LỜI CAM ĐOAN Đề tài: “Tổ chức một số hoạt động giáo dục thói quen vệ sinh thân thể cho trẻ 3 tuổi ở trường Mầm non Hoa Sen –Vĩnh Yên – Vĩnh Phúc” là kết quả nghiên cứu của riêng tôi, d
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA GIÁO DỤC MẦM NON
PHẠM THỊ ÁNH
TỔ CHỨC MỘT SỐ HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC THÓI QUENVỆ SINH THÂN THỂ CHO TRẺ
3 TUỔI Ở TRƯỜNG MẦM NON HOA SEN –VĨNH YÊN – VĨNH PHÚC
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Chăm sóc vệ sinh trẻ em
Người hướng dẫn khoa học ThS Dương Thị Thanh Thảo
HÀ NỘI – 2017
Trang 2LỜI CẢM ƠN
Trong quá trình làm khoá luận, tôi đã nhận được sự hướng dẫn và giúp đỡ của ThS Dương Thị Thanh Thảo Nhân dịp này, tôi xin được bày tỏ lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc tới cô
Tôi xin trân trọng cảm ơn sự giúp đỡ của Ban Giám hiệu, các cô giáo và các cháu lớp 3 tuổi A1 Trường Mầm non Hoa Sen – Vĩnh Yên – Vĩnh Phúc đã tạo điều kiện cho tôitrong quá trình khảo sát và thực tập sư phạm
Tôi xin trân trọng cảm ơn Ban Chủ nhiệm khoa Giáo dục Mầm non – Trường ĐHSP Hà Nội 2 cùng các thầy cô trong khoa; gia đình, bạn bè đã động viên, giúp đỡ tôi trong suốt thời gian tôi học tập và nghiên cứu
Hà Nội, ngày tháng năm 2017
Người thực hiện
Phạm Thị Ánh
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Đề tài: “Tổ chức một số hoạt động giáo dục thói quen vệ sinh thân thể cho
trẻ 3 tuổi ở trường Mầm non Hoa Sen –Vĩnh Yên – Vĩnh Phúc” là kết quả
nghiên cứu của riêng tôi, dưới sự hướng dẫn của cô giáo ThS Dương Thị Thanh Thảo không trùng với kết quả nghiên cứu nào khác
Các số liệu, kết quả thu nhập được trong khóa luận là: Trung thực, rõ ràng, chính xác, chưa từng được công bố trong bất kì một công trình nghiên cứu nào
Nếu sai, tôi xin chịu hoàn toàn trách nhiệm
Hà Nội, ngày tháng năm 2017
Người thực hiện
Phạm Thị Ánh
Trang 4MỤC LỤC
LỜI CẢM ƠN
LỜI CAM ĐOAN
MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN CỦA ĐỀ TÀI 4
1.1.Thói quen vệ sinh 4
1.2 Thói quen vệ sinh thân thể 5
1.3 Phương pháp và hình thức giáo dục thói quen vệ sinh thân thể 10
1.4 Đặc điểm của trẻ 3 tuổi 11
CHƯƠNG 2 ĐÁNH GIÁ THÓI QUEN VỆ SINH THÂN THỂ CỦA TRẺ 3 TUỔI Ở TRƯỜNG MẦM NON 13
2.1 Mục đích đánh giá 13
2.2 Đối tượng đánh giá 2.3 Nội dung đánh giá 13
2.4 Phương pháp đánh giá 13
2.5 Kết quả 16
CHƯƠNG 3 TỔ CHỨC GIÁO DỤC THÓI QUEN VỆ SINH THÂN THỂ CHO TRẺ 3 TUỔI Ở TRƯỜNG MẦM NON 24
3.1 Đề xuất một số biện pháp giáo dục thói quen vệ sinh thân thể cho trẻ 3 tuổi ở trường mầm non 24
3.2 Tổ chức thực nghiệm ở trường mầm non 36
3.2.1 Mục đích thực nghiệm 36
3.2.2 Đối tượng thực nghiệm 36
3.2.3 Kết quả thực nghiệm 36
KẾT LUẬN 45
KIẾN NGHỊ Error! Bookmark not defined TÀI LIỆU THAM KHẢO 47
Trang 5PHỤ LỤC 1
Trang 6MỞ ĐẦU
1 Lí do chọn đề tài
Thói quen vệ sinh thân thể là một trong những bài học và yêu cầu cần thiết đối với mỗi người có văn hoá mà người lớn cần hình thành cho trẻ ngay ở giai đoạn mầm non Đồng thời, đây cũng là một trong những nhiệm vụ đặt ra hàng đầu của giáo dục mầm non để chăm sóc, bảo vệ sức khoẻ cho trẻ nhằm nâng cao thể lực giúp trẻ tham gia các hoạt động như học tập, vui chơi, lao động góp phần phát triển toàn diện nhân cách trẻ Việc giữ vệ sinh thân thể không những nhằm chấp hành những yêu cầu vệ sinh mà còn nói lên mức độ quan
hệ của con người với nhau Bởi vì, chính việc thực hiện các yêu cầu vệ sinh là thể hiện sự tôn trọng mọi người xung quanh
Việc rèn luyện vệ sinh thân thể đặc biệt quan trọng đối với trẻ 3 tuổi Nó có ý nghĩa to lớn trong việc củng cố cho trẻ những kỹ năng đơn giản Từ đó, trẻ có hiểu biết đúng đắn về sự cần thiết phải giữ gìn vệ sinh giúp cơ thể luôn sạch
sẽ, khoẻ mạnh, phát triển ở trẻ nhu cầu vệ sinh thân thể
Thực tế cho thấy, thói quen vệ sinh thân thể của trẻ chưa tốt, trẻ chưa tự mình làm được những việc vệ sinh thân thể hay trẻ luôn ỉ lại vào người lớn Vì vậy, ngay từ nhỏ trẻ cần được uốn nắn trong từng thói quen vệ sinh để trẻ hiểu và làm đúng, làm nhanh và trở thành những thói quen vệ sinh trong cuộc sống và
sinh hoạt hằng ngày Chính vì vậy, chúng tôi chọn đề tài: “Tổ chức một số
hoạt động giáo dục thói quen vệ sinh thân thể cho trẻ 3 tuổi ở trường Mầm non Hoa Sen –Vĩnh Yên – Vĩnh Phúc” nhằm nâng cao khả năng vệ sinh thân
thể cho trẻ, góp phần phát triển toàn diện nhân cách trẻ
Trang 73 Khách thể và đối tượng nghiên cứu
- Khách thể nghiên cứu: Trẻ lớp 3 tuổi của trường Mầm non Hoa Sen – Vĩnh Yên – Vĩnh Phúc
- Đối tượng nghiên cứu: Một số biện pháp giáo dục vệ sinh thân thể cho trẻ
3 tuổi
4 Giả thuyết khoa học
Nếu các biện pháp giáo dục vệ sinh thân thể đưa ra có hiệu quả thì sẽ nâng cao chất lượng giáo dục và hình thành thói quen vệ sinh thân thể thân thể cho trẻ ở trường Mầm non
5 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Xác định cơ sở lí luận của việc hình thành thói quen vệ sinh thân thể cho trẻ
3 tuổi
- Đánh giá về mức độ hình thành thói quen vệ sinh thân thể của trẻ 3 tuổi ở trường Mầm non Hoa Sen
- Đề xuất một số biện pháp giáo dục vệ sinh thân thể cho trẻ 3 tuổi
- Tổ chức thực nghiệm khoa học ở trường Mầm non
6 Phạm vi nghiên cứu
- Giới hạn địa bàn nghiên cứu: Tổ chức khảo sát, điều tra và tổ chức thực nghiệm tại Trường Mầm non Hoa Sen – Vĩnh Yên –Vĩnh Phúc
- Giới hạn nội dung nghiên cứu: Thói quen vệ sinh thân thể
7 Phương pháp nghiên cứu
7.1 Phương pháp nghiên cứu lí luận
Chúng tôi nghiên cứu tài liệu có liên quan tới đề tài nghiên cứu để tìm hiểu cơ
sở lí luận của việc chăm sóc giáo dục thói quen vệ sinh cho trẻ 3 tuổi
7.2 Phương pháp nghiên cứu thực tiễn
- Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi, quan sát, phỏng vấn (trò chuyện) để tìm hiểu thực trạng của việc hình thành thói quen vệ sinh thân thể của trẻ
Trang 8- Phương pháp thực nghiệm khoa học nhằm đánh giá kết quả nghiên cứu
Trang 9CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN CỦA ĐỀ TÀI 1.1 Thói quen vệ sinh
1.1.1 Khái niệm
Thói quen vệ sinh thường để chỉ những hành động của cá nhân được diễn ra trong những điều kiện ổn định về thời gian, không gian và quan hệ xã hội nhất định Thói quen có nội dung tâm lý ổn định và thường gắn với nhu cầu cá nhân
Khi đã trở thành thói quen, mọi hoạt động tâm lý trở nên cố định, cân bằng và khó loại bỏ[1]
1.1.2 Quá trình hình thành
Thói quen vệ sinh được hình thành từ kĩ xảo:
1.1.2.1 Quá trình hình thành kĩ xảo
Kĩ xảo được hình thành qua ba giai đoạn:
Giai đoạn I: Hiểu cách làm Trẻ cần hiểu mỗi hành động gồm những thao tác nào? Các thao tác đó diễn ra như thế nào? Và cách tiến hành mỗi thao tác đó
cụ thể
Giai đoạn II: Hình thành kĩ năng Trẻ cần biết vận dụng các tri thức đã biết để tiến hành một hoạt động cụ thể nào đó Việc tiến hành các hoạt động ở giai đoạn này đòi hỏi sự tập trung chú ý
Giai đoạn III: Hình thành kĩ xảo Trẻ cần biết biến các hành động có ý chí thành các hành động tự động hóa bằng cách tự luyện tập nhiều lần để giảm tới mức tối thiểu sự tham gia của ý thức vào hành động[1]
1.1.2.2 Điều kiện để kĩ xảo vệ sinh trở thành thói quen vệ sinh
- Trẻ phải được thực hiện các hành động vệ sinh trong cuộc sống hằng
ngày
- Trong quá trình thực hiện, phải kiểm tra việc thực hiện của trẻ và dạy trẻ
tự kiểm tra mình
Trang 10- Sự gương mẫu của người lớn có ý nghĩa lớn đối với hiệu quả của việc
hình thành thói quen vệ sinh cho trẻ
- Các biện pháp khen thưởng, trách phạt được sử dụng trong quá trình giáo
dục phải phù hợp với đặc điểm nhận thức và tình cảm của trẻ
- Phải tạo ra các tình huống để củng cố thói quen của trẻ trong điều kiện
mới
1.2 Thói quen vệ sinh thân thể
Việc giữ gìn vệ sinh thân thể không những nhằm chấp hành những yêu cầu vệ sinh, mà còn nói lên mức độ quan hệ của con người với nhau Bởi vì, chính việc thực hiện các yêu cầu vệ sinh là thể hiện sự tôn trọng mọi người xung quanh
1.2.1 Thói quen rửa mặt
+ Xắn tay áo (nếu tay áo dài)
+ Rửa tay sạch trước khi rửa mặt
+ Vò khăn, vắt khô nước Nếu dùng chậu thì múc nước ra chậu, nhúng khăn vào chậu nước, vò khăn và vắt khô nước
+ Rũ khăn, trải khăn lên hai lòng bàn tay, lau 2 mắt trước (rửa từ khóe mắt ra đuôi mắt), di chuyển khăn, đảm bảo mặt luôn tiếp xúc với khăn sạch, lau sống
Trang 11mũi, di chuyển khăn, cứ như vậy lau miệng, cằm Gấp đôi khăn lau trán, từng bên má
+ Gấp đôi khăn lần nữa hoặc vò khăn lần hai, vắt khô nước, lau gáy, cổ, lật mặt sau khăn ngoáy 2 lỗ tai, vành tai cuối cùng dùng 2 góc khăn ngoáy mũi Chú ý luôn để da mặt tiếp xúc với khăn sạch; chiều hướng rửa từ trong ra ngoài và từ dưới lên trên
+ Vò khăn lần cuối, vắt kiệt nước, rũ thẳng và phơi lên giá
Sau mỗi lần rửa mặt nên thay nước khác, không để trẻ rửa chung một chậu và lau chung một khăn rửa mặt
1.2.2 Thói quen rửa tay
Trẻ cần nắm được:
- Tại sao phải rửa tay? (rửa tay sạch sẽ để mọi người yêu mến, tay thom tho, sạch sẽ, không bị bệnh Nếu tay bẩn sờ vào quần áo sẽ làm bẩn và xấu quần áo đẹp, đưa lên mắt có thể gây đau mắt, cho vào mồm có thể gây đa bụng, )
- Khi nào thì cần rửa tay? Trước và sau khi ăn, sau khi đi vệ sinh, chơi, hoạt động, khi tay bẩn,
- Cách rửa tay: Lấy nước từ vòi nước hoặc múc nước ở trong xô, chậu, thùng, bể lấy nước nhẹ nhàng không làm bắn nước ra nhà
Bước 1: Làm ướt hai bàn tay bằng nước sạch Xoa xà phòng vào lòng bàn tay
Chà xát hai lòng bàn tay vào nhau
Bước 2: Dùng ngón tay và lòng bàn tay này cuốn và xoay lần lượt từng ngón
tay của bàn tay kia và ngược lại
Bước 3: Dùng lòng bàn tay này chà xát chéo lên tay, mu bàn tay kia và ngược
lại
Bước 4: Dùng ngón tay của bàn tay này miết vào kẽ giữa các ngón tay của
bàn tay kia và ngược lại
Trang 12Bước 5: Chụm 5 đầu ngón tay của tay này cọ vào lòng bàn tay của tay kia
bằng cách xoay đi xoay lại và ngược lại
Bước 6: Xả nước cho tay sạch hết xà phòng và lau khô tay
Bước 1: Rửa sạch bàn chải, lấy kem đánh răng, lấy nước súc miệng (hướng
dẫn trẻ cách lấy kem, lấy nước)
Trang 13Bước 2: Đặt bàn chải nghiêng 45 độ so với mặt răng, làm sạch mặt ngoài
củacác răng hàm trên theo hướng từ trên xuống dưới, hàm dướitheo hướng từ dưới lên, đặc biệt chú ý tới vùng tiếp xúc giữa răng và nướu
Bước 3: Chải mặt trong của các răng hàm trên, hàm dưới cùng với động tác
như vậy theo hướng xoay tròn hoặc lên xuống
Bước 4: Chải mặt nhai, đưa bàn chải đi lại vuông góc với mặt răng
Bước 5: Chải nhẹ nhàng lưỡi của trẻ
Bước 6: Súc miệng thật kỹ, rửa sạch bàn chải, vẩy ráo nước và cất vào nơi
Trang 14- Cách chải tóc: Dùng lược chải xuôi nhẹ từ đỉnh đầu xuống dưới chân tóc cho hết đầu Sau đó, dùng lược rẽ ngôi đầu (có thể ngồi chéo hoặc ngôi thẳng) hoặc chải hất từ trước ra sau Chải xuôi một lần nữa cho tóc mượt Đối với các bạn nữ: Khi buộc tóc thì tay phải cầm lược, tay trái thu tóc vào lòng bàn tay, lần lượt chải đầu cho suôn và gọn tóc, khi nào thấy tóc đã gọn,
bỏ lược xuống lây dây buốc lồng vào sát chân bím tóc và buộc nhiều vòng đến khi thấy dây buộc tóc chặt lại Đối với tóc ngắn ngang vai thì nên cột 2 bên cho đẹp (buộc tóc bổng, buộc tóc thấp, buộc tóc chéo, cao hoặc thấp tùy sở thích và cột cho phù hợp)
1.2.5 Thói quen cắt móng tay
Trẻ cần nắm được:
- Tại sao cần phải cắt móng tay? (để tay luôn sạch sẽ, để không bị bệnh, để được mọi người yêu quý…)
- Khi nào thì cần phải cắt móng tay? (khi móng tay dài)
- Cách cắt móng tay? (Dụng cụ cắt cho bé, người lớn cắt cho bé, )
1.2.6 Thói quen mặc quần áo sạch sẽ
- Hướng dẫn trẻ phân biệt quần áo theo mùa, theo giới tính: quần áo bé trai,
bé gái Theo mùa: mùa hè, mùa đông thông qua tranh ảnh hoặc vật minh họa Dạy trẻ nhận biết mặt phải và mặt trái của quần áo
Dạy trẻ biết phân biệt quần áo khô và ẩm ướt, không mặc quần áo ướt
Hướng dẫn trẻ cách thay, mặc quần áo:
Trang 15+ Áo chui đầu: cổ áo chui qua đầu trước rồi đến mặc hai tay và cài cúc (nếu có)
+ Áo cài cúc: mặc lần lượt từng ống tay và cài cúc, bẻ cổ áo, kéo áo phẳng phiu, ngay ngắn
+ Hướng dẫn trẻ mặc quần: ngồi ghếhoặc giường để giữ thăng bằng, lần lượt mặc từng ống quần sau đó cài móc hoặc nút hoặc kéo dây
+ Cởi quần áo theo thứ tự từ cởi bỏ cúc, tháo từng ống tay, ống chân
1.3 Phương pháp và hình thức giáo dục thói quen vệ sinh thân thể
Việc giáo dục thói quen vệ sinh thân thể cho trẻ được tiến hành thông qua các hoạt động giáo dục và dạy học ở trường mầm non Bằng hoạt động giáo dục phong phú như vui chơi, lao động, sinh hoạt hàng ngày, ăn ngủ, trẻ được rèn luyện kĩ xảo, thói quen và phát triển những xúc cảm tốt của trẻ đối với quá trình thực hiện Bằng hoạt động dạy học, thông qua các tiết học làm quen với môi trường xung quanh, văn học, trẻ sẽ lĩnh hội được các biểu tượng đúng
về các quá trình vệ sinh, hiểu được ý nghĩa của nó,
Hai con đường thống nhất với nhau, hỗ trợ và bổ sung cho nhau nhưng nó có những ưu thế riêng đối với việc giáo dục thói quen vệ sinh thân thể cho trẻ Việc giáo dục thói quen vệ sinh thân thể cho trẻ mầm non có thể tiến hành thông qua các hình thức giáo dục sau[1]:
1.3.1 Hoạt động học tập
Việc giáo dục thói quen vệ sinh thân thể không nên tiến hành trên một tiết học riêng biệt mà liên hệ, lồng ghép, tích hợpvào các tiết học ở các mức độ khác nhau.Có thểsử dụng các phương pháp như kể chuyện, trình bày trực quan, giảng giải, nêu gương, tổ chức trò chơi, xử lý các tình huống, khen thưởng, giao nhiệm vụ,
1.3.2 Hoạt động vui chơi
Trang 16Vui chơi là hoạt động chủ đạo của trẻ mẫu giáo và nó có vai trò quan trọng đối với việc hình thành nhân cách trẻ nói chung, giáo dục thói quen vệ sinh nói riêng Tham gia vào trò chơi là quá trình trẻ tiếp nhận tri thức một cách tự nhiên, không bị ép buộc Việc giáo dục thói quen vệ sinh thân thể được lồng ghép vào trong các trò chơi tuỳ thuộc vào chủ đề chơi và mức độ hình thành thói quen vệ sinh của trẻ để xác định nội dung giáo dục thói quen vệ sinh trong trò chơi của trẻ
1.3.3 Tổ chức chế độ sinh hoạt hàng ngày
Tổ chức chế độ sinh hoạt chính là tổ chức cuộc sống của trẻ và bằng chính cuộc sống đó mà giáo dục trẻ em Nội dung giáo dục thói quen vệ sinh thân thể trong cuộc sống hàng ngày phụ thuộc vào nội dung hoạt động và sinh hoạt của trẻ Muốn xác định nội dung giáo dục cụ thể cần phân tích cuộc sống của trẻ thành hệ thống các hoạt động, các mối quan hệ Từ đó, phân tích thành việc làm, các cách cư xử và các thao tác, cử chỉ, cho trẻ định hướng vào
“mẫu” cần giáo dục trẻ rồi tổ chức cho trẻ luyện tập, đưa nội dung giáo dục thành yêu cầu của nếp sống hàng ngày
1.3.4 Phối hợp với gia đình
Việc giáo dục thói quen vệ sinh cho trẻ chỉ có thể đạt hiệu quả nếu có sự phối hợp giáo dục giữa gia đình và nhà trường Trao đổi thường xuyên với gia đình nhằm nâng cao hiểu biết của phụ huynh, thống nhất yêu cầu, nội dung, phương pháp giáo dục, tạo ra các điều kiện giáo dục cần thiết ở trường và ở gia đình
1.4 Đặc điểm của trẻ 3 tuổi
Đặc điểm sinh lý: Ởđộ tuổi này, tốc độ phát triển về số lượng (chiều cao, cân
nặng) chậm hơn so với giai đoạn trước nhưng lại có sự thay đổi về chất lượng: Hệ tiêu hóa phát triển nhanh (răng sữa mọc đủ, số lượng dịch tiêu hóa tiết ra nhanh và tập trung hơn, trẻ có thể ăn các thức ăn cứng dần và đa dạng
Trang 17hơn), hệ cơ xương tiếp tục phát triển, hệ thần kinh và cơ quan cảm thụ phát triển nhanh, sự phối hợp vận động được tăng cường, phạm vi giao tiếp mở rộng[4]
Đặc điểm tâm lý: Trẻ ở độ tuổi này muốn sờ, nếm, ngửi, nghe và thử nghiệm
tất cả mọi thứ xung quanh Trẻ thể hiện rõ ý thức ham học hỏi qua kinh nghiệm và thực hành Trẻ học từ các trò chơi, bận rộn trong việc phát triển các kỹ năng, sử dụng ngôn ngữ và luôn cố gắng để kiểm soát được nội tâm Trẻ muốn tự khẳng định bản thân khi tách khỏi cha mẹ, độc lập hơn các em
bé tuổi chập chững và đã có thể diễn đạt các nhu cầu của mình bằng ngôn ngữ nên được học và chơi đúng cách sẽ giúp trẻ phát triển tốt hơn[2]
Đặc điểm bệnh lý: Trẻ hay mắc các bệnh nhiễm khuẩn đường hô hấp và tiêu
hoá do trẻ chưa có ý thức phòng bệnh và do phạm vi giao tiếp mở rộng
Do vậy, việc giáo dục để hình thành cho trẻ thói quen vệ sinh thân thể là hết sức cần thiết[1]
Trang 18CHƯƠNG 2 ĐÁNH GIÁ THÓI QUEN VỆ SINH THÂN THỂ CỦA
TRẺ 3 TUỔI Ở TRƯỜNG MẦM NON 2.1 Mục đích đánh giá
Xác định thực trạng về mức độ hình thành thói quen vệ sinh của trẻ Từ đó, đề
ra những biện pháp giáo dục phù hợp nhằm nâng cao mức độ hình thành các thói quen này ở trẻ
2.2 Đối tượng đánh giá
Tôi tiến hành tại lớp 3 tuổi A1, Trường Mầm non Hoa Sen – Vĩnh Yên – Vĩnh Phúc
Số lượng trẻ: 30 trẻ
2.3 Nội dung đánh giá
Việc đánh giá được tiến hành theo 6 nội dung: Thói quen rửa mặt, thói quen rửa tay, thói quen chải tóc, thói quen đánh răng, thói quen cắt móng tay, thói quen mặc quần áo sạch sẽ
2.4 Phương pháp đánh giá
2.4.1 Các tiêu chí đánh giá thói quen vệ sinh thân thể
Theo Bloom, mục tiêu giáo dục con người thường được thực hiện trên ba lĩnh vực: nhận thức, kĩ năng, thái độ Do vậy, việc đánh giá kết quả giáo dục cũng phải quan tâm đến cả ba lĩnh vực này Nghĩa là, nhà giáo dục phải biết dược những thay đổi về mặt nhận thức ở đối tượng giáo dục, họ có khả năng làm được cái gì? Và thái độ nhìn nhận sự việc của họ ra sao? Khi đánh giá thói quen vệ sinh của trẻ cần phải tìm hiểu cả mức độ nhận thức và thực hiện của trẻ để có thể tìm ra những tác động giáo dục phù hợp với chúng Để có thể thu thập thông tin một cách đầy đủ, có giá trị và đủ độ tin cậy, cần lựa chọn các tiêu chí đánh giá Các tiêu chí được xây dựng phải bao quát được mọi khía cạnh của vấn đề cần được đánh giá, phải độc lập với nhau nhưng lại cho phép có thể kiểm tra nhiều tiêu chí cùng một lúc
Trang 19⃰ Các tiêu chí đánh giá sự nhận thức
- Trẻ có biết về hành động
- Biết rõ các yêu cầu đối với hành động đó
- Hiểu cách thể hiện
- Hiểu ý nghĩa của hành động
⃰ Các tiêu chí đánh giá việc thực hiện
Bảng 2.1 Thang đáng giá thói quen vệ sinh của trẻ mầm non
Trẻ thực hiện đúng các yêu cầu của hành động;
thực hiện một cách tự giác; thể hiện thái độ đúng; thực hiện thành thạo
Trẻ thực hiện đúng các yêu cầu của hành động;
tự giác thực hiện trong một số tình huống quen thuộc; có thể hiện thái độ đúng; thực hiện thương
4
Trang 20thuộc; có thể được ý nghĩa của hành động khi được giáo viên gợi ý
Trẻ thực hiện đúng các yêu cầu của hành động;
tự giác thực hiện trong một số tình huống quen thuộc hoặc khi có mặt của giáo viên; có cố gắng thể hiện đúng thái độ;
thực hiện chưa thành thạo
Trong những tình huống quen thuộc, khi được giáo viên nhắc nhở, có cố gắng thực hiện một số yêu cầu đối với hành động, nhưng thể hiện thái
độ không đúng
2
Loại kém
Trẻ không biết các hành động văn hóa vệ sinh
Không thực hiện hành động văn hóa vệ sinh 1
2.4.2 Cách tổ chức đánh giá thói quen vệ sinh thân thể cho trẻ
Để đánh giá thói quen văn hóa vệ sinh của trẻ, cần phối hợp sử dụng nhiều phương pháp thu thập thông tin: phỏng vấn trao đổi với trẻ, quan sát hành vi của trẻ trong các hoạt động và sinh hoạt hàng ngày, tạo tình huống giáo
Trang 21dục,… Đồng thời, kết hợp trao đổi với giáo viên và phụ huynh để biết thêm thông tin về trẻ Kết quả thu được sẽ được xử lí bằng phương pháp toán thống
kê
- Khảo sát sự nhận thức của trẻ: Người kiểm tra tạo tâm trạng thoải mái cho
trẻ dễ hòa vào công việc sắp thực hiện bằng những câu chào, hỏi thăm trẻ Khi trẻ thoải mái, sẵn sàng mới giới thiệu công việc: “Cô và cháu sẽ cùng trò chuyện với nhau: cô sẽ hỏi cháu, cháu nghe và trả lời cô nhé!” Người kiểm tra đặt ra các câu hỏi để xác định trẻ biết gì về các thói quen vệ sinh thân thể
- Khảo sát việc thực hiện: Tiến hành bằng cách quan sát hoạt động và sinh
hoạt hằng ngày của trẻ tại trường mầm non Mỗi loại thói quen cần tạo điều kiện cho trẻ được thực hiện ít nhất 3 lần Nếu không có cơ hội quan sát đủ số lần, người kiểm tra tạo tình hướng cho trẻ tự giải quyết Ngoài ra, kết quả khảo sát còn được xem xét thêm thông qua trao đổi với giáo viên và phụ huynh[1]
2.5 Kết quả
2.5.1 Thói quen rửa mặt sau khảo sát
Qua khảo sát thực trạng về thói quen rửa mặt ở trẻ 3 tuổi, chúng tôi đã thu được kết quả ở bảng 2.2:
Bảng 2.2 Kết quả khảo sát về thói quen rửa mặt
- Nhận thức: Kết quả khảo sát cho thấy, trẻ nhận thức về thói quen rửa mặt
còn khá chậm Trẻ mới chỉ bắt đầu làm quenvới thói quen rửa mặt một cách
Mức
độ
Khả
năng
Trang 22có chủ đích Chỉ một số ít trẻ biết cách rửa mặt, biết được rửa mặt vào những lúc nào và rửa mặt để làm gì? (chiếm 6,7%) Một số trẻ biết cách rửa mặt (tuy chưa đầy đủ các bước và nhớ không theo thứ tự), biết rửa mặt sau khi ngủ dậy
và ý nghĩa của việc rửa mặt khi có sự gợi ý của giáo viên) Còn đa số trẻ là có biết về việc rửa mặt nhưng chỉ biết là rửa mặt sau khi ngủ dậy buổi sáng; cũng biết về cách rửa nhưng chưa đầy đủ các bước, chủ yếu là rửa mắt, má và miệng còn bỏ qua các phần khác; trẻ chưa hiểu được tại sao chúng phải rửa mặt? (50% số trẻ) Một số khác thì chỉ biết về việc rửa mặt nhưng không biết
là mình rửa mặt những lúc nào? Không biết cách rửa như thế nào? Và tại sao lại phải rửa mặt? (chiếm 16,7%) Còn 1 vài em không biết gì về thói quen này
- Thực hiện: Qua thực tế quan sát việc rửa mặt hàng ngày của trẻ tại trường và
trao đổi với giáo viên chủ nhiệm lớp, với phụ huynh học sinh, tôi nhận thấy:
Đa số trẻ rửa mặt chưa thành thạo, chưa nhớ được các bước rửa mặt, mới bắt đầu làm quen với hành động nên kỹ năng chưa tốt; có trẻ tự giác rửa mặt trong một số tình huống quen thuộc nhưng có trẻ phải nhắc nhở của giáo viên, của bố mẹ (số trẻ này chiếm 50%) Một số khác cũng biết rửa nhưng chỉ rửa qua cho xong khi được giáo viên nhắc nhở, thể hiện thái độ không thích nhưng thích nghịch nước; đôi khi dùng tay lấy nước để rửa mặt (bắt chước bố làm ở nhà)
Qua nghiên cứu, trẻ ở độ tuổi này mới bước vào vào giai đoạn tự lập, mới bắt đầu học hỏi, làm quen với các hành động vệ sinh nên trẻ chưa nắm được các
kỹ năng thành thạo, thực hiện phải có sự hướng dẫn của giáo viên Hơn nữa, ở nhà trẻ cũng chưa tự mình làm mà thường là người lớn giúp trẻ vì trẻ làm chậm và hay nghịch nước
2.5.2 Thói quen rửa tay sau khảo sát
Trang 23Qua khảo sát thực trạng về thói quen rửa tay ở trẻ 3 tuổi, chúng tôi đã thu
- Nhận thức: Kết quả thống kê cho thấy, so với thói quen rửa mặt thì số trẻ
biết về thói quen rửa tay nhiều hơn nhưng mức độ nhận thức chưa cao Số trẻ biết các bước rửa tay, rửa tay khi nào và tại sao lại phải rửa tay còn ít (10%)
Đa số trẻ có biết về việc rửa tay, biết các bước và hiểu cách thể hiện các bước rửa tay trong một số tình huống quen thuộc như trước khi ăn nhưng không theo thứ tự, phải có sự hướng dẫn của cô; trẻ chưa hiểu được ý nghĩa của việc rửa tay và giữ gìn bàn tay sạch sẽ (số trẻ này chiếm 46,7%) Một số trẻ biết cách rửa tay, biết được khi nào cần rửa tay trong một số tình huống quen thuộc (như trước khi ăn và sau khi đi vệ sinh), đã hiểu được ý nghĩa của việc rửa tay khi có sự gợi ý của cô giáo (chiếm 26,6%) Còn lại một số chỉ biết về hành động rửa tay nhưng không biết cách rửa tay sao cho sạch, tại sao phải rửa tay
- Thực hiện: Qua việc quan sát sinh hoạt hàng ngày của trẻ ở trường mầm non
và trao đổi với giáo viên, phụ huynh học sinh, tôi thấy đa số trẻ chưa thành thạo khi thực hiện các bước rửa tay, rửa vội vàng cho xong, không thực hiện đầy đủ các bước (có những bạn không lau khô tay mà vẩy vào người bạn) vì chưa hiểu hết được ý nghĩa của việc rửa tay (chiếm 53,3%) Có một vài trẻ biết cách rửa tay, thực hiện thành thạo vì đã hiểu được ý nghĩa của việc rửa
Mức
độ
Khả
năng
Trang 24tay, tự giác rửa tay trước khi ăn, sau khi đi vệ sinh và những khi tay bẩn (6,7%) Một số ít trẻ thì phải nhắc nhở, cố gắng thực hiện một số yêu cầu của
cô nhưng tỏ thái độ không thích, thực hiện một cách miễn cưỡng
2.5.3 Thói quen đánh răng sau khảo sát
Qua khảo sát thực trạng về thói quen đánh răng ở trẻ 3 tuổi, chúng tôi đã thu được kết quả ở bảng 2.3:
Bảng 2.4 Kết quả khảo sát về thói quen đánh răng
- Nhận thức: Kết quả điều tra về thói quen đánh răng của trẻ 3 tuổi cho thấy,
đa số trẻ có biết về việc đánh răng, biết các yêu cầu đối với việc đánh răng nhưng chỉ biết một vài bước đánh răng; biết đánh răng trước khi đi ngủ và buổi sáng sau khi thức dậy nhưng chưa hiểu được tại sao mình phải đánh răng (56,7%) Số trẻ biết cách đánh răng, biết được tại sao phải đánh răng và khi nào cần đánh răng chỉ có một vài cháu (13,3%) Một số ít có biết về việc đánh răng nhưng nêu ra các yêu cầu của việc đánh răng không phù hợp với tình huống cụ thể
- Thực hiện: Chủ yếu việc đánh răng là các trẻ thực hiện nhà nên qua trao đổi
với phụ huynh thì chỉ có một số ít các cháu là tự giác đánh răng, biết cách đánh răng, thực hiện các bước tương đối thành thạo Còn đa số các trẻ chưa tự giác, bố mẹ phải nhắc nhở, cố gắng thực hiện nhưng chưa thành thạo, nhiều khi còn bỏ qua một số bước (46,7%) Một số thì phải nhắc nhở, bố mẹ phải
Khả
năng
Mức độ
Trang 25kiểm tra xem cóđánh răng không, đánh răng có khi không lấy kem, thái độ không vui vẻ (26,7%)
Nhìn chung, ở tuổi lên 3, trẻ vẫn chưa có được thói quen đánh răng mà phải
có sự nhắc nhở của người lớn nhiều, thậm chí có những gia đình, trẻ vẫn phải người lớn đánh răng cho mình
2.5.4 Thói quen chải tóc sau khảo sát
Qua khảo sát thực trạng về thói quen chải tóc ở trẻ 3 tuổi, chúng tôi đã thu được kết quả ở bảng 2.4:
Bảng 2.5 Kết quả khảo sát về thói quen chải tóc
- Nhận thức: Kết quả điều tra về thói quen chải tóc ở trẻ 3 tuổi cho thấy Đa
số trẻ biết được về việc chải tóc, biết về các yêu cầu đối với việc chải tóc, trẻ hiểu được một số một vài bước chải tóc đơn giản, trẻ biết là cần phải chải tóc khi ngủ dậy và khi tóc không mượt nhưng trẻ vẫn chưa biết được là tại sao trẻ phải chải tóc (chiếm 53,3%), những trẻ biết về việc chải tóc, tại sao phải chải tóc và khi nào cần phải chải tóc (chiếm 6,7%) Một số ít có biết về việc chải tóc nhưng nêu ra các yêu cầu của việc đánh răng không phù hợp với tình huống cụ thể?
- Thực hiện: Kết quả điều tra về thói quen chải tóc ở trẻ 3 tuổi cho thấy Đa số
trẻ chỉ biết chải tóc cho mượt (với các bé gái tóc ngắn) còn các bé gái tóc dài thì được bố mẹ, ông bà và cô giáo chải tóc cho vì các trẻ rất khó để thực hiện
Mức
độ
Khả
năng
Trang 26một mình Đa số trẻ thực hiện chải tóc trong một số tình huống quen thuộc hoặc khi có mặt của cô giáo, thực hiện chưa thành thạo (chiếm 46,7%) Còn các bé trai thì hầu như không thấy chải đầu Một số trẻ trước khi đi học còn không chải đầu (do mẹ vội đi làm hoặc không có thói quen nhắc con chải đầu)
2.5.5 Thói quen cắt móng tay sau khảo sát
Qua khảo sát thực trạng về thói quen cắt móng tay ở trẻ 3 tuổi, chúng tôi đã thu được kết quả ở bảng 2.5:
Bảng 2.6 Kết quả khảo sát về thói quen cắt móng tay
- Nhận thức: Kết quả điều tra về thói quen cắt móng tay của trẻ 3 tuổi cho
thấy, đa số trẻ biết về hành động cắt móng tay, biết về các yêu cầu đối với việc cắt móng tay, hiểu được cách thể hiện hành động cắt móng tay nhưng trẻ chưa hiểu được là tại sao cần phải cắt móng tay (chiếm 60%) Những trẻ biết
về hành động cắt móng tay, trẻ hiểu được là tại sao phải cắt móng tay, khi nào phải cắt móng tay rất ít (chiếm 6,7%) Một số ít trẻ thì có biết về hành động cắt móng tay nhưng nêu ra các yêu cầu của việc cắt móng tay không phù hợp với tình huống cụ thể như khi móng tay ngắn, bẩn(chiếm 13,3%), có trẻ không biết gì về việc cắt móng tay (chiếm 3,3%)
- Thực hiện: Qua trao đổi với phụ huynh học sinhvà giáo viên chủ nhiệm cho
thấy,trẻ 3 tuổi thường được bố mẹ hoặc người thân cắt móng tay cho vì lí do
Mức độ
Khả năng
Trang 27trẻ nhỏ không cho trẻ tự cầm bấm để bấm móng tay, điều đó có thể khiến trẻ
bị thương Trẻ hầu hết chỉ được giáo dục rằng tại sao phải cắt móng tay? Khi nào cần cắt móng tay? Một số trẻ bố mẹ không để ý đến việc cắt móng tay cho con, phải để giáo viên nhắc nhở Còn đa số trẻ cũng biết khi móng tay dài thì bảo bố mẹ cắt (chiếm 56,7%), nhưng có một số trẻ (16,7%) dùng miệng
để cắn móng tay, thậm chí còn cắn sâu vào trong thịt làm chảy máu, mặc dù
đã được cô giáo và bố mẹ nhắc nhở nhưng vẫn không sửa
2.5.6 Thói quen mặc quần áo sạch sẽ sau khảo sát
Qua khảo sát thực trạng về thói quen mặc quần áo sạch sẽ ở trẻ 3 tuổi, chúng
tôi đã thu được kết quả ở bảng 2.7:
Bảng 2.7 Kết quả khảo sát về thói quen mặc quần áo sạch sẽ
- Nhận thức: Trẻ lứa tuổi này đa phần là trẻ thích được mặc những bộ quần
áo thật đẹp Vì vậy, trẻ cũng dần nhận thức được là phải giữ quần áo luôn sạch sẽ, đặc biệt là các bé gái Trẻ cũng biết cởi bớt quần áo khi trời nóng hoặc khi chơi, biết mặc thêm vào khi cảm thấy lạnh Kết quả điều tra về thói quen mặc quần áo sách sẽ của trẻ 3 tuổi cho thấy, những trẻ hiểu về việc giữ quần áo sạch sẽ, lúc nào thì có thể giữ quần áo sạch sẽ (khi đi học, sau khi tắm, còn khi lao động thì khó tránh khỏi việc quần áo bị bẩn, ), khi nào cần cởi bớt hoặc mặc thêm áo nhưng trẻ chưa hiểu được là tại sao cần phải giữ cho quần áo sạch sẽchiếm 46,7%
Khả
năng
Trang 28- Thực hiện: Trẻ ở lứa tuổi này đều đang dần làm quen với môi trường tự lập
Một số ít trẻ biết giữ gìn quần áo sạch sẽ, biết cách mặc quần áo, tự biết thay khi bẩn, biết cách để không bị quần áo bẩn như: khi ăn không để thức
ăn vướng vào, khi học không để màu vẽ dính vào, thay quần áo ra biết gấp gọn để đúng nơi quy định, không để lẫn quần áo bẩn với quần áo sạch,
Đa số trẻ mặc quần áo chưa thành thạo (biết mặc quần nhưng không biết mặc và cởi áo), nóng thì biết cởi ra nhưng lạnh không biết mặc thêm vào, đùa nghịch thoải mái không để ý đến việc giữ gìn quần áo sạch sẽ, có khi còn mang quần áo ra để đùa nghịch, trêu nhau (dùng quần áo quật vào người nhau, )
Kết luận chương 2
Qua phân tích kết quả khảo sát, tôi rút ra kết luận sau:
- Về nhận thức các hành động vệ sinh thân thể: Đa số trẻ nhận thức ở mức
trung bình: có biết về hành động vệ sinh thân thể, biết các yêu cầu đối với các hành động đó và hiểu cách thể hiện hành đó trong một số tình huống quen thuộc nhưng chưa thấy được hết ý nghĩa của việc vệ sinh thân thể
- Về thực hiện các hành động vệ sinh thân thể:Phần lớn trẻ thực hiện đúng
các yêu cầu, tự giác thực hiện khi có mặt giáo viên, nhưng các bước thực hiện chưa thành thạo vì ở nhà thường được bố mẹ làm cho Trong quá trình thực hiện còn chậm, thích đùa nghịch
Trang 29CHƯƠNG 3 TỔ CHỨC GIÁO DỤC THÓI QUEN VỆ SINH THÂN
THỂ CHO TRẺ 3 TUỔI Ở TRƯỜNG MẦM NON 3.1 Đề xuất một số biện pháp giáo dục thói quen vệ sinh thân thể cho trẻ
3 tuổi ở trường mầm non
3.1.1 Giáo dục thông qua hoạt động học tập
3.1.1.1 Thói quen rửa mặt
Chủ đề: Bản thân
Đề tài: Dạy hát: “Vì sao con mèo rửa mặt”
Sau khi dạy trẻ hát, cô lồng ghép giáo dục thói quen rửa mặt cho trẻ, các bước như sau:
- Thế tại sao con mèo lại rửa mặt? (Vì mèo sợ đau mắt) Từ đó, cho trẻ thấy được ý nghĩa của việc rửa mặt (Tại sao phải rửa mặt?)
- Các con thường rửa mặt vào những lúc nào?
- Các con có tự rửa mặt không?
Nếu tự mình làm thì cô yêu cầu trẻ nêu cách rửa mặt: Có thể đưa tranh về cách rửa mặt không có chú thích các bước để trẻ nhận biết các bước rồi bổ sung cho trẻ hoặc có thể hướng dẫn trực tiếp tuỳ theo nhận thức của trẻ
3.1.1.2.Thói quen rửa tay
Hoạt động phát triển thẩm mỹ
Chủ đề: Bản thân
Đề tài: Dạy hát: “Chơi ngón tay”
Sau khi dạy trẻ hát, cô lồng ghép giáo dục thói quen rửa tay cho trẻ, các bước như sau: