1. Trang chủ
  2. » Cao đẳng - Đại học

Xây dựng hệ thống trò chơi phát triển vốn từ cho trẻ 4 - 5 tuổi

101 1,1K 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 101
Dung lượng 1,2 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tác giả Nguyễn Ánh Tuyết, qua cuốn Giáo dục mầm non - những vấn đề lí luận và thực tiễn, đã đưa ra nhận định của mình về hoạt động vui chơi, trò chơi và trò chơi dân gian; những đặc đi

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2

KHOA GIÁO DỤC MẦM NON

=============

VŨ THỊ LỤA

XÂY DỰNG HỆ THỐNG TRÒ CHƠI PHÁT TRIỂN VỐN TỪ CHO TRẺ 4 - 5 TUỔI

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Chuyên ngành: Phương pháp phát triển ngôn ngữ

Người hướng dẫn khoa học:

TS Lê Thị Lan Anh

HÀ NỘI, 2017

Trang 2

LỜI CẢM ƠN

Em xin chân thành cảm ơn các thầy cô giáo trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2, các thầy cô giáo khoa Giáo dục Mầm non và các thầy cô giáo trong tổ bộ môn phương pháp phát triển ngôn ngữ đã giúp đỡ em trong quá trình học tập tại trường

và tạo điều kiện cho em thực hiện khóa luận tốt nghiệp

Đặc biệt em xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc nhất tới cô giáo - TS Lê Thị Lan Anh

- người đã tận tình hướng dẫn, chỉ bảo em trong quá trình học tập, nghiên cứu và hoàn thành khóa luận này

Trong quá trình nghiên cứu, không tránh khỏi những thiếu sót và hạn chế Kính mong nhận được sự đóng góp ý kiến của thầy cô giáo và các bạn để đề tài được hoàn thiện hơn

Em xin chân thành cảm ơn!

Hà Nội, ngày 19 tháng 4 năm 2017

Sinh viên

Vũ Thị Lụa

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Những số liệu và kết quả trong khóa luận là hoàn toàn trung thực Đề tài chưa được công bố trong bất

cứ một công trình khoa học nào khác

Hà Nội, ngày 19 tháng 4 năm 2017

Sinh viên

Vũ Thị Lụa

Trang 4

MỞ ĐẦU 1

1 Lí do chọn đề tài 1

2 Lịch sử nghiên cứu đề tài 2

3 Mục đích nghiên cứu 3

4 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu 3

5 Nhiệm vụ nghiên cứu 4

6 Phương pháp nghiên cứu 4

7 Cấu trúc khóa luận 4

Chương 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ XÂY DỰNG TRÒ CHƠI PHÁT TRIỂN VỐN TỪ CHO TRẺ 4 - 5 TUỔI 5

1.1 Cơ sở lí luận về xây dựng trò chơi phát triển vốn từ cho trẻ 4 - 5 tuổi 5

1.1.1 Các khái niệm 5

1.1.2 Phân loại trò chơi 10

1.1.3 Ý nghĩa của trò chơi học tập đối với sự phát triển vốn từ của trẻ 4 - 5 tuổi 11

1.1.4 Vai trò của trò chơi đóng vai theo chủ đề đối với sự phát triển ngôn ngữ 12

1.1.5 Trò chơi dân gian với sự phát triển vốn từ của trẻ 12

1.1.6 Vai trò của ngôn ngữ đối với sự phát triển của trẻ 14

1.1.7 Đặc điểm tâm sinh lí của trẻ 4 - 5 tuổi 16

1.1.8 Đặc điểm phát triển ngôn ngữ của trẻ 4 - 5 tuổi 19

1.1.9 Phát triển vốn từ cho trẻ 4 - 5 tuổi 21

1.2 Thực trạng việc sử dụng trò chơi nhằm phát triển vốn từ cho trẻ 4 - 5 tuổi ở trường mầm non 26

1.2.1 Khái quát khảo sát thực trạng 26

1.2.2 Phân tích kết quả khảo sát thực trạng 27

KẾT LUẬN CHƯƠNG 1……….31

Trang 5

4 - 5 TUỔI 32

2.1 Nguyên tắc khi xây dựng trò chơi cho trẻ 32

2.1.1 Trò chơi phải mang ý nghĩa giáo dục 32

2.1.2 Trò chơi luôn khơi gợi và tạo sự hứng thú với trẻ 32

2.1.3 Trò chơi phải phù hợp với đặc điểm tâm sinh lí của trẻ 32

2.2 Hệ thống trò chơi và cách tổ chức trò chơi phát triển vốn từ cho trẻ 4 - 5 tuổi 32

2.2.1 Nhóm trò chơi học tập phát triển vốn từ cho trẻ 4 - 5 tuổi 32

2.2.2 Nhóm trò chơi đóng vai theo chủ đề phát triển vốn từ cho trẻ 4 - 5 tuổi 45

2.2.3 Nhóm trò chơi dân gian phát triển vốn từ cho trẻ 4 - 5 tuổi 54

KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 67

Chương 3 THỂ NGHIỆM SƯ PHẠM 68

3.1 Mục đích thể nghiệm 68

3.2 Địa điểm thể nghiệm 68

3.3 Nội dung và phương pháp thể nghiệm 68

3.4 Kết quả thể nghiệm 68

3.4.1 Kết quả thể nghiệm ở trẻ 68

3.4.2 Ý kiến của giáo viên 70

3.5 Giáo án thể nghiệm 70

KẾT LUẬN CHƯƠNG 3 94

KẾT LUẬN 95 TÀI LIỆU THAM KHẢO

Trang 6

MỞ ĐẦU

1 Lí do chọn đề tài

Giáo dục Mầm non có một vị trí đặc biệt quan trọng, là khâu đầu tiên trong hệ thống giáo dục quốc dân, là bậc học đặt nền móng cho sự phát triển nhân cách con người Chăm sóc- giáo dục trẻ ngay từ những năm đầu tiên của cuộc sống là một việc làm hết sức cần thiết và có ý nghĩa quan trọng trong sự nghiệp chăm lo đào tạo

và bồi dưỡng thế hệ trẻ trở thành những con người tương lai của đất nước

Theo chương trình giáo dục Mầm non ở Việt Nam, phát triển cho trẻ là phát triển ở tất cả các mặt: nhận thức, thể chất, ngôn ngữ, tình cảm - xã hội và thẩm mỹ Trong đó phát triển ngôn ngữ cho trẻ là một trong những nhiệm vụ quan trọng nhất Trong công tác giáo dục Mầm non cho đất nước, chúng ta thấy ngôn ngữ đã góp phần đào tạo các cháu trở thành những con người phát triển toàn diện Mặt khác, ngôn ngữ là một hiện tượng lịch sử xã hội, ngôn ngữ lời nói có vai trò to lớn trong đời sống tâm lí con người, nó là phương tiện quan trọng để trẻ lĩnh hội nền văn hóa dân tộc, để giao lưu với những người xung quanh, để tư duy, để tiếp thu khoa học,

để bồi dưỡng tâm lí Vì vậy, việc phát triển ngôn ngữ cho trẻ mầm non là cần thiết

và vô cùng quan trọng Và một trong những nội dung phát triển ngôn ngữ cho trẻ được chúng ta chú trọng, đó là phát triển vốn từ

Từ vựng là một yếu tố vô cùng quan trọng trong sự phát triển của trẻ, đặc biệt

là kĩ năng nói Việc có một vốn từ vựng phong phú sẽ giúp ích cho trẻ rất nhiều Vì trẻ luôn tự nắm bắt những gì mà trẻ nghe được từ mọi người xung quanh trong môi trường sống trực tiếp của trẻ Khi trẻ có một vốn từ vựng phong phú thì trẻ sẽ nói tốt hơn và có khuynh hướng học tốt hơn những trẻ cùng lứa có vốn từ hạn hẹp Và với vốn từ đã có, trẻ có thể tự bày tỏ cảm xúc, cảm nghĩ của bản thân với mọi người xung quanh một cách hiệu quả Từ đó nâng cao khả năng giao tiếp của trẻ

Vui chơi là hoạt động chủ đạo của trẻ mầm non, vì trẻ lứa tuổi này học mà chơi, chơi mà học Hoạt động vui chơi có ảnh hưởng lớn đến các mặt phát triển của trẻ Trò chơi là một phương tiện giáo dục toàn diện cho trẻ và được giáo viên sử dụng nhiều trong quá trình dạy học Khi tham gia vào trò chơi, trẻ sẽ được lĩnh hội

Trang 7

ở cả hai mặt vui chơi và nhận thức Chơi đối với trẻ không chỉ đơn thuần là giải trí, thư giãn, mà nó còn liên quan đến việc phát triển ngôn ngữ và trí tuệ; trẻ sẽ vừa được chơi vừa được lĩnh hội kiến thức có trong trò chơi mà không cảm thấy bị gò

bó, căng thẳng Trẻ được phát triển ngôn ngữ, được sử dụng vốn từ ngữ đã biết của mình để thể hiện cảm xúc, thái độ của mình một cách tự nhiên nhất trong quá trình chơi Vì vậy, việc phát triển vốn từ thông qua trò chơi là hết sức quan trọng và cần được chú trọng ở trường mầm non

Hiện nay, ở các trường mầm non, việc sử dụng trò chơi trong dạy học rất phổ biến Tuy nhiên thường thì các trò chơi sẽ được sử dụng cho các hoạt động học như hoạt động làm quen với môi trường xung quanh, hoạt động làm quen với các biểu tượng toán, hoạt động tạo hình,… Còn ở hoạt động phát triển ngôn ngữ cho trẻ còn rất hạn chế Và trò chơi kích thích sự phát triển vốn từ của trẻ cũng vậy, nó còn khá

ít, thường thì công việc phát triển vốn từ chỉ được thực hiện khi cô trao đổi với trẻ hoặc thông qua các cuộc đối thoại giữa trẻ với người lớn Trong khi đối với trẻ ở lứa tuổi mẫu giáo, công việc phát triển vốn từ là một việc hết sức quan trọng và đáng được quan tâm ở trường mầm non

Trẻ thơ như một tờ giấy trắng, những gì ta viết lên đó có ảnh hưởng rất lớn đến cuộc sống của trẻ Bản thân là một sinh viên sư phạm ngành Giáo dục Mầm non, là một cô giáo mầm non tương lai tôi luôn trăn trở về những gì mình sẽ viết lên những tờ giấy trắng tinh khôi ấy, làm thế nào để trẻ có thể phát triển tốt nhất Và điều mà tôi quan tâm đầu tiên là sự phát triển ngôn ngữ của trẻ

Từ những lí do trên, chúng tôi quyết định chọn nghiên cứu đề tài: “Xây dựng

hệ thống trò chơi phát triển vốn từ cho trẻ 4 - 5 tuổi”

2 Lịch sử nghiên cứu đề tài

Ngôn ngữ là một trong những yếu tố quan trọng trong quá trình hình thành và phát triển của loài người nói chung và của trẻ em nói riêng Do đó, trên thế giới đã

có rất nhiều tác giả nghiên cứu về ngôn ngữ và sự phát triển ngôn ngữ của trẻ Tuy nhiên, mỗi tác giả đều nghiên cứu chuyên sâu ở một lĩnh vực khác nhau Nhưng có thể nói rằng khi nghiên cứu về sự phát triển ngôn ngữ của trẻ mẫu giáo, các tác giả

Trang 8

đều nghiên cứu đến đặc điểm phát triển ngôn ngữ của trẻ, hình thức phát triển ngôn ngữ và các phương pháp phát triển ngôn ngữ cho trẻ

Có nhiều tác giả cũng đã nghiên cứu về sự phát triển ngôn ngữ của trẻ thông qua trò chơi

Việc sử dụng trò chơi trong dạy học không phải là vấn đề mới được đặt ra mà ngay từ đầu thế kỉ XX, nhà tâm lí học Thụy Sỹ J Paget đã rất quan tâm đến phương pháp này “thông qua hoạt động vui chơi để tiến hành hoạt động học tập”

Trong cuốn Tâm lí học trẻ em lứa tuổi mầm non, NXB Đại học sư phạm 2007,

Nguyễn Ánh Tuyết đi sâu nghiên cứu ảnh hưởng của trò chơi với sự phát triển của trẻ mầm non, mà trung tâm là trò chơi đóng vai theo chủ đề

Đồng tác giả Trần Hòa Bình và Bùi Lương Việt, trong cuốn Trò chơi dân gian trẻ

em, NXB Giáo dục 2007 cho rằng văn hóa truyền thống của bất kì dân tộc nào cũng có

một bộ phận hợp thành đó là những trò chơi dân gian Và theo tác giả, trò chơi dân gian đặc biệt gần gũi với trẻ em, trong cuốn sách này, tác giả đã sưu tầm được gần 80 trò chơi dân gian trẻ em và có hướng dẫn cách thức tổ chức trò chơi

Tác giả Nguyễn Ánh Tuyết, qua cuốn Giáo dục mầm non - những vấn đề lí

luận và thực tiễn, đã đưa ra nhận định của mình về hoạt động vui chơi, trò chơi và

trò chơi dân gian; những đặc điểm, vai trò của trò chơi dân gian đối với sự phát triển của trẻ

Như vậy, các nhà nghiên cứu đã rất quan tâm tới trẻ em và dày công nghiên cứu những ảnh hưởng của trò chơi đối với trẻ Tuy nhiên, xét về cơ bản chưa có công trình nào đi sâu nghiên cứu về hệ thống trò chơi phát triển vốn từ cho trẻ Vì

vậy, chúng tôi có thể khẳng định đề tài “ Xây dựng hệ thống trò chơi phát triển

vốn từ cho trẻ 4 - 5 tuổi” là một đề tài mới mẻ và có khả năng khơi nguồn cho

chiều hướng nghiên cứu mới

3 Mục đích nghiên cứu

Xây dựng được hệ thống trò chơi phát triển vốn từ cho trẻ 4 - 5 tuổi

4 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu

- Đối tượng: Trò chơi phát triển vốn từ cho trẻ 4 - 5 tuổi

- Phạm vi: Trong khuôn khổ khóa luận, chúng tôi chỉ dừng lại ở việc nghiên cứu trò chơi phát triển vốn từ cho trẻ 4 - 5 tuổi

Trang 9

5 Nhiệm vụ nghiên cứu

- Tìm hiểu cơ sở lí luận và cơ sở thực tiễn của đề tài

- Đề xuất hệ thống trò chơi phát triển vốn từ cho trẻ 4 - 5 tuổi

- Thể nghiệm sư phạm

6 Phương pháp nghiên cứu

Trong khóa luận chúng tôi sử dụng các phương pháp:

- Phương pháp thống kê toán học

7 Cấu trúc khóa luận

Ngoài phần Mở đầu và Kết luận, nội dung của khóa luận gồm 3 chương:

- Chương 1 Cơ sở lí luận và thực tiễn về xây dựng trò chơi phát triển vốn từ cho trẻ 4 - 5 tuổi

- Chương 2 Hệ thống trò chơi phát triển vốn từ cho trẻ 4 - 5 tuổi

- Chương 3 Thể nghiệm sư phạm

Trang 10

Chương 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ XÂY DỰNG TRÒ CHƠI

PHÁT TRIỂN VỐN TỪ CHO TRẺ 4 - 5 TUỔI 1.1 Cơ sở lí luận về xây dựng trò chơi phát triển vốn từ cho trẻ 4 - 5 tuổi

1.1.1 Các khái niệm

1.1.1.1 Khái niệm ngôn ngữ

Ngôn ngữ chỉ sinh ra và phát triển trong xã hội loài người, có ngôn ngữ và khả năng sử dụng ngôn ngữ là đặc trưng quan trọng để phân biệt con người và động vật

Nó là phương tiện giao tiếp quan trọng nhất của các thành viên trong xã hội loài người, nhờ có ngôn ngữ con người có thể trao đổi cho nhau những hiểu biết và truyền tải kinh nghiệm Trong giao tiếp, người nói và người nghe hiểu được nhau là bởi vì giữa họ có một cái chung Cái chung đó bao gồm các từ, âm thanh, các mô hình tạo câu, các thành phần của câu, các quy tắc hoạt động, sử dụng… Cái chung

đó chính là ngôn ngữ

Ngôn ngữ mang tính xã hội, ngôn ngữ không chỉ tồn tại cho riêng một cá nhân, một người nào đó mà cho cả cộng đồng Ngôn ngữ chính là phương tiện giao tiếp và là công cụ tư duy của con người Dưới góc độ xã hội học, ngôn ngữ còn là một hiện tượng xã hội đặc biệt bởi nó không phụ thuộc vào kiến trúc thượng tầng nào cho nên khi cơ sở hạ tầng nào đó bị phá vỡ kéo theo sự sụp đổ của kiến trúc thượng tầng tương ứng nhưng ngôn ngữ vẫn là nó Mặt khác, ngôn ngữ không mang tính giai cấp, nó ứng xử bình đẳng với mọi người trong xã hội Ngôn ngữ giúp con người giao tiếp trong mọi hoạt động, giúp con người biểu lộ cảm xúc, bày tỏ nguyện vọng của mình với người khác Các nhà tâm lí học cũng cho rằng ngôn ngữ

là một quá trình tâm lí, “Ngôn ngữ là con người sử dụng thực tiễn tiếng nói để giao tiếp với người khác”, ngôn ngữ không chỉ là phương tiện giao tiếp giữa các thành viên trong cùng một thế hệ, cùng sống một thời kì, mà còn là phương tiện giao tiếp giữa các thế hệ, là phương tiện để con người truyền đi những thông điệp cho các thế

hệ tương lai Do đó, chúng ta có thể thấy được tầm quan trọng của ngôn ngữ đối với

xã hội của loài người

Dưới góc độ của các nhà sinh lí học, ngôn ngữ là tín hiệu của hệ thống tín hiệu

Trang 11

thứ hai, hệ thống các đường liên hệ tạm thời, là cơ sở cho tư duy trừu tượng (Theo thuyết phản xạ của Paplốp) Còn đối với các nhà ngôn ngữ học, ngôn ngữ là một hệ thống bao gồm các bộ phận: ngữ âm, từ vựng, ngữ pháp

V.Lênin cũng đã viết: “Con người muốn tồn tại thì phải gắn bó với cộng đồng Giao tiếp là một đặc trưng quan trọng của con người Ngôn ngữ là phương tiện giao tiếp quan trọng nhất” Ngôn ngữ còn giúp con người tích lũy kiên thức, phát triển tư duy, giúp con người giao tiếp được với mọi người xung quanh, là phương tiện giúp con người điều chỉnh, lĩnh hội những giá trị đạo đức mang tính chuẩn mực Nhờ có ngôn ngữ mà con người mới có thể hiểu nhau hơn và cùng chung sống, hòa nhập với nhau như một gia đình

Như vậy, ngôn ngữ là một hệ thống dấu hiệu đặc biệt, được dùng làm phương

tiện giao tiếp quan trọng nhất và là phương tiện tư duy của con người

1.1.1.2 Khái niệm trò chơi

Vui chơi là một hoạt động lí thú nhưng cũng rất phức tạp Các nhà khoa học

đã có quan niệm khác nhau về trò chơi của trẻ em lứa tuổi mầm non

Trong từ điển tiếng Việt xuất bản năm 1992, chữ “trò” được hiểu là một hình thức mua vui bày ra trước mặt mọi người Chữ “chơi” là một từ chung để chỉ các hoạt động lúc nhàn rỗi, ngoài giờ làm việc nhằm mục đích giải trí là chính Từ đó, trò chơi được hiểu là những hoạt động làm thỏa mãn những nhu cầu của con người, trước hết là vui chơi, giải trí

Nhà tâm lí học Thụy Sĩ G.Piaget coi trò chơi là một trong những hoạt động trí tuệ của trẻ, tạo ra sự thích nghi của trẻ với môi trường Theo ông, sự thích nghi thực chất là sự thiết lập mối cân bằng giữa cơ thể với môi trường Sự cân bằng này diễn

ra trong quá trình đồng hóa và điều ứng Còn với bác sĩ người Áo S.Freud đã cho rằng trò chơi là sự giải tỏa những dồn nén, đem lại cho con người những hứng khởi,

bù đắp những thiếu hụt, khiếm khuyết

Các nhà tâm lí học, giáo dục học Macxit coi trò chơi như là một hoạt động đặc trưng của xã hội loài người, phản ánh cuộc sống lao động, sinh hoạt của con người Trò chơi của trẻ em không có nguồn gốc sinh học mà có nguồn gốc xã hội, được

Trang 12

truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác thông qua con đường giáo dục Theo G.V.Plêkhanov, trò chơi là cầu nối các thế hệ với nhau, là phương tiện chuyển tải thành tựu văn hóa từ đời này sang đời khác Còn với ông Đ.B.Enconhin cho rằng, nhu cầu và sự ham hiểu biết về thế giới xung quanh chính là nguồn gốc, động lực giúp trẻ tích cực hoạt động trong trò chơi

Một số nghiên cứu về trò chơi của các nhà tâm lí học, giáo dục học phương Tây như Vallon, N.Khrixtencer… cũng chỉ ra rằng, trò chơi của trẻ là sự phản ánh cuộc sống, là hoạt động của chúng được quy định bởi những điều kiện xã hội Trẻ nhắc lại những ấn tượng đã được trải nghiệm vào trò chơi một cách có chọn lọc Theo họ, trò chơi không phải là bất biến, nó phản ánh hiện thực xã hội luôn vận động và phát triển

Theo thuyết Sức dư thừa, Ph.Siller và được G Spencer phát triển : “Trò chơi

là sự bắt chước các hoạt động thực của bản thân và người lớn”[6, 212]

Theo thuyết Trò chơi trị liệu Arian Sumo Seipt trình bày trong cuốn “Niềm

hạnh phúc của con bạn”: Trò chơi là phương tiện để làm bình thường hóa các quan

hệ của đứa trẻ với thực tế xung quanh, xua tan đi những nỗi bực tức, bướng bỉnh Trò chơi có thể giúp đứa trẻ loại bỏ khỏi nhân cách một loạt những điểm yếu như tính nhõng nhẽo, ích kỉ [6, 216]

Như vậy, trò chơi trẻ em là một hoạt động tâm lí, có cấu trúc và cách thức

hành động đặc thù, trong đó trẻ phản ánh tích cực, sáng tạo các sự vật, hiện tượng trong môi trường xung quanh thông qua việc vận dụng tri thức, kinh nghiệm đã lĩnh hội được một cách độc đáo, tự nguyện và tự do Qua đó, đem lại sự phát triển những nét tâm lí cơ bản và nhân cách toàn diện

1.1.1.3 Khái niệm trò chơi học tập

Mỗi dạng trò chơi ở mẫu giáo có sắc thái nhất định và có tác dụng nhất định đối với sự hình thành và phát triển tâm lí - nhân cách Sự phân biệt ý nghĩa, tác dụng của mỗi loại trò chơi đối với sự phát triển tâm lí - nhân cách của trẻ chỉ mang tính tương đối Nhìn chung, mọi trò chơi đều hướng đến sự phát triển của trẻ Tuy nhiên, mỗi trò chơi có một thế mạnh riêng Theo Nguyễn Ánh Tuyết: “Trò chơi là

Trang 13

phương tiện để trẻ học làm người” Đúng vậy, mọi trò chơi ở trẻ mẫu giáo đều diễn

ra sự học Song mỗi trò chơi giúp trẻ học một kiểu

Trò chơi học tập thực chất là một trò chơi có định hướng đối với sự phát triển trí tuệ của trẻ mẫu giáo.Theo E.I.Chikhieva “Trò chơi đó được gọi là trò chơi học tập hay trò chơi dạy học là vì trò chơi đó gắn liền với một mục đích dạy học nhất định và đòi hỏi cần phải có tài liệu dạy học phù hợp kèm theo” Còn P.G.Xamarucova cho rằng, loại trò chơi được xem là trò chơi học tập “đó là những trò chơi có nhiệm vụ chủ yếu là giáo dục và phát triển trí tuệ cho trẻ em”

Từ những điều trên, các nhà nghiên cứu về trò chơi, đặc biệt là về sự phân loại

về trò chơi của trẻ em mẫu giáo cho phép chúng tôi khẳng định, trò chơi học tập

thuộc nhóm trò chơi có luật, thường do người lớn nghĩ ra cho trẻ chơi và dùng nó vào mục đích giáo dục và dạy học, hướng tới việc phát triển hoạt động trí tuệ cho trẻ 1.1.1.4 Khái niệm trò chơi dân gian

Trò chơi dân gian là một lĩnh vực được nhiều nhà nghiên cứu văn hóa quan tâm

Họ nghiên cứu trò chơi dân gian dưới nhiều góc độ khác nhau: xã hội, sinh học, văn hóa, nhưng lại chưa thống nhất để đưa ra cho trò chơi dân gian một định nghĩa chung

mà chỉ thống nhất về nguồn gốc xuất xứ và đặc điểm của trò chơi dân gian

Hai tác giả Trần Hòa Bình và Bùi Lương Việt trình bày trong cuốn Trò chơi

dân gian trẻ em: “Nền văn hóa truyền thống của dân tộc nào cũng có một bộ phận hợp thành, đó là những trò chơi dân gian Những trò chơi này không chỉ xuất hiện trong những lễ hội đặc trưng mà còn diễn ra thường xuyên trong đời sống sinh hoạt của từng cộng đồng” Giống như nhiều dân tộc khác trên thế giới, dân tộc Việt Nam

cũng có những những trò chơi dân gian của mình Nó xuất hiện cùng với lao động

và sau lao động, vì nhu cầu nghỉ ngơi, vui chơi giải trí được nảy sinh từ trong lao động Đồng thời những trò chơi dân gian này đã thể hiện rõ nét ước muốn của cả cộng đồng dân cư đối với kết quả lao động

Ngược dòng thời gian và tìm về với lịch sử, chúng tôi thấy: mọi cuộc vui hóa trang, nhảy múa của người xưa đều là những trò chơi mô phỏng hoạt động sản xuất, những hành vi ứng xử của con người với thiên nhiên và xã hội trong đời sống sinh

Trang 14

hoạt hằng ngày Nếu như lao động nhằm mục đích duy trì cuộc sống thì trò chơi bổ sung cho lao động để tạo nên lòng tin, ước vọng của con người vào cuộc sống và kết quả lao động của họ Ý nghĩa này của trò chơi nói chung và của trò chơi dân gian nói riêng vẫn còn nguyên giá trị đến ngày nay

Vậy theo chúng tôi, trò chơi dân gian là những trò chơi có nguồn gốc từ trong

lao động sản xuất, từ nhu cầu vui chơi giải trí và từ những ước vọng của con người Qua đó, trò chơi dân gian mô phỏng lại những hoạt động sản xuất, hành vi ứng xử của con người trong đời sống sinh hoạt hằng ngày Nó phản ánh những mối quan

hệ giữa con người với thiên nhiên, với xã hội và giữa những con người với nhau 1.1.1.5 Khái niệm trò chơi đóng vai theo chủ đề

Vui chơi là hoạt động chủ đạo của trẻ mẫu giáo Trẻ rất hứng thú khi được tham gia vào trò chơi Và điển hình là trò chơi đóng vai theo chủ đề

Khi tham gia vào trò chơi đóng vai theo chủ đề, trẻ được thỏa mãn nguyện vọng là sống và hoạt động như người lớn Trò chơi này mô phỏng lại hoạt động lao động của người lớn và những mối quan hệ qua lại giữa họ trong xã hội Chẳng hạn trò chơi “bệnh viện” mô phỏng mối quan hệ giữa bác sĩ và bệnh nhân Trong trò chơi, lần đầu tiên những mối quan hệ giữa người với người được thể hiện một cách khách quan trước đứa trẻ Qua trò chơi, trẻ hiểu mỗi người trong xã hội đều có nghĩa vụ và quyền lợi của mình

Bách khoa toàn thư mở cũng định nghĩa: “Trò chơi phân vai (Role playing game - RPG) là một nhóm lớn các trò chơi, trong đó người chơi hóa thân thành các nhân vật trong một hoàn cảnh hư cấu” Người chơi diễn xuất bằng lời hay văn bản, hoặc bằng cách ra quyết định theo một cấu trúc đã được định sẵn để phát triển nhân vật hay một tình tiết các hành động của người chơi có thể hoặc không tuân theo một

hệ thống các quy định và hướng dẫn

Theo diễn đàn hỗ trợ giảng dạy và chăm sóc trẻ em: “Trò chơi phân vai là một hoạt động tự nhiên dành cho những đứa trẻ thích thú với môi trường xung quanh gần gũi của chúng, con người trong cuộc sống và đối tượng mà đứa trẻ tiếp xúc hàng ngày”

Như vậy, trò chơi đóng vai theo chủ đề là mô hình quan hệ xã hội của người

Trang 15

lớn và là phương tiện định hướng cho trẻ vào mối quan hệ đó Hay nói cách khác, trò chơi đóng vai theo chủ đề là trẻ ướm thử vào vị trí của người nào đó và bắt chước hành động của người đó

1.1.2 Phân loại trò chơi

Trò chơi cho trẻ em là một lĩnh vực được nhiều nhà nghiên cứu quan tâm Nhưng hiện nay vẫn chưa có sự thống nhất nào về việc phân loại các trò chơi Lấy thời gian làm tiêu chí phân loại thì có thể chia thành 2 loại:

Thứ nhất là trò chơi dân gian cổ truyền như đánh truyền, ô ăn quan, lộn cầu vồng… Thứ hai là trò chơi hiện đại như đá bóng, ném bóng, cờ vua…

Theo quan điểm của Liên Xô (cũ), trò chơi của trẻ mẫu giáo được phân loại thành hai nhóm chính:

Nhóm 1: Nhóm trò chơi sáng tạo bao gồm:

- Trò chơi đóng vai theo chủ đề

Trong cuốn Lí luận và phương pháp hướng dẫn trẻ làm quen với môi trường

xung quanh, Hoàng Thị Phương phân loại trò chơi thành 3 loại:

Thứ nhất, trò chơi học tập bao gồm:

- Trò chơi với các vật liệu tự nhiên

- Trò chơi với tranh ảnh

- Trò chơi dùng lời

Thứ hai, trò chơi vận động

Thứ ba, trò chơi sáng tạo

Trong khuôn khổ khóa luận nghiên cứu về những trò chơi phát triển vốn từ cho trẻ, chúng tôi phân loại trò chơi thành những loại sau:

- Trò chơi học tập

Trang 16

- Trò chơi đóng vai theo chủ đề

- Trò chơi dân gian

1.1.3 Ý nghĩa của trò chơi học tập đối với sự phát triển vốn từ của trẻ 4 - 5 tuổi

Ngay từ thời xa xưa, trò chơi học tập của trẻ mẫu giáo đã xuất hiện Mỗi một dân tộc đều nghĩ ra cho con em của mình những trò chơi và đồ chơi lí thú, hấp dẫn nhằm thông qua chúng để giáo dục và dạy trẻ học tập, như dạy tiếng mẹ đẻ, dạy trẻ học đếm, làm tính, cho trẻ làm quen với môi trường xung quanh… Những công trình nghiên cứu của các nhà khoa học trên thế giới đều thống nhất cho rằng, trò chơi học tập có một ý nghĩa quan trọng đối với việc giáo dục và phát triển nhân cách nói chung và trí tuệ của trẻ mẫu giáo nói riêng

Việc dạy học cho trẻ mẫu giáo bằng các trò chơi học tập đã tạo cho chúng khả năng giải quyết nhiệm vụ nhận thức dưới hình thức chơi nhẹ nhàng, không bị áp đặt, nâng cao hứng thú của trẻ, phát triển khả năng tập trung chú ý, tạo điều kiện thuận lợi cho những hành động có định hướng phù hợp với lời chỉ dẫn của giáo viên

và đảm bảo cho việc lĩnh hội tri thức, kỹ năng một cách tốt hơn Những nhiệm vụ chơi và hành động chơi đòi hỏi trẻ tích cực huy động các tri thức, kỹ năng, kỹ xảo của mình để đạt được kết quả mà trò chơi đã đặt ra

Trò chơi học tập có ý nghĩa rất quan trọng, nó là phương tiện để phát triển trí tuệ, giáo dục một số phẩm chất đạo đức cho trẻ Trong lĩnh vực phát triển trí tuệ, trò chơi học tập chính là một phương tiện phát triển ngôn ngữ, sự tập trung chú ý của trẻ mẫu giáo Trong quá trình chơi, trẻ phải sử dụng các giác quan và ngôn ngữ (nói to) của mình để thực hiện các thao tác chơi, nhiệm vụ chơi Do đó, ngôn ngữ của trẻ trở nên mạch lạc và phát triển, trẻ 4 - 5 tuổi sẽ biết chú ý đến nhiệm vụ và luật chơi hơn Tuy nhiên, chúng vẫn thích thú đến quá trình chơi nhiều hơn là kết quả chơi Chính quá trình chơi đó đã giúp trẻ tích cực nhận thức được nội dung chơi và giúp trẻ sử dụng vốn từ để giải quyết vấn đề một cách phong phú hơn Các trò chơi học tập bằng lời nói kết hợp với hành động chơi đa dạng khi tham gia chơi càng làm tăng phần hấp dẫn với trẻ mẫu giáo 4 - 5 tuổi Khi chơi loại trò chơi này, trẻ học cách dựa vào những biểu tượng đã có và dùng lời nói giải quyết nhiệm vụ nhận thức

Trang 17

trong những hoàn cảnh mới Trên cơ sở những dấu hiệu chung dần dần trẻ hiểu được ý nghĩa tổng quát của từ và chúng có thể độc lập thực hiện nhiệm vụ trí tuệ, như miêu tả đồ vật, phân biệt dấu hiệu đặc trưng của đồ vật, đoán đồ vật qua sự miêu tả, tìm sự giống và khác nhau giữa các vật… Việc sử dụng trò chơi học tập với việc phát triển vốn từ giúp trẻ hứng thú với việc học từ mới, ôn lại các từ cũ và khắc sâu hơn; bên cạnh đó, trẻ còn được chơi, quên đi nhiệm vụ chính là học, giúp trẻ tránh buồn chán và mệt mỏi, ngoài ra chính những trò chơi học tập đó sẽ giáo dục trẻ những kĩ năng sống

1.1.4 Vai trò của trò chơi đóng vai theo chủ đề đối với sự phát triển ngôn ngữ

Trong suốt lứa tuổi mấu giáo, ngôn ngữ của trẻ phát triển mạnh Vốn từ được

mở rộng (từ 300 - 400 từ ở lứa tuổi ấu nhi lên đến 3000 - 4000 từ ở lứa tuổi mẫu giáo) Cấu trúc ngữ pháp được hoàn thiện dần, trẻ phát âm chính xác hơn

Sự phát triển ngôn ngữ của trẻ mẫu giáo diễn ra trong mối quan hệ phức tạp hóa hoạt động của trẻ, trong trò chơi đóng vai theo chủ đề - khi trẻ giao tiếp với những người xung quanh và các bạn cùng chơi

Trẻ chơi cùng các bạn trong nhóm Để đảm nhận tốt vai chơi và để các bạn hiểu được mục đích vai chơi, trẻ phải nắm vững ý nghĩa của từ vựng thông dụng, phát âm gần đúng cách phát âm của người lớn Đặc biệt, trẻ phải biết cách dùng ngữ điệu phù hợp với hoàn cảnh giao tiếp và nắm được hệ thống ngữ pháp phức tạp (quy luật ngôn ngữ, nói năng mạch lạc, thoải mái)

Ví dụ: khi trẻ đóng vai là cô giáo, trẻ biết mình là cô giáo nên nói năng phải dịu dàng, rõ ràng học sinh mới dễ hiểu

Tuy nhiên thông qua các vai chơi, trẻ chủ yếu nắm vững phong cách ngôn ngữ sinh hoạt và chỉ ở một mức độ nào đó là phong cách nghệ thuật Cho nên đứa trẻ phải học thêm nhiều ở nhà trường, ở sách vở, để nắm vững sâu sắc hơn tiếng mẹ

đẻ của mình

1.1.5 Trò chơi dân gian với sự phát triển vốn từ của trẻ

Phát triển vốn từ là một quá trình lâu dài của việc lĩnh hội vốn từ mà con người đã tích lũy trong lịch sử và cuộc sống Tham gia vào trò chơi dân gian, trẻ em

có điều kiện tiếp xúc với thế giới ngôn ngữ vô tận với những nội dung đa dạng,

Trang 18

phong phú: thiên nhiên, xã hội, văn hóa

Đặc biệt, với trẻ lứa tuổi mầm non thì vốn từ còn rất hạn hẹp, nên khi được tham gia vào những trò chơi dân gian là cơ hội lớn để trẻ được mở rộng vốn từ, hiểu biết của mình

Thật vậy, đến với thế giới tự nhiên trong trò chơi dân gian trẻ được làm quen với một hệ thống vốn từ khá đầy đủ, không chỉ là những loài vật gần gũi như con trâu, con nghé, con chó, con mèo… hay như những ngọn cỏ, cành cây ở góc vườn

mà còn là những hiện tượng tự nhiên là mưa, là gió… Tất cả hiện lên trong trò chơi dân gian của trẻ thơ thật sinh động, hấp dẫn, trẻ không cần phải làm quen qua tranh ảnh, sách báo mà trong khi chơi, với óc sáng tạo, trí tượng tượng phong phú và sự lặp lại có chu kì của trò chơi dân gian đã giúp các em rèn luyện và tích lũy cho mình một vốn từ nhất định về chủ đề thiên nhiên

Đến với bất kì một trò chơi nào đó, trẻ cũng phải sử dụng vốn từ đã có của mình để quy ước với nhau về nội dung, cách chơi và các đồ dùng sử dụng trong trò chơi Đó cũng là lúc trẻ sử dụng vốn ngôn ngữ để phát huy khả năng ứng xử, giao tiếp với bạn chơi

Xã hội trong trò chơi dân gian trước hết là những mối quan hệ trong gia đình rồi đến mối quan hệ rộng hơn ngoài xã hội; xã hội còn được khắc họa qua các vốn

từ về quê hương, đất nước, về những nét sinh hoạt chung của người dân: lao động, hội họp, lễ tết… Bởi trước hết, trò chơi dân gian luôn là nét văn hóa không thể thiếu trong những ngày tết và trong các lễ hội

Thông qua trò chơi dân gian, trẻ tích lũy được cho bản thân một vốn từ về xã hội thật bổ ích Đặc biệt, vốn từ về xã hội hiện lên sâu sắc và rõ nét khi các em tham gia trò chơi dân gian mang tính mô phỏng: trẻ được hóa thân thành bác nông dân đi cày cấy; hay trẻ được trở thành một ông thầy thuốc, một bà mẹ bảo vệ đàn con khi

chơi trò Rồng rắn lên mây Ở xứ sở của trò chơi mô phỏng, các em được trải

nghiệm với cảm xúc thật, với những mối quan hệ giữa con người với thiên nhiên và

xã hội Đồng thời, khi hòa mình vào xứ sở này, trẻ có cơ hội được mở rộng nhận thức về xã hội Cái xã hội thu nhỏ đó là điều kiện để trẻ làm quen với những cuộc

Trang 19

giao tiếp và mở rộng vốn từ của mình, đưa vốn từ ngữ đó và những tình huống cụ

thể trong cuộc sống: như khi chơi trò Rồng rắn lên mây, trẻ đứng đầu hàng đóng

làm mẹ đưa đàn con đi hỏi thăm thầy thuốc, mặc cả và chống lại thầy thuốc để bảo

vệ đàn con… Ở đây vừa thể hiện sự quan tâm, tình yêu với mọi người trong gia đình, vừa là một cuộc giao tiếp giữa bệnh nhân và thầy thuốc - mối quan hệ thường gặp trong xã hội

Từ đó, chúng tôi thấy rằng trò chơi dân gian là một hình thức giáo dục có tác động mạnh mẽ đến sự lĩnh hội và phát triển vốn từ của trẻ mầm non Trò chơi dân gian tạo điều kiện cho các em có cơ hội được mở rộng nhận thức về thế giới xung quanh Khi các em tiếp thu được tri thức mới thì vốn từ cũng được tăng lên rõ rệt Hay nói cách khác, trò chơi dân gian tạo điều kiện cho việc lĩnh hội và phát triển vốn từ của trẻ mầm non

1.1.6 Vai trò của ngôn ngữ đối với sự phát triển của trẻ

1.1.6.1 Vai trò của ngôn ngữ đối với việc phát triển trí tuệ

Ngôn ngữ có vai trò rất lớn đối với việc phát triển trí tuệ cho trẻ

Ngôn ngữ là phương tiện nhận thức thế giới xung quanh, là cơ sở của mọi sự suy nghĩ, là công cụ của tư duy

Trẻ có nhu cầu tìm hiểu thế giới xung quanh Thông qua ngôn ngữ, lời nói của người lớn, trẻ làm quen với các sự vật, hiện tượng và hiểu những đặc điểm, tính chất, cấu tạo, công dụng… của chúng và trẻ học được từ tương ứng (từ và hình ảnh trực quan đi vào nhận thức của trẻ cùng một lúc) Ngôn ngữ giúp trẻ mở rộng hiểu biết về thế giới xung quanh Từ ngữ giúp cho việc củng cố những biểu tượng đã được hình thành

Sự phát triển của ngôn ngữ giúp cho hoạt động trí tuệ, các thao tác tư duy ngày càng được hoàn thiện, kích thích trẻ tích cực, sáng tạo hoạt động trí tuệ

Có nhiều phương tiện để nhận thức thế giới xung quanh nhưng ngôn ngữ là phương tiện nhận thức hữu hiệu Thông qua ngôn ngữ trẻ nhận thức thế giới xung quanh chính xác, rõ ràng và sâu hơn Ngôn ngữ giúp trẻ tích cực, sáng tạo trong hoạt động trí tuệ Do đó, việc phát triển trí tuệ không thể tách rời với việc phát triển

Trang 20

ngôn ngữ

1.1.6.2 Vai trò của ngôn ngữ đối với việc phát triển đạo đức

Ngôn ngữ có vai trò rất lớn trong việc hình thành và điều chỉnh những hành vi của trẻ

Thông qua ngôn ngữ trẻ biết những gì nên, không nên…, qua đó rèn luyện những phẩm chất đạo đức tốt ở trẻ, dần dần hình thành ở trẻ những khái niệm ban đầu về đạo đức (ngoan - hư, tốt - xấu…)

Ngôn ngữ có tác dụng to lớn trong việc hình thành những phẩm chất đạo đức tốt đẹp ở trẻ Ngôn ngữ đã góp phần không nhỏ vào việc trang bị cho trẻ những hiểu biết về những nguyên tắc, chuẩn mực đạo đức, rèn luyện cho trẻ những tình cảm và hành vi đạo đức phù hợp với xã hội mà trẻ đang sống

1.1.6.3 Vai trò của ngôn ngữ đối với việc phát triển thẩm mĩ

Ngôn ngữ có vai trò quan trọng trong quá trình tác động có mục đích, có hệ thống nhằm phát triển ở trẻ năng lực cảm thụ cái đẹp và hiểu đúng đắn cái đẹp trong

tự nhiên, trong đời sống xã hội, trong nghệ thuật, giáo dục cho trẻ lòng yêu cái đẹp

và năng lực tạo ra cái đẹp

Thông qua ngôn ngữ, trẻ nhận thức được cái đẹp ở thế giới xung quanh Qua

đó làm cho tâm hồn trẻ càng thêm bay bổng, trí tưởng tượng càng phong phú; đồng thời, trẻ càng yêu quý cái đẹp, trân trọng cái đẹp và có ý thức sáng tạo ra cái đẹp Thông qua ngôn ngữ văn học, trẻ cảm nhận được cái hay, cái đẹp trong ngôn ngữ tiếng mẹ đẻ, cái đẹp trong hành vi, cái đẹp trong cuộc sống

Có thể khẳng định rằng, ngôn ngữ đã góp phần không nhỏ vào quá trình giáo dục cho trẻ những tình cảm thẩm mĩ cao đẹp

1.1.6.4 Vai trò của ngôn ngữ đối với việc phát triển thể lực

Để phát triển thể lực cho trẻ cần kết hợp nhiều phương pháp khác nhau Trong

đó, ngôn ngữ đóng một vai trò vô cùng quan trọng

Trong các hoạt động góp phần phát triển thể lực như các trò chơi vận động, các giờ thể dục, trong chế độ ăn… giáo viên đều cần dùng đến ngôn ngữ để hướng dẫn trẻ thực hiện tốt những yêu cầu cần đạt

Hoạt động nói năng liên quan đến cơ quan hô hấp, thính giác, bộ máy phát

Trang 21

âm… Quá trình phát âm là quá trình rèn luyện bộ máy cấu âm, rèn luyện phổi, khí quản và các bộ phận khác của cơ thể

Để có một thể lực tốt cần có một chế độ vệ sinh hợp lí Ngôn ngữ cũng tham gia vào quá trình chăm sóc, vệ sinh trẻ để trẻ phát triển thể lực

1.1.7 Đặc điểm tâm sinh lí của trẻ 4 - 5 tuổi

1.1.7.1 Đặc điểm sinh lí của trẻ 4 - 5 tuổi

Ở trẻ mẫu giáo nhỡ, sự phát triển của cơ thể diễn ra chậm hơn so với giai đoạn trước Về số lượng: chiều cao trung bình hàng năm tăng được từ 5 - 8cm, cân nặng tăng khoảng 1 - 1,5kg Đồng thời trẻ có sự thay đổi rõ rệt về chất lượng thể chất:

Hệ tiêu hóa ngày càng hoàn thiện, quá trình hình thành men tiêu hóa được tăng cường, sự hấp thu thức ăn ngày càng tốt hơn

Hệ thần kinh ngày càng phát triển, khả năng hoạt động của các tế bào thần kinh tăng lên, quá trình cảm ứng ở vỏ não phát triển, trẻ có thể tiến hành hoạt động trong thời gian lâu hơn

Hệ xương hoàn thiện dần, các mô cơ ngày càng phát triển, cơ quan điều khiển vận động được tăng cường… Do vậy, trẻ có thể tiến hành hoạt động đòi hỏi sự khéo léo của tay, chân, thân

Cơ quan phát âm của trẻ đang dần được hoàn thiện: thanh quản gồm các sụn phổi, sụn nhẵn và sụn thanh nhiệt Bên trong thanh quản có lót một lớp niêm mạc, trên bề mặt lớp niêm mạc ở mỗi bên có hai nếp gấp, đó là các dây thanh âm, giữa hai bên thanh âm có một cái rãnh lõm xuống gọi là buồng thanh quản Dây thanh

âm ở dưới gọi là dây nói, dây thanh âm giả ở trên đó là dây chủ yếu để thở

Trẻ 4 - 5 tuổi dây thanh quản ngắn nên trẻ có giọng nói cao hơn giọng nói của người lớn Các khoang cộng hưởng phần trên của thanh quản, họng, khoang miệng, mũi khá hoàn thiện, thể hiện ở các liên kết giữa các âm sắc trẻ thể hiện

Dựa trên những đặc điểm đã nêu trên, ta có thể thấy được mức độ phát triển của trẻ 4 - 5 tuổi rất mạnh mẽ nhưng còn nhiều chỗ chưa hoàn thiện Do đó, cần lựa chọn những hình thức và biện pháp cho phù hợp để giáo dục trẻ đạt hiệu quả tốt nhất

Trang 22

1.1.7.2 Đặc điểm tâm lí của trẻ 4 - 5 tuổi

a) Hình thành “Xã hội trẻ em”

Trẻ mẫu giáo nhỡ đã hoàn thiện hoạt động vui chơi và hình thành “xã hội trẻ em” Có thể nói rằng, hoạt động vui chơi ở lứa tuổi mẫu giáo nhỡ đang phát triển tới mức hoàn thiện, điều đó được thể hiện ở những đặc điểm sau:

Trong hoạt động vui chơi trẻ mẫu giáo nhỡ thể hiện rõ tính tự lực, tự do và chủ động Trong quá trình vui chơi trẻ bộc lộ toàn bộ tâm trí của mình, nhận thức, tình cảm, ý chí, nói năng đều tỏ ra tích cực và chủ động, ít lệ thuộc và người lớn và hoàn toàn tùy thuộc vào ý thích của mình Tính tự lực, tự do của trẻ được thể hiện trong việc lựa chọn chủ đề và nội dung chơi; trong việc lựa chọn bạn chơi; trong việc tự do tham gia vào trò chơi mà mình thích và tự rút ra khỏi nhóm chơi mà mình đã chán Trong hoạt động vui chơi, trẻ mẫu giáo nhỡ đã thiết lập những quan hệ rộng rãi và phong phú với các bạn cùng chơi Một “xã hội trẻ em” được hình thành Hoạt động vui chơi, mà đặc biệt là trò chơi đóng vai theo chủ đề là loại hoạt động cùng đầu tiên của trẻ Không có sự phối hợp với nhau giữa các thành viên thì không tạo thành trò chơi Trẻ mẫu giáo nhỡ, việc chơi của trẻ đã tương đối thành thạo và chơi với nhau trong nhóm bạn bè đã trở thành một nhu cầu bức thiết, vì đã chơi là phải có vai nọ vai kia mới thú vị

Ví dụ: Với chủ đề “bán hàng” thì trẻ phải đặt ra những nhân vật: người bán hàng, người mua hàng, thậm chí có cả người lái xe chở người mua hàng đến…

Như vậy, các quan hệ trong trò chơi của trẻ mẫu giáo nhỡ đã được mở rộng, trẻ còn biết liên kết các trò chơi theo các chủ đề khác nhau làm cho các mối quan hệ trở nên phong phú hơn Trẻ đã bắt đầu biết lắng nghe ý kiến của bạn và phục tùng ý kiến của đại đa số ngay cả khi có mâu thuẫn với những ấn tượng và kinh nghiệm riêng của mình

Nhóm trẻ cùng chơi là một trong những cơ sở xã hội đầu tiên của trẻ em Do

đó, người lớn cần tổ chức tốt hoạt động của nhóm trẻ lớp mẫu giáo cũng như ở gia đình, khu tập thể, xóm dân cư, để tạo ra môi trường lành mạnh có tính chất giáo dục đối với trẻ

Trang 23

b) Tư duy trực quan hình tượng

Trẻ mẫu giáo nhỡ đang phát triển tư duy trực quan hình tượng Đầu tuổi mẫu giáo, trẻ đã biết tư duy bằng những hình ảnh trong đầu, do những biểu tượng còn nghèo nàn và tư duy mới được chuyển từ bình diện bên ngoài vào bình diện bên trong nên trẻ chỉ giải được một số bài toán hết sức đơn giản theo kiểu tư duy trực quan hình tượng Cùng với sự hoàn thiện hoạt động vui chơi và sự phát triển các hoạt động khác (vẽ, nặn, xé, dán…) thì vốn biểu tượng của trẻ mẫu giáo nhỡ được giàu thêm nhiều, chức năng kí hiệu phát triển mạnh, lòng ham hiểu biết và hứng thú nhận thức tăng lên rõ rệt

Tư duy trực quan hình tượng phát triển mạnh, đó là điều kiện thuận lợi nhất để giúp trẻ cảm thụ tốt những hình tượng nghệ thuật được xây dựng nên trong các tác phẩm văn học nghệ thuật do các văn nghệ sĩ xây dựng nên bằng những hình tượng đẹp Đồng thời cần giúp trẻ tạo ra những tiền đề cần thiết để làm nảy sinh những yếu tố ban đầu của kiểu tư duy trừu tượng

c) Sự phát triển đời sống tình cảm

Trong lứa tuổi ấu nhi cũng như lứa tuổi mẫu giáo thì tình cảm thống trị tất cả các mặt trong hoạt động tâm lí của đứa trẻ, đặc biệt ở lứa tuổi mẫu giáo nhỡ thì đời sống tình cảm của trẻ có một bước chuyển mạnh mẽ, vừa phong phú, vừa sâu sắc hơn lứa tuổi trước đó Ở tuổi mẫu giáo nhỡ, quan hệ của trẻ với mọi người xung quanh được mở rộng ra một cách đáng kể, do đó tình cảm của trẻ cũng được phát triển về nhiều phía đối với những người trong xã hội Có thể coi đây là nguồn xúc cảm mạnh

mẽ nhất và quan trọng nhất trong đời sống tinh thần của trẻ mẫu giáo nhỡ

Trẻ mẫu giáo nhỡ rất thèm khát sự trìu mến, thương yêu, đồng thời rất lo sợ trước thái độ thờ ơ, lạnh nhạt của mọi người xung quanh đối với mình Nó thực sự vui mừng khi được bố mẹ, cô giáo hay bạn bè yêu thương, khen ngợi và cũng thực

sự đau buồn khi bị người khác ghét bỏ

Ví dụ: Một trẻ không chịu ăn cơm khi bị các bạn không cho chơi cùng nhóm nữa, hay một trẻ khóc òa lên khi thấy mẹ đón không được hồ hởi như thường ngày

Tuổi mẫu giáo nhỡ đã có sự phát triển động cơ hành vi và hình thành hệ thống thứ bậc các động cơ Các động cơ đã xuất hiện trước đây như muốn tự khẳng định

Trang 24

muốn được sống và làm việc như người lớn, muốn nhận thức các sự vật và hiện tượng xung quanh… đều được phát triển mạnh mẽ Đặc biệt những động cơ đạo đức thể hiện thái độ của trẻ đối với những người khác có ý nghĩa hết sức quan trọng trong sự phát triển các động cơ hành vi Những động cơ này gắn liền với việc lĩnh hội có ý thức những chuẩn mực về những quy tắc đạo đức hành vi trong xã hội Tuổi mẫu giáo nhỡ là chặng giữa của tuổi mẫu giáo Nó đã vượt qua thời kì chuyển tiếp từ ấu nhi lên để tiến tới một chặng đường phát triển tương đối ổn định

Có thể coi đây là một thời kì phát triển rực rỡ của những nét tâm lí đặc trưng cho tuổi mẫu giáo mà bao trùm lên tất cả tính hình tượng, tính dễ xúc cảm và tính đồng cảm trong hoạt động tâm lí Điều này khiến cho nhân cách của trẻ ở giai đoạn đầu tiên của quá trình hình thành mang tính độc đáo, rõ nét nhất

Những thuộc tính tâm lí cũng như những phẩm chất nhân cách đang phát triển ở

độ tuổi này là điều kiện hết sức quan trọng để tạo ra một sự chuyển tiếp mạnh mẽ ở

độ tuổi sau (mẫu giáo lớn) tiến dần vào thời kì chuẩn bị cho trẻ tới trường phổ thông

Do đó, giáo dục cần tập trung hết mức để giúp trẻ phát triển những đặc điểm này

1.1.8 Đặc điểm phát triển ngôn ngữ của trẻ 4 - 5 tuổi

1.1.8.1 Đặc điểm phát âm của trẻ 4 - 5 tuổi

Khả năng phát âm của trẻ tỉ lệ thuận theo lứa tuổi, trẻ càng lớn phát âm càng chính xác và rõ ràng hơn Tuy nhiên, trẻ ở đầu độ tuổi từ 4 - 5 tuổi có cách phát âm chưa thật sự ổn định, ta vẫn có thể bắt gặp những hiện tượng nói lắp, nói ngọng, thay thế những âm khó bằng những âm dễ như: rùa - dùa,… và giọng của trẻ còn kéo dài, chưa gọn Nhưng khi bước sang cuối độ tuổi, trẻ phát âm có nhiều tiến bộ

và phát âm đúng hầu hết các hình thức âm thanh của ngôn ngữ tiếng mẹ đẻ và phát

âm đúng cả sáu thanh điệu

1.1.8.2 Đặc điểm vốn từ của trẻ 4 - 5 tuổi

Vốn từ của trẻ tăng nhanh theo lứa tuổi, trẻ 4 tuổi có thể sử dụng 1200 từ Vốn

từ của trẻ không chỉ tăng nhanh về số lượng mà cả về chất lượng Trẻ đã hiểu ý nghĩa của nhiều từ loại khác nhau, không chỉ hiểu những từ có tính cụ thể như: chó, mèo, lợn, gà… mà trẻ còn hiểu cả những từ có tính khái quát, trừu tượng như: gia

Trang 25

súc, gia cầm, hiền, dữ… Tuy nhiên, vốn từ của trẻ 4 - 5 tuổi vẫn là danh từ và động

từ chiếm ưu thế, còn tính từ và các loại từ khác còn ít sử dụng Bên cạnh đó, trẻ ở lứa tuổi này còn biết sử dụng các từ mang tính biểu cảm có hình ảnh, âm thanh, màu sắc Với số lượng và chất lượng vốn từ của trẻ tăng nhanh như vậy, ta có thể thấy rằng môi trường sống, môi trường ngôn ngữ xung quanh trẻ rất phong phú và đa dạng Trình độ văn hóa, nghề nghiệp, sự hướng dẫn chỉ bảo trực tiếp của người lớn

sẽ có ảnh hưởng rất lớn đến sự phát triển vốn từ của trẻ

1.1.8.3 Đặc điểm ngữ pháp của trẻ 4 - 5 tuổi

Trẻ ở độ tuổi 4 - 5 tuổi đã có thể sử dụng câu có đầy đủ thành phần và cấu trúc ngữ pháp Câu nói của trẻ trở nên rõ ràng và có sự liên kết chặt chẽ giữa các từ trong câu hơn Trẻ 4 tuổi nói câu ghép chưa nhiều, khoảng 10% trong tổng số câu nói, trong đó trẻ thường hay sử dụng câu ghép đẳng lập với các quan hệ đẳng lập như: và, hay, còn… và trong câu ghép chính phụ, trẻ sử dụng câu ghép có quan hệ nhân quả, câu ghép có quan hệ mục đích - sự kiện Trẻ ở lứa tuổi này còn sử dụng được các loại câu tường thuật, câu nghi vấn và câu cầu khiến Còn ở những loại câu khác ít khi xuất hiện hoặc không bao giờ xuất hiện ở trẻ Tuy nhiên, trẻ 4 - 5 tuổi vẫn còn có những hạn chế trong việc sắp xếp lời nói, diễn đạt đôi khi còn dài dòng

và lủng củng, nhất là trong quá trình tự nói

1.1.8.4 Đặc điểm ngôn ngữ mạch lạc của trẻ 4 - 5 tuổi

Đối với trẻ 4 - 5 tuổi, sự phát triển lời nói mạch lạc chịu ảnh hưởng lớn của việc tích cực hóa vốn từ (khối lượng lúc này đã đạt đến khoảng 700 từ) lời nói của trẻ được mở rộng hơn, có trật tự hơn, mặc dù cấu trúc còn chưa hoàn thiện Trẻ 4 - 5 tuổi bắt đầu được học đọc những câu chuyện nhỏ theo tranh, theo đồ chơi, theo mô hình Nhưng phần lớn câu chuyện của trẻ chỉ đơn thuần là mô phỏng lại mẫu của người lớn

Trong độ tuổi này diễn ra sự phát triển mạnh mẽ lời nói văn cảnh có nghĩa là nói chỉ tự mình hiểu được Tư duy của trẻ phát triển hơn, trẻ có thể nhận biết được những dấu hiệu, đặc điểm, đặc trưng, có thể đưa ra những phân tích đầy đủ về sự vật, hiện tượng Bằng ngôn ngữ, trẻ có thể diễn đạt rõ ràng, mạch lạc ý nghĩ, sự hiểu

Trang 26

biết của mình Phát triển lời nói mạch lạc cho trẻ thực hiện trong việc dạy trẻ kể chuyện bắt đầu từ hình thức đơn giản là kể các tác phẩm văn học ngắn đến hình thức cao hơn là kể chuyện sáng tạo Trẻ biết xây dựng câu chuyện tương đối liên tục, rõ ràng, phong phú theo đề tài cho sẵn hoặc kể chuyện theo tranh, đồ chơi, mô hình Nhưng trẻ vẫn cần có mẫu câu của giáo viên

1.1.9 Phát triển vốn từ cho trẻ 4 - 5 tuổi

1.1.9.1 Từ

Cho đến nay, đã có khoảng 300 định nghĩa về Từ Các nhà khoa học đứng trên những phương diện nghiên cứu khác nhau đã đưa ra những quan điểm xem xét Từ trên phương diện ngữ pháp học (phối hợp mặt ngữ âm và mặt ngữ nghĩa) được chấp nhận hơn cả

Dưới góc độ ngôn ngữ học, các nhà ngôn ngữ học đã định nghĩa về Từ Tiếng Việt như sau:

- Từ là đơn vị nhỏ nhất, là một âm hay một tổ hợp âm có nghĩa của một ngôn ngữ, có khả năng hoạt động độc lập, tái hiện tự do trong lời nói để xây dựng nên câu

- Từ là đơn vị cơ bản của ngôn ngữ, bao gồm hình thức âm thanh ổn định và hoàn chỉnh và ý nghĩa Hai phần này liên quan mật thiết và hỗ trợ cho nhau để biểu hiện ý nghĩa của con người Từ không chỉ biểu thị các sự vật hiện tượng đơn lẻ mà biểu thị cả một nhóm sự vật hiện tượng tập hợp lại theo một dấu hiệu nhất định, do

đó từ có tính chất khái quát cao

- Theo tác giả Nguyễn Thiện Giáp - Từ vựng học Tiếng Việt, Hà Nội 1985: Từ của Tiếng Việt là một chỉnh thể nhỏ nhất, có ý nghĩa dùng để tạo câu nói, nó có hình thức của một âm tiết, một “chữ” viết “rời”

Qua các định nghĩa trên cho thấy, dù chưa có sự thống nhất nhưng đã có quan điểm chung về Từ Tiếng Việt ở chỗ: Từ là đơn vị nhỏ nhất có ý nghĩa, có kết cấu vỏ ngữ âm bền vững, hoàn chỉnh, có chức năng gọi tên, được vận dụng độc lập, tái hiện tự do trong lời nói để tạo nên câu

1.1.9.2 Vốn từ

Vốn từ của một ngôn ngữ là “tổng số và hệ thống toàn bộ từ và cụm từ cố định của ngôn ngữ đó” Mỗi một ngôn ngữ phát triển có một khối lượng từ phong phú có

Trang 27

thể lên tới hàng chục vạn từ Vốn từ vựng của một ngôn ngữ bao gồm nhiều lớp từ, nhiều nhóm từ không đồng nhất và có đặc trưng khác nhau Trong vốn từ vựng của bất kì ngôn ngữ nào cũng tồn tại những từ mới và những từ cũ, những từ phổ biến chung và những từ địa phương, những từ chuẩn mực và những từ vay mượn, từ chuyên môn

Ví dụ: Vốn từ của ngôn ngữ Tiếng Việt có nhiều từ vay mượn từ tiếng Hán hoặc tiếng Pháp (ghi - đông, gác - ba - ga…)

Với mỗi cá nhân, vốn từ không tỉ lệ thuận với vốn từ trong ngôn ngữ chung của cả cộng đồng mà nó phụ thuộc vào sự phát triển trí tuệ, nhận thức, văn hóa của mỗi cá nhân Theo kết quả nghiên cứu của các nhà tâm lí học thì vốn từ của những người có trình độ văn hóa cao là khoảng 6000- 9000 từ, của một nhà thiên tài là xấp

Đối với trẻ mầm non, vốn từ tích cực là những từ trẻ hiểu được và biết vận dụng trong các tình huống giao tiếp Còn vốn từ thụ động là những từ trẻ chưa hiểu

ý nghĩa hoặc có hiểu nhưng không biết vận dụng trong giao tiếp (không nói ra được) Như vậy, nghiên cứu phát triển vốn từ cho trẻ không chỉ là mở rộng vốn từ, làm giàu vốn từ về mặt số lượng mà phải tích cực hóa vốn từ trong giao tiếp

1.1.9.3 Từ loại

Từ loại là kết quả nghiên cứu vốn từ trên bình diện ngữ pháp Đó là những lớp

từ có chung ngữ pháp Những đặc trưng của lớp từ đó được sử dụng là tiêu chuẩn tập hợp và phân loại

Theo tác giả Lê Biên trong cuốn “Từ loại Tiếng Việt hiện đại”, căn cứ vào chức năng cú pháp của từ, ông đã chia vốn từ Tiếng Việt thành hai loại lớn, đó là thực từ và hư từ

Trang 28

Tóm lại, Từ là đơn vị cơ bản để xây dựng câu, không có từ thì không có ngôn ngữ Trẻ mẫu giáo được tiếp xúc thường xuyên với ngôn ngữ Tiếng Việt sẽ có cơ hội được hình thành khái niệm về từ, hiểu được ý nghĩa của từ và tập sử dụng vốn

từ Tiếng Việt trong các tình huống giao tiếp một cách chủ động, tích cực, góp phần vào quá trình củng cố và phát triển tiếng Việt

1.1.9.4 Phát triển vốn từ

Phát triển vốn từ cho trẻ là cơ sở của công tác phát triển ngôn ngữ Bởi vì từ là đơn vị có nghĩa của lời nói, có thể dùng độc lập, bao gồm đầy đủ cả hai mặt: âm thanh và ý nghĩa Trong từ phản ánh những sự vật, hiện tượng của thế giới xung quanh cũng như các đặc điểm của nó Việc phát triển vốn từ cho trẻ phải được tiến hành cùng với việc mở rộng và nâng cao nhận thức của trẻ về thế giới xung quanh Đây là hai mặt có quan hệ hữu cơ và không thể tách rời nhau Trường mầm non có nhiệm vụ phát triển vốn từ cho trẻ cả về số lượng và chất lượng Dạy trẻ không chỉ biết nhiều từ, mà còn phải hiểu từ, sử dụng từ đúng, loại ra những từ không đẹp trong lời nói của trẻ, dạy trẻ biết cách sử dụng một số biện pháp tu từ đơn giản trong giao tiếp hàng ngày

Phát triển vốn từ được hiểu như là một quá trình lâu dài trẻ tích lũy vốn từ, hiểu nghĩa của từ và hình thành cách sử dụng từ trong các tình huống giao tiếp cụ thể Trẻ chỉ lĩnh hội nghĩa của từ khi nào từ được sử dụng trong câu, trong lời nói

Vì vậy, công tác phát triển vốn từ cần được tiến hành chặt chẽ với việc phát triển ngôn ngữ mạch lạc ở trẻ Xem xét quá trình hình thành và phát triển vốn từ ở trẻ, ta

có thể thấy được trẻ lĩnh hội nghĩa cụ thể của từ và nội dung khái niệm của từ, nó có liên quan đến quá trình nhận thức của trẻ; đồng thời, trẻ còn lĩnh hội vốn từ như là một yếu tố của lời nói như cách sử dụng từ, dùng từ thay thế, dùng từ có mức độ khác nhau, dùng từ trái nghĩa, đồng nghĩa…, cách sử dụng từ trong câu

Phát triển vốn từ có ý nghĩa quan trọng đối với sự phát triển toàn diện của trẻ Lĩnh hội vốn từ là điều kiện quan trọng để phát triển trí tuệ, để giải quyết nhiệm vụ tích lũy và chính xác hóa biểu tượng, hình thành khái niệm, phát triển tư duy Vốn

từ nghèo nàn ảnh hưởng đến giao tiếp của trẻ Cùng với việc phát triển vốn từ,

Trang 29

chúng ta thực hiện nhiệm giáo dục đạo đức và thẩm mĩ

Do đó, công tác phát triển vốn từ là hoạt động giáo dục có chủ định, có kế hoạch nhằm giúp trẻ lĩnh hội vốn từ có hiệu quả

1.1.9.5 Nội dung phát triển vốn từ

Hiện nay, ở các trường mầm non đều áp dụng theo chương trình giáo dục mầm non mới của Bộ Giáo dục - Đào tạo ban hành vào tháng 7 năm 2009 Ở lĩnh vực phát triển ngôn ngữ cho trẻ, chương trình cũng đã đề cập và nêu rõ những nội dung ngôn ngữ cần phát triển cho trẻ là những gì và như thế nào, đòi hỏi trẻ phải nói và hiểu từ để sử dụng từ một cách chính xác Với tác giả Nguyễn Xuân Khoa, ta cũng thấy được những điểm tương đồng đó Tuy nhiên, ông đã đề cập và phân chia nội dung phát triển vốn từ một cách cụ thể hơn

Nguyễn Xuân Khoa đã phân chia nội dung phát triển vốn từ theo đề tài: những

từ ngữ nói về cuộc sống riêng, những từ ngữ nói về cuộc sống xã hội và những từ ngữ nói về thế giới tự nhiên

a, Những từ ngữ về cuộc sống riêng

Mở rộng thế giới đồ vật trong tầm nhìn của trẻ: cho trẻ tiếp xúc, gọi tên tất cả những đồ vật có trong nhà, trong lớp Trẻ cần phải biết vật là từ chất gì, tính chất của chúng, công dụng của những đồ vật ấy Trẻ cần phân biệt những đặc điểm giống

và khác nhau của vật Yêu cầu trẻ biết so sánh vài đồ vật gần gũi với nhau để nói lên những được những điểm khác nhau giữa chúng, ví dụ như so sánh quần và váy, đũa và thìa…

Trẻ phải nhớ được địa chỉ của trường mình học, nhận biết được môi trường xung quanh, để không bị mất phương hướng

Cần dạy cho trẻ sử dụng đúng các động từ chỉ hoạt động hàng ngày của trẻ như: ăn, ngủ, đội (mũ, nón), mặc, cởi (giày, áo), gấp, cài, rửa…

Dạy cho trẻ nói đúng các màu sắc: xanh, đỏ, trắng, đen, vàng, hồng…

b, Những từ ngữ về cuộc sống xã hội

Cho trẻ biết thêm về những ngày lễ lớn của các dân tộc như: Ngày quốc tế

Trang 30

Thiếu nhi (1 - 6), Ngày Nhà giáo Việt Nam (20 - 11), Tến Nguyên Đán, Ngày Giỗ

tổ Hùng Vương, Ngày sinh nhật Bác… Giáo viên kể cho trẻ nghe về Bác, ngày sinh của Bác, quê hương Bác, nơi làm việc của Bác (nhà sàn, phủ Chủ tịch), tình yêu thương vô bờ của Bác dành cho thiếu niên, nhi đồng…

Cho trẻ biết tên gọi một số cơ quan nhà nước, chức năng của cơ quan đó: ủy ban, trường học, bệnh viện, đồn công an Cho trẻ quan sát các công trình công cộng: nhà hát, rạp chiếu phim, công viên, sân vận động… Giáo viên nói cho trẻ biết về công dụng, chức năng, quá trình xây dựng chúng…

Kể cho trẻ nghe về bộ đội, nhiệm vụ của bộ đội đối với Tổ quốc, với nhân dân Cung cấp cho trẻ vốn từ về bộ đội, công an, nông dân, nhân dân, Tổ quốc, về các binh chủng như: bộ binh, không quân, hải quân… Giáo viên cung cấp nội dung vốn

từ cho trẻ về biển đảo, quê hương

Cho trẻ biết thêm về một số phương tiện giao thông xe đạp, xe máy, ô tô, tàu hỏa, thuyền bè, ca nô, máy bay Dạy trẻ biết sử dụng đúng những động từ phù hợp với các phương tiện đó Ví dụ: máy bay bay rất nhanh, thuyền trôi trên sông…

c, Những từ ngữ về thế giới tự nhiên

Cho trẻ nói đúng mùi vị của một số loại quả, ví dụ: táo, ổi, chuối khi chín thì ngọt; khi xanh thì chát Những loại quả có thể ăn ngay không cần nấu chín như nhãn, vải, ổi…; những loại quả phải nấu chín mới ăn được như bầu, mướp, bí… Những thứ rau có thể ăn ngay không cần nấu chín như những loại rau thơm: mùi, tía

tô, diếp cá…; những thứ rau phải nấu chín mới ăn được như: củ cải, su hào…

Cho trẻ gọi tên và so sánh những động vật tương đối giống nhau để nói lên những điểm khác nhau cơ bản giữa chúng Ví dụ: so sánh gà, vịt, ngan; chó, mèo; trâu, bò…Cung cấp cho trẻ những động từ chỉ sự vận động của các loài vật, ví dụ: trâu, bò…đi; ếch, thỏ… nhảy; chim bay…

Giáo viên cung cấp cho trẻ những hiểu biết, vốn từ nói lên lợi ích và tác hại của một số loài vật như: chuột phá hoại mùa màng, trâu cày bừa, mèo bắt chuột… Nói lên được cách chăm sóc và bảo vệ những con vật có ích, cách đề phòng và chống những con vật có hại

Trang 31

Mở rộng hiểu biết của trẻ về hiện tượng thiên nhiên: nắng, mữa, sấm, chớp…; biết được đặc điểm của mùa đông, mùa hè, mùa xuân, mùa thu

1.2 Thực trạng việc sử dụng trò chơi nhằm phát triển vốn từ cho trẻ 4 - 5 tuổi

1.2.1.2 Đối tượng khảo sát

20 giáo viên đang giảng dạy ở các lớp mẫu giáo 4 - 5 tuổi

1.2.1.3 Địa điểm khảo sát

Trường mầm non Xuân Hòa - phường Xuân Hòa - thị xã Phúc Yên - tỉnh Vĩnh Phúc

1.2.1.4 Nội dung khảo sát

Tìm hiểu ý kiến của giáo viên về việc xây dựng và tổ chức trò chơi cho trẻ mẫu giáo 4 - 5 tuổi nhằm phát triển vốn từ

1.2.1.5 Phương pháp khảo sát

- Phương pháp sử dụng phiếu điều tra:

Chúng tôi sử dụng phiếu câu hỏi để tìm hiểu về nhận thức của giáo viên về việc xây dựng và tổ chức trò chơi phát triển vốn từ cho trẻ Đồng thời, tìm hiểu về việc giáo viên tổ chức trò chơi phát triển vốn từ cho trẻ có hiệu quả hay không và những khó khăn của giáo viên trong việc xây dựng và tổ chức trò chơi cho trẻ

- Phương pháp quan sát:

Chúng tôi sử dụng phương pháp này để quan sát các giáo án tích hợp nội dung phát triển vốn từ cho trẻ Từ đó, đưa ra những nhận xét có liên quan đến vấn đề mà chúng tôi đang nghiên cứu

- Phương pháp đàm thoại:

Chúng tôi sử dụng phương pháp này để trò chuyện với giáo viên và trẻ về những vấn đề có liên quan đến lĩnh vực chúng tôi đang nghiên cứu nhằm đánh giá

Trang 32

tình hình chung của việc phát triển vốn từ của trẻ mẫu giáo 4 - 5 tuổi

- Phương pháp thống kê toán học: Chúng tôi sử dụng phương pháp này để thống kê các số liệu thu thập được

1.2.2 Phân tích kết quả khảo sát thực trạng

Kết quả chúng tôi thu được từ phiếu điều tra như sau:

Câu hỏi 1: Theo cô, việc thiết kế trò chơi phát triển vốn từ cho trẻ có cần thiết hay không?

Ở câu hỏi này, chúng tôi đưa ra ba đáp án để giáo viên lựa chọn để thấy được tầm quan trọng của việc thiết kế trò chơi phát triển vốn từ cho trẻ Chúng tôi đã thống kê được số liệu như sau:

Bảng 1.1 Khảo sát mức độ nhận thức của giáo viên về việc thiết kế trò chơi

phát triển vốn từ cho trẻ 4 - 5 tuổi

STT Mức độ nhận thức Số ý kiến Tỉ lệ

Qua bảng thống kê ta thấy, tổng số phiếu là 20/20 phiếu đều nhận được ý kiến

là việc thiết kế trò chơi giúp trẻ phát triển vốn từ là cần thiết, chiếm 100% Việc này cho thấy các giáo viên đã nhận thấy được tầm quan trọng của việc phát triển vốn từ cho trẻ, vốn từ của trẻ tốt sẽ hỗ trợ rất nhiều cho ngữ pháp và lời nói mạch lạc của trẻ sau này, đó sẽ tạo một tiền đề tốt để trẻ có thể chuẩn bị cho mình vào các cấp học sau

Câu hỏi 2: Cô thường tổ chức trò chơi phát triển vốn từ cho trẻ trong giờ hoạt động nào?

Trang 33

Bảng 1.2 Khảo sát mức độ xuất hiện của trò chơi phát triển vốn từ

Ngoài ra, các trò chơi phát triển vốn từ cho trẻ cũng được xuất hiện trong các hoạt động còn lại Đứng thứ 3 là hoạt động âm nhạc (65%) với số phiếu là 13/20 phiếu

Có 12/20 giáo viên đã tổ chức trò chơi phát triển vốn từ ở hoạt động tạo hình, chiếm tỷ lệ 60%

Có 9/20 giáo viên đã tổ chức trò chơi phát triển vốn từ ở hoạt động phát triển thể chất, chiếm tỷ lệ 45%

Trang 34

Có 8/20 giáo viên đã tổ chức trò chơi phát triển vốn từ ở hoạt động làm quen với toán, chiếm tỷ lệ 40%

Câu hỏi 3: Trẻ có hứng thú khi tham gia trò chơi phát triển vốn từ không?

Bảng 1.3 Khảo sát mức độ hứng thú của trẻ khi tham gia trò chơi

Câu hỏi 4: Cô có hay thay đổi trò chơi cho trẻ không?

Bảng 1.4 Khảo sát mức độ thay đổi trò chơi phát triển vốn từ cho trẻ

STT Mức độ thay đổi Số ý kiến Tỉ lệ

Trang 35

Qua bảng khảo sát ta nhận thấy có 85% giáo viên thường xuyên thay đổi trò chơi phát triển vốn từ cho trẻ Những giáo viên này cho rằng, trẻ rất dễ chán với những trò chơi nếu được tổ chức nhiều lần, trẻ sẽ không còn hứng thú và tiết học sẽ không còn đọng lại ở trẻ được gì Ngoài ra, trò chơi thay đổi nhiều lần thì vốn từ của trẻ cũng sẽ được tăng cao

Có 15% giáo viên thỉnh thoảng thay đổi trò chơi cho trẻ Những giáo viên này cho rằng, cho trẻ chơi đi chơi lại để trẻ quen và thuộc trò chơi

Với mức độ ít khi và không bao giờ, chúng tôi đều nhận được 0/20 phiếu với tỉ

lệ 0%

Như vậy, có thể hiểu rằng các giáo viên mầm non hiện nay cũng đã và đang tích cực trong việc tổ chức và thay đổi các trò chơi phát triển vốn từ cho trẻ, đó là một mặt tích cực mà các giáo viên cần phải phát huy

Câu hỏi 5: Khi thiết kế một trò chơi mới, cô thường gặp khó khăn về vấn đề gì?

Bảng 1.5 Khảo sát về những khó khăn của giáo viên khi thiết kế một trò chơi

ra, để thiết kế một trò chơi phát triển vốn từ cho trẻ hoàn toàn mới và sáng tạo thì càng cần phải có thật nhiều kinh nghiệm, có 10/20 giáo viên đã cho rằng mình gặp khó khăn ở mặt đó, chiếm 50%

Trang 36

Như vậy, qua việc khảo sát các giáo viên ở các trường mầm non cho thấy giáo viên đã nhận thức được tầm quan trọng của việc thiết kế và tổ chức các trò chơi nhằm phát triển vốn từ cho trẻ mẫu giáo 4 - 5 tuổi Nhưng việc thiết kế các trò chơi mới còn gặp khá nhiều khó khăn, các giáo viên thường sử dụng lại các trò chơi, ít cho trẻ chơi trò chơi mới

KẾT LUẬN CHƯƠNG 1

Phát triển ngôn ngữ cho trẻ là một trong những mục tiêu quan trọng nhất của giáo dục mầm non Ngôn ngữ là công cụ để trẻ giao tiếp, học tập và vui chơi Ngôn ngữ giữ vai trò quyết định sự phát triển của tâm lí trẻ em Bên cạnh đó, ngôn ngữ còn là phương tiện để giáo dục trẻ một cách toàn diện bao gồm sự phát triển về đạo đức, tư duy nhận thức và các chuẩn mực hành vi văn hoá Để trẻ có thể tự tin giao tiếp tốt, chúng ta cần cung cấp vốn từ cho trẻ nhiều hơn nữa

Trò chơi có vai trò đặc biệt quan trọng trong việc giúp trẻ phát triển vốn từ Việc sử dụng trò chơi kết hợp phát triển vốn từ giúp trẻ hứng thú với việc học từ mới, ôn lại các từ cũ và khắc sâu hơn Bên cạnh đó, trẻ còn được chơi, quên đi nhiệm vụ chính là học, giúp trẻ tránh buồn chán và mệt mỏi

Hơn thế nữa, qua khảo sát thực trạng việc sử dựng trò chơi phát triển vốn từ ở trường mầm non hiện nay, ta thấy việc thiết kế trò chơi mới của các giáo viên còn gặp nhiều khó khăn

Ở chương 2, chúng tôi sẽ tiến hành hệ thống một số trò chơi cho trẻ mẫu giáo

4 - 5 tuổi nhằm phát triển vốn từ, hi vọng với các trò chơi này sẽ giúp cho vốn từ của trẻ được chính xác và mở rộng hơn và giảm bớt được phần nào khó khăn của giáo viên mầm non

Trang 37

Chương 2 HỆ THỐNG TRÒ CHƠI PHÁT TRIỂN VỐN TỪ

CHO TRẺ 4 - 5 TUỔI 2.1 Nguyên tắc khi xây dựng trò chơi cho trẻ

Khi thiết kế một trò chơi mới cho trẻ, cần đảm bảo các nguyên tắc sau:

2.1.1 Trò chơi phải mang ý nghĩa giáo dục

Khi thiết kế một trò chơi mới, ta cần phải hướng tới một mục đích giáo dục nhất định, nghĩa là thông qua trò chơi đó sẽ dạy cho trẻ cái gì, hay phát triển trẻ ở những mặt nào…

2.1.2 Trò chơi luôn khơi gợi và tạo sự hứng thú với trẻ

Trò chơi luôn khơi gợi và tạo sự hứng thú với trẻ về cuộc sống xung quanh và giúp trẻ hiểu biết nhiều điều mới mẻ có trong cuộc sống xung quanh Ngoài ra, trò chơi cần kích thích sự sáng tạo của trẻ

2.1.3 Trò chơi phải phù hợp với đặc điểm tâm sinh lí của trẻ

Nội dung trò chơi phải dựa vào đặc điểm của quá trình phát triển nhận thức

và đáp ứng yêu cầu nhận thức của trẻ ở mức độ nào đó phù hợp với lứa tuổi mà người thiết kế muốn hướng tới

2.2 Hệ thống trò chơi và cách tổ chức trò chơi phát triển vốn từ cho trẻ 4 - 5 tuổi

2.2.1 Nhóm trò chơi học tập phát triển vốn từ cho trẻ 4 - 5 tuổi

Trang 38

Cô và trẻ cùng nhau nắm tay hát “Quả bóng” Sau khi cả lớp đã ổn định ở đội hình vòng tròn, cô giới thiệu trò chơi với trẻ Cô giới thiệu cách chơi cho trẻ: Cô sẽ diễn tả một hành động và không nói gì, trẻ sẽ chăm chú xem (Ví dụ: Cô diễn tả động tác: một tay cầm cốc, một tay dùng ngón trỏ chà chà vào răng) Tiếp đến, cô sẽ ném trái bóng vào một bạn, bạn đó sẽ trả lời nhanh hành động cô vừa diễn tả được gọi là gì (Ví dụ: Đó là hành động đánh răng) Khi bạn đó trả lời đúng, bạn sẽ đặt trái bóng xuống chân của mình, và diễn tả một hành động khác, sau khi diễn tả xong, bạn sẽ ném bóng cho một bạn khác và bạn nhận được bóng sẽ đoán Cứ thế, trò chơi

sẽ được tiếp tục Cô đứng ngoài theo dõi, giúp đỡ trẻ khi gặp khó khăn (Ví dụ: Khi trẻ không nói được tên hành động mà bạn diễn tả, cô yêu cầu một trẻ khác hoặc cả lớp sẽ cùng nhau trả lời)

2.2.1.2 Trò chơi: Sắc màu bé yêu

Rổ đựng quả nhựa có các màu:

- Vàng: quả chuối, quả lê, quả xoài, quả đu đủ…

- Xanh: quả bầu, quả bí, quả táo…

- Đỏ: quả hồng, quả mận, quả ớt…

- Tím: quả cà, quả nho…

Luật chơi

Mỗi trẻ chỉ chọn một quả có màu mình yêu thích Trẻ nói đúng tên và tìm đúng bạn có quả cùng màu với mình

Tiến hành

Cô cho trẻ đứng thành vòng tròn Cả lớp sẽ cùng nhau hát bài hát “Quả” và

cô sẽ là người cầm rổ quả đi đến từng người Mỗi trẻ chơi được chọn một quả có màu sắc yêu thích Khi thấy quả trong rổ đã hết thì cô hô to “Tôi thích quả có màu

Trang 39

xanh/ đỏ/ tím/ vàng” Trẻ sẽ nhanh chóng tìm bạn có quả cùng màu sắc, gọi to tên quả của mình và màu của quả đó lên, như: “quả nho tím”, “quả lê vàng”, “quả táo xanh”, “quả ớt đỏ” Sau đó, cô cho trẻ đếm số lượng quả có trong nhóm của mình Trẻ nhớ số lượng để so sánh với các nhóm còn lại Trong lần chơi tiếp theo, trẻ đổi quả cho nhau

2.2.1.3 Trò chơi: Ước mơ của bé

Mục đích

Phát triển vốn từ về tên và đặc điểm của các ngành nghề: giáo viên, bác sĩ, phi công…

Phát triển khả năng phán đoán và phân tích của trẻ

Trẻ biết miêu tả ngành nghề theo các dấu hiệu đặc trưng

Trẻ biết và đoán được tên các ngành nghề được nhắc đến

Chuẩn bị

Lô tô về các ngành nghề

Luật chơi

Trẻ miêu tả không được nhắc đến tên ngành nghề mà mình muốn nói

Trẻ đoán phải đoán đúng tên ngành nghề mà bạn mình miêu tả

Tiến hành

Cô trò chuyện và giới thiệu trò chơi với trẻ: “Tương lai các con muốn làm nghề gì? Có các ngành nghề nào mà con biết? Cô có một trò chơi nói về các ngành nghề, chúng ta cùng chơi nhé! Trò chơi có tên là: Ước mơ của bé”

Cô cho trẻ bắt cặp hai bạn chung một nhóm Lần lượt từng nhóm sẽ lên chơi, các nhóm còn lại sẽ ngồi dưới xem Cô cho hai trẻ đứng quay lưng lại với nhau Cô cho một trẻ xem thẻ hình về ngành nghề Sau đó, hai trẻ sẽ quay mặt lại với nhau Trẻ được xem hình sẽ diễn tả về ngành nghề mà mình thấy được (Ví dụ: mặc áo trắng, biết khám bệnh, có tai nghe…), tuyệt đối trong lời miêu tả của trẻ không được nhắc đến tên của ngành nghề Nếu vi phạm sẽ không được chơi tiếp Bạn còn lại sẽ đoán tên Mỗi nhóm sẽ được xem 2 ngành nghề Hai bạn trong nhóm sẽ thay phiên nhau miêu tả

Trang 40

2.2.1.4 Trò chơi: Sắc màu lung linh

2 ô một lần để tìm ra các cặp màu giống nhau Sau khi lật xong hết các ô, cô cho trẻ xem các cặp màu mà trẻ lật được và yêu cầu cả lớp đọc tên các cặp màu đó lên Tiếp theo, cô cho trẻ xem các hình vật dụng và yêu cầu trẻ tìm đồ vật có màu tương

tự với cặp màu mà trẻ đã lật được Cô cho trẻ đọc tên vật dụng và màu của vật dụng

đó lên Sau khi tìm đúng, trẻ sẽ áp dụng thực tế là tìm đồ vật ở trong lớp có màu giống với màu mà trẻ vừa lật

Lưu ý: Với những màu mà trẻ không nhớ hoặc không biết, cô có thể gợi ý cho trẻ hoặc dạy cho trẻ đọc tên màu mới đó

2.2.1.5 Trò chơi: Mùa nắng, mùa mưa

Ngày đăng: 11/09/2017, 15:50

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Trịnh Thị Hà Bắc (2013), Lí luận và phương pháp phát triển ngôn ngữ cho trẻ em, NXB Đại học Huế Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lí luận và phương pháp phát triển ngôn ngữ cho trẻ em
Tác giả: Trịnh Thị Hà Bắc
Nhà XB: NXB Đại học Huế
Năm: 2013
2. Trần Hòa Bình và Bùi Lương Việt (2007), Trò chơi dân gian trẻ em, NXB Đại học Sư phạm Sách, tạp chí
Tiêu đề: Trò chơi dân gian trẻ em
Tác giả: Trần Hòa Bình và Bùi Lương Việt
Nhà XB: NXB Đại học Sư phạm
Năm: 2007
3. Nguyễn Xuân Khoa (2004), Phương pháp phát triển ngôn ngữ cho trẻ mẫu giáo, NXB Đại học Sư phạm Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương pháp phát triển ngôn ngữ cho trẻ mẫu giáo
Tác giả: Nguyễn Xuân Khoa
Nhà XB: NXB Đại học Sư phạm
Năm: 2004
4. Hoàng Thị Phương (2013), Lí luận và phương pháp hướng dẫn trẻ làm quen với môi trường xung quanh, NXB Đại học Sư phạm Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lí luận và phương pháp hướng dẫn trẻ làm quen với môi trường xung quanh
Tác giả: Hoàng Thị Phương
Nhà XB: NXB Đại học Sư phạm
Năm: 2013
5. Nguyễn Hợp Phát (1986), Trò chơi vận động mẫu giáo, NXB Thể dục Thể thao Sách, tạp chí
Tiêu đề: Trò chơi vận động mẫu giáo
Tác giả: Nguyễn Hợp Phát
Nhà XB: NXB Thể dục Thể thao
Năm: 1986
6. Nguyễn Ánh Tuyết (2007), Tâm lí học trẻ em lứa tuổi mầm non, NXB Đại học Sư phạm Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tâm lí học trẻ em lứa tuổi mầm non
Tác giả: Nguyễn Ánh Tuyết
Nhà XB: NXB Đại học Sư phạm
Năm: 2007
7. Nguyễn Ánh Tuyết (2007), Giáo dục mầm non- những vấn đề lí luận và thực tiễn, NXB Đại học Sư phạm Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo dục mầm non- những vấn đề lí luận và thực tiễn
Tác giả: Nguyễn Ánh Tuyết
Nhà XB: NXB Đại học Sư phạm
Năm: 2007
8. Nguyễn Quang Uẩn (2007), Tâm lí học đại cương, NXB Thế Giới Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tâm lí học đại cương
Tác giả: Nguyễn Quang Uẩn
Nhà XB: NXB Thế Giới
Năm: 2007
9. Lê Thanh Vân (2006), Sinh lí học trẻ em, NXB Đại học Sư Phạm Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sinh lí học trẻ em
Tác giả: Lê Thanh Vân
Nhà XB: NXB Đại học Sư Phạm Hà Nội
Năm: 2006
10. Diễn đàn hộ trợ giảng dạy và chăm sóc trẻ em Khác
11. Từ điển Tiếng Việt xuất bản năm 1992 Khác
12. Tài liệu tại webside, http: //bachkhoatoanthumo.vn Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w