Nhân tố quyết định thắng lợi của công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa là nguồn lực con người.Để phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp công nghiệp hóa,
Trang 1KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam
Trang 2
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam
Người hướng dẫn khoa học
TS NGUYỄN VĂN DŨNG
HÀ NỘI - 2017
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Trên thực tế không có sự thành công nào mà không gắn liền với những sự hỗ trợ, giúp đỡ dù ít hay nhiều, dù trực tiếp hay gián tiếp của người khác Trong suốt thời gian từ khi bắt đầu học tập ở giảng đường đại học đến nay, em đã nhận được rất nhiều sự quan tâm, giúp đỡ của quý Thầy Cô, gia đình và bạn bè Với lòng biết ơn sâu sắc nhất, em xin gửi đến quý Thầy Cô ở Khoa Khoa Lịch Sử - Trường Đại Học Sư Phạm Hà Nội 2 đã cùng với tri thức và tâm huyết của mình để truyền đạt vốn kiến thức quý báu cho chúng em trong suốt thời gian học tập tại khoa và trường Em xin chân thành cảm ơn TS Nguyễn Văn Dũng đã tận tâm hướng dẫn em hoàn thành tốt khóa luận này Nếu không có những lời hướng dẫn, dạy bảo của thầy thì em nghĩ khóa luận này của em rất khó có thể hoàn thiện được Một lần nữa, em xin chân thành ơn!
Hà Nội, tháng 5 năm 2017
Sinh viên
Bùi Thị Phương
Trang 4LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, các số liệu thống kê trong khóa luận được sử dụng trung thực, nguồn trích dẫn có chú thích rõ ràng, khóa luận của tôi có tính kế thừa, phát triển các tài liệu đã được công bố Tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm về lời cam đoan danh dự của tôi
Hà Nội, tháng 5 năm 2017
Sinh viên
Bùi Thị Phương
Trang 5MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 2
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 3
4 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 4
5 Nguồn tư liệu và phương pháp nghiên cứu 4
6 Đóng góp của khóa luận 4
7 Kết luận của khóa luận 5
Chương 1 ĐẢNG BỘ HUYỆN TRẤN YÊN (YÊN BÁI) LÃNH ĐẠO CÔNG TÁC GIÁO DỤC ĐÀO TẠO TRONG GIAI ĐOẠN 1996 - 2000 6
1.1 Điều kiện tự nhiên, dân cư của huyện Trấn Yên 6
1.1.1 Điều kiện tự nhiên và địa giới hành chính 6
1.1.2 Dân cư 7
1.2 Tình hình kinh tế và truyền thống văn hóa giáo dục của huyện Trấn Yên 9
1.2.1 Tình hình kinh tế trong những năm 1996 - 2000 9
1.2.2 Đời sống tín ngưỡng, tôn giáo của huyện Trấn Yên 12
1.3 Thực trạng giáo dục của huyện Trấn Yên trước năm 1996 13
1.4 Chủ trương của Đảng bộ huyện Trấn Yên trong việc lãnh đạo công tác giáo dục đào tạo trong năm 1996- 2000 14
1.4.1 Những chủ trương lớn của Đảng và Đảng bộ huyện Trấn Yên về đổi mới giáo dục đào tạo năm 1996 - 2000 14
1.4.2 Đảng bộ huyện Trấn Yên (Yên Bái) lãnh đạo khởi đầu đổi mới giáo dục và đào tạo 1996 - 2000 24
1.5 Thành tựu và hạn chế 26
1.5.1 Thành tựu 26
Trang 61.5.2 Hạn chế 27
Tiểu kết chương 1 28
Chương 2 ĐẢNG BỘ HUYỆN TRẤN YÊN LÃNH ĐẠO CÔNG TÁC GIÁO DỤC ĐÀO TẠO TRONG NHỮNG NĂM 2001 - 2015 29
2.1 Chủ trương của Đảng bộ huyện Trấn Yên trước yêu cầu đổi mới giáo dục đào tạo 29
2.1.1 Bối cảnh quốc tế 29
2.1.2 Bối cảnh trong nước 31
2.1.3 Yêu cầu, nhiệm vụ đặt ra đối với đổi mới giáo dục đào tạo của huyện Trấn Yên (2001 - 2015) 33
2.1.4 Chủ trương và tổ chức chỉ đạo đổi mới giáo dục đào tạo của huyện Trấn Yên (2000 - 2015) 34
2.2 Quá trình chỉ đạo và thực hiện 41
2.2.1 Tổ chức thực hiện đổi mới giáo dục đào tạo của Đảng bộ huyện Trấn Yên (2001 - 2015) 41
2.3 Thành tựu và hạn chế 48
2.3.1 Thành tựu 48
2.3.2 Hạn chế 51
Tiểu kết chương 2 51
Chương 3 NHẬN XÉT VÀ KINH NGHIỆM 53
3.1 Nhận xét 53
3.1.1 Ưu điểm 53
3.1.2 Nhược điểm 55
3.2 Kinh nghiệm 57
KẾT LUẬN 63
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 65
Trang 7MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Đất nước ta đang trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa với mục tiêu đến năm 2020 Việt Nam cơ bản trở thành một nước công nghiệp, hội nhập với cộng đồng Nhân tố quyết định thắng lợi của công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa là nguồn lực con người.Để phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước thì phải đổi mới, tăng cường toàn bộ hệ thống giáo dục, trong đó bậc trung học phổ thông và là bậc học tạo nguồn trực tiếp cho việc đào tạo nhân lực chất lượng cao
Bước vào thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước vấn
đề phát triển giáo dục và đào tạo càng được đặt ra cấp bách Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII của Đảng (tháng 7 - 1996) xác định: “Cùng với khoa học và công nghệ, giáo dục và đào tạo là quốc sách hàng đầu nhằm nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài”.[22,tr.107] Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X của Đảng (tháng 4 - 2006) tiếp tục khẳng định: “Phấn đấu xây dựng nền giáo dục hiện đại, của dân do dân và vì dân, đảm bảo công bằng
về cơ hội học tập cho mọi người, tạo điều kiện để toàn xã hội học tập và học tập suốt đời, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước” [30, tr.206, 207]
Từ khi Đảng ta khởi xướng và lãnh đạo công cuộc đổi mới cho đến nay,
sự nghiệp giáo dục và đào tạo đã có nhiều chuyển biến lớn và giành được nhiều kết quả quan trọng Những thành tựu đạt được đó chính là nhờ sự nỗ lực của toàn Đảng, toàn dân, là sự nghiệp đóng góp tích cực của nhiều địa phương trong cả nước
Bước vào thời kỳ đổi mới toàn đất nước, Đảng bộ và nhân dân huyện Trấn Yên (Yên Bái) tiếp tục vượt lên mọi khó khăn, thách thức để hoàn thành xuất sắc các mục tiêu, nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội của huyện đề ra
Trang 8Nhận thấy rõ vai trò to lớn của giáo dục và đào tạo, Đảng bộ huyện Trấn Yên luôn coi giáo dục và đào tạo là một trong những giải pháp hàng đầu để tạo cơ sở nền tảng cho sự phát triển kinh tế xã hội
Là một sinh viên sư phạm, tôi nhận thấy vấn đề đổi mới giáo dục và đào tạo là một vấn đề rất quan trọng trong quá trình đào tạo nhân lực phục vụ cho quá trình phát triển kinh tế - xã hội ở nước ta nói chung, ở Trấn Yên (Yên Bái) nói riêng, đồng thời cũng là một người con vùng đất huyện Trấn Yên (Yên Bái) tôi muốn tìm hiểu về giáo dục đào tạo của huyện mình nên tôi đã
lựa chọn đề tài: “Đảng bộ huyện Trấn Yên lãnh đạo công tác giáo dục đào
tạo trong những năm 1996 - 2015” làm khóa luận tốt nghiệp chuyên ngành
Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Đã có nhiều công trình đề cập đến vấn đề đổi mới giáo dục và đào tạo Các công trình này có nội dung đề cập và góc độ tiếp cận khá phong phú song như sau:
“Giáo dục Việt Nam trước ngưỡng cửa thế kỷ XXI” của GS TS Phạm Minh Hạc, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1999 Cuốn sách này
đã trình bày tính chất của nền giáo dục, nguyên lý, nội dung, hệ thống giáo dục nước ta qua các giai đoạn lịch sử; phân tích mối quan hệ giữa giáo dục và phát triển nguồn lực, các nguồn lực phát triển giáo dục và phương hướng phát triển giáo dục trong thời gian tới
Tác phẩm “Nhân tố mới về giáo dục và đào tạo trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa” do GS.TS Phạm Minh Hạc chủ biên, NXB chính trị quốc gia, Hà Nội, 2002, cũng đã nêu bật được những chuyển biến tích cực về chất lượng dạy và học
Một số luận văn thạc sĩ chuyên ngành lịch sử Đảng Cộng Sản Việt Nam cũng đã đề cập vấn đề giáo dục và đào tạo và công tác lãnh đạo sự nghiệp giáo dục và đào tạo:
Trang 9“Chiến lược con người Đảng Cộng sản Việt Nam trong công cuộc đổi mới đất nước từ năm 1986 đến nay” của Hoàng Thị Hằng
“Một số quan điểm cơ bản của Đảng về giáo dục và đào tạo trong công cuộc đổi mới 1986 - 1996” của Bùi Minh Hằng
Hai luận văn trên cũng nêu bật được đường lối, chủ trương của Đảng ta
về giáo dục và đào tạo trong thời kỳ nước ta thực hiện đường lối đổi mới Ngoài ra còn có nhiều luận văn nghiên cứu về giáo dục và đào tạo ở các địa phương cả nước như:
Đảng bộ thị xã Vĩnh Yên - Vĩnh Phúc lãnh đạo sự nghiệp giáo dục - đào tạo từ năm 1986 - 2000” của Hà Văn Định
“Đảng bộ tỉnh Bình Định lãnh đạo sự nghiệp giáo dục và đào tạo từ năm 1991 - 2000” của Trần Văn Dũng
Những tài liệu trên có nội dung phong phú, đa dạng về phạm vi nghiên cứu, không chỉ là nguồn tư liệu quan trọng mà còn gợi mở về phương pháp tiếp cận cho việc thực hiện khóa luận này Tuy nhiên cho đến nay chưa có một công trình nào nghiên cứu có hệ thống về “Đảng bộ huyện Trấn Yên (Yên Bái) lãnh đạo công tác giáo dục đào tạo trong những năm 1996 - 2015”
3 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
* Đối tượng nghiên cứu của khóa luận
- Sự lãnh đạo của Đảng bộ huyện Trấn Yên (Yên Bái) về công tác giáo dục đào tạo trong những năm 1996 - 2015 Trên sơ sở đường lối nghị quyết, chủ trương của Đảng và nhà nước về giáo dục và đào tạo và căn cứ vào đặc thù riêng của huyện Trấn Yên tỉnh Yên Bái
- Thực tiễn đổi mới giáo dục đào tạo của huyện
- Những kinh nghiệm được rút ra từ thực tiễn trên
* Phạm vi nghiên cứu
Nghiên cứu quá trình lãnh đạo của Đảng bộ huyện Trấn Yên (Yên Bái) về công tác giáo dục đào tạo và kết quả thực hiện trong giai đoạn (1996 - 2015)
Trang 104 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
* Mục đích nghiên cứu
Nghiên cứu và trình bày có hệ thống quá trình lãnh đạo đúng đắn, sang tạo, chủ động của Đảng bộ huyện Trấn Yên (Yên Bái) về công tác giáo dục đào tạo trong những năm 1996 - 2015
* Nhiệm vụ của khóa luận
- Đánh giá khách quan, khoa học về thành tựu, hạn chế và nguyên nhân quá trình lãnh đạo đổi mới giáo dục đào tạo của Đảng bộ huyện Trấn Yên (Yên Bái)
- Rút ra một số kinh nghiệm về sự lãnh đạo của Đảng bộ huyện Trấn Yên đối với sự nghiệp đổi mới giáo dục đào tạo trong giai đoạn (1996 - 2015), nhằm góp phần xây dựng và phát triển sự nghiệp giáo dục đào tạo ở địa phương trong thời gian tới
5 Nguồn tư liệu và phương pháp nghiên cứu
* Nguồn tư liệu
Dựa trên nguồn từ liệu lịch sử Đảng bộ của huyện Trấn Yên và của Tỉnh Yên Bái
Tham khảo những bài khóa luận, luận văn và bài báo cáo chính trị tại đại hội XII, XIII, XIX và XX
* Phương pháp nghiên cứu
- Các phương pháp chủ yếu: phương pháp lịch sử và phương pháp logic
- Các phương pháp khác: phương pháp thống kê, so sánh, phân tích, tổng hợp… để làm rõ những vấn đề cần thiết trong quá trình nghiên cứu
6 Đóng góp của khóa luận
- Khóa luận có thể làm tài liệu tham khảo cho công tác nghiên cứu giảng dạy lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam ở địa phương
- Từ những nghiên cứu cụ thể về tình hình giáo dục đào tạo ở địa phương, khóa luận còn góp phần nhỏ bé của mình cho Đảng bộ huyện Trấn
Trang 11Yên (Yên Bái) làm cơ sở tiếp tục bổ sung, xây dựng đường lối phát triển sự nghiệp giáo dục và đào tạo của huyện
7 Kết luận của khóa luận
Ngoài phần mở đầu, kết luận, phục lục, danh mục tài liệu tham khảo, nội dung khóa luận được kết cấu 3 chương:
Chương 1: Đảng bộ huyện Trấn Yên (Yên Bái) lãnh đạo công tác giáo dục đào tạo trong những năm 1996 - 2000
Chương 2: Đảng bộ huyện Trấn Yên (Yên Bái) lãnh đạo công tác giáo dục đào tạo trong những năm 2001 - 2015
Chương 3: Nhận xét và Kinh nghiệm
Trang 12Chương 1 ĐẢNG BỘ HUYỆN TRẤN YÊN (YÊN BÁI) LÃNH ĐẠO CÔNG TÁC
GIÁO DỤC ĐÀO TẠO TRONG GIAI ĐOẠN 1996 - 2000
1.1 Điều kiện tự nhiên, dân cư của huyện Trấn Yên
1.1.1 Điều kiện tự nhiên và địa giới hành chính
Trấn Yên là một huyện vùng thấp của tỉnh Yên Bái Phía Tây giáp với huyện Văn Yên tỉnh Yên Bái Phía đông nam giáp với huyện Hạ Hòa tỉnh Phú Thọ Phía đông bắc giáp với huyện Yên Bình Phía tây nam giáp với huyện Văn Chấn của tỉnh Yên Bái Phía đông nam giáp với thành phố.Với diện tích
tự nhiên là 69.074,1 ha, chiếm 10,3% diện tích toàn tỉnh
Là miền giao thoa văn hóa các dân tộc Tây Bắc - Việt Bắc; vùng chuyển tiếp giữa trung du với miền núi dọc theo thung lũng sông Hồng Là miền đất lâu đời nên địa danh, địa giới hành chính của huyện có nhiều thay đổi
Từ năm 220 nhà Ngô thống trị nước ta đổi Giao Chỉ thành Giao Châu với 6 quận; Trấn Yên nằm trong quận Tân Hưng - huyện Lâm Tây Sang nhà Tấn quận Tân Hưng đổi thành quận Tân Xương sau đó Tân Xương đổi thành Hưng Châu Năm 602 nhà Tùy thống trị nước ta chia Giao Chỉ cũ thành 2 huyện: Giao Chỉ và Long Biên lệ thuộc vào Giao Châu, đầu đời Đại Nghiệp (nhà Tùy) gộp Phong Châu và Giao Châu rồi đặt lại quận Giao Chỉ và chia Giao Chỉ thành 9 huyện, Trấn Yên lúc này thuộc huyện An Nhân
Theo “Hưng Hóa phong thổ lục” của Hoàng Bình Chính: Huyện Trấn Yên nguyên là đất Châu Đăng thời Lý Tên huyện đặt từ thời Lê (khoảng giữa thế kỷ XX) Đời Gia Long (1802) vẫn như thế
Năm 1886 sau khi thực dân Pháp làm chủ được thành Hưng Hóa và Tuyên Quang, quân đội viễn chinh Pháp tiếp tục mở rộng lên mạn thượng lưu sông Hồng, tiến công tuyến phòng thủ từ Hào Gia, Tuần Quán đến Giới Phiên, Bạch Lẫm Những năm sau quân Pháp tiếp tục mở rộng xâm lược sang
Trang 13sông Đà sông Chảy và lên Lào Cai thành lập tiểu khu Hưng Hóa - Yên Bái - Tuyên Quang
Với địa hình được kiến tạo bởi hai dãy núi lớn và dòng sông Thao tạo nên hình thể lòng chảo Phía tả ngạn là dãy Con Voi, phía hữu ngạn là dãy Pú Luông Các triền núi, đồi và đất đai dốc từ 2 dãy Pú Luông, Con Voi nghiêng
ra sông, các con suối chính cũng bắt nguồn và chảy theo hướng địa hình lòng chảo đổ vào sông Thao Độ cao trung bình từ 100 - 200m so với mặt nước biển, nơi thấp nhất là xã Minh Quân có độ cao 20m Nhìn chung địa hình cao dần từ đông nam lên Tây Bắc, phù hợp với địa hình chung của vùng Tây Bắc Các xã phía nam và phía đông nam, có địa hình đồi vúi thấp, bát úp đỉnh đồi bằng, sườn dốc thoải mái thuận tiện cho việc trồng cây lương thực và cây công nghiệp Các xã nằm xen kẽ dưới chân núi Con Voi và dãy Pú Puông có địa hình phức tạp, đồi cao, độ dốc lớn, chia cắt mạnh, núi đồi xen kẽ với các thung lũng sâu gây nên nhiều khó khăn cho việc đi lại và giao lưu kinh tế Ngày 11/4/1900 toàn quyền Đông Dương ra nghị định thành lập tỉnh Yên Bái tách ra từ đạo quan binh thứ 4 bao gồm 4 huyện là: Huyện Trấn Yên, huyện Văn Chấn, huyện Văn Bàn, huyện Lục Yên và một châu là châu Than Uyên Đến năm 1989 - 2008 huyện có 28 xã và một thị trấn nhưng sau năm
2008 thì chia tách 7 xã về thành phố Yên Bái và huyện Yên Bình Hiện nay huyện Trấn Yên còn lại 21 xã và 1 thị trấn [27, tr 8]
1.1.2 Dân cư
Là miền đất có bề dày văn hóa trong huyện có 6 dân tộc anh em đã sinh sống nhiều đời, nhiều thế kỷ sát cánh bên nhau phát triển kinh tế - xã hội và bảo vệ quê hương đất nước
Dân số tính đến năm 2000 là 94.718 người Trong đó nam 47.095 người,
nữ 47.623 người; số người sống ở nông thôn là 89.311 người Mật độ dân số
137 người/ km Tỷ lệ tăng dân số 1.39% (năm 2003)
Trang 14Về thành phần dân tộc
Người Kinh có 70.370 chiếm 74,3%, sinh sống chủ yếu ở các xã vùng ngoài và các xã phía Nam của huyện Vùng 2 bờ sông Thao được người Kinh khai khẩn từ rất lâu, lập nên làng xóm đông đúc trù phú như trung du Bắc Bộ
Người Tày có 14.560 người chiếm 15,9% dân số, sống chủ yếu ở các xã vùng sâu có các bồn địa và ven suối lớn Họ sống tập trung thành từng bản, ở nhà sàn thâm canh lúa nước, chăn nuôi gia súc gia cầm Người Dao: Theo điều tra và phân loại, người Dao thuộc nhiều nhánh như Dao Tiền, Dao Quần Trắng, Dao Đại Bản… và người Sán Chay (Cao Lan) Người Dao trong huyện định cư sau người Tày, họ có tập quán sống ở cấc sườn núi cao từ 300- 400m so với mặt biển Tổng số người Dao ở Trấn Yên có 5.872 người chiếm 6,2% dân số, bao gồm cả người Sán Chay (Cao Lan)
Người Mường: Có 3.073 người tính bằng 2.2% dân số Người Mường có nguồn gốc từ huyện Thanh Sơn (Phú Thọ) đã di thực theo sông Thao lên cư trú tại xã Quy Mông cách đây khoảng 150 năm Họ sống thành cộng đồng trong làng Mường Sản xuất chủ yếu là trồng cây lúa nước, chăn nuôi gia súc, gia cầm
Người H’mông: Trong những năm đầu miền Bắc mới được giải phóng, huyện Trấn Yên cơ bản không có người H’mông Theo điều tra năm 1932 của thực dân Pháp toàn huyện chỉ có 77 người H’mông sống rải rác ở các xã vùng cao miền thượng huyện Từ các năm tám mươi người H’mông du cư từ Trạm Tấu, Văn Chấn đến ở các xã giáp ranh của huyện Họ ở tập trung thành từng bản H’mông ở Hồng Lâu (Hồng Ca), Đồng Ruộng (Kiên Thành) với tổng số người là 1.270 chiếm 1.3% dân
số toàn huyện Người H’mông có tập quán phát nương trồng rẫy, sau
Trang 15nhiều lần trồng rẫy độ phì nhiêu của đất tàn kiệt, rừng trơ trụi xác xơ người H’mông lại di chuyển đến nơi khác [27, tr.21, 33]
1.2 Tình hình kinh tế và truyền thống văn hóa giáo dục của huyện Trấn Yên
1.2.1 Tình hình kinh tế trong những năm 1996 - 2000
Tỉnh Yên Bái, xuất phát điểm kinh tế còn thấp nên việc đẩy mạnh kinh tế phát triển càng được chú trọng Huyện Trấn Yên cũng đã xây dựng những dự
án để phát triển kinh tế, từ đó nền kinh tế từ năm 1996 đến năm 2015 có chuyển biển rõ rệt về cơ cấu kinh tế
Hệ thống giao thông là yếu tố quan trọng của kết cấu hạ tầng phục vụ cho việc phát triển kinh tế
Tỉnh lộ Yên Bái - Văn Yên đoạn qua đất Trấn Yên dài 22km được xây dựng trên nền tảng của đường quan binh dọc sông Thao từ Yên Bái lên Bảo
Hà Đầu thập niên 60 được mở rộng, trải cấp phối, nhiều đoạn bỏ nền cũ để tránh sạt lở, tiếp đến những năm 70 được trải nhựa, là huyết mạch giao thông quan trọng của huyện Trấn Yên và Văn Yên [3,tr.11]
Các đường quốc lộ 13A, 32C, tuyến đường sắt Hà Nội - Lào Cai cũng
đã đóng góp thiết thực vào lĩnh vực dân sinh, mở mang kinh tế cho các xã trong huyện
Hệ thống đường giây tải điện và trạm biến thế đã phủ kín các xã trong huyện từ năm 2002 Phía hữu ngạn sông Thao tỉnh đầu tư xây dựng lưới điện vượt sông nối liền từ trung tâm tỉnh ra các xã lân cận Tuy số xã có điện đạt 100% nhưng còn nhiều thôn bản nằm ở các xã khu vực sâu xa đường xã khó
đi lại, điều kiện kinh tế - xã hội nhiều khó khan thì chưa có khả năng kéo điện Đây là vấn đề khó khăn cần được tháo gỡ nhằm tạo động lực phát triển
và thực hiện công bằng xã hội của huyện
Mạng lưới thông tin liên lạc cũng phát triển và đang đạt tới mục tiêu phủ kín địa bàn cấp xã Đến năm 2000 trên địa bàn huyện có 1 tổng đài kỹ
Trang 16thuật số, tổng số thuê bao điện thoại là 463 máy, đạt 0,49 máy /100 dân, đến năm 2004 các xã hầu hết đã có bưu điện văn hóa xã [27,tr 36]
Thông tin liên lạc giữa huyện với tỉnh, giữa huyện với các xã thông suốt
đã tạo điều kiện thuận lợi thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội và tăng cường vai trò quản lý nhà nước cấp huyện với cơ sở
Các vùng chuyên canh cây trồng và các nhà máy chế biến nông - lâm sản:
Trong những năm trăn trở tìm kiếm cách giải quyết cái ăn, cái mặc
sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế trong nội bộ ngành sản xuất nông - lâm nghiệp đã đưa tới kết quả tạo ra được các vùng chuyên canh lớn, đây là những điều kiện để phát triển một nền kinh tế hàng hóa và xây dựng nông thôn mới vùng thâm canh lúa nước với diện tích canh tác là 3.040
ha, chủ yếu tập trung ở 17 xã dọc sông Thao với những cánh đồng phù sa màu mỡ và ở các xã vùng trong với những bồn địa đất đai phì nhiêu Vùng chè kinh doanh 2.300 ha bao gồm chè của các hộ và 700ha chè của các xí nghiệp chè đóng trên địa bàn huyện Hệ thống máy chế biến chè được xây dựng gắn liền với các vùng nguyên liệu Khu vực thượng huyện với 2 nhà máy công suất chế biến 10 tấn/ ngày khu vực phía nam của huyện có 1 dây chuyền nhỏ, 1 nhà máy lớn với công suất 15 tấn/ ngày, khu vực phía tây nam có nhiều thôn bản chuyên sản xuất chè với 2 nhà máy lớn, công suất tối đa 20 tấn / ngày Tổng công suất các nhà máy chế biến chè trong huyện đạt từ 35- 40 tấn/ ngày đã tiêu thụ hết khối lượng búp sản xuất ra mỗi năm là 12.500 tấn
Cây quế là đặc sản nổi bật nhất tỉnh Yên Bái Tại huyện Trấn Yên rừng quế được hình thành trong chương trình trồng rừng phủ xanh đất trống đồi núi trọc Diện tích rừng quế đã hình thành là 5.000 ha, được trồng ở tất cả các xã nhưng tập trung liền khoảng ở Kiên Thành, Y Can, Quy Mông… [27.tr.38]
Trang 17- Hệ thống nhà máy bao gồm nhà máy chế biến chè, nhà máy chế biến giấy, và sản xuất bột giấy từ nguyên liệu sợi dài (tre, nứa, vầu) được xây dựng
ở Cổ Phúc, Hưng Khánh và Minh Quân Sản phẩm giấy và bột giấy là mặt hàng xuất khẩu quan trọng đối với thị trường Đài Loan Phía Nam huyện đã hình thành 2 khu công nghiệp, khu công nghiệp Văn Tiến có nhà máy sản xuất bột đá vôi xuất khẩu cho thị trường Thái Lan [27, tr.39]
Trong giai đoạn năm 1996 - 2015 nền kinh tế của huyện Trấn Yên (Yên Bái)
đã có bước tăng trưởng như sau:
- Tăng trưởng kinh tế:
Tốc độ tăng trưởng kinh tế thời kỳ năm 1996 - 2000:
Tốc độ tăng trưởng bình quân nền kinh tế thời kỳ 2001-2015: 11,0%/năm (Trong đó thời kỳ 2001 - 2005: 10,0%/ năm, 2006-2010: 12,0%/ năm): năm
Tăng trưởng bình quân ngành dịch vụ thời kỳ 2001 - 2015: 10,0%/năm
(Trong đó thời kỳ 2001 - 2005: 9,5%/ năm, 2006 - 2010: 10,5%/năm, 2011 - 2015: 9,5%/ năm)
Thu nhập bình quân đầu người (tính theo triệu đồng) đã tăng theo từng năm, năm 2005 đạt 5,132 đến năm 2010 đạt 9,845
Kinh tế phát triển tạo đà để Trấn Yên quan tâm đầu tư hơn cho các lĩnh vực văn hoá, giáo dục y tế, chăm sóc sức khỏe nhân dân trên địa bàn Các vấn
đề an sinh xã hội cũng đã được quan tâm thực hiện có hiệu quả Sự nghiệp giáo dục đào tạo từng bước được đổi mới căn bản và toàn diện theo hướng
Trang 18nâng cao chất lượng đáp ứng với yêu cầu giáo dục trong giai đoạn hiện nay, hiện Trấn Yên có 16 trường đạt chuẩn quốc gia, 22/22 xã thị trấn đạt phổ cập giáo dục tiểu học, trung học cơ sở và mầm non cho trẻ 5 tuổi Lĩnh vực y tế cũng đã đáp ứng tốt nhu cầu chăm sóc sức khỏe cho nhân dân Phong trào
“toàn dân đoàn kết xây dựng đờì sống văn hóa” được quan tâm đẩy mạnh, 100% thôn bản ra mắt xây dựng làng bản, khu phố văn hóa, phong trào văn hóa văn nghệ - thể dục thể thao được phát triển rộng khắp, từng bước đi vào chiều sâu Các địa phương đã lồng ghép nhiều chương trình chính sách để thực hiện giảm nghèo nhanh và bền vững như giải quyết việc làm, đào tạo nghề, cho vay vốn chuyển giao khoa học kỹ thuật… Thu nhập bình quân đầu người đạt 25 triệu đồng
1.2.2 Đời sống tín ngưỡng, tôn giáo của huyện Trấn Yên
Đời sống tín ngưỡng vô cùng phong phú chủ yếu là văn hóa phi vật thể bao gồm văn hóa tinh thần của người Kinh với những tinh hoa văn hóa đồng bằng và trung du Bắc Bộ, văn hóa tinh thần giàu bản sắc của đồng bào Tày, Dao, Mường, Cao Lan, H’mông Đặc biệt đây là vùng giao thoa văn hóa giữa miền núi Đông Bắc với vùng miền núi Tây Bắc, giữa miền xuôi với miền ngược, đã tạo nên vườn hoa văn hóa phong phú sắc màu
Văn hóa tinh thần huyện Trấn Yên được hình thành từ lịch sử lâu dài dựng nước và giữ nước, phản ánh quá trình chế ngự thiên nhiên và mối quan
hệ giữa con người với con người trong đời sống xã hội Là một bộ phận của nền văn hóa sông Hồng, yếu tố cơ bản của nền văn minh nông nghiệp
Trong đời sống tinh thần có những tín đồ suốt đời mang nặng niềm tin về Chúa, về Phật
Nhìn chung tín ngưỡng tôn giáo huyện Trấn Yên là thờ cúng tổ tiên, thờ mẫu, thờ thần và những người có công Mỗi tộc người có cách thể hiện khác nhau nhưng đều có điểm chung là hậu thế luôn hoài vọng, nhớ về nguồn cội, về các thế hệ đã sinh thành, dưỡng dục, về chính quê hương bản quán của mình
Trang 19Hai tôn giáo có vị trí đáng kể trong đời sống văn hóa tinh thần của nhân dân là đạo Phật và đạo Thiên Chúa
Đạo Phật vào Trấn Yên từ thời Trần và phát triển trong thời Lê, thời Nguyễn Đến kháng chiến chống Pháp hầu hết chùa chiền bị tàn phá, nhiều nơi cả đình đền cũng thành phế tích, số được khôi phục lại không đáng kể Chùa ở Trấn Yên hầu hết là chùa nhỏ, làm theo kiểu nhà thông thường, phân biệt các cung thờ bằng ban bệ xây gạch hoặc làm bằng gỗ Chùa thờ Phật theo Phật giáo Đại Thừa - ý nghĩa như một cỗ xe lớn có thể chở được nhiều chúng sinh tới cõi Niết Bàn
Từ cuối thế kỷ XVII, việc mở rộng truyền đạo lên vùng Tây Bắc của các giáo sỹ phương Tây được thực hiện cùng với việc đặt ách thống trị của quân đội viễn chinh Pháp vì thế đối với người Trấn Yên đạo Thiên Chúa mới được
du nhập vào khoảng 1 thế kỷ Những nhà thờ sớm được xây dựng từ năm
1898 đến năm 1930 là nhà thờ Yên Bái, nhà thờ họ làng Sặt, nhà thờ Bảo Long, nhà thờ Nụ Điền, nhà thờ Âu Lâu, nhà thờ Nga Quán… Đọc kinh, cầu nguyện, đi nhà thờ là một nhu cầu thuộc về đời sống tâm linh của đồng bào theo đạo Thiên Chúa
Có những người không theo một tôn giáo chính thống nào nhưng vẫn đến lễ Phật để cầu bình yên hoặc đến nhà thờ Thiên Chúa để xem hành lễ như
sự sinh hoạt văn hóa văn nghệ bình thường Người Mường có tục thờ Phật (Ông Bụt); Người Tày cổ thờ vật linh giáo… [27, tr.34]
Văn hóa sẽ ảnh hưởng và tác động rất lớn đền truyền thống giáo dục của người dân huyện Trấn Yên
1.3 Thực trạng giáo dục của huyện Trấn Yên trước năm 1996
Từ năm 1986 - 1990 Huyện ủy chỉ đạo đầu tư xây dựng nhiều thiết chế văn hóa mới Hội trường huyện làm nơi hội họp tập trung Nhà văn hóa 500 chỗ ngồi và tổng hợp được xây dựng bằng vốn của huyện và sự đầu tư xây
Trang 20dựng của nhà nước Toàn huyện có hai trường phổ thông cấp III, một trường đặt ở trung tâm huyện lỵ, một trường đặt ở khu kinh tế mới Hưng Khánh Bên cạnh đó văn hóa huyện được quan tâm phòng văn hóa thông tin quản lý 1 đội thông tin lưu động, 1 nhà văn hóa trung tâm, 2 đội chiếu bóng, 34 đội văn nghệ, 27 đội bóng chuyền, 19 đôi bóng đá ở cơ sở
Nghị quyết đại hội Đảng bộ huyện lần thứ XVI đề ra 4 chương trình kinh tế
- xã hội lớn thực hiện từ năm 1991 - 1995 Trong đó cũng nêu lên nhiệm vụ cần thiết về giáo dục đào tạo là xây dựng kết cấu cơ sở hạ tầng, trường học, trang thiết bị cần thiết Mục tiêu đến năm 1995 thì 70% số xã có trường học xây bằng gạch ngói [27, tr.277]
Đảng bộ huyện Trấn Yên cũng tích cực nhấn mạnh nâng cao công tác giáo dục đào tạo trong toàn huyện Tuy nhiên thời kỳ trước năm 1996 huyện Trấn Yên cũng gặp nhiều khó khăn và thách thức do tình hình chung của cả nước Nhưng với sự nỗ lực của Đảng bộ và nhân dân trong huyện Trấn Yên
đã vượt qua nhiều khó khăn để hoàn thành nhiệm vụ chính trị của ngành
1.4 Chủ trương của Đảng bộ huyện Trấn Yên trong việc lãnh đạo công tác giáo dục đào tạo trong năm 1996- 2000
1.4.1 Những chủ trương lớn của Đảng và Đảng bộ huyện Trấn Yên về đổi mới giáo dục đào tạo năm 1996 - 2000
Nhân loại bước vào thế kỷ XXI, thế kỷ của nền văn minh trí thức, từ một nền kinh tế chủ yếu dựa vào nguồn tài nguyên thiên nhiên sang nền kinh tế dựa vào con người Khoa học và công nghệ trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp làm thay đổi sâu sắc bộ mặt thế giới Những thành tựu của khoa học công nghệ thể hiện ở các lĩnh vực Internet, vật liệu mới, công nghệ sinh học, công nghệ vũ trụ… đã đặt ra những yêu cầu đổi mới với giáo dục và đào tạo ở nước ta
Đánh giá đúng đắn thực trạng giáo dục Việt Nam và yêu cầu đặt ra đối với sự nghiệp phát triển giáo dục, phục vụ đắc lực mục tiêu, chiến lược phát
Trang 21triển kinh tế - xã hội của đất nước, Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI nhấn mạng mục tiêu của giáo dục là nhằm hình thành và phát triển toàn diện nhân cách xã hội chủ nghĩa cho thế hệ trẻ, đào tạo đội ngũ lao động có kỹ thuật, đồng bộ về ngành nghề, phù hợp với yêu cầu phân công lao động xã hội Phấn đấu để đạt mục tiêu nói trên, Đại hội nhấn mạnh đó là “trách nhiệm chung của ngành giáo dục, của cấp ủy đảng và chính quyền các cấp” [17, tr.526]
Đại hội VII của Đảng (6 - 1991) đã khẳng định giáo dục và đào tạo, khoa học công nghệ “là quốc sách hàng đầu để phát huy nhân tố con người, động lực phát triển của sự phát triển” [19, tr.121] và đóng vai trò then chốt trong toàn bộ sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc, là một động lực đưa đất nước ta thoát khỏi nghèo nàn, lạc hậu, vươn lên trình độ tiên tiến của thế giới” [19, tr.79] Do đó mục tiêu giáo dục và đào tạo là nhằm nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài hình thành đội ngũ lao động
có trí thức và có tay nghề, có năng lực thực hành, tự chủ, năng động và sáng tạo, có đạo đức cách mạng, có tinh thần yêu nước, yêu chủ nghĩa xã hội Nhà trường đào tạo thế hệ trẻ theo hướng toàn diện và có năng lực chuyên môn sâu, có ý thức và khả năng tự tạo việc làm trong nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần [19, tr.81]
Quan điểm trên của Đảng thể hiện rõ sự đổi mới về tư duy giáo dục Trước đây, các quan điểm của Đảng và nhà nước đều coi trọng sự nghiệp giáo dục và đào tạo, song thực tế nhiều khi giáo dục và đào tạo chỉ được xem là phúc lợi xã hội, là lĩnh vực phi sản xuất, là gánh nặng cho kinh tế Nhưng nay, Đảng ta đã xác định rõ giáo dục đào tạo là một động lực trực tiếp của sự phát triển, phải được xem là quốc sách hàng đầu để phát huy nguồn lực con người
- mục tiêu, chiến lược phát triển của đất nước
Đẩy mạng sự nghiệp giáo dục, ngày 12 - 08 - 1991, Quốc hội nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã thông qua luật phổ cập giáo dục tiểu học và
Trang 22luật chăm sóc, bảo vệ và giáo dục trẻ em Đây là bộ luật mở đầu về công tác giáo dục ở nước ta Tiếp đó tại kỳ họp thứ XI, Quốc hội khóa VIII thông qua hiến pháp nước cộng hòa XHCN Việt Nam (năm 1992) một lần nữa khẳng định giáo dục và đào tạo là quốc sách hàng đầu Nhà nước phát triển giáo dục nhằm nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài; Nhà nước thống nhất quản lý hệ thống giáo dục quốc dân về mục tiêu, chương trình, nội dung,
kế hoạch giáo dục, tiểu chuẩn giáo viên, quy chế thi cử và hệ thống văn bằng; Nhà nước ưu tiên đầu tư cho giáo dục, khuyến khích các nguồn đầu tư khác, đồng thời nhà nước mở rộng giao lưu và hợp tác quốc tế trên các lĩnh vực văn hóa, thông tin, văn hóa, nghệ thuật, giáo dục, y tế, thể dục thể thao
Quán triệt sâu rộng mục tiêu giáo dục và đào tạo do Đại Hội VII của Đảng đề ra, Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng lần thứ 4 (khóa VII) - tháng 1 - 1993, lần đầu tiên trong lịch sử Đảng ta, đã ra một nghị quyết chuyên đề “Về tiếp tục đổi mới sự nghiệp giáo dục và đào tạo”
Hội nghị đã đề ra 4 quan điểm chỉ đạo cho quá trình đổi mới sự nghiệp giáo dục và đào tạo:
Thứ nhất, giáo dục và đào tạo là quốc sách hàng đầu, là động lực thúc đẩy, là điều kiện cơ bản đảm bảo việc thực hiện các mục tiêu kinh tế - xã hội, xây dựng và bảo vệ đất nước Phải coi đầu tư cho giáo dục là một việc chính của đầu tư phát triển
Thứ hai, mục tiêu nhằm nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài, đào tạo những con người có kiến thức văn hóa, khoa học, có kỹ năng nghề nghiệp… Mở rộng quy mô, đồng thời chú trọng nâng cao chất lượng, hiệu quả giáo dục gắn học với hành, tài với đức
Thứ ba, gắn chặt yêu cầu phát triển đất nước và phù hợp với xu thế tiến
bộ của thời đại
Thứ tư, đa dạng hóa các hình thức đào tạo, thực hiện công bằng xã hội giáo dục
Trang 23Ngoài 4 quan điểm chỉ đạo trên, nghị quyết Trung ương 4 (khóa VII) còn
đề ra các chủ trương, chính sách và biện pháp lớn nhằm đổi mới sự nghiệp giáo dục và đào tạo Trong đó giáo dục phổ thông, nghị quyết cũng nêu rõ:
- Tiếp tục hoàn chỉnh cơ cấu của hệ thống giáo dục quốc dân như: Củng
cố các trường công, không mở trường lớp tư thục ở giáo dục phổ thông Khuyến khích tự học, đảm bảo cho mọi công dân trong khuôn khổ pháp luật
có quyền được học, được thi, được chọn trường, chọn nghề, được học tập ở trong nước và đi học ở nước ngoài
- Sắp xếp lại hệ thống các trường nhằm nâng cao hiệu quả đầu tư, sử dụng cơ sở vật chất và đội ngũ giáo viên Hình thành từng bước các trường lớp trọng điểm có chất lượng cao, mở rộng hệ thống trường, lớp năng khiếu ở phổ thông
- Phấn đấu đến năm 2000 thanh toán nạn mù chữ ở người lao động trong
độ tuổi từ 15 - 35, tích cực thu hẹp diện người mù chữ ở độ tuổi khác, hoàn thành phổ cập giáo dục trung học trước hết đối với trẻ em trong độ tuổi 6 - 14 Đẩy mạnh thực hiện phổ cập giáo dục cấp II, nhất là ở khu đô thị
- Hình thành bậc trung học mới nhằm chuẩn bị cho một bộ phận học sinh tiếp tục học lên và đa số tốt nghiệp có thể vào đời Giáo dục kỹ năng lao động hướng nghiệp cho học sinh trung học phổ thông theo hình thức liên kết giáo dục phổ thông và giáo dục chuyên nghiệp
- Xác định lại mục tiêu, thiết kế lại chương trình, kế hoạch, nội dung phương pháp giáo dục và đào tạo cụ thể đối với học sinh từng bậc học, cấp học
- Đổi mới phương pháp dạy học ở tất cả các cấp học, bậc học Kết hợp tốt học với hành, học với lao động sản xuất, gắn nhà trường với xã hội
- Củng cố phát triển giáo dục ở các vùng dân tộc thiểu số và những vùng khó khăn Thực hiện ngay một số biện pháp cấp bách nhằm ngăn chặn tình trạng xa sút về giáo dục ở miền núi; coi trọng công tác đào tạo cán bộ cho các vùng dân tộc thiểu số từ Trung ương đến địa phương
Trang 24Tăng cường sự lãnh đạo các cấp ủy Đảng đối với sự nghiệp giáo dục Chú trọng xây dựng đội ngũ giáo viên và cán bộ quản lý giáo dục như: Thực hiện chính sách khuyến khích về vật chất và tinh thần đối với giáo viên; ưu đãi tiền lương, phụ cấp đối với những nơi khó khăn thuộc vùng cao, vùng sâu, hải đảo và một số vùng miền núi; thực hiện tốt công tác sắp xếp giáo viên theo chức danh và tiêu chuẩn; kết hợp đào tạo giáo viên mới với bồi dưỡng thường xuyên giáo viên đang làm việc
Từ những quan điểm chỉ đạo của Đảng và một số chủ trương, chính sách biện pháp lớn nhằm đổi mới sự nghiệp giáo dục nêu trên, cần phải thấm nhuần các yếu tố, các mặt của giáo dục Quán triệt tinh thần đó một số thông
tư, quyết định, chỉ thị của nhà nước và Bộ giáo dục, tiếp tục triển khai sâu rộng, đưa sự nghiệp giáo dục nước nhà không ngừng đi lên
Qua 5 năm thực hiện nghị quyết đại hội VII và nghị quyết Trung ương 4 (khóa VII) sự nghiệp giáo dục và đào tạo đã có nhiều phát triển tiến bộ đạt nhiều thành tựu quan trọng Tuy nhiên những kết quả đó vẫn thấp so với yêu cầu phát triển của đất nước, nhất là trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa Về chất lượng và hiệu quả giáo dục và đào tạo còn nhiều hạn chế về cơ sở vật chất, đội ngũ cán bộ quản lý và giáo viên, về chương trình sách giáo khoa… còn nhiều bất cập
Để khắc phục những hạn chế đó, đại hội đại biểu toàn quốc lần thức VII của Đảng (tháng 6 - 1996) đã nêu ra quan điểm và phương hướng phát triển giáo dục và đào tạo trong những năm tới với những nội dung cơ bản sau: Trước hết Đảng phải xác định: Giáo dục và đào tạo, cùng với khoa học và công nghệ phải thực sự trở thành quốc sách hàng đầu nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài Phải coi đầu tư cho giáo dục là đầu tư phát triển, tạo điều kiện cho giáo dục đi trước và phục vụ đắc lực cho phát triển kinh tế -
xã hội Huy động toàn xã hội làm giáo dục dưới sự quản lý của nhà nước
Trang 25Bằng nhiều hình thức đa dạng đảm bảo cho mọi người được học, nhất là người nghèo và con em các gia đình thuộc diện chính sách Động viên phong trào toàn dân thi đua xóa mù chữ, hoàn thành phổ cập tiểu học trong cả nước và phổ cập trung học cơ sở ở những nơi có điều kiện như những thành phố lớn, khu công nghiệp tập trung Đến năm 2000 đảm bảo đại bộ phận trẻ em 5 tuổi được hưởng chương trình giáo dục mầm non, thanh toán nạn mù chữ ở những người trong độ tuổi từ 15 đến 35, thu hẹp diện người mù chữ ở độ tuổi khác Xây dựng hệ thống trường chuyên, trường trọng điểm, trung tâm chất lượng cao ở các bậc học Cải tiến chất lượng dạy và học, khắc phục những tiêu cực, yếu kém trong ngành giáo dục để hoàn thành tốt việc đào tạo, bồi dưỡng nguồn lực con người cho công nghiệp hóa hiện đại hóa đất nước Cùng với đổi mới nội dung giáo dục theo hướng cơ bản, hiện đại, phải tăng cường giáo dục công dân, giáo dục lòng yêu nước và thế giới quan khoa học Đổi mới công tác đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ giáo viên và các bộ quản lý giáo dục Tổng kết cải cách giáo dục; xây dựng chiến lược phát triển giáo dục và đào tạo trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đât nước Xây dựng và hoàn thiện hệ thống luật pháp và chính sách của nhà nước về giáo dục và đào tạo Nâng dần tỉ trọng chi ngân sách, động viên đúng mức sự đóng góp của từng
cá nhân, gia đình và toàn thể xã hội cho giáo dục và đào tạo Đẩy mạnh hợp tác quốc tế trong giáo dục và đào tạo
Để quán triệt cụ thể hóa những quan điểm, phương hướng của Đại hội VIII, hội nghị lần thứ 2 Ban Chấp hành Trung ương khóa VII (tháng 12 - 1996) đã có nghị quyết “Về định hướng chiến lược và phát triển giáo dục và đào tạo trong thời kỳ công nghiệp, hóa hiện đại hóa và nhiệm vụ đến năm 2000” Nghị quyết đã nêu tư tưởng chỉ đạo sau:
Một là: Giữ vững mục tiêu xã hội chủ nghĩa trong giáo dục và đào tạo Trong suốt quá trình đấu tranh cách mạng, Đảng ta luôn gương cao hai ngọn cờ độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội Bởi vậy nhiệm vụ và mục tiêu
Trang 26cơ bản của giáo dục là nhằm xây dựng những con người và thế hệ thiết tha gắn bó với lý tưởng độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội Những con người đó phải có đạo đức trong sáng, có ý chí kiên cường trong xây dựng và bảo vệ tổ quốc, đặc biệt là trong thời kỳ công nghiệp, hóa hiện đại hóa đất nước; phải biết giữ gìn và phát huy các giá trị văn hóa của dân tộc, có năng lực tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại; có ý thức cộng đồng và phát huy tích cực cá nhân, làm chủ tri thức khoa học và công nghệ hiện đại, có tư duy sáng tạo, có kỹ năng thực hành giỏi, có tác phong công nghiệp, có tính tổ chức và kỷ luật, có sức khỏe xứng đáng là người có phẩm chất, năng lực tiếp tục kế thừa xây dựng chủ nghĩa xã hội mà các thế hệ cha ông đã dày công vun đắp
Hai là: Thực sự coi giáo dục và đào tạo là quốc sách hàng đầu
Để giáo dục và đào tạo là quốc sách hàng đầu, nghị quyết nhấn mạnh: Nhận thức sâu sắc giáo dục và đào tạo cùng với khoa học và công nghệ là nhân tố quyết định tăng trưởng kinh tế và phát triển xã hội Thực hiện chính sách ưu tiên, ưu đãi đối với giáo dục và đào tạo, đặc biệt là chính sách đầu tư
và chính sách tiền lương Đồng thời cần có các giải pháp mạnh mẽ để phát triển giáo dục
Ba là: Giáo dục và đào tạo là sự nghiệp của toàn Đảng, của nhà nước và của toàn dân
Tất cả mọi người đều đi học, học thường xuyên, học suốt đời và cùng chăm lo cho giáo dục Các cấp ủy và tổ chức Đảng, các cấp chính quyền, đoàn thể nhân dân, các tổ chức kinh tế, gia đình và cá nhân đều có trách nhiệm tích cực góp phần phát triển giáo dục và đào tạo, đóng góp trí tuệ, nhân lực và vật lực cho giáo dục và đào tạo
Bốn là: Phát triển giáo dục và đào tạo gắn liền với nhu cầu phát triển kinh tế xã hội, những tiến bộ khoa học - công nghệ và củng cố quốc phòng,
an ninh
Trang 27Muốn đảm bảo chất lượng phát triển giáo dục, phải coi trọng cả 3 mặt:
Mở rộng quy mô, nâng cao chất lượng và phát huy hiệu quả Thực hiện giáo dục kết hợp với lao động sản xuất, nghiên cứu khoa học, lý luận gắn với thực tiễn, học đi đôi với hành, nhà trường gắn liền với gia đình và xã hội
Năm là: Thực hiện công bằng xã hội trong giáo dục và đào tạo
Đảng ta chủ trương tạo điều kiện cho tất cả mọi người ai cũng được học hành Những người nghèo được nhà nước và cộng đồng giúp đỡ để có khả năng tham gia học tập Những người giỏi cũng được đảm bảo điều kiện cần thiết để phát triển tài năng
Sáu là: Giữ vai trò nòng cốt của các trường công lập đi đôi với đa dạng hóa các loại hình giáo dục và đào tạo
Đảng ta khẳng định: Trường công lập giữ vai trò nòng cốt trong hệ thống các loại hình trường học Đồng thời đa dạng hóa các loại hình giáo dục và đạo tạo trên cơ sở nhà nước thống nhất quản lý về nội dung chương trình, quy chế học, thi cử, văn bằng và tiêu chuẩn giáo viên nhằm tạo cơ hội cho mọi người
có thể lựa chọn cách học phù hợp với nhu cầu và hoàn cảnh của mình
Phát triển các trường bán công, dân lập ở những nơi có điều kiện, từng bước mở rộng các trường tư thục ở một số bậc học như: mầm non, phổ thông trung học, trung học chuyên nghiệp, dạy nghề, đại học Mở rộng các hình thức đào tạo không tập trung, đào tạo từ xa, từng bước hiện đại hóa hình thức giáo dục
Từ việc định ra những quan điểm chỉ đạo, nghị quyết trung ương lần hai (khóa VIII) đã đề ra 4 mục tiêu cần đạt đến năm 2020 như sau:
Thứ nhất: Xây dựng hoàn chỉnh và phát triển bậc học mầm non cho hầu hết trẻ em trong độ tuổi
Thứ hai: Nâng cao chất lượng toàn diện bậc tiểu học Hoàn thành phổ cập giáo dục trung học cơ sở vào năm 2010 và trung học phổ thông vào năm
Trang 282020 Phát triển ở các vùng dân tộc thiểu số và các vùng khó khăn, phấn đấu giảm chênh lệch về phát triển giáo dục giữa các vùng lãnh thổ
Thứ ba: Phát triển đào tạo đại học, trung học chuyên nghiệp, đẩy mạnh đào tạo công nhân làng nghề, đảm bảo có được nhiều nhân tài cho đất nước trong thế kỷ XXI
Thứ tư: Nâng cao chất lượng đảm bảo đủ số lượng giáo viên cho toàn bộ
hệ thống giáo dục Tiêu chuẩn hóa và hiện đại hóa các điều kiện dạy và học Phấn đấu sớm có một số cơ sở đại học và trung học chuyên nghiệp, dạy nghề đạt tiêu chuẩn quốc tế
Để thực hiện những mục tiêu đó, nghị quyết trung ương lần thứ hai (khóa VIII) đã xây dựng 4 giải pháp lớn, đó là:
Trước tiên: Tăng cường các nguồn lực cho giáo dục và đào tạo: ngoài ngân sách nhà nước, tích cực huy động các nguồn lực khác, kể cả sử dụng một phần vốn vay và viện trợ của nước ngoài để xây dựng cơ sở vật chất cho giáo dục và đào tạo Mặt trận tổ quốc Việt Nam, các đoàn thể , các tổ chức xã hội, các cơ sở sản xuất, kinh doanh dịch vụ tích cực góp sức phát triển giáo dục và đào tạo
Hai là: Xây dựng đội ngũ giáo viên, tạo động lực cho người dạy và người học
Ba là: Tiếp tục đổi mới nội dung, phương pháp giáo dục và đào tạo và tăng cường cơ sở vật chất các trường học Từng bước áp dụng các phương pháp tiên tiến và phương diện hiện đại vào quá trình dạy và học
Bốn là: Đổi mới công tác quản lý giáo dục: phải tăng cường công tác dự báo và kế hoạch hóa sự phát triển giáo dục Quy định lại chức năng nhiệm vụ của các cơ quan quản lý giáo dục và đào tạo theo hướng tập trung chức năng quản lý nhà nước, xây dựng, hoàn thiện chính sách, cơ chế về giáo dục và đào tạo, kiểm soát chặt chẽ việc thực hiện chương trình và chất lượng Đổi mới cơ
Trang 29chế quản lý, bồi dưỡng cán bộ, nâng cao năng lực của bộ máy quản lý giáo dục và đào tạo
Như vậy, muốn triển khai thực hiện tốt những giải pháp đó thì cần phải tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với giáo dục và đào tạo Đặc biệt khi bước sang thế kỷ XXI trên thế giới có nhiều biến đổi
Theo nghị quyết của huyện Trấn Yên tỉnh Yên Bái, huyện Trấn Yên đã xác định nhiệm vụ: Giáo dục đào tạo là quốc sách hàng đầu, đầu tư cho giáo dục là đầu tư cho phát triển, sự nghiệp của giáo dục là sự nghiệp của toàn Đảng, toàn dân Mục tiêu cơ bản của giáo dục là nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực và bồi dưỡng nhân tài, tạo nguồn nhân lực có chất lượng cho sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước
Căn cứ nghị quyết Trung ương 2 và từ sự tham mưu của Sở giáo dục và đào tạo tỉnh Yên Bái cùng Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy tỉnh Yên Bái
Đảng bộ huyện Trấn Yên đã có những chủ trương và đề ra những nhiệm
vụ đổi mới giáo dục đào tạo như sau:
- Xây dựng mạng lưới và quy hoạch phát triển sự nghiệp đến năm 2000
và định hướng 2010
- Sắp xếp, củng cố hệ thống giáo dục và đào tạo và mạng lưới các ngành học, bậc học Tổng kết rút kinh nghiệm các hình thức học bán công ở phổ thông Nâng cao toàn diện các trường học, trung tâm giáo dục thường xuyên Tách hết các trường phổ thông liên cấp II - III thành lập thêm các trường trung học phổ thông
- Phải tạo bước chuyển biến rõ rệt về chất lượng giáo dục toàn diện ở tất
cả các bậc học Duy trì thành quả phổ cập giáo dục tiểu học, thực hiện phổ cập tiểu học trong độ tuổi tiến tới đúng độ tuổi Phổ cập giáo dục trung học cơ
sở và trung học phổ thông tăng từ 8 -10%.Huy động tỷ lệ các cháu đến lớp: 14% cháu nhà trẻ, mẫu giáo 3- 4 tuổi 40%, 95% cháu mẫu giáo 5 tuổi
Trang 30- Kiện toàn đội ngũ quản lý giáo dục từ huyện đến cơ sở Hoàn thành việc chuẩn hóa đội ngũ giáo viên và bồi dưỡng trên chuẩn cho 10% giáo viên tiểu học, 20% giáo viên trung học phổ thông, 5% giáo viên tốt nghiệp đại học đạt trình độ thạc sĩ Tăng cường đầu tư cơ sở vật chất để đến năm 2000 có 502
số phòng học trong đó 60% được xây dựng kiên cố và bán kiên cố [23, tr.6] Trên cơ sở các mục tiêu đề, ngành giáo dục đào tạo huyện Trấn Yên (Yên Bái) đã triển khai toàn diện đồng bộ các hoạt động xây dựng bộ máy quản lý giáo dục, khắc phục tình trạng thiếu giáo viên, sớm ổn định sự nghiệp giáo dục đào tạo
Có thể nói những chủ trương giải pháp về đổi mới phát triển giáo dục đào tạo của huyện Trấn Yên (Yên Bái) được coi là sự đổi mới mạnh mẽ trong nhận thức về giáo dục đào tạo của huyện trong giai đoạn 1996 - 2000, đã thể hiện nhận thức đúng đắn tinh thần đổi mới của Đảng bộ huyện Đây là cơ sở
để thực hiện các biện pháp đồng bộ và có tính khả thi nhằm đưa giáo dục và đào tạo của huyện tiếp tục phát triển mạnh mẽ
1.4.2 Đảng bộ huyện Trấn Yên (Yên Bái) lãnh đạo khởi đầu đổi mới giáo dục và đào tạo 1996 - 2000
Trên cở sở chỉ đạo của tỉnh Đảng bộ tỉnh Yên Bái, Đảng bộ huyện Trấn Yên đã thực hiện đổi mới giáo dục đào tạo với những hướng như sau:
- Xây dựng đội ngũ cán bộ và giáo viên
Để đẩy nhanh quá trình thực hiện đổi mới giáo dục đào tạo, Đảng bộ huyện Trấn Yên rất coi trọng công tác xây dựng đội ngũ cán bộ, giáo viên vững mạnh, mà trước hết là xây dựng đội ngũ cán bộ cơ quan Sở Giáo dục và Đào tạo vì đây chính là yếu tố liên quan trực tiếp đến chất lượng dạy và học
Do vậy công tác tổ chức cán bộ được xem là bước đi đầu tiên
- Xây dựng cơ sở vật chất, kỹ thuật đầu tư trang thiết bị trường học
Huyện Trấn Yên là huyện thuần nông nghiệp, đời sống nhân dân còn nhiều khó khăn Trong điều kiện khó khăn chung của huyện, ngành giáo dục
Trang 31đào tạo huyện Trấn Yên bị phân tán, thiếu hụt và mất cân đối Các chỉ số giáo dục ở mức thấp mất cân đối, trong đó điểm nổi bật là cơ sở vật chất kỹ thuật cho trương học còn gặp nhiều khó khăn, một số trường phải học trong phòng tranh, tre… Nhiều phòng học đã hết thời gian sử dụng, hầu hết các trường dạy chay không có trang thiết bị, kinh phí cho hoạt động chuyên môn còn thấp Nhằm xóa bỏ phòng học trang, tre, dột nát, tiến tới xây dựng phòng học đủ trang thiết bị, sở giáo dục đào tạo huyện Trấn Yên đã tích cực, năng động khai thác tối đa nguồn nhân lực, vật lực và tài lực, kết hợp giữa trung ương với địa phương, nhà nước và nhân dân, trong nước và quốc tế với nhiều biện pháp tích cực nhằm đẩy nhanh tốc độ xây dựng cơ sở vật chất, trang thiết bị cho ngành học
- Xây dựng hệ thống trường lớp theo hướng đa dạng
Hệ thống giáo dục đào tạo của huyện chưa hoàn chỉnh, huyện phải xây dựng lại hoặc xây dựng mới toàn bộ hệ thống giáo dục từ huyện đến cơ sở
- Đổi mới công tác quản lý giáo dục
Nhằm nâng cao hơn nữa công tác đổi mới giáo dục đào tạo, công tác quản lý cán bộ giáo viên của huyện Trấn Yên thực hiện một cách toàn diện, theo cấp quản lý Sở giáo dục và đào tạo huyện Trấn Yên đã kiện toàn hồ sơ nắm vững biên chế tổ chức của tất cả các đơn vị giáo dục, xây dựng quy hoạch đào tạo, bồi dưỡng phù hợp với yêu cầu đòi hỏi của hiện tại, đồng thời đánh giá, sử dụng, đề bạt, bố trí đúng cán bộ giáo viên thực hiện tốt nhiệm vụ, xây dựng kỷ cương, nề nếp trường học Công tác thi đua tuyên truyền được triển khia sâu rộng, việc đánh giá, khen thưởng nghiêm minh, dứt điểm các vụ việc, xử lý nghiêm các trường hợp vi phạm quy chế, nguyên tác đồng thời giúp cán bộ, giáo viên thực hiện tốt nhiệm vụ, xây dựng kỷ cương, nề nếp trường học
- Tăng cường chất lượng giáo dục
Trang 32Cùng với việc phát triển và quy mở rộng quy mô giáo dục, huyện Trấn Yên còn có nhiều giải pháp để nâng cao chất lượng giáo dục đào tạo như: Tích cực đào tạo, bồi dưỡng, nâng cao trình độ cho cán bộ, giáo viên, tăng cường công tác giáo dục chính trị tư tưởng, xây dựng kỷ cương, tình thường, trách nhiệm; thường xuyên tổ chức các phong trào thi đua phấn đấu trở thành giáo viên dạy giỏi, học sinh giỏi, động viên khen thưởng kịp thời; tăng cường các thanh tra kiểm tra
Như vậy với những chủ trương của Đảng bộ huyện Trấn Yên trong việc lãnh đạo công tác giáo dục đào tạo trong những năm 1996 - 2000 đã đạt được nhiều những thành tựu và hạn chế
1.5 Thành tựu và hạn chế
1.5.1 Thành tựu
Với những chủ trường chỉ đạo của Đảng bộ huyện Trấn Yên cũng đã mang lại nhiều thành tựu nổi bật Trong báo cáo chính trị của ban chấp hành Đảng bộ huyện Trấn Yên khóa XVII trình đại hội đại biểu Đảng bộ huyện lần thứ XVIII - nhiệm kỳ 2000 - 2005 đã trình bày thành tựu 10 năm và 5 năm thực hiện nghị quyết đại hội VIII của Đảng, nghị quyết đại hội tỉnh lần thứ XIV và nghị quyết đại hội lần thứ XVII Đảng bộ huyện (1996 - 2000) nêu rõ những thành tựu nổi bật sau:
Sự nghiệp giáo dục chuyển biến tích cực theo tinh thần NQTW2 (khóa VIII), ổn định từng bước về số lượng và nâng cao từng bước về chất lượng Học sinh mầm non giữ mức 4.000, học sinh tiểu học giảm từ 1- 1,2 % phù hợp với sự giảm dân số, trung học cơ sở và trung học phổ thông tăng từ 8 - 10% về số lượng và mở rộng mạng lưới trường lớp Giáo dục hướng nghiệp dạy nghề về số lượng và địa bàn hoạt động Tính bình quân 3,5 người dân có
1 người đi học Cơ sở vật chất có 520 phòng học, trong đó 60% là xây dựng kiên cố và bán kiên cố, 11 xã có trường xây 2 tầng Về chất lượng tỷ lệ lên
Trang 33lớp bình quân đạt 95 % - 98%, thi tốt nghiệp đạt 92 -96%, huy động trẻ em đến nhà trẻ 14%, mẫu giáo 3- 4 tuổi 40%, mẫu giáo 5 tuổi đạt 95% Phổ cập giáo dục tiểu học, chống mù chữ được duy trì và đến nay đã phổ cập tiểu học đúng độ tuổi ở 14 xã, phổ cập trung học cơ sở được 6 xã, (bằng 30% số xã vùng 1), đạt mục tiêu đại hội để ra [23,tr.6]
1.5.2 Hạn chế
Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đáng phấn khởi, giáo dục đào tạo huyện Trấn Yên (Yên Bái) còn tồn tại, nhược điểm cần được khắc phục và khẩn trương chỉnh đốn,giải quyết như: Việc phát triển mạnh mẽ, nhanh chóng về số lượng, quy mô nên nguồn lực, kinh phí không đáp ứng kịp Gần 80% kinh phí phải chi trả lương, nên đầu tư xây dựng cơ sở vật chất, trang thiết bị và bồi dưỡng giáo viên nâng cao chất lượng còn eo hẹp và còn nghèo nàn, lạc hậu
Mặt khác, xây dựng đội ngũ cán bộ, giáo viên đã có nhiều cố gắng, xong vẫn trong tình trạng vừa thiếu (nhất là giáo viên các bộ môn tự nhiên), vẫn chưa đáp ứng được nhu cầu nâng cao chất lượng trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa Đời sống tuy đã được cải thiện rõ rệt nhưng giáo viên vùng nông thôn còn nhiều khó khăn Nhà nước chưa có những chính sách thỏa đáng thu hút được những học sinh giỏi vào các trường sư phạm, làm cho thiếu động lực đối với người dạy và người học Nhiều nơi, số trường học, lớp chưa hợp lý nên một số con em không có điều kiện theo bậc trung học phổ thông Công tác quản lý ngành tuy có tiến bộ nhưng một bộ phận cán bộ quản
lý còn hạn chế về năng lực, phẩm chất Kỷ cương, nề nếp ở một số đơn vị, trường học còn lỏng lẻo, yếu kém, đã làm ảnh hưởng đến chất lượng và uy tín của ngành
Nguyên nhân của những khuyết điểm, tồn tại trên có phần do sự phát triển nhanh về quy mô, số lượng, vượt quá khả năng kinh tế cho phép, nhưng
Trang 34căn bản là do sự quan tâm, lãnh đạo chưa cụ thể, sâu sát của cấp ủy Đảng, nhất là ở cơ sở Nhiều nơi vẫn ảnh hưởng tư tưởng thụ động, trông chờ, ỷ lại vào cấp trên, vẫn còn thể hiện bệnh quan liêu qua giấy tờ, nội dung chưa thiết thực, nặng về hình thức Đây thể hiện là sự thiếu đồng bộ trong công tác đổi mới, quản lý cũng như trong việc mở rộng quy mô và chất lượng giáo dục
Tiểu kết chương 1
Với những điều kiện như trên Đảng bộ huyện Trấn Yên đã nhanh chóng tháo gỡ những khó khăn và đưa ra được những chủ trương chỉ đạo đúng đắn trong công tác giáo dục đào tạo từ 1996 - 2000 Sự chủ động của các sở ban ngành trước yêu cầu thực tiễn và phát huy những giá trị truyền thống văn hóa
- giáo dục của huyện để ngày một phát triển giáo dục đào tạo nên một tầm cao mới Quan điểm của Đảng bộ huyện Trấn Yên thể hiện rõ sự đổi mới về tư duy giáo dục, yêu cầu cần đẩy mạng hơn nữa sự nghiệp giáo dục, luôn luôn huy động nguồn vốn đầu tư cho giáo dục vì đầu tư cho giáo dục là đầu tư có lãi Đồng thời củng cố và phát triển giáo dục ở các vùng dân tộc thiểu số và những vùng khó khăn trong huyện như: Kiên Thành, Tân Đồng, Báo Đáp… thực hiện những biện pháp ngăn chặn tình trạng xa sút về giáo dục ở miền núi, coi trọng công tác đào tạo cán bộ cho các vùng dân tộc thiểu số Đổi mới phương pháp dạy học ở tất cả các cấp học, bậc học, kết hợp tốt học với hành, học tập với lao động sản xuất gắn nhà trường với xã hội Áp dụng phương pháp dạy học hiện đại để bồi dưỡng cho học sinh năng lực tư duy sáng tạo, năng lực giải quyết vấn đề, bồi dưỡng cho học sinh có năng khiếu
Trang 35Chương 2 ĐẢNG BỘ HUYỆN TRẤN YÊN LÃNH ĐẠO CÔNG TÁC GIÁO DỤC
ĐÀO TẠO TRONG NHỮNG NĂM 2001 - 2015 2.1 Chủ trương của Đảng bộ huyện Trấn Yên trước yêu cầu đổi mới giáo dục đào tạo
Toàn cầu hóa và hội nhập kinh tế quốc tế là một xu thế khách quan, vừa
là quá trình hợp tác để phát triển, vừa là quá trình đấu tranh của cả nước để bảo vệ lợi ích quốc gia Xu thế toàn cầu hóa nảy làm sinh sự hội nhập của các nền kinh tế quốc gia vào nền kinh tế thế giới, sự ra đời các tổ chức kinh tế Hội nhập văn hóa là xu hướng tất yếu, buộc các quốc gia phải giải quyết mối
Trang 36quan hệ giữa bản sắc dân tộc và sự hội nhập văn hóa, bảo tồn và phát triển những đặc trưng văn hóa dân tộc đồng thời tiếp nhận có chọn lọc nền văn hóa của các quốc gia khác Hệ thống giáo dục có vai trò bảo tồn nền văn hóa dân tộc, tạo cơ sở để giao lưu, hợp tác và duy trì an ninh văn hóa
Với sự phát triển của khoa học kỹ thuật đã làm thay đổi cơ cấu ngành trong nền kinh tế, cơ cấu ngành nghề của nhân lực lao động trong xã hội, đòi hỏi giáo dục và đào tạo điều chỉnh cơ cấu ngành nghề về cơ cấu trình độ đào tạo cho phù hợp với yêu cầu của nền kinh tế Việc thay đổi cơ cấu ngành nghề
và trình độ của nhân lực lao động trong xã hội nảy sinh nhu cầu lớn của người lao động được bồi dưỡng nâng cao trình độ nghề nghiệp và đào tạo để chuyển đổi vị trí làm việc cũng như nghề nghiệp
Nhằm đáp ứng nhu cầu xã hội, các hình thức giáo dục và đào tạo đã tích cực thay đổi theo hướng mở, thành phần giáo dục phi chính quy, theo hướng thường xuyên, suốt đời ngày càng mở rộng và phát triển dễ dàng Công nghệ mới, đặc biệt là công nghệ thông tin, đã góp phần phát triển mạnh phương thức giáo dục từ xa Sự xuất hiện của các ngành công nghiệp mới đặc biệt là công nghiệp thông tin, đã góp phần phát triển mạnh phương thức giáo dục từ
xa Sự xuất hiện các ngành công nghiệp mới, các khu công nghiệp và kinh tế mới đòi hổi phân bố lại một cách thích hợp mạng lưới các trường lớp, kể cả các cơ sở đào tạo chất lượng cao
Phương thức quản lý giáo dục và đào tạo cũng chuyển từ tập trung sang phân cấp thích hợp và mở rộng thành phần quản lý các cơ sở giáo dục và đào tạo không phụ thuộc khu vực nhà nước Nội dung giáo dục đào tạo được cải tiến theo hướng hiện đại Phương pháp đào tạo thay đổi theo hướng đòi hỏi người học ngày càng chủ động tự giác hơn Việc đưa công nghệ thông tin đa phương tiện vào giáo dục và đào tạo đem lại những thay đổi mang tính cách mạng không những trong phương pháp dạy học mà còn trong quản lý hệ thống giáo dục và quản lý chất lượng đào tạo
Trang 37Bối cảnh trên đã tạo nên những thay đổi sâu sắc trong giáo dục, từ quan niệm về chất lượng giáo dục, xây dựng nhân cách người học đến cách tổ chức quá trình và hệ thống giáo dục Nhà trường từ chỗ khép kín chuyển sang mở cửa rộng rãi, đối thoại với xã hội, gắn bó chặt chẽ với nghiên cứu khoa học - công nghệ và ứng dụng, đầu tư cho giáo dục được xem là phúc lợi xã hội nay được xem như đầu tư cho phát triển
Do đó, các quốc gia đều nhận thức được vai trò và vị trí hàng đầu của giáo dục và đã tiến hành đổi mới giáo dục, để đáp ứng nhu cầu của sự phát triển đất nước Đổi mới giáo dục, xây dựng nhân cách người học đến cách tổ chức quá trình và hệ thống giáo dục
2.1.2 Bối cảnh trong nước
Giai đoạn năm 2001 - 2015, tình hình chính trị của đất nước tiếp tục ổn định, sức mạnh đại đoàn kết dân tộc tăng cường, quan hệ quốc tế không ngừng được mở rộng, an ninh quốc phòng được giữ vững, cơ cấu kinh tế có bước chuyển dịch tích cực, nền kinh tế đã bắt đầu lấy lại nhịp độ tăng trưởng tương đối khá, tạo đà phát triển trong những năm tiếp theo Tuy vậy, trình độ phát triển kinh tế ở nước ta còn thấp, chất lượng, hiệu quả và sức cạnh tranh còn kém, quy mô sản xuất còn nhỏ bé, các cân đối nguồn lực còn hạn hẹp, mức thu nhập và tiêu dùng của cư dân thấp, chưa đủ sức bật đổi mới sản xuất
và phát triển trên thị trường Lĩnh vực xã hội tồn tại nhiều vấn đề bức xúc Cải cách hành chính tiến hành còn hạn chế
Bên cạnh đó chúng ta còn đối mặt với những khó khăn, thách thức mới phát sinh như xuất hiện các dịch bệnh, thiên tai và những biến động phức tạp
về thời tiết và khí hậu Trong bối cảnh đó, dưới sự lãnh đạo của Đảng đất nước
đã vượt qua khó khăn, thử thách đạt được những thành tựu đáng khích lệ Chất lượng nguồn nhân lực có bước chuyển biến, khoa học - công nghệ
có bước tiến bộ Đổi mới giáo dục cùng với việc củng cố kết quả xóa mù chữ