1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Nghiên cứu mối quan hệ giữa kiều hối và phát triển tài chính ở các nước đông nam á

85 487 6

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 85
Dung lượng 1,5 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

DANH MỤC BẢNG 1.1 Các ước tính và dự báo về luồng kiều hối đến nước đang 2.1 Một số chỉ tiêu đo lường mức độ phát triển tài chính dưới góc độ của các định chế tài chính 12 2.2 Một số c

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP.HỒ CHÍ MINH

Tp Hồ Chí Minh - Năm 2016

Trang 2

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi

Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác

Tp Hồ Chí Minh, ngày 20 tháng 11 năm 2016

Tác giả luận văn

Lê Tiến Được

Trang 3

MỤC LỤC

TRANG PHỤ BÌA

MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN

MỤC LỤC

DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU VÀ CHỮ VIẾT TẮT

DANH MỤC BẢNG

DANH MỤC CÁC HÌNH

TÓM TẮT 1

CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU 2

1.1 Lý do chọn đề tài 2

1.2 Mục tiêu nghiên cứu 7

1.3 Phương pháp nghiên cứu và dữ liệu 7

1.4 Nội dung nghiên cứu 8

1.5 Đóng góp của đề tài 9

CHƯƠNG 2: CÁC NGHIÊN CỨU TRƯỚC ĐÂY 11

2.1 Một số khái niệm liên quan 11

2.1.1 Kiều hối 11

2.1.2 Phát triển tài chính 11

2.2 Ảnh hưởng của kiều hối đến tăng trưởng kinh tế và phát triển tài chính 14

2.2.1 Ảnh hưởng của kiều hối đến tăng trưởng kinh tế 14

3.1.1 Ảnh hưởng của kiều hối đến phát triển tài chính 21

3.1.2 Ảnh hưởng của phát triển tài chính đến kiều hối 24

CHƯƠNG 3: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU VÀ DỮ LIỆU 27

3.1 Phương pháp nghiên cứu 27

3.2 Dữ liệu nghiên cứu 31

CHƯƠNG 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 35

4.1 Phân tích thống kê mô tả 35

Trang 4

4.2 Kiểm định tương quan phụ thuộc chéo 39

4.3 Kiểm định đa cộng tuyến, phương sai thay đổi, tự tương quan 40

4.3.1 Kiểm định đa cộng tuyến 40

4.3.2 Kiểm định hiện tượng phương sai thay đổi phần dư - Greene (2000) 41

4.3.3 Kiểm định hiện tượng tự tương quan phần dư 42

4.4 Phân tích kết quả hồi quy 43

CHƯƠNG 5: KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 54

5.1 Kết luận 54

5.2 Kiến nghị 55

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Trang 5

DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU VÀ CHỮ VIẾT TẮT

Các ký hiệu

:Biểu thị cho logarit của chỉ số phát triển tài chính (Cung tiền M2 hoặc

tín dụng ngân hàng) trên GDP

Các chữ viết tắt

FDI Foreign Direct Investments Đầu tư trực tiếp nước ngoài

GMM Generalized Method of Moments Phương pháp Moment tổng quát IMF International Monetary Fund Quỹ tiền tệ quốc tế

ODA Official Development Assistance Viện trợ phát triển chính thức

OLS Ordinary Least Square Phương pháp bình phương nhỏ nhất

SUR Seemingly Unrelated

Regressions

Phương pháp hệ phương trình hồi quy dường như không tương quan

Trang 6

DANH MỤC BẢNG

1.1 Các ước tính và dự báo về luồng kiều hối đến nước đang

2.1 Một số chỉ tiêu đo lường mức độ phát triển tài chính

dưới góc độ của các định chế tài chính 12

2.2 Một số chỉ tiêu đo lường mức độ phát triển tài chính

dưới góc độ của thị trường tài chính 13 4.1 Thống kê mô tả giữa các biến trong mô hình 35

4.3 Kết quả kiểm tra đa cộng tuyến với nhân tử phóng đại

4.6 Kiểm định tác động của kiều hối đến phát triển tài chính

với M2/GDP là biến đại diện cho phát triển tài chính 45

4.7 Kiểm định tác động của phát triển tài chính đến kiều hối

với M2/GDP là biến đại diện cho phát triển tài chính 46

4.8 Kiểm định tác động của kiều hối đến phát triển tài chính

với Credit/GDP là biến đại diện cho phát triển tài chính 48

4.9 Kiểm định tác động của phát triển tài chính đến kiều hối

với Credit/GDP là biến đại diện cho phát triển tài chính 49 4.10 Bảng tổng hợp kết quả kiểm định nhân quả Granger 53

Trang 7

DANH MỤC CÁC HÌNH

1.1 Kiều hối và các dòng vốn quốc tế khác chảy vào các

1.2 Dòng kiều hối vào các quốc gia Đông Nam Á (Triệu

Trang 8

TÓM TẮT

Bài nghiên cứu này điều tra mối quan hệ nhân quả giữa kiều hối và phát triển tài chính ở các quốc gia Đông Nam Á Để giải quyết vấn đề này, chúng tôi sử dụng kiểm định nhân quả Granger, dựa trên phương pháp hệ phương trình hồi quy dường như không tương quan (Seemingly Unrelated Regressions - SUR) và kiểm định Wald với giá trị tới hạn Bootstrap cho từng quốc gia riêng biệt Sử dụng dữ liệu hàng năm trong giai đoạn 1999-2014 cho 7 quốc gia Đông Nam Á, bài nghiên cứu thu được các kết quả như sau: Với biến Cung tiền M2 đại diện cho phát triển tài chính, kiều hối có tác động tích cực đến phát triển tài chính ở hai quốc gia (Lào và Thái Lan) và phát triển tài chính ảnh hưởng một cách tích cực đến kiều hối ở Thái Lan và Việt Nam Khi sử dụng tín dụng ngân hàng đại diện cho độ sâu tài chính, kiều hối cũng có tác động tích cực đến phát triển tài chính ở hai quốc gia (Lào và Thái Lan), và tín dụng ngân hàng chỉ ảnh hưởng tích cực đến kiều hối duy nhất ở Thái Lan Tóm lại, bài nghiên cứu cho thấy kết quả không đồng nhất giữa các quốc gia, do đó không có bằng chứng thực nghiệm hỗ trợ mạnh mẽ cho quan điểm kiều hối thúc đẩy phát triển tài chính ở các nước Đông Nam Á và dường như phát triển tài chính không phải là nhân tố quyết định dòng kiều hối ở quốc gia nước chủ nhà

Từ khóa: Kiều hối, tín dụng ngân hàng và Cung tiền M2

Trang 9

CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU

1.1 Lý do chọn đề tài

Dưới tác động mạnh mẽ của làn sóng khoa học kỹ thuật và công nghệ mới, đặc biệt

là công nghệ thông tin điện tử và viễn thông, kể từ đầu thập kỷ 70 cùng với sự sụp

đổ của hệ thống tiền tệ Bretton Woods (1973), quá trình di chuyển vốn diễn ra nhanh chóng và rộng khắp ở nhiều nước khác nhau trên thế giới Các nhu cầu về giao dịch tài chính quốc tế gia tăng nhanh chóng do sự gia tăng thương mại quốc tế trong những năm 1960 và việc thực hiện cơ chế quản lý tỷ giá thả nổi vào đầu năm

1980 đã thúc đẩy mạnh mẽ làn sóng di chuyển vốn và ngoại tệ giữa các quốc gia nhằm đạt được mục tiêu tối đa hóa lợi ích của quá trình toàn cầu hóa thương mại và đầu tư

Các nước đang phát triển, đặc biệt là những nước có tỷ lệ tiết kiệm nội địa thấp, luôn có nhu cầu rất lớn về nguồn vốn cho tăng trưởng kinh tế và phát triển bền vững, nhất là xóa đói giảm nghèo Đối với các nước này, nguồn lực trong nước là

cơ bản, nhưng nguồn lực từ bên ngoài luôn có vai trò đặc biệt quan trọng cho sự tăng trưởng bứt phá, đuổi kịp các nền kinh tế phát triển khác Nhằm đáp ứng yêu cầu vốn, nhiều quốc gia thường tìm đến thị trường tài chính trong nước và quốc tế như phát hành trái phiếu chính phủ, trái phiếu quốc tế hay đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI), nhận viện trợ phát triển chính thức (ODA) mà còn ít quan tâm đến những khoản tiền của các cá nhân chuyển từ nước ngoài về cho thân nhân trong nước, đó là dòng tiền kiều hối Kiều hối ngày càng có khuynh hướng quan trọng đối với các quốc gia có thu nhập trung bình và thấp Song, tại một số quốc gia, dòng kiều hối hiện lại bị giới hạn bởi các yếu tố nội tại thuộc các nước tiếp nhận kiều hối như chính sách quản lý của nhà nước, mức phí chuyển tiền, hệ thống dịch vụ ngân hàng trong nước… đòi hỏi phải cải thiện các chính sách để tối ưu hóa vai trò cũng như các lợi ích tiềm năng của dòng kiều hối có thể mang lại cho nền kinh tế Có rất nhiều quốc gia trên thế giới có nguồn kiều hối lớn hơn và ổn định hơn nguồn FDI rất nhiều và thậm chí còn lớn hơn cả nguồn viện trợ phát triển chính thức (ODA)

Trang 10

Bảng 1.1: Các ước tính và dự báo về luồng kiều hối đến nước đang phát triển

East Asia and Pacific 107 113 122 125 130 135

Latin America and Caribbean 60 61 64 66 69 71 Middle-East and North Africa 49 49 53 53 55 57

Trang 11

Dòng kiều hối chảy về các nước đang phát triển đang ngày càng tăng lên một cách đáng kể, năm 2003 dòng kiều hối này chỉ đạt 90 triệu USD, tuy nhiên đến năm 2013

đã đạt tới 418 triệu USD và vẫn đang có chiều hướng gia tăng mạnh mẽ (xem Bảng 1.1) Ở các nước đang phát triển nói chung và một số nước Châu Á nói riêng mà điển hình như Ấn độ, Trung Quốc, Philippines…dòng kiều hối chảy về trong nước ngày càng tăng lên đáng kể Trên khắp thế giới, nhóm nước nhận kiều hối nhiều nhất trong năm 2015 bao gồm Ấn Độ, Trung Quốc, Philippines, Mêhicô và Pháp Kiều hối đã trở thành nguồn vốn lớn thứ hai chỉ sau FDI chảy vào các nước đang phát triển vượt qua cả ODA và dòng vốn tư nhân (xem Hình 1.1) So với các dòng vốn tư nhân, kiều hối có xu hướng ổn định hơn và vẫn gia tăng cho dù nền kinh tế suy thoái hay thảm họa thiên nhiên (Yang, 2006) Hơn nữa trong khi có một sự đột biến của dòng vốn đi vào, bao gồm dòng vốn tài trợ, có thể làm giảm tính cạnh tranh của quốc gia, tuy nhiên kiều hối dường như không gây bất lợi này (Rajan and Subramanian, 2005)

Hình 1.1: Kiều hối và các dòng vốn quốc tế khác chảy vào các nước đang phát

triển

Trang 12

Khi các nhà nghiên cứu và hoạch định chính sách đã nhận thấy sự gia tăng mạnh và tính chất ổn định của kiều hối đến các nước đang phát triển, ngày càng có nhiều nghiên cứu đã phân tích tác động của kiều hối đến nhiều khía cạnh khác nhau của nền kinh tế, bao gồm: phát triển tài chính, nghèo đói, bất bình đẳng, giáo dục, Yếu

tố phát triển tài chính được đặc biệt quan tâm khi nghiên cứu về kiều hối Thị trường tài chính là một thành phần rất quan trọng trong hệ thống kinh tế Theo nghiên cứu của Adarov và Tchaidze (2011) đã ghi nhận về sự liên kết mạnh mẽ giữa phát triển của thị trường tài chính và các thông số kinh tế vĩ mô như mức thu nhập, tiết kiệm, mở cửa kinh tế, lạm phát, cũng như sự biến động kinh tế vĩ mô Một thị trường tài chính lành mạnh và hoạt động hiệu quả có vai trò đặc biệt quan trọng đối với các hoạt động kinh tế Đó là động lực thúc đẩy nền kinh tế - là một trung gian phù hợp và hiệu quả để đàm phán các loại thỏa thuận tài chính, đáp ứng được nhu cầu đầu tư của các đơn vị thặng dư vốn và cũng thỏa mãn nhu cầu vốn của những đơn vị thiếu hụt Một thị trường tài chính hiệu quả là một thị trường với chiều sâu và chiều rộng thích hợp, đó là về phía cung, có một loạt các công cụ tài chính để cung cấp sự lựa chọn cho người phát hành, lựa chọn rủi ro tín dụng,… để đáp ứng tất cả các nhu cầu đa dạng của nhà đầu tư Về phía cầu, phải có nhu cầu đầu tư khá lớn từ nhiều loại hình đầu tư, với khẩu vị rủi ro lợi nhuận khác nhau Ngoài ra, sự đa dạng và sự phối hợp giữa các tổ chức phát hành tốt và các nhà đầu

tư thường mang lại một kết hợp tốt các quan điểm về thị trường, dẫn đến một cuộc trao đổi tích cực của các tài sản tài chính và chính điều này làm tăng tính thanh khoản của thị trường Một thị trường tài chính có tính thanh khoản cao như vậy, đến lượt nó sẽ đảm bảo khả năng thích hợp cho việc phát hành lớn và đa dạng của các công cụ tài chính có hiệu lực thi hành với mức giá tối thiểu Ở đây, công cụ tài chính có thể được nhanh chóng trao đổi với chi phí hợp lý Bên cạnh đó, hệ thống thanh toán và khả năng thanh toán bù trừ hiệu quả cũng là một yếu tố hỗ trợ quan trọng giúp cho các hoạt động trên thị trường được thực hiện với chi phí giao dịch thấp

Trang 13

Theo Aggarwal et al (2011) kiều hối có thể ảnh hưởng đến phát triển tài chính theo hai cách trái ngược nhau:

Kiều hối có thể thúc đẩy phát triển tài chính bằng cách mở rộng tín dụng tới những người nhận kiều hối hoặc bằng cách mở rộng quỹ cho vay của ngân hàng

Một mặt, kiều hối có thể làm giảm bớt sự phát triển của thị trường tín dụng bằng cách làm giảm các sự thiếu hụt tài chính của người nhận kiều hối

Aggarwal et al (2011) cũng cho rằng sự phát triển của khu vực tài chính ở nước tiếp nhận có thể ảnh hưởng đến dòng kiều hối bằng cách cho phép dịch chuyển dòng kiều hối với khối lượng lớn hơn hoặc làm giảm chi phí chuyển tiền Tuy nhiên kết quả nghiên cứu của Vargas-Silva và Huang (2006) lại cho rằng sự phát triển của khu vực tài chính ở nước tiếp nhận không phải là nhân tố ảnh hưởng đến dòng kiều hối vào quốc gia đó

Như vậy ta thấy mối quan hệ giữa kiều hối và phát triển tài chính là không rõ ràng Mỗi nghiên cứu với mẫu dữ liệu và phương pháp khác nhau sẽ cho ra các kết quả khác nhau Tuy các nghiên cứu chính thức về mối quan hệ này cho khu vực Đông Nam Á là chưa nhiều Đặc biệt, khu vực Đông Nam Á bao gồm các nước có tốc độ tăng trưởng kinh tế cao đang cần nguồn vốn rất lớn để phát triển Tuy nhiên nguồn vốn trong nước là không đủ, do đó kiều hối có một ý nghĩa cực kỳ quan trọng với các quốc gia này

Trang 14

Hình 1.2: Dòng kiều hối vào các quốc gia Đông Nam Á (Triệu USD), 2005-2014

Với các lí do trên, tôi chọn nghiên cứu đề tài: “Nghiên cứu mối quan hệ giữa kiều hối và phát triển tài chính ở các nước Đông Nam Á”

1.2 Mục tiêu nghiên cứu

Mục tiêu nghiên cứu của bài là xác định mối quan hệ giữa kiều hối và phát triển tài chính, để đạt được mục tiêu này bài nghiên cứu sẽ cố gắng trả lời hai câu hỏi sau đây:

- Sự gia tăng của dòng kiều hối có tác động thúc đẩy sự phát triển của khu vực tài chính hay không?

- Sự phát triển của khu vực tài chính tại các quốc gia tiếp nhận có phải là nhân

tố quyết định dòng kiều hối?

- Dữ liệu nghiên cứu trong bài:

Do sự hạn chế về dữ liệu bài nghiên cứu chỉ sử dụng dữ liệu bảng của 7 quốc gia Đông Nam Á (Cambodia, Indonesia, Lào, Malaysia, Philippines, Thái Lan, Việt Nam) trong giai đoạn 1999-2014

Trang 15

- Phương pháp nghiêp cứu:

Bài nghiên cứu này thực hiện kiểm định nhân quả Granger với cách tiếp cận của Kónya (2006) dựa trên phương pháp hệ phương trình hồi quy dường như không tương quan (Seemingly Unrelated Regressions – SUR) và kiểm định Wald với giá trị tới hạn bootstrap cho mỗi quốc gia Việc sử dụng phương pháp này có nhiều ưu điểm, đặc biệt với các quốc gia Đông Nam Á Bởi vì đó là một cách tiếp cận hệ thống, có ưu điểm là loại bỏ sự phụ thuộc chéo và sự không đồng nhất Do đó có thể kiểm định nhân quả Granger cho từng quốc gia Đông Nam Á Đặc biệt, bằng cách

sử dụng dữ liệu bảng cho các quốc gia Đông Nam Á, cách tiếp cận này có thể cho phép xác định có bao nhiêu quốc gia Đông Nam Á tồn tại quan hệ nhân quả Granger một chiều, hai chiều hoặc không có quan hệ nhân quả Bởi vì giả định không có phụ thuộc chéo là rất khó đối với dữ liệu bảng (đặc biệt ở các nước Đông Nam Á), việc bỏ qua khả năng phụ thuộc chéo có thể dẫn tới kết quả trái ngược (Bai

và Kao, 2006) Hơn nữa, mỗi quốc gia có một đặc điểm riêng, giả định đồng nhất trong dữ liệu bảng có thể dẫn đến sai lệch trong kết quả (Breitung, 2005) Được đề

ra bởi Pesaran et al (1999), kỹ thuật Generalized Method of Moments (GMM) thường được sử dụng trong giả định đồng nhất trên dữ liệu bảng động, tuy nhiên nếu độ dốc của hệ số là không giống nhau cho tất cả các q uốc gia, có thể dẫn đến những sai lệch trong ước lượng thông số

Ngoài ra cách tiếp cận của Kónya (2006) còn có nhiều ưu điểm khác Nhờ việc tính toán giá trị bootstrap, phương pháp này không cần thiết các tiền kiểm định cho thuộc tính chuỗi thời gian Chính xác hơn, chuỗi đang xem xét có thể dừng và đồng liên kết Cuối cùng, nhờ giá trị tới hạn bootstrap của trong cách tiếp cận của Kónya (2006) có thể giải quyết vấn đề mẫu T nhỏ Điều này rất có ích khi mà dữ liệu kiều hối của các quốc gia Đông Nam Á có dữ liệu theo năm

Trong bài nghiên cứu, tôi tiến hành các bước kiểm định như sau:

Trang 16

- Đầu tiên là với biến Cung tiền M2 đại điện cho phát triển tài chính, tiến hành kiểm định nhận quả Granger nhằm kiểm định mối quan hệ từ kiều hối đến phát triển tài chính và từ phát triển tài chính đến kiều hối với giá trị bootstrap cho từng quốc gia

- Thay biến Cung tiền M2 bằng biến tín dụng ngân hàng, tiếp tục thực hiện kiểm định nhận quả Granger nhằm kiểm định lại mối quan hệ từ kiều hối đến phát triển tài chính và từ phát triển tài chính đến kiều hối với giá trị bootstrap cho từng quốc gia

1.5 Đóng góp của đề tài

Bài nghiên cứu này có hai đóng góp khác biệt so với những tài liệu hiện có

Đầu tiên, bài nghiên cứu sử dụng cách tiếp cận của Kónya (2006) dựa trên phương pháp hệ phương trình hồi quy dường như không tương quan (Seemingly Unrelated Regressions - SUR) và kiểm định Wald Phương pháp này cho phép kiểm định nhân quả Granger cho từng quốc gia riêng lẻ

Thứ hai, sử dụng dữ liệu ở các nước Đông Nam Á trong giai đoạn 1999-2014, đây

là các nước có tốc độ tăng trưởng nhanh, dòng kiều hối có ý nghĩa quan trọng Chưa

có bài nghiên cứu nào tập trung xem xét mối quan hệ giữa kiều hối và phát triển tài chính ở các nước Đông Nam Á

Kết quả thực nghiệm tìm thấy sẽ cung cấp thêm bằng chứng về mối quan hệ của kiều hối và phát triển tài chính của các nước Đông Nam Á Do đó mỗi quốc gia có thể thấy được tác động của dòng kiều hối để có cách sử dụng kiều hối mang lại hiệu quả hơn và thu hút kiều hối một cách tốt hơn

1.6 Bố cục của đề tài

Phần còn lại của bài nghiên cứu được trình bày như sau: Trong phần 2 sẽ cung cấp các lý thuyết, nghiên cứu thực nghiệm trước đây về tác động của kiều hối đến các khía cạnh của nền kinh tế nước tiếp nhận và các yếu tố có thể ảnh hưởng tới dòng

Trang 17

kiều hối Kỹ thuật, cách tiếp cận và dữ liệu của bài nghiên cứu được trình bày trong phần 3 Kết quả thực nghiệm được trình bày trong phần 4 Cuối cùng, phần 6 sẽ kết luận và đưa ra kiến nghị

Trang 18

CHƯƠNG 2: CÁC NGHIÊN CỨU TRƯỚC ĐÂY

Trong phần này sẽ trình bày một cách ngắn gọn các lý thuyết có liên quan, mối quan hệ giữa kiều hối và tăng trưởng kinh tế, đồng thời cũng tập trung vào mối quan hệ của kiều hối với phát triển tài chính

2.1 Một số khái niệm liên quan

2.1.1 Kiều hối

Kiều hối được hiểu là tiền do người sống và làm việc ở nước ngoài chuyển về đất nước của họ Theo WB định nghĩa: “Kiều hối bao gồm các khoản tiền chuyển từ nước ngoài có nguồn gốc là thu nhập của người lao động, dân di cư ở nước ngoài, được thể hiện trong cán cân thanh toán quốc tế là khoản chuyển tiền (ròng)”

Theo IMF, kiều hối đại diện cho thu nhập của hộ gia đình phát sinh chủ yếu từ nền kinh tế nước ngoài của những người di cư tạm thời hoặc vĩnh viễn ở những nền kinh

tế đó Kiều hối bao gồm tiền và các khoản phi tiền tệ chảy qua các kênh chính thức, chẳng hạn như quan ngân hàng điện tử, hoặc qua kênh không chính thức, chẳng hạn như tiền và hàng hóa qua biên giới Kiều hối chủ yếu bao gồm tiền và các khoản phi tiền tệ được gửi và nhận bởi các cá nhân, những người đã di cư đến đến nền kinh tế mới và trở thành cư dân ở đó, và thu nhập ròng qua biên dưới , theo mùa vụ hoặc lao động ngắn hạn người được thuê làm việc trong nền kinh tế mà họ không cư trú

2.1.2 Phát triển tài chính

Theo Drake (1980), Porter (1966); và Cameron (1972) phát triển tài chính: (1) làm tăng tiết kiệm thực và sự hình thành vốn từ thu nhập quốc dân, (2) tăng nguồn vốn ròng từ nước ngoải, (3) tăng năng suất trung bình của nguồn vốn bằng cách năng cao khả năng phân bổ nguồn vốn hiệu quả, (4) cải thiện sự ổn định của kinh tế vĩ

mô, (5) ngân hàng cung cấp một chức năng trung gian cơ bản giữa người tiết kiệm

và nhà đầu tư, hoặc các đơn vị thặng dư và thâm hụt, vì ngân hàng có thể cung cấp

Trang 19

tính thanh khoản cho nền kinh tế bằng cách tạo ra tiền, (5) Theo Cameron (1972),

hệ thống ngân hàng có thể tạo ra các “nhân tài kinh doanh” và chỉ dẫn cho nền kinh

tế nói chung

Huan (2005) đã tập trung xem xét các nhân tố chính của phát triển tài chính Một sự

so sánh giữa các quốc gia được thực hiện để chứng minh cho các vai trò khác nhau của các nhân tố phát triển tài chính Các nhân tố quan trọng của phát triển tài chính được phân thành ba loại chính, bao gồm: các định chế tài chính, chính sách và địa

lý Để đo lường chiều sâu của phát triển tài chính, các yếu tố nợ thanh khoản, chi phí chung của ngân hàng, tỷ lệ thu nhập lãi cận biênđược xem xét Để xem xét tác động của thị trường chứng khoán đến phát triển tài chính, ba biến chính được xem xét là: vốn hóa của thị trường chứng khoán, tổng giá trị giao dịch và tỷ suất doanh thu Huan (2005) tìm ra rằng mức độ phát triển tài chính về cơ bản được xác định bởi chất lượng của các định chế tài chính, chính sách của chính phủ, điều kiện địa

lý, mức thu nhập, và cuối cùng là đặc điểm văn hóa của quốc gia đó

Về cơ bản, mức độ phát triển tài chính thường được đo lường theo hai góc độ: Đối với các định chế tài chính và đối với thị trường tài chính

Bảng 2.1 Một số chỉ tiêu đo lường mức độ phát triển tài chính dưới góc độ của

và phát triển trong nền kinh tế Tài sản ngân hàng thương Đo lường mức độ phân bổ tiết kiểm của ngân hàng

Trang 20

Tỷ lệ thu nhập lãi cận biên

Đo lường hiện quả của khu vực ngân hàng, giá trị kế toán doanh thu thuần từ lãi vay của ngân hàng trên tổng tài sản của ngân hàng

Chi phí chung của ngân

hàng

Đo lường hiện quả của khu vực ngân hàng, giá trị kế toán chi phí chung của ngân hàng trên tổng tài sản Đầu tư trực tiếp nước

ngoài/GDP

Đo lường điểm mạnh của FDI dựa trên gia tăng năng suất nhờ chuyển giao kỹ thuật và kỹ năng quả lý trong nền kinh tế

Nguồn: International Monetary Fund, International Financial statistics, World

Bank development Indicators

Bảng 2.2 Một số chỉ tiêu đo lường mức độ phát triển tài chính dưới góc độ của

Tỷ lệ doanh thu

Đo lường hiệu quả của thị trường chứng khoán Chỉ số này được tính tổng giá trị cổ phiếu được giao dịch trên sàn giao dịch chứng khoán của một quốc gia chia cho vốn hóa thị trường chứng khoán của nước này

Trang 21

Phí bảo hiểm nhân thọ

Đo lường hoạt động của các định chế tài chính Chỉ

số này được tính bằng tổng phí bảo hiểm nhân thọ trên GDP

Phí bảo hiểm phi nhân thọ

Đo lường hoạt động của các định chế tài chính Chỉ

số này được tính bằng tổng phí bảo hiểm nhân thọ trên GDP

Nguồn: International Monetary Fund, International Financial statistics, World

Bank development Indicators

2.2 Ảnh hưởng của kiều hối đến tăng trưởng kinh tế và phát triển tài chính

2.2.1 Ảnh hưởng của kiều hối đến tăng trưởng kinh tế

Với tầm quan trọng của kiều hối đã có khá nhiều nghiên cứu tập trung xem xét các tác động của kiều hối đến các khía cạnh khác nhau của nền kinh tế ở quốc gia tiếp nhận, đặc biệt là tăng trưởng kinh tế

2.2.1.1 Về mặt lý thuyết

Lý thuyết tổng quan về sự tác động của kiều hối lên tăng trưởng kinh tế có thể được xem xét trên nhiều lĩnh vực được trình bày dưới đây theo UNCTAD (2013)

a) Tác động tích lũy vốn của dòng kiều hối

Tích lũy vốn có thể được chia thành hai loại: vốn vật chất và vốn nguồn nhân lực Vốn vật chất chủ yếu được hiểu như là máy móc hoặc công nghệ được sử dụng trong quá trình sản xuất Vốn nguồn nhân lực như các kỹ năng kiến thức

và bí quyết của lực lượng lao động

- Vốn vật chất và dòng chảy kiều hối: Có nhiều cách tiếp cận khác nhau

trong nghiên cứu về sự ảnh hưởng của kiều hối lên vật chất Ví dụ, nếu các

hộ gia đình phải đối mặt với khó khăn tài chính thì kiều hối có thể làm dịu bớt các hạn chế tín dụng tài chính này giúp các quốc gia tăng lên cả nguồn vốn vật chất và nguồn vốn nhân lực Dòng chảy kiều hối có thể tăng sự ổn

Trang 22

định của nền kinh tế trong nước Đối với lượng giá trị kiều hối lớn đổ về thì làm giảm chi phí sử dụng vốn, và cho phép các quốc gia này nhận các khoản vay để bổ sung các khoản đầu tư trong nước và các khoản nợ có thể được tài trợ bởi dòng chảy kiều hối trong tương lại Theo Sufian (2009), kiều hối có lợi cho quốc gia tiếp nhận vì khả năng tín dụng của các quốc gia tăng lên và giúp dễ dàng hơn trong việc tiếp cận nguồn vốn quốc tế Đồng thời, Sufian (2009) cũng cho rằng trong trường hợp của các quốc gia MENA (Algeria, Egypt, Jordan, Morocco; Syria, Tunisia và Sudan) thì tỷ lệ nợ sẽ giảm đáng

kể nếu kiều hối được tính vào mẫu số của phần trăm nợ nước ngoài trên tổng giá trị hàng hóa, dịch vụ xuất khẩu Ratha và Mohapatra (2007) cho rằng khi một nước tiếp nhận kiều hối trải qua suy thoái kinh tế do khủng hoảng tài chính, thiên tai hoặc xung đột chính trị thì lượng kiều hối có xu hướng đổ về

tăng

Mặt khác, các hộ gia đình nhận kiều hối có xu hướng gia tăng tiêu dùng, vì vậy kiều hối thường không được dùng cho mục đích đầu tư Nếu kiều hối ổn định thì kiều hối có thể tăng tiêu dùng hơn đầu tư, thậm chí trong tình trạng tín dụng bị hạn chế Tuy nhiên, tác động tích cực của kiều hối về tăng trưởng kinh tế có thể tồn tại, ngay cả trong trường hợp xu hướng tiêu dùng ngày càng cao, vì số tiền còn lại từ tiêu dùng có thể được hướng mục đích đầu tư

- Vốn nguồn nhân lực và dòng chảy kiều hối: Kiều hối kích thích đầu tư vào

tích lũy vốn nguồn nhân lực (giáo dục, cải thiện chăm sóc y tế ), hoặc giảm

tình trạng thất học của trẻ em và đóng góp vào thu nhập của các hộ gia đình

Edwards và Ureta (2003) sử dụng mẫu của hơn 8000 hộ gia đình ở El Salvador cho nghiên cứu của mình thì họ nhận thấy rằng kiều hối tài trợ vốn cho nguồn nhân lực, cụ thể là duy trì việc học trong gia đình Yang (2004) cho thấy giá trị đồng tiền nước gửi kiều hối được đánh giá cao so với đồng peso của Philippines (đồng tiền của nước tiếp nhận) giúp tăng giá trị kiều hối của hộ gia đình nhận được từ nước ngoài và từ đó tăng cường việc tích lũy vốn nguồn nhân lực như nhiều trẻ em được đến trường hơn, giảm trẻ em phải

Trang 23

lao động sớm và tăng chi cho giáo dục Nếu số lượng trẻ em được giáo dục với sự hỗ trợ kiều hối có tỷ lệ cao hơn nhiều so với số lượng trẻ di cư có học vấn Do đó tác động tổng thể của kiều hối đến tăng trưởng kinh tế có thể sẽ

theo chiều hướng tích cực

b) Tốc độ phát triển lực lƣợng lao động và dòng chảy kiều hối

Ảnh hưởng của kiều hối lên tăng trưởng kinh tế có thể được thông qua tăng trưởng đầu vào của lực lượng lao động với giả định nguồn nhân lực là cố định Giả định nguồn nhân lực cố định rất quan trọng trong việc làm rõ hơn về tác động của kiều hối Kiều hối có thể ảnh hưởng đến đầu vào lực lượng lao động thông qua sự tham gia của lực lượng lao động trong nền kinh tế Kiều hối được

kỳ vọng có thể tác động tiêu cực lên lực lượng lao động của họ Nguyên ngân là

do các hộ gia đình xem kiều hối nhu một khoản thu nhập của họ Bên cạnh đó, dòng chảy kiều hối có thể dẫn đến các vấn đề về rủi ro đạo đức vì người gửi tiền

và người nhận sống xa nhau và người gửi khó có thể quản lý việc sử dụng hiệu quả nguồn vốn này theo như Chami, R et al., (2003) Kiều hối không được sử dụng hợp lý mà còn lãng phí như dùng vào việc giải trí nên làm giảm nỗ lực lao động Theo Chami, Gapen và Cosimano (2006) với mô hình động cho thấy kiều hối làm giảm lực lượng lao động, mà lực lượng lao động thì có mối tương quan với sản lượng đầu ra Theo Kozel và Alderman (1990), nghiên cứu sự tham gia của lực lượng lao động ở Paskistan cho kết quả là kiều hối có tác động tiêu cực tới sự tham gia lao động của nam giới

Nhìn chung, các nghiên cứu hỗ trợ cho ý tưởng rằng kiều hối có xu hướng tăng

tỷ lệ người không tham gia lao động của các thành viên trong gia đình nhận kiều hối vì lượng kiều hối chuyển về khiến người lao động làm việc ít hơn, nghỉ ngơi nhiều hơn và làm giảm tổng cung lao động gây tiêu cực cho nền kinh tế

c) Tổng năng suất các yếu tố và dòng chảy kiều hối

Trang 24

Dòng chảy kiều hối có thể ảnh hưởng tới tổng năng suất các yếu tố thông qua hiệu quả của đầu tư và quy mô của các ngành sản xuất trong nước Hiệu quả đầu

tư có thể bị ảnh hưởng bởi kiều hối như giúp tăng chất lượng của các trung gian tài chính Kiều hối có khả năng ảnh hưởng đến hệ thống trung gian tài chính đối với việc phân bổ vốn Kiều hối sẽ trở thành một nguồn cung cho các nguồn tài trợ của hệ thống ngân hàng Và điều này sẽ giúp tăng cường sự phát triển của thị trường tài chính đồng thời giúp tăng trưởng kinh tế cao hơn thông qua một hoặc hai kênh: (1) tăng kinh tế theo quy mô của các trung gian tài chính, hoặc (2) ảnh hưởng kinh tế chính trị, theo đó với quy mô lớn hơn có thể gây sức ép lên chính phủ vào việc thực hiện cải cách tài chính có lợi cho mình

Một cơ chế khác mà kiều hối có thể ảnh hưởng tới tăng trưởng năng suất các nhân tố tổng hợp như giảm quy mô của các ngành sản xuất trong nước Biểu hiện là sự ảnh hưởng của “căn bệnh Hà Lan”1 đến tăng trưởng kinh tế Dòng kiều hối đổ vào sẽ làm cho đồng nội tệ các quốc gia tiếp nhận bị đánh giá cao dẫn đến tính cạnh trạnh của khu vực thương mại giảm Vì thế giảm khu vực thương mại của các quốc gia tiếp nhận và kết quả là kìm hãm tăng trưởng kinh

tế

Kiều hối có thể ảnh hưởng đến kinh tế chính trị trên diện rộng, thông qua tất cả các kênh đã trình bày ở trên Dòng chảy kiều hối là một khoản thu nhập độc lập với quá trình sản xuất trong nước Sự tồn tại của dòng chảy kiều hối làm giảm động cơ giám sát của người dân và giảm việc quản lý hiệu quả hoạt động của chính phủ Hơn nữa, kiều hối sẽ tăng lên và trang trải một phần chi phí khi có sự khó khăn phát sinh ở quốc gia quê nhà Chính vì vậy, kiều hối có thể tạo ra nhiều vấn đề về rủi ro đạo đức đối với quốc gia tiếp nhận và cũng có thể làm suy

1

Hiện tượng do điều kiện kinh tế hoặc môi truờng được ưu đãi quá mức khiến làm giảm động lực sản xuất, hoặc gây các hiệu ứng phụ lấn át các khu vực sản xuất khác làm giảm năng suất chung của toàn nền kinh tế Nguồn gốc của tên gọi bắt nguồn từ việc Hà Lan vào thập niên 1960 phát hiện

ra nguồn dầu khí rất lớn, đưa lại nguồn thu lớn cho ngân sách Chính phủ Hà Lan đã thực hiện một chính sách hỗ trợ xã hội rất rộng rãi Kết quả là người dân Hà Lan có khuynh hướng giảm thời gian lao động và ngành chế tạo có khuynh hướng bị thu hẹp

Trang 25

yếu hiệu quả quản lý của chính phủ nếu tiếp nhận một lượng lớn giá trị kiều hối Điều này cũng dẫn đến hệ quả là làm giảm hiệu quả tích lũy vốn và tốc độ tăng trưởng tổng năng suất các yếu tố Nghiên cứu gần đây của Abdih et al (2008) tìm thấy bằng chứng cho thấy các dòng chảy kiều hối có ảnh hưởng tiêu cực đến các tổ chức tiếp nhận kiều hối

Nhìn chung, các lý thuyết cho thấy rằng có rất nhiều tác động tiềm năng của kiều hối đối với tăng trưởng kinh tế và những ảnh hưởng này đối với mỗi khu vực là khác nhau Về lý thuyết sự ảnh hưởng này đối với mỗi khu vực là khác nhau Về lý thuyết sự ảnh hưởng của kiều hối lên tăng trưởng kinh tế chưa thật

sự rõ ràng Trong phần tiếp theo, bài nghiên cứu sẽ xem xét các bằng chứng thực nghiệm về mối quan hệ giữa kiều hối và tăng trưởng để thấy mức độ ảnh hưởng cũng như các kết quả đạt được như thế nào

3 Về mặt thực nghiệm

Về thực nghiệm, thông qua các nghiên cứu khác nhau về dữ liệu nghiên cứu, phương pháp ước lượng, kết quả của các nghiên cứu cũng có nhiều khác biệt Nghiên cứu của Chami et al (2003) là một trong những nghiên cứu thực nghiệm đầu tiên nghiên cứu tác động của kiều hối đến sự phát triển kinh tế của nước chủ nhà Các tác giả thực hiện phương pháp IV-2SLS cho mô hình hồi quy dữ liệu bảng đồng nhất của 113 quốc gia (bao gồm 25 quốc gia SSA) trong giai đoạn 1970-1998 Kết quả của họ cho thấy bằng chứng về tác động tiêu cực của kiều hối đến tăng trưởng kinh tế của quốc gia tiếp nhận

Theo sau nghiên cứu của Chami et al (2003), nhiều nghiên cứu khác đã được thực hiện để khám phá tác động của kiều hối đến tăng trưởng kinh tế Giuliano và Ruiz-Arranz (2009) tiến hành kiểm tra thực nghiệm giả thuyết: Kiều hối có thể thúc đẩy tăng trưởng kinh tế ở các nước có hệ thống tài chính kém phát triển, kiều hối đóng vai trò thay thế cho sự phát triển của hệ thống tài chính Xem xét mô hình hồi quy

dữ liệu bảng đồng nhất của 100 quốc gia đang phát triển trong giai đoạn 1975-2002,

Trang 26

Giuliano và Ruiz-Arranz (2009) tìm thấy kết quả xác nhận giả thuyết của họ rằng kiều hối có thể hỗ trợ tăng trưởng ở các nước có hệ thống tài chính kém phát triển Ngược lại, mô hình hồi quy dữ liệu bảng đồng nhất cho 25 quốc gia Latin America

và Caribbean (LAC) trong giai đoạn 1970-2002 Mundaca (2009) tìm ra bằng chứng thực nghiệm xác nhận giả thuyết rằng kiều hối sẽ tác động đến tăng trưởng tốt hơn nếu quốc gia đó có hệ thống tài chính phát triển một cách đúng đắn Kết quả của Mundaca (2009) được chứng thực bởi Lartey (2013) bằng cách xem xét mô hình hồi quy dữ liệu bảng đồng nhất của 36 quốc gia SSA trong giai đoạn 1990-2000 Bên cạnh đó, Bettin và Zazzaro (2011) cũng xác nhận kết quả này, bằng cách ước lượng

mô hình bảng đồng nhất trên dữ liệu hàng năm từ 66 quốc gia đang phát triển (bao gồm 10 quốc gia SSA) cho giai đoạn 1970-2005 Đặc biệt, họ chỉ ra rằng ảnh hưởng của kiều hối đến phát triển kinh tế là tiêu cực (tích cực) ở các quốc gia có mức độ phát triển tài chính thấp (cao) Cuối cùng, Singh et al (2010) sử dụng một mô hình hồi quy dữ liệu bảng đồng nhất từ 36 quốc gia SSA từ 1990 đến 2008 và thấy rằng kiều hối có tác động tiêu cực đến tăng trưởng kinh tế; tác động này được giảm nhẹ ở các nước có hệ thống tài chính phát triển tốt, môi trường chính trị ổn định hơn Tác động ổn định của kiều hối cũng là chủ đề của nhiều nghiên cứu gần đây Chami

et al (2008) sử dụng dữ liệu chéo của 70 quốc gia từ năm 1970 đến năm 2005 và thấy rằng với các quốc gia có tỷ lệ kiều hối trên GDP cao sẽ làm giảm biến động vĩ

mô một cách đáng kể thông qua việc làm mịn tiêu dùng và đầu tư của người nhận kiều hối Sử dụng dữ liệu chéo của 60 quốc gia đang phát triển Bugamelli vàs Paternò (2009) cũng chỉ ra rằng có bằng chứng thực nghiệm về tác động ổn định của kiều hối Sử dụng mô hình PSTR trên dữ liệu của 87 quốc gia đang phát triển trong giai đoạn 1980-2008, Ahamada và Coulibaly (2011) tìm thấy rằng với quốc gia có trình độ phát triển tài chính cao hơn sẽ cho phép kiều hối gia tăng tác động

ổn định bằng cách chuyển kiều hối tới những người (những người không nhận kiều hối) đang có nhu cầu đầu tư và làm mịn đầu tư của họ

Trang 27

Đặc biệt Hassan, G et al (2012) đã sử dụng mô hình hồi quy phi tuyến để cố gắng tìm hiểu tác động của kiều hối đến tăng trưởng kinh tế ở Bangladesh trong giai đoạn 1974-2006 Kết quả nghiên cứu chỉ ra rằng:

 Có bằng chứng thực nghiệm mạnh mẽ rằng có một mối quan hệ phi tuyến giữa kiều hối và tăng trưởng kinh tế ở Bangladesh Hệ số ước lượng của biến kiều hối dạng bậc hai là dương và có ý nghĩa thống kê Điều này ngụ ý rằng dòng kiều hối trong thời gian 1974-2006 tại Bangladesh làm giảm tốc độ tăng trưởng GDP bình quân trên đầu người trong giai đoạn đầu nhưng gia tăng tốc độ tăng trưởng ở giai đoạn sau Điều này có thể là do trong thực tế ở giai đoạn đầu kiều hối được đưa vào sử dụng nhưng không mang lại hiệu quả Ở giai đoạn sau kiều hối được sử dụng hiệu quả hơn Người nhận kiều hối ở Banladesh không thể sử dụng kiều hối một cách đúng đắn, cũng như có

ít cơ hội để gia tăng năng cao sức lao động thông qua kiều hối Điều này có thể là do sự thiếu hụt tương đối của các công cụ tài chính hoặc các cơ hội đầu

tư ở giai đoạn đầu của quá trình phát triển Trong giai đoạn sau sự gia tăng của các tổ chức NGO, Tổ chức Tài chính vi mô (MFI) và ngân hàng tư nhân

có thể giúp gia tăng nhiều loại sản phẩm và dịch vụ tài chính giúp tăng thu nhập của người nhận kiều hối

 Một lý giải khác cho mối quan hệ phí tuyến tính là: Dòng kiều hối có thể đã làm tăng tỷ giá thực dẫn tới gia tăng ảnh hưởng „căn bệnh Hà Lan‟ Tuy nhiên, do môi trường đầu tư tương đối thuận lợi, sự cởi mở của nền kinh tế

và sự phát triển của tổ chức TCVM và các NGO dẫn chuyền kiều hối vào đầu tư sản xuất, căn bệnh Hà Lan và sự giảm thiểu thu nhập đã bị lấn áp thông qua việc tăng năng suất tổng thể trong nền kinh tế ở giai đoạn sau này

và góp phần sự phát triển Như vậy kiều hối có thể có một tác động phi tuyến với biến GDP trên đầu người ở Bangladesh với tác động tích cực ở giai đoạn đầu và tiêu cực ở giai đoạn sau

 Hầu hết hết quả hồi quy của Hassan, G et al (2012) cho thấy hệ số tương quan của biến kiều hối dạng bậc một với tăng trưởng kinh tế là âm Tuy

Trang 28

nghiên kết quả này không có ý nghĩa bởi vì hệ số của kiều hối dạng bậc hai mang lại dấu dương và ý nghĩa thống kê Nhiều khả năng các tác động tích cực của kiều hối đến tốc độ tăng trưởng của nền kinh tế sẽ được chuyển thông qua tương tác của kiều hối với khu vực tài chính Bởi vì chỉ khi thêm biến tương tác giữa kiều hối và phát triển tài chính, hệ số của kiều hối ở dạng bậc một là dương và có ý nghĩa thống kê Tuy nhiên những ước tính này là không đáng kể

Một số nghiên cứu xem xét tác động tiêu cực tiềm tàng của kiều hối đến tăng trưởng kinh tế thông qua gia tăng ảnh hưởng của “căn bệnh Hà Lan” Ví dụ, Amuedo-Dorantes và Pozo (2004) tìm thấy bằng chứng thực nghiệm về sự gia tăng của tỷ giá hối đoái thực bằng cách sử dụng một mô hình hồi quy dữ liệu bảng đồng nhất của

13 quốc gia LAC từ năm 1979 đến năm 1998 Sử dụng dữ liệu của El Salvador và

kỹ thuật Bayesian, Acosta et al (2009) ước tính một mô hình DSGE (Dynamic stochastic general equilibrium) và nhận thấy rằng kiều hối dẫn đến gia tăng ảnh hưởng của “căn bệnh Hà Lan”

3.1.1 Ảnh hưởng của kiều hối đến phát triển tài chính

Các lý thuyết và bằng chứng thực nghiệm về tác động của kiều hối đến phát triển tài chính ở các quốc gia đưa đến kết luận rằng kiều hối tác động tích cực lẫn tiêu cực đến phát triển tài chính

a) Tác động tích cực

Về lý thuyết kiều hối có thể tác động tích cực đến phát triển tài chính theo bốn cách sau:

Thứ nhất, chi phí của việc chuyển tiền có thể làm dòng kiều hối không liên

tục, người di cư thường sẽ chuyển một lượng lớn kiều hối để giảm chi phí chuyển tiền Các hộ gia đình sẽ có những khoản tiền lớn trong khoảng thời

Trang 29

gian nhất định Điều này có thể làm tăng nhu cầu về các dịch vụ ngân hàng như tiết kiệm, chuyển tiền

Thứ hai, liên ngân hàng và mạng lưới chuyển tiền có ý nghĩa quan trọng

trong việc chuyển kiều hối Ngân hàng tính lệ phí xử lý cho các giao dịch chuyển tiền này, đó có thể là một nguồn thu nhập đáng kể cho các ngân hàng thương mại trong nước nhận kiều hối Thu thập từ khoản phí này có thể giúp các ngân hàng mở rộng tầm hoạt động và xây dựng chi nhánh gần với người nhận kiều hối

Thứ ba, một phần đáng kể của lượng kiều hối chảy vào các hộ gia đình mà

đây có thể sẽ là các hộ gia đình chưa tiếp cận với ngân hàng với thu nhập ở mức thấp Như vậy, các ngân hàng làm đại lý chuyển tiền thanh toán có thể định vị những khách hàng mới và cung cấp các dịch vụ khác cho các hộ gia đình nhận kiều hối

Thứ tƣ, việc xử lý các dòng vốn cung cấp cho các ngân hàng sẽ góp phần

tăng thông tin về thu nhập của các hộ gia đình người nhận Thông tin này có thể làm cho các ngân hàng có thể để mở rộng tín dụng các khoản vay cho khách hàng không có tính minh bạch cao

Tác động tích cực của kiều hối đến phát triển tài chính được đề cập trong kết quả nghiên cứu của Orozco và Fedewa (2005) trên một mẫu các quốc gia đang phát triển Mối quan hệ này được giải thích lý thuyết rằng khi tiền được chuyển thông qua các tổ chức tài chính sẽ tạo điều kiện cho người nhận có cơ hội tiếp cận và sử dụng các sản phẩm, dịch vụ tài chính khác Đồng thời, thông qua dịch vụ chuyển kiều hối, các ngân hàng sẽ có cơ hội tìm hiểu và tiếp cận những người nhận tiền không sử dụng dịch vụ và sản phẩm của ngân hàng hoặc những người nhận tiền mà trước đó sử dụng hạn chế dịch vụ, sản phẩm tài chính Do đó, kiều hối có thể tăng tín dụng nội địa nếu ngân hàng mở rộng tín dụng với những người nhận kiều hối bởi

vì kiều hối được coi là đáng kể và tương đối ổn định

Trang 30

Kết luận của Orozco và Fedewa (2005) được khằng định qua nghiên cứu của Aggarwal et al (2011), Gupta et al (2009), Chowdhury (2011), Cooray (2012), Demirgüç-Kunta et al (2011) Aggarwal et al (2011) khám phá ra tác động của kiều hối lên sự phát triển của hệ thống tài chính, sử dụng mô hình bảng đồng nhất trong giai đoạn 1975-2003 trên dữ liệu hàng năm của 99 nước đang phát triển Tác giả đã tìm ra bằng chứng rằng kiều hối thúc đẩy phát triển tài chính bằng cách gia tăng mức độ tiền gửi và tín dụng Sử dụng phương pháp tương tự của Aggarwal et

al (2011), Gupta et al (2009) xem xét ảnh hưởng của kiều hối lên phát triển tài chính trên một mẫu dữ liệu bảng của 44 quốc gia SSA từ 1975 đến 2004 Họ tìm thấy một vài bằng chứng thực nghiệm rằng kiều hối hỗ trợ phát triển tài chính Trong phần đầu nghiên cứu của mình, Chowdhury (2011) cân nhắc tiến cận một phương trình duy nhất của Aggarwal et al (2011) để phân tích tác động của kiều hối lên phát triển tài chính bằng cách tập trung riêng vào Bangladesh

Ngoài ra vai trò của các ngân hàng thuộc sở hữu của chính phủ cũng là nhân tố quan trọng trong việc xác định mức độ và hiệu quả của dòng kiều hối Trong các nền kinh tế phát triển, chính phủ đóng một vai trò quan trọng trong việc thiết lập các ngân hàng ở các khu vực nông thôn và việc tiếp cận đến tài chính Cooray (2012) nghiên cứu sự ảnh hưởng của kiều hối trên hai khía cạnh của lĩnh vực tài chính, cụ thể là quy mô và hiệu quả trong một mẫu gồm 94 nền kinh tế nonOECD Bằng chứng cho thấy kiều hối đóng góp vào việc tăng quy mô và hiệu quả của khu vực tài chính Ngoài ra, nghiên cứu tác động của kiều hối về quy mô khu vực tài chính và hiệu quả thông qua sự tương tác của kiều hối với vốn sở hữu của chính phủ với hệ thống ngân hàng Kết quả cho thấy kiều hối dẫn đến sự gia tăng quy mô lớn hơn của khu vực tài chính ở các nước, trong đó vốn sở hữu của chính phủ với hệ thống ngân hàng là thấp, và tăng hiệu quả trong các quốc gia mà vốn sở hữu của chính phủ với

hệ thống ngân hàng là cao hơn

Cuối cùng, sử dụng dữ liệu cấp thành phố ở Mexico trong năm 2000, Kunta et al (2011) tìm thấy bằng chứng rằng kiều hối làm tăng cả chiều rộng và

Trang 31

Demirgüç-chiều sâu của ngân hàng bằng cách làm tăng số lượng các chi nhánh, tài khoản trên đầu người và tiền gửi

b) Tác động tiêu cực

Bên cạnh những yếu tố tích cực, kiều hối cũng có thể gây ra những tác động tiêu cực đến mức độ phát triển tài chính của một quốc gia Theo lý thuyết, kiều hối sẽ giúp người nhận giảm áp lực về giới hạn tài chính (đường giới hạn chi tiêu dịch sang phải) Do đó khi áp lực tài chính giảm xuống thì nhu cầu tín dụng xuất phát từ những người nhận kiều hối sẽ giảm xuống, điều này sẽ gây ra tác động tiêu cực phần nào đến sự phát triển của thị trường tín dụng Bên cạnh đó, kiều hối tăng lên không có nghĩa tín dụng cho khu vực tài chính tăng lên nếu lượng kiều hối đó được

sử dụng cho những hoạt động của chính phủ Măt khác, do không có các rằng buộc, kiều hối có thể làm giảm nhu cầu tín dụng và làm giảm sự phát triển của thị trường tín dụng Bởi vì, lúc này người nhận thích sử dụng kiều hối cho các mục đích tiêu dùng hay các mục đích khác hơn là gửi vào các tổ chức tài chính Trong trường hợp này, kiều hối như một sản phẩm thay thế cho sự phát triển tài chính

Từ các phân tích kinh tế vĩ mô, Brown et al (2011) tìm thấy bằng chứng của một mối quan hệ tiêu cực giữa kiều hối và hiệu quả tài chính ở các nước đang phát triển Ảnh hưởng của dòng kiều hối về hiệu quả lĩnh vực tài chính được đo bằng chi phí chung và tỷ lệ lãi cận biên Nếu kiều hối dẫn đến sự gia tăng hiệu quả, điều này sẽ

có lợi cho công chúng do giảm chi phí chung và tỷ lệ lãi cận biên Nếu kiều hối làm gia tăng chi phí chung và tỷ lệ lãi cận biên, hiệu quả khu vực tài chính sẽ giảm sút

3.1.2 Ảnh hưởng của phát triển tài chính đến kiều hối

Các nghiên cứu thực nghiệm cho thấy phát triển tài chính là nhân tố quyết định kiều hối:

chính tốt có thể cho phép chuyển những dòng kiều hối lớn hơn về nước Thứ

Trang 32

hai, sự phát triển của hệ thống tài chính cũng có thể gia tăng dòng kiều hối bằng cách giảm chi phí gửi tiền Điều này được đề cập bởi Aggarwal et al (2011), mức độ phát triển tài chính của nước chủ nhà có thể là một yếu tố kinh tế vĩ mô quyết định của kiều hối Sử dụng phương pháp Generalized Method of Moments (GMM) với dữ liệu bảng cân bằng của 109 quốc gia đang phát triển trong giai đoạn 1975-2007, Aggarwal et al (2011) thấy rằng sự phát triển của hệ thống tài chính của một quốc gia có thể ảnh hưởng một cách tích cực đến dòng kiều hối của quốc gia đó

Salvado (2006), Mookerjee và Roberts (2011) Dòng kiều hối được chuyển về nước qua hai kênh: kênh chính thức và kênh không chính thức Tuy nhiên ở các nước đang kiều hối ở các nước tiếp nhận Ngoài ra một cách rõ ràng để cải thiện dòng chảy kiều hối thông qua các kênh chính thức là tăng cường phát triển khu vực tài chính thông qua việc tăng số lượng các tổ chức ngân hàng ở các nước đang phát triển và số lượng các chi nhánh ngân hàng Việc gia tăng các tổ chức ngân hàng có cung cấp dịch vụ chuyển kiều hối tạo ra sự cạnh tranh lớn hơn và thúc đẩy chi phí giao dịch giảm Do đó khu vực tài chính càng phát triển và hiệu quả thì càng cho phép người di cư gửi tiền thông qua các kênh chính thức với chi phí giao dịch thấp hơn Ngoài ra, điều này làm tăng khả năng tiếp cận của người nhận kiều hối thông qua hệ thống ngân hàng chính thức Do đó, dòng kiều hối sẽ cùng chiều với sự phát triển của khu vực tài chính, khu vực tài chính của nước tiếp nhận kiều hối càng phát triển lượng chuyển kiều hối quốc tế đến quốc gia đó càng lớn Để do lường mức độ phát triển tài chính, Mookerjee và Roberts (2011) sử dụng một phương pháp đo lường độc đáo là: số lượng các ngân hàng trên 1000 km2 Biến này có ưu điểm hơn so với các biến hay được sử dụng trước đây (Tiền gửi và tín dụng trên GDP) là thể hiện được khả năng tiếp cận của người dân đến dòng kiều hối quốc tế Sử dụng mô hình hồi quy với dữ liệu của 64 quốc gia, Mookerjee and Roberts (2011) thấy rằng tồn tại một mối

Trang 33

quan hệ tích cực giữa phát triển tài chính và kiều hối Càng có nhiều ngân hàng trên 1000 km2, dòng kiều hối quốc gia tiếp nhận sẽ càng lớn hơn

Nghiên cứu thực nghiệm cho thấy phát triển tài chính là không phải là nhân tố quyết định kiều hối:

 Để điều tra liệu phát triển tài chính là yếu tố quyết định kiều hối, Bettin et al (2012) ước tính một mô hình vi hành vi trên khoản tiền gửi từ những người nhập cư hợp pháp nhập cảnh vào Úc từ 1993 đến 1995, và thấy rằng mức độ phát triển tài chính không ảnh hưởng đến xu hướng chuyển kiều hối Lòng vị tha được coi là nhân tố quyết định xem người di cư có chuyển tiền về nước

cách tiếp cận VAR để nhận diện phản ứng của kiều hối đến yếu tố kinh tế vĩ

mô nước chủ nhà Xem xét kiều hối được gửi từ U.S đến 5 nước nhận kiều hối nhiều nhất (Mexico, Brazil, Colombia, El Salvador and Dominican Republic), Vargas-Silva và Huang (2006) thấy rằng kiều hối nhạy cảm với những thay đổi trong điều kinh tế vĩ mô của nước sở tại hơn là điều kiện kinh

tế vĩ mô của nước chủ nhà Điều kiện kinh tế của nước chủ nhà dường như không có ý nghĩa thống kê ảnh hưởng đến kiều hối Người di cư tập trung vào xem xét điều kiện kinh tế nước sở tại so với nước nước chủ nhà khi quyết định chuyển bao nhiêu kiều hối Các hoạt động kinh tế trong nước sở tại của lao động nhập cư là rất quan trọng bởi vì việc cải thiện điều kiện kinh

tế ở nước sở tại cho phép người di cư có thể tăng việc làm và thu nhập, do đó cho phép người di cư gửi tiền về nhiều hơn

Tóm lại, với các nghiên cứu với mẫu dữ liệu và phương pháp khác nhau sẽ cho các kết quả khác nhau Ngoài ra, hầu hết các bài nhiên cứu trước đây sử dụng dữ liệu bảng đồng nhất và ít bài nghiên cứu xem xét vấn đề không đồng nhất Do

đó, bài nghiên cứu này tương tự như nghiên cứu của Ahamada và Coulibaly (2013) ở cách tiếp cận Ahamada và Coulibaly (2013) xem xét cách tiếp cận chuỗi thời gian để kiểm tra mối quan hệ của kiều hối và tăng trưởng kinh tế ở

Trang 34

các quốc gia SSA, sử dụng phương pháp nghiên cứu có thể giải quyết cả hai vấn đề: tính không đồng nhất và tương quan chéo Đây là cách tiếp cận kiểm định nhân quả Granger của Kónya (2006), dựa trên mô hình hồi quy dường như không tương quan và kiểm định Wald với giá trị bootstrap cho từng quốc gia riêng lẻ Chủ đề nghiên cứu bài sẽ tương tự Chowdhury (2011), xem xét mối quan hệ giữa kiều hối và phát triển tài chính Tuy nhiên thay vì mẫu dữ liệu nghiên cứu là các quốc gia SSA bài nghiên cứu sẽ tập trung vào các quốc gia Đông Nam Á

Trang 35

CHƯƠNG 3: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU VÀ DỮ LIỆU

Dựa vào các cơ sở lý luận và mô hình lý thuyết trong phần trước, phần 3 sẽ tiếp tục trình bày phương pháp nghiên cứu để kiểm định mối quan hệ giữa kiều hối và phát triển tài chính tại các quốc gia Đông Nam Á Các biến và cách đo lường các biến trong mô hình cũng sẽ được trình bày rõ hơn trong phần này

3.1 Phương pháp nghiên cứu

Có ba cách tiếp cận có thể được thực hiện để kiểm định quan hệ nhân quả Granger với dữ liệu bảng Cách thứ nhất là dựa trên phương pháp Generalized Method of Moments (GMM), phương pháp này ước lượng mô hình bảng (đồng nhất) bằng cách loại bỏ các hiệu ứng cố định Tuy nhiên phương pháp này không giải quyết được tính không đồng nhất và phụ thuộc chéo Cách tiếp cận thứ hai có thể giải quyết tính không đồng nhất được đề xuất bởi Hurlin (2008) Nhưng nhược điểm của phương pháp này là khả năng phụ thuộc chéo không được xem xét Cách tiếp cận thứ ba được đề cập bởi Kónya (2006), cách tiếp cận này có thể giải quyết các vấn đề

về phụ thuộc chéo và tính không đồng nhất Bởi vì cách tiếp cận này được dựa trên phương pháp hệ phương trình hồi quy dường như không tương quan (Seemingly Unrelated Regressions – SUR) và kiểm định Wald với giá trị tới hạn bootstrap của từng quốc gia xác định, điều này cho phép kiểm định nhân quả Granger cho từng quốc gia riêng lẻ, bằng cách giải thích cho sự phụ thuộc chéo có thể có giữa các quốc gia Bên cạnh đó, vì giá trị tới hạn bootstrap được ước tính theo phương pháp

không cần tiền kiểm định tính dừng và đồng liên kết Cuối cùng với ưu điểm của giá trị tới hạn bootstrap, cách tiếp cận này có thể giải quyết thiếu sót của các mẫu T nhỏ (đặc biệt các dữ liệu hàng năm) Với những ưu điểm trên, cách tiếp cận của Kónya (2006) sẽ được thực hiện trong bài nghiên cứu này

Với tiếp cận nhân quả dựa trên dữ liệu bảng của Kónya (2006) mối quan hệ giữa Y

và X được nghiên cứu bằng cách sử dụng mô hình Var hai biến hữu hạn:

Trang 36

Với i (i = 1, , N) biểu thị cho quốc gia, t (t = 1, , T) đại diện cho thời gian, s là

độ trễ, ly1, lx1, ly2 và lx2 thể hiện độ trễ Sai số: ε1,i,t và ε2,i,t được cho là nhiễu trắng (Nhiễu trắng: sai số với mức ý nghĩa zero, phương sai không đổi, do dó các biến không có sự tương quan với nhau) và có thế có tương quan giữa các quốc gia với nhau

Dựa theo cách tiếp cận của Kónya (2006), để phân tích quan hệ nhân quả Granger giữa kiều hối và phát triển tài chính cho từng quốc gia, bài nghiên cứu sử dụng hệ thống đa chiều sau đây:

{

∑ ∑ ∑ ∑ ∑ ∑

(1)

Với i (i=1, N) biểu thị cho quốc gia, t (t=1,…T) đại diện cho thời gian, và , , thể hiện độ trễ Sai số và được giả định nhiễu trắng Rem biểu thị cho logarit của phần trăm kiều hối trên GDP, biểu thị cho logarit của chỉ số phát triển tài chính (M2/GDP hoặc Tín dụng/GDP), và biểu thị cho logarit của thực trên đầu người Chuỗi rem, , có thể có tính dừng hoặc đồng liên kết phụ thuộc vào đặc tính chuỗi thời gian của dữ liệu

Với hệ thống nhiều chiều, chúng ta tập chung vào 2 biến số, mối quan hệ giữa kiều hối (rem) và phát triển tài chính ( Do đó, khả năng cả hai biến cùng nhau gây ra yếu tố thứ ba là không được kiểm tra Nói cách khác, GDP được coi là một biến phụ, GDP sẽ không liên quan trực tiếp đến phân tích nhân quả Granger GDP được

sử dụng để chắc chắn sự tối ưu của nhân quả Granger, bởi bị GDP có thể ảnh hưởng đến cả kiều hối và tăng trưởng kinh tế Thực tế, theo bằng chứng của Lucas and Stark (1985), trong sự hiện diện của hành vi vị tha (hoặc lợi ích cá nhân) của người

di cư, điều kiện kinh tế nước chủ nhà (GDP) có thế có tương quan âm (hoặc dương)

Trang 37

với số lượng kiều hối chuyển về Bên cạnh đó, điều kiện kinh tế (GDP cao) có thể thúc đẩy hệ thống tài chính phát triển

Dựa trên hệ thống (1), quốc gia i tồn tại quan hệ nhận quả một chiều từ rem tới

nếu trong phương trình thứ nhất không phải tất cả bằng 0 nhưng trong phương trình thứ 2 tất cả bằng 0 Tồn tại quan hệ nhân quả một chiều từ đến rem nếu trong phương trình thứ nhất, tất cả bằng 0 nhưng không phải tất cả

và khác 0 Không tồn tại qua hệ nhân quả giữa và rem nếu tất cả và

đều bằng 0

Chú ý rằng với mỗi quốc gia, hai phương trình của hệ (1) có cùng một sự thiết lập,

có nghĩa là các biến nội sinh và ngoại sinh trễ Do đó, các ước lượng tham số từ OLS phù hợp và hiệu quả tiệm cận Điều này có nghĩa rằng người ta có thể ước tính từng phương trình, theo bất kỳ thứ tự nào, từng phương trình trong hệ phương trình (1) Sau đó thay thế các phương trình trong (1), hai hệ phương trình dưới đây được xem xét:

∑ ∑ ∑ ∑ ∑ ∑

(3)

Trái ngược với hệ (1), mỗi phương trình trong hệ (2) và (3) chứa các biến được xác định trước khác nhau Tuy nhiên, các hồi quy riêng lẻ trong hệ thống có thể tồn tại tương quan đồng thời Do đó để giải quyết sự tương quan đồng thời, hệ (2) và (3)

Trang 38

phải được ước lượng bằng kỹ thuật SUR Thực tế, với sự hiện diện của tương quan tạm thời, tiến trình SUR cung cấp phương thức ước lượng hiệu quả hơn so với kỹ

thuật OLS (Zellner, 1962) Sau khi đạt được ước lượng SUR, giá trị tới hạn Wald

bootstrap của từng quốc gia (tạo bởi 10.000 lần lặp) được dùng làm công cụ nhân quả Granger Ví dụ, trong kiểm định không nhân quả từ rem tới trong hệ (2), sử

dụng gdp như là biến phụ, tiến trình bootstrap của Kónya (2006) bao gồm năm bước

Bước 2: Tiếp tục lấy mẫu các phần dư bằng cách giữ lại sự phụ thuộc đồng

thời giữa các phần dư trong hệ (2) Để kết thúc,chọn ngẫu nhiên tất cả các cột

từ ma trận [ ] tại một thời điểm (nghĩa là không rút các phần dư các nước

Trang 39

Bước 5: Xây dựng các bản phân phối thực nghiệm của các số liệu thống kê

kiểm định Wald bằng cách lặp lại bước 2-4 nhiều lần (10 000 lần) và tạo ra giá trị tới hạn bootstrap tương ứng với số phần trăm thích hợp

Tiến trình này được sử dụng cho kiểm định không nhân quả từ đến rem trong hệ (3) (sử dụng GDP là biến phụ) Giá trị tới hạn Wald bootstrap tạo ra cho phép chuỗi , rem, không nhất thiết phải dừng Sau đó có thể biểu thị các bậc, bậc một hoặc cao hơn

Một vài ưu điểm khi sử dụng sử dụng phương pháp của Kónya (2006) Đầu tiên, bởi

vì phương pháp này không có giả định đồng nhất và tương quan tạm thời được cho phép, do đó có thể thực hiện kiểm định nhân quả Granger cho mỗi quốc gia trong

dữ liệu bảng bằng cách khai thác các thông tin không gian từ các thiết lập dữ liệu bảng Do đó, cách tiếp cận này cho phép tìm ra số lượng bao nhiêu và nước nào thì tồn tại quan hệ nhân quả một chiều, hai chiều hoặc không tồn tại Thứ hai, khi giá trị tới hạn bootstrap được tính toán, phương pháp không yêu cầu tiền kiểm định tính dừng và đồng liên kết Đây là điểm rất quan trọng khi mà kiểm định tính dừng và đồng liên kết thường bị kém hiệu quả và các kiểm định khác nhau thường cho kết quả trái ngược Cuối cùng nhờ giá trị tới hạn bootstrap, phương pháp này cho phép mẫu T nhỏ Tính chất cuối cùng này rất thích hợp trong trường hợp các nước Đông Nam Á khi mà dữ liệu kiều hối thể hiện theo năm

3.2 Dữ liệu nghiên cứu

Bài nghiên cứu tiến hành nghiên cứu theo phương pháp định lượng

Bài nghiên cứu sử dụng dữ liệu bảng cân bằng hàng năm trong giai đoạn 1999-2014

cho 7 quốc gia Đông Nam Á (Cambodia, Indonesia, Lào, Malaysia, Philippines,

Thái Lan, Việt Nam) Mặc dù đã cố gắng tìm kiếm nhưng tác giả vẫn không thể tìm

được dữ liệu kiều hối hàng năm của Singapore, Myanmar, Brunei; do đó các quốc gia này không được xem xét trong mẫu

Trang 40

Các ưu điểm của dữ liệu bảng so với dữ liệu theo chuỗi thời gian và không gian: Theo Baltagi (2008), vì dữ liệu bảng liên quan đến các cá nhân, doanh nghiệp, chỉ

số v.v… theo thời gian, nên nhất định phải có tính dị biệt (không đồng nhất) trong các đơn vị này Kỹ thuật ước lượng dữ liệu bảng có thể chính thức xem xét đến tính

dị biệt đó bằng cách xem xét các biến số có tính đặc thù theo từng cá nhân, được trình bày ngay sau đây Ta sử dụng thuật ngữ cá nhân theo ý nghĩa chung bao gồm các đơn vị vi mô như các cá nhân, các doanh nghiệp, chỉ số Thông qua kết hợp các chuỗi theo thời gian của các quan sát theo không gian, dữ liệu bảng cung cấp những dữ liệu có nhiều thông tin hơn, đa dạng hơn, ít cộng tuyến hơn giữa các biến

số, nhiều bậc tự do hơn và hiệu quả hơn

Dữ liệu của bài nghiên cứu được thu thập từ World Bank database (World Development Indicators) Dữ liệu được lấy từ World Bank sẽ đảm bảo tính đồng nhất về cách đo lường cho tất cả các quốc gia

Các dữ liệu được quan sát ở từng quốc gia là: dòng kiều hối, Cung tiền M2, tín dụng ngân hàng, GDP bình quân trên đầu người

Phương pháp đo lường:

a) Biến độc lập trong mô hình (2) đồng thời là biến phụ thuộc cho mô hình (3)

Rem (Personal remittances, received): dòng kiều hối chảy vào nước tiếp nhận

World Bank và định nghĩa trong sổ tay của cán cân thanh toán quốc tế IMF lần thứ 6 Định nghĩa gồm hai phần:

Nguồn kiều hối thứ nhất là tiền lương của nhân viên, được định nghĩa là lượng kiều hối có được do người lao động không thường trú ở nước ngoài gồm tiền lương và tiền công Họ là những người làm việc xa quê hương , hay làm việc theo mùa vụ, hay người lao động làm việc theo hợp đồng ngắn hạn hoặc

Ngày đăng: 11/09/2017, 10:25

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
53. Porter, R. “The Promotion of Banking Habit and Economic Development,” Journal of Development Studies, 1966 (2), 346-366 Sách, tạp chí
Tiêu đề: The Promotion of Banking Habit and Economic Development
1. Lê Đạt Chí và Phan Thị Thanh Thúy, 2014. Tác động của kiều hối đến tăng trưởng kinh tế ở các nước đang phát triển. Phát triển & hội nhập, số 16(26), trang 104-117, trang 52-58 Khác
2. Phạm Thị Hoàng Anh, 2015. Tác động kiều hối đến phát triển tài chính ở Việt Nam. Tạp chí Tăng trưởng kinh tế , số 26(4), trang 104-117.Danh mục tài liệu tiếng Anh Khác
1. Abdih, Yasser, Ralph Chami, Jihad Dagher, and Peter Montiel (2008). Remittances and Institutions: Are Remittances a Curse?. IMF Working Paper 08/29, International Monetary Fund Khác
2. Acosta, P. A., Lartey, E. K., & Mandelman, F. S. (2009). Remittances and the Dutch disease. Journal of international economics, 79(1), 102-116 Khác
3. Adarov, M. A., & Tchaidze, M. R. (2011). Development of financial markets in Central Europe: the case of the CE4 countries (No. 11-101). International Monetary Fund Khác
4. Adnan, N. (2011). Measurement of financial development: A fresh approach. In8th International Conference on Islamic Economics and Finance. University of Surrey, United Kingdom and Comsats Institute of Information Technology, Islamabad, Pakistan Khác
5. Aggarwal, R., Demirgỹỗ-Kunt, A., & Perớa, M. S. M. (2011). Do remittances promote financial development?. Journal of Development Economics, 96(2), 255- 264 Khác
6. Ahamada, I., & Coulibaly, D. (2011). How does financial development influence the impact of remittances on growth volatility?. Economic modelling, 28(6), 2748-2760 Khác
7. Alberola, E., & Salvado, R. C. (2006). Banks, remittances and financial deepening in receiving countries: a model. Banco de Espana Research Paper No.WP-0621 Khác
8. Amuedo-Dorantes, C., & Pozo, S. (2004). Workers' remittances and the real exchange rate: a paradox of gifts. World development, 32(8), 1407-1417 Khác
9. Bai, J., & Kao, C. (2006). On the estimation and inference of a panel cointegration model with cross-sectional dependence. contributions to Economic Analysis, 274, 3-30 Khác
10. Bettin, G., & Zazzaro, A. (2012). Remittances and financial development: substitutes or complements in economic growth?. Bulletin of Economic Research, 64(4), 509-536 Khác
11. Breitung, J. (2005). A parametric approach to the estimation of cointegration vectors in panel data. Econometric Reviews, 24(2), 151-173 Khác
12. Breusch, T. S., & Pagan, A. R. (1980). The Lagrange multiplier test and its applications to model specification in econometrics. The Review of Economic Studies, 47(1), 239-253 Khác
13. Brown, R. P., Carmignani, F., & Fayad, G. (2013). Migrants‟ Remittances and Financial Development: Macro‐and Micro‐Level Evidence of a Perverse Relationship. The World Economy, 36(5), 636-660 Khác
14. Bugamelli, M., & Paternò, F. (2009). Output growth volatility and remittances.Economica, 78(311), 480-500 Khác
15. Bugamelli, M., & Paternò, F. (2011). Output growth volatility and remittances. Economica, 78(311), 480-500 Khác
16. Cameron, R. Banking and Economic Development: Some Lessons of History. New York: Oxford University Press, 1972 Khác
17. Cooray, A. (2012). Migrant remittances, financial sector development and the government ownership of banks: Evidence from a group of non-OECD economies. Journal of International Financial Markets, Institutions and Money,22(4), 936-957 Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm