Các nước này thực hiện những chính sách khác nhau là một trong những nhân tố tác động tới quá trình hồi hương của người Do Thái từ 1930-1948.. Trong đó chính sách của Đức Quốc xã đối với
Trang 2LỜI CẢM ƠN
Em xin bày tỏ lời cảm ơn chân thành sâu sắc của mình tới các thầy cô giáo trong khoa Lịch sử trường Đại học sư phạm Hà Nội 2 đã cung cấp cho em những kiến thức trong suốt quá trình học tập tại trường Đặc biệt là cô Nguyễn Thị Tuyết Nhung – người hướng dẫn trực tiếp đã giúp đỡ em trong quá trình làm khoa học,
để em hoàn thành đề tài khóa luận của mình
Bên cạnh đó em xin gửi lời cảm ơn đến bố mẹ, bạn bè và những người thân của
em đã tạo mọi điều kiện, khích lệ tinh thần và động viên em rất nhiều để vượt qua những khó khăn, rào cản và hoàn thành tốt đề tài này của mình
Hà Nội, ngày 27 tháng 4 năm 2017
Sinh viên
Nguyễn Thị Lan
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Em xin cam đoan những nội dung mà em trình bày trong khóa luận này là kết quả nghiên cứu của bản thân dưới sự hướng dẫn của thầy cô
Nếu sai em xin hoàn toàn chịu trách nhiệm
Hà Nội, ngày 27 tháng 04 năm 2017
Sinh viên
Nguyễn Thị Lan
Trang 4MỤC LỤC
MỞ ĐẦU………1
1 Lí do chọn đề tài ……… ….5
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề……… 7
3 Đối tượng, nhiệm vụ và phạm vi nghiên cứu………9
4 Nguồn tư liệu và phương pháp nghiên cứu ……… 10
5 Đóng góp của đề tài………10
6 Bố cục của đề tài……….10
Chương 1 QUÁ TRÌNH HỒI HƯƠNG CỦA NGƯỜI DO THÁI VỀ PALESTINE(1930-1948)……… 12
1.1 Lí thuyết chung về các cuộc di cư trên thế giới……….12
1.2 Những nhân tố tác động đến quá trình hồi hương của người Do Thái …….14
1.2.1.Tình hình thế giới……… 14
1.2.2 Chính sách của Đức Quốc xã và Anh quốc……….17
1.2.3 Sự ủng hộ của Quốc tế ……… 27
1.2.4 Quá trình hồi hương của người Do Thái trước năm 1930……… 32
1.3 Quá trình hồi hương của người Do Thái (1930-1948)……… 34
1.3.1 Người Do Thái trở về vùng Palestine……… 34
1.3.2 Một số nhận xét về quá trình hồi hương của người Do Thái……… 40
Tiểu kết chương 1……… 43 Chương 2 QUÁ TRÌNH THÀNH LẬP NHÀ NƯỚC ISRAEL (1930-1948)…45
Trang 52.1 Quá trình đấu tranh của người Do Thái để thành lập một Nhà nước mới…45
2.1.1 Đấu tranh trên lĩnh vực chính trị - ngoại giao……… 45
2.1.2 Các cuộc khởi nghĩa vũ trang, bạo động……… 47
2.2 Sự ra đời Nhà nước Israel……… 50
2.2.1 Cơ sở cho sự ra đời Nhà nước Israel……… 50
2.2.2 Nhà nước Israel được thành lập……… 52
2.3 Những khó khăn, thách thức đối với nhà nước mới Israel……… 55
2.3.1 Sự chống đối của các nước Ả Rập……… 55
2.3.2 Nội bộ chính trị đất nước chia rẽ……… 59
2.3.3 Đất nước nghèo tài nguyên……… 60
Tiểu kết chương 2……… 62
KẾT LUẬN……… 64
TÀI LIỆU THAM KHẢO……… 67
PHỤ LỤC……… 70
Trang 6MỞ ĐẦU
1 Lí do chọn đề tài
Di cư là một hiện tượng đã diễn ra trong suốt chiều dài của lịch
sử thế giới Cách đây khoảng 50.000 năm đến 70.000 năm về trước có một làn sóng di dân nhỏ từ châu Phi đã tìm đến các bờ biển thuộc phía tây châu Á Tương tự như vậy trong thời nguyên thủy, cổ đại trung đại, cận và hiện đại cũng
có những dòng di cư khác nhau ở trên khắp các châu lục
Nguyên nhân của những dòng di dân có thể do nhiều yếu tố tác động Có thể là do sự gần gũi về mặt địa lí hoặc nhu cầu tìm kiếm công ăn việc làm Cũng có thể do di chuyển từ nơi có trình độ thấp tới nơi có trình độ cao, hay chiến tranh xung đột giữa các tộc người, quốc gia
Trong số các cuộc di cư đã diễn ra trên thế giới thì cuộc hồi hương của người Do Thái giai đoạn 1930-1948 là một trong những vấn đề nóng bỏng của thế kỉ XX Bởi lẽ giai đoạn này lịch sử dân tộc Do Thái cũng như lịch
sử Đức, các nước châu Âu và ở trên thế giới có nhiều biến động lớn Các nước này thực hiện những chính sách khác nhau là một trong những nhân tố tác động tới quá trình hồi hương của người Do Thái từ 1930-1948
Năm 1933, Adolf Hitler trở thành quốc trưởng Đức và sau đó quốc gia này nhanh chóng mở rộng chương trình bài Do Thái Hitler với chủ nghĩa phân biệt chủng tộc Đức đã khơi dậy được lòng tự hào và đồng thuận của người Đức Đặc biệt, khi khẳng định rằng nguồn gốc của người Đức – người Aryan – là chủng tộc siêu đẳng còn những chủng tộc khác như người Do Thái -
là hạ đẳng Giới cầm quyền do Hitler đứng đầu đã ra sức tuyên truyền kích động chủ nghĩa phục thù, chống cộng sản và phân biệt chủng tộc Đưa ra chủ trương phát xít hóa bộ máy chính quyền và thiết lập chế độ độc tài khủng bố công khai
Trang 7Dưới sự thống trị của Hitler, Đức đã chuyển thành một nhà nước phát xít toàn trị cai quản gần như mọi mặt của đời sống
Cũng từ khi Hitler lên nắm chính quyền thì cho thi hành một loạt các chính sách nhằm giết người Do Thái vô tội Những thảm họa Holocaust được tạo ra, những phòng giam ngạt hơi, những nhà tù giam ẩm thấp, bẩn thỉu được xây dựng nhiều Mục đích chính và duy nhất là sát hại tất cả những người
Do Thái ở Đức nói riêng và các nước khác nói chung
Điều này đã buộc người Do Thái ở Đức và các quốc gia khác trên thế giới đặc biệt là ở châu Âu phải hồi hương từ nơi mình đang sinh sống đến một nơi khác là khu vực Trung Đông Dưới ngọn cờ của phong trào phục quốc Zion thì nhiều làn sóng hồi hương đã về Palestine Quá trình này diễn ra mạnh mẽ và chia thành nhiều đợt, đặc biệt là ở giai đoạn 1930-1948 Kể từ năm
1948 trở đi, nơi người Do Thái tập trung sinh sống đông đảo thì được thành lập
nên một nhà nước mới đó là: “Nhà nước Israel”
Như vậy, quá trình hồi hương của người Do Thái và sự thành lập Nhà nước Israel (1930-1948) có nhiều vấn đề phức tạp cần đi sâu nghiên cứu tìm hiểu Do đó, thông qua việc tìm hiểu đề tài này góp phần làm rõ thêm những kiến thức lịch sử trong quá khứ về nguyên nhân tác động tới quá trình hồi hương của người Do Thái từ 1930 – 1948 Trong đó chính sách của Đức Quốc
xã đối với người Do Thái ở châu Âu là một trong những lí do chính dẫn tới quá trình hồi hương của họ
Mặt khác, cũng thấy được quá trình hồi hương và tác động của quá trình hồi hương đó đến vận mệnh của một dân tộc, sự ra đời của một Nhà nước mới ở khu vực Trung Đông là: Israel Từ đây Israel với tư cách là một quốc gia độc lập chính thức xuất hiện trên bản đồ của thế giới, có đường lối đối ngoại riêng
Trang 8Vì vậy, việc nghiên cứu đề tài “Quá trình hồi hương của người
Do Thái về Palestine và sự thành lập Nhà nước Israel(1930-1948)” có ý nghĩa
lí luận và thực tiễn sâu sắc
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Đề tài “Quá trình hồi hương của người Do Thái về Palestine và
sự thành lập Nhà nước Israel(1930- 1948)” là một trong những chủ đề nhận
được sự quan tâm của giới nghiên cứu trong và ngoài nước Tuy nhiên, những công trình nghiên cứu trong nước về đề tài hồi hương của người Do Thái mới chỉ được đề cập một cách khái lược trong một số tác phẩm tiêu biểu như:
Cuốn sách“Câu chuyện Do Thái - lịch sử thăng trầm của một
dân tộc” của Đặng Hoàng Sa do nhà xuất bản Hồng Đức, xuất bản năm 2016
Tác giả đã đề cập đến một số vấn đề như là những đặc trưng nổi bật về bản sắc người Do Thái, dân tộc Do Thái, và những cuộc xung đột giữa người Do Thái với người khác Nhưng, do phạm vi đề cập rộng, do vậy tác phẩm chưa đi sâu nghiên cứu về những nhân tố tác động đến quá trình hồi hương và quá trình hồi hương của người Do Thái trong giai đoạn 1930-1948 Qua đó người viết sử dụng tài liệu này để làm tài liệu tham khảo
Tiếp theo, là cuốn“ Bài học Israel” của Nguyễn Hiến Lê được
xuất bản bởi nhà Văn hóa năm 1994 đề cập những nội dung như quá trình hồi hương của người Do Thái, công cuộc xây dựng đất nước của người Do Thái sau năm 1948
Cuốn“Nhật kí Anna Frank” là cuốn nhật kí được tác giả Nguyễn
Văn Quảng dịch xuất bản năm 2005 bởi nhà Thanh niên Tác phẩm này là những tâm sự nhật kí hàng ngày một em gái 14 tuổi người Do Thái ở Hà Lan viết lên Mục đích tố cáo tội ác diệt chủng người Do Thái của Đức Quốc xã trong Chiến tranh thế giới lần hai, đồng thời là khúc ca ngân lên quyền sống
Trang 9chính đáng và quyền được hưởng hạnh phúc của con người Qua đó cũng là một
tư liệu quan trọng để cho người viết làm tài liệu tham khảo
Cuốn sách “Sự trỗi dậy và suy tàn của đế chế thứ ba - Lịch sử
Đức Quốc xã” là một trong những tác phẩm về lịch sử quan trọng nhất của thế
kỉ trước do tác giả Orville Prescott viết trong The NewYork Time Tác phẩm này được dịch ra năm 2007 bởi Diệp Minh Tâm Nội dung tác phẩm này được tác giả Orville Prescott đã trình bày những nội dung về Hitler, về Nazi, về cuộc thảm sát Do Thái một cách chi tiết
Tiếp theo là cuốn “Lịch sử Israel” của Albert Martin xuất bản
bởi NewYork Willian Moror and Company năm 2004 Đây là tác phẩm đề cập
về kỷ niệm 60 năm thành lập quốc gia, ông mô tả những khoảnh khắc xác định trong lịch sử của người Do Thái Trong đó có Tuyên bố Balfour năm 1917, Nghị quyết phân chia của Liên Hợp Quốc năm 1947, và sự ra đời của Nhà nước Israel vào năm 1948 Sự phát triển tiếp theo của Israel bị chi phối bởi các cuộc xung đột của Suez, cuộc Chiến Sáu Ngày, chiến tranh tháng Mười, chiến tranh Li-băng
Cuốn sách của John W Toland: “Adoft Hitler - Chân Dung Một
Trùm Phát Xít” xuất bản bởi nhà xuất bản công an nhân dân vào năm 2012 tập
trung khai thác các nguồn thông tin từ các cá nhân có mối quan hệ mật thiết hoặc có vốn hiểu biết về Hitler cũng như đã từng chứng kiến con đường vươn tới quyền lực của nhân vật này Tác phẩm được đánh giá cao bởi các thông tin quý giá cùng những nghiên cứu thấu đáo mà sử gia lừng danh người Mỹ đã dày công sưu tập và phân tích
Ngoài ra, còn có rất nhiều những bài báo, bài viết đăng trên tạp chí Nghiên cứu Trung Đông và ít nhiều tài liệu của Việt Nam có đề cập đến những khía cạnh nhất định và ở mức độ khác nhau về quá trình hồi hương của
Trang 10người Do Thái giai đoạn 1930 -1948, sự thành lập nhà nước Isarel Từ đó, người viết có thêm những nguồn tư liệu đa dạng và phong phú
Tuy nhiên, các tác phẩm này mới chỉ đề cập một cách khái lược
về nạn thảm sát người Do Thái, về Hitler, về quá trình hồi hương của người Do Thái Hay tình hình kinh tế, chính trị, văn hóa của người Do Thái sau khi thành lập nhà nước Israel năm 1948 Một số tài liệu còn đề cập đến chung chung sơ lược và thiếu tính hệ thống chi tiết Song đây chính là những tài liệu hết sức quan trọng để cho người viết thực hiện đề tài này
3 Đối tượng, nhiệm vụ và phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Đề tài tập trung nghiên cứu về quá trình hồi hương của người
Do Thái và sự thành lập nhà nước mới Israel giai đoạn 1930-1948
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Nhiệm vụ nghiên cứu: Để giải quyết vấn đề được đặt ra, khóa luận sẽ tập trung giải quyết các nhiệm vụ sau:
- Phân tích những nhân tố tác động tới quá trình hồi hương của người Do Thái trong giai đoạn 1930 - 1948
- Phân tích quá trình hồi hương của người Do Thái từ 1930-1948
và sự thành lập nhà nước Israel năm 1948 ở khu vực Trung Đông
- Phân tích những khó khăn, thách thức đối với Isarel sau khi được thành lập
3.3 Phạm vi nghiên cứu
- Về thời gian: Đề tài này tập trung nghiên cứu vào khoảng thời gian từ năm 1930 đến năm 1948
Trang 11- Về không gian: Đề tài này tập trung nghiên cứu các vấn đề về quá trình hồi hương của người Do Thái ở châu Âu, Trung Đông và sự thành lập nhà nước mới Israel năm 1948
Sở dĩ lấy mốc trong giai đoạn 1930-1948 là vì trong khoảng thời gian này quá trình hồi hương của người Do Thái diễn ra rất phổ biến ở châu Âu tới khu vực Trung Đông Năm 1930 là năm bắt đầu quá trình hồi hương diễn ra đông đảo, người Do Thái từ rất nhiều nơi như nước Đức, Hà Lan và một số nước khác trên khu vực châu Âu tới khu vực này Nguyên nhân là năm 1930 khi Hitler lên nắm chính quyền cho thi hành một loạt các cuộc thảm sát và quá trình hồi hương này nhằm thoát khỏi cuộc thảm sát Holocaust - sự giết người dã man của Đức Quốc xã
Và mốc kết thúc cho đề tài nghiên cứu là năm 1948 do năm 1948 sau khi người Do Thái hồi hương đông đảo về khu vực Trung Đông thì đã thành
lập một nhà nước mới là “Israel” Từ đây một nhà nước mới được xuất hiện
trên bản đồ thế giới
4 Nguồn tư liệu và phương pháp nghiên cứu
Nguồn tư liệu: Tài liệu tham khảo là các công trình nghiên cứu: sách, báo cáo khoa học, các bài báo, tạp chí của các nhà nghiên cứu ở trong và
ngoài nước
Về phương pháp nghiên cứu: sử dụng phương pháp lịch sử ngoài
ra còn sử dụng phương pháp so sánh, phương pháp niên đại, đồng đại để xác
minh đối chiếu giữa các sự kiện, nội dung lịch sử và xác minh tư liệu lịch sử
5 Đóng góp của đề tài
- Dựng lên bức tranh toàn cảnh về quá trình hồi hương của người
Do Thái và sự thành lập nhà nước Israel
Trang 12- Là tài liệu tham khảo cho những ai quan tâm đến lịch sử thế giới
Trang 13Chương 1 QUÁ TRÌNH HỒI HƯƠNG CỦA NGƯỜI DO THÁI VỀ
về Palestine (1930-1948)
*Khái niệm “di cư”
“Di cư” có nhiều định nghĩa khác nhau và không thống nhất một
khái niệm chung nào cả Tùy theo các yếu tố về kinh tế, chính trị và thậm chí là
vị trí địa lí, mục đích di cư của con người thì người ta có những định nghĩa về di
cư khác nhau
Theo PGS.TS Nguyễn Nam Phương trong cuốn “Giáo trình dân số
và phát triển” năm 2011 đưa ra định nghĩa về di cư: “là hình thức di chuyển dân cư từ một đơn vị lãnh thổ này đến một đơn vị lãnh thổ khác mang đặc trưng thay đổi nơi cư trú thường xuyên, theo những chuẩn mực không gian và thời gian nhất định Chính yếu tố những chuẩn mực không gian và thời gian này có
Trang 14thể linh hoạt thay đổi tùy thuộc vào yêu cầu nghiên cứu, quan sát, làm nên sự đa dạng và phong phú của rất nhiều loại di cư”[5; tr.112]
Nếu hiểu theo định nghĩa trên, có thể thấy mỗi hiện tượng di cư bao giờ cũng gồm hai mặt: một mặt là rời bỏ chỗ ở cũ (xuất cư) và mặt khác là đến một nơi ở mới khác hẳn so với chỗ trước kia (nhập cư) về mặt vị trí địa lí
Xuất cư: là quá trình chuyển đi của cư dân từ một vùng, một quốc gia này sang một vùng hay một quốc gia khác để sinh sống thường xuyên hoặc tạm thời (trong một khoảng thời gian dài)
Nhập cư: là quá trình chuyển đến của dân cư từ một vùng, một quốc gia khác để sinh sống thường xuyên hay tạm thời (trong một khoảng thời gian dài)
Cả hai quá trình xuất cư và nhập cư đều có những ảnh hưởng đến
cơ cấu và động lực tăng dân số của một vùng hay một quốc gia Nhất là quá trình nhập cư đôi khi đóng vai trò quan trọng trong việc hình thành dân cư ở một
“Di cư” diễn ra với nhiều hình thức và có nhiều cách phân loại
khác nhau Tùy theo dấu hiệu nhất định để phân loại di cư như: căn cứ vào hình thức tổ chức, căn cứ vào địa bàn di cư,
Đối với phân loại di cư theo hình thức tổ chức có thể phân chia
ra thành di cư có tổ chức và di cư không có tổ chức
Di cư có tổ chức là sự di chuyển dân cư được thực hiện theo các chương trình nhằm đáp ứng mục tiêu nhất định do nhà nước vạch ra và được nhà nước trực tiếp chỉ đạo, tổ chức
Trang 15Di cư không có tổ chức là người di cư tự ý tổ chức di cư Họ phải trang trải mọi phí tổn và sự tạo ra công ăn việc làm cho bản thân mình tại nơi cư trú trên cơ sở thực hiện một số thủ tục cần thiết đối với đối với chính quyền địa phương
*Nguyên nhân dẫn đến sự di cư
Có rất nhiều nguyên nhân tác động đến sự di cư của con người từ nơi này đến nơi khác trong đó có các nhân tố về điều kiện tự nhiên, nhân tố điều kiện kinh tế - xã hội, chính trị, quân sự,
Các nhân tố về điều kiện tự nhiên: Ảnh hưởng của điều kiện tự
nhiên đến hiện tượng di cư thông qua các nhân tố về vị trí địa lí, điều kiện địa hình, khí hậu, đất đai, tài nguyên Trong các yếu tố này, vị trí địa lí là yếu tố quan trọng tác động đến sự di cư
Các nhân tố về điều kiện kinh tế - xã hội: Các nhân tố kinh tế -
xã hội tác động đến sự di cư có nhiều như: sự phân công lao động theo lãnh thổ,
sự chênh lệch trong trình độ phát triển giữa các vùng, các chính sách phát triển kinh tế - xã hội của quốc gia hay địa phương Ngoài ra, còn có yếu tố thu nhập
và khả năng có việc làm Sự chênh lệch về thu nhập và khả năng có việc làm là động lực mạnh mẽ trong di cư
Những người di cư thường phải ra đi vì sự thiếu thốn, thấp kém trong thu nhập hay do không có việc làm Do đó, họ đến một nơi mới có khả năng đáp ứng nhu cầu việc làm của họ, tăng thêm thu nhập cho bản thân và gia đình
Các nhân tố về chính trị: Ảnh hưởng của chính trị cũng là yếu tố
quan trọng dẫn tới sự di chuyển của các dòng dân cư Sự biến động của chính trị khiến cho xã hội bất ổn định, kinh tế không phát triển Do vậy những người sống trong quốc gia đó buộc phải đến một nơi ở mới để đảm bảo tính mạng của mình
1.2 Những nhân tố tác động đến quá trình hồi hương của người Do Thái
Trang 161.2.1 Tình hình thế giới
Sau khi cuộc Chiến tranh thế giới thứ nhất kết thúc vào năm
1918, vấn đề phân chia quyền lợi và phạm vi chiếm đóng thuộc địa được hoàn tất Nhưng dường như mọi vấn đề giữa các nước thắng trận và các nước bại trận vẫn chưa dừng lại ở đó Những mâu thuẫn và bất ổn đều được chứa đựng trong hòa ước Vécxai-Oasinhtơn Các nước thua trận này đều tìm cơ hội để có thể xóa
bỏ hòa ước bằng cách tiến hành phát xít hóa bộ máy chính quyền nhà nước và chờ đợi cơ hội để có thể tiến hành một cuộc chiến tranh mới
Mặt khác, cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới (1929-1933) bùng
nổ đã chấm dứt thời kì ổn định của chủ nghĩa tư bản cùng với ảo tưởng về một
kỉ nguyên hòa bình của thế giới Điều này đã làm cho những mâu thuẫn giữa các nước trong hệ thống chủ nghĩa đế quốc trở nên cực kì gay gắt
Trong bối cảnh đó đã hình thành nên những xu hướng khác biệt trong việc tìm kiếm con đường phát triển giữa các nước tư bản Các nước không
có hoặc có ít thuộc địa gặp nhiều khó khăn về vốn, nguyên liệu và thị trường đã
đi theo con đường phát xít hóa chế độ chính trị Họ thiết lập nền chuyên chính khủng bố công khai nhằm cứu vãn tình trạng khủng hoảng nghiêm trọng của mình Các nước Đức, Italia, Nhật Bản là điển hình cho xu hướng này tiến hành phát xít hóa chính quyền và chuẩn bị cho cuộc chiến tranh đòi phân chia lại thị trường, thuộc địa
Quá trình phát xít hóa chính quyền được tiến hành ở ba nước này thì đã dẫn tới 3 lò lửa đó là: lò lửa chiến tranh ở Viễn Đông (nước Nhật Bản), lò lửa chiến tranh nguy hiểm nhất ở châu Âu (nước Đức) và lò lửa chiến tranh thứ
hai ở châu Âu (nước Italia)
Nhật Bản là nước đầu tiên có tham vọng phá vỡ hệ thống Vécxai-Oasinhtơn bằng sức mạnh quân sự Từ năm 1927, Thủ tướng Nhật Tanaca đã vạch một chiến lược chiến tranh toàn cầu và đệ trình lên Thiên hoàng
Trang 17dưới hình thức bản “Tấu thỉnh” Trong đó khẳng định phải dùng biện pháp là chiến tranh để có thể xóa bỏ những “bất công mà Nhật phải chấp nhận” trong
các hiệp ước Oasinhtơn Hơn nữa, Nhật còn đề ra kế hoạch để mở rộng xâm lược Trung Quốc và từ đó có thể xâm lược trên toàn thế giới
Ở Đức, lò lửa chiến tranh thế giới nguy hiểm nhất đã xuất hiện ở châu Âu với việc Hitler lên cầm quyền vào tháng 01-1933 Có thể nói, ngay sau Hòa ước Vécxai lực lượng quân phiệt Đức đã nuôi chí phục thù, cũng từ đây đã
mở đầu cho một thời kì đen tối trong lịch sử nước Đức Việc Hitler lên cầm quyền không chỉ là một sự kiện thuần túy của nước Đức, mà còn đánh dấu một bước ngoặt quyết định trong lịch sử Quan hệ quốc tế Từ đây Hitler thực hiện dần việc thanh toán hệ thống Véc-xai và chuẩn bị chiến tranh thế giới mới nhằm thiết lập quyền thống trị thế giới
Việc làm đầu tiên của Hitler sau khi lên nắm quyền là tái vũ trang nước Đức và thoát khỏi những ràng buộc của Quốc tế để chuẩn bị cho những hành động xâm lược sau đó
Mặc dù là nước thắng trận nhưng Italia không thỏa mãn với việc phân chia thế giới theo Hòa ước Vécxai Tham vọng của nước này là muốn mở rộng ảnh hưởng ở vùng Bancăng, chiếm đoạt các thuộc địa ở châu Phi, làm có lợi cho mình và làm chủ vùng biển ở Địa Trung Hải
Do đó, để xem xét lại Hệ thống Vécxai - Oasinhtơn thì giới cầm quyền phát xít ở Italia chủ trương quân sự hóa nền kinh tế, tăng cường chạy đua
vũ trang và thực hiện chính sách bành trướng xâm lược ra bên ngoài
Như vậy, vào cuối những năm 30 của thế kỉ XX, Quan hệ quốc
tế đã trở nên vô cùng căng thẳng và phức tạp Sự chuyển hóa mâu thuẫn giữa các nước đế quốc tư bản chủ nghĩa đã dẫn tới sự hình thành hai khối đế quốc thù địch nhau Một là khối trục phát xít do Đức, Italia, Nhật Bản cầm đầu, hai là khối đế quốc do Anh, Pháp, Mĩ cầm đầu Hai khối đế quốc này mặc dù mâu
Trang 18thuẫn gay gắt với nhau về vấn đề thị trường và thuộc địa nhưng lại thống nhất với nhau trong việc chống lại Liên Xô Những điều này đã khiến cho một cuộc chiến tranh thế giới ngày càng căng thẳng và trở nên khó tránh khỏi
Cuộc chiến tranh lan rộng trên khắp toàn cầu và diễn ra trên nhiều mặt trận: Mặt trận Tây Âu, mặt trận Xô - Đức, mặt trận Bắc Phi, mặt trận châu Á – Thái Bình Dương Cuộc chiến tranh diễn ra trong vòng 6 năm từ năm
1939 đến năm 1945 và trải qua 4 giai đoạn phát triển chính Đây là cuộc chiến tranh có quy mô lớn nhất trong lịch sử nhân loại, phá hoại nhiều cơ sở vật chất, gây ra thiệt hại lớn về người và của của các nước tham chiến
1.2.2 Chính sách của Đức Quốc xã và Anh quốc
* Chính sách của Đức Quốc xã
Tháng 8 năm 1919, Đảng Công nhân Xã hội chủ nghĩa gọi tắt là Quốc xã được thành lập bao gồm các phần tử theo chủ nghĩa dân tộc Đức cực đoan Các thủ lĩnh Quốc xã đứng đầu là A.Hitler đã ra Cương lĩnh và hô vang khẩu hiệu phục thù
Adolf Hitler (1889-1945) là lãnh tụ của lực lượng SA năm 1930, sau đó là Thủ tướng Đức từ năm 1933-1945, là Tư lệnh tối cao Quân lực kiêm
Bộ trưởng chiến tranh 1938-1945 của nước Đức Hitler đã thiết lập chế độ độc quyền quốc gia xã hội của Đệ tam Đế quốc, cấm chỉ tất cả các đảng đối lập và giết hại các đối thủ Cũng chính Hitler đã châm ngòi nổ cho cuộc Chiến tranh thế giới thứ hai Trong những hậu quả nhiều mặt và kéo dài của cuộc đại chiến thế giới lần thứ hai để lại, điều gây nỗi ám ảnh khủng khiếp nhất chính là thảm họa Holocaust Nhất là ở châu Âu những con người đã và đang sẽ còn nhớ mãi
về thảm họa khốc liệt này, cho dù hơn 6 thập niên đã trôi qua
Một trong những vấn đề gay cấn của lịch sử là chính sách của Đức Quốc xã đã tác động rất nhiều và nghiêm trọng tới người Do Thái Đây là
Trang 19một trong những nhân tố khiến cho người Do Thái phải hồi hương từ châu Âu nói chung, nước Đức nói riêng tới một nơi khác là khu vực Trung Đông để tránh cuộc thảm sát Chính quyền Đức lúc này, cụ thể là Đức Quốc xã đã đưa ra
“Thuyết phân biệt chủng tộc” và chủ trương bài Do Thái Sau này dần hình
thành nên thảm họa Holocaust
“Thảm họa Holocaust là tên gọi cuộc thảm sát của phát xít Đức nhằm giết toàn bộ người Do Thái Trong chiến tranh thế giới thứ hai, cùng với nhiều kẻ đồng lõa từ các quốc gia khác nhau, phát xít Đức đã giết hơn 6 triệu người Do Thái trên khắp châu Âu Phong trào bài trừ Do Thái nổ ra từ khi Hitler lên nắm chính quyền vào tháng 1 năm 1933 - thời điểm được nhiều nhà
sử học đánh dấu sự mở đầu của kỉ nguyên Holocaust”[12; tr.11]
Trong thuật ngữ của tiếng Hy Lạp, Holocaust được gọi là
“Shoah” (Thảm họa lớn) và được sử dụng thông dụng ở một số ngôn ngữ khác
Nói về chính sách của Đức Quốc xã thì cần tìm hiểu từ nguyên nhân và điểm xuất phát của chính sách tàn ác này Đó là từ tư tưởng và lòng thù hận của Hitler - người đứng đầu Quốc xã Hitler cho rằng mình đã tìm ra những đối tượng phải chịu trách nhiệm vì đã khiến nhân dân Đức lạc lối
Hitler khẳng định như vậy bởi lẽ ông còn chịu ảnh hưởng bởi tư tưởng của Chamberlain (1855-1927) - một nhà khảo luận người Đức gốc Anh, biết đến qua những tác phẩm về chủng tộc và chủ nghĩa bài Do Thái tôn vinh
người Đức Tư tưởng về sự “thuần chủng” dân tộc của ông gây ảnh hưởng
mạnh mẽ đến tư tưởng của Hitler về chủng tộc
Hitler thuở nhỏ làm phụ lễ trong nhà thờ Công giáo, có thể đã mang thành kiến bài trừ Do Thái từ đó, khi lớn lên ông có một người bạn gái ở Munich Tuy nhiên, cô này bỏ Hitler để chạy theo một anh Do Thái và có bầu với anh này ở Viên-Áo
Trang 20Bà nội Hitler là Maria Anna Schickelgruber, bà làm bếp cho một ông Do Thái giàu có là Frankenburger và bị mang bầu sinh ra Alois là cha của Hitler, ông Do Thái đó cấp dưỡng cho mẹ con tới năm Alois 14 tuổi Như vậy, cha thật của Hitler mang huyết thống ½ Do Thái, đến Hitler là ¼ Do Thái Cha Hitler rất nóng tính, thường đánh đập cậu bé Adolf này, ngược lại bà mẹ rất hiền từ, sau này đi đâu Hitler cũng mang ảnh mẹ theo Năm 13 tuổi cha chết, năm 18 tuổi mẹ chết vì ung thư Vì vậy, Hitler gán tội cho Bác sĩ Do Thái không chữa lành cho mẹ
“Đối với Hitler, quá khứ - với mọi cảnh tồi tàn, cô đơn và thất chí - đều lui vào bóng tối, dù quá khứ ấy đã định hình tư tưởng và tố chất của ông ta cho đến trọn đời Bây giờ, cuộc đại chiến sau ấy đã mang đến cái chết cho hàng triệu người, nhưng cũng mang đến cho người thanh niên 24 tuổi ấy bước khởi đầu của một cuộc đời mới” [19; tr.88]
Hitler và nhiều người Đức còn tin rằng nước Đức bị thua trận trong Đệ Nhất thế chiến lần thứ I (1914-1918) là do bọn tả phái Cộng sản tự do quá khích gây ra, điều này càng làm tăng lên lòng hiềm khích vốn có với người
Do Thái
Đảng Lao Động Đức khi Hitler gia nhập 1919 chỉ có 40 đảng viên, không có ngân sách, chủ trương dân tộc cực đoan, chống Do Thái, chống Cộng sản, chống tư bản giầu sụ, Giống như nhiều đảng hữu phái mọc lên ở Đức vào khoảng 1920, họ đổ tội cho chính trị gia đâm sau lưng chiến sĩ, cho
300 nhà tài phiệt ngân hàng tài chính Do Thái trên thế giới
Hitler khẳng định rằng mình bắt đầu trở thành người bài Do Thái
kịch liệt ngay từ lúc ở Vienna khi phát hiện ra rằng người Do Thái là “một đạo
diễn toan tính, trơ tráo và có trái tim đá” gây ra tệ nạn mại dâm Rằng trên thế
giới âm nhạc và hội họa ở Vienna là do người Do Thái quản lý, Sự căm ghét bệnh hoạn của Hitler với người Do Thái cứ âm ỉ như thế cho đến khi Hitler lên
Trang 21nắm quyền Quốc trưởng của nước Đức và bùng nổ cùng với chủ nghĩa dân tộc hẹp hòi và tư tưởng phục thù của Đức Quốc xã
Phân biệt chủng tộc và chính sách bài Do Thái là những giáo lý
cơ bản của chế độ Đức Quốc xã dựa trên niềm tin của họ về sự hiện hữu của một chủng tộc thượng đẳng ưu việt
Triết lí của Hitler là chủng tộc nào thông minh hơn, khoẻ mạnh hơn, thích nghi với môi trường tốt hơn sẽ là chủng tộc có quyền tồn tại Chủng tộc nào dốt nát, ốm yếu và kém thích nghi với môi trường sẽ bị đào thải Hậu quả của triết lý bệnh hoạn này là sáu triệu người Do Thái trên khắp châu Âu đã
bị cướp đi mạng sống chỉ trong giai đoạn ngắn ngủi từ 1939-1945 Tại thời điểm này dân tộc Do Thái tưởng như đã bị xóa xổ trên thế giới
Tuy nhiên, vào cuối thế kỷ XIX - đầu thế kỷ XX, khái niệm
“người Aryan” dần dần đã bị những người theo chủ nghĩa dân tộc cực đoan của
châu Âu biến tướng thành khái niệm “chủng tộc Aryan” Các văn bản lịch sử đã
cố gắng mô tả người Aryan là những người có những “ưu điểm vượt trội”: Đó
là những “người quí phái” hoặc “chúa đất” Trong thực tế, người Aryan đã chinh phục một dải đất vô cùng rộng lớn từ Á sang Âu “Thành tích vượt trội”
này của người Aryan đã làm nức lòng những kẻ theo chủ nghĩa dân tộc ở châu
Âu cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX
Đến những năm 1920, Chủ nghĩa Quốc Xã Đức đã nâng lý
thuyết “chủng tộc Aryan” lên đến tầm mức cực kỳ bệnh hoạn: Chủng tộc Aryan
là chủng tộc thượng đẳng có quyền thống trị thế giới Từ đó dẫn tới những hậu quả chính trị xã hội vô cùng tệ hại cho đến ngày nay, và đỉnh cao là thảm họa Holocaust
Những người trong Đức Quốc xã mặc nhiên công nhận sự tồn tại của cuộc xung đột giữa chủng tộc Aryan thượng đẳng (bao gồm dân tộc Đức và các dân tộc gần gũi) được giao nhiệm vụ cao cả Đó là nô dịch những chủng tộc
Trang 22hạ đẳng, hỗn tạp như người Pháp, đặc biệt là người dân Do Thái - giống suy tàn Trên phương diện lịch sử người Do Thái cũng như tất cả các dân tộc khác, có nền văn hóa rực rỡ và lâu đời, họ cũng có bản sắc dân tộc và tư tưởng riêng
Ngoài ra, việc đưa ra thuyết chủng tộc bài trừ người Do Thái còn nhằm mục đích chính trị Đó là tập hợp đông đảo người Đức đi theo Đức Quốc xã để làm tay sai cho họ, đề cao tinh thần dân tộc Đức và theo đuổi tư tưởng bài ngoại đối với những người Do Thái
Hitler ra một loạt các đạo luật để đối phó với người Do Thái ví
dụ một đạo luật tên là luật Nuyrembe được ban hành năm 1935 Theo đó, người
Do Thái (The Jews) bị bài trừ như: trẻ em Do Thái không được học trong trường học của người Đức, việc buôn bán và các hoạt động dịch vụ của họ bị tẩy chay Trên các đường phố không hiếm cảnh thanh niên người Đức đã tiến hành đốt những cuốn sách của tác giả Do Thái
Một trong những chính sách thâm độc khác của Đức Quốc xã đó
là thành lập một trại tập trung để giam cầm và đày đọa người Do Thái Tính đến thời điểm tháng 3 năm 1935, đã có 7 trại tập trung được dựng lên để nhốt những người Do Thái Họ bị giết bằng hơi ngạt Zyklon B, khoảng 2,5 triệu người bị
giam cầm mà Hitler cho là thuộc chủng hạ đẳng “cỏ dại và dịch hạch”[1; tr.20]
Hầu hết những người không bị giết trong các phòng hơi ngạt thì cũng bị chết vì đói, lao động quá sức, bệnh tật, hành quyết đơn lẻ, và các thí nghiệm y khoa
Khi nói đến phòng hơi ngạt thì đài phát thanh của Anh đã nói đến đây là cách tốt nhất để giết người thật nhanh và mau gọn Bọn Đức Quốc xã bắt người Do Thái phải đeo sao để phân biệt, buộc phải nhượng xe đạp Có những người bị cấm đi tàu điện và lái xe, họ phải mua bán trong những cửa
hàng riêng ghi rõ: “Cửa hàng Do Thái” mà chỉ được phép mua bán từ 15 đến
17 giờ
Trang 23Sau 8 giờ tối họ bị cấm ra khỏi nhà, cũng không được ở nhà người thân quen Hơn nữa, họ còn bị cấm đi xem hát, xem phim hay lui tới những nơi giải trí Cấm chơi bất kỳ môn thể thao công cộng nào Cấm đến bể bơi, sân chơi tennit, bãi chơi hốc cây hay một địa điểm luyện tập
Những điều luật khắc nghiệt mà Đức Quốc xã thực thi đối với người Do Thái được ghi chép lại rất nhiều Trong cuốn nhật kí của Anna Frank,
cô cũng đã kể lại trong đó có đoạn:
“Ngày 20 tháng 6, các người Do Thái bị bắt buộc phải nộp các
xe đạp Họ không được dùng xe điện, đi xe hơi ngay cả ngồi trên xe của họ Người Do Thái bị cấm ra đường trong khoảng thời gian từ 8 giờ tối tới 6 giờ sáng, bị cấm không được ngồi trong vườn của họ sau 8 giờ tối”[6; tr.10]
Họ bị đối xử thật thậm tệ và họ thường xuyên bị la mắng Những
tù nhân sống trong các trại tập trung bị chửi mắng là “lũ Do Thái khốn kiếp”,
“đần độn”, “loài sâu bọ, côn trùng”, Phụ nữ bị ép buộc phục vụ những tên
lính S.S Họ mặc những bộ quần áo rách, nếu may mắn thì được mặc những bộ quần áo sọc đen trắng Họ sống trong những gian gỗ xà lim dài, không được sơn bằng gỗ sồi xù xì, vô cùng bẩn thỉu và nếu trời mưa thì bị dột như ở ngoài trời Chỗ ở không gian sinh hoạt quá tồi tệ và bữa ăn cũng không khá khẩm gì với
họ Bữa sáng và bữa trưa thường là cà phê, củ cải trắng, khoai tây, thi thoảng nấu với cá khô ươn Những tù nhân may mắn được làm công việc thu dọn bắp cải ở kho thì có thể kiếm được ít vụn bắp cải để thêm vào bữa ăn của họ
Đức Quốc xã ra luật quy định người Do Thái sống trên đất nước Đức, có quốc tịch Đức cũng sẽ bị loại trừ khỏi đời sống chính trị ở Đức Họ không được công nhận là công dân Đức, không có quyền bầu cử, không được làm việc tại các công sở Họ bị cấm nhiều điều khoản khác như: cấm hôn nhân
và quan hệ ngoài hôn nhân giữa hai chủng tộc Do Thái và Aryan, cấm người Do Thái thuê người làm Aryan dưới 35 tuổi
Trang 24Trong vài năm kế tiếp, khoản 13 nghị định bổ sung cho Luật Nuyrembe đã đặt người Do Thái hoàn toàn ngoài vòng pháp luật Các trường học Do Thái kể cả những nhà bác học, trí thức, văn nghệ sĩ, đều phải trốn đến các quốc gia lân cận Theo đó quyền công dân chỉ được trao cho những người mang dòng máu Đức Luật quy định những ai trong vòng ba đời huyết thống có người thân là người Do Thái (dù chỉ có một người) sẽ bị tính là người Do Thái
Từ đó, những cuộc thảm sát người Do Thái được đẩy lên đỉnh điểm thành “Đại
Theo quyết định của “Phương án cuối cùng” thì đã có 6 trại
hành quyết được xây dựng năm 1942 khắp Ba Lan với mục đích giết hại tù nhân
Do Thái một cách bài bản và có hệ thống Hệ thống các trại được mở rộng trong quá trình Đức chiếm đóng Ba Lan và mục đích của họ là đa dạng, một số từng là trại trung chuyển, một số là trại lao động cưỡng bức và một số trại như tử thần
Những khu này được cách li hoàn toàn ra một khu vực riêng, xung quanh đều có những hàng rào sắt và bức tường vây kín, cổng cao tường Thậm chí nhiều khu còn cho xây dựng có dây điện bao bọc xung quanh hàng rào, cùng với những mảnh thủy tinh vỡ được găm trong xi măng, xung quanh có điện sáng vào ban đêm và những tên lính đi lại tuần tra liên tục
Trang 25Cuộc sống của những người Do Thái trong các Holocaust vô cùng cực khổ, thường xuyên phải đối mặt với cái chết cận kề Hơn 70 năm qua
kể từ thảm cảnh Holocaust, nhưng lò thiêu vẫn là nỗi ám ảnh của nền văn minh nhân loại Đa phần những người sống sót mang trong mình suốt đời vết thương
âm ỉ cả về thể xác lẫn tinh thần của họ, nỗi kinh hoàng thường trực và dai dẳng
trong những năm tháng ấy đã khiến cho cuộc đời họ là một “vết nhơ” không thể
nào có thể xóa bỏ được Đó là việc làm có tính hệ thống và thật chi tiết rõ ràng, được lên kế hoạch một cách tỉ mỉ sẵn có từ trước
“Trước kia người ta thù oán, căm hận nổi đóa lên mà chém giết cho hả, lần này tụi Đức Quốc xã của Hitler tàn sát Do Thái một cách bình tĩnh,
có kế hoạch, có tổ chức đúng theo tinh thần khoa học, cho nên ghê gớm, rùng rợn vô cùng, không tiền khoáng hậu trong lịch sử nhân loại” [3; tr.37]
Như vậy, chính sách của Đức Quốc xã là một trong những nguyên nhân quan trọng dẫn đến phong trào hồi hương của người Do Thái Việc tàn sát người Do Thái của Đức quốc xã đã buộc hàng triệu người Do Thái phải
đi tìm cách rời bỏ châu Âu trở về quê hương khi mà châu Âu đã bị Đức quốc xã chiếm Do vậy, các tổ chức trên thế giới hiện nay như Liên Hợp Quốc đã đưa ra những biện pháp đề phòng nhằm tránh những hành động tương tự có thể xảy ra
*Chính sách của Anh quốc
Năm 1917, khi Chiến tranh thế giới thứ nhất sắp bước vào giai đoạn kết thúc thì Ngoại trưởng Anh Arthur Balfour tích cực xúc tiến thành lập Palestine cho người Do Thái Ông đã gửi bức thư vạch kế hoạch trên cho lãnh đạo phong trào phục quốc Do Thái Rothschild và viết thư cho Chiam Weizmann
- người đứng đầu phong trào Zion lúc bấy giờ
Trong thư, Ngoại trưởng Arthur Balfour cam kết chính phủ Anh
sẽ thành lập một nhà nước cho dân tộc Do Thái ngay trên mảnh đất Palestine Tại Palestine, Anh đề xuất vấn đề hòa giải giữa các cộng đồng Ả Rập và Do
Trang 26Thái Bức thư này được mệnh danh là Tuyên ngôn Balfour (Déclaration
Balfour) Theo đó, Anh sẽ điều động quân đội tới Palestine từ năm 1929-1936
Có 3 lí do khiến bộ trưởng Balfour đưa ra lời cam kết sẽ giúp
những người Do Thái thành lập nên một quốc gia độc lập đó là:
Thứ nhất vì Anh đang cần sự ủng hộ của các danh nhân chính
khách gốc Do Thái ở chính quốc, ở Hoa Kì và ở Nga
Thứ hai, Anh cần có một quốc gia thân thiện trong vùng phía Đông Địa Trung Hải để thêm an toàn cho kênh Suez và là trái đệm giữa Syria
thuộc Pháp và Ai Cập thuộc Anh
Thứ ba, nhà lãnh tụ phong trào Zion là Chaim Weizmann rất thân tình với các nhà lãnh đạo trong chính phủ Anh quốc Các vị này thương cảm số
phận dân tộc Do Thái và muốn giúp đỡ họ, xuất phát từ lòng nhân ái
Quyền ủy trị của Anh đối với việc quản lý Palestine vẫn còn có hiệu lực được sự cho phép bởi Hội Quốc Liên (League of Nations) Việc thực hiện tuyên ngôn về xây dựng một mái ấm quốc gia Do Thái ở Palestine năm
1917 đã khiến người Do Thái kéo về Palestine trong những năm 1920-1930 một cách mạnh mẽ Và những người Do Thái nhập cư được chấp thuận đến một thời hạn nhất định do thế lực ủy thác xác định
Như vậy, Tuyên bố Balfour năm 1917 đã xác nhận một điều rằng Chính phủ Anh Quốc ưu tiên việc thành lập tại Palestine một nhà nước cho người Do Thái Nó được hiểu rõ ràng rằng không hành động nào có thể được thực hiện nếu nó có thể làm tổn hại cho các quyền dân sự và tôn giáo của các cộng đồng không phải Do Thái đang sinh sống ở Palestine Tuyên bố này được một số nước ủng hộ, gồm cả Hoa Kỳ và ngày càng trở nên quan trọng hơn sau Chiến tranh thế giới thứ nhất khi Liên đoàn quốc gia giao cho Anh Quốc quyền ủy trị Palestine
Trang 27Tháng 7 năm 1937, Đặc phái viên Hoàng gia Anh do Huân tước Peel đã đề xuất chia cắt miền đất trên thành một nhà nước Do Thái Khoảng 1/3 nhà nước Palestine, trong đó gồm đồng bằng Galilee, vùng duyên hải và một nhà nước Ả Rập Chương trình này đã làm cộng đồng người Ả Rập hết sức bất bình Đại diện của Palestine và Ả Rập đã bác bỏ đề xuất trên yêu cầu chấm dứt các đợt nhập cư, đồng thời bảo vệ tính thống nhất của một nhà nước duy nhất
trên cơ sở tôn trọng người thiểu số
Tuy nhiên, không chịu ảnh hưởng từ Ả Rập và Palestine, người
Do Thái từ khắp nơi đã hăng hái tòng quân dưới lá cờ của Anh và đã theo chính
sách kêu gọi của Anh chiến đấu chống quân Thổ Trong đoàn lính “Lê dương”
từ Hoa Kì có David Ben Gourion (đội quân lê dương do cố vấn Anh huấn luyện
và thuộc quyền kiểm soát của họ, đây là một trong số các quân đội của Ả Rập) Sau này, Ben Gourion sẽ là vị thủ tướng kiệt xuất đầu tiên của Israel Thấy tương lai lập quốc của người Do Thái tới gần, quân Thổ nổi giận và tàn sát
những người Do Thái ở Palestine
Sự xung đột giữa người Ả Rập và Do Thái bắt đầu bằng các cuộc đụng độ xảy ra vào tháng 08/1929 Khoảng 133 người Do Thái bị người Palestine sát hại và 110 người Palestine bị cảnh sát Anh bắn chết Sự bất bình của người Ả Rập một lần nữa đã làm dấy lên một cuộc biến động dân sự rộng khắp thông qua cuộc tổng đình công năm 1936 Vào thời điểm đó, nhóm vũ trang phục quốc Do Thái Irgun Zvai Leumi đã bắt đầu phát động các đợt tấn công nhằm vào các mục tiêu Palestine và Anh Với mục đích là nhằm giải phóng Palestine và Transjordan (ngày nay là Jordan) khiến cho một nửa số dân
Do Thái ở Palestine bị sát hại trong đợt khủng bố kinh hoàng này Tuy nhiên, các cuộc xung đột vẫn liên tiếp xảy ra cho đến năm 1938
Sau Chiến tranh thế giới thứ hai, Anh quốc đã bày tỏ ý định muốn rút chân ra khỏi Palestine vốn đang được đặt dưới sự ủy trị của mình
Trang 28Nguyên nhân khiến cho Anh tuyên bố ý định từ bỏ quyền ủy trị của mình đối với vùng đất này vì những lí do sau đây:
Thứ nhất, Anh không có khả năng chống lại sức ép Oasinhtơn do
bị phụ thuộc về kinh tế
Thứ hai, chính phủ Anh không muốn làm phức tạp thêm quan hệ với các nước Ả Rập, những quan hệ mà Anh đánh giá cao hơn sự hiểu biết lẫn nhau với các tổ chức Zionit thù địch đối với họ
Do đó, vào tháng 4 cùng năm đó vấn đề Palestine được chính phủ Anh chuyển lên Đại hội đồng Liên Hợp Quốc xem xét với một bản thuyết trình Đại Hội đồng Liên Hợp Quốc đề xuất việc chia cắt Palestine ra thành hai nhà nước Đó là Ả Rập và Do Thái cùng với khu vực Jerusalem được đặt dưới
sự kiểm soát của Liên Hợp Quốc Như vậy, quyết định của Liên Hợp Quốc là cơ
sở cho phong trào hồi hương của người Do Thái
1.2.3 Sự ủng hộ của Quốc tế
Chứng kiến những vụ thảm sát đẫm máu mà Đức Quốc xã đã thực hiện đối với người Do Thái, thì nhiều dân tộc và quốc gia trên thế giới đặc biệt ở khu vực châu Âu với một lòng cảm thông số phận của họ Tình nhân ái giữa người với người đã giúp đỡ người Do Thái rất nhiều, đặc biệt là trốn tránh khỏi Đức Quốc xã như các quốc gia Anh, Hoa Kỳ, Hà Lan,
Không phải đến tận đầu thế kỉ XX thì các quốc gia, dân tộc mới giúp đỡ người Do Thái thoát khỏi cuộc thảm sát và thành lập một quốc gia riêng biệt mà từ trước đây người Do Thái đã nhận được nhiều sự ủng hộ và giúp đỡ rồi
Cuối thế kỉ XIX đầu thế kỉ XX là thế kỉ của tinh thần quốc gia Nhiều nhân vật quan trọng trong việc tái lập quốc gia đó là: Disraeli, Shaftesbury, George Eliot ở Anh, Warder Cresson ở Mỹ, Alexander Dumas ở
Trang 29Pháp Hay Jean Henri Dunant (nhà sáng lập hội Hồng Thập Tự Quốc Tế) ở Thụy Sĩ, Moses Hess bạn thân của Karl Marx ở Đức Họ cùng nhau viết sách, viết báo, diễn thuyết khuyến khích người Do Thái hồi hương trở về Palestine và yêu cầu chính phủ các nước ủng hộ phong trào
Năm 1882, Léo Pinsker viết cuốn “Tự giải phóng” khuyên
người Do Thái tự tạo lấy vận mạng cho mình Lúc đầu, họ thiếu kinh nghiệm, thiếu cả phương tiện mà đất đai chỗ thì khô cháy, chỗ thì úng thủy và họ bị bệnh rất nhiều Do vậy, nhà chủ ngân hàng tỉ phú là Edmond de Rothschild đã mua đất cho họ, giúp vốn họ, phái cả người qua chỉ bảo cho họ Nhờ vậy họ tạm sống được
Một số người khác (trong số này có cả những người theo Ki-tô giáo hoặc không theo một đạo nào) có lòng trắc ẩn mà lại có tinh thần thực tế,
họ lập kế hoạch để đưa các người Do Thái về Palestine Người thì nghĩ xin Giáo hoàng can thiệp, người lại khuyên Do Thái góp tiền mua đất ở Palestine Họ viết những bài báo in, những tập nho nhỏ gửi các vị thần, các sứ thần ở khắp các nước châu Âu Trong đó họ đưa ra những lý lẽ xác đáng để cho người Do Thái
về Palestine Có những lí do thậm chí cho rằng chính quyền đã không ưa người
Do Thái thì nên cho họ đi, chứ giữ họ ở lại làm gì Thi sĩ Pháp là ông Lamartine mấy lần du lịch miền Đất Thánh về cũng viết sách hô hào người ta trả lại đất cho người Do Thái
Người Anh thực tình muốn giúp đỡ Théodore Herzl, sẵn lòng tặng ông xứ Ouganda ở trung bộ châu Phi để thành lập quốc gia Sở dĩ nghĩ tới Ouganda là muốn tạm thời giảm nỗi khổ cho những người Do Thái đang chịu những cuộc thảm sát ở châu Âu
Năm 1917, nhờ có tuyên ngôn Balfour mà chương trình phục quốc Do Thái trong thập kỷ 20 và 30 được phát động một lần nữa Hàng trăm nghìn người Do Thái đã từ Anh trở về nhà nước Palestine được chính phủ Anh
uỷ nhiệm dành riêng cho người Do Thái
Trang 30Khi chương trình phục quốc Do Thái mà Anh đưa ra như vậy thì Washington, London và Paris không có bất cứ động thái phản ứng nào đối với bản báo cáo của ủy ban Hoàng gia Crane Còn Wilson - người mà trước đó cam kết ủng hộ tuyên ngôn Balfour và bảo vệ lợi ích của đế quốc Anh đã không phát hành bản báo cáo đó một cách chính thức Anh và Pháp đã thực hiện sự chia chác được định trước của họ ở thế giới Ả Rập Vào năm 1920, Palestine thuộc quyền ủy trị của Anh và chính thức cam kết thực hiện những điều khoản trong Tuyên bố Balfour Chính phủ Pháp phá bỏ nhà nước Ả Rập đang còn non nớt ở Xiri, trục xuất người lãnh đạo của nhà nước đó
Tuy nhiên, bản tuyên bố Balfour cũng đã gây bất bình cao độ cho người Ả Rập, cuối cùng chính phủ Anh cũng phải chấp thuận Quyết định này
do nội các Anh thông qua, mặc dù dư luận xã hội tự do ở châu Âu và ở Mĩ trong những năm chiến tranh đã lên án Luân Đôn Họ lên án về những biện pháp hạn chế dòng người di cư, di tản từ Đức và những nước mà Đức đã chiếm đóng tới Palestine
Đồng thời cả Mĩ và các tổ chức phục quốc Do Thái Quốc tế cũng gây sức ép đối với Luân Đôn Anh đã có nhiều phản ứng đầy lo sợ vì bị buộc tội phải chịu trách nhiệm gián tiếp trước cái chết của những người di tản Do Thái Nhất là trong những năm Chiến tranh thế giới thứ hai đã vượt biển bất hợp pháp vào Palestine, nhưng lại bị lính biên phòng Anh bắt giữ và phải quay về châu
Âu Nơi họ bị sa thải và rơi vào tay Đức Quốc xã
Ngày 13/08/1945, Đại hội phục quốc Do Thái đưa ra khẩu hiệu
về việc đưa 1 triệu người Do Thái vào Palestine Đến ngày 31/08/1945 dưới sức
ép của các tổ chức Do Thái địa phương và của Quốc Hội, tổng thống Mĩ là H.Truman đã đề nghị nội các Anh cho phép nhập cư vào Palestine 100.000 người Do Thái từ các nước châu Âu đến
Đến năm 1945 những lời kêu gọi thành lập một quốc gia cho người Do Thái càng được nhiều nước đồng ý Chứng kiến sự tàn sát của Đức
Trang 31Quốc xã đối với người Do Thái, cộng đồng Quốc tế càng nỗ lực giúp đỡ dân tộc này Thi sĩ Anh Byron thấy được sự tái sinh của quốc gia Hy Lạp, thì đã than thở cho số phận của dân tộc Do Thái cho rằng họ khổ hơn những con thú không
có hang Dựa trên cơ sở các số liệu của Đại hội phục quốc thì đó cũng chính là những người Do Thái đã phải hứng chịu đau khổ ở châu Âu, muốn chạy sang Palestine Nhìn thấy trước sự bùng nổ chính trị ở các nước Ả Rập nên Anh đã né tránh kế hoạch này
Ngoài những phản ánh của các nhóm truyền giáo, người Ả Rập tồn tại trong trí tưởng tượng của người dân Mỹ qua những bộ phim câm Ví dụ
như “Ông vua” (The Sheik - năm 1921) của Rudolph Valentino và những tiểu thuyết và những câu chuyện như “Đêm Arập” (Arabian Nights) Những tác
phẩm đó thể hiện những người dân du mục ở sa mạc đầy lãng mạn, hoang sơ, hẻo lánh và tuyệt vời Hay những người dân thành thị thời Trung cổ, chứ không phải là những con người hiện đại xứng đáng có những quyền lợi chính trị và sẵn sàng giành lại độc lập
Đối với người dân Đức có thể biết về những điều đã xảy ra thông qua binh sĩ trở về từ các vùng lãnh thổ chiếm đóng Theo nhà sử học Evans, đa phần người Đức đều phản đối cuộc diệt chủng này Một số người Ba Lan đã cố gắng giải cứu hoặc che giấu những người Do Thái còn lại, và các thành viên của phong trào bí mật Ba Lan cũng thông báo với chính phủ lưu vong của họ tại Luân Đôn về những điều đã xảy ra Khi cuộc Chiến thế giới thứ hai sắp kết thúc, Đức Quốc xã biết trước thế nào cũng thua Đồng Minh, càng hoảng hốt, giết cho thật nhiều Do Thái Nhất là hạng Do Thái có học thức vì sợ họ sống sót thì sẽ trả thù Vào ngày 22/01/1945, quân đội Anh và Mỹ tới giải phóng trại Auschwits và Birkeneau thì chỉ còn cứu được năm vạn người Do Thái Ba Lan trong số ba triệu người bị chúng giam
Tính ra trước sau có trên 6 triệu người Do Thái bị Đức Quốc xã giết trong Thế chiến vừa rồi Một số rất ít trốn thoát kịp qua Anh, Mỹ, , một số
Trang 32khác cũng ít được bạn thân là người Công giáo giấu giếm như trường hợp em Anne Frank Cũng có người thật tình thương thân phận của đồng bào, như phái Hassidim ở Trung Âu, dạy cho họ ca vũ để vui sống mà chịu mọi nỗi bất công, đợi lúc được Chúa tha tội Đợt hồi hương này gồm rất nhiều nhà tri thức ví dụ như là có những tấn sĩ lái xe tắc xi ở Jaffa hoặc đóng giày ở Tel Aviv; có những giáo sư, nghệ sĩ đánh xe ngựa và cuốc đất Mỗi tối mở các lớp học bình dân hoặc tổ chức các buổi hòa nhạc, diễn kịch Họ làm việc hăng hái, có phương pháp và giúp rất nhiều cho sự phát triển Do Thái
Một trường hợp khác là trong tháng 10 năm 1943, Vua Christian
X của Đan Mạch và thần dân cứu mạng gần 7.500 người Do Thái sinh sống ở Đan Mạch bằng cách lén lút đưa họ đến Thụy Điển bằng những thuyền đánh cá Hơn nữa, chính quyền Đan Mạch tiếp tục hành động để bảo vệ những người Do Thái tại Đan Mạch bị Quốc xã giam giữ Khi những người tù Do Thái trở về sau chiến tranh, họ thấy nhà cửa và tài sản còn nguyên vẹn như lúc họ bị bắt
Quốc gia Liên Xô đã viện trợ cho tổ chức Do Thái và tác động tích cực để xây dựng nhà nước Israel, mà vai trò quan trọng nhất trong việc này
là thuộc về cộng đồng đông đúc “những người Do Thái Nga” được hình thành ở
Palestine Tức là những người hồi hương Do Thái nói tiếng Nga có nguồn gốc
từ các vùng miền khác nhau của đế chế Nga cũ Tuy nhiên, mối quan hệ hữu nghị giữa Mátxcơva và Israel cũng không được bền lâu Đến năm 1949, Stalin
đã xét lại một cách cơ bản thái độ của mình đối với những người Do Thái ở Liên
Xô và đối với sự tồn tại nhà nước Israel
Tại Bungari, sau khi nhượng bộ trước áp lực của Phó Chủ tịch Quốc hội Dimitar Peshev và Giáo hội Chính Thống Bungari thì đã cứu mạng 50.000 công dân gốc Do Thái vì không chịu trục xuất họ Chính quyền Phần Lan nhiều lần từ chối các yêu cầu của Đức trục xuất người Do Thái tại Phần Lan đến Đức Tương tự, phần lớn những yêu cầu trục xuất người Do Thái khỏi Na
Uy cũng bị khước từ
Trang 33Tại Roma, khoảng 4.000 người Do Thái và tù binh tránh khỏi bị trục xuất Nhiều người được giấu trong những căn nhà an toàn và được đưa ra khỏi nước Ý bởi một nhóm kháng chiến của một linh mục người Ireland, Monsignor Hugh O’Flaherty thuộc Tòa Thánh Một lần, một đại sứ của Vatican tại Ai Cập đã sử dụng những mối quan hệ chính trị để bảo đảm chỗ trú ẩn cho những người Do Thái bị tước đoạt tài sản
Aristides de Sousa Mendes - một nhà ngoại giao Bồ Đào Nha đã cấp hộ chiếu cho khoảng 30.000 người Do Thái và các nhóm thiểu số khác tại châu Âu Ông cứu nhiều mạng người nhưng phải hi sinh sự nghiệp chính trị của mình Năm 1941, nhà độc tài Salazar buộc ông từ chức Năm 1954, Sousa Mendes chết trong nghèo đói
Tháng 4 năm 1943, một vài kháng chiến quân Bỉ chặn một đoàn tàu đang đến Auschwitz và giải thoát 231 người (115 người trong số này thoát khỏi cuộc thảm sát) Có những nhà ngoại giao và những người có nhiều ảnh hưởng, như Oskar Schindler hoặc Nicholas Winton, họ đã bảo vệ được nhiều người Do Thái Nhà ngoại giao Thụy Điển Raoul Wallenberg, Giorgio Perlasca người Ý, nhà ngoại giao Trung Hoa Hà Phượng San và những người khác đã cứu mạng hàng ngàn người Do Thái bằng những hộ chiếu ngoại giao giả mạo Như vậy, chính sự ủng hộ của cộng đồng Quốc tế là điều kiện vô cùng quan trọng cho người Do Thái hồi hương về Palestine
1.2.4.Quá trình hồi hương của người Do Thái trước năm 1930
Trong lịch sử quá trình hồi hương của người Do Thái được diễn
ra với nhiều giai đoạn hồi hương khác nhau Đợt hồi hương đầu tiên xảy ra vào khoảng năm 1880 khi người Do Thái tị nạn tránh cuộc tàn sát tại Đông Âu Hầu hết là người Do Thái Nga và Do Thái Ba Lan chịu không nổi cảnh đối xử tàn nhẫn của các nhà cầm quyền mà trở về Palestine Họ với ước nguyện rằng mình
có thể chết trên đất của tổ tiên Trong đợt hồi hương này có khoảng 24.000 người tới đây, họ phải trải qua những con sông như: Vistule ở Ba Lan, con sông
Trang 34Volga ở Nga, leo trên những dãy núi Caucase vào đất nước thổ rồi băng qua sa mạc Syrie để vào Palestine
Từ năm 1882, người Do Thái đã bắt đầu háo hức hồi hương về Palestine, trong đó có 45.000 người từ Nga, ngoài ra còn có các nước khác nữa Khi về đây việc đầu tiên họ làm là thành lập một số địa điểm định cư canh tác nông nghiệp với sự giúp đỡ tài chính của những người hảo tâm ở Tây Âu
Năm 1897 một cuộc họp tại Basel, Thụy Sĩ đã quyết định thành lập Tổ chức Phục quốc Thế giới (World Zionist Organization) dành cho người
Do Thái để giúp đỡ họ Sang tới thập niên 90 của thế kỉ XIX có một người tên: Theodor Herzl (1860-1904) - là ký giả Áo-Hung vận động mạnh mẽ cho việc phục quốc và cũng là cha đẻ của phong trào chính trị phục quốc sau này
Đợt thứ hai từ năm 1905 đến năm 1910 bắt đầu sau vụ “Thảm
sát Kishinev” tại Đế quốc Nga có khoảng 40.000 người Do Thái định cư tại
Palestine, song gần một nửa trong số đó cuối cùng rời đi Trong làn sóng nhập
cư thứ nhất và thứ hai chủ yếu là người Do Thái chính thống Điểm khác biệt ở lần Aliyah thứ hai so với lần một là bao gồm các tổ chức xã hội chủ nghĩa giúp
đỡ điển hình như: Ngân hàng Do Thái, Quĩ Quốc gia Do Thái đã thành lập Do vậy, cơ quan trung ương đã lo vấn đề di chuyển và mua những khu đất bỏ hoang
ở Palestine với một giá rất đắt cho họ định cư Họ lập ra phong trào cộng đồng tập thể kibbutz - tức là ở những cộng đồng tập thể đó họ sống chung, làm việc chung và lợi tức chung Kibbutz đầu tiên là ở Degania nơi mà con sông Jourdain
từ hồ Tiberiade chảy ra
Đợt thứ ba là từ Thế chiến thứ nhất bùng nổ Trong đợt hồi hương thứ ba này người Do Thái nhận được sự trợ giúp từ Anh và đồng minh của Anh Đặc biệt khi Anh thông qua bản tuyên ngôn Balfour (năm 1917) - đây
có thể được coi là bản Hiến chương của phong trào này Sau này bản tuyên ngôn
Trang 35đã được Hội Vạn Quốc công nhận và phải thành lập ở Palestine quê hương “Do
Thái”
Nắm bắt lấy cơ hội ngàn năm có một này, các nhà lãnh tụ Do Thái như Weizmann và Ben Canaan thương thuyết với người có uy quyền nhất trong khối Ả Rập Lúc đó là Faycal và cả hai bên đã thỏa thuận sống chung với nhau, tôn trọng quyền lợi của nhau Tuy nhiên, sau này do Anh thích tiền bạc hơn và vì các giếng dầu của họ nên đã quay lại nuốt lời
Lần Aliyah thứ tư là từ năm 1921 và đợt thứ 5 là từ năm 1930 trở
đi Trong hai lần Aliyah này đã đưa được thêm 100.000 người Do Thái đến Palestine Tóm lại quá trình hồi hương từ năm 1930-1948 được đánh giá là quá trình hồi hương có tính chất quan trọng và quyết định tới sự thành lập nhà nước Israel
1.3 Quá trình hồi hương của người Do Thái (1930-1948)
1.3.1 Người Do Thái trở về vùng Palestine
Từ giữa thập niên 30 của thế kỉ XX âm mưu diệt chủng người
Do Thái của Đức Quốc xã do Hitler đứng đầu được tiến hành theo hai giai đoạn Đầu tiên là lập cơ sở pháp chế bằng những đạo luật tách người Do Thái ra khỏi
xã hội dân sự, sau đó là đưa họ vào cái chết bằng nhiều hình thức, trong đó kinh hoàng nhất là các trại tập trung có phòng hơi ngạt và lò thiêu
Việc tàn sát người Do Thái có tính chất diệt chủng ở châu Âu khiến người dân Do Thái ở mọi miền châu Âu trốn chạy tạo nên làn sóng tị nạn mới Với những hành động ngày càng ác độc đó của Đức Quốc xã thì nhiều quốc gia ngày càng ra sức ủng hộ những người Do Thái nhằm thoát khỏi thảm họa diệt chủng Holocaust
Chính sự trỗi dậy của chủ nghĩa Phát xít năm 1933 là nguyên do chính trị lớn dẫn tới làn sóng Aliyah thứ năm Trong đợt hồi hương Aliyah thứ
Trang 36năm này được chia thành hai giai đoạn: Giai đoạn thứ nhất từ năm 1930-1938 quá trình hồi hương nhận được sự ủng hộ nhiệt tình từ Anh và một số nước khác Giai đoạn thứ hai từ năm 1939-1945 trở đi thì không nhận được sự ủng hộ
từ Anh nữa
*Ở giai đoạn thứ nhất 1930-1938 do nhận được sự ủng hộ của chính quyền Anh nên số lượng người Do Thái trở về Palestine rất đông Bởi lẽ, nhà cầm quyền Anh vốn rất có cảm tình với phong trào này Nguyên nhân xuất phát từ một câu một câu chuyện nhỏ đã ảnh hưởng không ít đến việc nhập cư của người Do Thái châu Âu về Palestine trong những năm đầu thế kỉ XX Đó là trong Thế Chiến thứ nhất nhà bác học Anh gốc Do Thái Chaim Weizmann đã chế tạo thành công ra chất Acétone nhân tạo là chất liệu chính để sản xuất chất
nổ T.N.T giúp quân Đồng minh chống lại Phát xít Đức
Mà trước đó Anh đã thông qua bản tuyên ngôn Balfour - bản Tuyên ngôn này đã được hội Vạn Quốc công nhận, do vậy người Do Thái châu
Âu vui vẻ trở về Palestine Từ những năm 1930, làn sóng hồi hương Do Thái tăng lên nhanh chóng khi những người Do Thái chạy trốn khỏi khủng bố của Đức Quốc xã Điều này gây ra sự xung đột dai dẳng giữa người Ả Rập định cư
và người Do Thái nhập cư Những người Do Thái về Palestine đã hăng hái khai thác những đồn điền mà họ mua của người Ả Rập, các Kibboutz cũng phát triển theo
Từ đó, các Kibboutz đã được ra đời và phát triển nhanh chóng Người dân trong vùng tăng từ 11% của dân số năm 1922 lên tới 30% năm 1940
“Chỉ tính năm 1931, tổng số dân trong các nông trường cộng đồng đó được 4.400 người, nghĩa là 2,5% tổng số dân trong xứ”[3; tr.102]
Tuy nhiên, trong quá trình thực hiện bản tuyên bố Balfour chỉ nặng về hình thức Việc giải quyết tranh chấp lãnh thổ giữa người Do Thái và
Trang 37người Ả Rập Palestine trên mảnh đất Palestine còn gặp nhiều rắc rối Cho đến năm 1948, thậm chí là hiện nay vấn đề này vẫn còn rất nan giải
Đến năm 1939 khoảng 250.000 trong số 437.000 người Do Thái tại Đức đã hồi hương đến Mỹ, Argentina, Anh, Palestine, và một số nước khác (tức con số người hồi hương được hơn một nửa) Nhiều người đã chọn ở lại lục địa châu Âu, một số người hồi hương đến Palestine được phép mang theo tài sản dưới các điều khoản của Hiệp ước Havara Còn đối với các quốc gia khác, họ phải để lại gần như toàn bộ tài sản và chính quyền sẽ chiếm đoạt số tài sản đó Đợt hồi hương này gồm rất nhiều thành phần khác nhau Tất cả họ đều hăng hái làm việc có các phương pháp giúp rất nhiều cho sự phát triển của Do Thái
*Giai đoạn thứ hai từ năm 1939 đến năm 1948 do không nhận được sự ủng hộ từ Anh nữa nên số lượng người hồi hương về Palestine giảm mạnh đi Giai đoạn này có những hạn chế, khó khăn nhất định
Một vụ bạo động bài Do Thái mệnh danh là Kristallnacht (Đêm của những cửa kính vỡ) ngày 09/11/1938 tác động đến đợt hồi hương giai đoạn này Năm 1938, quân Đức Quốc xã đã khởi động một chiến dịch khủng bố các
cơ sở kinh doanh của người Do Thái tại Đức và o Đợt tấn công này kéo dài tới ngày 10/11
“Hàng loạt cửa sổ của những cửa hàng của người Do Thái đã bị đập v , khoảng 100 người Do Thái bị thiệt mạng, 7.500 cơ sở kinh doanh của người Do Thái bị hư hại và hàng trăm hội đường, nhà cửa, trường học, nghĩa trang bị phá hoại Ước tính có khoảng 30.000 người Do Thái đã bị bắt giữ, nhiều người trong số này sau đó được gửi đến các trại tập trung trong vài tháng
và chỉ được thả ra khi họ hứa sẽ rời khỏi nước Đức”[30; tr.1]
Kristallnacht là dấu hiệu của sự leo thang các chiến dịch do Adolf Hitler khởi xướng vào năm 1933 Khi Hitler lên làm Thủ tướng và tuyên
bố sẽ “thanh tẩy” dân Do Thái khỏi nước Đức Một số nước tỏ ra bất bình và
Trang 38cắt đứt quan hệ ngoại giao để phản đối chiến dịch đó, nhưng Đức Quốc xã không phải chịu hậu quả nghiêm trọng nào
Tới cuối Chiến tranh thế giới thứ hai, số lượng người Do Thái đã
hồi hương tới ở Palestine đã lên tới xấp xỉ 600.000 người “Tính trung bình
trong năm năm người Do Thái với số dân là 75.000 người ở châu Âu đã hồi hương về Jerusalem, còn 6 triệu người kém may mắn thì đã bị sát hại ở Đức, và một số nước khác ở châu Âu” [3; tr.106]
Tuy nhiên, đợt hồi hương lần này của người Do Thái gặp phải không ít khó khăn Thứ nhất bên phía người Ả Rập:
Lúc đầu họ đồng ý để người Do Thái vào Palestine lập nghiệp vì nghĩ rằng như vậy sẽ có lợi cho họ Những người Do Thái châu Âu đều là những người thuộc hạng khá giả, không thiếu gì tiền Mặt khác, họ sẽ đầu tư vào mọi ngành kinh tế phát triển, trường học, mức sống tăng tiến và người Ả Rập các xứ lân cận cũng rủ nhau vào Palestine làm ăn
Nhưng khi thấy họ làm ăn thành công quá mà mỗi một ngày đều tăng thêm cho nên đâm ra người Ả Rập bất bình Càng ngày họ càng thêm lo lắng đi đến phản đối quá trình hồi hương của người Do Thái, khi không làm được nữa thì họ đổ lỗi tất cả cho người Anh
Sau này người Anh cũng vì cho rằng người Ả Rập sẽ nổi loạn và phá các giếng dầu của họ Do đó ngày 17/05/1939, chính phủ Anh đành nuốt lời hứa với người Do Thái Anh kí một bản tuyên ngôn nữa - một Bạch thư (Livre blanc) thẳng tay hạn chế phong trào hồi hương trong giai đoạn này lại Đúng lúc người Do Thái cần phải về Palestine nhất thì không úp mở gì cả chính phủ Anh tuyên bố rằng tuyệt nhiên không có ý muốn cho Palestine thành một quốc gia
Do Thái