Cho nên, nghiên cứu về vấn đề hợp tác kinh tế Tiểu vùng sông Mê Công mở rộng sẽ giúp có cái nhìn toàn diện hơn về quá trình hợp tác, các chương trình hợp tác trong Tiểu vùng Mê Công mở r
Trang 2LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành bài Khóa luận tốt nghiệp này, em xin gửi lời cảm ơn chân thành nhất tới TS Nguyễn Thị Tuyết Nhung - người đã nhiệt tình hướng dẫn, giúp đỡ, chỉ bảo em trong quá trình nghiên cứu đề tài
Em xin chân thành cảm ơn toàn thể các Thầy/Cô giáo khoa Lịch sử, trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2, những người đã truyền cho em những bài học, những kinh nghiệm quý báu và tạo mọi điều kiện cho em hoàn thành đề tài nghiên cứu này Xin gửi lời cảm ơn đến bạn bè, người thân luôn ở bên cạnh động viên, giúp đỡ em trong những lúc khó khăn
Em xin gửi lời cảm ơn đến Thư viện Quốc gia Hà Nội, Thư viện trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2, Thư viện trường Đại học Sư phạm Hà Nội, Thư viện trường Đại học Quốc gia Hà Nội đã giúp đỡ em tìm hiểu, khai thác nguồn tài liệu cần thiết, đây là một phần quan trọng giúp cho đề tài nghiên cứu đạt kết quả cao nhất
Cuối cùng em xin gửi lời cảm ơn đặc biệt nhất tới cha mẹ, người đã sinh thành và nuôi dưỡng em khôn lớn, người luôn giúp đỡ em có thêm động lực và niềm tin trong lúc đề tài gặp khó khăn hay bế tắc
Em xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, ngày 26 tháng 04 năm 2017
Sinh viên
Hà Thúy Chiều
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Em xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng em, dưới sự hướng dẫn của cô giáo, Tiến sĩ Nguyễn Thị Tuyết Nhung
Em xin cam đoan những kết quả nghiên cứu của khóa luận chưa từng được công bố ở bất kỳ một công trình nghiên cứu nào, đó là những kết quả đúng, nếu sai em hoàn toàn chịu trách nhiệm
Hà Nội, ngày 26 tháng 04 năm 2017
Sinh viên
Hà Thúy Chiều
Trang 4DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
ADB : Ngân hàng Phát triển Châu Á
GMS : Chương trình hợp tác tiểu vùng Mê Công mở rộng RIE : Khung đầu tư GMS
NSEC : Hành lang kinh tế Bắc- Nam
EWEC : Hành lang kinh tế Đông- Tây
SEC : Hành lang kinh tế phía Nam
GMRA : Hiệp hội đường sắt GMS
MTCO : Văn phòng điều phối Du lịch Mê Công
WGE : Nhóm Công tác môi trường GMS
BCI : Sáng kiến hành lang bảo tồn đa dạng sinh học GMS CEP : Chương trình môi trường trọng điểm
Trang 5MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 2
3 Đối tượng, nhiệm vụ và phạm vi nghiên cứu 4
3.1 Đối tượng nghiên cứu 4
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu 5
3.3 Phạm vi nghiên cứu 5
4 Phương pháp nghiên cứu 5
5 Đóng góp của đề tài 6
6 Bố cục của đề tài 6
Chương 1 NHỮNG NHÂN TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN HỢP TÁC KINH TẾ TIỂU VÙNG SÔNG MÊ CÔNG MỞ RỘNG 7
1.1 Khái quát về Tiểu vùng sông Mê Công mở rộng 7
1.2 Tiềm năng phát triển kinh tế của Tiểu vùng sông Mê Công 11
1.3 Nhu cầu hợp tác kinh tế của các nước tiểu vùng sông Mê Công mở rộng 15
*Tiểu kết chương 1 20
Chương 2 HỢP TÁC KINH TẾ TIỂU VÙNG SÔNG MÊ CÔNG MỞ RỘNG (1992 - 2016) 22
2.1 Mục tiêu và nguyên tắc hợp tác của Tiểu vùng sông Mê Công mở rộng 22
2.2 Chương trình hợp tác 25
2.2.1 Cơ sở hạ tầng - giao thông vận tải 25
2.2.2 Năng lượng 31
2.2.3 Du lịch và đầu tư thương mại 34
2.2.4 Phát triển nguồn nhân lực 38
2.2.5 Môi trường và tài nguyên thiên nhiên 41
Trang 62.3 Những tác động, cơ hội và thách thức trong hợp tác giữa các nước Tiểu
vùng sông Mê Công mở rộng 45
2.3.1 Tác động và cơ hội 45
2.3.2 Thách thức 52
* Tiểu kết chương 2 61
KẾT LUẬN 63
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 66 PHỤ LỤC
Trang 7MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Tiểu vùng sông Mê Công bao gồm năm nước thuộc khu vực Đông Nam
Á lục địa, trong đó có ba nước nằm trên bán đảo Đông Dương là Việt Nam, Lào, Campuchia, ngoài ra còn có Thái Lan và Myanmar Với diện tích gần 2 triệu km2, dân số hơn 200 triệu người, có nhiều nguồn tài nguyên thiên nhiên phong phú, Tiểu vùng sông Mê Công có nhiều tiềm năng để phát triển kinh tế Sau khi trải qua một thời gian dài trong chiến tranh và xung đột, đến đầu năm
1990 nhân dân các nước thuộc Tiểu vùng Mê Công (đặc biệt là Việt Nam, Lào, Campuchia và Myanmar) đã tập trung nỗ lực vào việc xây dựng và phát triển kinh tế đất nước
Các nước này có chung đường biên giới và có dòng sông Mê Công chảy qua, sông Mê Công bắt đầu chảy từ thượng nguồn Trung Quốc, qua các nước Thái Lan, Myanmar, Campuchia, Lào, rồi qua Việt Nam và chảy ra biển Đông Với việc có chung một dòng sông chảy qua, các nước trong khu vực Tiểu vùng Mê Công đã lập kế hoạch hợp tác với nhau nhằm khai thác lợi ích kinh tế từ sông Mê Công và đề ra các biện pháp duy trì và bảo vệ lợi ích từ sông Mê Công mang lại
Trong bối cảnh đó nhu cầu hợp tác khu vực trở thành một vấn đề được nhiều quốc gia quan tâm Năm 1992, Ngân hàng phát triển Châu Á đã đề xuất sáng kiến hợp tác Tiểu vùng sông Mê Công mở rộng, bao gồm sáu nước: Việt Nam, Lào, Campuchia, Thái Lan, Myanmar và hai tỉnh của Trung Quốc là Vân Nam và Quảng Tây Tiến hành hợp tác trên nhiều lĩnh vực: giao thông vận tải, du lịch, bưu chính viễn thông, thương mại, đầu tư và nông nghiệp Cho nên, nghiên cứu về vấn đề hợp tác kinh tế Tiểu vùng sông Mê Công mở rộng sẽ giúp có cái nhìn toàn diện hơn về quá trình hợp tác, các chương trình hợp tác trong Tiểu vùng Mê Công mở rộng dưới sự hỗ trợ của Ngân hàng phát triển Châu Á
Trang 8Đồng thời, trong bối cảnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế, nhu cầu hợp tác phát triển tăng cao giữa các khu vực cũng như trên thế giới Sự gia tăng nhanh chóng của quá trình toàn cầu hóa trên tất cả các lĩnh vực khiến các quốc gia trên thế giới ngày càng tăng tính phụ thuộc vào nhau, dẫn đến có nhu cầu đẩy mạnh và mở rộng hợp tác kinh tế với nhau Các nước trong Tiểu vùng sông Mê Công mở rộng tăng cường hợp tác để nâng cao trình độ phát triển kinh tế đất nước, ổn định khu vực, đồng thời thu hút sự đầu tư của các nước phát triển trên thế giới vào khu vực trên tất cả các lĩnh vực và tăng cường sự ảnh hưởng ra bên ngoài Đề tài nghiên cứu này sẽ khái quát lên nhu cầu hợp tác, cũng như tầm quan trọng của xu thế hợp tác quốc tế trong bối cảnh hiện nay Đặc biệt là trong Tiểu vùng sông Mê Công mở rộng, nhu cầu hợp tác khu vực là một vấn đề được tất cả các nước trong Tiểu vùng đặc biệt quan tâm và tiến hành một cách nhanh chóng và cẩn thận để đảm bảo phát triển kinh tế vùng
Ngoài ra, GMS cũng đứng trước nhiều cơ hội và thách thức, vấn đề đặt
ra là phải đánh giá đầy đủ tiềm năng và những khó khăn trong quá trình hợp tác của GMS gặp phải, tìm ra những định hướng, giải pháp hữu hiệu nhất để phát triển Tiểu vùng hiện nay và trong tương lai Công trình khoa học này sẽ nghiên cứu một cách tổng thể, toàn diện, có luận cứ khoa học để đưa ra các gợi ý chính sách cho Tiểu vùng
Với tất cả những lí do trên có thể thấy nghiên cứu về sự hợp tác phát triển kinh tế trong Tiểu vùng sông Mê Công đã trở thành một vấn đề vô cùng cấp thiết, có ý nghĩa lý luận và ý nghĩa thực tiễn sâu sắc
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Vấn đề nghiên cứu Tiểu vùng sông Mê Công mở rộng không phải là một vấn đề mới trong công tác nghiên cứu lịch sử Tuy nhiên, việc hiểu và đánh giá đúng đắn, hợp lý về sự hợp tác phát triển kinh tế trong Tiểu vùng
Trang 9còn nhiều thiếu xót và chưa thỏa đáng Việc nghiên cứu về các nước trong Tiểu vùng sông Mê Công và sự hợp tác phát triển kinh tế của vùng mang lại nhiều giá trị thiết thực trong công tác nghiên cứu sử học và có ý nghĩa trên nhiều mặt
Cho đến nay đã có khá nhiều công trình nghiên cứu về vấn đề này Tuy nhiên, việc tìm hiểu về Tiểu vùng sông Mê Công mở rộng và các chương trình hợp tác kinh tế còn rất hạn chế, đa phần các tài liệu chỉ dừng lại ở việc tìm hiểu chung và khái quát về khu vực này, chứ chưa nghiên cứu nào thực sự tìm hiểu mang tính hệ thống và trọn vẹn nhất về quá trình hợp tác phát triển kinh tế của Tiểu vùng
Trong cuốn “Sông và Tiểu vùng Mê Công: Tiềm năng và hợp tác phát
triển quốc tế” của tác giả Nguyễn Trần Quế (chủ biên) do Nhà xuất bản Khoa
học xã hội xuất bản năm 2001, tác giả đã đề cập đến sự hợp tác trong Tiểu vùng này Tuy nhiên những nghiên cứu ở đây chỉ mang tính khái quát, chứ không đi sâu nghiên cứu cụ thể vấn đề nào của quá trình hợp tác đó Tuy vậy, đây cũng là một nguồn tài liệu tham khảo tin cậy cho người viết khi thực hiện nghiên cứu đề tài này
Trong cuốn “Hợp tác phát triển Tiểu vùng Mê Công mở rộng hiện tại
và tương lai” của tác giả Nguyễn Trần Quế (chủ biên) do Nhà xuất bản Khoa
học xã hội xuất bản năm 2007, trong tác phẩm này tác giả cũng chỉ dựa vào
cuốn “Sông và Tiểu vùng Mê Công: Tiềm năng và hợp tác phát triển quốc tế”
để bổ sung, phát triển thêm một số vấn đề, còn về nội dung thì vẫn giữ nguyên và cũng chưa đi sâu vào nghiên cứu cụ thể vấn đề
Trong cuốn “Công nghệ thông tin và truyền thông với chính sách
thương mại đầu tư phát triển Tiểu vùng sông Mê Công” của tác giả Ngô Thu
Trang (chủ biên) do Nhà xuất bản Bưu điện Hà Nội xuất bản năm 2006, trong tác phẩm này tác giả chỉ đề cập đến việc đầu tư trên lĩnh vực công nghệ thông
Trang 10tin và truyền thông vào khu vực Tiểu vùng sông Mê Công mở rộng, chứ chưa
mở rộng sang nghiên cứu làm rõ các lĩnh vực khác như du lịch, giao thông vận tải và cũng như chưa đánh giá được khả năng phát triển và hạn chế của Tiểu vùng Mê Công
Ngoài ra còn có một số cuốn tạp chí, các công trình nghiên cứu khoa học của các thầy cô và các bạn sinh viên trong các trường đại học và cao đẳng trong cả nước đã cung cấp cho tác giả những kiến thức cơ bản, chung nhất về khu vực Tiểu vùng sông Mê Công mở rộng Chẳng hạn như, trong Tạp chí khoa học xã hội (Số 5), (T.108 - 110) tác giả Nguyễn Việt Nga (2003) đã viết
về “Hợp tác giữa các nước tiểu vùng sông Mê Công: cơ hội và thách thức”, hay tác giả Trần Cao Thành (1999) với bài viết “Các chương trình và triển
vọng hợp tác quốc tế phát triển kinh tế tiểu vùng Mê Công”, đăng trong
Nghiên cứu Đông Nam Á (Số 3), (T.8 - 17)
Trên cơ sở những tài liệu đã được tiếp cận, tác giả nhận thấy hầu hết các tài liệu này mới chỉ đề cập một cách khái quát về sự hợp tác của vùng mà chưa đi sâu tìm hiểu kĩ về quá trình hợp tác, cũng như các chương trình, kế hoạch, định hướng tương lai và tác động của chương trình hợp tác đến sự phát triển của Tiểu vùng Song đây cũng chính là những tài liệu quan trọng để cho tác giả thực hiện nghiên cứu đề tài này
Đề tài hợp tác phát triển kinh tế Tiểu vùng sông Mê Công mở rộng từ năm 1992 đến năm 2016 sẽ tiếp tục kế thừa các công trình nghiên cứu trước
đó và đi sâu nghiên cứu về những chương trình hợp tác kinh tế và tác động của nó tới sự phát triển kinh tế của các quốc gia trong Tiểu vùng, cũng như những thuận lợi và thách thức trong quá trình hợp tác phát triển
3 Đối tƣợng, nhiệm vụ và phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tƣợng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu là sự hợp tác phát triển kinh tế Tiểu vùng sông
Mê Công mở rộng từ năm 1992 đến năm 2016
Trang 113.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Để nghiên cứu đề tài, tác giả đã triển khai làm rõ các vấn đề:
- Khái quát về Tiểu vùng sông Mê Công mở rộng và những nhân tố tác động đến sự phát triển kinh tế của vùng
- Tiềm năng phát triển kinh tế và nhu cầu hợp tác phát triển kinh tế của các nước Tiểu vùng sông Mê Công mở rộng
- Các lĩnh vực hợp tác kinh tế Tiểu vùng Mê Công mở rộng và tác động của nó đến các quốc gia trong Tiểu vùng Mê Công mở rộng
- Cơ hội và thách thức trong hợp tác giữa các nước ở Tiểu vùng sông
Mê Công mở rộng
- Định hướng hợp tác phát triển kinh tế trong tương lai tại Tiểu vùng
Mê Công mở rộng
3.3 Phạm vi nghiên cứu
Thời gian: Đề tài tập trung nghiên cứu trong khoảng thời gian từ năm
1992 đến năm 2016 của quá trình hợp tác kinh tế, trên các mặt cơ sở hạ tầng- giao thông vận tải, năng lượng, du lịch và đầu tư thương mại, phát triển nguồn nhân lực và môi trường và tài nguyên thiên nhiên
Không gian: Đề tài tìm hiểu về sự hợp tác tại Tiểu vùng sông Mê Công, bao gồm sáu nước Trung Quốc, Myanmar, Thái Lan, Lào, Campuchia và Việt Nam, chủ yếu trên lĩnh vực kinh tế
4 Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp luận: Để thực hiện đề tài nghiên cứu, tác giả dựa trên cơ
sở phương pháp luận của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và
quan điểm chỉ đạo của Đảng ta về nghiên cứu sử học
Phương pháp nghiên cứu: Trong quá trình tiến hành nghiên cứu đề tài, tác giả sử dụng hai phương pháp chính là phương pháp lịch sử và phương pháp logic Ngoài ra, còn sử dụng nhiều phương pháp khác như: sưu tầm, liệt
kê, phân tích, đối chiếu, so sánh, phương pháp liên ngành…
Trang 125 Đóng góp của đề tài
Khóa luận góp phần hệ thống hóa cơ sở lý luận và thực tiễn về hợp tác kinh tế quốc tế, hội nhập khu vực và tiểu vùng; tiến hành phân tích, đánh giá tổng quan về thực trạng hợp tác, nêu rõ vấn đề, định hướng của hợp tác kinh
tế của các nước ở Tiểu vùng sông Mê công từ năm 1992 - 2016
Khóa luận là tài liệu tham khảo phục vụ cho công việc giảng dạy và nghiên cứu về Tiểu vùng sông Mê Công Ngoài ra, nghiên cứu vấn đề này sẽ
bổ sung những tư liệu khi giảng dạy và nghiên cứu về lịch sử các quốc gia trong khu vực Đông Nam Á và Trung Quốc, cũng như lịch sử hợp tác phát triển kinh tế của vùng Bởi lẽ, trong khu vực Tiểu vùng sông Mê Công mở rộng có tới năm quốc gia thuộc khu vực Đông Nam Á là Việt Nam, Lào, Campuchia, Myanmar, Thái Lan, ngoài ra còn có Trung Quốc, một quốc gia láng giềng của các nước Tiểu vùng Mê Công và có sức ảnh hưởng khá lớn đối với Tiểu vùng
6 Bố cục của đề tài
Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo và phần phụ lục, đề tài
có cấu trúc gồm hai chương:
Chương 1: Những nhân tố tác động đến hợp tác kinh tế Tiểu vùng sông
Mê Công mở rộng
Chương 2: Hợp tác kinh tế Tiểu vùng sông Mê Công mở rộng từ năm
1992 - 2016
Trang 13Chương 1 NHỮNG NHÂN TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN HỢP TÁC KINH TẾ
TIỂU VÙNG SÔNG MÊ CÔNG MỞ RỘNG 1.1 Khái quát về Tiểu vùng sông Mê Công mở rộng
Sông Mê Công, là con sông lớn thứ mười hai trên thế giới, chảy qua 6
nước: Trung Quốc, Myanmar, Thái Lan, Lào, Campuchia và Việt Nam “Sông
Mê Công có chiều dài 4.200 km (phía lãnh thổ Trung Quốc, Myanmar dài
giữa các vùng, mùa khô dài ít nước, vùng Đông Bắc Thái Lan đất đai canh tác nhiều mà mưa ít, phía Trung Quốc diện tích lưu vực là vùng núi cao khe sâu, phía Lào và vùng Tây Nguyên Việt Nam mưa lớn đóng góp lượng nước lớn, phía Trung quốc và Lào tiềm năng thủy điện lớn” [9; tr.125]
Gần một nửa chiều dài con sông này chảy trên lãnh thổ Trung Quốc, phần lớn đoạn sông này chảy qua các dãy núi sâu và con sông này rời Trung Quốc khi độ cao chỉ còn khoảng 500m so với mực nước biển
Sau đó, đoạn sông Mê Công tạo thành biên giới giữa hai nước Myanmar
và Lào Tại điểm cuối của biên giới, con sông này hợp với nhánh sông Ruak tại Tam giác vàng (khu vực rừng núi hiểm trở nằm giữa biên giới ba nước Lào, Thái Lan, Myanmar) Điểm này cũng là điểm phân chia phần Thượng và phần Hạ của Mê Công
Sông Mê Công sau đó tạo thành biên giới của Lào và Thái Lan, trước khi dòng chảy chạy vào đất Lào (tỉnh Bokeo) Khoảng sông ở Lào đặc trưng bởi các hẻm núi sâu, các dòng chảy xiết và những vũng nước sâu khoảng nửa mét vào mùa khô
Sau đó, sông Mê Công chảy vào lãnh thổ Campuchia, tại đây con sông này có tên là sông Tông - Lê Thơm (sông lớn) Ở phía trên Phnôm Pênh nó hợp lưu với Tông-Lê Sáp, con sông nhánh chính của nó ở Campuchia
Trang 14Sông Mê Công tại Việt Nam, bắt đầu từ Phnôm Pênh, chia thành 2 nhánh: bên phải là sông Ba Thắc (sang Việt Nam gọi là Hậu Giang hay sông Hậu) và bên trái là Mê Công (sang Việt Nam gọi là Tiền Giang hay sông Tiền), cả hai đều chảy vào khu vực đồng bằng châu thổ rộng lớn ở Nam Bộ Việt Nam Tại Việt Nam, sông Mê Công còn có tên gọi là sông Lớn, sông Cái hay sông Cửu Long
Sông Mê Công mang lại nhiều lợi ích cho các quốc gia ven sông Sông
Mê Công có nguồn tài nguyên thiên nhiên rất phong phú, đa dạng, nó tạo điều kiện cho việc phát triển các ngành kinh tế như: phát triển giao thông, du lịch, nông nghiệp, ngư nghiệp và thủy điện để tiến hành khai thác hiệu quả các nguồn lợi do dòng sông mang lại, các quốc gia trong Tiểu vùng cần bắt tay hợp tác với nhau
Về địa hình: Tiểu vùng sông Mê Công có năm khu vực địa hình chính
đó là: vùng núi phía Bắc, cao nguyên Korat, vùng núi phía Đông, vùng đồng bằng và vùng cao phía Nam Mỗi khu vực mang những đặc điểm khác nhau Tuy nhiên, có đặc điểm chung là đều có tiềm năng phát triển nông nghiệp, vùng núi phía Bắc và vùng cao phía Nam hạn chế hơn do địa hình phức tạp,
có nhiều dãy núi cao nhưng tiềm năng thủy điện lớn và thích hợp phát triển lâm nghiệp, xây dựng các khu vực bảo tồn quốc gia
Tài nguyên đất: Hạ lưu sông Mê công chủ yếu phát triển nghề nông
nghiệp, gắn liền với các vụ mùa và hoa màu, cho nên đất là nguồn tài nguyên
quan trọng ở nơi đây “Ở hạ lưu sông Mê Công đã xác định được 29 loại đất
chủ yếu, các loại đất này có thể chia thành 8 nhóm: 4 nhóm vùng đất thấp và
4 nhóm vùng đất cao” [9; tr.28]
Các nhóm đất vùng thấp chủ yếu tập trung tại cao nguyên Korat và đồng bằng sông Mê Công, bao gồm các loại đất chính như: đất pha sét, đất bùn, đất mặn và được chia thành các nhóm đất: đất phức hợp ven biển, đất châu thổ, đất ở đồng bằng ngập lũ và đất phức hợp
Trang 15Nhóm đất phức hợp ven biển thường là đất pha sét, hơi chua, loại đất này thích hợp để trồng lúa nước, phát triển hoa màu và thủy sản Tuy nhiên, hằng năm do mực nước sông Mê Công tăng lên làm hiện tượng xâm nhập mặn ảnh hưởng đến việc sử dụng đất đai tại vùng đất này
Đất châu thổ, cũng giống như vùng đất ven biển chủ yếu là đất pha sét, tuy nhiên độ chua cao hơn so với vùng đất ven biển, nguyên nhân một phần do chế độ thủy văn của sông Mê Công, mặt khác do hệ thống tiêu nước không đảm bảo làm cho phèn chua tích đọng nhiều trong đất Ngoài ra đây còn là vùng đất bị nhiễm nhiều chất độc hại khác, cho nên việc phát triển hoa màu, lúa nước ở vùng này rất hạn chế, đất chủ yếu dùng cho mục tiêu khác như phát triển lâm nghiệp, đặc biệt là trồng cây tràm và phát triển nuôi trồng thủy sản
Ở đồng bằng ngập lũ chủ yếu là đất bồi pha sét, hơi chua và có độ phì nhiêu trung bình Nơi đây thích hợp cho các loại cây trồng cạn ở vùng đất cao không bị ngập lũ và tại các vùng đầm lầy có thể trồng lúa nước Tuy nhiên cần tăng cường hệ thống thoát nước và điều tiết lũ để tránh ảnh hưởng đến cấy trồng
Ngoài ra ở vùng đất thấp còn có các loại đất phức hợp hay đất bùn, loại đất này thích hợp cho cây lúa nhưng cần đảm bảo tưới tiêu và tăng độ phì nhiêu cho đất
Tại các vùng đất cao, chủ yếu là các loại đất potzon, đất đỏ và đen, đất
laterit và đất vùng núi “Đất potzon có hàm lượng sét và chất hữu cơ thấp
Chúng có khả năng ngập nước thấp, nhưng nếu được bón phân thì đảm bảo được năng suất ổn định Các loại đất đỏ và đen rất thích hợp với các loại cây trồng vùng cao như cao su, ngô và bông Đất laterit thường gặp tại các vùng trên cao nguyên Korat và đồng bằng Mê Công, loại đất này nằm ở các tầng nông và nói chung không thích hợp cho trồng trọt Các loại đất vùng núi phần lớn là đất nông, phát sinh từ các kết và đá phun trào có tính chua, tiềm năng nông nghiệp của chúng hạn chế, kể cả đối với du canh” [9; tr.30]
Trang 16Có thể thấy đất là tài nguyên quan trọng việc phát triển kinh tế, đặc biệt
là ngành nông nghiệp, lâm nghiệp tại vùng sông Mê Công Tuy nhiên do hàm lượng chất dinh dưỡng trong đất thấp, cộng với việc chịu ảnh hưởng của chế
độ thủy văn của sông Mê Công nên độ phèn, độ mặn tăng nhanh trong đất làm ảnh hưởng khá lớn đến sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp nơi đây Do đó, nó đòi hỏi các khu vực quanh sông Mê Công cần có những biện pháp thích hợp
để cải tạo đất Qua đây cho thấy, ngoài mặt lợi ích mang lại phù sa, nước tưới tiêu cho đất, sông Mê Công còn là nhân tố làm ảnh hưởng xấu đến phát triển nông nghiệp do làm tăng thêm độ chua, độ mặn trong đất, đó còn chưa kể tới việc gây lũ lụt, ngập úng ảnh hưởng đến hoa màu và người dân ven sông Nhưng không thể phủ nhận vai trò của con sông này trong phát triển kinh tế
Về khí hậu: Tiểu vùng sông Mê Công gồm các nước nằm trong khu vực
Đông Nam Á (trừ Trung Quốc), nơi đây chịu ảnh hưởng của khí hậu gió mùa, khí hậu thất thường, chế độ mưa phụ thuộc vào phương hướng địa lý của từng
khu vực “Dãy núi Tenaserim ở Myanmar và các núi ven biển thuộc Thái Lan và
Campuchia trực tiếp chắn ngang hướng gió mùa Tây Nam nên nhận được nhiều mưa tại phía sườn hướng ra biển, đồng thời che khuất đáng kể khu vực phía sau, nằm sâu trong đất liền Cũng như vậy các dãy núi duyên hải Việt Nam che khuất vùng châu thổ và đồng bằng miền trung Thái Lan trong thời kỳ gió mùa Đông Bắc” [9; tr.20] Lượng mưa trên toàn khu vực Mê Công tương đối nhiều nhưng
phân bố không đồng đều Lượng mưa hàng năm tập trung nhiều từ các tháng 5 đến tháng 10, đặc biệt là vào tháng 9 với lượng mưa là 299mm (17,9%) lượng mưa trong cả năm Tuy nhiên, do có lượng mưa lớn nên thiên tai lũ lụt thường xảy ra vào tháng 8 và tháng 9 hàng năm Các tháng có lượng mưa thấp nhất là từ tháng 12 đến tháng 2, với lượng mưa trung bình không quá 15mm Lượng mưa phân bố không đều, dẫn đến nhiều vùng xảy ra hạn hán, do đó sông Mê Công là nguồn cung cấp nước quan trọng cho các vùng
Trang 17Ngoài ra, các nguồn tài nguyên khác ở Tiểu vùng Mê Công cũng rất phong phú, đặc biệt là thảm thực vật và tài nguyên khoáng sản như than đá, dầu mỏ, khi đốt tự nhiên Các nhân tố tự nhiên kết hợp với điều kiện kinh tế
xã hội đã tác động mạnh mẽ đến sự phát triển kinh tế của vùng
1.2 Tiềm năng phát triển kinh tế của Tiểu vùng sông Mê Công
Tiểu vùng có tiềm năng lớn về phát triển kinh tế và hợp tác quốc tế
Thứ nhất về nguồn nhân lực là tiềm năng tiềm tàng của vùng, lực lượng
lao động của tiểu vùng chiếm hơn 50% tổng dân số, hiện chưa được khai thác tận dụng do tình trạng thất nghiệp và thiếu việc làm còn nghiêm trọng Chẳng hạn như, Việt Nam dân số trung bình năm 2016 của cả nước ước tính 92,70 triệu người, trong đó lực lượng lao động trong độ tuổi lao động tại thời điểm trên ước tính 47,5 triệu người Nhìn chung, Tiểu vùng có dân số trẻ và hàng năm có hơn 5 triệu nguời đến tuổi lao động, cho thấy Tiểu vùng đang có một nguồn lực lượng lao động dự bị hùng hậu và một nét chung về lực lượng lao động ở đây là có kỷ luật tốt, cần cù, nhẫn nại và có trình độ học vấn tương đối tốt
Dân số đông, cơ cấu dân số trẻ là một yếu tố quan trọng thu hút đầu tư trực tiếp của nước ngoài và xuất khẩu lao động Đây là một nhân tố quan trọng tạo tăng trưởng kinh tế cao liên tục trong thời kì phát triển kinh tế thị trường, tự do cạnh tranh và hội nhập Đây cũng là một lực lượng lao động dự
bị hùng hậu dành cho các doanh nghiệp mới và đang mở rộng
Về kinh tế, các nền kinh tế và chính sách phát triển kinh tế của các quốc gia thuộc Tiểu vùng Mê Công mở rộng đã và đang chuyển đổi theo cơ chế kinh tế thị trường tự do, hướng ngoại hội nhập với những mức độ khác nhau Chuyển dịch cơ cấu kinh tế phát triển kinh tế hàng hóa và dịch vụ, tăng tỷ trọng kinh tế công nghiệp và dịch vụ, giảm tỷ trọng kinh tế nông nghiệp trong GDP, thu hút đầu tư nước ngoài là kết quả nổi bật ở các nước này trong quá trình cải cách mở cửa Kinh tế đối ngoại phát triển theo hướng gắn kết thị
Trang 18trường ngoài nước, từng bước hạn chế tình trạng nhập siêu Các nước GMS
có giá trị trao đổi thương mại tiểu ngạch tăng nhanh, mậu dịch biên giới có xu hướng chiếm tỷ trọng cao trong tổng giá trị ngoại thương song phương giữa các nước ở Tiểu vùng
Tiềm năng về thủy điện của sông Mê Công và các nhánh sông của nó có
rất lớn, xếp thứ 10 thế giới về khối lượng nước và xếp thứ 12 về chiều dài Ước tính tiềm năng thủy điện của sông khoảng 1000 tỷ KWh/năm về sản lượng Trong đó, Lào và tỉnh Vân Nam (Trung Quốc) chiếm phần lớn nhất, tiếp đến là Myanmar, Thái Lan, Campuchia và Việt Nam Dọc theo dòng sông
và các nhánh của nó, có thể xây dựng hơn 100 nhà máy thủy điện vừa và nhỏ,
14 đập thủy điện đã và đang xây dựng trong lãnh thổ Vân Nam có công suất tổng cộng lên tới 20.000 MgW, lớn hơn nhà máy Tam Hiệp lớn nhất thế giới trên sông Dương Tử (Trung Quốc)
Ngoài Trung Quốc, thì Lào cũng có tiềm năng lớn về thủy điện và có thể xây dựng 60 nhà máy thủy điện với tổng công suất 18.000 megawatts, trong đó, Lào mới chỉ khai thác sử dụng được 1% Với dân số ít ỏi, địa hình núi xen kẽ với cao nguyên, Lào có điều kiện thuận lợi để xây dựng các đập thủy điện Nếu xuất khẩu được điện sang các nước láng giềng, Lào sẽ trở thành một nước giàu có Giáo sư Somkiat Osthsopha, một nhà kinh tế chính trị học tại trường đại học Chulalongkom và là một cố vấn của chính phủ Thái
Lan nói: “Tương lai Lào sẽ là nhà máy thủy điện của Đông Nam Á, sản xuất
điện cho Thái Lan và có thể cho cả Việt Nam Lào có thể giàu hơn Thái Lan
và tất cả các nước trong khu vực phải kính trọng bởi tầm quan trọng chiến lược của họ” [9; tr.62]
Trữ lượng than đá, nguồn hydro, các bon, dầu lửa, khí đốt tự nhiên khá lớn, được đánh giá bằng 100 lần mức tiêu dùng hàng năm hiện nay Phần lớn lượng dầu khí tìm thấy ở Việt Nam và Myanamar, than ở tỉnh Vân Nam (Trung
Trang 19Quốc) tạo điều kiện xây dựng và phát triển các nhà máy nhiệt điện Tuy nhiên việc khai thác sử dụng những nguồn năng lượng này còn ở mức thấp
Mức tiêu dùng điện năng bình quân đầu người của Tiểu vùng năm 2005
là 360 kwh/năm, bằng một phần nhỏ so với các nước công nghiệp Nhu cầu điện của Tiểu vùng sẽ tăng nhanh trong thời gian tới cùng với nhịp độ tăng trưởng kinh tế tương đối cao của Tiểu vùng Ước tính mức tiêu dùng điện năng năm 2020 của Tiểu vùng sẽ tăng gấp 6 lần năm 2005 Do đó việc phát triển mạnh mẽ hệ thống sản xuất và phân phối truyền tải điện trong Tiểu vùng là điều tất yếu, cần được xem xét kỹ lưỡng và đòi hỏi cần có sự hợp tác giữa các quốc gia với nhau để sử dụng hiệu quả tiềm năng điện năng của Tiểu vùng
Tiềm năng về sản xuất nông nghiệp, ngư nghiệp, lâm nghiệp vẫn còn
chiếm tỷ trọng lớn trong GDP ở Tiểu vùng Mê Công Trong đó, Thái Lan, Myanmar và Việt Nam là những quốc gia xuất khẩu gạo nhiều nhất thế giới
Sử dụng hợp lý và bền vững nước sông Mê Công sẽ giúp Tiểu vùng duy trì lượng xuất khẩu gạo, dẫn đầu thế giới và đảm bảo vững chắc về an ninh lương thực.Bộ công thương Thái Lan cho biết tính tới 14/12/2016 đã xuất khẩu 9,3 triệu tấn gạo, trị giá 146 tỷ baht (tương đương 4,07 tỷ USD), chủ yếu tới thị trường Trung Quốc và các quốc gia ở châu Phi Tuy nhiên, Thái Lan không giữ được vị trí dẫn đầu là quốc gia xuất khẩu gạo lớn nhất thế giới, và nhường ngôi vị cho Ấn Độ, xếp thứ ba là Việt Nam Ở Việt Nam, tính riêng
10 tháng đầu năm 2016, khối lượng gạo xuất khẩu ước đạt 4,2 triệu tấn, giá trị 1,9 tỷ USD, tuy nhiên giảm 21,2 % về khối lượng và giảm 16,9% về giá trị so với cùng kỳ năm 2015
Tiềm năng thủy sản tập trung ở Biển Hồ (Campuchia), biển Đông và
Vịnh Thái Lan.Tài nguyên rừng bao gồm rừng miền núi ở cả thượng lưu và hạ lưu, rừng ngập nước ở châu thổ và xung quanh Biển Hồ Diện tích rừng tuy lớn nhưng khai thác bừa bãi trong thời gian qua làm cho diện tích rừng giảm
Trang 20nhanh Vấn đề là phải bảo vệ và khai thác rừng tự nhiên một cách hợp lý, lâu dài kết hợp với trồng rừng, phủ xanh đất trống đồi trọc, đảm bảo hiệu quả kinh tế xã hội và phát triển bền vững
Sông Mê Công có tiềm năng vận tải đường thủy, tàu lớn từ của sông
Việt Nam có thể lên tới Phnômpênh, tàu nhỏ tới được Kratie Đoạn sông Luông Prabăng- Viên Chăn- Savanakhet có thể đi tàu nhỏ, nối với đường 9 sang Việt Nam và thông ra biển Đông, là đường ra biển ngắn nhất của Lào và vùng Đông Bắc Thái Lan
Tiềm năng du lịch của Tiểu vùng cũng rất đáng kể, nhờ di sản văn hóa
phong phú và hình thái tự nhiên đa dạng Đây là khu vực có nhiều cảnh quan thiên nhiên, di tích lịch sử - văn hóa được công nhận là di sản thế giới Về văn hóa, mặc dù cùng chịu ảnh hưởng của hai nền văn hóa lớn liền kề là văn hóa Trung Hoa và Ấn Độ, nhưng trong quá trình phát triển mỗi nước đều có một bản sắc dân tộc riêng Chính điều này đã tạo cho tiểu khu vực sự đa dạng về văn hóa nhưng vẫn có những điểm tương đồng nhất định
Tiểu vùng thực sự thu được những lợi ích đáng kể từ lĩnh vực du lịch này Tiểu vùng không những có điều kiện phát triển những hình thức du lịch truyền thống mà còn cả các hình thức du lịch sinh thái Hiện nay, Thái Lan có năm di sản thế giới trong đó có 3 di sản văn hóa và 2 di sản thiên nhiên, như Cố
đô Ayutthaya được UNESCO công nhận là di sản văn hóa thế giới năm 1991 hay Khu vực khảo cổ Ban Chiang được công nhận năm 1992 Ngoài Thái Lan thì các nước khác trong Tiểu vùng cũng đạt được nhiều thành tựu trong lĩnh vực du lịch, nhiều di sản văn hóa được UNESCO công nhận, điển hình như ở Việt Nam có Vịnh Hạ Long, Vườn Quốc Gia Phong Nha - Kẻ Bàng
Với những tiềm năng trên, các nước trong Tiểu vùng sông Mê Công mở rộng hoàn toàn có khả năng phát triển kinh tế hơn nữa, tạo điều kiện hợp tác, liên kết với nhau cùng phát triển
Trang 211.3 Nhu cầu hợp tác kinh tế của các nước tiểu vùng sông Mê Công mở rộng
Hợp tác phát triển kinh tế là một vấn đề thiết yếu, cần được quan tâm trên tất cả các quốc gia trên thế giới trong bối cảnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế như ngày nay Xu thế toàn cầu hóa đã khiến các quốc gia, các dân tộc tăng cường tính phụ thuộc vào nhau và không một quốc gia nào có thể phát triển một cách độc lập mà không có sự bắt tay hợp tác với các quốc gia khác, kể cả các siêu cường có nền kinh tế, chính trị mạnh
Hiện nay, có rất nhiều các tổ chức hợp tác quốc tế mang tính khu vực, tiến hành hợp tác phát triển trên tất cả các lĩnh vực như: kinh tế, văn hóa, chính trị, quân sự Điển hình là tổ chức Liên Minh Châu Âu (EU) thành lập năm 1993, tổ chức Diễn đàn hợp tác kinh tế Châu Á - Thái Bình Dương (APEC) thành lập năm 1989, hay tổ chức Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN) thành lập năm 1867, ngoài ra còn nhiều các tổ chức hợp tác quốc tế khác Như vậy có thể thấy nhu cầu hợp tác phát triển là một vấn đề đang được các nước phát triển, đang phát triển trên thế giới quan tâm tiến hành
“Hợp tác quốc tế phát triển Tiểu vùng sông Mê Công được bắt đầu từ
năm 1957 khi Ủy ban kinh tế của Liên Hợp Quốc về Châu Á và vùng Viễn Đông (ECAFE) thành lập Ủy ban Mê Công gồm bốn nước thành viên là Campuchia, Lào, Thái Lan và miền Nam Việt Nam” [10; tr.17] Như vậy, ngay trong thời kỳ
chiến tranh chống đế quốc xâm lược, các nước Tiểu vùng Mê Công đã nhận thức được vai trò, ý nghĩa của sự hợp tác quốc tế Tuy nhiên, do chiến tranh diễn ra triền miên nên các mục tiêu đề ra đã không đạt được
Trải qua một thời gian dài trong chiến tranh và xung đột (trừ Thái Lan) thì không một nước nào có đủ điều kiện để khai thác và phát huy tiềm năng của mình để phát triển Kinh tế kém phát triển, nền chính trị đang được củng
cố lại, cơ sở hạ tầng giao thông vận tải, điện lực, thông tin liên lạc bị chiến tranh phá hủy nghiêm trọng Có thể thấy, các quốc gia trong Tiểu vùng Mê
Trang 22Công trong thời kỳ chiến tranh không theo kịp sự phát triển cực kỳ năng động của khu vực Châu Á- Thái Bình Dương
Bắt đầu từ năm 1990 trở đi, tình hình đã được thay đổi, các quốc gia thuộc Tiểu vùng Mê Công (đặc biệt là Việt Nam, Myanmar, Lào, Campuchia)
đã tập trung vào phát triển kinh tế - xã hội Các nước trong Tiểu vùng Mê Công lần lượt trở thành thành viên chính thức của Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN): Việt Nam (1995), Lào (1997), Myanmar (1997), Vương quốc Campuchia (1999), các nước này nhận được sự giúp đỡ của các quốc gia trong và ngoài ASEAN
Đặc biệt, các quốc gia trong Tiểu vùng ngày càng nhận thức sâu sắc rằng phải phối hợp và tăng cường liên kết, hợp tác với nhau thì mới có thể khai thác, sử dụng có lợi nhất, có hiệu quả các tiềm năng to lớn của Tiểu vùng
về nhân lực, thủy điện, trữ lượng khoáng sản, tài nguyên nước, thủy sản, du lịch… bảo vệ tốt môi trường và phát triển bền vững Chung nhau khai thác dòng sông và các tài nguyên đa dạng gắn kết với nhau thành một khối, các nền kinh tế trong Tiểu vùng nếu không hợp tác thì không những không sử dụng có hiệu quả và lâu bền các nguồn lực của mình mà còn có nguy cơ động chạm đến lợi ích của nhau Hợp tác Tiểu vùng mở ra một thời kỳ mới cho xây dựng cuộc sống phồn vinh giàu có cho tất cả các quốc gia trong Tiểu vùng
Ngoài ra, ngày nay một quốc gia không thể chỉ dựa vào nội lực để phát triển kinh tế do nguồn lực của từng nước chỉ có hạn và không toàn diện Các nước GMS tuy có nhiều đặc điểm tương đồng song cũng có nhiều nét đặc thù riêng về địa hình, đất đai, tài nguyên, điều kiện khí hậu, văn hóa, xã hội và lịch sử Do vậy, mỗi nước GMS đều có những lợi thế so sánh riêng Hợp tác với các quốc gia khác sẽ góp phần phát huy lợi thế so sánh của từng nước cũng như tận dụng các ưu thế của bên ngoài Hợp tác kinh tế sẽ tạo ra thị trường rộng lớn hơn, ít rào cản hơn, điều kiện ưu đãi tốt hơn cho các nước
Trang 23trong Tiểu vùng Đây sẽ là một trong những giải pháp để thu hút đầu tư, vốn vay và viện trợ từ bên ngoài, sự thống nhất trong các chương trình hành động chung của Tiểu vùng cũng sẽ tạo điều kiện thuận lợi trong việc đầu tư các dự
án liên quốc gia
Nhận thức thấy điều đó và để phát triển kinh tế Tiểu vùng sông Mê Công, năm 1992 Ngân hàng phát triển Châu Á (ADB) đã đề xuất sáng kiến Hợp tác phát triển Tiểu vùng Mê Công mở rộng gồm: Lào, Myanmar, Thái Lan, Campuchia, Việt Nam và tỉnh Vân Nam và năm 2001 thêm tỉnh Quảng Tây (Trung Quốc) Ngân hàng phát triển Châu Á cho rằng hợp tác kinh tế GMS dựa trên các yếu tố: Các nước GMS có đường biên giới liền kề; có nhiều nét tương đồng thể hiện ở chỗ xuất phát điểm có nền kinh tế, xã hội thấp, tương đương ở mức các quốc gia nghèo; cơ sở hạ tầng kém phát triển; thiếu vốn, công nghệ và kinh nghiệm quản lý hiện đại; thiếu cán bộ được đào tạo tốt; thị trường rộng lớn, tiềm năng phát triển cũng nhiều và bảo vệ môi trường là yêu cầu chung của các quốc gia Tiểu vùng
Ngân hàng phát triển Châu Á đã tiến hành nhiều hoạt động hỗ trợ kỹ thuật để phát triển các nước trong Tiểu vùng như tài trợ các dự án về năng
lượng thủy điện cho Lào và Thái Lan, “giúp Lào mở rộng sản xuất điện năng
để có thể cung cấp phần dư thừa sang Thái Lan, đồng thời tài trợ xây dựng các đường truyền tải ở Thái Lan để có thể “hấp thu” phần điện năng được cung cấp Nguồn tài trợ của Ngân hành một mặt đã giúp Lào có được nguồn thu ngoại tệ kể từ việc xuất khẩu điện sang Thái Lan, mặt khác giúp Thái Lan thỏa mãn được một phần nhu cầu thiếu hụt về năng lượng” [9; tr.71] Ngoài
ra ADB còn đầu tư xây dựng các tuyến đường giao thông nối khác khu vực trong Tiểu vùng với nhau, điển hình là xây dựng cây cầu bắc qua sông Mê Công nối liền hai nước Lào và Thái Lan
Để thúc đẩy hơn nữa sự phát triển kinh tế của các quốc gia trong Tiểu vùng sông Mê Công mở rộng, Ngân hàng phát triển Châu Á (ADB) đề ra
Trang 24chương trình hợp tác Tiểu vùng Mê Công mở rộng (GMS) và được tiến hành qua năm giai đoạn
Giai đoạn I: kéo dài từ tháng 8 năm 1992 đến tháng 5 năm 1993 là giai đoạn bắt đầu triển khai sáng kiến hợp tác kinh tế vùng Mê Công mở rộng
Giai đoạn II: là giai đoạn kéo dài từ tháng 6 năm 1993 đến đầu năm
1995 là giai đoạn tiến hành các hoạt động đánh giá và chuẩn bị các dự án tiểu vùng ưu
Giai đoạn III: kéo dài từ tháng 7 năm 1996 - 2000 là giai đoạn thực hiện
dự án
Giai đoạn IV: kéo dài từ đầu năm 2000 - 2002 là giai đoạn hợp tác kinh
tế GMS đã đi vào giai đoạn ổn định và phát triển
Giai đoạn V: kéo dài từ năm 2002 đến nay là giai đoạn thực hiện chiến lược hợp tác Tiểu vùng mười năm 2002 - 2012 và thực hiện kế hoạch hợp tác trong các năm tiếp theo
Trong giai đoạn I, “bao gồm các cuộc tham khảo ý kiến giữa 1 đoàn
nghiên cứu của Ngân hàng và từng quốc gia liên quan, chuẩn bị một văn kiện
dự thảo về khuôn khổ hợp tác kinh tế Tiểu vùng Cũng trong khuôn khổ giai đoạn I, một cuộc hội nghị, được coi là Hội nghị lần thứ nhất về Hợp tác kinh
tế Tiểu vùng đã được tiến hành trong hai ngày 20 và 21/10/1992, dưới sự bảo trợ của Ngân hàng ADB, để thảo luận các kết quả tham khảo ý kiến và xác định công việc cần tiến hành trong giai đoạn II, đồng thời công bố các kết quả của giai đoạn I” [9; tr.72]
Giai đoạn II của chương trình hợp tác Tiểu vùng Mê Công mở rộng,
bao gồm các nội dung “đoàn nghiên cứu của Ngân hàng tiếp tục tham khảo ý
kiến của Chính phủ các nước; tiến hành đánh giá một loạt các dự án ưu tiên trong lĩnh vực vận tải và năng lượng; xây dựng các kế hoạch tổng hợp về giao thông vận tải, năng lượng, môi trường, phát triển nguồn nhân lực,
Trang 25thương mại, hoạt động đầu tư và du lịch, trong đó sẽ xác định các lĩnh vực cụ thể cần xúc tiến hợp tác Tiểu vùng” [9; tr.73]
Trong khuôn khổ của giai đoạn II cũng đã diễn ra nhiều hội nghị quan trọng của Ngân hàng ADB, như các Hội nghị hợp tác kinh tế Tiểu vùng lần thứ hai vào tháng 8/1993, tiếp đó đến Hội nghị lần thứ ba ở Hà Nội từ ngày
20 - 23/4/1994 và Hội nghị lần thứ 4 tại Chiềng Mai (Thái Lan) từ ngày 15 - 16/9/1994 Nhìn chung các nước GMS đều ủng hộ chương trình hợp tác do Ngân hàng ADB đề ra và sẵn sàng bắt tay với các nước khác trong Tiểu vùng
Giai đoạn III từ tháng 7/1996 các nước GMS bắt tay vào thực hiện các chương trình hợp tác, trong đó bao gồm mười lĩnh vực mà Ngân hàng ADB
đã đề ra, bao gồm: Cơ sở hạ tầng- giao thông vận tải; năng lương; bưu chính viễn thông; du lịch; thương mại và đầu tư; phát triển nguồn nhân lực; môi trường; quản lý nguồn nước; nông nghiệp và phát triển nông thôn Trong đó lĩnh vực được ưu tiên phát triển bao gồm giao thông vận tải, du lịch, năng lượng, nguồn nhân lực, thương mại và đầu tư Đầu tiên trọng tâm sẽ hướng vào các dự án nhằm nâng cao hoạt động liên kết kinh tế, đặc biệt trên lĩnh vực
cơ sở hạ tầng và năng lượng
Từ giai đoạn IV năm 2000 trở đi, chương trình hợp tác đi vào ổn định, phát triển và đạt được nhiều kết quả lớn trên tất cả các lĩnh vực, các nước trong Tiểu vùng ngày càng tăng cường hợp tác với nhau và mở rộng ra bên ngoài
Các nước trong GMS ủng hộ sáng kiến hợp tác kinh tế trong GMS do ADB đề xuất vì nhận thấy sáng kiến hợp tác này toàn phù hợp với xu thế toàn cầu hóa, khu vực hóa đang diễn ra hiện nay Hợp tác kinh tế GMS giúp các nước Tiểu vùng Mê Công phát huy được các thành quả sáng kiến hợp tác khác, nâng cấp và phát triển mới cơ sở hạ tầng kinh tế, lấp được chỗ trống mà các sáng kiến hợp tác khác chưa đề cập đến Để hỗ trợ nhau phát triển cùng có lợi thì việc hợp tác phát triển không thể nằm ngoài xu hướng của các quốc
Trang 26gia Có thể nói việc thành lập chương trình hợp tác Tiểu vùng sông Mê Công (GMS) là một chiến lược hợp tác đúng đắn của các nước trong Tiểu vùng và không thể phủ nhận vai trò của Ngân hàng phát triển Châu Á (ADB)
*Tiểu kết chương 1
Sông Mê Công bắt nguồn từ Trung Quốc và chảy ra năm nước Thái Lan, Myanmar, Campuchia, Lào và Việt Nam rồi chảy ra biển Đông, dòng sông là một nguồn tài nguyên quý giá và được sáu quốc gia có chủ quyền chia
sẻ lợi ích Trước đây, các nhu cầu về hàng hóa và dịch vụ của địa phương và quốc gia thường được thỏa mãn bằng các tài nguyên có sẵn Các hoạt động phát triển thường ở mức độ không làm biến đổi đáng kể hệ sinh thái và nền kinh tế của vùng
Hiện nay, tiềm năng của hệ thống sông Mê Công trước các nhu cầu khai thác phát triển tài nguyên và kinh tế của vùng đã làm gia tăng yêu cầu cần phải xem xét các phương án phát triển khác nhau trong Tiểu vùng Tiểu vùng Mê Công mở rộng với sáu quốc gia có mối quan hệ mật thiết với nhau: Trung Quốc, Thái Lan, Myanmar, Lào, Campuchia, Việt Nam Các quốc gia này nhận thấy cần phải phối hợp và liên kết, hợp tác với nhau thì mới có thể khai thác, sử dụng có hiệu quả các tiềm năng to lớn của Tiểu vùng về nhân lực, thủy điện, trữ lượng khoáng sản, tài nguyên nước, thủy sản, du lịch… bảo
vệ tốt môi trường và phát triển bền vững
Ngoài ra, các nước Tiểu vùng Mê Công mở rộng nhận thấy cùng chung nhau khai thác dòng sông và các tài nguyên đa dạng gắn kết với nhau thành một khối, các nền kinh tế trong Tiểu vùng nếu không hợp tác thì không những không sử dụng có hiệu quả và lâu bền các nguồn lực của mình mà còn có nguy
cơ động chạm đến lợi ích của nhau Do đó, Tiểu vùng đã tiến hành bắt tay với nhau xây dựng Chương trình hợp tác kinh tế Tiểu vùng sông Mê Công mở rộng (GMS) dưới sự ủng hộ và giúp đỡ của Ngân hành phát triển Châu Á (ADB)
Trang 27Chương trình hợp tác phát triển kinh tế Tiểu vùng Mê Công mở rộng do Ngân hành phát triển Châu Á đề xuấtbao gồm 10 lĩnh vực là: Giao thông tận tải; Năng lượng; Môi trường; Du lịch; Bưu chính Viễn thông; Thương mại; Đầu tư; Phát triển Nguồn nhân lực; Nông nghiệp và Phát triển nông thôn và Quản lý nguồn nước Sáng kiến hợp tác này được các nước trong Tiểu vùng
Mê Công mở rộng đồng ý và phối hợp với nhau thực hiện hiệu quả với việc
đề ra các mục tiêu và nguyên tắc hợp tác của Tiểu vùng, cùng như các Chương trình hợp tác trên các mặt mà các quốc gia đề ra để cùng thực hiện Trong đề tài nguyên cứu này, tác giả tập trung vào các lĩnh vực cơ sở hạ tầng- giao thông vận tải, năng lượng, du lịch và đầu tư thương mại, phát triển nguồn nhân lực và môi trường và tài nguyên thiên nhiên, vì đây là những lĩnh vực được ưu tiên phát triển, đặc biệt là giao thông vận tải và năng lượng
Trang 28Chương 2 HỢP TÁC KINH TẾ TIỂU VÙNG SÔNG MÊ CÔNG MỞ RỘNG (1992
- 2016)
2.1 Mục tiêu và nguyên tắc hợp tác của Tiểu vùng sông Mê Công mở rộng
Để hình thành và phát triển thì GMS đã đề ra những nguyên tắc hoạt động, ngoài nguyên tắc chung là nguyên tắc bình đẳng và tôn trọng lẫn nhau Tại Hội nghị Bộ trưởng GMS lần thứ ba tại Hà Nội từ ngày 20 đến 23/4/1994, các Bộ Trưởng của các nước thành viên đã thông qua 6 nguyên tắc cụ thể
trong khuôn khổ hợp tác GMS “Một là: Hợp tác GMS phải tạo điều kiện duy
trì tăng cường kinh tế và nâng cao mức sống của nhân dân trong Tiểu vùng Các chương trình và dự án GMS cần phản ánh sự cân bằng giữa tăng trưởng kinh tế, phát triển nguồn nhân lực, xóa đói giảm nghèo và bảo vệ môi trường Hai là: Các dự án có thể thu hút một số quốc gia trong Tiểu vùng và không nhất thiết phải bao gồm cả 6 nước Các thỏa thuận song phương trong Tiểu vùng là bộ phận cấu thành của hợp tác Tiểu vùng Ba là: Việc cải tạo hoặc khôi phục những cơ sở hiện có được ưu tiên cao hơn việc xây dựng những cơ
sở mới Bốn là: Khuyến khích tài trợ cho các dự án Tiểu vùng từ nguồn vốn Chính phủ và tư nhân Năm là: Các nước thành viên Tiểu vùng cần thường xuyên gặp gỡ trao đổi để duy trì động lực thúc đẩy tiến trình hợp tác phát triển Sáu là: Các dự án hợp tác sẽ không làm tổn hại lợi ích của bất kỳ quốc gia nào, bất kể lợi ích hiện có hoặc sẽ có trong tương lai” [10; tr.25] Các
nguyên tắc hoạt động được xây dựng trên cơ sở nhất trí của các nước thành viên, nhằm mang lại lợi ích cho toàn bộ các quốc gia trong Tiểu vùng
Tại Hội nghị các Bộ trưởng cũng đã nhất trí thông qua cơ chế hoạt động của GMS, bao gồm: Hội nghị cấp cao GMS (Hội nghị Thượng đỉnh cứ 3 năm
tổ chức một lần), Hội nghị cấp Bộ trưởng, Diễn đàn ngành và Nhóm công tác,
Ủy ban điều phối quốc gia GMS và Ban thứ ký
Trang 29Hội nghị cấp cao GMS: “là cấp hoạch định chính sách của GMS, thay
mặt chính phủ các nước thành viên quyết định các chủ trương, chính sách, thông qua các sáng kiến hợp tác mới, cam kết các thảo thuận và kế hoạch hành động của Chương trình; thực hiện đối thoại với các nhà đầu tư quốc tế”
[10; tr.26] Cho đến nay, GMS đã tổ chức thành công 5 hội nghị cấp cao và 21 hội nghị bộ trưởng Lần thứ nhất được tổ chức tại Campuchia (2002), lần thứ
2 tại Vân Nam- Trung Quốc (2005), lần thứ 3 tổ chức tại Lào (2008), lần thứ
4 tại Myanmar (2011) và mới đây nhất là Hội nghị Thượng đỉnh GMS lần thứ
tướng các nước: Việt Nam, Lào, Campuchia, Thái Lan, Trung Quốc; Tổng thống Myanmar và Chủ tịch Ngân hàng Phát triển châu Á
Tại Hội nghị Thượng đỉnh GMS lần thứ 5, các bên đã ra Tuyên bố
thảo luận các nội dung về tình hình triển khai hợp tác GMS kể từ sau Hội nghị Thượng đỉnh GMS 4 (Myanmar, tháng 12/2011), những thách thức mà Tiểu vùng Mê Công đang phải đối mặt, cũng như phương hướng thúc đẩy hợp tác thời gian tới nhằm phát triển bền vững và bao trùm khu vực Mê Công Kết thúc Hội nghị đã thông qua Tuyên bố chung gồm 30 điểm và nhất trí tổ chức Hội nghị Thượng đỉnh GMS lần 6 tại Việt Nam vào năm 2017
Hội nghị cấp Bộ trưởng: Họp mỗi năm một lần để thông qua các chủ trương, chính sách phát triển do Hội nghị cấp cao GMS đề ra Tại Hội nghị cấp Bộ trưởng lần thứ 20 của GMS tổ chức tại Nay Pyi Taw, Myanmar vào
ngày 9/9/2015 với chủ đề “Hãy hành động vì phát triển đồng đều và bền vững
của GMS" Hội nghị nhằm tìm kiếm cách thức đẩy mạnh đầu tư và phát triển
hạ tầng Trong chương trình Hội nghị, bên cạnh các cuộc họp cấp cao, các bộ trưởng GMS sẽ có cuộc họp với các đối tác phát triển Các cuộc thảo luận tập trung vào các vấn đề về thách thức và cơ hội trong khuôn khổ Chương trình
Trang 30hợp tác GMS và các mục tiêu phát triển bền vững quan trọng của khu vực và
hợp tác kinh tế các nước Tiểu vùng sông Mê Công mở rộng (GMS) ngày 1/12/2016 diễn ra tại Chiềng - Mai, Thái Lan, với sự tham gia của Phó Chủ tịch Ngân hàng Phát triển châu Á (ADB), quan chức Chính phủ cấp Bộ
trưởng các nước thành viên GMS Chủ để của Hội nghị lần này là "Thúc đẩy
tăng trưởng bao dung dọc hành lang kinh tế các nước GMS"
Diễn đàn ngành và Nhóm công tác: Hiện tại, trong khuôn khổ hợp tác GMS có 3 diễn đàn chính thuộc ngành là về giao thông vận tải, năng lượng và bưu chính viễn thông Cùng với các diễn đàn ngành, GMS cũng đã hình thành
4 nhóm công tác là: Nhóm công tác về hợp tác thương mại và hoạt động đầu tư; Nhóm công tác về hợp tác phát triển nguồn nhân lực; Nhóm công tác về hợp tác phát triển về du lịch và Nhóm công tác về quản lý môi trường và tài nguyên thiên nhiên Các diễn đàn ngành được tiến hành ở cấp người đứng đầu ngành (thường là các Bộ trưởng chuyên ngành) của các nước thành viên Diễn đàn ngành và nhóm công tác có nhiệm vụ triển khai các quyết định của Hội nghị cấp cao; nghiên cứu tư vấn và kiến nghị chương trình hợp tác trong lĩnh vực của mình lên Hội nghị cấp cao
Ủy ban điều phối quốc gia GMS: Mỗi thành viên thành lập Ủy ban điều phối quốc gia về hợp tác Tiểu vùng Mê công mở rộng của riêng mình Đây là
tổ chức đầu mối của sự hợp tác nhằm gắn liền các Chính phủ thành viên với toàn bộ GMS Ngoài ra, Ủy ban điều phối quốc gia GMS có chức năng trực tiếp tham mưu cho Chính phủ trong các hoạt động hợp tác của GMS
Ban thư ký: Ngân hàng phát triển Châu Á (ADB) cho đến nay vẫn đóng vai trò là Ban thư ký của GMS với chức năng chủ yếu là điều phối chung các hoạt động của GMS Tại Hội nghị Thượng đỉnh GMS lần 5 năm 2014 tại Thái Lan, đã đề ra Ban thư ký quốc gia GMS cần có vai trò lớn hơn để thực hiện và
Trang 31phát huy những thành tựu của GMS, cũng như đáp ứng các thách thức mới trong tương lai Đồng thời ghi nhận và đánh giá cao ADB với các vai trò thư
ký, điều phối viên và nhà tài trợ chính cho GMS
Trong quá trình hoạt động nhiều cơ chế hợp tác trong GMS được hình thành như các diễn đàn hợp tác về ngành năng lượng, giao thông vận tải, bưu chính viễn thông, du lịch Các diễn đàn này được tổ chức luân phiên ở các quốc gia thành viên, được tổ chức hàng năm hoặc theo lịch trình hoạt động
của mỗi ngành Đặc biệt các nước tham gia đã đưa ra các “khung chiến lược
trung hạn” và xác định khuôn khổ của các dự án lớn để hợp tác trong GMS,
điển hình như Khung chiến lược hợp tác (2002 - 2012) được thông qua tại Hội nghị thượng đỉnh lần thứ nhất tại Campuchia (2002), Khung chiến lược GMS (2012 - 2022) thông qua tại Naypyitaw năm 2011 và đặc biệt là Khung đầu tư GMS (RIF) thông qua tại Hội nghị Bộ trưởng GMS lần thứ 19 năm
2013 Cùng với các hoạt động trên, từ năm 1998 các nước tham gia GMS đã thông qua các dự án hợp tác lớn cho từng vùng, tuyến hành lang kinh tế như hành lang kinh tế Bắc- Nam (NSEC), hành lang kinh tế Đông - Tây (EWEC), hành lang kinh tế phía Nam (SEC) và đã đưa ra các lĩnh vực chính ưu tiên hợp tác như: giao thông vận tải, năng lượng, du lịch và đầu tư thương mại, phát triển nguồn nhân lực, môi trường và tài nguyên thiên nhiên, nông nghiệp
và phát triển nông thôn Cùng với đó, các nước tham gia năm 1999 đã ký nhiều Hiệp định GMS về thủ tục hải quan, về vận chuyển người và hàng hóa qua biên giới, về du lịch, về phát triển cơ sở hạ tầng, du lịch các quyết định đều được các nước tham gia GMS nhất trí
2.2 Chương trình hợp tác
2.2.1 Cơ sở hạ tầng - giao thông vận tải
Đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng có ý nghĩa quan trọng đối với các quốc gia, bỡi lẽ nó sẽ thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, làm tăng sức cạnh tranh của nền
Trang 32kinh tế, thúc đẩy thương mại giữa các quốc gia và qua đó làm tăng sự thịnh vượng chung Tác động lớn nhất của đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng trong GMS là trực tiếp làm giảm chi phí thương mại, giảm thời gian vận chuyển hàng hóa, làm tăng cơ hội cho các quốc gia tham gia hợp tác quan hệ kinh tế trong và ngoài khu vực
Giao thông Tiểu vùng Mê Công khá lạc hậu, chủ yếu là đường bộ nhưng mật độ thấp, chất lượng kém, khả năng lưu thông hạn chế Bên cạnh đó vùng lưu vực sông Mê Công các nước đều là khu vực đông dân cư, lại có giao thông không thuận lợi, kinh tế kém phát triển, do đó phát triển giao thông là
vô cùng cấp bách và là một trong những lĩnh vực được ưu tiên hàng đầu Cơ
sở hạ tầng của Tiểu vùng sông Mê Công mở rộng cho đến nay vẫn mang tính quốc gia và còn chưa được hiện đại hóa, mặc dù đã có ý tưởng và cả kế hoạch
về xây dựng các tuyến đường xuyên Á, nhưng tốc độ phát triển chậm và mức
độ hiện đại hóa thấp
Do đó hợp tác GMS trong hội nghị lần thứ hai năm 1993, đã đưa ra một bản quy hoạch tổng thể cho một hệ thống giao thông vận tải chung cho cả khu vực trên các khía cạnh cả giao thông đường bộ, đường thủy, đường sắt, vận tải hàng không Hội nghị lần thứ ba (năm 1994) đã xem xét lại các dự án, kế hoạch đề ra và tiến hành đầu tư
Trên lĩnh vực đường bộ, Hội nghị thống nhất những dự án giao thông
đường bộ có mức độ ưu tiên cao là: “Dự án tuyến đường Băng Cốc- Phnôm
Pênh - TP Hồ Chí Minh - Vũng Tàu; dự án tuyến hành lang Đông - Tây nối Thái Lan - Lào - Việt Nam; dự án nâng cấp tuyến đường nối Chiang Rai (Thái Lan) với Côn Minh (Trung Quốc), qua lãnh thổ Myanmar và qua lãnh thổ Lào
và dự án nâng cấp tuyến đường Côn Minh - Lashio (Myanmar)”[10; tr.28]
Ngoài ra, GMS còn quan tâm nâng cấp các tuyến đường bộ quan trọng khác
như: “Dự án nâng cấp tuyến đường Côn Minh - Hà Nội, dự án nâng cấp hệ
Trang 33thống đường nối liền tỉnh Vân Nam với Lào và Việt Nam, cũng như nối Thái Lan với Nam Lào, Campuchia và miền Trung Việt Nam (với cảng biển Quy Nhơn) được phê chuẩn cho tiếp tục tiến hành nghiên cứu” [9; tr.84]
Đặc biệt quan trọng trong chiến lược ngành giao thông Tiểu vùng Mê Công mở rộng (2006 - 2015) là đã xác định ra chín hàng lang đường bộ (hành lang phía Bắc, phía Đông, trung tâm, phía Tây, phía Nam, hành lang Bắc- Nam, Đông- Tây, Đông- Bắc, ven biển phía Nam), hình thành nên mạng lưới kết nối giao thông của Tiểu vùng Các hành lang này là cơ sở để phát triển các
“hành lang kinh tế” kết hợp giữa phát triển hạ tầng với thương mại, đầu tư và
các cơ hội kinh tế khác trong các địa bàn địa lý cụ thể Trong đó quan trọng nhất là Hành lang kinh tế Ðông - Tây (EWEC) dài 1.450 km là con đường giao thông huyết mạch đầu tiên chạy qua 13 tỉnh của 4 nước thuộc GMS bắt đầu từ thành phố cảng Mao-la-mi-in của Myanmar chạy qua Thái Lan, Lào đến Việt Nam; Hành lang kinh tế Bắc-Nam (NSEC) gồm ba tuyến dọc theo trục Bắc-Nam là Côn Minh - Chiềng Rai - Băng Cốc, Côn Minh - Hà Nội - Hải Phòng và Nam Ninh - Hà Nội; Hành lang kinh tế phía Nam (SEC) gồm ba tuyến đường nối phía nam Thái Lan qua Campuchia với Việt Nam Hàng lang kinh tế Đông - Tây là một trong những trụ cột của khuôn khổ hợp tác phát triển khu vực sông Mê Công
Trong lĩnh vực đường sắt, Hội nghị lần thứ 3 đã xem xét tám dự án vận
tải đường sắt và hội nghị đi đến nhất trí xem xét các dự án: đường sắt Thái Lan - Campuchia, đường sắt Vân Nam - Việt Nam, đường sắt Vân Nam - Thái Lan Để thực hiện các dự án này, các chuyên gia phải tiến hành đàm phán với tất cả các quốc gia liên quan đến dự án về vấn đề đầu tư, đồng thời phải đánh giá kỹ lưỡng hiệu quả và lợi ích của dự án Dự án xây dựng tuyến đường sắt xuyên Á từ Côn Minh (Trung Quốc) đến Singapore đã được các nước cam kết tham gia nghiên cứu lập dự án từ năm 2008 và tuyến đường sắt
Trang 34miền Nam Campuchia từ Phnôm Pênh đến Sihanoukville đã hoàn thành phục phụ giao thông và thương mại từ tháng 12/2012 Các nước GMS đã ký thành lập Hiệp hội đường sắt GMS (GMRA) và Ngân hàng phát triển Châu Á (ADB) tiếp tục hỗ trợ kỹ thuật cho tổ chức này
Tại Hội nghị Bộ trưởng các nước GMS diễn ra ngày 20/8/2010 tại Hà Nội, với sự tham gia của Bộ trưởng các nước GMS Campuchia, Lào, Myanmar, Thái Lan, Việt Nam và Trung Quốc đã phê chuẩn và ra tuyên bố chung về dự án đường sắt xuyên quốc gia kết nối 300 triệu dân sống quanh dòng sông Mê Công Trong chiến lược phát triển dự án đường sắt xuyên quốc gia của GMS, 4 phương án được các nướcđưa ra bàn bạc như sau:
Đường sắt Băng Cốc (Thái Lan) - Phnôm Pênh (Campuchia) - TP.Hồ Chí Minh ngược lên Hà Nội đi Lào Cai (Việt Nam) - Côn Minh (Trung Quốc)
và tuyến đường sắt kết nối riêng của các nước
Tuyến đường sắt Côn Minh - Viêng Chăn (Lào) - Phnom Pênh - Băng Cốc - TP Hồ Chí Minh và tuyến đường sắt kết nối riêng của các nước
Tuyến đường sắt nối Côn Minh - Viêng Chăn - Băng Cốc - Phnom Pênh - TP.Hồ Chí Minh và tuyến đường sắt kết nối riêng của các nước
Tuyến đường sắt Côn Minh - Rangoon (Myanmar) - Băng Cốc - Phnom Pênh -TP Hồ Chí Minh và tuyến đường sắt kết nối riêng của các nước
Trong những phương án vạch tuyến trên, phương án tuyến Băng Cốc - Phnom Pênh - TP Hồ Chí Minh, Hà Nội đến Côn Minh của Trung Quốc được giới quan chức của 6 quốc gia GMS đánh giá là khả thi nhất Ưu điểm của dự
án là mang lại rất nhiều thuận lợi về vận tải, đặc biệt là vận tải bằng đường sắt qua biên giới, chi phí vận tải đường sắt thấp hơn so với chi phí vận tải đường
bộ, nâng cao hiệu quả của tuyến đường sắt liên vận quốc tế của Việt Nam sang Trung Quốc, hiệu quả kinh tế cao và thân thiện với môi trường GMS tiến tới không vận chuyển hàng hóa bằng đường bộ để đảm bảo an toàn và giảm chi phí vận tải
Trang 35Ngoài những thuận lợi thì việc thực hiện dự án gặp phải rất nhiều khó khăn như: chi phí xây dựng tốn kém, gấp 3- 4 lần đường bộ; khả năng thu hồi vốn lâu; khó khăn trong thu hút vốn đầu tư; sự thống nhất giữa các nước về tiêu chuẩn đường, tiêu chuẩn kỹ thuật và công nghệ, quy chế vận hành và khai thác Với mục tiêu đề ra, giới chức các nước GMS kỳ vọng đến năm 2020 sẽ hoàn thành dự án này
Bên cạnh dự án đường bộ, đường sắt các quốc gia GMS cũng quan tâm đến các dự án xây dựng giao thông vận tải đường sông và tại Hội nghị lần thứ
ba đã đi đến nhất trí: “Dự án nâng cấp đường vận tải đường sông trên thượng
nguồn sông Lan Thương - sông Mê Công; Dự án nâng cấp luồng vận tải đường sông trên sông Hồng, bao gồm cả lãnh thổ tỉnh Vân Nam và Việt Nam và dự án vận tải đường sông giữa vùng Hạ Lào và vùng Đông Bắc Campuchia Hội nghị cũng nhất trí rằng các chuyên gia cần phải tiếp tục nghiên cứu các dự án về cảng biển, song cần tập trung vào các khía cạnh có tầm ảnh hưởng khu vực chứ không chỉ thuần túy ở tầm quốc gia” [10; tr.29]
Các dự án vận tải hàng không cũng được Hội nghị đưa ra thảo luận và đi
đến nhất trí, các dự án được đưa vào nghiên cứu bao gồm dự án sân bay Utago, trung tâm bảo dưỡng phương tiện hạng nặng trong vận tải hàng không Thái Lan, sân bay thành phố Xihanucvin ở Campuchia, sân bay ở tỉnh Vân Nam Hội nghị cũng thống nhất xem xét việc hình thành các tuyến bay mới và khuyến khích mở rộng vận tải hàng không trong khu vực, đặc biệt là Việt Nam
Tháng 12/2003 Hiệp định vận tải xuyên biên giới được ký kết và có hiệu lực, dự kiến sẽ áp dụng trên toàn khu vực vào năm 2007 - 2008 Hiệp định đề cập đến những vấn đề chính là chế độ kiểm soát hải quan một cửa, di chuyển con người qua biên giới, chế độ vận tải quá cảnh, yêu cầu đối với xe tải quá cảnh và phát triển cơ sở hạ tầng Bên cạnh Hiệp định vận tải xuyên biên giới GMS, Chiến lược vận tải GMS đã được thông qua tại Diễn đàn vận tải tiểu khu vực lần thứ 10 (2/2006)
Trang 36Mục đích của chiến lược này là nhằm đảm bảo đủ năng lực vận tải phục
vụ tăng trưởng kinh tế, nâng cao hiệu quả vận tải để gia tăng khả năng cạnh tranh hàng hóa GMS Theo đó, những vấn đề được quan tâm trong thời gian tới là mở cửa thị trường dịch vụ vận tải, nâng cao hiệu quả kinh tế thông qua giảm chi phí, hoàn tất việc xây dựng mạng lưới giao thông GMS và kết nối với khu vực Nam Á, tăng cường vận tải đa phương thức và đảm bảo tính thống nhất trong quy định hải quan GMS
Thực hiện theo dự án xây dựng hệ thống giao thông xuyên biên giới, ở Việt Nam vào sáng 25/6/2013, tại huyện Cẩm Thủy, tỉnh Thanh Hóa, Bộ Giao thông Vận tải đã khởi công dự án nâng cấp mạng lưới giao thông Tiểu vùng
Mê Công mở rộng (GMS) phía Bắc thứ 2 (nâng cấp Quốc lộ 217), giai đoạn 1
sử dụng vốn vay của Ngân hàng Phát triển châu Á (ADB) Đây là dự án nằm trong chương trình hợp tác Tiểu vùng Mê Công Mở rộng (GMS) đã được các nhà lãnh đạo các nước GMS đưa ra tại Hội nghị thượng đỉnh GMS tại Côn Minh (7/2005) Trong đó nêu bật vai trò quan trọng của một hệ thống giao thông kết nối GMS xuyên biên giới hiệu quả đối với việc phát triển kinh
tế Ngân hàng phát triển Châu Á (ADB) đã tài trợ kinh phí để Nghiên cứu Chiến lược ngành giao thông vận tải GMS có mục tiêu chung là thiết lập một mạng lưới giao thông Tiểu vùng có chất lượng tốt, liền mạch và đa phương thức để kết nối hoàn chỉnh GMS
Chính phủ hai nước Việt Nam và Lào ủng hộ mạnh mẽ việc nâng cấpTuyến đường QL217 - tỉnh Thanh Hóa của Việt Nam và các đoạn tuyến đường 6, 6A, 6B - tỉnh Hủa Phăn của Lào thuộc Hành lang đông bắc của GMS kết nối vùng đông bắc Lào với bắc Việt Nam và nối ra biển tại Thanh Hóa Việc nâng cấp các tuyến đường này để tối đa hóa tiềm năng kinh tế của Hành lang Đông Bắc GMS và để giúp cho phía Bắc Lào tiếp cận thuận lợi với Cảng biển Nghi Sơn - Thanh Hóa Đến ngày 30/1/2016, Bộ giao thông vận tải
Trang 37đã tổ chức Lễ thông xe Dự án Nâng cấp mạng lưới giao thông Tiểu vùng Mê Công mở rộng (GMS) phía Bắc thứ 2 - Nâng cấp QL217 tỉnh Thanh Hóa, giai đoạn 1
Các dự án nâng cấp và xây dựng các tuyến đường giao thông trong khu vực GMS, tạo điều kiện thông thương thuận lợi trong và ngoài khu vực, đẩy mạnh phát triển kinh tế, giao lưu thương mại giữa các quốc gia, tạo điều kiện hội nhập nhanh với nền kinh tế thế giới
2.2.2 Năng lượng
Nguồn năng lượng Tiểu vùng lưu vực sông Mê Công hết sức đa dạng
và có khả năng lớn lao để tiến hành các hoạt động hợp tác Tuy nhiên, xét về mặt địa lí thì nguồn năng lượng Mê Công phân bố không đồng đều, đặc biệt là
về tiềm năng về thủy điện “Tiềm năng thủy điện cực kỳ là to lớn, lên tới
1000TWh/ mỗi năm (TW = 1 ngàn tỷ Wh= 1 tỷ kWh), tức là hơn 10 lần công suất hiện nay Trong tiềm năng này, tỉnh Vân Nam (Trung Quốc) chiếm phần lớn nhất, sau đó là Myanmar, Lào và Việt Nam Nguồn Hidrôcácbon, cả dầu lửa lẫn khí đốt tự nhiên, được đánh giá bằng 100 lần mức tiêu dùng hàng năm hiện nay Phần lớn trữ lượng này được tìm thấy ở Việt Nam, Thái lan và Myanmar” [9; tr.88]
Tuy nhiên, đại bộ phận các tiềm năng thủy điện và khai thác dầu ngoài biển đòi hỏi phải có sự hợp tác mới có thể triển khai một cách hiệu quả Việc khai thác sử dụng những nguồn năng lượng này vẫn còn ở mức thấp, chủ yếu sáu quốc gia trong vùng vẫn phát triển ngành năng lượng theo hướng tự cấp
tự túc, trừ một vài trường hợp Lào xuất sang vùng Đông Bắc Thái Lan một
lượng điện không lớn “Mức tiêu dùng điện năng bình quân đầu người của
Tiểu vùng hiện là 360 kwh/năm, có nghĩa là chỉ bằng một phần nhỏ so với các nước công nghiệp Trong Tiểu vùng, trừ Thái Lan, các nước khác tỷ lệ điện khí hóa đều ở mức rất thấp, chỉ trong khoảng 4 -12%” [10; tr.31]
Trang 38Việc chuyển sang một cách tiếp cận toàn diện và tổng hợp hơn trong vấn đề sản xuất điện thông qua mạng lưới điện liên kết các quốc gia và trong lĩnh vực sản xuất khí đốt, thông qua việc trao đổi buôn bán khí đốt ven biển
và qua biên giới sẽ mang lại lợi ích lớn lao cho cả Tiểu vùng Việc chuyển từ cách thức tự túc tự cấp nguồn năng lượng sang cách thức tổng thể phải được tiến hành từng bước, vừa để xây dựng sự tin cậy lẫn nhau, vừa để đúc rút kinh nghiệm vận hành hệ thống
Tại Hội nghị lần thứ ba, họp tại Hà Nội từ ngày 20 đến 23/4/1994 và
Hội nghị lần thứ tư về hợp tác Tiểu vùng đã nhất trí thông qua các dự án: “Về
sản xuất và truyền tải điện bao gồm 6 dự án: (1) Nghiên cứu xây dựng thủy điện trong lưu vực các con sông Xe Kong và Se San ở Campuchia, Lào và Việt Nam, bao gồm cả việc xây dựng mạng lưới điện nối chung 3 nước này với Thái Lan; (2) Nghiên cứu tiền khả thi nhà máy điện Nậm Thà ở Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào, gồm cả việc nối vào lưới điện với Thái Lan; (3) Nghiên cứu xây dựng thủy điện nối công trình thủy điện Jinghong của tỉnh Vân Nam (Trung Quốc) với Thái Lan; (4) Nghiên cứu xây dựng thủy điện trên sông Nậm Thun của Lào và đường dây nối với lưới điện của Thái Lan và Việt Nam; (5) Nghiên cứu xây dựng thủy điện trên sông Thanuyn ở Myanmar và Thái Lan, kể cả đường dây tải nối vào lưới điện của hai nước; (6) Thực hiện công trình thủy điện Thun Hinbun (trước đây gọi là Nậm Thun 1-2) ở Lào và đường dây tải nối với Thái Lan Về đường ống khí đốt, trước mắt tiến hành thực hiện công trình đường ống dẫn khí đốt Yandana - Băng Cốc giữa Myanmar và Thái Lan” [9; tr.90, 91]
Tháng 11/2002, các nước GMS đã ký Hiệp định thương mại và năng lượng, biên bản ghi nhớ về nguyên tắc triển khai hiệp định này vào tháng 7/2005 Cùng với đó, biên bản ghi nhớ về việc thành lập Trung tâm điều phối điện năng khu vực GMS (RPCC) cũng được tất cả các nước thông qua Các