thống nhất trong mọi sự vật từ vi mô đến vĩ
mô, từ một sự vật cụ thể đến toàn thể vũ trụ Lúc đầu chỉ có 8 quẻ, mỗi quẻ có 3 vạch liền hoăc đứt, chưa có chữ nghĩa gì hết Sau đó Chu Văn Dườn đem bát quái dịch thành 64 quái càng về sau có nhiều nhà triết học phân tích thêm cho thuyết này nên thuyết này càng phong phú thêm và trở thành bộ sách được nhiều người nghiên cứu nhất cho Thuyết âm dương - ngũ hành
Sự ra đời của Thuyết âm dương - ngũ hành đánh dấu một bước tiến trong tri thức loài người về nhận thức thới giới, thoát khỏi sự khống chế của tư tưởng thần thành
là nguồn gốc sự vật Có thể coi đây là nguồn cội của quan điểm duy vật biện chứngcủa Phương đông vì sự vật được cấu thành từ vật chất có sự biến đổi từ lúc hình thành đến lúc mất đi thể hiện quy luật mâu thuẩn và sự biến đổi không ngừng của
Trang 5sự vật Nghiên cứu Thuyết âm dương - ngũ hành giúp ta nhận thức sâu hơn về những trí trị tư tưởng triêt học và giá trị tích cưc mà nó mang lại.
1.2 Những tư tưởng chính của thuyết âm dương – ngũ hành
1.2.1 thuyết âm dương
Theo lý thuyết trong Kinh dịch thì bản nguyên của vũ trụ là thái cực, thái cực lànguyên nhân đầu tiên, là lý của muôn vật
- thái cực sinh lưỡng nghi (hai nữa) là âm và duong
- lưỡng nghi sinh tứ tượng là thái âm, thái dương, thiếu âm, thiếu dương
- tứ tượng sinh bát quái (tám quẻ)
Trang 6Như vậy, Thuyết đã quan niệm vũ trụ, vạn vật đều có bản thể động Trong thái cực, thiếu dương vận động đến thái dương thì trong lòng thái dương lại nảy sinh thiếu âm, thiếu âm vận động đến thái âm thì trong lòng thái âm lại nảy sinh thiếu dương Cứ như thế, âm dương biến hoá liên tục, tạo thành vòng biến hóa không bao giờ ngừng nghỉ Vì thế, các nhà làm Dịch mới gọi tác phẩm của mình là Kinh dịch Ở Kinh dịch âm dương được quan nệm là những mặt,
những hiện tượng đối lập Như trong tự nhiên: sáng - tối, trời - đất, đông - tây, trong xã hội: quân tử - tiểu nhân, chồng - vợ, vua - tôi Qua các hiện tượng tự nhiên, xã hội, các tác giả trong Kinh dịch đã bước đầu phát hiện được những mặt đối lập tồn tại trong các hiện tượng đó và khẳng định vật nào cũng ôm chứa âm dương trong nó: "vạn vật hữu nhất thái cực" (vạn vật, vật nào cũng có
Trang 7một thái cực, thái cực là ầm dương) Nhìn chung, toàn bộ Kinh dịch đều lấy âmdương làm nền tảng cho học thuyết của mình.
Những tư tưởng triết học của thuyết âm dương thể hiện ở những điểm sau:
- nhận thức được các mặt đối lập của vật chất, sự vật được hình thành từ âm
và dương thể hiện hai mặt đối lập nhau vận động theo chiều hướng đi lên Bên trong cái dương vẫn tồn tại cái âm và ngược lại thể hiện sự thống nhất các mặc đối lập của vật chất như con người luôn có tính thiện tính ác, có người thiện cũng có kẻ dữ nhưng bản thân con người luôn tồn tại chúng đồng thời
- thuyết âm dương nêu ra mọi sự vật đều có thể biến đổi, thể hiện tư tưởng vận động không ngừng của sự vật như con người phần âm là cái ác, phần dương là cái thiện nó có thể chiếm nhiều hay ít trong mõi con người nhưng
dù người thiện hay ác họ vẫn tồn tại song song hai đức tính trên như “hổ dữ không an thịt con” (trong âm có dương), “gần mực thì den gần đèn thì sáng”(mọi sự vật luôn có sự biến đổi)… các mặc này luôn vận động không ngừng
và luôn biến đổi làm người tốt cũng có thể xấu đi, người xấu được giáo dục,gần người tốt cũng dần tốt hơn
- Sự biến hóa của âm dương xuất phát từ năng lực của sự vật khi âm cùng thì dương khởi, âm tận thì dương sinh sự vật sinh ra chuyển biến không ngừng khi đến giai đoạn nhất định thì sinh ra chất mới Đây là một tư tưởng triết học tiến thể hiện quy lật về sự tích lũy về lượng dẫn đến chất mới ra đời
1.2.2 thuyết ngũ hành
khi nhận thức con người tiến bộ hai bộ phận âm – dương không còn đủ để giải thích thới giới vũ trụ, với nhận thức còn mộc mạc đã hình thành nên thuyết ngũ hành
Theo thuyết này thì mọi vật đều được cấu thành từ năm yếu tố khởi thủy là : KIM, MỘC, THỦY, HỎA, THỔ
Mọi vận biến đổi vô cùng nhưng đều có thể quy về năm yếu tố trên như:
Kim thì cứng, trắng, khô, phương tây
Thủy thì tượng trưng đen, mặn, phương bắc
Mộc thì tượng trưng xám, chua, phía đông
Hỏa thì tượng trưng đỏ, phía nam
Trang 8Thổ thì tượng trưng vàng, chính giữa.
Tinh thần cơ bản của thuyết ngũ hành bao gồm hai phương diện giúp đỡ nhau gọi
là tương sinh và chống lại nhau gọi là tương khắc Trên cơ sở sinh và khắc lại thêmhiện tượng chế hoá, tương thừa, tương vũ Tương sinh, tương khắc, chế hoá, tương thừa, tương vũ biểu thị mọi sự biến hoá phức tạp của sự vật
Luật tương sinh: Tương sinh có nghĩa là giúp đỡ nhau để sinh trưởng Đem ngũ hành liên hệ với nhau thì thấy 5 hành có quan hệ xúc tiến lẫn nhau, nương tựa lẫn nhau
Theo luật tương sinh thì thuỷ sinh mộc, mộc sinh hoả, hoả sinh thổ, thổ sinh kim, kim sinh thuỷ, thuỷ lại sinh mộc và cứ như vậy tiếp diễn mãi Thúc đẩy sự phát triển không bao giờ ngừng Trong luật tương sinh của ngũ hành còn bao hàm ý nữa
là hành nào cũng có quan hệ vệ hai phương diện: Cái sinh ra nó và cái nó sinh ra, tức là quan hệ mẫu tử Ví dụ kim sinh thuỷ thì kim là mẹ của thuỷ, thuỷ lại sinh ra mộc vậy mộc là con của Thuỷ
Trong quan hệ tương sinh lại có quan hệ tương khắc để biều hiện cái ý thăng bằng, giữ gìn lẫn nhau
Luật tương khắc: Tương khắc có nghĩa là ức chế và thắng nhau Trong qui luật tương khắc thì mộc khắc thổ, thổ lại khắc thuỷ, thuỷ lại khắc hoả, hoả lại khắc kim,kim khắc mộc, và mộc khắc thổ và cứ như vậu lại tiếp diễn mái
Trong tình trạng bình thường, sự tưong khắc có tác dụng duy trì sự thăng bằng, nhưng nếu tương khắc thái quá thì làm cho sự biến hoá trở lại khác thường
Trang 9Trong tương khắc, môĩ hành cũng lại có hai quan hệ:Giữa cái thắng nó và cái nó thắng Ví dụ mộc thì nó khắc thổ, nhưng lại bị kim khắc nó.
Hiện tượng tương khắc không tồn tại đơn độc; trong tương khắc đã có ngụ ý tương sinh, do đó vạn vật tồn tại và phát triển
Luật chế hóa: Chế hoá là chế ức và sinh hoá phối hợp với nhau Trong chế hoá bao gồm cả hiện tượng tương sinh và tương khắc Hai hiện tượng này gắn liền với nhau
Lẽ tạo hoá không thể không có sinh mà cũng không thể không có khắc Không có sinh thì không có đâu mà nảy nở; không có khắc thì phát triển quá độ sẽ có hại Cần phải có sinh trong khắc, có khắc trong sinh mới vận hành liên tục, tương phản,tương thành với nhau
Quy luật chế hoá ngũ hành là:
Mộc khắc thổ, thổ sinh kim, kim khắc mộc
Hoả khắc kim, kim sinh thuỷ, thuỷ khắc hoả
Thổ khắc thuỷ, thuỷ sinh mộc, mộckhắc thổ
Kim khắc mộc, mộc sinh hoả, hoả khắc kim
Thuỷ khắc hoả, hoả sinh thổ, thổ khắc thuỷ
Luật chế hoá là một khâu trọng yếu trong thuyết ngũ hành Nó biểu thị sự cân bằngtất nhiên phải thấy trong vạn vật Nếu có hiện tượng sinh khắc thái quá hoặc không
đủ thì sẽ xảy ra sự biến hoá khác thường Coi bảng dưới đây chúng ta thấy mỗi hành đều có mối liên hệ bốn mặt Cái sinh ra nó, cái nó sinh ra, cái khắc nó và cái
bị nó khắc
=> Học thuyết Âm dương đã nói rõ sự vật, hiện tượng trong thế giới khách quan với hai mặt đối lập thống nhất đó là Âm và Dương Âm dương là quy luật chung của vũ trụ, là kỷ cương của vạn vật, là khởi đầu của sự sinh trưởng biến hoá
Nhưng nó sẽ gặp khó khăn khi lý giải sự biến hoá, phức tạp của vật chất Khi đó nóphải dùng thuyết Ngũ hành để giải thích Vì vậy, kết hợp học thuyết Âm dương và Ngũ hành mới có thể giải thích mọi hiện tượng tự nhiên và xã hội một cách hợp lý
Trang 10Chương 2 vai trò của thuyết âm dương – ngũ hành đối với đời sống người Việt Nam
2.1 Đời sống văn hóa, tâm linh của người Việt
Tuy con người Việt Nam đang sống trong cuộc sống hiện đại với nhiều kỉ thuật tiên tiến, khoa học tiến bộ nhưng đời sống tâm linh của con người không vì thế mà kém năng động Cụ thể là các chùa mộc lên ngày càng nhiều (chúng tôi không nhắc đến các đạo giáo khác vì giới hạn của đề tài tập chung vào thuyết âm dương –ngũ hành) quy mô ngày càng lớn, ngay cả những đô thị phát triển thì phần văn hóa tâm linh của người Việt vẫn được chú trọng Vào nhừng ngày rằng (14, 15 hàng tháng) nhất là những rằng lớn như rằm tháng giêng, tháng 5, tháng 12 số lượt người đi viếng chùa rất lớn chen lấn để có chổ thấp hương cầu an cho gia đình và nguyện cầu những điều tốt đẹp
Có thể khẳng định: Xu hướng hiện nay của đời sống văn hóa tâm linh nói chung vàtín ngưỡng tôn giáo phát triển và lan rộng nó ăn sâu vào mọi ngõ ngách đời sống người dân Đời sống văn hóa tâm linh của người dân Việt Nam có vẻ ngược dòng với xu hướng văn hóa tâm linh hiện nay trên phạm vi toàn cầu – ngày càng tăng
“tục hóa đời tu” để hội nhập vào cuộc sống, bớt hẳn những nghi lễ rườm rà, kể cả giảm đi “ơn kêu gọi” (các nhà tu trống vắng, các linh mục ít cam chịu khổ
hạnh, ) Niềm tin của họ được hình thành trên cơ sở tự nguyện hiến dâng để hữu ích cho xã hội mang đậm tính nhân bản và có sức thuyết phục hơn Thì những biểu hiện đời sống văn hóa tâm linh của nước ta như đã nêu trên lại có vẻ trái ngược.Thuyết Âm dương - Ngũ hành đã có một ý nghĩa quan trọng, tác động không nhỏ tới đời sống văn hóa tâm linh con người Việt Nam Dưới góc độ tư duy khoa học, chủ nghĩa duy vật biện chứng Mác xít học thuyết Âm dương - Ngũ hành đã tác động tới đời sống văn hóa tâm linh Việt Nam
2.1.2 Những tác động tích cực của học thuyết Âm dương - Ngũ hành tới đời
sống văn hóa tâm linh ở Việt Nam
Đời sống tâm linh dường như là một nhu cầu tất yếu đời sống tinh thần của con người Nhu cầu này giúp con người xoa dịu nỗi đau trần thế, vượt qua những khó khăn thử thách nghiệt ngã của cuộc đời về mặt tinh thần Khi gặp nỗi đau, niềm bấthạnh, bất kỳ ai cũng có nhu cầu được chia sẻ, vượt qua được những khó khăn, thử thách và những lúc rơi vào tình huống như vậy, có lẽ rất nhiều người sẽ hướng về thế giới tâm linh để cầu mong một sự che chở vỗ về, dù họ biết chẳng có một phép
Trang 11mầu, chẳng có một ông bụt, vị thần nào cả giữ cuộc sống trần thế Những nỗi đau quá sức chịu đựng của con người nhỏ bé, yếu đuối và mong manh thường xảy ra trong cuộc đời Một người mẹ chứng kiến đứa con của mình gặp khó khăn trong cuộc sống, một người vợ mất chồng, một nhà kinh doanh thất bại Họ sẽ làm gì nếu không hướng về đời sống tâm linh để được tiếp thêm nguồn sức mạnh tinh thần, để được an ủi Dù khoa học công nghệ có tiến bộ đến đâu đi nữa thì những tainạn bất ngờ, những căn bệnh nan y vẫn cứ xẩy ra và cướp đi cuộc sống của nhiều người vô tội Chính những lúc như vậy con người tìm đến ông thầy, bà cô, những
vị thần mong giải thoát Từ tâm lý ấy, trong đời sống tâm linh đã có nhiều hoạt động trên cơ sở học thuyết Âm dương - Ngũ hành Đặc biệt học thuyết - Ngũ hành người Việt Nam đã vận dụng vào xem bói – hình thức cụ thể nhất trong đời sống tâm linh Mỗi người tương ứng với một hành gắn với mỗi hành là các quẻ bói Dựavào đó thầy bói sẽ đưa ra những lời tiên đoán số mệnh, tiên đoán hiện tại, tương laivới mong muốn đưa con người tìm thấy một cuộc sống bình yên, hạnh phúc, thoát khỏi tai ương, hoạn nạn
Đặc biệt đời sống tâm linh còn thể hiện rõ nét ở sự hài hòa giữa vận dụng Âm
- Dương trong ý chí, tinh thần người Việt Cha ông ta đã dạy: “Có chí thì nên”,
“thất bại là mẹ thành công”, Do đó, người Việt Nam bên cạnh tính chất thôngminh, tài cao họ còn phải chăm chỉ tu dưỡng đạo đức, học hỏi kiến thức xã hội bởi:
Giao nhân nào sẽ gặp quả ấy
Các câu dạy trong phật giáo đã dạy con người lối sống đạo đức dung hòa các mốiquan hệ phải biết tu dưỡng bản thân làm việc thiện để có được một con người tốt
có ích cho xã hội, chính là sự hài hòa các yếu tố quy luật của cuộc sống giữa cáiriêng với cái chung, con người với xã hội phù hợp với các yếu tố tiến bộ của triết
Trang 12học Mác Như vậy, chính đời sống tâm linh đã giúp cuộc sống con người trở nênhài hòa, giúp con người luôn có ý chí vươn lên để hoàn thiện bản thân trở thànhngười có ích cho gia đình, xã hội Những lời khuyên gắn với tâm lí, tình cảm giúpcon người tránh khỏi tai ương, khó khăn cũng như giúp họ xoa dịu nỗi đau trongcuộc sống Đó chính là cân bằng Âm - Dương giúp con người thoát khỏi khủnghoảng, cân bằng hài hòa cuộc sống.
Ở Việt Nam hiện nay, đời sống tâm linh đã đi tới mọi ngõ ngách cuộc sống ngườidân nó ăn sâu vào tiềm thức, máu thịt của họ Nhìn một cách tổng quát người dân
đi lễ chùa, nhà thờ, thờ cúng tổ tiên thậm chỉ trong bói đều mang giá trị “văn hóa”tâm linh Chẳng hạn như trong phong tục thờ cúng tổ tiên - biểu hiện cụ thể đờisống tâm linh người Việt Nam đều thể hiện sự thành kính đối với tổ tiên, cầu mong
tổ tiên phù hộ cho gia đình, con cái hiếu thảo, xa lánh điều ác, hay trong việc đi lễchùa, nhà thờ vào các ngày lễ rằm đều cũng vì mục đích hướng thiện Kinh thánh
đã dạy: “Ai làm việc thiện sẽ sống lại để được sống còn ai làm điều ác sẽ sống lại
để nhận án phạt” Phật giáo cũng dạy: “Thiện không chỉ là chuẩn mực đạo đức cần
có, mà còn là phương tiện để giải thoát”
Thêm vào đó, người Việt đặc biệt chú trọng vấn đề “phong thủy” “Phong” và
“thủy” là hai yếu tố quan trọng nhất tạo thành tạo thành vi khí hậu của một ngôinhà Phong là gió (thuộc dương); thủy là nước, tĩnh hơn, thuộc âm Trong nhà, nếu
có gió quá nhiều hoặc nước tù quá đọng đều không tốt Người ta vẫn xây dựng cácbình phong để lái gió hoặc dựng hòn non bộ để điều thủy (âm dương điều hòa) làvậy Ngoài ra, tất cả các chi tiết của ngôi nhà được liên kết với nhau bằng “mộng”
“Mộng” là cách ghép theo nguyên lý âm dương, nghĩa là: Phần lồi ra của bộ phậnnày phải khớp với chỗ lõm tương ứng của bộ phận khác Kỹ thuật này tạo nên sựliên kết rất chắc chắn mà vẫn linh động giúp tháo dỡ dễ dàng Khi cần cố định cácchi tiết của ngôi nhà thì dùng đing tre vuông tra vào các lỗ tròn (âm – dương) Khi