1. Trang chủ
  2. » Cao đẳng - Đại học

Một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả việc tổ chức bữa ăn trưa cho trẻ 4 tuổi tại trường mầm non Trưng Nhị - Phúc Yên – Vĩnh Phúc

55 445 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 55
Dung lượng 2,25 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

KHOA GIÁO DỤC MẦM NON --- ĐỖ THỊ HUỆ MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM NÂNG CAO HIỆU QUẢ VIỆC TỔ CHỨC BỮA ĂN TRƯA CHO TRẺ 4 TUỔI TẠI TRƯỜNG MẦM NON TRƯNG NHỊ - PHÚC YÊN - VĨNH PHÚC KHÓA LUẬN TỐT

Trang 1

KHOA GIÁO DỤC MẦM NON

-

ĐỖ THỊ HUỆ

MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM NÂNG CAO HIỆU QUẢ VIỆC TỔ CHỨC BỮA ĂN TRƯA CHO TRẺ 4 TUỔI TẠI TRƯỜNG MẦM NON TRƯNG NHỊ - PHÚC YÊN - VĨNH PHÚC

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Chuyên ngành: Phương pháp chăm sóc và vệ sinh trẻ em

HÀ NỘI - 2017

Trang 2

KHOA GIÁO DỤC MẦM NON

-

ĐỖ THỊ HUỆ

MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM NÂNG CAO HIỆU QUẢ VIỆC TỔ CHỨC BỮA ĂN TRƯA CHO TRẺ 4 TUỔI TẠI TRƯỜNG MẦM NON

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Chuyên ngành: Phương pháp chăm sóc và vệ sinh trẻ em

Người hướng dẫn: Th.S Phí Thị Bích Ngọc

HÀ NỘI - 2017

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Đầu tiên em xin gửi lời cảm ơn sâu sắc tới cô giáo, Th.S Phí Thị Bích Ngọc

người đã tận tình hướng dẫn và giúp đỡ em trong suốt thời gian hoàn thành khóa luận này

Em xin chân thành cảm ơn các thầy, cô giáo khoa Giáo Dục Mầm Non và Khoa Sinh - KTNN đã nhiệt tình giảng dạy, truyền đạt cho em những kiến thức bổ ích cũng như tạo điều kiện tốt nhất cho em để hoàn thành khóa luận

Cuối cùng, em xin cảm ơn Ban Giám hiệu và các cô giáo trường mầm non Trưng Nhị - Phúc Yên - Vĩnh Phúc luôn tạo điều kiện cho em trong thời gian thực tập, trải nghiệm Em cũng xin được cảm ơn các cô giáo trường mầm non Văn Khê

- Mê Linh – Hà Nội đã nhiệt tình hợp tác và giúp đỡ em trong quá trình điều tra thực trạng

Trong quá trình thực hiện, em không tránh khỏi những bỡ ngỡ và khoá luận không tránh khỏi những thiếu sót, tồn tại Em rất mong nhận được ý kiến đóng góp của các thầy cô và của các bạn đọc để khóa luận của em được hoàn thiện hơn

Em xin trân thành cảm ơn!

Hà Nội, ngày 18 tháng 04 năm 2017

Sinh viên

Đỗ Thị Huệ

Trang 4

LỜI CAM ĐOAN

Em xin cam đoan đề tài “Một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả việc tổ

chức bữa ăn trưa cho trẻ 4 tuổi tại trường mầm non Trưng Nhị - Phúc Yên – Vĩnh

Phúc” là kết quả nghiên cứu của riêng em dưới sự hướng dẫn trực tiếp của Th.S

Trang 5

MỤC LỤC

PHẦN I: MỞ ĐẦU 1

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Mục đích nghiên cứu 2

3 Giả thuyết nghiên cứu 2

4 Đối tượng và khách thể nghiên cứu 2

5 Nhiệm vụ nghiên cứu 2

6 Phương pháp nghiên cứu 3

7 Đóng góp của đề tài 3

PHẦN II: NỘI DUNG 4

CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA ĐỀ TÀI 4

1.1 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 4

1.1.1 Những nghiên cứu ngoài nước 4

1.1.2 Những nghiên cứu trong nước 5

1.2 Đặc điểm trẻ 4 tuổi 6

1.2.1 Đặc điểm tâm lý 6

1.2.2 Đặc điểm sinh lý 6

1.2.3 Đặc điểm thể chất 7

1.2.4 Đặc điểm bệnh lý 7

1.3 Nhiệm vụ tổ chức bữa ăn trưa cho trẻ 7

1.3.1 Tăng cường sức khỏe, đảm bảo sự tăng trưởng hài hòa cho trẻ 7

1.3.2 Rèn luyện kỹ năng, kỹ xảo, thói quen vệ sinh ăn uống của trẻ 8

1.3.3 Giáo dục nếp sống có giờ giấc 9

1.4 Nội dung tổ chức bữa ăn trưa cho trẻ 9

1.4.1 Trước khi ăn 9

1.4.2 Trong khi ăn 9

1.4.3 Sau khi ăn 10

1.5 Ý nghĩa của hoạt động tổ chức bữa ăn trưa cho trẻ 10

CHƯƠNG II: THỰC TRẠNG VỀ NHÀ TRƯỜNG VÀ VIỆC TỔ CHỨC BỮA ĂN TRƯA CHO TRẺ TẠI TRƯỜNG MẦM NON TRƯNG NHỊ - PHÚC YÊN - VĨNH PHÚC 12

Trang 6

2.1 Thực trạng về cơ sở vật chất của nhà trường 12

2.2 Thực trạng về công tác quản lý chất lượng bữa ăn trưa cho trẻ và đội ngũ giáo viên của nhà trường 14

2.3 Thực trạng về vấn đề chăm sóc vệ sinh và an toàn thực phẩm của nhà trường 17

2.4 Thực trạng về vấn đề nâng cao hiệu quả việc tổ chức bữa ăn trưa bữa ăn trưa cho trẻ của nhà trường 20

2.5 Thực trạng về việc tổ chức bữa ăn trưa cho trẻ 4 tuổi tại trường 22

2.6 Thực trạng về sự phối hợp giữa nhà trường và gia đình trong việc tổ chức bữa ăn trưa cho trẻ 30

CHƯƠNG III: MỘT SỐ BIỆN PHÁP NHẰM NÂNG CAO HIỆU QUẢ VIỆC TỔ CHỨC BỮA ĂN TRƯA CHO TRẺ 4 TUỔI TẠI TRƯỜNG TRƯNG NHỊ - PHÚC YÊN – VĨNH PHÚC 32

3.1 Cơ sở xây dựng biện pháp 32

3.2 Một số biện pháp 33

3.2.1 Bố trí không gian lớp để tổ chức giờ ăn cho trẻ 33

3.2.2 Bố trí chỗ ngồi cho trẻ trong giờ ăn 36

3.2.3 Gây hứng thú trước giờ ăn cho trẻ 36

3.2.4 Phát huy tính tích cực của trẻ trong giờ ăn 38

3.3 Kết quả thu được sau khi áp dụng các biện pháp 39

PHẦN III: KẾT LUẬN 41

1 Kết luận 41

2 Kiến nghị 41

PHỤ LỤC 43

TÀI LIỆU THAM KHẢO 47

Trang 7

5 Hình 3.1+3.2: Bàn ăn của trẻ được kê thành hình vuông

6 Hình 3.3: Bàn ăn của trẻ được kê thành 2 hàng dọc

7 Hình 3.4: Cô gây hứng thú trước giờ ăn cho trẻ

8 Hình 3.5: Cô gây hứng thú trước giờ ăn cho trẻ

9 Hình 3.6+3.7: Trẻ lên giúp cô chia cơm

3

Bảng 2.3: Kết quả nhận thức của giáo viên về hoạt động đóng vai trò quan trọng nhất trong chế độ sinh hoạt hàng ngày của trẻ tại trường mầm non Văn Khê

4 Bảng 2.4: Kết quả điều tra về những nội dung thói quen cô cho trẻ thực

hiện trước và sau bữa ăn tại trường mầm non Trưng Nhị

5 Bảng 2.5: Kết quả điều tra về những nội dung thói quen cô cho trẻ thực

hiện trước và sau bữa ăn tại trường mầm non Văn Khê

6 Bảng 2.6: Thực đơn khối mẫu giáo

7 Bảng 2.7: Kết quả nhận xét về việc đảm bảo chế độ dinh dưỡng trong

thực đơn bữa trưa của trẻ tại trường mầm non Trưng Nhị

Trang 8

8 Bảng 2.8: Kết quả nhận xét về việc đảm bảo chế độ dinh dưỡng trong

thực đơn bữa trưa của trẻ tại trường mầm non Văn Khê

9 Bảng 2.9: Kết quả về những khó khăn gặp phải trong tổ chức bữa ăn

trưa cho trẻ

10 Bảng 2.10: Kết quả về việc thực hiện những yêu cầu theo tiêu chuẩn

giáo dục mầm non trong tổ chức bữa ăn trưa cho trẻ

11 Bảng 2.11: Kết quả về những biện pháp mà cô dùng đối với những trẻ

kém ăn trong lớp tại trường mầm non Trưng Nhị

12 Bảng 2.12: Kết quả về những biện pháp mà cô dùng đối với những trẻ

kém ăn trong lớp tại trường mầm non Văn Khê

13 Bảng 2.13: Kết quả về vai trò, ý nghĩa của cách tổ chức bữa ăn trưa cho

trẻ tại trường mầm non Trưng Nhị

14 Bảng 2.14: Kết quả về vai trò, ý nghĩa của cách tổ chức bữa ăn trưa cho

trẻ tại trường mầm non Văn Khê

15 Bảng 2.15: Kết quả thu được về việc phối hợp giữa gia đình và nhà

trường trong tổ chức bữa ăn trưa cho trẻ

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

QĐ : Quyết định BGDĐT : Bộ giáo dục đào tạo NXB : Nhà xuất bản

PGS.TS : Phó Giáo sư Tiến sĩ Th.S : Thạc sĩ

TS : Tiến sĩ VBHN : Văn bản hợp nhất

Trang 9

1

PHẦN I: MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

“Trẻ em như búp trên cành

Biết ăn ngủ, biết học hành là ngoan”

Trẻ em giống như một mầm non còn rất non nớt, là hạnh phúc của mỗi gia đình, là tương lai của cả dân tộc Ngay từ khi còn nhỏ, trẻ em cũng cần có sự quan tâm, yêu thương, chăm sóc, giáo dục của người lớn Đó được coi như những nền móng đầu tiên của sự hình thành nhân cách con người

Theo “Điều 21 - Luật giáo dục, 2005” mục tiêu của giáo dục mầm non là

giúp trẻ em phát triển thể chất, tình cảm, trí tuệ, thẩm mỹ, hình thành những yếu tố đầu tiên của nhân cách, chuẩn bị cho trẻ em vào lớp một Giáo dục thể chất là nhiệm vụ quan trọng hàng đầu liên quan trực tiếp đến sức khỏe và sự phát triển của trẻ Giáo dục thể chất cho trẻ ở trường mầm non có thể thông qua nhiều biện pháp như: tổ chức cho trẻ vận động phù hợp, nghỉ ngơi hợp lý, ăn uống đầy đủ chất Như vậy, một trong số những biện pháp phát triển thể chất là tổ chức bữa ăn trưa hợp lý cho trẻ Trẻ chỉ có thể phát triển mạnh, hoàn thiện tốt khi được chăm sóc và nuôi dưỡng hợp lý khoa học

Trẻ lứa tuổi mầm non đang trong giai đoạn phát triển nhanh, đòi hỏi khẩu phần ăn đầy đủ về số lượng và chất lượng Trẻ được ăn hai bữa tại trường là bữa trưa và bữa phụ chiều, trong đó bữa trưa được coi là quan trọng nhất Thông qua bữa trưa trẻ, trẻ được bù đắp những năng lượng bị tiêu hao để tham gia vào các hoạt động tiếp theo Vì vậy, tổ chức bữa ăn trưa cho trẻ ở trường mầm non là một nhiệm vụ quan trọng trong quá trình chăm sóc và giáo dục trẻ

Trường mầm non Trưng Nhị nằm ở tổ 3, phường Trưng Nhị, thị xã Phúc Yên, tỉnh Vĩnh Phúc Trường được thành lập vào tháng 06/2006 và nhận đạt chuẩn quốc gia vào tháng 06/2008 Trường là một trong những trường mầm non có bề dày về giáo dục cũng như chăm sóc trẻ của thị xã Phúc Yên Tuy nhiên trong thực

tế, bữa ăn trưa của trẻ tại trường mầm non Trưng Nhị chưa thực sự được đánh giá cao Các cô giáo mới chỉ chú ý làm sao cho trẻ ăn hết suất chứ chưa chú ý đến cách

Trang 10

2

giúp trẻ ăn ngon miệng, tâm lý thoải mái và hứng thú trong bữa ăn, đôi khi trẻ còn chưa nghiêm túc trong khi ăn

Xuất phát từ những lý do trên, tôi mạnh dạn đi vào nghiên cứu đề “Một số

giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả việc tổ chức bữa ăn trưa cho trẻ 4 tuổi tại trường mầm non Trưng Nhị - Phúc Yên – Vĩnh Phúc” Qua đề tài này, tôi cũng

mong muốn mọi người hiểu rõ hơn về tầm quan trọng của bữa ăn trưa cho trẻ Đồng thời qua đây, tôi cũng muốn đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả tổ chức bữa ăn trưa cho trẻ nói chung và đặc biệt là nhóm trẻ ở trường Mầm non Trưng Nhị nói riêng

3 Giả thuyết nghiên cứu

Nếu các biện pháp về việc tổ chức bữa ăn trưa cho trẻ đưa ra hợp lý và có

hiệu quả thì sẽ nâng cao hiệu quả việc tổ chức bữa ăn trưa cho trẻ 4 tuổi ở trường mầm non Trưng Nhị Phúc Yên – Vĩnh phúc, giúp trẻ ăn ngon miệng hơn và hứng thú với bữa ăn trưa tại trường

4 Đối tượng và khách thể nghiên cứu

 Đối tượng nghiên cứu: Bữa ăn trưa cho trẻ

 Khách thể nghiên cứu: Trẻ 4 tuổi trường mầm non Trưng Nhị - Phúc Yên – Vĩnh Phúc

5 Nhiệm vụ nghiên cứu

 Tìm hiểu cơ sở lý luận và cơ sở thực tiễn về thực trạng tổ chức bữa ăn trưa cho trẻ ở trường mầm non Trưng Nhị - Phúc Yên – Vĩnh Phúc

 Đề xuất một số biện pháp nhằm nâng cao hiệu quả việc tổ chức bữa

ăn trưa cho trẻ 4 tuổi ở trường mầm non Trưng Nhị - Phúc Yên – Vĩnh Phúc

Trang 11

3

 Điều tra thực nghiệm và đánh giá kết quả

6 Phương pháp nghiên cứu

 Phương pháp thực nghiệm (quan sát, ghi chép, tổ chức thực hành)

 Phương pháp nghiên cứu lý thuyết

 Phương pháp điều tra trên phiếu cho giáo viên

 Phương pháp thống kê, xử lý số liệu, đánh giá

Trang 12

4

PHẦN II: NỘI DUNG CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA ĐỀ TÀI

1.1 Lịch sử nghiên cứu vấn đề

1.1.1 Những nghiên cứu ngoài nước

Ăn uống và sức khỏe luôn giữ một mối quan hệ khăng khít và được coi trọng từ ngàn xưa đến nay, đặc biệt là đối với trẻ nhỏ Đề cập đến vấn đề này đã có không ít các tác giả trên thế giới đưa ra các công trình nghiên cứu

Theo TS Nguyễn Ngọc Hiền trong cuốn “Dinh dưỡng trẻ em” Hyporcat

(460 – 377 TCN), chỉ rõ vai trò của ăn bảo vệ sức khỏe và khuyên ăn uống phải chú ý phù hợp với tuổi tác, thời tiết công việc Ông cũng nhấn mạnh vai trò của ăn trong điều trị: “Thức ăn cho bệnh nhân phải là một phương tiện điều trị và trong phương tiện điều trị phải có dinh dưỡng”

Kế thừa ý tưởng của Hyporcat, Sidengai (người Anh) cho rằng: “Trong nhiều bệnh để điều trị cũng như phòng bệnh chỉ cần cho ăn những chế độ ăn thích hợp và sống một đời sống có tổ chức hợp lý” [3]

Trong cuốn luận văn thạc sĩ “Tình hình cung cấp dưỡng chất cơ bản cho trẻ

ở một số trường mẫu giáo” của tác giả Võ Thị Cúc, năm 1967 cũng trích dẫn tài

liệu “Cán bộ giữ vườn trẻ và nhóm trẻ nhỏ của vườn trẻ mẫu giáo” của tác giả M.D.Covryghina, ông đưa ra vấn đề cần lưu ý khi tổ chức bữa ăn trưa cho trẻ mầm non: Cho trẻ ăn tùy thích thú, không bắt buộc trẻ ăn như thế dạ dày mới tiết dịch mạnh, giữa các bữa ăn không bao giờ cho ăn bánh kẹo ngọt, cho trẻ ăn không đúng lúc sẽ làm giảm khẩu vị, làm ức chế trung tâm điều khiển ăn uống và làm phá hoại chế độ ăn uống đúng đắn Ngoài ra, thức ăn có hình thức đẹp, mùi vị hấp dẫn sẽ gây cảm giác thèm ăn cho trẻ Mọi khẩu phần dành cho trẻ em thì phải cho ăn cùng một lúc để trẻ quen hết khẩu phần ăn.[2]

Chúng ta có thể thấy vấn đề ăn uống của trẻ mầm non được quan tâm từ rất sớm Tuy nhiên, phần lớn các tác giả mới chỉ đề cập đến vấn đề ăn uống liên quan đến sức khỏe và bệnh tật chú chưa đi sâu vào cách tổ chức một bữa ăn trưa hiệu quả cho trẻ mầm non

Trang 13

5

1.1.2 Những nghiên cứu trong nước

Hiện nay, ở Việt nam vấn đề tổ chức bữa ăn trưa cho trẻ ở trường mầm non đang rất được quan tâm và chú trọng, điều này cũng được thể hiện rõ qua một số nghiên cứu

Ngày 16/09/1995 Thủ tướng chính phủ đã phê duyệt “Kế hoạch hành động quốc gia về dinh dưỡng giai đoạn 1995 – 2000” với hai mục tiêu cơ bản đảm bảo

an ninh thực phẩm hộ gia đình và giảm tỉ lệ suy dinh dưỡng cho trẻ em dưới 5 tuổi xuống 30%.[7]

Công trình nghiên cứu “Tình hình cung cấp dưỡng chất cơ bản cho trẻ ở một

số trường mẫu giáo” của tác giả Võ Thị Cúc (1992) Công trình nghiên cứu này

đều cho thấy việc cung cấp các dưỡng chất cơ bản cho trẻ ở các trường mầm non còn thấp Đặc biệt nhấn mạnh về việc nâng cao kiến thức khoa học về dinh dưỡng cho trẻ mẫu giáo đói với các cơ sở nuôi dạy trẻ, tránh trường hợp cho ăn theo kinh nghiệm hay tổ chức dinh dưỡng thiếu kinh nghiệm hoặc kém hiệu quả Tác giả cũng đề cập đến yếu tố gia đình và nhà trường cần có những hiểu biết đúng đắn về mối quan hệ giữa nuôi và dạy, giữa sức khỏe thể chất và sức khỏe tinh thần của trẻ mẫu giáo.[2]

Công trình nghiên cứu “Khảo sát khẩu phần ăn trưa và bữa phụ” của tác

giả Lê Thị Khánh Hòa (1983) Kết quả cho thấy tình hình cung cấp năng lượng cho trẻ ở trường mầm non còn thấp so với tiêu chuẩn, tỉ lệ các chất sinh năng lượng còn chưa cân đối, lượng Gluxit quá cao và lượng Lipit quá thấp Tác giả cũng chỉ

ra nguyên nhân dẫn đến là do: Bếp ăn mới được hình thành, cơ sở vật chất còn thiếu thốn, có nhiều quan niệm coi nhẹ việc nuôi nên hình thức còn nghèo nàn Vì vậy, tác giả đưa ra một số giải pháp: Trang bị đầy đủ cơ sở vật chất cho trường mầm non để đảm bảo cho việc tổ chức ăn cho trẻ, đào tạo đội ngũ cô nuôi có trình

độ hiểu biết về dinh dưỡng.[5]

Ở thế kỷ 14 trong sách “Nam thần dược hiệu” đã đề cập đến tính chất chữa bệnh của thức ăn và có những lời khuyên ăn uống trong một số bệnh, ông cũng đã phân biệt ra thức ăn hàn nhiệt.[3]

Trang 14

6

Nhìn chung, các công trình nghiên cứu cũng như chính sách trên mới chỉ

tiến hành nghiên cứu về tình trạng dinh dưỡng trong bữa ăn của trẻ chưa đi sâu vào

việc tổ chức một bữa ăn trưa hiệu quả, gây hứng thú cho trẻ mầm non Việc nghiên

cứu này nhằm đưa ra một vài giải pháp nâng cao hiệu quả khâu tổ chức bữa ăn trưa

cho trẻ ở trường để trẻ có thể phát triển một cách toàn diện

1.2 Đặc điểm trẻ 4 tuổi

1.2.1 Đặc điểm tâm lý

Trẻ giai đoạn này được thực hiện rất nhiều các hoạt động nên trẻ hay tò mò,

thích tìm hiểu và khám phá mọi thứ xung quanh, đặc biệt là trẻ rất ham chơi

Sự phát triển tâm lý và hoàn thiện nhân cách là một quãng đường dài trẻ sẽ

trải qua trong suốt quá trình phát triển của mình Vào 4 tuổi trẻ đã có sự hình thành

tâm lý rõ ràng, có những bước phát triển vượt bậc so với lúc 2 – 3 tuổi Giai đoạn 3

tuổi có sự hình thành tâm lý, cá tính riêng của từng bé, sang 4 tuổi cá tính đó trở

nên khá ổn định dần trở thành cá tính riêng của một con người hoàn thiện.[8]

Tư duy logic và ngôn ngữ của trẻ giai đoạn này phát triển nhanh và mạnh

Vì thế, việc tiếp thu kiến thức thông qua lời nói, lời dạy của cô giáo diễn ra ở trẻ

rất nhanh Thời điểm này cô giáo có thể dậy cho trẻ các kỹ năng sống thông qua

các bài thơ, câu chuyện hay giáo dục rèn luyện thói quen cho trẻ là rất tốt

1.2.2 Đặc điểm sinh lý

Tốc độ tăng trưởng của trẻ giai đoạn này chậm hơn nhưng trẻ cũng cần rất

nhiều năng lượng để tham ra nhiều hoạt động khác nhau trong ngày Chính vì vậy,

mà bữa ăn của trẻ cần phải được cung cấp đầy đủ các chất dinh dưỡng và hợp lý để

trẻ có một cơ thể phát triển khỏe mạnh

Chức năng cơ bản của các bộ phận dần dần được hoàn thiện Chức năng vận

động phát triển nhanh, hệ cơ phát triển, trẻ có khả năng phối hợp các hoạt động

khéo léo hơn

Trí tuệ của trẻ phát triển nhanh đặc biệt là ngôn ngữ, ngôn ngữ có vai trò

quan trọng trong việc điều khiển hành vi của trẻ.[9]

Trang 15

7

1.2.3 Đặc điểm thể chất

Cân nặng và chiều cao của trẻ:

Trẻ trai cân nặng đạt từ 14,4 – 23,5 kg, chiều cao đạt từ 100,7 – 119,1 cm Trẻ gái cân nặng đạt từ 13,8 – 23,2 kg, chiều cao đạt từ 99,5 – 117,2cm.[12] Một trong những nguyên nhân khiến trẻ 4 tuổi có vẻ tiến bộ hơn rất nhiều so với những năm trước đó đến từ khả năng kiểm soát và phối hợp đôi tay của mình Cột mốc quan trọng cho phép trẻ sao chép các chữ cái, con số và vẽ các hình khối

là việc có thể cầm viết giống như người lớn Kỹ năng vận động tĩnh của trẻ giờ đây bao gồm cả việc sử dụng tốt muỗng và dĩa, tự mặc quần áo và dọn sạch sau mỗi lần

đi vệ sinh

Trẻ 4 tuổi đã có thể vận động toàn thân hoặc làm các động tác phức tạp hơn như chơi: đá cầu, nhảy dây, leo trèo, nhào lộn [12]

1.2.4 Đặc điểm bệnh lý

Xu hướng bệnh ít lan tỏa hơn

Xuất hiện các bệnh có tính chất dị ứng: hen phế quản, nổi mề đay, viêm cầu thận cấp

Phạm vi hoạt động của trẻ mở rộng ra nhiều, nên sức miễn dịch còn yếu dễ mắc bệnh, nhất là một số bệnh lây.[4]

Do đặc điểm bệnh lý của trẻ như vậy nên việc tổ chức bữa ăn trưa cho trẻ tại trường cần được chú ý và đảm bảo Bữa ăn trưa của trẻ cần phải có đầy đủ các nhóm thực phẩm chính (Protein, Gluxit, Lipit, các vitamin và muối khoáng) để đảm bảo cung cấp đầy đủ chất dinh dưỡng cần thiết cho trẻ Một cơ thể khỏe mạnh

sẽ giúp trẻ luôn sẵn sàng tham gia mọi hạt động học tập cũng như vui chơi Ngoài

ra, trẻ cũng có thể tránh được các căn bệnh lây nhiễm và dị ứng

1.3 Nhiệm vụ tổ chức bữa ăn trưa cho trẻ

1.3.1 Tăng cường sức khỏe, đảm bảo sự tăng trưởng hài hòa cho trẻ

Tổ chức chế độ ăn uống hợp lý, phù hợp với từng độ tuổi và đối tượng trẻ để

ăn ngon miệng, ăn hết suất đảm bảo được sự tăng trưởng và phát triển hài hòa của

cơ thể

Trang 16

8

Tùy từng lứa tuổi của trẻ mà chế biến thức ăn cho trẻ khác nhau Đối với lớp nhà trẻ, các cháu ăn cháo là chính nên mọi thực phẩm nấu cùng cháo phải được xay nhuyễn ra Đối với trẻ mẫu giáo lớn, trẻ đã biết ăn cơm nên thức ăn cần được thái nhỏ hạt lựu và nấu kỹ

Đảm bảo khẩu phần ăn hợp lý, cân đối giữa các thành phần Protit, gluxit, lipit, muối khoáng và các loại vitamin.[7]

Công tác vệ sinh cá nhân và đảm bảo an toàn thực phẩm, vệ sinh chế biến cần được quan tâm và chú trọng

Giáo viên không được bớt xén khẩu phần ăn của trẻ, làm việc riêng trong khi đang tổ chức hoạt động nuôi dưỡng.[11]

1.3.2 Rèn luyện kỹ năng, kỹ xảo, thói quen vệ sinh ăn uống của trẻ

Trong cuộc sống sinh hoạt hàng ngày trẻ cần nhiều kỹ năng, kỹ xảo và hình thành các thói quen tốt Chính vì vậy, việc giáo dục các kỹ năng, kỹ xảo và hình thành thói quen cho trẻ là một việc làm hết sức cần thiết và có ý nghĩa đối với trẻ

Thói quen là những hành động của cá nhân diễn ra trong điều kiện ổn định

về thời gian, không gian và quan hệ xã hội nhất định Có nội dung tâm lý ổn định

và thường gắn với nhu cầu của bản thân Khi đã trở thành thói quen thì mọi hoạt động trở nên ổn định, cân bằng, khó loại bỏ.[6]

Ví dụ: Thói quen đánh răng trước khi đi ngủ và sau khi thức dậy, thói quen

đi dép, thói quen đi học đúng giờ

Giáo dục cho trẻ thói quen ăn đúng giờ Thói quen này sẽ giúp trẻ đi vào nề nếp, tạo một phản xạ có điều kiện giúp trẻ ăn ngon miệng, thúc đẩy quá trình tiêu hóa, phát triển thể chất tốt

Ngoài ra, việc giáo dục thói quen vệ sinh trong ăn uống cho trẻ cũng là một việc làm rất có ý nghĩa, giúp trẻ hình thành thói quen mang tính đạo đức và thẩm

mỹ từ đó rèn luyện được ý thức tự giác và biết giữ vệ sinh sạch sẽ

Trước khi ăn: Rửa mặt, rửa tay và ngồi đúng vị trí, biết mời mọi người Trong khi ăn: Biết sử dụng các dụng cụ ăn uống, nhai kỹ thức ăn, không làm rơi vãi thức ăn, ăn hết suất, không vừa ăn vừa nói chuyện

Sau khi ăn: Lau dọn, dọn dẹp dụng cụ ăn uống, bàn ghế.[6]

Trang 17

9

Đối với trẻ mầm non, nhà trường và các cô giáo phải thường xuyên rèn luyện cho trẻ các kỹ năng kỹ xảo và hình thành thói quen vệ sinh Điều này giúp trẻ tự biết bảo vệ sức khỏe của mình làm tăng hệ miễn dịch cơ thể, tránh khỏi những vi khuẩn xâm nhập

1.3.3 Giáo dục nếp sống có giờ giấc

Giáo dục cho trẻ nếp sống có giờ giấc, rèn thói quen ăn uống, ngủ nghỉ đúng giờ và dễ dàng thích nghi khi di chuyển từ hoạt động này qua hoạt động khác Chính thói quen này giúp đưa trẻ vào nề nếp, thúc đẩy quá trình tiêu hóa, tạo điều kiện cho sự phát triển bình thường của các cơ quan và hệ cơ quan trong cơ thể trẻ.[6]

1.4 Nội dung tổ chức bữa ăn trưa cho trẻ

1.4.1 Trước khi ăn

- Chuẩn bị phòng ăn sạch sẽ, thoáng mát Bàn ghế sắp xếp gọn gàng thuận lợi cho trẻ đứng lên ngồi xuống

- Dụng cụ ăn uống đảm bảo vệ sinh và kích thước phù hợp với từng lứa tuổi trẻ

- Không cho trẻ ăn vặt và vận động quá nhiều trước khi ăn

- Cho trẻ vệ sinh: rửa tay, rửa mặt trước khi ăn

- Cho trẻ ăn đúng thời điểm trong ngày (ăn đúng giờ) tạo phản xạ có điều kiện đồng thời kích thích ăn ngon miệng.[6]

1.4.2 Trong khi ăn

- Cho trẻ ăn theo nhu cầu của cơ thể vì vậy giáo viên cần biết được nhu cầu

ăn về lượng cũng như khẩu vị ăn của từng trẻ trong lớp

- Tạo bầu không khí thoải mái và dễ chịu trong phòng ăn, giáo viên không quát mắng trẻ, không nhắc nhở trẻ quá nhiều, không bắt ép trẻ ăn

- Cần rèn luyện cho trẻ ăn hết suất và các kỹ xảo ăn có văn hóa Không ăn vội vàng, không vừa ăn vừa nói chuyện và biết cầm bát cầm thìa đúng cách

- Trong khi ăn giáo viên cần động viên, khuyến khích trẻ, quan sát xem trẻ

ăn có ngon miệng không, ăn hết suất không và trẻ có những biểu hiện gì khác

Trang 18

10

thường để nhanh chóng tìm hiểu nguyên nhân và có biện pháp giải quyết kịp thời.[6]

1.4.3 Sau khi ăn

- Trẻ cất bát, thìa, đối với những trẻ lớn thì cho trẻ cất bàn

- Cho trẻ lau miệng, rửa tay, uống nước

- Cho trẻ nghỉ ngơi sau khi ăn và cho trẻ ngủ.[6]

1.5 Ý nghĩa của hoạt động tổ chức bữa ăn trưa cho trẻ

Từ ngàn xưa, chúng ta đã biết sức khỏe luôn được coi trọng Sức khỏe là vốn quý giá nhất của mỗi con người và của toàn xã hội, là yếu tố quan trọng nhất trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Con người được coi là một nguồn lực mạnh mẽ thúc đẩy sự phát triển của xã hội, vì vậy việc chăm sóc con người ngay từ khi còn nhỏ là một việc làm hết sức cần thiết Do vậy việc chăm sóc và giáo dục trẻ có ý nghĩa rất quan trọng đối với sự phát triển của trẻ, đặc biệt là việc

tổ chức bữa ăn trưa cho trẻ tại trường mầm non

Tổ chức bữa ăn đảm bảo cơ cấu thành phần bữa ăn phù hợp với lứa tuổi và khẩu vị của trẻ, việc tổ chức bữa ăn cho trẻ có ý nghĩa khá lớn với việc tiêu hóa thức ăn của trẻ

Tổ chức bữa ăn trưa để bù đắp năng lượng đã tiêu hao và cung cấp năng lượng để tham gia hoạt động mới Giúp cơ thể trẻ khỏe mạnh, phát triển tốt, đảm bảo sự phát triển bình thường của các cơ quan và hệ cơ quan trong cơ thể.[5]

Tổ chức bữa ăn tốt cho trẻ giúp cho những thói quen tốt trong ăn uống : ăn đúng bữa, biết mời ăn, ăn hết suất, không nói chuyện khi ăn Đặc biệt thói quen vệ sinh trong ăn uống.[6]

Bữa ăn giúp trẻ có những kiến thức về dinh dưỡng, trẻ biết cách chế biến một số món ăn đơn giản: Thịt lợn xào cà rốt, thịt lợn hầm khoai tây, canh mồng tơi nấu cua, đậu sốt cà chua… biết các nhóm thực phẩm: chất béo, đạm, vitamin [7]

Việc chăm sóc trẻ đầy đủ, nhất là trong tổ chức bữa ăn ở trường mầm non có tác dụng phòng ngừa các nguyên nhân ảnh hưởng đến sự phát triển thể chất, trí tuệ

và học tập của trẻ phổ thông, đặc biệt sự giáo dục đúng đắn sẽ quyết định việc hình

Trang 19

11

thành nhân cách cho trẻ sau này Vì vậy các cán bộ mầm non phải nhận thức được toàn diện việc chăm sóc sức khỏe cho trẻ là để phòng ngừa các nguyên nhân gây bệnh và tạo điều kiện cho trẻ lớn và trưởng thành

Trang 20

tỏ hơn ý nghĩa của đề tài

Đối tượng điều tra: Giáo viên trường mầm non Trưng Nhị và trường mầm non Văn Khê

Tổng số phiếu điều tra là 30 phiếu, tương ứng 30 giáo viên

Kết quả thu được như sau:

2.1 Thực trạng về cơ sở vật chất của nhà trường

Trường mầm non Trưng Nhị nằm ở tổ 3, phường Trưng Nhị, thị xã Phúc Yên, tỉnh Vĩnh Phúc Trường được thành lập vào tháng 06/2006 và nhận đạt chuẩn quốc gia vào tháng 06/2008

Trong quá trình thực tập đợt 2 (Từ ngày 06/02/2017 đến ngày 24/02/2017) tại trường mầm non Trưng Nhị, qua quan sát thực tế tôi nhận thấy:

Hình 2.1: Cơ sở vật chất của nhà trường

Trang 21

13

Cơ sở vật chất và không gian của nhà trường còn chật hẹp và thiếu thốn rất nhiều nên chưa đáp ứng được nhu cầu giáo dục và chăm sóc trẻ Diện tích nhà trường hẹp khoảng 1600m2

Trường có 10 phòng học, 1 phòng hiệu trưởng, 1 phòng hội đồng, 1 phòng y tế, 1 phòng bảo vệ và một khu vực bếp ăn Do tổng diện tích rất hẹp nên diện tích các phòng cũng rất nhỏ

Sân trường cũng không có nhiều không gian trống, vì thế nên đồ chơi ngoài trời của trẻ cũng không được phong phú lắm: đu quay, cầu trượt, bập bênh Khắc phục tình trạng trên, nhà trường vẫn hướng đến xây dựng một môi trường mầm

non xanh - sạch - đẹp Nhà trường đã tạo một khuân viên nhỏ làm “ Vườn cổ tích”

trong đó trồng các loại hoa, cây xanh, và có các nhân vật trong các câu chuyện (nàng Bạch Tuyết và Bảy chú lùn, Thánh Gióng, Thạch Sanh, Cô tiên, Ông bụt )

để tạo điều kiện cho trẻ tham gia các tiết học ngoài trời được đi quan sát và trò chuyện

Trường có một dãy nhà 2 tầng và có 10 phòng học Trong đó có 2 lớp 5 tuổi,

3 lớp 4 tuổi, 2 lớp 3 tuổi và 3 lớp nhà trẻ Trường không có các phòng học múa, hát, thể chất riêng cho trẻ mà mọi hoạt động đều diễn ra tại lớp chính Lớp học tuy hẹp nhưng được các cô giáo trang trí sặc sỡ, ngộ nghĩnh trông rất bắt mắt với trẻ, sạch sẽ, thoáng mát, đồ chơi phong phú đa dạng và nhiều màu sắc, có đầy đủ quạt

và điều hòa Tuy nhiên điều khó khăn là không lớp nào có nhà vệ sinh riêng cho trẻ

Trang 22

Ban giám hiệu cũng thường xuyên xuống bếp ăn để kiểm tra các nguồn thực phẩm có đảm bảo an toàn về chất lượng và nguồn gốc xuất xứ hay không và theo dõi quá trình chế biến thực phẩm

Tuy nhiên, do điều kiện cơ sở vật chất còn thiếu thốn, kinh phí đầu tư còn hạn hẹp nên khi kiểm tra độ an toàn của thực phẩm chỉ có thể nhìn bằng mắt thường, ngửi và sờ chứ không có máy móc để kiểm tra Vì vậy, kết quả kiểm tra chưa thật sự đáng tin cậy

Ngoài vấn đề lựa chọn thực phẩm tốt, nhà trường cũng đưa ra bảng định lượng tính ăn và thực đơn ăn theo mùa cho hai đối tượng trẻ: trẻ nhà trẻ và trẻ mẫu giáo, nhằm đảm bảo và cân bằng chế độ dinh dưỡng cho trẻ

Bảng 2.1: Bảng định tính lượng ăn mẫu giáo Bữa chính

(Cơm, thực phẩm) 1 suất (gam)

Bữa phụ (Thực đơn) 1 suất (gam)

Gạo tẻ (cơm) 80 – 100

(140 – 180) Bún 80 – 100 Thịt, cá 25 – 50 Quả chín 100 – 200 Dầu ăn, mỡ nước 10 – 15 Sữa 100 – 200 Đậu, lạc 10 – 15 Bánh mì mềm 10 -15

Rau, củ, quả, (canh) 30 -50 Xôi 20 – 50

Nước mắm 5 – 10 Chè đỗ đen 100 – 200 Trứng 50 – 70 Đường, mật 20 – 30

Trang 23

15

Cháo 200 – 250

Đội ngũ giáo viên trường mầm non Trưng Nhị trẻ tuổi, năng động và nhiệt tình, 100% các giáo viên đều có trình độ và bằng cấp Trong đó, có 22 giáo viên hợp đồng tỉnh và 02 giáo viên hợp đồng phòng, 09 giáo viên vào biên chế Trình

độ Đại học liên thông có 20 giáo viên, trình độ Cao đẳng có 06 giáo viên, trình độ Trung cấp có 07 giáo viên Nhìn chung đội ngũ giáo viên đoàn kết, thường xuyên trao đổi kinh nghiệm trong giảng dạy và chăm sóc trẻ nhằm nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ, nâng cao chất lượng giáo dục mầm non

Hàng năm, nhà trường tổ chức các cuộc thi giáo viên giỏi cấp trường, thi viết sáng kiến kinh nghiệm và đi học để nâng cao trình độ chuyên môn đi đến nâng cao chất lượng giáo dục mầm non Đội ngũ cán bộ, giáo viên nhà trường không ngừng học hỏi, thi đua và đã đạt được nhiều thành tích cao như:

+ 01 Giải Nhì giáo viên dạy giỏi cấp Thị

+ 01Giải Nhì giáo viên dạy giỏi cấp Tỉnh

E Ý kiến khác của cô:

Kết quả thu được như sau:

Trang 24

16

Bảng 2.2: Kết quả nhận thức của giáo viên về hoạt động đóng vai trò quan trọng nhất trong chế độ sinh hoạt hàng ngày của trẻ tại trường mầm non

Trưng Nhị Tổng số

4/20 20%

3/20 15%

11/20 55%

Bảng 2.3: Kết quả nhận thức của giáo viên về hoạt động đóng vai trò quan trọng nhất trong chế độ sinh hoạt hàng ngày tại trường mầm non Văn Khê Tổng số

0/10 0%

0/10 0%

6/10 60%

Qua kết quả bảng 2.2, ta nhận thấy giáo viên trường mầm non Trưng Nhị

đều đánh giá cao vai trò quan trọng của các hoạt động (ăn, chơi, ngủ nghỉ) trong

chế đọ sinh hoạt hàng ngày của trẻ Trong đó: 10% ý kiến cho rằng Vui chơi là hoạt động quan trọng nhất, 20% ý kiến cho rằng Bữa ăn là hoạt động quan trọng nhất, 15% cho rằng Giấc ngủ là hoạt động quan trọng nhất và không có ý kiến nào lựa chon Học tập là một hoạt động quan trọng

Tuy nhiên, có tới 55% ý kiến cho rằng tất cả các hoạt động (Học tập, Vui

chơi, Bữa ăn, Giấc ngủ) đều đóng vai trò quan trọng trong chế độ sinh hoạt hàng

ngày của trẻ tại trường mầm non.Như vậy, cho thấy các giáo viên đã nhận thức được tầm quan trọng của các hoạt động sinh hoạt hàng ngày của trẻ

Qua kết quả bảng 2.3, ta nhận thấy việc đánh giá hoạt động có vai trò quan

trọng nhất trong sinh hoạt của trẻ của giáo viên trường mầm non Văn Khê đã có sự khác biệt so với giáo viên trường mầm non Trưng Nhị Trong đó, ý kiến cho rằng

Học tập và Vui chơi là hoạt động quan trọng nhất đều chiếm 20%, không có ý kiến

nào cho rằng Bữa ăn và Giấc ngủ là hoạt động quan trọng nhất, có tới 60% ý kiến

Trang 25

có một tinh thần vui tươi và thoải mái khi đến trường

2.3 Thực trạng về vấn đề chăm sóc vệ sinh và an toàn thực phẩm của nhà trường

Qua quá trình quan sát tôi nhận thấy, do cơ sở vật chất còn kém nên điều kiện chăm sóc vệ sinh cho trẻ cũng gặp nhiều khó khăn Trẻ hoàn toàn không có nhà vệ sinh riêng để vệ sinh chân, tay, mặt mũi trước – sau khi ăn và sau khi đi vệ sinh xong Sau mỗi giờ tạo hình xong, cô giáo thường phải múc sẵn chậu nước vào

đó cho trẻ rửa tay Chính vì thế nên điều kiện chăm sóc vệ sinh cho trẻ của nhà trường còn chưa đáp ứng yêu cầu giáo dục

Nhà trường có nguồn nước sạch đảm bảo phục vụ cho việc nấu ăn ở nhà bếp

và các hoạt động sinh hoạt khác Ban giám hiệu nhà trường cũng tiến hành kiểm tra sát sao về vấn đề an toàn thực phẩm (nguồn gốc xuất xứ, chất lượng, vệ sinh ) Rau, thịt… thường được nhận vào buổi sáng sớm và được kiểm tra đảm bảo về chất lượng, đủ về số lượng hàng ngày thì nhân viên bếp mới ký và chế biến Nếu thực phẩm không đảm bảo chất lượng như: ẩm mốc, hôi thiu, kém chất lượng sẽ trả lại nhà cung cấp Đối với thực phẩm nấu chín thường xuyên lưu mẫu thức ăn trong

tủ lạnh 24 tiếng đồng hồ, trong quá trình sử dụng thực phẩm nếu chất lượng thực phẩm không đảm bảo thì sẽ có biện pháp xử lý kịp thời không thể để tình trạng dùng thực phẩm kém chất lượng để chế biến cho trẻ

Tuy nhiên, kiểm tra chỉ dựa trên cơ sở quan sát bằng mắt thường, sờ và ngửi chứ không hề qua máy móc Chính vì thế mọi kết luận mới chỉ dừng ở tính chủ quan và tương đối

Trang 26

18

Nhà bếp luôn chú ý giữ vệ sinh, có đủ dụng cụ cho bếp và cho trẻ Ngoài ra, trong bếp có bảng tuyên truyền 10 nguyên tắc vàng của WHO về vệ sinh an toàn thực phẩm cho mọi người cùng đọc và thực hiện Tuy nhiên do số lượng nhân viên nhà bếp ít nên nhà trường chưa có phân công cụ thể chế biến ở các khâu nên vấn

đề về nhu cầu dinh dưỡng và hợp vệ sinh còn chưa cao

Hầu như khi chế biến thức ăn các nhân viên nhà bếp không đeo khẩu trang, tạp dề và đội mũ Đặc biệt khi chia cơm cho trẻ các giáo viên không đeo khẩu trang và rửa tay bằng xà bông tiệt trùng Chính vì thế mà vấn đề đảm bảo vệ sinh trong ăn uống cho trẻ còn thấp và được thực hiện một cách chưa tự giác

Để biết được rõ hơn về vấn đề này, tôi tiến hành điều tra bằng câu hỏi tại hai điểm trường mầm non Trưng Nhị và trường mầm non Văn Khê như sau:

Câu hỏi: Cô thường cho trẻ thực hiện những nội dung giáo dục thói quen nào trước và sau bữa ăn?

A Rửa mặt, rửa tay, lau miệng, đi vệ sinh, xúc miệng, cất đồ dùng

B Cất đồ dùng, rửa tay, đi vệ sinh

C Rửa tay, rửa mặt, đi vệ sinh, cất đồ dùng

D Rửa tay, đánh răng, đi vệ sinh, cất đồ dùng

E Những thói quen khác

Kết quả thu được như sau:

Bảng 2.4: Kết quả điều tra những nội dung thói quen cô cho trẻ thực hiện

trước và sau bữa ăn tại trường mầm non Trưng Nhị Tổng số

8/20 40%

0/20 0%

0/20 0%

Trang 27

19

Bảng 2.5: Kết quả điều tra những nội dung thói quen cô cho trẻ thực hiện

trước và sau bữa ăn tại trường mầm non Văn Khê Tổng số

2/10 20%

0/10 0%

2/10 20%

Qua kết quả bảng 2.4, ta nhận thấy mặc dù trường mầm non Trưng Nhị gặp

khó khăn về cơ sở vật chất nên điều kiện chăm sóc vệ sinh cho trẻ kém nhưng các giáo viên vẫn thực hiện tốt việc thực hiện thói quen vệ sinh cho trẻ trước và sau khi

ăn Cụ thể, có 60% ý kiến lựa chọn nội dung giáo dục thói quen “Rửa mặt, rửa tay,

lau mồm, đi vệ sinh, xúc miệng, cất đồ dùng”, 40% ý kiến lựa chọn nội dung giáo

dục thói quen “Rửa tay, rửa mặt, đi vệ sinh, cất đồ dùng”

Qua kết quả bảng 2.5, ta nhận thấy giáo viên trường mầm non Văn Khê cũng

thực hiện tốt công tác giáo dục thói quen trước và sau bữa ăn cho trẻ Trong đó,

60% ý kiến lựa chọn nội dung giáo dục thói quen “Rửa mặt, rửa tay, lau mồm, đi

vệ sinh, xúc miệng, cất đồ dùng”, 20% ý kiến lựa chọn nội dung giáo dục thói quen

“Rửa tay, rửa mặt, đi vệ sinh, cất đồ dùng” và 20% có các ý kiến khác như: “Rửa tay, đi vệ sinh, xúc miệng, lau mồm và cất đồ dùng”hay “Cất bát, lau miệng, uống nước, xúc miệng nước muối loãng, đi vệ sinh, rưả tay”

Qua kết quả hai bảng trên, ta nhận thấy có sự tương tự giống nhau, chỉ có một số ý kiến khác do mỗi giáo viên có cách sắp xếp nà tổ chức giáo dục thói quen cho trẻ khác nhau Tuy nhiên, điểm chung và mạnh là các giáo viên đều đánh giá cao và coi trọng việc giáo dục thói quen trước và sau bữa ăn cho trẻ Qua đây, giúp trẻ hình thành những thói quen tốt và sống có nề nếp Trẻ biết tự vệ sinh cá nhân để bảo vệ thân thể ngoài ra sau bữa ăn trẻ còn biết giúp đỡ cô cất dọn đồ dùng

Ngày đăng: 11/09/2017, 14:42

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Đào Thanh Âm, Trịnh Dân, Nguyễn Thị Hòa, Đinh Văn Lang (2008), “ Giáo dục học Mầm non” tập 1;2;3, NXB Đại Học Sư Phạm Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo dục học Mầm non
Tác giả: Đào Thanh Âm, Trịnh Dân, Nguyễn Thị Hòa, Đinh Văn Lang
Nhà XB: NXB Đại Học Sư Phạm
Năm: 2008
2. Võ Thị Cúc (1992) “Tình hình cung cấp dưỡng chất cơ bản cho trẻ ở một số trường mẫu giáo”, luận văn thạc sĩ Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Tình hình cung cấp dưỡng chất cơ bản cho trẻ ở một số trường mẫu giáo”
3. TS.Nguyễn Ngọc Hiền, “Dinh dưỡng trẻ em”, NXB Đại Học Vinh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dinh dưỡng trẻ em”
Nhà XB: NXB Đại Học Vinh
4. Th.S Lê Thị Mai Hoa (2013), “Giáo trình bệnh học trẻ em”, NXB Đại Học Sư Phạm Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình bệnh học trẻ em
Tác giả: Th.S Lê Thị Mai Hoa
Nhà XB: NXB Đại Học Sư Phạm
Năm: 2013
5. Lê Thị Khánh Hòa (1983) “Khảo sát khẩu phần ăn trưa và bữa phụ”, luận văn thạc sĩ Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Khảo sát khẩu phần ăn trưa và bữa phụ”
6. Hoàng Thị Phương (2011), “Phương pháp chăm sóc và vệ sinh trẻ”, NXB Đại Học Sư Phạm Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương pháp chăm sóc và vệ sinh trẻ
Tác giả: Hoàng Thị Phương
Nhà XB: NXB Đại Học Sư Phạm
Năm: 2011
7. Nguyễn Kim Thanh (2005), “Dinh dưỡng trẻ em”, NXB Đại học Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dinh dưỡng trẻ em
Tác giả: Nguyễn Kim Thanh
Nhà XB: NXB Đại học Quốc gia Hà Nội
Năm: 2005
8. PGS.TS Nguyễn Ánh Tuyết, Nguyễn Như Mai, Đinh Thị Kim Thoa, “Tâm lý học trẻ em lứa tuổi Mầm non”, NXB Đại Học Sư Phạm Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tâm lý học trẻ em lứa tuổi Mầm non
Nhà XB: NXB Đại Học Sư Phạm
9. Lê Thanh Vân (2002) “Giáo trình sinh lý học trẻ em”, Trường Đại học Sư phạm Hà Nội, Khoa giáo dục mầm non, Nxb Đại học Quốc Gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Giáo trình sinh lý học trẻ em”
Nhà XB: Nxb Đại học Quốc Gia Hà Nội
10.“Chương trình giáo dục Mầm non ”, Ban hành kèm theo quyết định số 2006/QĐ – BGDĐT của Bộ trưởng Bộ giáo dục và đào tạo Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chương trình giáo dục Mầm non
11. Sở Giáo dục và Đào tạo số 04/VBHN-BGDĐT, “Điều lệ trường Mầm non” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Điều lệ trường Mầm non
12. Trang web: http://mangthai.vn/mau-giao/cac-van-de-ve-su-phat-trien/the-chat-t1p390c393/phat-trien-the-chat-cua-tre-cuoi-4-tuoi-i1917 Link

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 2.1: Cơ sở vật chất của nhà trường - Một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả việc tổ chức bữa ăn trưa cho trẻ 4 tuổi tại trường mầm non Trưng Nhị - Phúc Yên – Vĩnh Phúc
Hình 2.1 Cơ sở vật chất của nhà trường (Trang 20)
Bảng 2.2: Kết quả nhận thức của giáo viên về hoạt động đóng vai trò quan - Một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả việc tổ chức bữa ăn trưa cho trẻ 4 tuổi tại trường mầm non Trưng Nhị - Phúc Yên – Vĩnh Phúc
Bảng 2.2 Kết quả nhận thức của giáo viên về hoạt động đóng vai trò quan (Trang 24)
Bảng 2.5: Kết quả điều tra những nội dung thói quen cô cho trẻ thực hiện - Một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả việc tổ chức bữa ăn trưa cho trẻ 4 tuổi tại trường mầm non Trưng Nhị - Phúc Yên – Vĩnh Phúc
Bảng 2.5 Kết quả điều tra những nội dung thói quen cô cho trẻ thực hiện (Trang 27)
Bảng 2.6: Bảng thực đơn khối mẫu giáo - Một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả việc tổ chức bữa ăn trưa cho trẻ 4 tuổi tại trường mầm non Trưng Nhị - Phúc Yên – Vĩnh Phúc
Bảng 2.6 Bảng thực đơn khối mẫu giáo (Trang 28)
Hình 2.2: Bếp nấu - Một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả việc tổ chức bữa ăn trưa cho trẻ 4 tuổi tại trường mầm non Trưng Nhị - Phúc Yên – Vĩnh Phúc
Hình 2.2 Bếp nấu (Trang 31)
Hình 2.4: Tủ khu vực úp bát và nồi  Khó khăn: - Một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả việc tổ chức bữa ăn trưa cho trẻ 4 tuổi tại trường mầm non Trưng Nhị - Phúc Yên – Vĩnh Phúc
Hình 2.4 Tủ khu vực úp bát và nồi Khó khăn: (Trang 32)
Bảng 2.9: Kết quả về những khó khăn gặp phải trong tổ chức bữa ăn trưa - Một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả việc tổ chức bữa ăn trưa cho trẻ 4 tuổi tại trường mầm non Trưng Nhị - Phúc Yên – Vĩnh Phúc
Bảng 2.9 Kết quả về những khó khăn gặp phải trong tổ chức bữa ăn trưa (Trang 32)
Bảng 2.11: Kết quả về những biện pháp mà cô dùng đối với những trẻ kém ăn - Một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả việc tổ chức bữa ăn trưa cho trẻ 4 tuổi tại trường mầm non Trưng Nhị - Phúc Yên – Vĩnh Phúc
Bảng 2.11 Kết quả về những biện pháp mà cô dùng đối với những trẻ kém ăn (Trang 35)
Bảng 2.14: Kết quả về vai trò, ý nghĩa của cách tổ chức bữa ăn trưa cho trẻ tại - Một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả việc tổ chức bữa ăn trưa cho trẻ 4 tuổi tại trường mầm non Trưng Nhị - Phúc Yên – Vĩnh Phúc
Bảng 2.14 Kết quả về vai trò, ý nghĩa của cách tổ chức bữa ăn trưa cho trẻ tại (Trang 36)
Bảng 2.13: Kết quả về vai trò, ý nghĩa của cách tổ chức bữa ăn trưa cho trẻ tại - Một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả việc tổ chức bữa ăn trưa cho trẻ 4 tuổi tại trường mầm non Trưng Nhị - Phúc Yên – Vĩnh Phúc
Bảng 2.13 Kết quả về vai trò, ý nghĩa của cách tổ chức bữa ăn trưa cho trẻ tại (Trang 36)
Bảng 2.15: Kết quả thu được về việc phối hợp giữa gia đình và nhà trường - Một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả việc tổ chức bữa ăn trưa cho trẻ 4 tuổi tại trường mầm non Trưng Nhị - Phúc Yên – Vĩnh Phúc
Bảng 2.15 Kết quả thu được về việc phối hợp giữa gia đình và nhà trường (Trang 38)
Hình 3.1: Bàn ăn của trẻ được kê thành hình vuông - Một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả việc tổ chức bữa ăn trưa cho trẻ 4 tuổi tại trường mầm non Trưng Nhị - Phúc Yên – Vĩnh Phúc
Hình 3.1 Bàn ăn của trẻ được kê thành hình vuông (Trang 42)
Hình 3.2: Bàn ăn của trẻ được kê thành hình vuông - Một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả việc tổ chức bữa ăn trưa cho trẻ 4 tuổi tại trường mầm non Trưng Nhị - Phúc Yên – Vĩnh Phúc
Hình 3.2 Bàn ăn của trẻ được kê thành hình vuông (Trang 43)
Hình 3.4: Cô gây hứng thú trước giờ ăn cho trẻ - Một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả việc tổ chức bữa ăn trưa cho trẻ 4 tuổi tại trường mầm non Trưng Nhị - Phúc Yên – Vĩnh Phúc
Hình 3.4 Cô gây hứng thú trước giờ ăn cho trẻ (Trang 45)
Hình 3.5: Cô gây hứng thú trước giờ ăn cho trẻ - Một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả việc tổ chức bữa ăn trưa cho trẻ 4 tuổi tại trường mầm non Trưng Nhị - Phúc Yên – Vĩnh Phúc
Hình 3.5 Cô gây hứng thú trước giờ ăn cho trẻ (Trang 45)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w