1. Trang chủ
  2. » Cao đẳng - Đại học

Phát triển vốn từ cho trẻ ở độ tuổi mẫu giáo nhỡ thông qua dạy trẻ kể lại truyện theo tranh

65 449 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 65
Dung lượng 1,19 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Khi trẻ kể chuyện, ngôn ngữ của trẻ phát triển, trẻ phát âm rõ ràng mạch lạc, vốn từ phong phú; trẻ biết trình bày ý kiến, suy nghĩ khi kể về một sự vật hay sự kiện nào đó… bằng chính ng

Trang 1

ĐỘ TUỔI MẪU GIÁO NHỠ THÔNG QUA

DẠY TRẺ KỂ LẠI TRUYỆN THEO TRANH

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Chuyên ngành: Phương pháp Phát triển ngôn ngữ

Người hướng dẫn khoa học

TS KHUẤT THỊ LAN

HÀ NỘI, 2017

Trang 2

LỜI CẢM ƠN

Để hoàn thành khóa luận này, tôi xin tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến Cô TS Khuất Thị Lan, đã tận tình hướng dẫn trong suốt quá trình nghiên cứu đề tài khóa luận tốt nghiệp

Tôi chân thành cảm ơn quý Thầy, Cô trong khoa Giáo dục mầm non, Trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2 đã tận tình truyền đạt kiến thức trong 4 năm học tập Với vốn kiến thức được tiếp thu trong quá trình học không chỉ là nền tảng cho quá trình nghiên cứu khóa luận mà còn là hành trang quý báu để tôi bước vào đời, vào nghề một cách vững chắc và tự tin

Tôi chân thành cảm ơn Ban giám hiệu nhà trường, toàn thể đội ngũ giáo viên đang công tác tại khu Bầu – Trường mầm non Kim Chung (Kim Chung – Đông Anh – Hà Nội) đã cho phép và tạo điều kiện thuận lợi để tôi thực hiện quá trình thu thập số liệu cũng như thực tập tại trường

Cuối cùng tôi xin kính chúc quý Thầy, Cô dồi dào sức khỏe và gặt hái nhiều thành công trong sự nghiệp cao quý

Tôi xin chân thành ảm ơn!

Hà Nội, ngày tháng năm

Sinh viên thực hiện

Hoàng Thị Kiều Trang

Trang 3

DANH MỤC CÁC THUẬT NGỮ, KÍ HIỆU VIẾT TẮT

Trang 4

MỤC LỤC

PHẦN MỞ ĐẦU 1

1 Lí do chọn đề tài 1

2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 2

3 Mục đích nghiên cứu vấn đề 4

4 Nhiệm vụ nghiên cứu 4

5 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 4

6 Phương pháp nghiên cứu 5

7 Cấu trúc của đề tài 5

CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ CƠ SỞ THỰC TIỄN 6

1.1.Cơ sở lý luận 6

1.1.1 Cơ sở tâm lý 6

1.1.2 Cơ sở ngôn ngữ học 8

1.1.3 Vai trò của việc dạy trẻ kể lại truyện theo tranh với sự phát triển vốn từ của trẻ 13

1.2 Cơ sở thực tiễn 18

1.2.1 Điều tra, khảo sát những vấn đề chung 18

1.2.2 Đối tượng khảo sát 18

1.2.3 Thời gian khảo sát 18

1.2.4 Phương pháp khảo sát 19

1.2.5 Phân tích kết quả điều tra, khảo sát 19

1.2.6 Nhận xét từ điều tra, khảo sát 22

Tiểu kết 29

CHƯƠNG 2: BIỆN PHÁP PHÁT TRIỂN VỐN TỪ CHO TRẺ MẪU GIÁO NHỠ THÔNG QUA DẠY TRẺ KỂ LẠI TRUYỆN THEO TRANH 30

2.1 Dạy trẻ kể lại truyện theo tranh vẽ mô phỏng nội dung câu chuyện 30

2.2 Dạy trẻ kể lại truyện thông qua tranh đồ chơi 35

Trang 5

2.3 Dạy trẻ kể lại truyện thông qua tranh trình chiếu Powerpoint 37

2.4 Dạy trẻ kể lại truyện theo tranh thông qua trò chơi 39

Tiểu kết 42

CHƯƠNG 3: THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM 43

3.1 Mục đích và đối tượng thực nghiệm 43

3.1.1 Mục đích thực nghiệm 43

3.1.2 Đối tượng thực nghiệm 43

3.2 Thời gian và địa bàn thực nghiệm 43

3.2.1 Thời gian thực nghiệm 43

3.2.2 Địa bàn thực nghiệm 43

3.3 Điều kiện và phương pháp thực nghiệm 43

3.3.1 Điều kiện thực nghiệm 43

3.3.2 Phương pháp thực nghiệm 44

3.4 Nội dung và kết quả thực nghiệm 44

3.4.1 Nội dung thực nghiệm 44

3.4.2 Kết quả thực nghiệm 45

PHẦN KẾT LUẬN 47

TÀI LIỆU THAM KHẢO 49 PHỤ LỤC

Trang 6

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Lí do chọn đề tài

Giáo dục mầm non là bậc học đầu tiên trong hệ thống giáo dục quốc dân,

có vai trò quan trọng trong việc đặt nền móng xây những viên gạch đầu tiên cho sự hình thành và phát triển nhân cách con người

Giáo dục mầm non là nền tảng của sự phát triển thể chất, trí tuệ, tình cảm, thẩm mĩ của trẻ Phát triển giáo dục mầm non là nhiệm vụ chung của các cấp các ngành và toàn thể xã hội dưới sự lãnh đạo của Đảng và sự quản lý của Nhà nước

Việc có một vốn từ phong phú sẽ giúp ích cho trẻ rất nhiều, vì trẻ luôn tự nắm bắt những gì mà trẻ nghe được từ xung quanh trong môi trường sống trực tiếp của trẻ Các nhà nghiên cứu đã gợi ý rằng từ vựng là một yếu tố cực kì quan trọng trong sự phát triển của trẻ đặc biệt là ở kĩ năng nói

Khi trẻ có một vốn từ vựng phong phú thì trẻ sẽ nói tốt hơn và có khuynh hướng học tốt hơn so với những trẻ cùng lứa tuổi có vốn từ hạn hẹp Và với vốn từ phong phú luôn có sẵn trong đầu, trẻ sẽ có thể tự bày tỏ cảm xúc, cảm nghĩ của bản thân với nhiều người một cách có hiệu quả, qua đó nâng cao khả năng giao tiếp xã hội của trẻ

Vốn từ là nền móng để phát triển ngôn ngữ, mà ngôn ngữ đóng vai trò quan trọng trong sự phát triển về trí tuệ trẻ Việc dạy trẻ làm tăng số lượng từ trong các trường nghĩa để có điều kiện lựa chọn là việc hết sức cần thiết Nếu vốn từ ít thì khả năng lựa chọn sẽ bị hạn hẹp và hiệu quả dùng từ sẽ giảm, số lượng từ đó cũng chưa đủ để trẻ thể hiện được cảm xúc được chính xác những nội dung phức tạp, tinh tế mà cuộc sống đòi hỏi Chính vì vậy mà cần có kế hoạch để vừa làm tăng chất lượng sử dụng từ vừa mở rộng vốn từ cho trẻ

Từ 3-6 tuổi, trong những điều kiện thuận lợi, trẻ bước đầu nắm được hệ thống ngữ âm, ngữ pháp của tiếng mẹ đẻ và trên cơ sở này giúp trẻ phát triển

Trang 7

nhanh chóng vốn từ, cấu trúc ngữ pháp Trong đó độ tuổi 4-5 là chặng giữa tuổi mẫu giáo Nó đã vượt qua thời kỳ chuyển tiếp từ tuổi ấu nhi lên để tiến tới một chặng đường phát triển tương đối ổn định Ngay từ những bước đầu, nếu trẻ được làm quen và phát triển vốn từ sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho chúng mở rộng kho tàng ngôn ngữ, từ đó có thể phát triển một cách toàn diện Đồng thời thông qua việc dạy trẻ kể lại truyện theo tranh, giúp trẻ thể hiện năng lực tư duy, óc tưởng tượng sáng tạo, biết yêu quý cái đẹp, hướng tới cái đẹp Khi trẻ kể chuyện, ngôn ngữ của trẻ phát triển, trẻ phát âm rõ ràng mạch lạc, vốn từ phong phú; trẻ biết trình bày ý kiến, suy nghĩ khi kể về một sự vật hay sự kiện nào đó… bằng chính ngôn ngữ của trẻ.Trên đây là những lí do

chúng tôi chọn đề tài nghiên cứu: “Phát triển vốn từ cho trẻ ở độ tuổi mẫu

giáo nhỡ thông qua dạy trẻ kể lại truyện theo tranh”

2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề

Đầu thế kỷ XVII, nhà giáo dục nổi tiếng người Tiệp Khắc J.A.Kômenski (1592-1670) đã gây dựng nhà trường, coi trọng trường học Ông đã đưa ra nguyên tắc dạy học, lí luận dạy học và phương pháp dạy học của quá trình nhận thức Ông cho rằng kiến thức càng dựa vào cảm giác thì nó càng xác thực Nghiên cứu sự vật không chỉ dựa vào cái mà người ta quan sát, chứng minh, mà phải căn cứ vào những cái chính mắt mình nhìn thấy, chính tai mình nghe, chính mũi mình ngửi, chính lưỡi mình nếm, chính tay mình sờ,… Ý nghĩa cơ bản và hợp lí của nguyên tắc này được coi là ở chỗ độc lập với việc

nó truyền thụ bằng lời (mà người ta vẫn gọi là học chay) một cách giáo điều Nguyên tắc giúp học sinh bằng kinh nghiệm của bản thân nhìn thấy được tri thức cụ thể, làm nền tảng cho tư duy Vì vậy nguyên tắc này được coi là nguyên tắc vàng trong lí luận dạy học Nguyên tắc này cho rằng ở giai đoạn thấp, trẻ mầm non tư duy cụ thể Tính cụ thể ấy buộc giáo viên phải minh họa

Trang 8

những khả năng gọi là trừu tượng bằng những sự vật có thật trong cuộc sống, bằng những tranh ảnh, mô hình,…

Bằng cách mô tả rõ ràng chi tiết để gợi lại cho học sinh nhớ lại những cái đã học hoặc tưởng tượng những cái chưa nhìn thấy

Nhà sư phạm J.J.Rutxo (1712-1778) cũng kịch liệt phê phán nhà trường đương thời lạm dụng lời nói Ông đã lớn tiếng: “Đồ vật, đồ vật – hãy đưa ra

đồ vật Tôi không ngừng nhắc đi nhắc lại rằng, chúng ta lạm dụng quá mức lời nói – Bằng cách giảng giải ba hoa, chúng ta chỉ tạo nên con người ba hoa” Trên cơ sở kế thừa công trình nghiên cứu của các bậc cha ông đi trước, ngày nay phương pháp dạy học trực quan cũng được rất nhiều nhà nghiên cứu giáo dục quan tâm và đi sâu nghiên cứu các khía cạnh khác nhau Đặc biệt đã

có nhiều tài liệu có giá trị được công bố Về mặt lí luận có tác giả Phan Trọng Ngọ, Dương Diệu Hoa, Lê Tràng Định trong cuốn: “Vấn đề trực quan dạy học” Ngoài ra còn có rất nhiều tác giả khác quan tâm đến vấn đề này: Giáo dục học mầm non (Đào Thanh Âm - Nhà xuất bản Đại học Sư phạm); Phương pháp trực quan trong việc phát triển vốn từ cho trẻ mẫu giáo bé (Nguyễn Thị Hoa) Biện pháp cho trẻ làm quen với tác phẩm văn học cũng là vấn đề đã được nhiều nhà giáo dục quan tâm nghiên cứu, nhưng chưa có công trình nào đi sâu vào vấn đề phát triển vốn từ cho trẻ thông qua dạy trẻ kể lại truyện theo tranh Trong quá trình tìm hiểu về biện pháp phát triển vốn từ cho trẻ mẫu giáo nhỡ thông qua dạy trẻ kể lại truyện theo tranh, chúng tôi đã đọc và tiếp xúc với các công trình sau:

Các phương pháp cơ bản cho trẻ mẫu giáo tiếp xúc với tác phẩm văn học (Hà Nguyễn Kim Giang – Nhà xuất bản Đại học quốc gia)

Giáo trình Văn học dân gian (Phạm Thu Yến chủ biên – Nhà xuất bản Đại học Sư phạm Hà Nội)

Trang 9

Trong hai cuốn: “Cho trẻ làm quen với với tác phẩm văn học – Một số vấn đề lí luận và thực tiễn” (PGS.TS Hà Nguyễn Kim Giang) và giáo trình “Tiếng Việt – Văn học và phương pháp phát triển cho trẻ dưới 6 tuổi” (Lê Thị Kỳ - Nguyễn Thế Dũng – Lê Kim Oanh) đều đưa ra một hệ thống các phương pháp cơ bản để cho trẻ làm quen với tác phẩm văn học ở trường mầm non, trong đó có nhắc đến phương pháp sử dụng phương tiện trực quan

3 Mục đích nghiên cứu vấn đề

Nhằm mở rộng, phát triển vốn từ cho trẻ MGN phát triển ngôn ngữ mạch lạc

Dạy trẻ sử dụng các từ mô tả hoặc bắt đầu sử dụng các đại từ Dạy trẻ

có thể biết ghép các danh từ, động từ, tính từ thành câu tương đối hoàn chỉnh thông qua kể chuyện cổ tích có tranh minh họa

Phát triển tư duy, sáng tạo của trẻ, đồng thời giáo dục tình cảm, thẩm mỹ

4 Nhiệm vụ nghiên cứu

- Tìm hiểu cơ sở lí luận và cơ sở thực tiễn có liên quan đến phát triển vốn từ cho trẻ độ tuổi mẫu giáo nhỡ thông qua dạy trẻ kể lại truyện theo tranh

- Xây dựng, thiết kế một số biện pháp dạy trẻ kể lại truyện theo tranh nhằm phát triển vốn từ cho trẻ MGN

- Thực nghiệm, kiểm tra tính khả thi của một số biện pháp dạy trẻ kể lại truyện theo tranh

- Xử lý kết quả nghiên cứu và rút ra nhận định

5 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

5.1 Đối tượng nghiên cứu

Thiết kế, xác định hoạt động phát triển vốn từ cho trẻ MGN thông qua dạy trẻ kể lại truyện theo tranh ở trường mầm non

Trang 10

5.2 Phạm vi nghiên cứu

Nhóm trẻ ở độ tuổi MGN tại trường mầm non Kim Chung (Khu Bầu – Kim Chung – Đông Anh – Hà Nội), cụ thể là 3 lớp MGN B1, MGN B2, MGN B3

Các câu chuyện trong chương trình giáo dục mầm non ở độ tuổi MGN

6 Phương pháp nghiên cứu

6.1 Phương pháp thống kê, phân loại

Để điều tra thực trạng của việc dạy trẻ kể lại truyện theo tranh, cũng như mức độ hiệu quả của các biện pháp được đề xuất trong việc phát triển vốn

từ cho trẻ MGN thông qua dạy trẻ kể lại truyện theo tranh

6.2 Phương pháp phân tích, tổng hợp

Để tổng hợp kết quả điều tra, khảo sát, từ đó rút ra nhận xét và có kế hoạch xây dựng biện pháp mới phù hợp để phát triển vốn từ cho trẻ MGN thông qua dạy trẻ kể lại truyện theo tranh

6.3 Phương pháp quan sát và thủ pháp phỏng vấn, trao đổi với giáo viên, học sinh, phụ huynh

Để tìm hiểu thực trạng khả năng tiếp thu của trẻ, trình độ nhận thức của giáo viên và thực trạng việc giáo viên dạy trẻ kể lại truyện theo tranh

7 Cấu trúc của đề tài

Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Phụ lục, Tài liệu tham khảo, khóa luận gồm 3 chương

Chương 1: Cơ sở lí luận và cơ sở thực tiễn

Chương 2: Biện pháp phát triển vốn từ cho trẻ độ tuổi mẫu giáo nhỡ thông qua dạy trẻ kể lại truyện theo tranh

Chương 3: Thực nghiệm sư phạm

Trang 11

CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ CƠ SỞ THỰC TIỄN

1.1.Cơ sở lý luận

1.1.1 Cơ sở tâm lý

Sự phát triển tâm lý và hoàn thiện nhân cách là một quảng đường dài trẻ sẽ trải qua trong suốt quá trình phát triển của mình Vào giai đoạn 4-5 tuổi trẻ có sự hình thành tâm lý rõ ràng, có những bước phát triển vượt bậc so với lúc 3-4 tuổi Giai đoạn trẻ 3-4 tuổi có sự hình thành tâm lý, các tính riêng của từng bé, sang đến 4-5 tuổi cá tính ấy đã trở lên khá ổn định, dần trở thành tính riêng của một con người hoàn thiện Vì thế việc địn h hướng tâm sinh lý theo chiều hướng tích cực, đúng đắn trong giai đoạn này là cực kì quan trọng

Ở tuổi MGN thì hoạt động vui chơi đã mang đầy đủ ý nghĩa của nó, tức

là nó đạt tới dạng chính thức và biểu hiện đầy đủ đặc điểm của hoạt động vui chơi, nhiều hơn cả là trò chơi đóng vai theo chủ đề Có thể nói rằng hoạt động vui chơi ở lứa tuổi MGN phát triển tới mức hoàn thiện, được thể hiện ở những đặc điểm sau:

Thứ nhất: trong hoạt động vui chơi, trẻ MGN thể hiện tính tự lực, tự do

và chủ động rất rõ, ít lệ thuộc vào người lớn và hoàn toàn tùy thuộc vào ý thích của mình Tính tự lực của trẻ biểu hiện trong việc lựa chọn chủ đề và nội dung chơi, trong việc lựa chọn các bạn cùng chơi và trong việc tự do tham gia vào trò chơi nào mà mình thích và tự do rút ra khỏi những trò chơi mà mình đã chán

Thứ hai: trong hoạt động vui chơi, trẻ MGN đã biết thiết lập những quan hệ phong phú và rộng rãi với các bạn cùng chơi Một “xã hội trẻ em” được hình thành Ở tuổi MGN việc chơi trong nhóm bạn bè là một nhu cầu bức bách Nếu người lớn không thấy được nhu cầu đó của trẻ để tạo điều kiện cho chúng chơi với nhau thì đó là một sai lầm lớn trong giáo dục, vì ở lứa tuổi Mẫu giáo – đặc biệt là MGN – nhu cầu giao tiếp với bạn bè đang ở thời kỳ

Trang 12

phát cảm, tức là đang phát triển mạnh Từ đó, những “xã hội trẻ em” thực sự được hình thành (A.P.Uxôva) Cái xã hội này bao gồm toàn thể trẻ em nhưng cấu trúc của nó không hề đơn giản Trong cái “xã hội trẻ em” ấy mỗi đứa đều

có một vị trí nhất định Vị trí đó được thể hiện ở chỗ bạn bè trong nhóm đối với nó như thế nào “Xã hội trẻ em” dần dần cũng hình thành những dư luận chung Dư luận chung thường bắt nguồn từ những nhận xét của người lớn đối với trẻ em, cũng có thể do trẻ em nhận xét lẫn nhau Dư luận chung ảnh hưởng khá lớn đối với sự lĩnh hội chuẩn mực đạo đức của trẻ trong nhóm và qua đó mà ảnh hưởng đến nhân cách của từng đứa trẻ Nhóm trẻ cùng chơi là một trong những cơ sở xã hội đầu tiên của trẻ, do đó người lớn cần tổ chức tốt hoạt động của nhóm trẻ ở lớp mẫu giáo cũng như ở gia đình, khu tập thể, xóm dân cư, để tạo ra một môi trường lành mạnh có tác dụng giáo dục tích cực đối với trẻ

Về tư duy, ở trẻ 4-5 tuổi các loại tư duy đều phát triển nhưng mức độ khác nhau Tư duy trực quan hành động vẫn tiếp tục phát triển, nhưng chất lượng khác với trẻ 3-4 tuổi ở chỗ trẻ bắt đầu biết suy nghĩ xem xét nhiệm vụ hoạt động, phương pháp và phương tiện giải quyết nhiệm vụ tư duy Tư duy trực quan hình tượng phát triển mạnh mẽ và chiếm ưu thế Nhờ có sự phát triển ngôn ngữ, trẻ ở lứa tuổi này đã xuất hiện loại tư duy trìu tượng Một số đặc điểm trong tư duy ở trẻ 4-5 tuổi:

Mức độ khái quát ngẫu nhiên giảm dần từ 4-5 tuổi trong hoạt động tư duy của trẻ

Mức độ tích cực huy động vốn kinh nghiệm (liên tưởng) của trẻ tăng lên từ 4-5 tuổi

Sự khái quát các dấu hiệu chung giảm dần từ 4-5 tuổi, nhường chỗ cho các chi tiết đặc thù của các sự vật hiện tượng

Trang 13

Độ phong phú của các hình ảnh tưởng tượng cao nhờ có sự nhận thức được màu sắc trong thiên nhiên và qua các tiết nghệ thuật tạo hình

Phát triển ngôn ngữ cho trẻ là một trong những mục tiêu quan trọng nhất của giáo dục mầm non Ngôn ngữ là công cụ để trẻ giao tiếp, học tập và vui chơi Ngôn ngữ giữ vai trò quyết định sự phát triển của tâm lý trẻ em Bên cạnh đó ngôn ngữ còn là phương tiện để giáo dục trẻ một cách toàn diện bao gồm sự phát triển về đạo đức, tư duy đạo đức và các chuẩn mực văn hóa Đối với trẻ mầm non nói chung và trẻ MGN nói riêng, trẻ rất nhạy cảm với nghệ thuật ngôn từ Âm điệu hình tượng của các bài hát ru, đồng dao, ca dao, dân

ca sớm đi vào tuổi thơ Những câu chuyện cổ tích, thần thoại đặc biệt hấp dẫn trẻ Chính vì vậy cho trẻ tiếp xúc với văn học và đặc biệt là hoạt động dạy trẻ

kể lại truyện là con đường phát triển ngôn ngữ cũng như phát triển vốn từ cho trẻ tốt nhất, hiệu quả nhất

Thông qua việc dạy trẻ kể lại truyện giúp trẻ phát triển năng lực tư duy,

óc tưởng tượng sáng tạo, biết yêu quý cái đẹp, hướng tới cái đẹp Khi trẻ kể chuyện, ngôn ngữ của trẻ phát triển, trẻ phát âm rõ ràng, mạch lạc, vốn từ phong phú Trẻ biết trình bày ý kiến, suy nghĩ, kể về một sự vật hay sự việc nào đó… bằng chính ngôn ngữ của trẻ Chính vì vậy,việc dạy trẻ kể lại truyện

là một vấn đề hết sức quan trọng đối với trẻ ở độ tuổi 4-5

1.1.2 Cơ sở ngôn ngữ học

1.1.2.1 Khái niệm về vốn từ, phát triển vốn từ

Theo như Wikipedia.org: “Từ vựng hay vốn từ, kho từ vựng của một

người là tập hợp các từ trong một ngôn ngữ mà người đó quen thuộc (biết tới)” Một vốn từ vựng phong phú trợ giúp cho việc biểu đạt và giao tiếp.Vốn

từ cũng chính là khối từ ngữ cụ thể, hoàn chỉnh (có đủ hình thức, chữ và nội dung ngữ pháp) mà mỗi cá nhân tích lũy được trong kí ức của mình Vốn từ nhiều hay ít, đơn giản hay đa dạng tùy thuộc vào kinh nghiệm sống, ở trình độ

Trang 14

học vấn, ở sự giao tiếp giao lưu văn hóa ngôn ngữ của từng người Mỗi một ngôn ngữ phát triển một số lượng từ hết sức lớn và phong phú Có thể lên tới hàng chục vạn, hàng triệu từ

Trịnh Thị Hà Bắc: “Phát triển vốn từ cho trẻ là việc tổ chức có kế

hoạch, có khoa học nhằm cung cấp, làm giàu vốn từ, nâng cao khả năng hiểu nghĩa của từ, củng cố và tích cực hóa vốn từ cho trẻ, giúp trẻ biết vận dụng phù hợp vốn từ đó trong hoạt động giao tiếp” [13, tr.7] Hay hay hiểu ngắn

gọn: “Phát triển vốn từ cho trẻ là giúp trẻ nắm được nhiều từ, hiểu ý nghĩa

của từ và biết sử dụng từ trong các tình huống giao tiếp” [13, tr.27]

1.1.2.2 Vai trò của vốn từ đối với sự phát triển của trẻ

a Vốn từ là phương tiện hình thành và phát triển nhận thức của trẻ về thế giới xung quanh

Vốn từ giúp trẻ tìm hiểu, khám phá và nhận thức về môi trường xung quanh Thông qua các từ ngữ và các câu nói của người lớn, trẻ làm quen với các sự vật hiện tượng có trong môi trường xung quanh, hiểu được những đặc điểm, tính chất, công cụ của các sự vật cùng các từ tương ứng với nó Từ và hình ảnh trực quan của các sự vật cùng đi vào nhận thức của trẻ

Nhờ có ngôn ngữ với một vốn từ tương đối, trẻ nhận biết ngày càng nhiều các sự vật hiện tượng mà trẻ được tiếp xúc trong cuộc sống hằng ngày, giúp trẻ hình thành, phát triển phong phú các biểu tượng và thế giới xung quanh

Vốn từ là phương tiện giúp trẻ hình thành và phát triển tư duy Vốn từ của trẻ được phát triển dần theo lứa tuổi trẻ Điều đó sẽ giúp trẻ không chỉ tìm hiểu những hiện tượng, sự vật gần gũi xung quanh, mà còn có thể tìm hiểu cả những sự vật không xuất hiện trực tiếp trước mặt trẻ, những sự việc xảy ra trong quá khứ và tương lai Trẻ hiểu được những lời giải thích, gợi ý của người lớn, biết so sánh khái quát và dần hiểu được bản chất của sự vật, hiện

Trang 15

tượng, hình thành những khái niệm sơ đẳng Sự hiểu biết của trẻ về thế giới xung quanh ngày càng rộng lớn hơn Nhận thức của trẻ được rõ ràng, chính xác và trí tuệ của trẻ không ngừng phát triển

Vốn từ là công cụ giúp trẻ hoạt động vui chơi và nhận thức thế giới xung quanh và là phương tiện để trẻ trao đổi những ý đồ chơi, giao lưu tình cảm trong lúc chơi và phát triển khả năng tư duy, trí tưởng tượng của trẻ

Vốn từ không chỉ là phương tiện giúp trẻ nhận thức thế giới xung quanh mà còn là phương tiện để trẻ biểu hiện nhận thức của mình Nhờ có vốn từ, trẻ nhận thức được về môi trường xung quanh và tiến hành hoạt động với nó, đồng thời trẻ cũng sử dụng ngôn ngữ để kể lại, miêu tả lại sự vật hiện tượng và những hiểu biết của trẻ để trao đổi với mọi người

b Vốn từ là phương tiện phát triển tình cảm, đạo đức, thẩm mỹ

Vốn từ là phương tiện để giao lưu xúc cảm và phát triển tình cảm Vốn

từ là phương tiện giao tiếp quan trọng nhất Đặc biệt, đối với trẻ nhỏ, đó là phương tiện giúp trẻ giao lưu cảm xúc với những người xung quanh, hình thành những cảm xúc tích cực

Bằng những câu hát ru, những lời nói nựng, những câu nói âu yếm

đã đem đến cho trẻ những cảm giác bình yên, sự vui mừng hớn hở Những tiếng ầu ơ mẹ nói chuyện với trẻ là sự giao lưu cảm xúc và ngôn ngữ đầu tiên Những cuộc nói chuyện đặc biệt này sẽ làm cho trẻ vui vẻ và có những tình cảm thân thương với những người xung quanh Dần hình thành ở trẻ những cảm xúc tích cực

Khi giao tiếp với người lớn, trẻ tiếp nhận được những sắc thái tình cảm khác nhau Qua nét mặt, giọng nói, ngữ điệu, ngữ nghĩa chứa đựng trong các

từ, các câu nói, dần dần trẻ cũng biết thể hiện những cảm xúc khác nhau của mình

Trang 16

Trong quá trình giao tiếp, người lớn luôn hướng dẫn, uốn nắn hành vi của trẻ bằng lời nói, nét mặt, nụ cười khiến trẻ có thể nhận ra hành vi của mình đúng hay sai Bằng con đường đó, đứa trẻ dần dần hình thành được những thói quen tốt và học được những cách ứng xử đúng đắn

Đồng thời, thông qua ngôn ngữ, với vốn từ đã có, trẻ nhận thức được những cái hay, cái đẹp trong cuộc sống xung quanh như: những bông hoa, những hàng cây, con đường, những cảnh đẹp làng quê với những từ ngữ thể hiện nó Trẻ sẽ có nhiều ấn tượng đẹp, tâm hồn trẻ trung và có ý thức gìn giữ cái hay, cái đẹp

Thông qua vốn từ trẻ tích lũy được từ văn học (thơ, truyện, ca dao, đồng dao ) trẻ cảm nhận được cái hay, cái đẹp trong tiếng mẹ đẻ, những hành vi đẹp trong cuộc sống, trẻ biết những gì nên làm và những gì không nên làm, qua đó rèn luyện những phẩm chất tốt ở trẻ, dần dần hình thành ở trẻ những khái niệm ban đầu về đạo đức như: ngoan – hư, tốt – xấu, thật thà – không thật thà

c Vốn từ là công cụ giúp trẻ hòa nhập với cộng đồng và trở thành thành viên của cộng đồng

Nhờ có những lời chỉ dẫn của người lớn, trẻ dần dần hiểu được quy định chung của cộng đồng mà mọi thành viên trong cộng đồng phải thực hiện Trước hết là những nề nếp sinh hoạt của gia đình, nhóm trẻ, trường mầm non Sau đó là một số quy định ngoài xã hội Những gì trẻ có thể được phép làm và những gì không được làm

Mặt khác, trẻ cũng có thể dùng vốn từ của mình để bày tỏ những nhu cầu, mong muốn của mình với các thành viên trong cộng đồng Điều đó giúp trẻ dễ hòa nhập với mọi người

Nhờ có vốn từ, thông qua các câu chuyện, trẻ dễ dàng tiếp nhận những chuẩn mực đạo đức của xã hội và hòa nhập xã hội tốt hơn

Trang 17

Tóm lại: vốn từ có vai trò rất lớn, là phương tiện quan trọng nhất để trẻ lĩnh hội nền văn hóa dân tộc, để trẻ giao lưu với những người xung quanh, để

tư duy, tiếp thu khoa học và bồi bổ tâm hồn, hình thành, phát triển nhân cách của trẻ

1.1.2.3 Đặc điểm phát triển vốn từ của trẻ 4-5 tuổi

Vốn từ của trẻ tăng nhanh theo lứa tuổi trẻ, trẻ 4 tuổi có thể sử dụng

1200 từ Trẻ 5 tuổi đã có thể sử dụng 2000 từ Vốn từ của trẻ không chỉ tăng nhanh về số lượng mà cả về chất lượng Trẻ đã hiểu ý nghĩa của nhiều từ loại khác nhau, không chỉ hiểu những từ có tính cụ thể như: chó, mèo, gà… mà trẻ còn hiểu cả những từ có tính khái quát, trừu tượng như: gia súc, gia cầm

Tuy nhiên vốn từ của trẻ MGN vẫn là danh từ và động từ chiếm ưu thế, còn tính từ và các loại khác còn ít sử dụng Bên cạnh đó trẻ ở lứa tuổi này còn biết sử dụng các từ mang tính biểu cảm có hình ảnh, màu sắc, âm thanh Với

số lượng và chất lượng vốn từ của trẻ tăng nhanh như vậy, ta có thể thấy rằng môi trường sống, môi trường ngôn ngữ xung quanh trẻ rất phong phú và đa dạng Trình độ văn hóa, nghề nghiệp, sự hướng dẫn chỉ bảo trực tiếp của người lớn sẽ có ảnh hưởng rất lớn đến sự phát triển vốn từ của trẻ

Phát triển vốn từ cho trẻ là cơ sở của công tác phát triển ngôn ngữ Bởi

vì Từ là đơn vị có nghĩa của lời nói, có thể dùng độc lập, bao gồm đầy đủ cả hai mặt âm thanh và ý nghĩa Trong Từ phản ánh những sự vật, hiện tượng của thế giới xung quanh cũng như các đặc điểm của nó Việc phát triển vốn từ cho trẻ phải được tiến hành cùng với việc mở rộng và nâng cao nhận thức của trẻ về thế giới xung quanh Đây là hai mặt có quan hệ hữu cơ và không thể tách rời nhau Trường mầm non có nhiệm vụ phát triển vốn từ cho trẻ cả về số lượng và chất lượng Dạy trẻ không chỉ biết nhiều từ, mà còn phải hiểu từ, sử dụng từ đúng, loại ra những từ không đẹp trong lời nói của trẻ, dạy trẻ biết cách sử dụng một số biện pháp tu từ đơn giản trong giao tiếp hằng ngày

Trang 18

Phát triển vốn từ đƣợc hiểu nhƣ là một quá trình lâu dài trẻ tích lũy vốn

từ, hiểu nghĩa của từ và hình thành cách sử dụng từ trong các tình huống giao tiếp cụ thể Trẻ chỉ lĩnh hội nghĩa của từ khi nào từ đƣợc sử dụng trong câu, trong lời nói Vì vậy công tác phát triển vốn từ cần đƣợc tiến hành chặt chẽ với việc phát triển ngôn ngữ mạch lạc ở trẻ Xem xét quá trình hình thành và phát triển vốn từ của trẻ, ta có thể thấy đƣợc trẻ lĩnh hội nghĩa cụ thể của từ và nội dung khái niệm của từ, nó có liên quan đến quá trình nhận thức của trẻ; đồng thời, trẻ còn lĩnh hội vốn từ nhƣ là một yếu tố của lời nói nhƣ cách sử dụng từ, dùng từ thay thế, dùng từ có mức độ khác nhau, dùng từ trái nghĩa, đồng nghĩa…, cách sử dụng từ trong câu

Do đó công tác phát triển vốn từ là hoạt động giáo dục có chủ định, có

kế hoạch nhằm giúp trẻ lĩnh hội vốn từ có hiệu quả

1.1.3 Vai trò của việc dạy trẻ kể lại truyện theo tranh với sự phát triển vốn

từ của trẻ

1.1.3.1 Khái niệm dạy trẻ kể lại truyện theo tranh

Trịnh Thị Hà Bắc: “Kể lại truyện là hình thức kể lại một cách sáng tạo

câu chuyện theo mẫu trẻ đã được nghe, nhận biết được sự tác động lên cảm xúc, giúp trẻ ghi nhớ và kể lại những điều trẻ đã được nghe” [13, tr.13]

Trẻ biết vận dụng ngôn ngữ của mình để kể lại chuyện một cách sáng tạo, phù hợp Kể lại truyện là một dạng của kể chuyện theo trí nhớ, trẻ trình bày lại những câu chuyện, những truyện văn học đã đƣợc nghe cô giáo kể hoặc đọc bằng ngôn ngữ và sự thấu hiểu của cá nhân

Hà Nguyễn Kim Giang: “Kể lại truyện không chỉ là sự ghi nhớ máy móc

một tác phẩm văn học, mà đó là sự tái tạo mang tính sáng tạo (làm sống lại tác phẩm văn học), là quá trình rèn luyện, củng cố trí nhớ” [2, tr.170]

Ở lứa tuổi mẫu giáo việc hình thành và phát triển hoạt động văn học là một hình thức quan trọng để phát triển tính tích cực các nhân, tính độc lập,

Trang 19

sáng tạo của trẻ Trẻ thơ, lứa tuổi bắt đầu của sự nhận thức và những tình cảm mãnh liệt, giữa trẻ và những câu chuyện, các nhân vật trong truyện có sự đồng điệu về tâm hồn, về tính cách, các em thích nghe kể chuyện và thích kể lại truyện Trẻ đến với những câu chuyện, những nhân vật trong truyện với tất cả những tình cảm, những rung động ngọt ngào nhất, say mê nhất, đồng cảm nhất Chính vì thế những câu chuyện có vai trò rất lớn góp phần hình thành và phát triển nhân cách trẻ Những câu chuyện là một phần của cuộc sống gợi lên cho trẻ những cảm xúc lành mạnh, giúp trẻ nhận biết thế giới xung quanh, những mối quan hệ giữa con người với con người góp phần giáo dục thẩm mỹ

và phát triển ngôn ngữ nghệ thuật cho trẻ Nhờ đó trẻ nảy sinh năng lực tự hoạt động nghệ thuật khi tiếp xúc với những câu chuyện

Hà Nguyễn Kim Giang: “Dạy trẻ kể lại truyện được coi là một phương

pháp hiệu quả để phát triển ngôn ngữ mạch lạc, một hình thức ngôn ngữ bậc cao rất cần có ở mỗi đứa trẻ Phát triển ngôn ngữ mạch lạc cho trẻ là cần thiết và quan trọng để đảm bảo cho ngôn ngữ trở thành phương tiện giao tiếp” [2, tr.169]

Dạy trẻ kể lại truyện là một dạng thức tiết học tổ chức cho trẻ tự hoạt động văn học nghệ thuật Tổ chức cho trẻ hoạt động trong đó có tự hoạt động văn học nghệ thuật sẽ làm giàu nhân cách trẻ Chỉ có để trẻ hoạt động thì mới phát triển được tính tích cực của cá nhân, giúp trẻ cảm thụ văn học đặc biệt là những câu chuyện một cách rõ nét và có cảm xúc

Phạm Thị Hồng Yến: “Khi kể chuyện theo tranh trẻ phải quan sát, nhận

xét các hình ảnh, các mối quan hệ giữa các hình ảnh để hiểu nội dung bức tranh Sau đó, trẻ sẽ xây dựng câu chuyện logic, trình tự theo tranh Vì vậy kể chuyện theo tranh là dạy trẻ kể một câu chuyện có nội dung theo tranh dưới hình thức một ngôn bản hoàn chỉnh” [10, tr.38]

Trang 20

Kể truyện theo tranh là một dạng hoạt động phù hợp với trẻ mẫu giáo, vì trẻ rất thích xem tranh, nhất là những tranh có nội dung gần gũi với cuộc sống của trẻ Giúp trẻ hứng thú, chủ động tiếp thu các kiến thức mà giáo viên truyền tải Trẻ sẽ tiếp thu một cách gián tiếp thông qua câu chuyện sáng tạo giữa cô và trẻ chứ không phải là những lời truyền đạt cứng nhắc của cô Vì vậy trẻ nhớ lâu và nhớ được logic các kiến thức về các sự vật, hiện tượng xung quanh

Từ các khái niệm trên, chúng tôi hiểu khái niệm: “Dạy trẻ kể lại truyện

theo tranh: là hình thức giáo viên sử dụng tranh minh họa nội dung câu chuyện để giúp trẻ nhớ lại tác phẩm đã được làm quen, và dựa vào nội dung tranh để trẻ kể lại tác phẩm một cách sáng tạo, theo ngôn ngữ và cảm nhận của mình”

Tranh là tài liệu quý giá, là phương tiện để trẻ phát triển lời nói mạch lạc Tranh minh họa cho trẻ phải thể những đặc điểm, chi tiết trọng tâm, bộc

lộ nội dung tác phẩm Tranh minh họa để dạy trong tiết học không nên nhiều các tình tiết, hình ảnh Khi thể hiện tác phẩm cần được lựa chọn và xác định một cách tóm tắt, khái quát để trẻ có thể tưởng tượng ra nội dung, tư tưởng tác phẩm Bằng những phương tiện biểu hiện, người họa sĩ làm nổi bật lên điểm sáng thẩm mỹ của tác phẩm, phải chú ý đến mối liên hệ nội tại trong các bức tranh, duy trì nhịp điệu thể hiện Vì thế, tranh minh họa còn phải là sự thống nhất giữa các hình ảnh và văn bản tác phẩm

Tranh minh họa cần có tỉ lệ phù hợp Tranh treo tường thường to hơn tranh để bàn để cho trẻ quan sát Nên sử dụng tranh trong tiết học có tỉ lệ 45cm x 60cm, sử dụng tranh trong một cuốn truyện: 20cm x 27cm hoặc 15cm

x 21cm

Hình ảnh trong tranh minh họa thường đơn giản, gần gũi, để trẻ dễ dàng nhận biết và dễ hiểu Màu sắc luôn tươi sáng, gợi cảm xúc nhằm hứng thú,

Trang 21

cuốn hút trẻ, nhưng cũng cần có điểm gây chú ý ấn tượng cho thị giác Do đặc điểm: càng lớn trẻ càng quan tâm đến nội dung bức tranh, nên các bức tranh minh họa cần thể sự phong phú, đa dạng theo mức độ tăng dần Với trẻ 4-5 tuổi, nội dung các bức tranh có thể sắp xếp theo mức độ khó tăng dần, nhằm phát triển khả năng tư duy của trẻ

1.1.3.2 Đặc điểm của việc dạy trẻ kể lại truyện theo tranh

Lã Thị Bắc Lý – Lê Thị Ánh Tuyết: “Nguyên tắc chung là trước khi tập

cho trẻ kể lại truyện và đọc thơ, cô phải giúp các em nắm được nội dung chính của tác phẩm; vẻ đẹp ngôn từ và thế giới hình ảnh đầy màu sắc, âm thanh trong tác phẩm; tạo không khí văn chương và chuẩn bị tâm thế cho trẻ

để trẻ có thể cảm thụ tác phẩm được tốt Chỉ có như thế thì trẻ mới có thể đọc, kể tác phẩm được một cách diễn cảm và có sự ghi nhớ những bài thơ, câu chuyện mới thực sự được sâu sắc và bền vững” [4, tr.62]

Cụ thể, để hoạt động dạy trẻ kể lại chuyện theo tranh đạt hiệu quả, giáo viên cần thực hiện các nhiêm vụ sau:

Dạy trẻ biết quan sát và nhận xét các hình ảnh, các mối liên hệ giữa các hình ảnh để hiểu nội dung tranh

Phát triển vốn từ tương ứng để thể hiện nội dung bức tranh, phát triển vốn từ miêu tả các sự vật, hiện tượng, tích cực hóa vốn từ miêu tả (mở rộng

và làm chính xác hóa vốn từ)

Giáo dục trẻ thái độ đúng đắn với nội dung bức tranh, phong cách thể hiện phù hợp với nội dung tranh (màu sắc, bố cục, ngữ điệu, phong cách thể hiện)

Giáo dục thẩm mỹ, hình thành năng lực cảm thụ cái đẹp

Phát triển kỹ năng diễn đạt nội dung bức tranh mạch lạc bằng ngôn ngữ độc thoại của trẻ

Trang 22

Khi dạy trẻ kể lại chuyện theo tranh phải giúp trẻ hoàn chỉnh câu chuyện

để người nghe có thể hiểu được Trẻ phải xây dựng bố cục một cách chặt chẽ, logic, đúng trình tự sự kiện Dạy trẻ tìm kiếm từ, tổ hợp từ để thể hiện tính cụ thể của hình ảnh Kể lại truyện theo tranh góp phần phát triển trí nhớ, tư duy, rèn luyện tính độc lập, mạnh dạn tự tin cho trẻ Đồng thời để trẻ mở rộng thêm vốn từ của mình, bởi khi chính mình được kể lại câu chuyện đó, trẻ sẽ

có ấn tượng hơn và nhớ chính xác hơn

Việc dạy trẻ kể lại truyện là để trẻ tái hiện lại một cách mạch lạc, diễn cảm tác phẩm văn học mà trẻ được nghe Trẻ sử dụng nội dung, hình thức ngôn ngữ đã có sẵn của tác giả và của giáo viên Tuy nhiên yêu cầu trẻ không học thuộc lòng câu chuyện, kể bằng ngôn ngữ của chính mình, truyền đạt nội dung câu chuyện một cách tự do thoải mái nhưng phải đảm bảo nội dung cốt truyện

Dạy trẻ kể lại truyện phải được tiến hành thường xuyên, có thể cho trẻ kể lại theo các đoạn, cô kể các đoạn dẫn, cô cho trẻ kể lại các đoạn đối thoại Khi dạy trẻ kể lại truyện, giáo viên cần có nhận xét, uốn nắn, thể hiện đúng tính cách của các nhân vật

1.1.3.3 Tác dụng của việc dạy trẻ kể lại truyện theo tranh với sự phát triển vốn từ của trẻ

Kể lại truyện theo tranh không chỉ là hình thức học tập mà còn là hoạt động giúp hình thành và phát triển các năng lực nhận thức, tình cảm, xúc cảm thẩm mỹ cho trẻ Nhiệm vụ học được đưa vào tự nhiên, sinh động, tạo ra hứng thú động cơ học tập, củng cố, khắc sâu những biểu tượng đã được hình thành, tạo cho trẻ ấn tượng mạnh mẽ về câu chuyện Đồng thời những chi tiết, hình ảnh, sự kiện trong tranh thúc đẩy tư duy của trẻ, giúp trẻ xâu chuỗi lại theo một trình tự nhất định của câu chuyện mà trẻ đã được cô giáo giới thiệu đến;

từ đó trẻ có thể kể lại truyện một cách tự nhiên theo ngôn ngữ của mình

Trang 23

Nếu chỉ đơn thuần là dạy trẻ kể lại truyện, không có bất kì phương tiện

hỗ trợ nào, đối với trẻ mẫu giáo nói chung cũng như trẻ MGN nói riêng, dễ gây sự nhàm chán ở trẻ Trẻ khó hình dung, tưởng tượng ra hết nội dung câu chuyện, không hiểu được ý nghĩa của nó Việc trẻ kể lại truyện mà chỉ dựa vào quá trình đàm thoại, giảng giải của cô sẽ khiến vốn từ của chúng chỉ nằm trong phạm vi cô giáo đã nói đến, trẻ kể lại một cách dập khuôn, không có sự sáng tạo Nhưng đối với việc dạy trẻ kể lại truyện theo tranh, với phương tiện

là những bộ tranh hấp dẫn, sinh động, giúp trẻ ghi nhớ truyện tốt hơn Thông qua các bức tranh, trẻ cố gắng tìm ra cách thể hiện câu chuyện từ các bức tranh ấy để người khác hiểu Khi đó trẻ nói bằng ngôn của mình, giàu xúc cảm, tình cảm; vốn từ của trẻ được phát triển tự nhiên, không gò bó áp đặt, sao chép từ cô giáo

1.2 Cơ sở thực tiễn

1.2.1 Điều tra, khảo sát những vấn đề chung

Quá trình điều tra nhằm mục đích tìm hiểu :

- Thực trạng trình độ đào tạo của giáo viên đang trực tiếp dạy trẻ MGN ở khu Bầu - trường mầm non Kim Chung (Kim Chung – Đông Anh – Hà Nội)

- Thực trạng nhận thức của giáo viên về việc giúp trẻ MGN phát triển vốn từ thông qua dạy trẻ kể lại truyện theo tranh

- Thực trạng về việc dạy trẻ MGN kể lại truyện theo tranh

- Thực trạng về mức độ phát triển vốn từ của trẻ MGN thông qua dạy trẻ

kể lại truyện theo tranh

1.2.2 Đối tượng khảo sát

- Giáo viên dạy các lớp MGN khu Bầu – Trường mầm non Kim Chung

- Trẻ tại các lớp MGN khu Bầu – Trường mầm non Kim Chung

1.2.3 Thời gian khảo sát

Từ 10/02/2017 đến 20/03/2017

Trang 24

1.2.4 Phương pháp khảo sát

- Sử dụng phiếu điều tra

- Phương pháp quan sát, trò chuyện, trao đổi

- Dự giờ, giảng dạy tiết dạy trẻ kể lại truyện

- Dùng toán thống kê để xử lý dữ liệu

1.2.5 Phân tích kết quả điều tra, khảo sát

1.2.5.1 Thực trạng trình độ đào tạo của giáo viên trực tiếp dạy ở trường Mầm non được điều tra

+ Trình độ đào tạo:

- Giáo viên có trình độ đào tạo ĐHSP Mầm non là: 7

- Giáo viên có trình độ CĐSP Mầm non là: 11

- Giáo viên có trình độ TCSP Mầm non là: 2

- Sơ cấp Mầm non: Không có

- Chưa qua đào tạo: Không có

+ Thâm niên công tác:

Trang 25

1.2.5.2 Thực trạng trình độ nhận thức của giáo viên về việc phát vốn từ cho trẻ MGN qua việc dạy trẻ kể lại truyện theo tranh minh họa

Sau khi tổng hợp ý kiến về việc phát triển vốn từ cho trẻ MGN thông qua dạy trẻ kể lại truyện theo tranh ở khu Bầu – trường mầm non Kim Chung, chúng tôi nhận thấy: Vấn đề đổi mới phương pháp, đã được giáo viên vận dụng và áp dụng đối với trẻ tương đối thành công Bên cạnh

đó còn có sự tích hợp giữa nội dung các môn học, đem lại sự nhận thức đầy đủ cho trẻ Trẻ được trải nghiệm, khám phá trên thực tế cũng như trên

lý thuyết bài dạy Kiến thức được gắn kết, xâu chuỗi thành một hệ thống mang tính thống nhất trong quá trình nhận thức của trẻ Trong tất cả các hoạt động đều có thể phát triển vốn từ cho trẻ nhưng bằng biện pháp nào

sẽ đem lại kết quả mong muốn thì vẫn chưa có được tiếng nói chung

Khi hỏi về “Tầm quan trọng của việc phát triển vốn từ cho trẻ qua việc dạy trẻ kể lại truyện theo tranh tại trường Mầm non mà giáo viên đang công tác?”, thì 100% giáo viên cho là có Kết quả trên cho thấy, các giáo viên đều nhận thức được tầm quan trọng của việc phát triển vốn từ cho trẻ Nhưng vẫn còn nhiều vấn đề cần quan tâm, và chú ý đến việc sử dụng nó sao cho đạt kết quả tốt nhất, giúp trẻ phát triển ngôn ngữ một cách toàn diện cũng như góp phần phát triển vốn từ cho trẻ

1.2.5.3 Thực trạng của việc dạy trẻ kể lại truyện theo tranh

Hầu hết, các giáo viên dạy trẻ các câu chuyện có trong chương trình thông qua hình thức đọc, kể diễn cảm, giảng giải, trích dẫn nội dung câu chuyện cho trẻ nghe rồi cho trẻ đóng vai theo chủ đề, nội dung, các nhân vật có trong truyện Khi được hỏi về: “Những khó khăn cô (chị) gặp trong việc phát triển vốn từ cho trẻ thông qua dạy trẻ kể lại truyện theo tranh?”, 75% giáo viên cho rằng: còn gặp phải nhiều vướng mắc trong việc tạo nên những bức tranh minh họa phù hợp, gần, sát với nội dung câu chuyện,

Trang 26

việc làm này tốn nhiều thời gian, công sức Hơn nữa, việc tạo ra những bức tranh minh họa còn gặp rất nhiều khó khăn vì rất ít cô có năng khiếu môn mỹ thuật Phát triển vốn từ thông qua dạy trẻ kể lại truyện theo tranh minh họa là một hình thức không khó, nhưng nó đòi hỏi giáo viên phải tỉ

mỉ, cần cù và sáng tạo ra những bức tranh phù hợp với nội dung câu chuyện, màu sắc của các bức tranh phải đẹp, phong phú, thu hút và tạo hứng thú cho trẻ khi học

Về câu hỏi: “Theo cô (chị) cần đề xuất những biện pháp nào giúp trẻ MGN phát triển vốn từ thông qua dạy trẻ kể lại truyện theo tranh?” thì 80% giáo viên chưa đưa ra được biện pháp mới Các giáo viên cho rằng

sử dụng các phương pháp sau:

- Sử dụng phương pháp đàm thoại

- Sử dụng phương pháp độc thoại

1.2.5.4 Thực trạng về mức độ phát triển vốn từ của trẻ MGN thông

qua dạy trẻ kể lại truyện theo tranh

Từ kết quả điều tra cho thấy, khi cô giáo sử dụng tranh trong tiết học dạy trẻ kể lại truyện đã thu hút được trẻ tham gia hưởng ứng hoạt động cùng cô Với những hình ảnh sinh động, trẻ luôn hào hứng, tò mò, chăm chú Cách trẻ trả lời các câu hỏi đàm thoại của cô giúp trẻ nhớ được nội dung truyện Tuy nhiên hiệu quả của việc phát triển vốn từ cho trẻ khi dùng tranh trong dạy trẻ kể lại truyện đạt ở mức độ chưa cao Cách diễn đạt của trẻ còn gặp nhiều khó khăn

Trang 27

BẢNG THỐNG KÊ KHẢ NĂNG VÀ MỨC ĐỘ PHÁT TRIỂN

VỐN TỪ CỦA TRẺ MGN QUA HOẠT ĐỘNG DẠY TRẺ KỂ LẠI

TRUYỆN THEO TRANH

(Khu Bầu – Trường mầm non Kim Chung)

1.2.6 Nhận xét từ điều tra, khảo sát

Theo thông tư số 17/2009/TT – BGDĐ ngày 25/7/2009, “Ban hành chương trình giáo dục mầm non”, kết hợp cùng với Thông tư số 28/2016/TT – BGDĐT ngày 30/12/2016 về “Sửa đổi”, “bổ sung” một số nội dung của chương trình giáo dục mầm non ban hành kèm theo thông tư số 17/2009/TT – BGDĐT ngày 25 tháng 7 năm 2009 của Bộ trưởng Bộ GD & ĐT; đối với lứa tuổi MGN:

Trang 28

- Mục tiêu phát triển ngôn ngữ:

Có khả năng lắng nghe, hiểu lời nói trong giao tiếp

Có khả năng biểu đạt bằng nhiều cách khác nhau (nét mặt, cử chỉ, điệu bộ,…)

Có khả năng diễn đạt rõ ràng và giao tiếp có văn hóa trong cuộc sống hàng ngày

Có một số kỹ năng ban đầu về đọc và viết

- Nội dung thực hiện chương trình giáo dục phát triển ngôn ngữ:

Nghe

Nghe các từ chỉ người, sự vật, hiện tượng, đặc điểm, tính chất, hoạt động

và các từ biểu cảm, từ khái quát

Nghe lời nói trong giao tiếp hàng ngày

Nghe kể chuyện, đọc thơ, ca dao, đồng dao phù hợp với lứa tuổi

Nói

Phát âm rõ các tiếng trong Tiếng Việt

Bày tỏ nhu cầu, tình cảm và hiểu biết của bản thân bằng các loại câu khác nhau

Sử dụng đúng từ ngữ và câu trong giao tiếp hằng ngày Trả lời và đặt câu hỏi Đọc thơ, cao dao, đồng dao và kể chuyện

Lễ phép, chủ động và tự tin trong giao tiếp

Làm quen với việc đọc, viết

Làm quen với cách sử dụng sách, bút

Làm quen với một số kí hiệu thông thường trong cuộc sống hàng ngày Làm quen với chữ viết, với cách đọc sách

Trang 29

Cụ thể: Độ tuổi MGN (4-5 tuổi)

viết Hiểu được các từ chỉ

đặc điểm, tính chất,

công dụng và các từ

biểu cảm

Phát âm các tiếng có chứa các

âm khó

Làm quen với một

số kí hiệu thông thường trong cuôc sống (nhà vệ sinh, lối ra, nơi nguy hiểm, giao thông: đường cho người đi bộ)

Hiểu và làm theo

được 2, 3 yêu cầu

Bày tỏ tình cảm, nhu cầu và hiểu biết của bản thân bằng các câu đơn, câu ghép

Nhận dạng một số chữ cái

Nghe, hiểu nội dung

câu đơn, câu mở

rộng, câu phức

Trả lời và đặt các câu hỏi: ai? cái gì? ở đâu? khi nào?

để làm gì?

Tập tô, tập đồ các nét chữ

Xem và nghe đọc các loại sách khác nhau

Làm quen với cách đọc và viết Tiếng Việt:

Hướng đọc, viết: từ

Trang 30

trái sang phải, từ

dòng dưới Hướng viết của các nét chữ; đọc ngắt nghỉ sau các dấu Nói và thể hiện cử

chỉ, điệu bộ, nét mặt phù hợp với yêu cầu, hoàn cảnh giao tiếp

Phân biệt phần mở đầu, kết thúc của sách

Đọc “truyện” qua tranh vẽ

Đọc thơ, ca dao, đồng dao, tục ngữ,

hò vè

Giữ gìn, bảo

vệ sách

Kể lại truyện đã được nghe

Mô tả sự vật, hiện tượng, tranh ảnh

Kể lại sự việc có nhiều tình tiết

Đóng kịch

- Kết quả mong đợi:

Chọn sách để xem

Mô tả hành động

Trang 31

dụ: “Cháu hãy lấy

Hiểu nghĩa từ khái

quát: rau quả, con

vật, đồ gỗ,…

Sử dụng được các từ chỉ sự vật, hoạt động, đặc điểm, …

chiều và giở từng tranh để xem tranh ảnh “Đọc” sách theo tranh minh họa (Đọc vẹt)

Lắng nghe và trao

đổi với người đối

thoại

Sử dụng được các loại câu đơn, câu

định, câu phủ định

Nhận ra kí hiệu thông thường trong cuộc sống: nhà vệ sinh, cấm lửa, nơi nguy hiểm

Kể lại sự việc theo trình tự

Sử dụng kí hiệu để

“viết”: tên, làm vé

mừng Đọc thuộc bài thơ,

ca dao, đồng dao, …

Kể chuyện có mở đầu, kết thúc

Bắt trước giọng nói, điệu bộ của nhân vật trong truyện

Trang 32

Sử dụng các từ như mời cô, mời bạn, cảm ơn, xin lỗi trong giao tiếp

Điều chỉnh giọng nói phù hợp với hoàn cảnh khi được nhắc nhở

Trong thời gian thực tập tại lớp MGN B1 - khu Bầu – trường mầm non Kim Chung; qua tiếp xúc với trẻ, được tham gia vào các hoạt động học của lớp MGN B1 và hai lớp bên cạnh MGN B2 và MGN B3, đặc biệt là giờ dạy trẻ kể lại truyện, cũng như được trao đổi với giáo viên các lớp Nhận thấy rằng, là một giáo viên mầm non, các cô giáo luôn đặt ra câu hỏi “Mình phải làm gì và dạy như thế nào để các cháu trong lớp đều ham thích với hoạt động làm quen với tác phẩm văn học?”, trong đó có đề tài dạy trẻ kể lại truyện Việc dạy trẻ kể lại truyện theo tranh được các cô cho rằng không khó nhưng cũng không phải là dễ để đưa vào tiết học

Cái “dễ” là việc sử dụng tranh trong tiết học và để dạy trẻ kể lại truyện

sẽ thu hút được các cháu hứng thú tham gia hoạt động Bởi trẻ luôn thích quan sát những hình ảnh trong các bức tranh minh họa; không những vậy các chi tiết trong tranh sẽ gợi nhớ cho trẻ, giúp trẻ nhớ ra được tình tiết, diễn biến nội dung truyện Nhưng cái “khó” mà các cô giáo nhận thấy đó là: đối với những câu chuyện có độ dài ở mức độ vừa và dài thì tranh minh họa thường nhiều chi tiết; nếu là bộ tranh, thường có nhiều tranh, sẽ khiến trẻ dễ bị rối

Việc giáo viên thấy được tầm quan trọng của việc sử dụng tranh khi dạy trẻ kể lại truyện đối với sự phát triển vốn từ cho trẻ sẽ thúc đẩy người giáo viên tìm ra biện pháp phù hợp với thực tế để dạy trẻ

Ngày đăng: 11/09/2017, 15:26

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Hà Nguyễn Kim Giang, 2002, Cho trẻ làm quen với tác phẩm văn học – Một số vấn đề lí luận và thực tiễn, NXB Đại học quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cho trẻ làm quen với tác phẩm văn học – Một số vấn đề lí luận và thực tiễn
Nhà XB: NXB Đại học quốc gia Hà Nội
2. Hà Nguyễn Kim Giang, 2009, Phương pháp tổ chức hoạt động làm quen với tác phẩm văn học, NXBGD Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương pháp tổ chức hoạt động làm quen với tác phẩm văn học
Nhà XB: NXBGD
3. Hoàng Thị Oanh – Phạm Thị Việt –Nguyễn Kim Đức, 2000, Phương pháp phát triển ngôn ngữ cho trẻ dưới 6 tuổi, NXB Đại học quốc gia Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương pháp phát triển ngôn ngữ cho trẻ dưới 6 tuổi
Nhà XB: NXB Đại học quốc gia
4. Lã Thị Bắc Lý – Lê Thị Ánh Tuyết, 2009, Phương pháp cho trẻ mầm non làm quen với tác phẩm văn học, NXBGD Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương pháp cho trẻ mầm non làm quen với tác phẩm văn học
Nhà XB: NXBGD
5. Lã Thị Bắc Lý, 2014, Văn học trẻ em, NXB Đại học Sƣ phạm Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn học trẻ em
Nhà XB: NXB Đại học Sƣ phạm
6. Lê Thị Kỳ - Nguyễn Thế Dũng - Lê Kim Thanh, 2007, Tiếng Việt – Văn học và phương pháp phát triển cho trẻ dưới 6 tuổi, NXB Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tiếng Việt – Văn học và phương pháp phát triển cho trẻ dưới 6 tuổi
Nhà XB: NXB Hà Nội
7. Nguyễn Bích Thủy – Nguyễn Thị Anh Thƣ, 2005, Tâm lí học trẻ em lưa tuổi mầm non, NXB Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tâm lí học trẻ em lưa tuổi mầm non
Nhà XB: NXB Hà Nội
8. Nguyễn Thị Ánh Tuyết – Nguyễn Thị Nhƣ Mai – Đinh Thị Kim Thoa, 2005, Tâm lí học trẻ em lứa tuổi mầm non, NXB Đại học Sƣ phạm Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tâm lí học trẻ em lứa tuổi mầm non
Nhà XB: NXB Đại học Sƣ phạm
9. Nguyễn Thị Tuyết Nhung - Phạm Thị Việt, 2006, Phương pháp cho trẻ làm quen với tác phẩm văn học, NXB Đại hoc quốc gia Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương pháp cho trẻ làm quen với tác phẩm văn học
Nhà XB: NXB Đại hoc quốc gia
10. Phạm Thị Hồng Yến, 2005, Một số biện pháp giúp trẻ mẫu giáo 4-5 tuổi kể chuyện theo tranh - Luận văn Thạc sỹ khoa học gáo dục (Giáo dục mầm non), Đại học Sƣ phạm Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số biện pháp giúp trẻ mẫu giáo 4-5 tuổi kể chuyện theo tranh - Luận văn Thạc sỹ khoa học gáo dục (Giáo dục mầm non)
11. Phạm Thu Yến (Ch.b), 2005, Văn học dân gian, NXB Đại học Sƣ phạm Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn học dân gian
Nhà XB: NXB Đại học Sƣ phạm Hà Nội
12. Phan Thiều, 1973, Dạy nói cho trẻ trước tuổi cấp I, NXBGD Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dạy nói cho trẻ trước tuổi cấp I
Nhà XB: NXBGD
13. Trịnh Thị Hà Bắc, 2001, Lí luận và phương pháp phát triển ngôn ngữ cho trẻ em, NXB Đại học Huế Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lí luận và phương pháp phát triển ngôn ngữ cho trẻ em
Nhà XB: NXB Đại học Huế

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w