1. Trang chủ
  2. » Cao đẳng - Đại học

Một số biện pháp nâng cao chất lượng hoạt động học tập cho trẻ 5 tuổi tại trường Mầm non Tiền Phong A, Mê linh, Hà Nội

75 390 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 75
Dung lượng 2,12 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Để thực hiện tốt nhiệm vụ giáo dục này, các giáo viên mầm non đã tổ chức được các hoạt động học tập một cách phong phú, đa dạng theo độ tuổi khác nhau nhằm phát triển nhận thức cho trẻ n

Trang 1

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Chuyên ngành: Chăm sóc và vệ sinh trẻ em

HÀ NỘI - 2017

Trang 2

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Chuyên ngành: Chăm sóc và vệ sinh trẻ em

Người hướng dẫn:

Th.S PHÍ THỊ BÍCH NGỌC

HÀ NỘI - 2017

Trang 3

`

LỜI CẢM ƠN

Đầu tiên em xin gửi lời cảm ơn sâu sắc đến cô giáo - Th.S Phí Thị Bích Ngọc người đã tận tình hướng dẫn và giúp đỡ em trong suốt quá trình

hoàn thành khóa luận này

Em xin trân thành cảm ơn các thầy cô giáo Khoa GD Mầm non và các thầy cô Khoa Sinh– KTNN đã tạo điều kiện giúp đỡ em trong suốt thời gian học tập và nghiên cứu khoá luận

Em xin cảm ơn Ban giám hiệu nhà trường và các cô giáo trường Mầm non Tiền Phong A luôn tạo điều kiện giúp đỡ em trong thời gian thực tập, hỗ trợ và cung cấp cho em các số liệu quý báu về nhà trường để em hoàn thành được khoá luận này

Đồng thời em xin gửi lời cảm ơn đến giáo viên các trường mầm non Văn Khê, Mê Linh, Hà Nội và trường mầm non Trưng Nhị, Phúc Yên, Vĩnh Phúc đã nhiệt tình cung cấp cho em các số liệu quý báu về đề tài mà em thực hiện

Đây là lần đầu tiên em làm quen với công việc thực tế và nghiên cứu Trong quá trình thực hiện, khóa luận của em không tránh khỏi những thiếu sót Em rất mong nhận được sự giúp đỡ của các thầy cô và các bạn đọc để khóa luận của em được hoàn thiện hơn

Em xin trân thành cảm ơn!

Hà Nội, ngày 20 tháng 4 năm 2017

Sinh viên

LƯU THỊ THU

Trang 4

`

LỜI CAM ĐOAN

Em xin cam đoan đề tài: “MỘT SỐ BIỆN PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG HOẠT ĐỘNG HỌC TẬP CHO TRẺ 5 TUỔI Ở TRƯỜNG MẦM NON TIỀN PHONG A, MÊ LINH, HÀ NỘI” là kết quả nghiên cứu của riêng em dưới sự hướng dẫn của Th.S Phí Thị Bích Ngọc

Các số liệu thu thập trong khóa luận là: trung thực, rõ ràng, chính xác, không trùng lặp và chưa từng được công bố trong bất kì một công trình nghiên cứu nào

Hà Nội, ngày 20 tháng 4 năm 2017

Sinh viên

LƯU THỊ THU

Trang 5

`

MỤC LỤC

PHẦN 1 MỞ ĐẦU 1

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Mục đích nghiên cứu 2

3 Đối tượng và khách thể 2

4 Nhiệm vụ nghiên cứu 2

5 Phương pháp nghiên cứu 2

6 Giả thuyết khoa học 3

PHẦN 2 NỘI DUNG 4

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN 4

1.1 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 4

1.2 Cơ sở lý luận 5

1.2.1 Hoạt động 5

1.2.2 Hoạt động học tập của trẻ ở trường mầm non 7

1.2.3 Đặc điểm tâm lý của trẻ 5 tuổi 13

1.2.4 Đặc điểm sinh lý của trẻ 5 tuổi 20

CHƯƠNG 2 25

KẾT QUẢ ĐIỀU TRA VÀ THỰC NGHIỆM KHOA HỌC 25

2.1 Một vài nét về trường mầm non Tiền Phong A, Mê Linh, Hà Nội 25

Đối tượng điều tra: giáo viên lớp5 tuổi trường mầm non 25

2.2 Thực trạng về cơ sở vật chất và không gian nhà trường 26

2.3 Thực trạng về đội ngũ giáo viên nhà trường 30

2.4 Thực trạng về việc tổ chức hoạt động học tập cho trẻ 5 tuổi ở trường mầm non 32

2.5 Thực trạng về sự phối hợp giữa gia đình và nhà trường 35

2.6 Khó khăn của giáo viên trong quá trình thực hiện hoạt động 39

Trang 6

`

2.7 Thực trạng về việc kiểm tra đánh giá của nhà trường 40

CHƯƠNG 3 43

CÁC BIỆN PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG HOẠT ĐỘNG HỌC CHO TRẺ 5 TUỔI 43

3.1 Một số nguyên tắc xây dựng biện pháp 43

3.2 Một số biện pháp 43

3.3 Áp dụng các biện pháp đưa ra tại trường mầm non Tiền Phong 44

3.4 Kết quả thu được sau khi thực nghiệm 51

PHẦN 3: KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 53

TÀI LIỆU THAM KHẢO 55

Trang 7

`

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 1: Kết quả nhận định của giáo viên về cơ sở vật chất 29

nhà trường 29

Bảng 2: Nhận thức của giáo viên về việc tổ chức hoạt động học tập cho trẻ mầm non 31

Bảng 3: Nhận thức của giáo viên về vai trò và ý nghĩa của hoạt động học tập đối với sự phát triển của trẻ 32

Bảng 4: Hình thức tổ chức hoạt động học tập cho trẻ 33

Bảng 5: Phương pháp sử dụng khi tổ chức hoạt động học 34

Bảng 6: Tình hình phối hợp giữa gia đình và nhà trường 36

Bảng 7: Hình thức trao đổi giữa giáo viên, nhà trường với phụ huynh về tình hình học tập của trẻ tại trường mầm non 38

Bảng 8: Những khó khăn mà giáo viên gặp phải khi tổ chức 39

hoạt động học cho trẻ 39

Bảng 9: Công tác thanh tra, kiểm tra của nhà trường 42

Trang 8

`

DANH MỤC CÁC HÌNH

Hình 1: Một giờ hoạt động ngoại khóa của trẻ 27

Hình 2: Khu nhà vòm nơi vui chơi, hoạt động ngoài trời và tổ chức các chương trình lễ hội cho cô và trẻ 27

Hình 3: Phòng học thoáng mát, đủ ảnh sáng tuy nhiên số lượng trẻ đông nên vẫn còn bị hạn chế về không gian 28

Hình 4: Trước giờ học thể dục giao lưu giữa hai lớp 45

Hình 5: Trẻ được tham gia vào các bài tập vận động đã được giới thiệu 46

Hình 6: Trẻ được đổi sân chơi giữa các lớp, dưới sự hướng dẫn của giáo viên 46

Hình 7: Một góc tạo hình, phục vụ cho tiết học vẽ của trẻ 48

Hình 8: Trẻ tích cực, hứng thú tham gia hoạt động tạo hình và tạo ra những sản phẩm rất đẹp 48

Hình 9: Sắp xếp, bố trí lại góc học tập với những đồ dùng phong phú, 48

đa dạng để trẻ thỏa sức học 48

Hình 10: Trò chơi học tập những con số vui nhộn, xâu vòng đủ số lượng, ghép tranh, ghép chữ 49

Hình 11: Mô hình nông trại vui vẻ, các loại rau củ thật và 50

hộp quà bí mật 50

Hình 12: Lớp học với số lượng trẻ ít hơn thường ngày 51

Trang 9

PHẦN 1 MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Sinh thời Chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng nói: “làm mẫu giáo tức là thay

mẹ dạy trẻ, dạy trẻ cũng như trồng cây non, trồng cây non tốt thì sau này cây lớn lên tốt, dạy trẻ tốt thì sau này các cháu thành người tốt” Ngoài ra Rabelais có câu danh ngôn: “một đứa bé không phải là một chiếc lọ hoa để đổ cho đầy mà là một ngọn lửa cần được thắp sáng” Qua đó ta thấy giáo dục mầm non, trẻ mầm non từ xa xưa đã được chú ý và có tầm quan trọng rất lớn trong xã hội Có thể coi giáo dục mầm non là một mắt xích đầu tiên của hệ thống giáo dục quốc dân, nó đặt nền móng cho sự phát triển về thể chất, nhận thức, tình cảm xã hội và cả thẩm mĩ cho trẻ sau này Bên cạnh đó với những đặc điểm phát triển của trẻ mầm non cùng với vai trò quan trọng trong việc giáo dục trẻ nên giáo dục mầm non có những nhiệm vụ mà không một bậc học nào có được đó là thực hiện đồng thời 3 nhiệm vụ: nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục Đặc biệt nhiệm vụ giáo dục là nhiệm vụ rất quan trọng quyết định phần lớn đến sự phát triển sau này của trẻ Để thực hiện tốt nhiệm vụ giáo dục này, các giáo viên mầm non đã tổ chức được các hoạt động học tập một cách phong phú, đa dạng theo độ tuổi khác nhau nhằm phát triển nhận thức cho trẻ nói chung và chuẩn bị tâm lý vững vàng, tự tin khi bước vào lớp 1 cho trẻ nói riêng

Đã có rất nhiều các công trình nghiên cứu cũng như các chủ trương chính sách của nhà nước để nhằm phát triển giáo dục mầm non nói chung và phát triển nhận thức của trẻ nói riêng như: chủ trương QĐ 161 của thủ tướng chính phủ, đề án phát triển mầm non 2006-2015 và mới đây là công bố thực hiện chương trình giáo dục mầm non của Bộ giáo dục và đào tạo.Tuy nhiên việc tổ chức các hoạt động học tập nhằm phát triển nhận thức cho trẻ mầm non nhiều khi còn gặp những hạn chế và khó khăn

Trang 10

Nhận thức được vấn đề đó tôi đã mạnh dạn lựa chọn đề tài: Một số biện

pháp nâng cao chất lượng hoạt động học tập cho trẻ 5 tuổi tại trường Mầm non Tiền Phong A, Mê linh, Hà Nội nơi tôi thực tập để đưa ra các biện pháp

khắc phục thực trạng và nâng cao chất lượng hoạt động học tập cho trẻ nói riêng cũng như nâng cao chất lượng giáo dục mầm non nói chung

Khách thể: Quá trình giáo dục cho trẻ mầm non

4 Nhiệm vụ nghiên cứu

- Nghiên cứu cơ sở lý luận của việc tổ chức hoạt động học tập cho trẻ

- Nghiên cứu thực trạng của việc tổ chức hoạt động học tập cho trẻ tại trường mầm non Tiền Phong

- Giải pháp để nâng cao chất lượng của hoạt động học cho trẻ 5 tuổi

- Thực nghiệm một số biện pháp và đánh giá tính khả thi

5 Phương pháp nghiên cứu

Để hoàn thành đề tài nghiên cứu, tôi có sử dụng một số phương pháp sau:

Phương pháp nghiên cứu lý luận: một số tài liệu liên quan nhằm mục đích xây dựng cơ sở lý luận cho đề tài

Phương pháp điều tra: thông qua các phiếu điều tra về tình hình tổ chức các hoạt động học tập của giáo viên cho trẻ 5 tuổi, cùng với tình hình nhận thức của trẻ về hoạt động học tập

Phương pháp quan sát: tìm hiểu thực trạng của vấn đề

Trang 11

Phương pháp thống kê, xử lý số liệu

6 Giả thuyết khoa học

Nếu đề xuất được biện pháp, hình thức tổ chức hoạt động học cho trẻ mầm non phù hợp với lứa tuổi, phát huy tối đa sự tích cực sáng tạo cũng như

sự hứng thú của trẻ thì sẽ góp phần nâng cao nhận thức cho trẻ mầm non nói riêng và giúp trẻ phát triển toàn diện

Trang 12

PHẦN 2 NỘI DUNG CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN 1.1 Lịch sử nghiên cứu vấn đề

Việc nâng cao chất lượng hoạt động học tập cho trẻ tại trường mầm non không phải là một vấn đề mới, từ xa xưa các nhà sư phạm tiền bối đã cũng từng nhắc đến tầm quan trọng to lớn của việc nâng cao chất hượng hoạt động học tập và ngày nay các nhà sư phạm cũng không ngừng nghiên cứu và tìm kiếm ra các biện pháp hiệu quả nhằm nâng cao chất lượng của trẻ mầm non nói chung và chất lượng hoạt động học của trẻ mầm non nói riêng Ngoài ra còn có một kho tàng những sáng kiến kinh nghiệm rất đặc sắc, quý báu và có giá trị về hoạt động học cho trẻ mầm non Đặc biệt có thể kể đến một số nghiên cứu đáng chú ý như:

Một số biện pháp chỉ đạo thực hiện hoạt động nhằm nâng cao chất lượng chăm sóc và giáo dục trẻ tại trường mầm non Trung Mầu.[9]

Thực trạng vận dụng phương pháp dạy học vào giải quyết vấn đề của hoạt động dạy học cho trẻ 5-6 tuổi ở trường mầm non thành phố Vũng Tàu.[5]

A X Macarenco, nhà giáo dục nổi niếng về trẻ hư của Xô Viết đã nhấn mạnh việc cải tạo nhân cách trẻ hư: “Ý nghĩa quyết định là hoạt động tích cực của bản thân các em, hoạt động học tập và lao động, trong đó các em tự tạo ra

và ngày càng hoàn thiện hơn hoàn cảnh sống của mình”

Tổ chức trò chơi học tập nhằm hình thành biểu tường về hình khối cho trẻ 5-6 tuổi.[3]

Một số quy định về chính sách phát triển giáo dục mầm non giai đoạn 2011-2015

Tuy nhiên để tìm ra một công trình nghiên cứu chỉ nhắc đến vấn đề các biện pháp để nâng cao chất lượng hoạt động học tập của trẻ mầm non nói chung thì rất hiếm và đặc biệt hơn nữa là nghiên cứu để đưa ra biện pháp nâng cao chất lượng hoạt động học cho trẻ mầm non nói chung lại càng khó

Trang 13

hơn Các công trình trên mặc dù đóng góp nhiều ý kiến rất thiết thực cho nghành giáo dục nhưng cũng chưa đề cập nhiều đến chất lượng hoạt động học của trẻ mầm non Vì vậy cần phải đi sâu vào nghiên cứu vấn đề này nhằm đưa

ra những biện pháp cụ thể đóng góp cho sự phát triển giáo dục đăc biệt là giáo

b) Các dạng hoạt động giáo dục mầm non

- Hoạt động vui chơi: là dạng hoạt động không mang tính bắt buộc, trẻ

tham gia nhiệt tình do chính sự hấp dẫn của trò chơi Đối với trẻ, trò chơi là một dạng hoạt động mang tính tự lập Trẻ có thể chơi với các loại trò chơi cơ bản sau: trò chơi đóng vai theo chủ đề, trò chơi ghép hình, trò chơi lắp ráp, trò chơi xây dựng, trò chơi đóng kịch, trò chơi học tập, trò chơi vận động, trò chơi dân gian, trò chơi với phương tiện công nghệ hiện đại.[5]

- Hoạt động học tập: được tổ chức có chủ định theo kế hoạch dưới sự

hướng dẫn trực tiếp của giáo viên Hoạt động học ở mẫu giáo được tổ chức chủ yếu dưới hình thức chơi Hoạt động học tập là dạng hoạt động chủ đạo của học sinh phổ thông, và chỉ đến tuổi phổ thông dạng hoạt động này mới phát triển tới mức hoàn chỉnh, còn ở tuổi mẫu giáo, hoạt động học tập đang ở thời kì phôi thai Ở tuổi mẫu giáo, hoạt động học tập chưa được hình thành đầy đủ Nhưng trong nhiều hoạt động, đặc biệt là hoạt động vui chơi, ở trẻ mẫu giáo đã xuất hiện những yếu tố của hoạt động học tập.Trong cuộc sống hàng ngày trẻ đã tiếp thu một lượng tri thức đáng kể về thế giới xung quanh

Trang 14

do trẻ trực tiếp nhìn thấy, nghe thấy và sờ thấy hoặc do người lớn kể lại… Từ

đó thế giới biểu tượng của trẻ cũng phong phú dần lên và làm nảy sinh tính ham hiểu biết, hứng thú nhận thức, muốn khám phá những điều mới lạ Nhưng lòng ham hiểu biết của trẻ mẫu giáo vẫn chưa đủ để đảm bảo thái độ sẵn sàng học tập, tiếp thu tri thức một cách có hệ thống trong các môn học

Để hình thành những hứng thú bền vững và nảy sinh những kĩ năng trí tuệ chuẩn bị cho trẻ vào trường phổ thông? Người ta đã dạy cho trẻ trong các hình thức tổ chức đặc biệt gọi là “tiết học” Trong “tiết học” người ta dạy cho trẻ những tri thức, kĩ năng tương đối có hệ thống về các lĩnh vực của đời sống

tự nhiên và xã hội xung quanh trẻ theo một chương trình nhất định Việc dạy học trong các tiết học có một ý nghĩa quan trọng đối với việc làm nảy sinh các yếu tố của hoạt động học tập ở trẻ mẫu giáo.[5]

- Hoạt động lao động: hoạt động lao động đối với lứa tuổi mẫu giáo

không nhằm tạo ra sản phẩm vật chất mà được sử dụng như một phương tiện giáo dục Hoạt động lao động đối với trẻ mẫu giáo gồm: lao động tự phục vụ, lao động trực nhật, lao động tập thể

- Hoạt động ăn, ngủ, vệ sinh cá nhân: đây là các hoạt động nhằm hình

thành một nề nếp, thói quen trong sinh hoạt, đáp ứng nhu cầu sinh lý của trẻ, tạo cho trẻ trạng thái thoải mái, vui vẻ [5]

Các hoạt động ở trên là các dạng hoạt động cơ bản của con người, trong

đó nó thể hiện các trình độ phát triển theo bậc thang khác nhau của một đời người Lúc đầu trẻ mới biết vui chơi, sau đó là học tập và cuối cùng là lao động Hoạt động vui chơi đóng vai trò chủ đạo trong sự phát triển tâm lý của trẻ mầm non Bên cạnh hoạt động vui chơi, cần tổ chức cho trẻ tham gia vào các hoạt động khác như học tập và lao động phù hợp với các em, đặc biệt là nên chú trọng tổ chức hoạt động học tập cho trẻ cho hợp lý để có thể giúp trẻ phát triển về nhận thức một cách tốt nhất

c) Vai trò của hoạt động

Trang 15

Hoạt động đóng vai trò quyết định đến sự hình thành và phát triển tâm

lý và nhân cách cá nhân thông qua hai quá trình:

- Quá trình đối tượng hóa: chủ thể chuyển năng lực và phẩm chất tâm

lý của mình tạo thành sản phẩm Từ đó, tâm lý con người được bộc lộ, khách quan hóa trong quá trình tạo ra sản phẩm, hay còn gọi là quá trình xuất tâm

- Quá trình chủ thể hóa: thông qua các hoạt động đó, con người, tiếp

thu lấy tri thức, đúc rút được kinh nghiệm nhờ quá trình tác động vào đối tượng, hay còn được gọi là quá trình nhập tâm

Do vậy, hoạt động quyết định đến sự hình thành và phát triển tâm lý, nhân cách cá nhân Sự hình thành và phát triển tâm lý, nhân cách cá nhân phụ thuộc vào hoạt động chủ đạo của từng thời kì

1.2.2 Hoạt động học tập của trẻ ở trường mầm non

a) Khái niệm

Hoạt động học tập của trẻ mầm non là hoạt động độc lập của trẻ nhằm lĩnh hội tri thức, kĩ năng, kĩ xảo và phương thức hoạt động, diễn ra dưới sự hướng dẫn của giáo viên

b) Quy trình hoạt động học tập của trẻ

Nếu khoa học được coi là quá trình tìm kiếm tri thức thì con đường học tập là quá trình dẫn dắt người học tìm kiếm tri thức và giúp họ tích lũy tri thức Quy trình học phải dựa trên đặc điểm của từng giai đoạn phát triển để tìm ra các hoạt động của người học ở giai đoạn đó và giáo viên phải điều chỉnh vai trò của mình, sử dụng các biện pháp thích hợp để thực hiện quá trình tương ứng Quy trình học tập của trẻ bao gồm các giai đoạn chính sau đây:

- Giai đoạn khảo sát: đây là giai đoạn đầu tiên của quá trình nhận thức

Việc khảo sát đối tượng diễn ra nhờ sử dụng các giác quan, các bộ phận cơ thể Từ đó giúp trẻ có những tri thức đầu tiên về đặc điểm đối tượng

Trang 16

- Giai đoạn hình thành khái niệm: để có biểu tượng, khái niệm về sự

vật hiện tượng trẻ cần biết dựa trên kết quả quan sát mà so sánh, đối chiếu và phân loại đặc điểm đối tượng Nhờ đó tri thức của trẻ về đối tượng ngày càng trở nên đầy đủ, chính xác, được hệ thống hóa, khái quát hóa Để giúp trẻ có được những biểu tượng, khái niệm đúng và đầy đủ về đối tượng cần giúp đỡ trẻ bằng cách: quan sát trẻ hoạt động đôi khi đưa ra những hướng dẫn trực tiếp dựa trên việc trao đổi, đàm thoại với trẻ về những thông tin đã có và giúp trẻ ghi nhận các thông tin Giáo viên có thể sử dụng in ấn, phim ảnh, các nguồn thông tin khác nhau kết hợp giải thích để làm chính xác và bổ sung thêm những điều trẻ tự khám phá

- Giai đoạn ứng dụng: việc lưu giữ thông tin chỉ được đảm bảo trong

điều kiện nếu trẻ biết vận dụng các tri thức về đối tượng trong các hoạt động của chúng Do vậy giáo viên nên tạo cơ hội cho trẻ sử dụng các tri thức đã có trong các hoạt động hấp dẫn và phù hợp với trẻ Trong quá trình tổ chức các hoạt động nhằm củng cố tri thức cho trẻ nên giúp trẻ kết nối những ý tưởng cũ

và mới, đưa ra những tình huống mới và tự giải quyết dựa trên những kiến thức đã được tiếp thu ở giai đoạn đầu

- Như vậy, việc lĩnh hội một đơn vị tri thức nào đó đều được bắt đầu bằng sự khảo sát đối tượng và kết thúc bằng việc ứng dụng tri thức thu được

về đối tượng vào một hoạt động thực tiễn Quy trình học tập (lĩnh hội tri thức)

ở trẻ diễn ra với mức độ, thời gian khác nhau ở mỗi giai đoạn Nó phụ thuộc vào đặc điểm lứa tuổi, những kinh nghiệm đã có ở trẻ, hứng thú, nhận thức và khả năng riêng của từng trẻ Ngoài ra nó còn phụ thuộc vào khả năng của người lớn khi dẫn dắt, điều khiển hoạt động tìm hiểu và tích lũy tri thức, vào việc họ đã sử dụng biện pháp nào để giúp trẻ hứng thú hơn trong việc tham gia hoạt động củng cố tri thức đã lĩnh hội được [6]

c) Các hình thức học tập (lĩnh hội tri thức) ở trẻ mầm non

Trang 17

Trẻ lĩnh hội tri thức thông qua hoạt động khám phá thế giới xung quanh, việc lĩnh hội tri thức của trẻ diễn ra dưới nhiều hình thức khác nhau, với các mức độ khác nhau phụ thuộc vào tính tích cực của bản thân trẻ, của môi trường hoạt động, của kinh nghiệm và của phương pháp giáo dục của người lớn xung quanh chúng Trên thực tế có các hình thức học tập, lĩnh hội tri thức sau đây của trẻ:

- Thứ nhất: trẻ học tập một cách tự nhiên Đây là kiểu học do trẻ tự

khởi xướng, là cách học chính trong giai đoạn giác động, nhưng nó luôn cần thiết và quan trọng đối với trẻ ở các lứa tuổi Để giúp trẻ có thể dễ dàng lĩnh hội tri thức, cần có sự chuẩn bị điều kiện hoạt động cho trẻ về phía người lớn như: tạo môi trường hấp dẫn phong phú cho trẻ hoạt động như có nhiều đồ vật cho trẻ cầm, nắm, nghe, sờ, ngửi Quan sát hành động của trẻ để theo dõi sự phát triển của chúng, quan tâm khuyến khích hoặc giúp trẻ hoạt động, hợp tác

và tích cực khen ngợi trẻ để tạo động lực cho trẻ hoạt động

- Thứ hai: trẻ học thông qua tình huống thực tiễn Đây là cách học do

người lớn khới xướng, khi trẻ đang ở giai đoạn hoạt động tự phát và không phải là hoạt động có sự chuẩn bị trước Nó xảy ra khi người lớn thấy cần giúp trẻ dựa trên kinh nghiệm hay sự linh cảm của họ trong những hoàn cảnh cụ thể.Trong những tình huống đó người lớn giúp trẻ học được bằng cách làm rõ các vấn đề nhận thức, khuyến khích, gợi ý trẻ tự giải quyết vấn đề

- Thứ ba: trẻ lĩnh hội tri thức thông qua hoạt động học có tổ chức Đây

là hoạt động được lập kế hoạch trước Nó được thực hiện với tập thể lớp, nhóm, cá nhân vào các thời điểm nhất định, được tiến hành theo trình tự nhất định, theo quy trình học

Như vậy, có thể thấy rằng quá trình học của trẻ diễn ra với các giai đoạn khác nhau Hiệu quả của việc học của trẻ phụ thuộc vào mức độ tích cực của trẻ trong việc tự khám phá môi trường do người lớn đã tạo ra cho chúng

Trang 18

trong việc hưởng ứng và tiếp nhận tri thức thông qua các tình huống thực tiễn

và các hoạt động học do người lớn đã lập kế hoạch từ trước.[6]

d) Yêu cầu khi tổ chức hoạt động học tập cho trẻ mầm non

Mức độ học: để hoạt động học có hiệu quả, cần làm cho nội dung dạy

học tương ứng với mức độ phát triển của các chức năng sinh lý trong cơ thể Dạy học phải nhằm đạt được hai mục đích: bảo vệ cơ thể và phát triển cơ thể

Do vậy cần xác định nội dung, phương pháp dạy học ở mức độ phù hợp với trẻ giúp chúng có thể giải quyết những nhiệm vụ học tập khi có nỗ lực, cố gắng nhất định [4]

Thời gian học: dựa vào lý thuyết về sự “tự điều khiển” cơ thể của hai

nhà sinh lý học người Nga: Sechenov và Palov để xác định thời gian học hợp

lý cho trẻ Qua quan sát những thay đổi về trạng thái, chức năng sinh lý của

cơ thể trẻ trên giờ học, các nhà khoa học đã xác định được thời gian tối thiểu dành cho các giai đoạn: thích ứng, hưng phấn tối ưu, mệt mỏi trong giờ học Đối với trẻ 5-6 tuổi thì các giai đoạn đó cụ thể như sau: giai đoạn thích ứng: giờ thứ nhất là gần 6 phút, giờ thứ hai là gần 5 phút Trong đó, 80% các trường hợp kéo dài từ 2-7 phút Giai đoạn hưng phấn tối ưu: giờ thứ nhất 17-

18 phút, giờ thứ 2 từ 16-17 phút Giai đoạn bắt đầu mệt mỏi: kéo dài 5-7 phút

Sự phân bố thời gian tối thiểu dành cho các giai đoạn trên phụ thuộc vào đặc điểm giờ học động hay tĩnh, đòi hỏi sự tập trung về trí tuệ hay thể chất Cần

sự tham gia của một hay nhiều giác quan.[4]

Thời điểm học: có hai cao điểm tăng cường khả năng làm việc của con

người trong ngày tương ứng với thời gian tăng cường các chức năng sinh lý trong cơ thể Cao điểm thứ nhất là 8h-12h; cao điểm thứ hai là từ 14h-18h Trong đó, khả năng làm việc ở cao điểm thứ nhất cao hơn cao điểm thứ hai

Về không khí: thành phần không khí trong phòng học ảnh hưởng đến

khả năng hoạt động của trẻ Bên cạnh đó, trẻ rất hay nhạy cảm với các thành phần như: nhiệt độ, độ ẩm, chuyển động của không khí Do vậy, không khí

Trang 19

trong phòng học của trẻ cần đảm bảo các thông số như: nhiệt độ thích hợp là 18-20 độ C, độ ẩm trung bình là 40-60% Các yếu tố có ảnh hưởng đến khí hậu trong phòng như việc bố trí bề mặt kính, sự thông thoáng khí, số lượng trẻ, điều kiện vệ sinh cũng cần phải đảm bảo

Về ánh sáng: ánh sáng có ảnh hưởng đến sức khỏe và khả năng làm

việc của cơ thể Đồng thời việc học có liên quan đến sự căng thẳng của mắt nên cần đảm bảo độ sáng tối thiểu trong phòng học Độ sáng tối ưu giúp cơ quan thị giác làm việc có hiệu quả là: cường độ ánh sáng phải đạt tới giới hạn

800 lux-1200 lux Độ sáng này chỉ đạt được trong điều kiện hệ số ánh sáng tự nhiên là 2,5 - 5% Yêu cầu cơ bản về ánh sáng là đều, cần bổ sung thêm ánh sáng nhân tạo nếu không đủ ánh sáng tự nhiên Có thể dùng hai loại bóng đèn: bóng tròn và bóng tuýp Có đủ độ phản chiếu của tia sáng Độ phản chiếu tia sáng ở trong phòng còn phụ thuộc vào chất lượng kính, vấn đề vệ sinh màu sắc của nền, tường, trần nhà và các trang thiết bị trong phòng

Về tư thế ngồi: có ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động của trẻ Sự căng

thẳng của các cơ khi ngồi sẽ được giảm bớt nếu tạo ra được sự cân bằng trong việc phân phối đều sự căng cơ Và đặc biệt để trẻ có tư thế ngồi đúng thì cần chọn bàn ghế phù hợp với chiều cao cơ thể của trẻ Bên cạnh đó, để trẻ có một

tư thế ngồi đúng, thoải mái thì cự ly ngồi cũng có ý nghĩa to lớn

Về đồ dùng trực quan: các tài liệu được sử dụng trong tiết học cần rõ

ràng, tự nhiên đến từng chi tiết thể hiện trên đó, có thể nhìn ở khoảng cách dưới 8m mà không cần đến sự điều tiết quá mức của mắt, kích thước tranh ảnh dùng cho trẻ quan sát là 32cm*21cm Thời gian giải thích của giáo viên không được quá dài so với khả năng của từng lứa tuổi Chú ý dạy trẻ cách cầm bút sao cho đúng Trong giờ nặn, trẻ cần sử dụng các vật liệu dẻo, mềm như đất sét Mỗi trẻ có một bảng riêng để nhào nặn đất, không để trẻ nhào nặn đất trên các đồ vật xung quanh Trong giờ lắp ghép, giáo viên dạy trẻ cách sử dụng kéo và các đồ dùng liên quan, chú ý đảm bảo an toàn cho trẻ [4]

Trang 20

e) Mục tiêu của việc tổ chức chế độ học cho trẻ 5 tuổi ở trường mầm non

Tổ chức chế độ học tập cho trẻ 5 tuổi ở trường mầm non nhằm giúp trẻ phát triển hài hòa về các mặt: thể chất, nhận thức, ngôn ngữ, tình cảm, kĩ năng

xã hội, thẩm mĩ và chuẩn bị cho trẻ vào học ở tiểu học

- Phát triển thể chất:

+ Khỏe mạnh, cân nặng, chiều cao phát triển theo độ tuổi

+ Thực hiện được các vận động cơ bản một cách vững vàng, đúng tư thế

+ Có khả năng phối hợp nhịp nhàng các giác quan và vận động nhịp nhàng, biết định hướng trong không gian

+ Có kĩ năng trong một số hoạt động cần sự khéo léo của đôi tay

+ Có một số hiểu biết về thực phẩm và lợi ích của việc ăn uống đối với sức khỏe

+ Có một số thói quen tốt trong ăn uống, giữ gìn sức khỏe và đảm bảo

sự an toàn của bản thân

Trang 21

+ Diễn đạt rõ ràng và giao tiếp có văn hóa trong đời sống hàng ngày + Có khả năng nghe và kể lại sự việc, kể lại truyện

+ Có khả năng cảm nhận vần điệu, nhip điệu của bài thơ, ca dao, đồng dao phù hợp với độ tuổi

+ Có một số kĩ năng ban đầu về đọc và viết

- Phát triển tình cảm và kĩ năng xã hội:

+ Có khả năng nhận biết và thể hiện tình cảm với người, sự vật, hiện tượng xung quanh

+ Yêu thích, hào hứng tham gia các hoạt động nghệ thuật

f) Nội dung tổ chức hoạt động học tập cho trẻ[1]

- Giáo dục phát triển thể chất

- Giáo dục phát triển nhận thức

- Giáo dục phát triển ngôn ngữ

- Giáo dục phát triển tình cảm, kĩ năng xã hội

- Giáo dục phát triển thẩm mĩ

1.2.3 Đặc điểm tâm lý của trẻ 5 tuổi

a) Phát triển ngôn ngữ: sự thành thạo tiếng mẹ đẻ trong sinh hoạt hàng ngày

Trang 22

- Một trong những thành tựu lớn lao nhất của giáo dục mầm non là làm cho trẻ sử dụng được một cách thành thạo tiếng mẹ đẻ trong đời sống hàng ngày Tiếng mẹ đẻ là phương tiện quan trọng nhất để lĩnh hội nền văn hóa dân tộc, để giao lưu với những người xung quanh, để tư duy, để tiếp thu khoa học,

- Sự hoàn thiện tiếng mẹ đẻ ở mẫu giáo lớn theo các hướng sau:

+ Nắm vững ngữ âm và ngữ điệu khi sử dụng tiếng mẹ đẻ

+ Phát triển vốn từ và cơ cấu ngữ pháp

+ Sự phát triển ngôn ngữ mạch lạc

+ Nhìn chung đứa trẻ trước khi bước vào tuổi học sinh đã có khả năng nắm được ý nghĩa của từ vựng thông dụng, phát âm đúng sự phát âm của người lớn, biết dùng ngữ điệu phù hợp với hoàn cảnh giao tiếp và đặc biệt là nói đúng hệ thống ngữ pháp phức tạp bao gồm những quy luật ngôn ngữ tinh vi nhất về phương diện cú pháp, phương diện tu từ, nói năng mạch lạc, thoải mái Tóm lại, trẻ đã thực sự nắm được tiếng mẹ đẻ.[7]

b) Sự phát triển quá trình nhận thức: xuất hiện kiểu tư duy trực quan hình tượng mới

- Đó là kiểu tư duy trực quan sơ đồ Kiểu tư duy này tạo cho trẻ một khả năng phản ánh những mối liên hệ tồn tại khách quan, không bị phụ thuộc vào hành động hay ý muốn chủ quan của bản thân đứa trẻ

- Trẻ ở tuổi mẫu giáo lớn có khả năng hiểu dễ dàng và nhanh chóng về cách biểu diễn sơ đồ và sử dụng kết quả của sơ đồ đó để tìm hiểu sự vật

Trang 23

- Tư duy trực quan sơ đồ giúp trẻ một cách có hiệu lực để lĩnh hội những tri thức ở trình độ khái quát cao, từ đó mà hiểu đươc bản chất của sự vật

- Tư duy trực quan sơ đồ phát triển cao sẽ giúp đứa trẻ đến ngưỡng của

tư duy trừu tượng, sẽ giúp cho đứa trẻ hiểu được những biểu diễn sơ đồ khái quát mà sau này sự hình thành khái niệm sẽ được tiến hành chủ yếu dựa trên

đó Kiểu tư duy logic sẽ được hình thành và phát triển mạnh ở tuổi học sinh, nhưng yếu tố của nó đã được xuất hiện ngay khi ở tuổi mẫu giáo, đặc biệt là tuổi mẫu giáo lớn Khi trẻ biết sử dụng khá thành thạo các vật thay thế, khi đã phát triển tốt chức năng kí hiệu của ý thức

- Ở tuổi mẫu giáo đang diễn ra một quá trình chuyển tiếp, từ chỗ trẻ chỉ biết những sự vật cụ thể sang sử dụng những chuẩn cảm giác phổ biến là kết quả của sự khái quát hóa những kinh nghiệm cảm tính của bản thân Chuẩn cảm giác là những biểu tượng do loài người xây dựng những dạng cơ bản của mỗi loại thuộc tính và quan hệ như về màu sắc, hình dạng, độ lớn của các vật,

vị trí của chúng trong không gian, độ cao của các âm, độ dài các khoảng thời gian Cuối độ tuổi mẫu giáo, trẻ lĩnh hội được các chuẩn Nhờ đó trẻ em tách biệt được trong số các biến dạng muôn màu muôn vẻ những dạng cơ bản của các thuộc tính được dùng làm chuẩn và bắt đầu biết so sánh thuộc tính của sự vật vô cùng đa dạng xung quanh các chuẩn đó Chính những biến đổi về chất của những tài liệu cảm tình như thế cho phép hoạt động tư duy của trẻ chuyển dần sang một giai đoạn phát triển cao hơn

- Quá trình dạy dỗ đó, có thể vận dụng một cách khái quát qua các lý thuyết về các giai đoạn hình thành thao tác trí tuệ của P Ia Ganperin Để hình thành một khái niệm khoa học nào đó (đối với trẻ mẫu giáo là tiền khái niệm) chúng ta có thể hướng dẫn trẻ em theo các bước sau đây:

+ Thực hiện các hành động vật chất với các đối tượng cần tìm hiểu + Thực hiện các hành động với mô hình hay sơ đồ của đối tượng

Trang 24

+ Nói to lên về trình tự và nội dung các hành động đã tiến hành

- Như chúng ta đã biết, trong suốt tuổi mẫu giáo kể cả giai đoạn cuối cùng (độ tuổi mẫu giáo lớn) hoạt động tâm lý của trẻ đặc biệt nhạy cảm với những hình tượng cụ thể sinh động về các sự vật và hiện tượng của hiện thực,

và tiếp thu những tri thức được biểu hiện dưới dạng trực quan- hình tượng là

dễ dàng hơn hết Do đó chủ trương tăng nhanh và quá mức tốc độ để nắm các hình thức tư duy logic ở lứa tuổi này là không hợp lý

- Các biểu tượng vốn có ở trẻ không thể tự nhiên biến thành khái niệm, chúng chỉ có thể được sử dụng khi hình thành khái niệm Còn bản thân khái niệm và những hình thức tư duy trửu tượng, tư duy bằng khái niệm sẽ hình thành được qua quá trình lĩnh hội tri thức khoa học thông qua hoạt động học tập ở trường phổ thông.[7]

c) Sự phát triển ý thức bản ngã và tính chủ định trong hoạt động tâm lý

- Tiền đề của ý thức bản ngã là việc tách mình ra khỏi người khác, đã được hình thành ở cuối tuổi ấu nhi Tuy nhiên phải trải qua một quá trình phát triển, ý thức bản ngã của trẻ mới được xác định rõ ràng.Khi mới bước vào tuổi mẫu giáo, đứa trẻ chưa hiểu biết gì mấy về bản thân mình và những phẩm chất của mình Nhưng đến cuối tuổi mẫu giáo trẻ mới hiểu được mình là người như thế nào, có phẩm chất gì, những người xung quanh đối xử với mình ra sao và tại sao mình lại có hành động này hay hành động khác… Ý thức bản ngã hay sự tự ý thức được thể hiện rõ nhất trong sự tự đánh giá về

Trang 25

mình, thành công hay thất bại của mình, về những ưu điểm hay khuyết điểm của bản thân, về những khả năng và cả sự bất lực nữa

- Để đánh giá bản thân một cách đúng đắn, đầu tiên đứa trẻ phải học cách đánh giá người khác và nghe những người xung quanh đánh giá mình như thế nào

- Đến tuổi mẫu giáo lớn, trẻ mới nắm được kĩ năng so sánh mình với người khác, điều này là cơ sở để tự đánh giá một cách đúng đắn hơn và cũng

là cơ sở để trẻ noi gương những người tốt, việc tốt Đặc biệt ở tuổi mẫu giáo lớn, sự tự ý thức còn được biểu hiện rõ trong sự phát triển giới tính của trẻ Ở tuổi này trẻ không những nhận ra mình là trai hay gái mà còn biết rõ ràng nếu mình là trai hay gái thì hành vi phải thể hiện như thế nào cho phù hợp với giới tính của mình

- Ý thức bản ngã được xác định rõ ràng giúp trẻ điều khiển và điều chỉnh hành vi của mình cho phù hợp với những chuẩn mực, những quy tắc xã hội, từ đó mà hành vi của trẻ mang tính xã hội, tính nhân cách đậm nét hơn trước

- Ý thức bản ngã được xác định rõ ràng còn cho phép trẻ thực hiện các hành động một cách chủ tâm hơn, nhờ đó các quá trình tâm lý mang tính chủ định rõ rệt

- Cuối tuổi mẫu giáo, các quá trình tâm lý không chủ định vẫn chiếm

ưu thế trong hoạt động tâm lý của trẻ, ngay cả trong hoạt động trí tuệ Điều đó cũng khẳng định rằng, các “tiết học” ở trường mẫu giáo không thể tổ chức phỏng theo các giờ học ở trường phổ thông, không những về độ dài mà cả những yêu cầu buộc phải cố gắng tập trung để quan sát, ghi nhớ

- Ở tuổi mẫu giáo lớn, việc đặt mục đích cho hành động và lập kế hoạch để thực hiện hành động thường được thể hiện rất rõ nét Điều đó thúc đẩy hành động định hướng bên trong (tức là các quá trình tâm lý) phát triển mang tính chủ định, rõ ràng Tính chủ định này được phát triển cùng với sự

Trang 26

tiến triển của hoạt động vui chơi ở trẻ mẫu giáo lớn, làm cho dạng trò chơi đóng vai theo chủ đề chuyển dẫn sang dạng tò chơi có luật rõ nét hơn

- Ở tuổi mẫu giáo bé tính bột phát còn chiếm ưu thế trong hành vi, những biểu hiện ý chí thỉnh thoảng mới xuất hiện Ở tuổi mẫu giáo nhỡ số lượng những hành động ý chí tăng lên rõ rệt nhưng vẫn chưa chiếm một vị trí đáng kể trong cách ứng xử Chỉ đến tuổi mẫu giáo lớn đứa trẻ mới có những biểu hiện ý chí tương đối lâu, mặc dù về mặt này vẫn còn thua xa học sinh đầu tuổi học

- Trong sự phát triển các hành động ý chí của trẻ mẫu giáo lớn, có thể thấy được sự liên kết giữa ba mặt: thứ nhất là sự phát triển tính mục đích của hành động, thứ hai là sự xác lập quan hệ giữa mục đích của hành động với động cơ và thứ ba là tăng vai trò điều chỉnh của ngôn ngữ trong việc thực hiện các hành động

- Có thể coi sự phát triển về mặt ý chí là một trong những biểu hiện rõ nhất của ý thức, khiến cho nhân cách của trẻ được khẳng định [7]

d) Bước ngoặt 6 tuổi và sự chuẩn bị cho trẻ vào lớp 1

- Trong quá trình phát triển của trẻ em trong xã hội hiện đại, các nhà tâm lý học coi thời điểm lúc 6 tuổi là bước ngoặt quan trọng Phía bên này là một đứa trẻ nhỏ đang phát triển đề hoàn thiện các cấu trúc tâm lý của con người, với hoạt động chủ đạo là vui chơi mà chưa thể thực hiện được bất kì một nhiệm vụ xã hội nào Còn phía bên kia là một học sinh đang thực hiện một nghĩa vụ xã hội trao cho, bằng hoạt động học tập nghiêm túc Đứng về mặt phát triển tư duy thì bên này cột mốc đứa trẻ mới chỉ có biểu tượng về sự vật, sang phía bên kia nó hình thành những khái niệm khoa học về sự vật

- Tuổi mẫu giáo lớn là thời kì trẻ phát triển để tiến tới bước ngoặt 6 tuổi

đó với sự biến đổi của hoạt động chủ đạo Hoạt động vui chơi vốn giữ vai trò chủ đạo trong suốt thời kì mẫu giáo, nay những yếu tố của hoạt động học tập bắt đầu nảy sinh để tiến tới giữ vị trí chủ đạo ở giai đoạn của bước ngoặt 6

Trang 27

tuổi Bởi vậy Giáo sư, Tiến sĩ Hồ Ngọc Đại đã có lý khi cho rằng, 6 tuổi là một bước ngoặt hạnh phúc

- Trong nhiều công trình nghiên cứu, người ta đã xác định rằng ở trẻ 6 tuổi có sự phát triển mạnh mẽ về hình thái và chức năng của não Trọng lượng não bộ của trẻ 6 tuổi đã đạt tới 90% trọng lượng của não người lớn Trình độ

tổ chức các vùng khác nhau của não, khả năng tích tụ máu ở não của trẻ em 6 tuổi đã đủ chín muồi để có thể lĩnh hội và xử lý lượng thông tin khá lớn và phức tạp Đó cũng chính là điều kiện thuận lợi để trẻ em thực hiện một hoạt động mới, tức là hoạt động học tập

Do đó, bước ngoặt 6 tuổi là một sự kiện quan trọng, khiến các nhà giáo dục cần phải quan tâm, một mặt là để giúp trẻ hoàn thiện những thành tựu phát triển tâm lý trong suốt thời kì mẫu giáo, mặt khác là tích cực cho trẻ có

đủ điều kiện để làm quen dần với hoạt động học tập và cuộc sống ở trường phổ thông [7]

- Việc chuẩn bị sẵn sàng về mặt tâm lý trẻ đến học tập ở trường phổ thông là nhiệm vụ quan trọng vào bậc nhất của giáo dục mẫu giáo, đặc biệt là

độ tuổi mẫu giáo lớn

- Những hoạt động trí tuệ như quan sát, trí nhớ, tư duy… cần phải đạt tới một mức độ nhất định để có thể lĩnh hội các tri thức khoa học một cách dễ dàng

- Đứa trẻ bước vào trường học cần phải có một vốn tri thức nhất định

về thế giới xung quanh, về giới hữu sinh, giới vô sinh, về con người và lao động của họ, về nhiều mặt của đời sống xã hội, về các chuẩn mực đạo đức hành vi Nhưng quan trọng không phải số lượng tri thức mà là chất lượng của

nó Cần làm cho tri thức của trẻ được chính xác hóa, rõ ràng và hệ thống hóa các biểu tượng đã được hình thành trước đây

- Đặc biệt là khơi dậy ở trẻ lòng ham hiểu biết, muốn khám phá những điều mới lạ của thế giới tự nhiên và cuộc sống xã hội Những đứa trẻ ham,

Trang 28

thích tìm hiểu là những đứa trẻ rất mong đi học, mong làm nghĩa vụ người học sinh để được hiểu biết nhiều thứ

- Cuối cùng, trình độ chuẩn bị sẵn sàng về mặt tâm lý cho việc học tập

ở trường phổ thông bao gồm những phẩm chất của nhân cách giúp trẻ nhanh chóng ra nhập vào tập thể lớp, tìm được vị trí của mình trong tập thể đó, có ý thức trách nhiệm khi tham gia vào hoạt động chung Đó là những động cơ xã hội của hành vi, là cách ứng xử với người xung quanh, là kĩ năng xác lập và duy trì những mối quan hệ qua lại lẫn nhau với các bạn cùng lứa tuổi

- Việc thực chuẩn bị sẵn sàng về mặt tâm lý cho trẻ em đế trường phổ thông cần phải được thực hiện trong các trò chơi và các dạng hoạt động có sản phẩm (như nặn, vé, thủ công) hoặc hoạt động múa hát, đọc thơ, kể chuyện… Chính trong các hoạt động đó lần đầu tiên ở trẻ đã này sinh những động cơ xã hội tích cực của hành vi, hình thành hệ thống thức bậc các động

cơ, hình thành và phát triển các hành động trí tuệ, phát triển kĩ năng thiết lập những mối quan hệ với bạn bè… Dĩ nhiên việc này không diễn ra một cách tự phát, mà phải có sự hướng dẫn thường xuyên của người lớn [7]

Như vậy có thể thấy đặc điểm tâm lý của trẻ rất phong phú, đa dạng, do

đó giáo viên nên chú ý để có thể tổ chức cho trẻ những tiết học phù hợp với đặc điểm cũng như hứng thú của trẻ Qua đó giúp trẻ lĩnh hội tri thức một cách hứng thú và có hiệu quả Do vậy mới đảm bảo trẻ phát triển toàn diện

1.2.4 Đặc điểm sinh lý của trẻ 5 tuổi

a) Cấu tạo và chức năng của hệ thần kinh trẻ

- Cấu tạo:

+ Não bộ: cho đến lúc ra đời, não bộ của trẻ vẫn chưa được phát triển đầy đủ, mặc dù hình thái và cấu tạo giải phẫu của nó không khác với não của người lớn là mấy Trẻ sơ sinh não bộ có kích thước nhỏ, trọng lượng khoảng 370-392g (=1/8- 1/9 trọng lượng cơ thể) Ở người lớn trọng lượng của não bằng 1/40-1/49 trọng lượng cơ thể Như vậy 1 kg cân nặng của trẻ có 109g

Trang 29

chất não, còn ở người lớn chỉ có 20,5g chất não.Trong 9 năm đầu trọng lượng não tăng lên mạnh mẽ Lớp trong của não bộ phát triển chậm hơn so với lớp

vỏ ngoài, chính sự phát triển quá mạnh đó của lớp vỏ tạo thành những nếp nhăn, những rãnh trên vỏ não Đến lúc sinh, mặt ngoài não bộ của trẻ sơ sinh giống như ở người lớn (nghĩa là có tất cả các khe và các rãnh, tuy nhiên các khe và các rãnh còn chưa biểu hiện rõ rệt, chưa sâu) Quá trình này diễn ra mạnh mẽ đến khi trẻ được 5 tuổi Tóm lại, não bộ của trẻ có một số đặc điểm chính sau: các tế bào thần kinh chưa được biệt hóa hoàn toàn; các sợi thần kinh chưa mielin hóa đầy đủ; hệ thống mao mạch của não phát triển nhiều; trong não có chứa nhiều nước [8]

+ Tiểu não: tiểu não tuy phát triển muộn nhưng có tốc độ phát triển nhanh

+ Hành tủy, não giữa: khi trẻ 5-6 tuổi hành tủy và não giữa có vị trí giống như ở người lớn về mặt chức năng

+ Tủy sống: ở trẻ, khối lượng và kích thước của tủy sống có những biến đổi rõ rệt theo chiều cao của chúng Trẻ sơ sinh tủy sống nặng 2-6g, sau một tuổi nặng gấp đôi, 5 tuổi nặng gấp 3(18g), 14-15 tuổi nặng gấp 4-5 lần (24-30g) Chiều dài của tủy sống cũng được thay đổi tương ứng với chiều dài thân thể Đến khoảng 5 tuổi chiều dài tủy sống xấp xỉn 21% chiều dài thân thể Ở trẻ em thì nước não tủy có khoảng 60ml

+ Hệ thần kinh thực vật: trong những giai đoạn đầu của sự phát triển của trẻ, hai phần giao cảm và phó giao cảm của hệ thần kinh thực vật phát triển không đồng đều Hệ giao cảm có tác dụng ưu thế trong những tháng đầu của trẻ sơ sinh cho đến 7 tuổi Hệ phó giao cảm có tác dụng khi trẻ được 3 tháng tuổi

- Chức năng:

+ Phản ứng vỏ não có xu hướng lan tỏa Do các tế bào thần kinh chưa biệt hóa nên bất kì một kích thích nào cũng gây nên phản ứng toàn thể

Trang 30

+ Khả năng hưng phấn của vỏ não còn yếu, chóng bị mệt mỏi

+ Lúc đầu vỏ não chưa phát triển nên hoạt động của trẻ do các trung tâm dưới vỏ điều khiển [8]

b) Các quy luật của hoạt động thần kinh cấp cao

- Quy luật chuyển từ hưng phấn sang ức chế:

+ Paplop đã nêu lên nội dung của quy luật này như sau: “bất cứ một kích thích nào kéo dài ít nhiều khi đã chạm đến một điểm nhất định của bán cầu đại não, dù cho ý nghĩa sinh tồn của nó to lớn đến đâu đi chăng nữa và nếu nó chẳng có hậu quả gì đối với những kích thích đồng thời của những điểm khác thì nhất định sớm hay muộn nó sẽ dẫn đến trạng thái buồn ngủ và đến giấc ngủ”

+ Quá trình chuyển từ hưng phấn sang ức chế có thể diễn ra một cách nhanh chóng, đột ngột, nhưng sự chuyển hóa ấy cũng có thể sảy ra một cách dần dần qua một số giai đoạn quá độ

- Quy luật tương tác giữa cường độ kích thích và cường độ phản xạ: + Nội dung quy luật này như sau: trong một phản xạ có điều kiện, kích thích có cường độ càng mạnh thì cường độ phản xạ lại càng lớn Hay nói cách khác cường độ của phản xạ có điều kiện tỉ lệ thuận với cường độ của kích thích

+ Quy luật này mang tính chất tương đối, nghĩa là không phải quy luật này đều đúng trong mọi trường hợp

- Quy luật khuếch tán và tập trung của hưng phấn và ức chế:

+ Tại một điểm trên vỏ não đang hưng phấn hoặc ức chế được lan tỏa xung quanh theo hình thức phóng xạ, đó là quá trình khuếch tán của hưng phấn hoặc ức chế

+ Sự khuếch tán của hưng phấn xảy ra từ 0,5-1s, còn sự khuếch tán của

ức chế tủy từng loại mà kéo dài 20s- 5’

Trang 31

+ Tiếp sau sự hưng phấn hoặc ức chế là quá trình tập trung của hưng phấn hoặc ức chế Quá trình tập trung của hưng phấn là 1 phút và ức chế kéo dài 20 phút

+ Sự khuếch tán và tập trung của hưng phấn và ức chế không những theo chiều nằm ngang của vỏ não mà còn theo đường: vỏ não, dưới vỏ, vỏ não

+ Sự khuếch tán và tập trung của hưng phấn và ức chế trên vỏ não là một hiện tượng mang tính quy luật Đó là quy luật khuếch tán và tập trung

- Quy luật cảm ứng qua lại:

+ Cảm ứng là khả năng gây ra quá trình đối lập ở xung quanh mình, hoặc tiếp sau mình của các quá trình thần kinh cơ bản

+ Theo Paplop có hai loại cảm ứng: cảm ứng dương tính và cảm ứng

âm tính Cả hai loại cảm ứng có thể xảy ra theo không gian và thời gian

+ Hiện tượng cảm ứng qua lại xảy ra do tác động của nhiều yếu tố, nhưng trước hết nó phụ thuộc vào trạng thái hoạt động của trung khu bị kích thích

- Quy luật hoạt động có hệ thống của vỏ não:

+ Để thích ứng một cách tốt nhất với môi trường, não bộ cần phải hình thành khả năng phản ứng lại toàn bộ những hệ thống kích thích trong khi phân biệt một cách chính xác hê thống này với hệ thống khác Bên cạnh đó bất cứ một hình thức nào đó của con người đều là những tổ hợp hay hệ thống hoạt động của nhiều phản ứng

+ Hoạt động tổng hợp của vỏ não đã hợp nhất những kích thích riêng lẻ hay những phản ứng riêng lẻ thành một tổ hợp hoàn chỉnh, hay thành những

hệ thống gọi là tính hệ thống trong hoạt động của vỏ não Một trong những biểu hiện quan trọng nhất của tính hệ thống trong hoạt động của vỏ não là hình thành “định hình động lực” Đó là một hệ thống phản xạ có điều kiện được lặp đi lặp lại thoe một trình tự nhất định và theo khoảng thời gian nhất

Trang 32

định trong một thời gian dài Khi hệ thống này bền vững chỉ cần phản xạ đầu xảy ra là toàn bộ những phản xạ tiếp theo sẽ xảy ra theo lối dây chuyền Chính vì vậy, động hình là cơ sở của những hành động tự động hóa hay thói quen [7]

Tóm lai, thông qua cấu tạo, chức năng và các quy luật của hệ thần kinh cao cấp có thể giúp giáo viên có thể dễ dàng xác định thời gian, lượng kiến thức và tri thức cung cấp cho trẻ cho phù hợp để làm tăng được thời gian hưng phấn và hạn chế thời gian ức chế trong quá trình hoạt động của trẻ Từ

đó mang lại kết quả tốt trong việc giáo dục, chăm sóc trẻ

Trang 33

CHƯƠNG 2 KẾT QUẢ ĐIỀU TRA VÀ THỰC NGHIỆM KHOA HỌC

2.1 Một vài nét về trường mầm non Tiền Phong A, Mê Linh, Hà Nội

Đối tượng điều tra: giáo viên lớp5 tuổi trường mầm non

Phạm vi điểu tra: lớp trẻ 5 tuổi ở trường mầm non

Đồng thời tôi có mở rộng phạm vi điều tra tới một số giáo viên lớp 4, 5 tuổi ở 2 trường mầm non: Văn Khê, Mê Linh, Hà Nội và trường mầm non Trưng Nhị, Phúc Yên, Vĩnh Phúc với tổng số phiếu là 39 phiếu trên 2 trường Tổng số phiếu phát ra của 3 trường là: 50 phiếu

Tổng số phiếu thu về của 3 trường là: 50 phiếu

Trường mầm non Tiền Phong A là một trường nằm trên địa bàn thôn Yên Nhân, xã Tiền Phong, huyện Mê Linh, Hà Nội Trường được thành lập ngày 01/08/2016 và trường là tiền thân của trường mầm non Tiền Phong Tuy

là trường mới được tách những đã có rất nhiều thành tích trong toàn huyện Trường được công nhận đạt chuẩn cấp độ 1 vào ngày 04/01/2017 Khuôn viên, cơ cấu của trường gồm 3 khu nhà 2 tầng với 2 dãy phòng học và một dãy hiệu bộ Tổng số phòng học của trường là 25 phòng có 1 phòng y tế, 2 phòng chức năng và một nhà bếp với 2 bếp nấu Với diện tích 5116 m2 nhà trường có đến 834 trẻ với 25 lớp Tổng số cán bộ, công nhân viên trong trường là 70 người, ban giám hiệu gồm 3 người trong đó có 1 hiệu trưởng, 2 hiệu phó Đội ngũ giáo viên trẻ, nhiệt huyết, năng động, yêu nghề, yêu trẻ Tổng số giáo viên trong trường là 42 người trong đó có đến 17 giáo viên với trình độ Đại học, 7 giáo viên với trình độ Cao đẳng và 18 giáo viên với trình

độ trung cấp

Mặc dù là một trường còn rất non và trẻ nhưng tập thể nhà trường và đội ngũ giáo viên đã đạt được rất nhiều thành tích trong toàn huyện như: hai giải nhì giáo viên giỏi cấp huyện, một giải ba giáo viên giỏi cấp huyện, một chiến sĩ thi đua cấp cơ sở, bốn giấy khen của Ủy ban Nhân dân huyện Mê

Trang 34

Linh, một giải nhì nhân viên nuôi dưỡng giỏi cấp huyện và tập thể trường đã nhận được bằng khen của Ủy ban Nhân dân huyện Mê Linh trong việc luôn đi đầu trong các phong trào của toàn huyện

2.2 Thực trạng về cơ sở vật chất và không gian nhà trường

Trong thời gian thực tập tại trường mầm non Tiền Phong A, Mê Linh,

Hà Nội, qua thực tế tôi thấy:

Cơ sở vật chất và không gian nhà trường đầy đủ và đáp ứng được nhu cầu chăm sóc và giáo dục trẻ Trường gồm 25 lớp học, 1 phòng múa, 1 nhà vòm đa năng, 1 phòng thể chất, 1 phòng y tế và các phòng bảo vệ, phòng của

ban giám hiệu để phục vụ cho công tác

Nhà trường đã xây dựng trường, lớp học xanh – sạch – đẹp và đảm bảo

an toàn thân thiện với trẻ Trường Mầm non Tiền Phong A có khuôn viên rộng rãi, thoáng mát, có các góc thiên nhiên, góc dân gian và các khu vui chơi ngoài trời Xung quanh trường có trồng cây xanh và các vườn hoa hồng cùng các loài hoa khác với màu sắc sặc sỡ, khung cảnh được trang trí ngộ nghĩnh, đáng yêu bằng những bức tranh vẽ hình thù phù hợp và thu hút trẻ được vẽ trên tường, có các trò chơi với nhiều hình thù khác nhau rất bắt mắt trẻ phù hợp cho các hoạt động ngoài trời cùng các tiết học môi trường xung quanh Trong các lớp học thoáng mát, có các thiết bị quạt, điều hòa, đèn chiếu sáng

để đảm bảo cho trẻ luôn được cung cấp đầy đủ ánh sáng và không khí trong lành bên cạnh đó các phòng học còn được cung cấp nhiều các đồ dùng học tập cũng như các đồ chơi rất phong phú, đa dạng phục vụ trẻ trong các tiết học và các hoạt động vui chơi khác Ngoài ra trong lớp còn có nhà vệ sinh riêng cho trẻ rất sạch sẽ, an toàn Các phòng chức năng thì còn có đầy đủ các trang thiết

bị phục vụ cho quá trình học, phòng múa có đủ tủ quần áo, váy, gương, đàn, loa… phòng thể chất có các dụng cụ như bóng, ghế băng dài, túi cát và côn bóng… nhà trường còn có một sân khấu ngoài trời để phục vụ cho các hoạt động tập thể, các hoạt động văn nghệ của cô và trẻ Đặc biệt nhà trường xây

Trang 35

dựng được bếp ăn đảm bảo được vệ sinh, chất lượng an toàn thực phẩm đặt lên hàng đầu Trường mầm non Tiền Phong A có đủ nguồn nước sạch để cung cấp cho nhu mọi nhu cầu sinh hoạt của trẻ và cán bộ, nhân viên trong trường

Hình 1: Một giờ hoạt động ngoại khóa của trẻ

Hình 2: Khu nhà vòm nơi vui chơi, hoạt động ngoài trời và tổ chức các hoạt

động cho cô và trẻ

Trang 36

Mặc dù cơ sở vật chất nhà trường nhìn chung khang trang và đa dạng nhưng do số lượng học sinh đông, đội ngũ giáo viên còn hạn chế nên vẫn chưa đáp ứng được hoàn toàn các nhu cầu của trẻ

Thực tế mỗi lớp có 2 giáo viên, trẻ từ 35 – 40 trẻ nên việc chăm sóc giáo dục vẫn còn gặp nhiều khó khăn, các cô giáo không thể hướng dẫn, chỉ bảo cho tất cả các trẻ được Trong quá trình dạy học nhiều khi giáo viên phải chia lớp thành các nhóm hoặc học chung với nhau ở phòng múa, phòng thể chất hoặc là thay phiên nhau học và chơi Nhà trường đã đầu tư về cơ sở vật chất, trang thiết bị song vẫn còn thiếu, trẻ vẫn phải dùng chung đồ dùng, đồ chơi với nhau Các trò chơi: đu quay, cầu trượt, bập bênh và các đồ dùng học tập còn ít Đặc biệt tôi quan sát được qua quá trình thực tập thì các bộ đồ dùng phục vụ các tiết học toán và các tiết khám phá thường thiếu rất nhiều, trong lớp có đến 35 trẻ nhưng đồ dùng học tập chỉ đủ cho hơn 20 trẻ tham gia học Khi đó các cô thường cho 2 trẻ hoặc 3 trẻ dùng chung đồ dùng học tập với nhau nên thường rất bất cập và trẻ khó nhận biết hơn do không được thao tác với dụng cụ Chính hạn chế này đã ảnh hưởng không nhỏ đến chất lượng của hoạt động học của trẻ 5 tuổi tại trường mầm non

Hình 3: Phòng học thoáng mát, đủ ảnh sáng tuy nhiên số lượng trẻ đông nên

vẫn còn bị hạn chế về không gian

Trang 37

Để điều tra vấn đề này tôi sử dụng câu hỏi:

Câu hỏi: Cơ sở vật chất ảnh hưởng rất lớn đến chất lượng học tập của

trẻ mầm non Theo cô, điều kiện cơ sở vật chất của nhà trường có đáp ứng được nhu cầu học tập của trẻ hay không? Và nguyện vọng, đề xuất của cô nhằm nâng cao cơ sở vật chất của trường?

A Đã đáp ứng

B Chưa đáp ứng

C Không đáp ứng

Kết quả thu được như sau:

Bảng 1: Kết quả nhận định của giáo viên về cơ sở vật chất

Ngoài ra các đề xuất của các cô nhằm nâng cao cơ sở vật chất của trường:

- Cần nâng cao cơ sở vật chất trong thiết bị cho cô và trẻ trong các tiết học, để các tiết học được phong phú và đa dạng hơn

- Các cấp lãnh đạo cần quan tâm hơn, bổ sung đồ dùng dạy và học của

cô và trẻ để có kết quả giáo dục tốt hơn

- Mong muốn nhà nước và nhân dân quan tâm hơn tới cơ sở vật chất của trường để nâng cao hơn cơ sở vật chất cho trẻ ở trường mầm non

- Thêm nhiều không gian cho trẻ khám phá

- Bổ sung thêm nhiều đồ dùng đồ chơi, không gian cho trẻ

- Cung cấp thêm đồ dùng, đồ chơi, không gian, vật thật trong các tiết khám phá, các hoạt động góc

Qua bảng kết quả trên cho thấy đa số giáo viên của 3 trường mầm non trên nói chung và các trường mầm non khác nói riêng đều thấy được ý nghĩa

Ngày đăng: 11/09/2017, 14:50

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w