Vị trí, vai trò của việc nghiên cứu, lựa chọn một số bài tập vận động nâng cao kĩ năng ném xa trong Giáo dục Thể chất cho trẻ 5-6 tuổi .... Nhưng qua tìm hiểu thấy việc tổ chức hướng dẫn
Trang 1TRẦN THỊ HƯƠNG PHAN
LỰA CHỌN BÀI TẬP NÂNG CAO
KỸ NĂNG NÉM XA CHO TRẺ MẪU GIÁO 5 - 6 TUỔI TRƯỜNG MẦM NON TIỀN PHONG A – MÊ LINH – HÀ NỘI
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Trang 2
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA GIÁO DỤC MẦM NON
TRẦN THỊ HƯƠNG PHAN
LỰA CHỌN BÀI TẬP NÂNG CAO
KỸ NĂNG NÉM XA CHO TRẺ MẪU GIÁO 5 - 6 TUỔI TRƯỜNG MẦM NON TIỀN PHONG A – MÊ LINH – HÀ NỘI
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Ngành học: Giáo dục Mầm non
Cán bộ hướng dẫn
ThS Nguyễn Xuân Đoàn
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tên tôi là: Trần Thị Hương Phan
Sinh viên: Lớp K39B - GDMN trường ĐHSP Hà Nội 2
Tôi xin cam đoan đề tài “Lựa chọn bài tập nâng cao kỹ năng ném xa
cho trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi trường mầm non Tiền Phong A – Mê Linh – Hà Nội” là kết quả quá trình nghiên cứu, tìm tòi học hỏi của bản thân tôi dưới sự
chỉ đạo của giáo viên hướng dẫn Những kết quả nghiên cứu trong khoá luận
chưa từng được công bố tại bất cứ công trình nghiên cứu nào
Hà Nội, ngày 3 tháng 5 năm 2017
Sinh viên
Trần Thị Hương Phan
Trang 5MỤC LỤC
ĐẶT VẤN ĐỀ 1
CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 4
1.1 Quan điểm của Đảng và Nhà nước về giáo dục mầm non 4
1.2 Giáo dục mầm non trong hệ thống giáo dục quốc dân 5
1.2.1 Vị trí, vai trò của giáo dục mầm non 5
1.2.2 Mục tiêu của giáo dục mầm non 6
1.2.3 Chương trình giáo dục mầm non 6
1.3 Giáo dục Thể chất trong trường mầm non 7
1.3.1 Mục tiêu của Giáo dục Thể chất trong trường mầm non 7
1.3.2 Nhiệm vụ của Giáo dục Thể chất trong trường mầm non 7
1.4 Đặc điểm phát triển thể chất ở trẻ mầm non 10
1.4.1 Sự phát triển cơ thể trẻ [12] 10
1.4.2 Sự phát triển vận động của trẻ 5-6 tuổi 12
1.5 Vị trí, vai trò của việc nghiên cứu, lựa chọn một số bài tập vận động nâng cao kĩ năng ném xa trong Giáo dục Thể chất cho trẻ 5-6 tuổi 13
1.5.1 Vai trò của hoạt động ném xa đối với trẻ 5-6 tuổi 13
1.5.2 Ý nghĩa của bài tập dẫn dắt trong việc phát triển kĩ năng ném xa cho trẻ 5 - 6 tuổi 14
CHƯƠNG 2 NHIỆM VỤ, PHƯƠNG PHÁP VÀ TỔ CHỨC NGHIÊN CỨU 15
2.1 Nhiệm vụ nghiên cứu 15
2.2 Phương pháp nghiên cứu 15
2.2.1 Phương pháp phân tích và tổng hợp tài liệu 15
2.2.2 Phương pháp quan sát sư phạm 15
2.2.3 Phương pháp kiểm tra sư phạm 16
Trang 62.2.4 Phương pháp thực nghiệm sư phạm 16
2.2.5 Phương pháp phỏng vấn 16
2.2.6 Phương pháp toán học thống kê 16
2.3 Tổ chức nghiên cứu 18
2.3.1 Thời gian nghiên cứu 18
2.3.2 Đối tượng nghiên cứu 19
2.3.3 Địa điểm nghiên cứu 19
CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 20
3.1 Thực trạng công tác giáo dục thể chất và thực trạng sử dụng bài tập vận động ném xa cho trẻ 5- 6 tuổi 20
3.1.1 Thực trạng về cơ sở vật chất, trang thiết bị và không gian trường 20
3.1.2 Thực trạng về trình độ đội ngũ giáo viên của trường mầm non Tiền Phong A – Mê Linh – Hà Nội 21
3.1.3 Thực trạng việc thực hiện chương trình giáo dục thể chất cho trẻ trong trường mầm non Tiền Phong A – Mê Linh – Hà Nội 23
3.1.4 Thực trạng việc sử dụng các bài tập vận động ném xa cho trẻ 5-6 tuổi trường mầm non Tiền Phong A 25
3.2 Lựa chọn, ứng dụng và đánh giá hiệu quả bài tập nâng cao kỹ năng ném xa cho trẻ 5-6 tuổi trường mầm non Tiền Phong A – Mê Linh – Hà Nội 28
3.2.1 Cơ sở lựa chọn các bài tập nâng cao kỹ năng ném xa cho trẻ 5-6 tuổi trong trường Tiền Phong A 28
3.2.2 Ứng dụng và đánh giá hiệu quả bài tập nâng cao kỹ năng ném xa cho trẻ 5 – 6 tuổi trường mầm non Tiền Phong A – Mê Linh – Hà Nội 37
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 41
Trang 7TÀI LIỆU THAM KHẢO 42 PHỤ LỤC 1
PHỤ LỤC 2
Trang 8DANH MỤC CÁC BIỂU BẢNG
Bảng 3.1: Đánh giá thực trạng về cơ sở vật chất đáp ứng công tác GDTC
của nhà trường (n = 30) 21 Bảng 3.2: Thực trạng đội ngũ giáo viên của trường (n=30) 21 Bảng 3.3: Mức ưu tiên rèn luyện các VĐCB của trẻ 5 – 6 tuổi trong
GDTC (n=30) 25 Bảng 3.4: Đánh giá của GV về thực trạng của việc rèn luyện kĩ năng
ném xa cho trẻ 5-6 tuổi (n=30) 26 Bảng 3.5 Thực trạng việc sử dụng bài tập phát triển kĩ năng ném xa cho
trẻ 5 – 6 tuổi (n = 30) 27 Bảng 3.6: Kết quả khảo sát chất lượng giờ học sử dụng bài tập vận động
ném xa cho trẻ 5 – 6 tuổi (n=30) 27 Bảng 3.7: Kết quả khảo sát những khó khăn thường gặp khi sử dụng các
bài tập nâng cao kĩ năng ném xa cho trẻ MG 5 - 6 tuổi (n=30) 28 Bảng 3.8: Kết quả phỏng vấn giáo viên về lựa chọn bài tập bổ trợ nhằm
nâng cao kỹ năng ném xa cho trẻ 5- 6 tuổi trường mầm non Tiền Phong A (n =12) 31 Bảng 3.9: Kết quả phỏng vấn về mức độ ưu tiên lựa chọn test đánh giá kĩ
năng ném xa của trẻ (n=12) 36 Bảng 3.10 Tiến trình giảng dạy một số bài tập bổ trợ nhằm phát triển kĩ
năng ném xa cho trẻ 5-6 tuổi trường mầm non Tiền Phong A 38 Bảng 3.11: Kết quả kiểm tra TTN (nA=18, nB=17) 39 Bảng 3.12: Kết quả kiểm tra năng lực vận động của trẻ sau thực nghiệm
đối với trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi (nA=18, nB=17) 40
Trang 9ĐẶT VẤN ĐỀ
Đất nước ta tiến hành Công nghiệp hóa – Hiện đại hóa trong bối cảnh chính trị - xã hội ổn định Sự nghiệp Công nghiệp hóa – Hiện đại hóa đòi hỏi phải có một nguồn nhân lực dồi dào, có lòng yêu nước, có trình độ khoa học công nghệ cao cùng với các phẩm chất nhân cách phù hợp Vì vậy, đầu tư cho
GD là đầu tư cho sự phát triển, đảm bảo xây dựng một thế hệ trẻ có đầy đủ những yếu tố cần thiết để phục vụ cho đất nước Thế hệ đó phải là những con người có sức khỏe, con người công nghệ, con người tri thức…là mô hình nhân cách con người Việt Nam mà GD phải đào tạo ra Bởi vậy, GD Việt Nam đang đứng trước những yêu cầu mới của xã hội phải xây dựng con người có phẩm
chất, năng lực, vừa “hồng” vừa “chuyên” như lời Bác Hồ đã căn dặn Thấm
nhuần tư tưởng đó, Đảng ta đã đề ra nhiều chủ trương, chính sách nhằm phát triển sự nghiệp giáo dục – đào tạo Tại đại hội Đảng khóa IX đã xác định:
“Giáo dục và đào tạo là quốc sách hàng đầu, phát triển giáo dục đào tạo là một trong những động lực quan trọng thúc đẩy công nghiệp hóa – hiện đại
người là cuộc đua việt dã đầy khó khăn gian khổ thì GDMN lại là giai đoạn khởi động
Bởi lẽ, GDMN là nấc thang khởi đầu trong hệ thống GD quốc dân với mục tiêu: “Giúp trẻ em phát triển thể chất, tình cảm trí tuệ, thẩm mỹ, hình thành những yếu tố đầu tiên của nhân cách, chuẩn bị cho trẻ em vào học lớp một” Chăm sóc giáo dục trẻ em ngay từ những năm tháng đầu đời là công việc cần thiết và có ý nghĩa vô cùng quan trọng Trẻ em hôm nay, thế giới ngày mai, trẻ em là những chủ nhân tương lai của đất nước, là công dân của
xã hội, do đó cần phải chuẩn bị cho trẻ hành trang vững chắc để bước vào cuộc sống Và một trong số đó chính là nhiệm vụ GDTC GDTC cho trẻ trước tuổi đi học đặt cơ sở cho sự phát triển toàn diện, rèn luyện tinh thần sảng khoái, rèn luyện và hình thành những thói quen vận động cần thiết cho cuộc sống
Trang 10Rèn luyện KNVĐ của trẻ MN nói chung và trẻ MG 5 – 6 tuổi nói riêng làm thỏa mãn nhu cầu hoạt động của trẻ, tăng cường thêm sức khỏe, cơ thể phát triển cân đối, hài hòa, tạo điều kiện phát triển ở trẻ sự cứng cáp của cơ bắp và niềm vui trong hoạt động Hoạt động đó có liên quan chặt chẽ với quá trình GD nhằm mục đích phát triển thể chất, GD các phẩm chất tâm lý, hình thành nhân cách… để tạo dần nên sự hoàn thiện mọi mặt cho trẻ Có thể nói rằng kĩ năng vận động là một trong những nguồn cơ bản để giúp trẻ nhận thức thế giới xung quanh Một trong số đó là kĩ năng ném xa Ném xa không chỉ giúp trẻ biết dùng sức mạnh đôi bàn tay của chính mình mà còn giúp trẻ rèn luyện được các phản xạ nhanh và khéo léo Vì vậy, việc lựa chọn các bài tập vận động để nâng cao kĩ năng ném xa cho trẻ nói chung và trẻ 5 – 6 tuổi nói riêng là vô cùng quan trọng Nhưng qua tìm hiểu thấy việc tổ chức hướng dẫn các bài tập vận động trong dạy học ở trường mầm non còn thiếu quan tâm, chưa chú trọng và việc thực hiện mới chỉ qua loa chưa đáp ứng được mục tiêu
đề ra, chưa sát với mục đích của giờ học Để góp phần giải quyết các vấn đề trên việc nghiên cứu đưa ra một số bài tập vận động sao cho phù hợp với điều kiện thực tế, nâng cao chất lượng học tập môn thể chất cho trẻ trường mầm non Tiền Phong A – Mê Linh – Hà Nội là vấn đề cần thiết của công tác Giáo dục thể chất trường học
* Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Bàn về vấn đề GDTC nói chung và KNVĐCB nói riêng cho trẻ mẫu
giáo có nhiều tác giả đề cập đến như:
- Giải pháp nâng cao hiệu quả công tác giáo dục thể chất cho trẻ mẫu giáo trường mầm non Hùng Vương – Phúc Yên (Vũ Thị Huệ, ĐHSP Hà Nội 2014)
- Nâng cao năng lực tổ chức hoạt động giáo dục thể chất tại trường mầm non Phúc Thắng – Phúc Yên (Đỗ Thị Hiền, ĐHSP Hà Nội 2014)
- Trong luận án Tiến sĩ của tác giả Đặng Hồng Phương: “Nghiên cứu phương pháp dạy học bài tập VĐCB cho trẻ MG lớn (5 – 6 tuổi)” đã đi sâu
Trang 11nghiên cứu và đề xuất các phương pháp dạy học bài tập VĐCB cho trẻ Bà quan tâm đến bài tập VĐ và TCVĐ từ đó đưa ra 4 nhóm phương pháp trong
đó phương pháp ôn luyện KNVĐ cũ và xem yếu tố chơi, thi đua, chia nhóm như là phương tiện, hình thức tạo cơ hội cho trẻ được tích cực VĐ, rèn luyện KNVĐCB, giải quyết tình trạng nhiều trẻ trong một lớp học
Như vậy, có rất nhiều đề tài nghiên cứu vấn đề GDTC nói chung và KNVĐCB cho trẻ mẫu giáo nói riêng nhưng chưa có ai nghiên cứu đề tài
“Lựa chọn bài tập nâng cao kỹ năng ném xa cho trẻ mẫu giáo 5- 6 tuổi trường mầm non Tiền Phong A-Mê Linh- Hà Nội”
Xuất phát từ những lí do trên, chúng tôi đã tiến hành nghiên cứu đề tài:
“Lựa chọn bài tập nâng cao kỹ năng ném xa cho trẻ mẫu giáo 5- 6 tuổi trường mầm non Tiền Phong A - Mê Linh - Hà Nội”
* Mục đích nghiên cứu
Xây dựng hệ thống các bài tập để nâng cao kỹ năng ném xa cho trẻ 5 -
6 tuổi trường mầm non Tiền Phong A nói riêng và các trường mầm non nói chung
* Giả thuyết khoa học
Nếu việc lựa chọn bài tập nâng cao kỹ năng ném xa cho trẻ 5-6 tuổi trường MN Tiền Phong A – Mê Linh – Hà Nội thành công sẽ góp phần nâng cao chất lượng giờ học, phát triển khả năng phối hợp vận động cho trẻ 5-6 tuổi và thúc đẩy sự phát triển toàn diện cho trẻ
Trang 12CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
1.1 Quan điểm của Đảng và Nhà nước về giáo dục mầm non
Việt Nam đang có bước chuyển mình mạnh mẽ trên con đường xây dựng cuộc sống ấm no, hạnh phúc Để đạt được điều đó, Đảng và Nhà nước ta luôn chú trọng tới giáo dục và đào tạo Ngay từ khi đất nước ta giành được
chính quyền, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ rõ: “Một dân tộc dốt là một dân
C.Mác nói: “Giáo dục tái tạo nên sức mạnh bản chất của con người cho
nên GD được coi là phương thức sản xuất lao động và xã hội Sức lao động đó
có thể là những thành phần như kỹ sư, công nhân, hay bán thành phẩm như
đầu tư khôn ngoan và mang lại lợi nhuận cao Do đó, GDMN là điều quan trọng trong hệ thống GD quốc dân, gốc có tốt thì cây mới phát triển tốt
Nhận thức được điều này, Đảng và Nhà nước ta luôn chú trọng, quan tâm đặc biệt tới nhiệm vụ GD trẻ lứa tuổi MN Tư tưởng đó đã thể hiện rõ
trong thư gửi tạp chí “Vì trẻ thơ” ngày 8/1/1997 nguyên Tổng bí thư Đỗ Mười đã viết: “Bảo vệ và chăm sóc giáo dục trẻ em, là một trong những mắt
xích đầu tiên của quá trình triển khai thực hiện con người” [4]
Trong các Nghị quyết của Trung ương Đảng, GDMN cũng luôn chiếm
một phần thứ yếu Nghị quyết Trung ương 2 khóa VIII đã khẳng định: “Ở
mọi bậc học, cấp học, ngành học nhất thiết không thể coi nhẹ việc chăm sóc, bảo vệ sức khỏe cho học sinh, tạo mọi điều kiện cho các em được rèn luyện thông qua các hoạt động đặc biệt là hoạt động thể dục thể thao, để bản thân các em luôn có tâm trạng thoải mái về thể chất, tinh thần và xã hội” [5]
Trang 13Nghị quyết Trung ương 8 khóa XI về đổi mới căn bản, toàn diện GD và
đào tạo: “Đối với GDMN giúp trẻ phát triển thể chất, tình cảm, hiểu biết,
thẩm mỹ, hình thành các yếu tố đầu tiên của nhân cách, chuẩn bị tốt cho trẻ vào lớp 1, hoàn thành phổ cập GDMN trong những năm tiếp theo và miễn phí học phí trước năm 2026 Từng bước chuẩn hóa hệ thống các trường mầm non Phát triển GDMN dưới 5 tuổi có chất lượng phù hợp với điều kiện của từng địa phương và cơ sở giáo dục” [6]
Bên cạnh đó Nhà nước ta còn chú trọng đến việc xây dựng Nhà nước pháp quyền thể hiện sự quan tâm sâu sắc của lãnh đạo Đảng và Nhà nước, tạo điều kiện cho sự phát triển GD nói chung và GDMN nói riêng Sự quan tâm
đó không chỉ dừng lại trên các văn bản mà thực tế hệ thống trường lớp GDMN ở các địa phương đã và đang được mở rộng trên mọi địa bàn dân cư, đặc biệt ở những vùng dân tộc thiểu số, vùng nông thôn và vùng sâu vùng xa
1.2 Giáo dục mầm non trong hệ thống giáo dục quốc dân
1.2.1 Vị trí, vai trò của giáo dục mầm non
GDMN là bậc học đầu tiên, bậc học nền tảng trong hệ thống giáo dục quốc dân Việt Nam với nhiệm vụ thu hút trẻ từ 3 tháng đến 6 tuổi, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục trẻ tạo thành một quá trình GD thống nhất và liên tục
GDMN có vị trí đặc biệt quan trọng trong sự nghiệp GD con người Trẻ
sẽ nhận được sự chăm sóc, nuôi dưỡng và GD một cách khoa học, điều độ tạo điều kiện cho trẻ phát triển tốt nhất về mọi mặt Tạo môi trường hoạt động và vui chơi để cho trẻ có thể phát triển những nét tính cách cơ bản trong nhân phẩm của trẻ
Trẻ mầm non rất nhạy cảm với các tác động bên ngoài, trong đó có các tác động GD Do đó trường MN là nơi GD tốt nhất cho trẻ Chuẩn bị cho trẻ mọi mặt về thể lực, đạo đức trí tuệ… tạo điều kiện thuận lợi cho trẻ bước vào lớp 1
Trang 141.2.2 Mục tiêu của giáo dục mầm non
1.2.2.1 Mục tiêu chung của giáo dục mầm non
Điều 22, luật giáo dục (2005): Mục tiêu của GDMN là giúp trẻ phát triển thể chất, tình cảm, trí tuệ, thẩm mỹ, hình thành những yếu tố đầu tiên của nhân cách, chuẩn bị cho trẻ vào lớp 1 GDMN tạo sự khởi đầu cho sự phát triển toàn diện của trẻ, đặt nền tảng cho việc học ở các cấp học tiếp theo và cho việc học tập suốt đời [3]
1.2.2.2 Mục tiêu giáo dục phát triển thể chất cụ thể với trẻ 5-6 tuổi
Khỏe mạnh, cân nặng và chiều cao phát triển theo lứa tuổi
Thực hiện được các vận động cơ bản một cách vững vàng, đúng tư thế
Có khả năng phối hợp các giác quan và vận động; vận động nhịp nhàng, biết định hướng trong không gian
Có kỹ năng trong một số hoạt động cần sự khéo léo của đôi tay
Có một số hiểu biết về thực phẩm và ích lợi của việc ăn uống đối với sức khỏe
Có một số thói quen, kỷ năng tốt trong ăn uống, giữ gìn sức khỏe và biết cách đảm bảo sự an toàn [7]
1.2.3 Chương trình giáo dục mầm non
Chương trình giáo dục mầm non bao gồm:
- Chương trình giáo dục nhà trẻ
- Chương trình giáo dục mẫu giáo
Chương trình GDMN gồm 2 nhiệm vụ chăm sóc và giáo dục:
- Nhiệm vụ chăm sóc: Góp phần chăm sóc vệ sinh cá nhân, bữa ăn, giấc ngủ cho trẻ khoa học hợp lí Trẻ ở trường luôn có giờ giấc nhất định, giờ nào việc đấy, phù hợp với đặc điểm về tâm sinh lí của trẻ ở từng giai đoạn khác sao cho phù hợp Hoạt động chăm sóc góp phần tạo điều kiện cho trẻ phát triển thể chất tốt nhất; trẻ khỏe, linh hoạt, nhanh nhẹn
Trang 15- Nhiệm vụ giáo dục: Chương trình GDMN đảm bảo nội dung phát triển toàn diện cho trẻ về thể chất, nhận thức, ngôn ngữ, thẩm mĩ, tình cảm và kĩ năng
xã hội Chương trình đảm bảo cho trẻ được phát triển một cách tối đa về cả thể chất lẫn tinh thần, đặt nền tảng tốt cho trẻ học tập ở các cấp học tiếp theo
Chương trình GDMN thể hiện mục tiêu GDMN; cụ thể hóa các yêu cầu
về nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục trẻ em ở từng độ tuổi; quy định về việc tổ chức các hoạt động nhằm tạo điều kiện để các em phát triển về thể chất, tình cảm, trí tuệ, thẩm mỹ; hướng dẫn cách đánh giá sự phát triển của trẻ
Tuy nhiên chương trình GDMN mới chỉ là chương tình khung, nội dung mang tính chất gợi ý, do đó GVMN cần lên kế hoạch cụ thể để đưa ra nội dung kiến thức dạy trẻ [2]
1.3 Giáo dục Thể chất trong trường mầm non
1.3.1 Mục tiêu của Giáo dục Thể chất trong trường mầm non
Đối với GDMN thì GDTC đóng vai trò quan trọng hơn bất cứ cấp bậc nào Bởi đây là lứa tuổi đang có những phát triển mạnh về mặt thể chất Do
đó cần thường xuyên GDTC cho trẻ
GDTC cho trẻ chính là quá trình tác động nhiều mặt vào cơ thể trẻ, tổ chức cho trẻ vận động và sinh hoạt hợp lý nhằm làm cho cơ thể trẻ phát triển đều đặn, sức khỏe được tăng cường, tạo cơ sở cho sự phát triển toàn diện
1.3.2 Nhiệm vụ của Giáo dục Thể chất trong trường mầm non
* Cơ sở đề ra nhiệm vụ:
Dựa trên mục đích của GDTC mầm non là: “GD trẻ khỏe mạnh, nhanh nhẹn, cơ thể phát triển hài hòa, cân đối”, đặc điểm phát triển của trẻ, các giai đoạn cấp thiết của sự phát triển thể chất của trẻ lứa tuổi mầm non, người ta đề
ra các nhiệm vụ sau:
1.3.2.1 Nhiệm vụ bảo vệ sức khỏe
MN là lứa tuổi cơ thể có những sự thay đổi và phát triển nhanh, tuy nhiên do sức đề kháng còn non yếu, các cơ quan đang phát triển nhưng chưa
Trang 16hoàn thiện Trong khi đó, thời tiết, môi trường lại có rất nhiều tác động đến cơ thể trẻ Vì thế mà một trong những nhiệm vụ quan trọng của GDTC là bảo vệ tăng cường sức khỏe cho trẻ nhằm tạo điều kiện tốt nhất cho trẻ phát triển toàn diện
Nhiệm vụ này bao gồm chăm sóc, nuôi dưỡng và rèn luyện một cách khoa học; chăm sóc trẻ khi ăn, ngủ, chơi, học, đảm bảo việc thực hiện chế độ sinh hoạt đúng giờ cho trẻ; cho trẻ ăn đủ chất, đủ lượng; rèn luyện cơ thể trẻ qua hình thức tiết học thể dục, trò chơi vận động, vui chơi…
Làm tốt nhiệm vụ này có nghĩa là đã giúp trẻ củng cố và tăng cường sức khỏe, hoàn hiện chức năng các cơ quan trong cơ thể và tăng sức đề kháng của trẻ với mọi tác động của môi trường
1.3.2.2 Nhiệm vụ giáo dưỡng
Nhiệm vụ này giúp trẻ hình thành và phát triển những kĩ năng, kĩ xảo vận động, phát triển tố chất thể lực, thói quen vệ sinh, nắm được một số kiến thức sơ đẳng về GDTC
Cần giúp trẻ hình thành và phát triển các vận động như: bò, đi, chạy, nhảy, ném, leo trèo… Những thói quen vận động này sẽ giúp trẻ tiết kiệm được sức khi di chuyển trong không gian và thúc đẩy sự phát triển các cơ quan trong cơ thể
Phát triển những tố chất thể lực như: nhanh nhẹn, khéo léo, bền bỉ, sức mạnh… Những tố chất thể lực này sẽ làm tăng độ cao và độ dài của bước nhảy; tăng độ xa và độ chính xác của vận động ném; trẻ có thể tập luyện trong thời gian lâu hơn…
Tập luyện các thói quen vệ sinh bao gồm: vệ sinh cá nhân và vệ sinh môi trường (vệ sinh quần áo, thân thể, môi trường…)
Thông qua giờ dạy thể dục dạy cho trẻ những kiến thức liên quan đến bài tập như: tên gọi và cách sử dụng đồ dùng dụng cụ (bóng, vòng, gậy, cổng
Trang 17chui…), các bộ phận cơ thể (tay, chân, ngực, bụng…), các hướng chuyển động (trước, sau, phải, trái…) Những kiến thức này sẽ làm cho vận động của trẻ trở nên chính xác, có định hướng hơn
1.3.2.3 Nhiệm vụ giáo dục
Ngoài việc giáo dục thể chất còn kết hợp chặt chẽ với các mặt giáo dục khác : Đạo đức, trí tuệ, thẩm mỹ, lao động
* GDTC với giáo dục đạo đức:
Trẻ sẽ có những hiểu biết nhất định về đạo đức qua những lời nhận xét, đánh giá hành vi đạo đức của trẻ trong quá trình luyện tập
Cũng qua quá trình luyện tập trẻ có thể phát triển một số thói quen, phẩm chất đạo đức như có thiện ý với hoạt động tập thể, lòng mong muốn giúp đỡ lẫn nhau, tính thẳng thắn, khiêm tốn, trung thực, công bằng, ý chí dũng cảm, tính kiên trì, ý thức tổ chức kỉ luật v.v…
* GDTC với giáo dục trí tuệ:
GDTC một cách khoa học sẽ giúp cho các quá trình tâm lý như cảm giác, tri giác, trí nhớ, tư duy phát triển tốt; bước đầu hình thành ở trẻ một số thao tác tư duy như phân tích, quan sát, so sánh… Ngoài ra còn củng cố ở trẻ những kiến thức không chỉ liên quan đến GDTC mà còn thu nhận được những kiến thức về sự vật, hiện tượng xung quanh như tư thế động vật, côn trùng, những hiện tượng thiên nhiên xã hội…
* GDTC với giáo dục thẩm mỹ:
Trong quá trình thực hiện bài tập thể chất, trẻ nhận thức đúng đắn về cái đẹp qua việc giáo viên làm mẫu Bên cạnh đó, các động tác được thực hiện một cách khéo léo, nhịp nhàng sẽ tác động đến nhận thức vẻ đẹp của thân thể con người Ngoài ra, màu sắc của các dụng cụ thể dục cũng tác động đến việc hình thành óc thẩm mỹ ở trẻ
Trang 18* GDTC với giáo dục lao động:
Trong các giờ luyện tập thể dục, trẻ có thể tham gia chuẩn bị và thu dọn dụng cụ thể dục Thông qua các trò chơi vận động có chủ đề, trẻ sẽ hiểu được tính chất của các nghề nghiệp và các thao tác lao động của con người Từ đó giúp trẻ có hứng thú lao động, yêu lao động và đặc biệt là có thái độ đúng đắn
và tôn trọng lao động của người lớn [10]
1.4 Đặc điểm phát triển thể chất ở trẻ mầm non
1.4.1 Sự phát triển cơ thể trẻ [12]
Tuổi mẫu giáo nói chung và mẫu giáo lớn nói riêng: Đây là thời kì thuận lợi để trẻ tiếp thu và củng cố các kĩ năng cần thiết Trẻ em lứa tuổi này lớn nhanh, cảm thấy như gầy hơn, mất vẻ tròn trĩnh, mập mạp đã có ở tuổi nhà trẻ Đặc trưng của trẻ lứa tuổi này là cơ thể phát triển chưa ổn định và khả năng vận động còn hạn chế
* Hệ thần kinh
Từ lúc trẻ mới sinh ra, hệ thần kinh của trẻ chưa chuẩn bị đầy đủ dể thực hiện các chức năng của mình Hệ thần kinh thực vật được phát triển hơn Trẻ từ 5 - 6 tuổi, quá trình ức chế tích cực dần dần phát triển, trẻ đã có khả năng phân tích, đánh giá, hình thành kỹ năng, kỹ xảo vận động và phân biệt được sự vật hiện tượng xung quanh
* Hệ vận động (bao gôm hệ xương, hệ cơ và khớp)
Hệ xương của trẻ chưa hoàn toàn cốt hóa, thành phần hóa học xương của trẻ có nhiều nước và chất hữu cơ hơn chất vô cơ so với người lớn, nên có nhiều sụn xương, xương mềm, dễ bị cong, gẫy Hệ xương của trẻ mẫu giáo phát triển yếu, tổ chức cơ bắp còn ít, các sợ cơ nhỏ, mảnh, thành phần nước trong xương tương đối nhiều nên sức mạnh cơ bắp còn yếu, cơ nhanh mệt mỏi Vì vậy cần có sự xen kẽ hợp lý giữa hoạt động và nghỉ ngơi cho trẻ
Trang 19Khớp của trẻ có còn nông, cơ bắp xung quanh khớp còn mềm yếu, dây chằng lỏng lẻo, tính vững chắc của khớp còn tương đối kém Hoạt động vận động phù hợp với lứa tuổi của trẻ sẽ giúp khớp được rèn luyện, từ đó tăng dần tính vững chắc của khớp
* Hệ tuần hoàn
Đây là hệ thống đường ống khép kín do tim và mạch cấu tạo thành, còn gọi là hệ tim mạch Vận động của tim chủ yếu dựa vào co bóp của tim Sức co bóp cơ tim của trẻ yếu, mỗi lần co bóp chỉ chuyển đi được một lượng máu rất
ít, nhưng mạch đập nhanh hon ở người lớn Trẻ càng nhỏ tuổi thì tần số mạch đập càng nhanh Điều hòa thần kinh tim ở trẻ còn chưa hoàn thiện nên nhịp co bóp dễ mất ổn định, cơ tim dễ hưng phấn và chóng mệt mỏi khi tham gia vận động kéo dài Nhưng khi thay đổi hoạt động, tim của trẻ nhanh hồi phục
Để tăng cường công năng của tim, khi cho trẻ luyện tập, nên đa dạng hóa các bài tập, năng dần lượng vận động cũng như cường độ vận động, phối hợp động và tĩnh một cách nhịp nhàng
Khi vận động, cơ thể trẻ đòi hỏi lượng trao đổi khí tăng lên rõ rệt, điều này thúc đẩy các tế bào phổi tham gia vào vận động hô hấp tăng lên, nâng cao tính đàn hồi của thành phổi, cơ hô hấp mạnh dần lên, tăng lượng thông khí phổi và dung tích sống
Trang 20Bộ máy hô hấp của trẻ con nhỏ không chịu đựng được những vận động kéo dài liên tục, những vận động đó sẽ làm cho các cơ đang vận động trong quá trình luyện tập sẽ tạo điều kiện cho cơ thể trẻ thích úng với việc tăng lượng oxy cần thiết và ngăn ngừa được sự xuất hiện của lượng oxy quá lớn
của cơ thể
* Hệ trao đối chất
Cơ thể trẻ đang phát triển đòi hỏi bổ sung liên tục năng lượng tiêu hao
và cung cấp các chất tạo hình để kiến tạo các cơ quan và mô
Quá trình hấp thụ các chất ở trẻ vượt cao hơn quá trình phân hủy và đốt cháy Tuổi càng nhỏ thì quá trình lớn lên và sự hình thành các tế bào và mô của trẻ diễn ra ngày càng mạnh Khác với người lớn, ở trẻ em năng lượng tiêu hao cho sự lớn lên và dự trữ chất nhiều hơn là cho hoạt động cơ bắp Do vậy, khi trẻ hoạt động vận động quá mức, ngay cả khi dinh dưỡng đầy đủ thường dẫn đến tiêu hao năng lượng dư trong các cơ bắp và đọng lại nhũng sản phẩm độc hại ở các cơ quan trong quá trình trao đổi chất Điều này gây cảm giác mệt mỏi cho trẻ và ảnh hưởng không tốt đến công năng hoạt động của cơ bắp
và hệ thần kinh, làm giảm độ nhạy cảm giữa hệ thần kinh trung ương và những dây thần kinh điều khiển hoạt động của cơ bắp Sự mệt mỏi của các nhóm cơ riêng lẻ xuất hiện nếu kéo dài hoạt động liên tục của từng nhóm cơ
Do đó cần thường xuyên thay đổi vận động của các cơ, chọn hình thức vận động phù hợp với trẻ
1.4.2 Sự phát triển vận động của trẻ 5-6 tuổi
Vận động đi của trẻ lứa tuổi này đã ổn định, biết phối hợp chân tay nhịp nhàng Bàn chân rời khỏi mặt đất nhẹ nhàng, mềm mại khi chân chạm đất
Vận động nhảy: Đã hoàn thiện hơn so với các lứa tuổi khác Trẻ nhảy nhẹ nhàng, biết chạm đất bằng hai nửa trước của bàn chân
Trang 21Vận động ném, chuyền, bắt: Trẻ định hướng tốt, biết dùng động tác
“ngắm” để ném trúng đích Sự khéo léo được thể hiện rõ ràng
Dựa vào đặc điểm phát triển thể chất và vận động của trẻ ở lứa tuổi này, ta sẽ lựa chọn được nội dung và phương pháp hướng luyện tập phù hợp
để trẻ có thể đạt hiệu quả cao nhất trong quá trình luyện tập [7]
1.5 Vị trí, vai trò của việc nghiên cứu, lựa chọn một số bài tập vận động nâng cao kĩ năng ném xa trong Giáo dục Thể chất cho trẻ 5-6 tuổi
1.5.1 Vai trò của hoạt động ném xa đối với trẻ 5-6 tuổi
Bài tập ném xa trong các tiết học thể chất góp phần đa dạng các bài tập cho trẻ Ngoài những bài tập phát triển kĩ năng chạy, nhảy, bò, trườn…bài tập ném xa rèn cho trẻ biết dùng sức mạnh đôi bàn tay của chính mình và giúp rèn luyện được các phản xạ nhanh và khéo léo Trẻ mầm non luôn thích thú với sự mới mẻ, thông qua những bài tập được thay đổi thường xuyên khiến cho trẻ thấy hứng thú, hào hứng tham gia vào các hoạt động và đạt được kết quả tốt hơn
Ném xa giúp trẻ nhận thức được cái đẹp, hình thành và nâng cao thị hiếu thẩm mỹ Qua việc quan sát cô làm mẫu, các bạn thực hiện và việc trẻ thực hành bài tập, trẻ sẽ nắm được tư thế đúng khi thực hiện Từ đó trẻ có ý thức trong việc thực hiện động tác, tạo được tư thế đúng, đẹp và đạt được kết quả cao
Thông qua các bài tập phát triển khả năng kết hợp các bộ phận trên cơ thể Ném xa là một hoạt động đòi hỏi sự kết hợp khá phức tạp các bộ phận như tay, chân và thân người Nếu như ở các giai đoạn trước các bài tập của trẻ còn đơn giản, sự phối hợp các bài tập thường ít hơn thì ở 5 -6 tuổi trẻ cần đến những bài tập khó hơn, phức tạp hơn Bài tập giúp trẻ linh hoạt hơn, các cơ có
sự phối kết hợp với nhau nhằm giúp trẻ phát triển hệ thống xương và dây chằng chắc chắn và ổn định hơn
Trang 22Ném xa giúp phát triển các tố chất thể lực, trẻ khỏe mạnh, linh hoạt và khéo léo Các bài tập được thực hiện thường xuyên sẽ giúp trẻ có cơ thể dẻo dai hơn, săn chắc hơn và cơ thể ổn định hơn Ngoài ra thông qua các bài tập rèn cho trẻ tính kiên trì trong tập luyện, cố gắng vượt qua những khó khăn để hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao
1.5.2 Ý nghĩa của bài tập dẫn dắt trong việc phát triển kĩ năng ném xa cho trẻ 5 - 6 tuổi
Bài tập nhằm phát triển kĩ năng ném xa cho trẻ là những bài tập có những động tác nhất định được đưa ra tập luyện nhiều lần có vai trò quan trọng trong việc phát triển kĩ năng ném xa cho trẻ mầm non
Việc đưa các bài tập phù hợp sẽ giúp trẻ giảm bớt căng thẳng, mệt mỏi trong quá trình tập luyện Trẻ sẽ thấy bài tập đơn giản hơn, dễ dàng thực hiện các bài tập hơn Qua những động tác riêng lẻ có thể kết hợp học mà chơi, chơi
mà học khiến cho tâm lí trẻ rất thoải mái Những giờ học khô khan không còn
ám ảnh trong tâm lí trẻ Có thể khi tham gia luyện tập trẻ không còn thấy dường như mình đang tập mà là đang chơi, bài tập bổ trợ tăng sự hứng thú và tinh thần thoải mái cho trẻ
Bài tập là cơ sở, bước đệm củng cố cho bài tập ném xa Những bài tập dẫn dắt sẽ góp phần nâng cao kĩ năng ném xa cho trẻ từ đơn giản đến phức tạp Khi tập các bài tập dẫn dắt trẻ dễ dàng thực hiện các động tác đúng nhanh hơn, sau đó mới kết hợp thực hiện bài tập chính và đạt kết quả tốt hơn
Thông qua các bài tập trên lớp trẻ dễ dàng thực hiện hơn Khi được tổ chức các bài tập dẫn dắt phù hợp, trẻ sẽ thấy mọi thứ rất đơn giản và trẻ có thể thực hiện tốt được theo hướng dẫn của cô
Các bài dẫn dắt trợ giúp trẻ hình thành các kĩ năng ném xa để đạt được kết quả tốt Những động tác riêng lẻ của bài tập bổ trợ, trẻ được làm quen và luyện tập, khi trẻ thực hiện tốt rồi mới đi đến việc phối hợp động tác với nhau
để thực hiện tốt được bài tập của mình
Trang 23CHƯƠNG 2 NHIỆM VỤ, PHƯƠNG PHÁP VÀ TỔ CHỨC NGHIÊN CỨU
2.1 Nhiệm vụ nghiên cứu
Để giải quyết mục đích nêu trên đề tài giải quyết 2 nhiệm vụ nghiên cứu sau:
- Nhiệm vụ 1: Đánh giá thực trạng công tác GDTC và thực trạng sử dụng bài tập vận động ném xa cho trẻ mầm non 5- 6 tuổi trường mầm non Tiền Phong A – Mê Linh – Hà Nội
- Nhiệm vụ 2: Ứng dụng và đánh giá hiệu quả của các bài tập nâng cao
kĩ năng ném xa cho trẻ mầm non 5-6 tuổi trường mầm non Tiền Phong A –
Mê Linh – Hà Nội
2.2 Phương pháp nghiên cứu
Để giải quyết các nhiệm vụ nêu trên, trong quá trình nghiên cứu chúng tôi đã tiến hành sử dụng các phương pháp sau:
2.2.1 Phương pháp phân tích và tổng hợp tài liệu
Phương pháp này được sử dụng với mục đích đọc và tham khảo các tài liệu, đề tài khoa học, các văn kiện, các Chỉ thị, Nghị quyết của Đảng, Nhà nước, ngành TDTT, ngành GD và ĐT về công tác GDTC liên quan đến đề tài nghiên cứu
Kết quả nghiên cứu của phương pháp này là hình thành cơ sở lý luận quan trọng của đề tài: Về đặc điểm tâm sinh lý của trẻ mầm non; vị trí, vai trò của GDTC; đặc điểm của các bài tập vận động, kĩ năng ném xa Từ đó có cơ
sở định hướng cho những bước nghiên cứu tiếp theo của đề tài
2.2.2 Phương pháp quan sát sư phạm
Là phương pháp chúng tôi sử dụng để khảo sát, phân tích đánh giá thực trạng việc sử dụng các bài tập vận động ném xa cho trẻ 5-6 tuổi và tìm hiểu
Trang 24quá trình ứng dụng các bài tập nhằm nâng cao kĩ năng ném xa của trẻ khi tham gia luyện tập tại trường mầm non Tiền Phong A – Mê Linh – Hà Nội
2.2.3 Phương pháp kiểm tra sư phạm
Là phương pháp chúng tôi sử dụng các câu hỏi chuyên môn dành cho trẻ và kết quả của hai nhóm thực nghiêm và đối chứng nhằm mục đích kiểm tra đánh giá kĩ năng ném xa của trẻ thông qua việc ứng dụng các bài tập vận động đã được lựa chọn
2.2.4 Phương pháp thực nghiệm sư phạm
Là phương pháp chúng tôi sử dụng để kiểm nghiệm hệ thống các bài tập vận động đã lựa chọn trong điều kiện thực tiễn nhằm mục đích chính xác hóa các bài tập vận động có thể ứng dụng trong việc nâng cao kĩ năng ném xa cho các em Trong quá trình tổ chức thực nghiệm, tham gia vào quá trình thực hiện là 35 trẻ lớp 5 tuổi A2 trường mầm non Tiền Phong A – Mê Linh – Hà Nội, được chia thành 2 nhóm:
Thông qua phỏng vẫn đã thăm dò được thực trạng việc sử dụng bài tập vận động ném xa cho trẻ tại trường mầm non Tiền Phong A
2.2.6 Phương pháp toán học thống kê
Sau khi thu thập số liệu chúng tôi đã sử dụng phương pháp toán học thống kê để xử lí các số liệu thu được qua kiểm tra sư phạm Đề tài sử dụng một số công thức sau:
Trang 25Công thức tính hệ số trung bình cộng:
= ∑
Trong đó n: là tổng số đối tượng quan sát
: Giá trị từng đối tượng quan sát ∑: Ký hiệu tổng
Công thức tính phương sai: 2
= ∑ ( ̅)
(n < 30) Công thức tính độ lệch chuẩn: | | = √
Công thức tính phương sai chung:
= ∑ ( ̅̅̅̅)
∑ ( ̅̅̅̅)
So sánh hai trị số trung bình quan sát:
t = | ̅̅̅̅ ̅̅̅̅|
√
Trong đó: ̅: Giá trị trung bình cộng
: Phương sai chung
Trang 26I 10/2016 11/2016 Xác định hướng và xây
dựng đề cương nghiên cứu, thu thập tài liệu, lựa chọn tên đề tài
- Đề cương nghiên cứu khoa học
- Bảo vệ đề cương nghiên cứu khoa học
II 12/2016 2/2017 - Thu thập và phân tích
tài liệu có liên quan, ứng dụng một số bài tập vận động nhằm nâng cao kĩ năng ném xa cho trẻ mầm non 5-6 tuổi trường mầm non Tiền Phong A – Mê Linh – Hà Nội
- Xây dựng phiếu phỏng vấn và khảo sát giáo viên
về nhận thức của việc ứng dụng bài tập vận động nhằm nâng cao kĩ năng ném xa cho trẻ 5-6 tuổi
- Đánh giá thực trạng chung kĩ năng ném xa ở trẻ 5- 6 tuổi trường mầm non Tiền Phong A–
Mê Linh – Hà Nội
- Ứng dụng một số bài tập vận động nhằm nâng cao kĩ năng ném xa cho trẻ 5- 6 tuổi trường mầm non Tiền Phong A – Mê Linh – Hà Nội
- Ứng dụng và đánh giá
- Kết quả phỏng vấn III 3/2017 5/2017 Tổng hợp xử lý số liệ thu
được và chỉnh sửa hoàn thiện khóa luận
Bảo vệ đề tài nghiên cứu
Trang 272.3.2 Đối tượng nghiên cứu
Chủ thể nghiên cứu: Bài tập vận động nhắm nâng cao kĩ năng ném xa cho trẻ mầm non 5-6 tuổi trường mầm non Tiền Phong A – Mê Linh – Hà Nội
Khách thể nghiên cứu: 35 trẻ 5-6 tuổi trường mầm non Tiền Phong A–
Mê Linh – Hà Nội
2.3.3 Địa điểm nghiên cứu
Trường mầm non Tiền Phong A – Mê Linh – Hà Nội
Trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2
Trang 28CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
3.1 Thực trạng công tác giáo dục thể chất và thực trạng sử dụng bài tập vận động ném xa cho trẻ 5- 6 tuổi
3.1.1 Thực trạng về cơ sở vật chất, trang thiết bị và không gian trường
Trường mầm non Tiền Phong A được thành lập năm 2016 Trường được đặt tại thôn Yên Nhân – Tiền Phong – Mê Linh – Hà Nội Trường gồm15 lớp và 950 trẻ Trong đó có 3 lớp 2 tuổi, 3 lớp 3 tuổi, 5 lớp 4 tuổi và 4 lớp 5 tuổi Phòng chức năng có 2 phòng là phòng âm nhạc, phòng múa và khu nhà bếp riêng
Trường mới được xây dựng nên rất khang trang, sạch sẽ, đồ dùng đồ chơi đa dạng phù hợp với từng độ tuổi Phòng học thoáng mát, khuôn viên rộng có nhiều cây xanh và vườn rau, vườn hoa thường xuyên được chăm sóc,
an toàn cho trẻ
Thiết bị đồ dùng: Trường được trang bị đầy đủ hệ thống điều hòa, quạt trần, mành rèm, đèn điện… 100% các phòng học được trang bị ti vi, máy tính, máy chiếu phục vụ cho việc giảng dạy và học của cô và trẻ
Về các đồ dùng, dụng cụ phục vụ cho các hoạt động GDTC:
- Sân tập thể dục: có mái vòm và cỏ nhân tạo tuy nhiên diện tích còn hạn chế và còn phục vụ nhiều hoạt động khác
- Đồ dùng, dụng cụ: Vòng thể dục, Gậy thể dục, Túi cát, Bóng số lượng còn hạn chế
- Tài liệu chuyên môn GDTC của GV còn tương đối thiếu thốn
Để đánh giá được chính xác thực trạng về cơ sở vật chất, tôi đã tiến hành phỏng vấn với 30 giáo viên về mức độ đáp ứng cơ sở vật chất cho công tác GDTC của nhà trường, kết quả phỏng vấn trình bày ở bảng 3.1