Vì vậy, khối lượng vốn từ của trẻ phải dựa vào sự mở rộng nhận thức của trẻ và được xác lập theo các trường nghĩa, cần kết hợp chặt chẽ giữa hoạt động nhận thức tích cực của trẻ, các nội
Trang 1KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Phương pháp phát triển ngôn ngữ
Người hướng dẫn
ThS Lê Bá Miên
HÀ NỘI 2017
Trang 2LỜI CẢM ƠN
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành và sâu sắc tới ThS Lê Bá Miên người đã trực tiếp hướng dẫn, giúp đỡ và động viên tôi tận tình trong suốt quá trình học tập và thực hiện khóa luận Đồng thời, tôi cũng xin cảm ơn tới Ban Giám hiệu Trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2, các thầy cô giáo trong khoa Giáo dục Mầm non, các thầy cô trong tổ ngôn ngữ, các thầy cô và trẻ ở trường Mầm non Trưng Nhị- Phúc Yên đã tạo điều kiện và giúp đỡ tôi hoàn thành khóa luận tốt nghiệp
-Trong quá trình nghiên cứu, không tránh khỏi những thiếu sót và hạn chế, kính mong nhận được sự đóng góp ý kiến từ thầy cô giáo và bạn đọc để khóa luận được hoàn thiện hơn
Em xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, ngày 03, tháng 05, năm 2017
Sinh viên
Hoàng Thị Tuyết
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của cá nhân tôi với sự hướng dẫn tận tình của thầy giáo ThS Lê Bá Miên Đề tài chưa được công bố trong bất cứ một công trình khoa học nào khác
Hà nội, ngày 03 tháng 05 năm
Sinh viên
Hoàng Thị Tuyết
Trang 4MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU
1 Lí do chọn đề tài 5
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 7
3 Mục đích yêu cầu 9
4 Nhiệm vụ nghiên cứu 9
5 Phương pháp nghiên cứu 9
6 Đối tượng phạm vi nghiên cứu 10
7 Cấu trúc đề tài 10
PHẦN NỘI DUNG Chương I: CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 1.1 CƠ SỞ LÍ LUẬN 1.1.1 Quan niệm về vốn từ 11
1.1.2 Lí luận về trường nghĩa của trường nghĩa tiếng Việt 12
1.1.2.1 Khái niệm về trường nghĩa 12
1.1.2.2 Trường nghĩa biểu vật 13
1.1.2.3 Trường nghĩa biểu niệm 15
1.1.3 Cơ sở tâm lí học 17
1.1.4 Cơ sở sinh lí học 20
1.1.5 Cơ sở giáo dục học 22
1.2 CƠ SỞ THỰC TIỄN 1.2.1 Nội dung kiến thức phát triển vốn từ ngữ ở trường mầm non 23
1.2.2 Thực trạng việc dạy và học phát triển vớn từ ngữ theo trường nghĩa 25
Chương II: PHÁT TRIỂN VỐN TỪ NGỮ CHO TRẺ THÔNG QUA CÁC TRƯỜNG TỪ NGỮ
2.1 Nội dung phát triển vốn từ
Trang 52.1.1 Từ ngữ biểu đạt cuộc sống sinh hoạt hàng ngày
2.1.1.1 Từ ngữ về những đồ dùng sinh hoạt trong lớp 29
2.1.1.2 Từ ngữ về trường mầm non 32
2.1.1.3 Từ ngữ về cuộc sống gia đình 33
2.1.1.4 Từ ngữ chỉ Thời gian, không gian 37
2.1.2 Từ ngữ biểu đạt cuộc sống xã hội 2.1.2.1 Từ ngữ biểu đạt những ngày lễ lớn trong năm 38
2.1.2.2.Từ ngữ biểu đạt về người có công với đất nước 38
2.1.2.3 Từ ngữ biểu đạt về cuộc sống nhân dân 39
2.1.2.4 Từ ngữ biểu đạt về Bác Hồ 40
2.1.2.5 Từ ngữ biểu đạt về Tổ quốc 41
2.1.2.6 Từ ngữ về các phương tiện giao thông 42
2.1.3 Từ ngữ biểu đạt về thế giới tự nhiên 2.1.3.1 Từ ngữ biểu đạt về thế giới thực vật 42
2.1.3.2 Từ ngữ biểu đạt về thế giới động vật 45
2.1.3.3 Từ ngữ biểu đạt về các hiện tượng tự nhiên 46
2.2 Biện pháp phát triển vốn từ cho trẻ 2.2.1 Thông qua lĩnh vực khám phá khoa học 47
2.2.2 Thông qua lĩnh vực phát triển ngôn ngữ 49
2.2 3 Thông qua hoạt động sinh hoạt hàng ngày 50
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 1 Kết luận 54
2 Kiến nghị 55
TÀI LIỆU THAM KHẢO
Trang 61
Trang 7Trường nghĩa là tập hợp các từ đồng nhất với nhau về một ý nghĩa nào đó Nói cách khác một tập hợp theo tiêu trí về nghĩa Do vốn từ ngữ của trẻ đã hạn hẹp và trẻ chưa sử dụng đúng theo tình huống giao tiếp, việc sử dụng ngôn ngữ trong giao tiếp
và các tính chất của ngôn ngữ ở trẻ phụ thuộc vào phần lớn việc hướng dẫn, làm mẫu
về lời nói của người lớn Trẻ nói được nhờ nghe người lớn và bắt chước người lớn Việc phát triển vốn từ cho trẻ là việc tổ chức có kế hoạch, có khoa học nhằm cung cấp làm giàu vốn từ cho trẻ, nâng cao khẳ năng hiểu nghĩa của từ, củng cố và tích cực hóa vốn từ cho trẻ, giúp trẻ biết vận dụng phù hợp vốn từ đó trong hoạt động giao tiếp Giai đoạn 5 – 6 tuổi đây là giai đoạn then chốt để trẻ chuẩn bị vào trường phổ thông, là bước ngoạt trong cuộc đời trẻ Vì thế, cần chuẩn bị tốt hành trang tâm lí
để trẻ sãn sàng đi học trong đó ngôn ngữ là thành phần cốt yếu Khi sử dụng ngôn ngữ, các từ chỉ có giá trị khi nó có chứa đựng nội dung, bởi vậy việc cung cấp cho trẻ hiểu nội dung của từ là điều cần thiết Việc dạy từ ngữ cho trẻ nhằm làm tăng số lượng từ trong các trường nghĩa để có điều kiện lựa chọn là việc là hết sức cần thiết Nếu vốn từ ít thì khả năng lựa chọn sẽ bị hạn hẹp và hiệu quả cũng sẽ giảm, số lượng
từ đó cũng chưa đủ để trẻ thể hiện được chính xác những nội dung phức tạp, tinh tế
Trang 8có nhu cầu nhận sự giải thích và cũng giải thích cho các bạn Ngôn ngữ tình huống
do giao tiếp với người xung quanh bằng những thông tin mà trẻ trực tiếp tri giác được trong khung cảnh Trẻ ở độ tuổi này cũng là một giai đoạn hoàn thiện cơ cấu từ loại trong vốn từ của trẻ Nhờ có đặc điểm trực quan hành động và trực quan hình tượng của tư duy nên trước hết trẻ sẽ nắm được tên gọi các sự vật, hiện tượng, thuộc tính quan hệ, mang tính chất biểu tượng trực quan phù hợp với hoạt động của chúng
Sự lĩnh hội ý nghĩa của từ diễn ra dần dần, thoạt đầu trẻ chỉ đối chiếu từ với với sự vật cụ thể, sự xâm nhập của trẻ vào hiện thực, khám phá dấu hiệu bản chất,…Dần dần cùng với sự phát triển tư duy trẻ mới năm được nôi dung khái niệm trong từ Vốn từ của trẻ mẫu giáo có khối lượng nhỏ hơn rất nhiều so với số lượng vốn từ của người lớn Vì vậy, khối lượng vốn từ của trẻ phải dựa vào sự mở rộng nhận thức của trẻ và được xác lập theo các trường nghĩa, cần kết hợp chặt chẽ giữa hoạt động nhận thức tích cực của trẻ, các nội dung phát triển vốn từ cho trẻ cần phải đưa vào tất cả hoạt động của trẻ( học tập, vui chơi, sinh hoạt) để trẻ phát triển từ ngữ một cách có
hệ thống và trẻ tiếp thu nhanh
Việc tổ chức hoạt động ngôn ngữ ở các trường mầm non đã được quan tâm, đặc biệt là nội dung phát triển vốn từ, cung cấp từ ngữ cho trẻ Chương trình giáo dục ở mầm non ở hầu hết các tỉnh đã áp dụng chương trình đổi mới, việc phát triển ngôn ngữ trong đó có việc phát triển vốn từ đã được quan tâm nhưng chưa thực sự hiệu quả Trẻ sử dụng từ ngữ một cách thụ động, không có hệ thống và lượng từ ít các từ chỉ thuộc tính, và các câu ghép, câu mở rộng,… Việc phát triển từ ngữ thông qua các hoạt động hàng ngày của trẻ còn mang tính rập khuôn máy móc chưa có định hướng phát triển theo các hệ thống, còn sao chép chưa giúp trẻ phát triển lượng từ ngữ và cách sử dụng từ ngữ cho trẻ Chính vì vậy, cần phải vận dụng khái niệm trường nghĩa cho trẻ để xác lập nội dung phát triển từ ngữ cho trẻ Qua thời gian học tập và tìm hiểu thực tế ở trường mầm non Trưng Nhị, thị Xã Phúc Yên, chúng tôi thấy trường
Trang 93
mầm non Trưng Nhị là trường đã có cách tổ chức cho trẻ đã hợp lí nhưng vẫn còn một hạn chế gặp nhiều khó khăn, trong đó có hoạt động phát triển từ ngữ cho trẻ Xuất phát từ những vấn đề trên, đồng thời để góp phần nâng cao chất lượng giáo dục nói chung và chất lượng giảng dạy trong hoạt động phát triển ngôn ngữ cho trẻ nói riêng trong đó có nội dung phát triển từ ngữ cho trẻ, chúng tôi chọn “ Vận dụng khái niệm trường nghĩa để phát triển vốn từ ngữ cho trẻ mẫu giáo lớn ” nhằm nâng cao hiệu quả giáo dục và giúp trẻ phát triển ngôn ngữ và phục vụ cho quá trình học tập khi bước vào lớp 1 sau này
2 Lịch sử vấn đề nghiên cứu
Phát triển ngôn ngữ cho trẻ đặc biệt là phát triển vốn từ cho trẻ 5 – 6 tuổi thông qua việc vận dụng khái niệm trường nghĩa là một việc làm quan trọng đòi hỏi càng sớm càng tốt Ngày càng có nhiều tác giả đã nghiên cứu về ngôn ngữ trẻ em Việt Nam như là công trình nghiên cứu Giáo dục mầm non thuộc Viện khoa học giáo dục, các đề tài khóa luận, luận văn tốt nghiệp của sinh viên, học viện cao trong trường Đại học Sư phạm Hà Nội, viện nghiên cứu…Phát triển ngôn ngữ cho trẻ em không phải là đề tài mới mẻ nữa, đã từ lâu có rất nhiều chương trình nghiên cứu vấn
đề này Cuốn “ Dạy nói cho trẻ trước tuổi lớp 1” của Phan Thiều và cuốn “ Dạy
phát âm và làm giàu vốn từ cho trẻ mẫu giáo” của Tạ Thị Ngọc Thanh( 1980) là
những công trình nghiên cứu về nội dung phương pháp dạy Tiếng Việt ở nhà trường Tuy nhiên nội dung chỉ dừng lại ở sự giải thích, vận dụng các tri thức ngôn ngữ học, các thành tựu ngôn ngữ tiếng Việt vào nhà trường
Giáo trình “ Phương pháp phát triển ngôn ngữ cho trẻ mẫu giáo” của Nguyễn
Xuân Khoa( 1979), tác phẩm trên đề cập đến nội dung và các phương pháp nhằm phát triển ngôn ngữ cho trẻ rất chi tiết, tỉ mỉ và cụ thể Trên cơ sở đánh giá chung về đặc điểm sinh lí của trẻ ở lứa tuổi này, dựa trên quan hệ của bộ môn ngôn ngữ học với những mối quan hệ của bộ môn khác , tác giả đã đưa ra một số phương pháp phát triển ngôn ngữ cho trẻ mầm non, trong đó bao gồm cả vấn đề phát triển vốn từ cho trẻ Ngoài ra, ông cũng đưa ra các cách sửa lỗi phát âm và một số trò chơi nhằm phát triển vốn từ cho trẻ mẫu giáo Đây chính là cơ sở tiền đề cho các nhà khoa học sau này nghiên cứu tìm tòi, khám phá về vấn đề ngôn ngữ cho trẻ
Trang 104
Giáo trình “ Phương pháp phát triển ngôn ngữ cho trẻ dưới 6 tuổi”, NXB
Đại học Quốc gia Hà Nội, 2005, các tác giả Hoàng Thị Oanh – Phạm Thị Việt – Nguyễn Kim Đức đã nói lên tầm quan trọng của ngôn ngữ trong việc giáo dục cho trẻ toàn diện cho trẻ nêu lên sơ lược nội dung, phương pháp, biện pháp, để luyện phát
âm, phát triển vốn từ, dạy trẻ nói đúng ngữ pháp, phát triển ngôn ngữ mạch lạc cho trẻ trong cuốn sách “ Phương pháp phát triển ngôn ngữ cho trẻ mẫu giáo”, NXB Đại học Quốc gia Hà Nội, 2005
Giáo trình “ Phương pháp phát triển ngôn ngữ cho trẻ mầm non” , NXB Đại học
Sư phạm, 2007, của đồng tác giả Đinh Hồng Thái và Trần Thị Mai, giáo trình cũng chú trọng đến dạy nói cho trẻ, phát triển ngôn ngữ thông qua các thành phần của ngữ pháp tiếng Việt đó là giáo dục chuẩn mực ngữ âm tiếng Việt, hình thành và phát triển vốn từ, dạy trẻ các mẫu câu tiếng Việt, phát triển lời nói mạch lạc Ngoài ra, trẻ cũng được chuẩn bị một số kĩ năng tiền đọc, viết cần thiết để học tiếng Việt lớp 1
Trong cuốn “ Tâm lí học trẻ em lứa tuổi mầm non” ( 2005), tác giả Nguyễn
Ánh Tuyết cũng đã trình bày sự phát triển vốn từ ở từng giai đoạn lứa tuổi
Bài “ Một số khuynh hướng nghiên cứu về mối liên hệ giữa giới và sự phát triển
ngôn ngữ ở trẻ em” của tác giả Nguyễn Thanh Bình đăng trong tạp trí ngôn ngữ số 1
năm 2003 cũng đề cập vốn từ về mặt số lượng cũng như cơ cấu từ loại
Như vậy, hầu như các tác giả đã nghiên cứu rất sâu sắc vốn từ vựng của tiếng Việt và nêu lên những quan điểm của mình trong đó, nhằm phát triển vốn từ ngữ cho trẻ Các tác giả đã đều khẳng định được ý nghĩa quan trọng của việc phát triển vốn
từ, góp phần không nhỏ trong việc dạy và tiếp thu vốn từ của cô và trẻ Tuy nhiên, ở các cuốn sách trên các tác giả mới dừng lại ở việc đưa ra nội dung phát triển vốn từ cho trẻ mà chưa đi sâu vào các chủ đề và hệ thống các từ ngữ cho để cung cấp cho trẻ Nhìn chung, dù mục đích nghiên cứu khác nhau nhưng hầu hết các tác giả đều khẳng định được sự cần thiết phát triển vốn từ cho trẻ nhằm nâng cao hiệu quả trong quá trình giáo dục Song chưa có tác giả nào đi sâu tìm hiểu “ Vận dựng khái niệm trường nghĩa để phát triển vốn từ ngữ cho trẻ mẫu giáo lớn” Đặc biệt, việc đi vào nội dung cụ thể của từng trường theo một cách có hệ thống Chính vì vậy, đây là nhiệm
Trang 115
vụ khóa luận cần giải quyết Các tài liệu nêu trên là cở sở quan trọng để giúp tôi hoàn thiện đề tài
3 Mục đích yêu cầu
Đề tài của tôi nhắm hai mục đích sau:
Làm tăng trưởng vốn từ cho trẻ một cách hệ thống
Góp phần làm tư liệu giảng dạy của ngành học này
4 Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt được mục đích nghiên cứu lí luận chúng tôi cần thực hiện các nhiệm vụ sau:
- Khảo sát quá trình vận dụng khái niệm trường nghĩa để xác lập nội dung phát triển từ ngữ cho trẻ mẫu giáo lớn
- Phân tích hệ thống hóa một số vấn đề lí luận của trường từ vựng ngữ để xây dựng nội dung phát triển từ ngữ cho trẻ
- Đề xuất biện pháp phát triển vốn từ ngữ cho trẻ
5 Phương pháp nghiên cứu
- Sử dụng các phương pháp sưu tầm, chọn lọc tài liệu, phương pháp logic
- Các phương pháp nghiên cứu trong khoa học giáo dục:
+ Phương pháp nghiên cứu lí luận: Tìm hiểu, đọc, phân tích tổng hợp và
hệ thống hóa các tài liệu về cơ sở phương pháp luận, những tài liệu giáo trình tâm lí học, ngôn ngữ học, giáo dục học, sinh lí học và một số các công trình nghiên cứu đã công bố… nhằm làm sáng tỏ cơ sở lí luận liên quan đến đề tài nghiên cứu
+ Phương pháp quan sát: Quan sát các hoạt động học, các hoạt động sinh hoạt hàng ngày của trẻ và qua việc quan sát các hoạt động chăm sóc và giáo dục của giáo viên theo các tiêu trí đưa ra Đồng thời thu thập một số thông tin liên
Trang 126
quan đến việc giả quyết nhiệm vụ nghiên cứu, những thông tin thu được sẽ bổ sung cho các phương pháp khác giúp làm rõ hơn vấn đề nghiên cứu
6 Đối tƣợng nghiên cứu, phạm vi nghiên cứu
6.1 Đối tượng nghiên cứu
Nội dung kiến thức phát triển từ ngữ cho trẻ mẫu giáo lớn
Chương I: Cở sở lí luận và thực tiễn của đề tài
Chương II: Vận dụng khái niệm trường nghĩa để phát triển vốn từ cho trẻ mẫu giáo lớn
NỘI DUNG
Trang 13thì luôn sử dụng ngôn ngữ để biểu đạt với mọi người xung quanh
Theo tinh thần đổi mới đã được đã được nêu trong nghi quyết của Bộ chính trị về cải cách giáo dục lần thứ III( năm 1979) để nâng cao chất lượng nuôi dạy trẻ cần phải phát triển vốn từ, đặt nền móng đầu tiên hình thành phát triển ngôn ngữ tạo tiền đề cần thiết cho trẻ bước vào những lớp cao hơn
Đặc điểm vốn từ của trẻ 5 – 6 tuổi:
Vốn từ xét về mặt số lượng: Số lượng từ tăng theo thời gian, phụ thuộc rất nhiều vào yếu tố khác nhau, trong đó quan trọng nhất là tác động của môi trường như: Sự tiếp xúc ngôn ngữ thường xuyên của những người xung quanh,
Trang 14Các loại từ trong lời nói của trẻ 5 tuổi
1.1.2 Lí luận về trường nghĩa của từ
1.1.2.1 Khái niệm trường nghĩa
Trường nghĩa là tập hợp của các từ đồng nhất với nhau về một ý nghĩa nào đó Nói cách khác, một tập hợp từ theo tiêu trí về nghĩa
Trang 159
Đỗ Hữu Châu trong “ Từ vựng ngữ nghĩa tiếng Việt” đã nhận định: “ Tính
hệ thống về ngữ nghĩa của từ vựng thể hiện qua những tiểu hệ thống ngữ nghĩa trong lòng từ vựng và quan hệ ngữ nghĩa giữa các từ riêng lẻ thể hiện qua quan
hệ giữa những tiểu hệ thống ngữ nghĩa của chúng.” [3, Tr.127]
Một tiểu hệ thống ngữ nghĩa được gọi là một trường nghĩa Với các trường nghĩa, chúng ta có thể phân định một cách tổng quát những quan hệ ngữ nghĩa trong lòng một trường
Ví dụ:
- Tập hợp các từ có chung nghĩa chỉ hoạt động di chuyển dời chỗ của
người: đi, chạy, nhảy, bò,…
- Tập hợp các từ có nghĩa chỉ hoạt động làm cho dời ra: cắt, chặt, bóc, xẻo,…
“Giáo trình ngôn ngữ học đại cương” của F Desaussure đã chỉ ra hai
dạng quan hệ lớn và quan hệ ngang và quan hệ dọc Quan hệ ngang( quan hệ hình tuyến, quan hệ tuyến tính) và quan hệ dọc( quan hệ trực tuyến, quan hệ hình) Với hai loại quan hệ này, trong hệ thống từ vựng hình thành trường nghĩa ngang( trường nghĩa tuyến tính) và trường nghĩa dọc( trường nghĩa trực tuyến) Trường nghĩa dọc gồm có trường nghĩa biểu vật và trường nghĩa biểu niệm Phối hợp hai trường nghĩa này cho ra trường nghĩa liên tưởng
Chúng tôi đi sâu vào nghiên cứu hai trường nghĩa dọc là trường nghĩa biểu vật và trường nghĩa biểu niệm
1.1.2.2 Trường nghĩa biểu vật
Tập hợp các từ biểu thị một ý nghĩa chung về sự vật, hiện tượng gọi là trường biểu vật Nói cách khác, đó là tập hợp những từ đồng nhất với nhau về
ý nghĩa biểu vật Người ta có thể phân chia tiếp thành nhiều hệ thống trường nghĩa khác nhau
Trang 1610
Tiêu trí để xác lập trường nghĩa biểu vật với ý nghĩa biểu vật là ta nên chọn danh từ( người, động vật, thực vật,…) có ý nghĩa biểu vật khái quát làm nên gốc để tập hợp các từ
Ví dụ: Vũ trụ, thiên nhiên, con người, nông nghiệp, công nghiệp, nhà trường, học tập,… là các danh từ làm gốc cho trường biểu vật Các danh từ
quyết định trường rộng hay hẹp Nếu danh từ có tính khái quát cao( ý nghĩa biểu vật lớn) thì trường càng rộng, số lượng trong trường càng nhiều Ngược lại, danh từ nào có tính khái quát không cao( ý nghĩa biểu vật hẹp) thì trường
có càng ít từ
Trường “con người” và trường “ thiên nhiên” nhỏ hơn trường “ vũ trụ” Trường “con người” rọng hơn trường “ nhà trường”, “ lao động”, “ nông nghiệp”
Thông thường những từ có phạm vi biểu vật rộng thì sẽ đi vào nhiều trường, những từ có ý nghĩa biểu vật hẹp sẽ đi vào ít trường
Ví dụ: Các từ tốt, đẹp, xấu,… đi vào tất cả các trường
Các từ: Đảng viên, đoàn viên, học sinh, đàn ông ,đàn bà,…chỉ đi vào
trường “ con người”
Vì có nhiều từ đi vào trường biểu vật khác nhau nên từ ngữ trong các trường hợp này có hiện tượng thẩm thấu hoặc giao thoa
Ví dụ: Bàn ghế, máy móc,… có chung nết nghĩa chỉ “ sự vật nhân tạo”
nhưng nói đến sự vật nhân tạo là nói đến người Do đó, ta có thể đưa các từ này vào trường chỉ người thành một trường nhỏ
Trong một trường biểu vật, quan hệ của các từ ngữ đối vơi nhà trường là không giống nhau, có những từ gắn chặt với trường tạo thành những từ điển hình của trường, những từ quan hệ lỏng lẻo với trường thì tạo thành những ngoại vi Những từ tạo thành lõi trung tâm thì ít sảy ra hiện tượng chuyển trường
Trang 1711
Ví dụ: Tốt, đẹp, xấu,… là những từ biên, có thể đi vào nhiều trường Những từ trung tâm của con người đảng viên, đoàn viên, thầy cô, công nhân,… chỉ trường con người
Việc lập các trường biểu vật, các lớp, các nhóm nằm trong trường nhóm chính là biểu hiện của tính hệ thống Chính tính hệ thống của từ ngữ tạo nên các trường và mỗi trường là tập hợp các từ ngữ có chung ý nghĩa biểu vật, tạo thuận lợi cho người sử dụng
1.1.2.3 Trường nghĩa biểu niệm
Trường nghĩa biểu niệm là tập hợp các đơn vị từ vựng có chung một cấu trúc biểu niệm Với cấu trúc biểu niệm sau: ( tính chất) ( kích thước) ( độ đo) ( có chiều dài song song với mặt đất) ta sẽ có các từ thuộc trường nghĩa
biểu niệm là dài lê thê, dài dòng, dài dằng dặc; ngắn: ngắn ngủi, ngắn cũn, ngắn cũn cỡn,…
Các từ trong một trường biểu niệm thì sẽ đồng nhất với nhau về ý nghĩa biểu niệm Vì thế, có thể chúng rất xa nhau về ý nghĩa biểu vật nhưng có nét chung về ý nghĩa thì vẫn đưa vào cùng một trường biểu niệm: giày, dép, bàn, ghế,… khác xa nhau về ý nghĩa biểu vật nhưng lại nằm trong cấu trức biểu niệm thì phải lập cấu trúc biểu niệm
Cũng như các trường biểu vật khác, các trường biểu niệm lớn có thể phân chia thành các trường nhỏ, các nhóm nhỏ, các miền với mật độ khác nhau dựa vào quan hệ ngữ nghĩa( đòng nhất và đối lập) giữa các từ ( nét nghĩa)
Ví dụ: một trường nghĩa biểu niệm( sự vật tập hợp) được phân ra thành các miền:
- Miền chỉ người đội, đoàn, lớp, tổ, nhóm,…
- Miền chỉ động vật bầy, đàn lũ,…
- Miền chỉ thực vật nhóm, khóm, cụm, mớ…
Trang 1812
Cơ sở để lập trường nghĩa biểu niệm là ý nghĩa biểu niệm chứ không phải là từ Vì thế, có nhiều từ có thể nằm ở các trường nghĩa khác nhau Ngược lại, có những từ nằm ở ít trường Thông thường, những từ có nhiều nghĩa biểu niệm thì có thể đi sâu vào nhiều trường Ngược lại, những từ ít nghĩa biểu niệm
sẽ đi vào ít trường
Chính do hiện tượng một từ đi vào nhiều trường biểu niệm khác nhau nên từ ngữ trong các trường này có hiện tượng thẩm thấu và giao thoa nhau
Ví dụ như từ “ sập”( cái sập) có thể đi vào hai trường biểu niệm sau:
Trường 1: có cấu trúc biểu niệm( sự vật) ( đồ dùng) ( để chứa đựng) tủ, hòm, va li, sập,…
Trường 2: có cấu trúc biểu niệm( sự vật) ( đồ dùng) ( để đỡ con người tư
thế nghỉ ngơi) giường, chõng,ghế, phản, sập,…
* Mối quan hệ giữa trường nghĩa biểu vật vầ trường nghĩa biểu niệm
Ta thấy rằng ý nghĩa biểu vật và ý nghĩa biểu niệm là góc độ nhìn khác nhau khi nghiên cứu, xem xét một từ ( nằm trong hệ thống từ vựng) Vì thế, khi tập hợp các trường nghĩa biểu vật thì dựa vào ý nghĩa biểu vật, khi chia nhỏ trường nghĩa biểu niệm thì dựa vào nét nghĩa biểu niệm
Ngược lại, khi ta lập trường nghĩa biểu niệm thì dựa vào cấu trúc biểu niệm, nhưng khi chia nhỏ trường nghĩa biểu niệm thì dựa trên nét nghĩa của trường biểu vật
Ví dụ: Trường có các nét nghĩa biểu niệm( sự vật nhân tạo) ( phục vụ sinh hoạt) khi chia nhỏ dựa vào ý nghĩa biểu vật:
- Đồ dùng để sách vở bàn, giá, gác,…
- Đồ dừng để đặt máy móc giá, bục, bàn,…
- Đồ dùng để che thân: vải vóc quần, áo, váy, mũ, ;nhựa, da giày, dép,
găng,…
Trang 1913
- Đồ dùng để đựng: thóc, gạo bồ, thúng, mẹt,…
Như vậy hai trường nghĩa biểu vật và biểu niệm có quan hệ chặt chẽ với nhau không tách biệt nhau “ dựa vào ý nghĩa mà chúng ta phân lập được các trường, nhờ sự định vị được dùng trong trường thích hợp mà chúng ta hiểu thêm sâu sắc ý nghĩa của từ” [3, Tr.185]
1.1.3 Cơ sở tâm lí học
Độ tuổi mẫu giáo lớn là độ tuổi cuối cùng của trẻ em ở lứa tuổi mầm non Trẻ ở giai đoạn mẫu giáo bé thì cấu tạo tâm lí đặc trưng của con người đã được hình thành, đặc biệt trong độ tuổi mẫu giáo lớn vẫn tiếp tục phát triển ở mức độ cao hơn Với sự giáo dục của người lớn, những chức năng tâm lí đó được hoàn thiện hơn về mọi phương diện để hoàn thành những cơ sở xây dựng, cở sở đầu tiên của tính cách con người Nhân cách con người thì được hình thành trong suốt thời kì thơ ấu và niên thiếu, với điều kiện phát triển bình thường thì bước vào năm tuổi thứ ba ý thức bản ngã bắt đầu nảy sinh và đến tuổi thanh niên thì nhân cách của trẻ tiếp tục được hình thành Ở độ tuổi mẫu giáo lớn, nhân cách của trẻ tiếp tục được hình thành và phát triển mạnh mẽ với đặc điểm sau: Ý thức bản ngã được xác định rõ ràng để giúp trẻ điều chỉnh hành vi của mình cho phù hợp với chuẩn mực quy tắc xã hội Đồng thời, ý thức bản ngã còn cho phép trẻ thực hiện các hoạt động một cách chủ quan, nhờ
đó, quá trình tâm lí mang tính chủ động rõ rệt Cuối tuổi mẫu giáo, ngôn ngữ của trẻ có tốc độ phát triển nhanh về số lượng và chất lượng, ngôn ngữ phát triển giúp trẻ biết tự giác hướng sự chú ý của mình vào đối tượng nhất định Cho nên, mỗi đối tượng tiếp nhận trong thời kì này đều có tác động sâu sắc đối với sự phát triển nhân cách và trí tuệ của trẻ Sức tưởng tượng, khẳ năng ghi nhớ của trẻ mẫu giáo lớn ngày càng có tính chủ đích hơn so với trẻ ở lứa tuổi nhỏ hơn Trong sự phát triển các hoạt động ý trí của trẻ mẫu giáo lớn có thể thấy được các liên kết chặt chẽ giữa ba mặt: Thứ nhất là sự phát triển tính mục đích của các hành động, thứ hai là sự xác lập mối quan hệ giữa hành động và
Trang 20từ ngữ và nắm vững ngữ pháp một cách vững vàng mà còn sáng tạo, những cách nói chưa hề có trong ngôn ngữ của người lớn Chúng ta đều biết mỗi từ mang ý nghĩa khái quát, nhưng đối với trẻ em thì mỗi từ vẫn chỉ là một từ đại diện cho một sự vật cụ thể, riêng lẻ mà thôi Từ ở trẻ em chỉ chứa đựng biểu tượng còn từ ở người lớn chỉ chứa đựng khái niệm Do đó từ ở trẻ em khác xa
ý nghĩa của từ đó với người lớn Các biểu tượng phản ánh hiện thực sinh động hơn, rõ ràng các khái niệm nhưng lại không có tính chất khái quát và tính chính xác và tính hệ thống đặc trưng của khái niệm Những khái niệm chỉ có thể được hình thành lĩnh hội những tri thức khoa học thực sự và việc nắm hệ thống các khái niệm được bắt đầu trong quá trình học tập ở trường phổ thông Nhưng các kết quả nghiên cứu cho thấy rằng trẻ mẫu giáo lớn cũng có thể lĩnh hội một số khái niệm đơn giản trong điều kiện được dạy dỗ đặc biệt phù hợp với đặc điểm phát triển của trẻ mẫu giáo lớn
Trang 2115
Trẻ ở giai đoạn mẫu giáo lớn “ Học mà chơi, chơi mà học” Bởi vì nội
dung học của trẻ vừa nhẹ nhằng vừa hấp dẫn, đối tượng “ tiết học” là những kiến thức rất trực quan sinh động Các trình tự học tập giống như giống như tiết học nhưng vẫn đủ các bước; tổ chức lớp; tiến hành tiết dạy( vào bài, nêu câu hỏi đặt vấn đề, giảng giải khái niệm), kết thúc tiết dạy bằng cách cho trẻ nhắc lại khái niệm.Tâm lí của trẻ ở độ tuổi này giống như học sinh tiểu học phải chú ý nghe cô hướng dẫn giảng giải, sử dụng các hình thức ghi nhớ, các thao tác tư duy diễn ra theo yêu cầu của tiết học, ý thức được tối đa và hiểu bài
Sự phát triển chú ý của trẻ: Trẻ có khả năng chú ý có chủ định từ 37 -
51 phút, đối tượng chú ý hấp dẫn nhiều thay đổi sẽ kích thích sự tò mò ham hiểu biết Trẻ phân phối tập trung vào 2 - 3 đối tượng cùng một lúc, tuy nhiên thời gian dễ thay đổi phân phối chưa vững bền, dễ dao động Di chuyển hướng dẫn trẻ nhanh nên sự hướng dẫn di chuyển tốt, sự phân tán di chuyển mạnh nhiều khi trẻ không tự chủ được do suy lực bản năng tri phối
Sự phát triển ngôn ngữ của trẻ: Nắm vững ngữ âm và ngữ điệu khi sử dụng tiếng mẹ đẻ; biết đọc diễn cảm, biết dùng điệu bộ bổ sung cho ngôn ngữ nói, vốn từ và cơ cấu ngữ pháp phát triển
Sự phát triển nhận thức của trẻ: Các hiện tượng về tâm lí như tri giác, cảm giác, tưởng tượng về cơ bản là sự phát triển như ở độ tuổi 4 - 5 tuổi nhưng chất lượng mới hơn như: Mức độ phong phú về từ loại; mức độ các quá trình tâm lí rõ ràng, có ý thức hơn; tính mục đích được hình thành và phát triển ở mức độ cao hơn; độ nhạy cảm của giáo quan được tinh nhạy hơn; khả năng kiềm chế phản ứng tâm lí được phát triển Sự phát triển mạnh mẽ nhất là về tư duy phát triển mạnh mẽ về kiểu loại, các thao tác thiết lập nhanh chóng, các mối quan hệ sự vật hiện tượng, thông tin giữa cái mới và cái cũ, cái gần và xa Trẻ đã biết phân tích tổng hợp không chỉ dừng lại ở tên gọi đồ vật, hình ảnh,
mà ngay cả từ ngữ về đặc điểm thuộc tính, công dụng của chúng Quá trình phát triển của tâm lí trẻ em là quá trình nảy sinh và giải quyết các mâu thuẫn,
Trang 2216
mâu thuẫn cái biết và cái chưa biết cái làm được và cái chưa làm được,nếu giải quyết được mâu thuẫn này trẻ sẽ bước lên trình độ phát triển mới, kết quả tích lũy từ những kinh nghiệm trong hoạt động và giao tiếp của trẻ Nhờ có đặc điểm trực quan hành động và trực quan hình tượng của tư duy trước hết, trẻ nắm được tên gọi các sự vật hiện tượng, thuộc tính, quan hệ mang tính chất biểu tượng trực quan phù hợp với hoạt động của chúng Sự lĩnh hội nghĩa của
từ diễn ra dần dần, thoạt đầu trẻ chỉ đối chiếu từ với sự vật cụ thể( không có ý nghĩa khái quát) Sự xâm nhập của trẻ và hiện thực dần dần trẻ cùng với sự phát triển tư duy trẻ mới nắm được nội dung khái niệm trong từ của trẻ còn được biến đổi trong suốt gia đoạn mẫu giáo Đến giai đoạn mẫu giáo lớn, khi ngôn ngữ trở thành phương tiện tư duy cho phép trẻ giải những bài toán trí tuệ
mà không cần sử dụng trực tiếp hành động và biểu tượng, cũng là lúc mà trẻ lĩnh hội khái niệm loài người đã xây dựng lên, tức là những tri thức về dấu hiệu chung và bản chất của các sự vật hiện tượng trong hiện thực đã được cũng
cố bằng các từ Trẻ biểu hiện năng lực trí tuệ qua hoạt động tổng hợp của lời nói, qua quan sát, chú ý và suy nghĩ bằng năng lực ghi nhớ liên tưởng và khả năng giải quyết các nhiệm vụ thông qua vui chơi sáng tạo Tư duy trực quan giải thích việc trẻ mẫu giáo bé và đầu mẫu giáo nhỡ có vốn từ biểu danh là chủ yếu Tư duy trừu tượng và tư duy logic xuất hiện ở tuổi thứ năm cho phép trẻ
em lĩnh hội những cái khái niệm đầu tiên - đó là những khái niệm về sự vật, hiện tượng gần gũi xung quanh trẻ
Vốn từ của trẻ mẫu giáo lớn có khối lượng nhỏ hơn rất nhiều so với số lượng từ của người lớn Vì khối lượng tri thức của trẻ còn quá hạn hẹp Vì thế,
mở rộng vốn từ cho trẻ phải dựa vào sự mở rộng nhận thức cho trẻ
1.1.4 Cơ sở sinh lí trẻ em
Cho đến lúc ra đời não bộ của trẻ chua phát triển đầy đủ, mạc dù hình thái giãi phẫu không khác người lớn là mấy Ở não trẻ sơ sinh: não bộ có kích thước nhỏ, khoảng 370 – 392g( 1/8 - 1/9 trọng lượng cơ thể) Trong 9 năm
Trang 23Đề có thể giao tiếp tốt, chúng ta không thể kể tới đến bộ máy phát âm Mỗi con người sinh ra đều có bộ máy phát âm, đó là tiền đề vật chất để sản sinh âm thanh ngôn ngữ Đặc điểm phát âm: Trẻ ở giai đoạn 3- 6 tuổi ở giai đoạn này trẻ hoàn thiện về mặt ngữ âm Các phụ âm đầu, âm cuối, thanh điệu dần được định vị Trẻ phát âm đúng hầu hết các âm vị của tiếng mẹ đẻ, biết điều chỉnh nhịp điệu, cường độ giọng nói khi giao tiếp, nói chung trẻ đã phát
âm tốt hơn, ít ê a, ậm ừ, trẻ vẫn còn phát âm sai những từ khó, những từ có hai
âm tiết, tuy nhiên lỗi sai cũng ít hơn các độ tuổi khác đáng kể Tuy vậy, trẻ vẫn còn mắc một số lỗi về phát âm và nguyên âm thanh điệu Khẳ năng hoàn chỉnh
về mặt phát âm của trẻ dần được tăng theo độ tuổi, trẻ nhanh chóng định vị được các âm đơn giản, những âm có vị trí phức tạp trẻ dễ mắc lỗi nếu kiên trì tập luyện thì trẻ có khẳ năng định vị các âm vị tiếng mẹ đẻ Ở giai đoạn 5 - 6 tuổi ngôn ngữ của trẻ mẫu giáo phát triển mạnh, đạt chất lượng cao cả về mặt phát âm, vốn từ và những hình thức ngữ pháp Điều cần lưu ý là quá trình tưởng tượng phát triển rất mạnh ở lứa tuổi này, thể hiện trong trò chơi, trong các bức vẽ, trong các câu chuyện "bịa" của trẻ Các trò chơi phân vai theo chủ
đề giúp trẻ tưởng tượng ra nhiều nhân vật đặc sắc Trí tưởng tượng của trẻ đầu tuổi mẫu giáo chủ yếu là không chủ định Những gì làm trẻ xúc động mạnh sẽ trở thành đối tượng của tưởng tượng Cùng với thời gian, quá trình học tập rèn
Trang 2418
luyện một cách có hệ thống sẽ làm cho bộ máy phát âm đáp ứng nhu cầu chuẩn
âm thanh ngôn ngữ Bộ máy phát âm của trẻ thì chưa phát triển đầy đủ, các bộ phận tạo thành tiếng nói chưa liên kết chặt chẽ nên phát âm chưa chuẩn, không chính xác Do đó, việc nghiên cứu bộ máy phát âm tìm hiểu vốn từ của trẻ mầm non hoàn toàn là cơ sở mạng tính khoa học
Não bộ của trẻ được hoàn thiện trong vòng sáu tháng sau khi sinh: Trong tháng đầu, trí não của trẻ có một vị trí đặc biệt chuyên lĩnh hội ngôn ngữ một cách tự nhiên mà không thể có được ở các loài động vật Hoạt động trí não của trẻ sẽ trưởng thành cùng với những kích thích từ môi trường bên ngoài Từ ngày trẻ được sinh ra, cần phải dạy cho trẻ những từ ngữ phong phú tích lũy dần dần trong tiềm thức sẽ hình thành cho trẻ khoản một kho tàng ngôn ngữ phong phú Năng lực sử lý ngôn ngữ vượt trội của trẻ có thể sánh với các chuyên gia ngôn ngữ, nhưng một số cha mẹ không biết lại cho rằng việc trẻ ghi nhớ và nói ra là điều tất yếu Chỉ trong khoảng thời gian sáu tháng ngắn ngủi, tùy thuộc vào hành động của cha mẹ và người thân mà trẻ có những chuyển biến lớn lao Cha mẹ nghĩ rằng cứ để trẻ ngoan ngoãn ngủ no nê suốt nửa năm đầu đời là tốt mà không biết rằng mình đã vô tình khiến con chậm phát triển Các nhà khoa học đã khẳng định rằng, cấu trúc bộ não cơ bản của trẻ được hoàn thiện trong sáu tháng sau sinh, đến 3 tuổi các khớp nối tế bào não được hoàn thiện 60% Trong giai đoạn mẫu giáo, cha mẹ cần chủ động kích hoạt những yếu tố ưu việt thiên bẩm trong trí não trẻ, có như vậy trẻ mới phát huy
và bộc lộ được những năng lực nổi trội của mình Trẻ giai đoạn mẫu giáo đã có năng lực tập trung hiểu được ngôn từ
1.1.5 Cơ sở giáo dục học
Dạy trẻ ở mẫu giáo là quá trình phát triển có hệ thống, có kế hoạch, có mục đích năng lự nhận thức của trẻ, trang bị cho trẻ hệ thống kiến thức sơ đẳng hình thành kĩ năng kĩ sảo tương ứng Trên cơ sở đó góp phần hình thành nhân
cách cho trẻ Trong quá trình dạy học gồm nhiều hoạt động khác nhau: Làm
Trang 25Ngôn ngữ của trẻ chỉ được hình thành và phát triển qua giao tiếp với con người và sự vật xung quanh Để thực hiện được điều đó phải thông qua nhiều phương tiện khác nhau như qua giờ học, các trò chơi, dạo chơi ngoài trời và sinh hoạt hàng ngày, rèn luyện phát triển vốn từ cho trẻ, tập cho trẻ nghe, hiểu
và phát âm chính xác tiếng mẹ đẻ, hướng dẫn trẻ cách diễn đạt ý muốn của mình cho người khác hiểu Vì vậy khi cho trẻ tiếp xúc với sự vật hiện tượng thì phải cho trẻ biết tên gọi, đặc điểm của đối tượng; không những thế giáo viên dạy trẻ nói câu đầy đủ câu rõ nghĩa, dạy trẻ phát âm đúng các âm chuẩn tiếng việt, đảm bảo các nguyên tác của giáo dục tính khoa học, tính vừa sức, tính tiếp thu
1.2 CƠ SỞ THỰC TIỄN
1.2.1 Nội dung kiến thức về phát triển vốn từ ở trường mầm non
Lĩnh vực phát triển ngôn ngữ cho trẻ mẫu giáo lớn có vị trí ưu thế trong chương trình giáo dục trẻ mầm non hiện nay Đây là một trong những lĩnh vực
cơ bản có sứ mệnh đào tạo những công dân tốt, những người lao động giỏi có ý thức tốt và trách nghiệm với xã hội Việc dạy trẻ ngôn ngữ nhằm phát triển vốn
từ một cách có hiệu quả ở trẻ đặt ra cho giáo viên mầm non là một vấn đề không đơn giản Qua thực tế tôi nhận thấy:
Vấn đề phát triển vốn từ cho trẻ trong lĩnh vực phát triển ngôn ngữ cho trẻ từ mẫu giáo bé đến mẫu giáo lớn khá cụ thể đi từ dễ đến khó phù hợp với tư
Trang 2620
duy nhận thức của các em Trẻ ở mẫu giáo lớn đã biết được từ có nhiều nghĩa,
có thể phân chia các nghĩa của từ nhiều nghĩa thành nghĩa chính nghĩa phụ Trên cơ sở nghĩa vốn có, có thể phát triển thêm các nghĩa của từ Trẻ cũng biết được một số ẩn dụ, hoán dụ dễ hiểu và sử dụng nó: “ mũi” là bộ phận dáng nhọn vì thế, các bộ phận dáng nhọn đều gọi là mũi như “ mũi dao, mũi kim,…”( ẩn dụ), chỉ trạng thái bực tức( hoán dụ): “ trọc” trọc trong từ “ trọc đầu” nhưng cũng có thể ở trong từ “ đồi trọc” Bên cạnh đó trẻ còn biết được các từ đồng nghĩa, trái nghĩa, và sử dụng được các thành ngữ, tục ngữ với nội dung phù hợp với lứa tuổi
Chương trình giáo dục mầm non bao gồm ba nội dung phát triển ngôn ngữ cho trẻ mầm non ở giai đoạn 5 – 6 tuổi: Nghe; nói; làm quen với việc đọc
và viết Trong đó ở nội dung nói bao gồm: phát âm rõ các từ trong tiếng Việt; bày tỏ nhu cầu, tình cảm và hiểu biết của bản thân bằng các loại câu khác nhau; sử dụng từ ngữ trong lời nói hàng ngày; trả lời và đặt câu hỏi
Nội dung phát triển vốn từ cho trẻ được cụ thể theo các chủ đề, và đối với trẻ 5 – 6 tuổi có tất cả 10 chủ đề bao gồm 9 chủ đề như ở độ tuổi khác và thêm một chủ đề là trường tiểu học Thông qua các chủ đề trẻ được cung cấp các từ ngữ theo các chủ đề đó
1.2.2 Thực trạng việc dạy và học về phát triển vốn từ theo trường nghĩa
Đáp ứng nhu cầu phát triển chung của đất nước trong thời đại mới, giáo dục và đạo tạo ngày càng khẳng định được vai trò, vị trí to lớn của mình trong đời sống xã hội Đảng và nhà nước ta đã xác định giáo dục là quốc sách hàng đầu, là một động lực để phát triển kinh tế Để thực hiện được nhiệm vụ đó nhiều giáo viên đã cố gắng để nâng cao chất lượng đào tạo Đội ngũ giáo viên
luôn ghi nhớ và làm theo lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh: “ Trách nghiệm nặng nề và vẻ vang của người thầy dạy học là: chăm lo dạy dỗ con em của nhân dân thành một người công dân tốt, người lao động giỏi, người chiến sĩ tốt, người cán bộ tốt của nước nhà Để làm tốt nhiệm vụ ấy, cán bộ giáo dục
Trang 27và phương pháp Để làm cho bài giảng thêm phong phú, sinh động giáo viên
đã rất quan tâm và thực hiện phương pháp dạy học đổi mới như sử dụng các phương tiện hiện đại( máy tính, máy chiếu,…) tự làm sáng tạo các đồ dùng trực quan liên quan tới bài học Đặc biệt, trong quá trình đổi mới thì nhiều giáo viên đã tích hợp các lĩnh vực để cung cấp kiến thức cho trẻ phong phú nhắm nâng cao nhận thức của trẻ Vì thế, đã có nhiều giáo viên đạt được giáo viên đạt loại giỏi với nhiều tiết dạy giỏi xuất phát theo hướng phát huy tính tích cực, chủ động, lấy trẻ làm trung tâm Tuy nhiên, còn nhiều giáo viên ít có thói quen tìm hiểu các phương pháp mới do ngại tìm hiểu và chưa biết cách sử dụng và truyền đạt chưa có hệ thống, còn dạy chay dẫn đến chất lượng bài dạy chưa cao Trong các hoạt động sinh hoạt hàng ngày cô chưa đủ thời gian để có thể cung cấp thêm cho từng trẻ
Qua thực tế, chúng tôi nhận thấy thông qua các hoạt động dạy chính và các hoạt động sinh hoạt hàng ngày hầu hết giáo viên mong muốn các em đều hiểu và có thể sử dụng vốn từ của mình trong các hoạt động giao tiếp Tất cả giáo viên đã nhận thấy ý nghĩa, tác dụng của việc phát triển vốn từ ngữ của trẻ theo các chủ đề là không thể thiếu được Nếu không có vốn từ thì trẻ không thể giao tiếp và học tập được Tuy nhiên, vẫn còn tồn tại nhiều vấn đề: Nhiều giáo viên do vốn từ của cô còn hạn chế, khả năng truyền đặt kiến thức đến trẻ còn kém làm cho khả năng tiếp thu của trẻ còn hạn chế, dẫn đến vốn từ ngữ của trẻ chưa được nhiều, cô sử dụng tiếng địa phương nên phát âm còn chưa chuẩn Không chỉ vậy, hình thức tiết học còn khô cứng, thiếu linh hoạt, gò bó nhàm chán làm cho trẻ chưa thực sự hứng thú với tiết học, trẻ không chú ý lắng nghe điều này có ảnh hưởng không nhỏ đối với với việc phát triển vốn từ cho trẻ Ngoài ra, đội ngũ giáo viên còn lúng túng trong hoạt động tổ chức lên lớp và
Trang 2822
các hoạt động sinh hoạt hàng ngày nhất là trong việc cung cấp vốn từ cho trẻ theo các chủ đề còn hạn chế chưa có hệ thống, và đặt hiệu quả chưa cao Bên cạnh đó, trường mầm non Trưng Nhị là trường có 10 lớp trong đó có 2 lớp mẫu giáo lớn có trên 50 cháu trên một lớp, tỉ lệ các cháu rất đông, mà thời gian các tiết học ngắn cô không có điều kiện đến từng cháu để quan sát và sửa sai cho trẻ được, vì vậy việc sửa lỗi và cung cấp các từ cho trẻ chưa được sát sao Vì thế, hiệu quả sư phạm còn thấp, chưa phát huy được tác dụng giáo dưỡng và giáo dục Trong các hoạt động học tập giáo viên chưa phát huy được tính tích cực, chủ động của trẻ dẫn đến hiêu quả bài học chưa cao, trẻ chưa thực sự được hoạt động chủ yếu là cô tự nói và tự làm dẫn đến trẻ không nhớ lâu được kiến thức
Như vậy, thực tế cho thấy, hầu hết các giáo viên mầm non đã nhận thức được vai trò tầm quan trọng việc cung cấp phát triển vốn từ cho trẻ Tuy nhiên, đây là quá trình lâu dài đòi hỏi sự tìm tòi, học hỏi nỗ lực của giáo viên Nếu công việc này được giáo viên tiến hành thường xuyên và có hiệu quả tích cực
sẽ góp phần giúp trẻ có thêm vốn từ phong phú hơn, có hệ thống, hiểu được ý nghĩa của từ và sử dụng nó trong cuộc sống hàng ngày Để khác phục được tình trạng nêu trên thì một yêu cầu rất lớn đặt ra là giáo viên nắm được khối lượng vốn từ mà trẻ có, xây dựng các vốn từ để cung cấp cho trẻ theo một cách
có hệ thống Từ đó việc tăng trưởng vốn từ cho trẻ dễ dàng hơn, hiệu quả hơn
Trẻ ở lứa tuổi mẫu giáo bên cạnh việc nuôi dưỡng chăm sóc trẻ còn được giáo dục một cách bài bản Trẻ đã phát huy tốt khả năng của mình tham gia các hoạt động sinh hoạt, phát triển tốt các mặt cả về thể chất và tinh thần Khả năng ngôn ngữ của trẻ cũng rất tốt, trẻ biết giao tiếp với bạn và cô, chủ động tham gia các hoạt động cô tổ chức, tích cực trả lời trong các hoạt động học Tuy nhiên, do vốn từ của trẻ ở giai đoạn này còn ít, thiếu thốn, sự tập trung của các trẻ còn kém, trẻ chưa chú ý tới lời nói của cô nên vốn từ của trẻ ngày càng hạn chế Trẻ hay nói ngọng nhất là các âm “l – n” như “ lon nước -
Trang 2923
non nước”, trẻ còn chưa sử dụng vốn từ một cách chính xác, những từ khó trẻ thường phát âm sai như “ khế - hế”, “ ngã – ngá” Trẻ phát âm được nhiều từ nhưng chưa hiểu hết ý nghĩa của từ, nhiều trẻ còn ngại, ít giao tiếp nên vốn từ cưa phong phú và hạn chế thiếu sinh động
Thực tế cho thấy việc phát triển vốn từ cho trẻ nếu giáo viên chưa làm cho trẻ nhận thức hệ thống các vốn từ ngữ đặc biệt là trẻ mẫu giáo lớn thì sự cố gắng và nỗ lực của giáo viên trong các hoạt động sẽ không có hiêu quả Do vậy, nó đòi hỏi sự nổ lực tâm huyết của giáo viên mầm non đối với việc phát triển vốn từ ngữ cho trẻ Từ những lí do trên, là người làm công tác giáo dục bản thân tôi thấy rõ tầm quan trọng cũng như vấn đề nêu trên, tôi mạnh dạn chọn đề tài
Trang 30từ theo trường nghĩa, hệ thống
Những kiến thức về trường nghĩa biểu vật, trường nghĩa biểu niệm của
từ là cơ sở để giáo viên giúp trẻ mở rộng vốn từ một cách có hệ thống Việc cung cấp vốn từ theo chủ đề, chủ điểm đã cho, cung cấp vốn từ theo kiểu này vừa nâng cao nhận thức của trẻ về thế giới xung quanh, giúp cho trẻ tự tin giao tiếp, cũng cố kĩ năng,…
Nhìn chung, việc các em mở rộng vốn từ theo trường nghĩa thì khả năng các em tìm từ theo nhóm nghĩa càng dễ dàng hơn Các em thường gặp khó khăn gọi tên các nhóm nghĩa để đưa các từ vào Tuy nhiên ,từng nhóm nghĩa với từng nghĩa quen thuộc được sử dụng nhiều từ khi các em nêu được nhiều,
có những nhóm nghĩa lạ thì các em nêu được ít từ Vì thế, giáo viên phải có phương pháp giúp trẻ mở rộng vốn từ theo trường nghĩa
Qua quá trình điều tra thực tế, chúng tôi thấy vốn từ của trẻ theo trường nghĩa còn ít Vì vậy, chúng tôi đưa ra một số bước giúp trẻ mở rộng vốn từ của mình
B1: Xác lập các tiêu trí để xác lập trường nghĩa
Đối với trường nghĩa biểu vật: Ta phải dựa trên danh từ có ý khái quát Mỗi danh từ là một nghĩa hay một chủ điểm Đối với trường biểu niệm: Ta