Giáo dục không chỉ hoàn thành việc đào tạo những con người thích ứng với xã hội mà còn đào tạo ra những con người đủ phẩm chất và trí tuệ, thể lực để đáp ứng sự phát triển của xã hội.. V
Trang 1KHOA GIÁO DỤC MẦM NON
Trang 2Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn đối với Thầy giáo – TS Lê Trường Sơn Chấn Hải, người đã tận tình hướng dẫn tôi hoàn thành khóa luận tốt nghiệp, từ khâu chọn lựa đề tài đến hoàn chỉnh nội dung chi tiết Những góp ý vô cùng quý báu của thầy đã giúp tôi có những hiểu biết sâu sắc hơn về đề tài khóa luận và gợi cho tôi phương pháp tổng hợp tài liệu và nghiên cứu hiệu quả
Tôi xin chân thành cảm ơn tất cả các thầy cô giáo trong khoa, cũng như các thầy cô giáo trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2 đã luôn giúp đỡ, tạo điều kiện cho tôi hoàn thành 4 năm Đại học một cách thuận lợi nhất
Cuối cùng, tôi vô cùng biết ơn gia đình, người thân và bạn bè đã động viên, giúp đỡ tôi trong suốt quá trình viết khóa luận
Hà Nội, ngày tháng năm 2017
Sinh viên
Trần Thị Kiều Trang
Trang 3Tôi tên là: Trần Thị Kiều Trang
Sinh viên lớp: K39A GDMN Khoa GDMN trường ĐHSP Hà Nội 2 Tôi cam đoan đề tài này là của riêng tôi, kết quả nghiên cứu của đề tài này không trùng với bất cứ đề tài nào Toàn bộ những vấn đề nghiên cứu đều mang tính thời sự, cấp thiết và đúng thực tế của trường mầm non Ngô Quyền – Vĩnh Yên – Vĩnh Phúc
Hà Nội, ngày tháng năm 2017
Sinh viên
Trần Thị Kiều Trang
Trang 4Bảng 3.1: Thực trạng về cơ sở vật chất và trang thiết bị tập luyện (n = 32) 33 Bảng 3.2: Thực trạng nhận thức về môn học Thể dục trong quá trình dạy
học môn Thể dục ở bậc học Mầm non 34 Bảng 3.3: Tổng hợp ý kiến đánh giá của giáo viên về năng lực giảng dạy
môn học Thể dục cho trẻ mầm non (n = 32) 36 Bảng 3.4: Thực trạng tổ chức sử dụng trò chơi trong phát triển sức nhanh
cho trẻ trường mầm non Ngô Quyền (n = 32) 37 Bảng 3.5: Kết quả phỏng vấn giáo viên về lựa chọn một số trò chơi nhằm
phát triển sức nhanh cho trẻ 5 – 6 tuổi (n = 20) 40 Bảng 3.6: Bảng phỏng vấn mức độ ưu tiên test kiểm tra đánh giá sức
nhanh cho trẻ mẫu giáo lớn trường mầm non Ngô Quyền 47 Bảng 3.7: Tiến trình giảng dạy trò chơi nhằm phát triển sức nhanh cho trẻ
5 – 6 tuổi trường mầm non Ngô Quyền 48 Bảng 3.8: Kết quả kiểm tra trước TN của 2 nhóm ĐC và TN(nA = nB =
10) 50 Bảng 3.9: Kết quả kiểm tra sau TN của 2 nhóm ĐC và TN (nA = nB =
10) 50
Biểu đồ 3.1: Thành tích chạy 8m của 2 nhóm ĐC và TN trước và sau TN 52 Biểu đồ 3.2: Thành tích chạy cắm cờ của 2 nhóm ĐC và TN trước và sau TN 52 Biểu đồ 3.3: Thành tích chạy zích zắc của 2 nhóm ĐC và TN trước và sau TN 53
Trang 5STT Từ viết tắt Giải thích từ viết tắt
Trang 6MỤC LỤC
ĐẶT VẤN ĐỀ 1
CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 4
1.1 Cơ sở lý luận xác định hướng nghiên cứu của đề tài 4
1.1.1 Những quan điểm của Đảng và Nhà nước về công tác GDTC cho trẻ mầm non 4
1.1.2 Cơ sở khoa học của lý luận GDTC cho trẻ lứa tuổi mầm non 6
1.2 GDMN trong hệ thống giáo dục quốc dân 9
1.2.1 Vị trí, vai trò của GDMN 9
1.2.2 Mục tiêu của GDMN 11
1.2.3 Chương trình GDMN 11
1.2.4 Nội dung, phương pháp GDMN 11
1.3 GDTC ở trường mầm non 12
1.3.1 Vị trí và vai trò của môn GDTC đối với việc phát triển thể chất cho trẻ mầm non 12
1.3.2 Nhiệm vụ GDTC cho trẻ em lứa tuổi mầm non 13
1.4 Đặc điểm tâm lý của trẻ 5 - 6 tuổi trường mầm non Ngô Quyền 15
1.4.1 Đặc điềm sinh lý 15
1.4.2 Đặc điểm tâm lý 17
1.5 Một số nét của trò chơi trẻ em 19
1.5.1 Khái niệm trò chơi 19
1.5.2 Đặc điểm và cách thức phân loại trò chơi 20
Trang 71.6 Cơ sở giáo dục sức nhanh 21
1.6.1 Khái niệm và các hình thức biểu hiện của sức nhanh 21
1.6.2 Đặc điểm của sức nhanh 22
1.6.3 Phương pháp giáo dục sức nhanh phản ứng vận động 23
CHƯƠNG 2 NHIỆM VỤ VÀ PHƯƠNG PHÁP TỔ CHỨC NGHIÊN CỨU 25
2.1 Nhiệm vụ nghiên cứu 25
2.2 Các phương pháp nghiên cứu 25
2.2.1 Phương pháp đọc phân tích và tổng hợp tài liệu 25
2.2.2 Phương pháp phỏng vấn 25
2.2.3 Phương pháp quan sát sư phạm 26
2.2.4 Phương pháp kiểm tra sư phạm 26
2.2.5 Phương pháp thực nghiệm 26
2.2.6 Phương pháp thống kê toán học 27
2.3 Tổ chức nghiên cứu 28
2.3.1 Thời gian nghiên cứu 28
2.3.2 Đối tượng nghiên cứu 29
2.3.3 Địa điểm nghiên cứu 29
CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 30
3.1 Thực trạng tổ chức GDTC và việc sử dụng một số trò chơi nhằm phát triển sức nhanh cho trẻ 5-6 tuổi trường mầm non Ngô Quyền - Vĩnh Yên - Vĩnh Phúc 30
Trang 8Ngô Quyền - Vĩnh Yên - Vĩnh Phúc 30 3.1.2 Thực trạng về cơ sở vật chất, trang thiết bị luyện tập 31 3.1.3 Thực trạng về đội ngũ giáo viên và trình độ đội ngũ giáo viên của trường 33 3.1.4 Thực trạng năng lực giảng dạy môn học Thể dục của giáo viên ở trường mầm non Ngô Quyền – Vĩnh Yên – Vĩnh Phúc 34 3.1.5 Thực trạng của việc sử dụng một số trò chơi nhằm phát triển sức nhanh cho trẻ 5 - 6 tuổi trường mầm non Ngô Quyền 36 3.2 Lựa chọn và đánh giá hiệu quả một số trò chơi phù hợp nhằm phát triển sức nhanh cho trẻ 5 - 6 tuổi trường mầm non Ngô quyền - Vĩnh Yên - Vĩnh Phúc 38 3.2.1 Cơ sở lựa chọn một số trò chơi nhằm phát triển sức nhanh cho trẻ 5 -6 tuổi trường mầm non Ngô Quyền - Vĩnh Yên - Vĩnh Phúc 38 3.2.2 Lựa chọn trò chơi nhằm phát triển sức nhanh cho trẻ 5 – 6 tuổi trường mầm non Ngô Quyền – Vĩnh Yên – Vĩnh Phúc 40 3.2.3 Lựa chọn test đánh giá sức nhanh cho trẻ 5 – 6 tuổi trường mầm non Ngô Quyền – Vĩnh Yên- Vĩnh Phúc 47 KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 54 TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
Trang 9ĐẶT VẤN ĐỀ
Nằm trong hệ thống giáo dục chung, GDMN được coi là một ngành học, bậc học giữ vai trò nền tảng Nó đặt nền móng cơ sở đầu tiên cho việc hình thành và phát triển nhân cách trẻ mầm non và chuẩn bị cho trẻ vào lớp một Mục tiêu mà GDMN đó là: Giúp trẻ phát triển về thể chất, tình cảm, trí tuệ, thẩm mĩ, hình thành những yếu tố đầu tiên của nhân cách, hình thành và phát triển ở trẻ em những chức năng tâm sinh lý, năng lực và phẩm chất mang tính nền tảng, những kĩ năng sống cần thiết phù hợp với lứa tuổi, khơi dậy và phát triển tối đa những khả năng tiềm ẩn, đặt nền tảng cho việc học tập ở các cấp học tiếp theo và cho việc học tập suốt đời Trách nhiệm này đặt trên vai ngành giáo dục đòi hỏi ngành phải có những nội dung, chương trình phù hợp, đổi mới phương pháp dạy và học một cách tích cực Giáo dục không chỉ hoàn thành việc đào tạo những con người thích ứng với xã hội mà còn đào tạo ra những con người đủ phẩm chất và trí tuệ, thể lực để đáp ứng sự phát triển của xã hội
Trong các mặt giáo dục trên thì GDTC mầm non phải là nhiệm vụ hàng
đầu, quan trọng nhất, vì sức khoẻ là vốn quý giá nhất và có ý nghĩa sống còn với con người, đặc biệt đối với trẻ mẫu giáo Ở lứa tuổi này, cơ thể trẻ đang trong giai đoạn phát triển mạnh mẽ và hoàn thiện dần, vì thế cơ thể trẻ còn non yếu dễ bị phát triển lệch lạc và mất cân đối Do vậy, trẻ chỉ có thể phát triển tốt nếu như được chăm sóc một cách hợp lý
GDTC là một bộ phận quan trọng của giáo dục toàn diện C.Mác đã đánh
giá rất cao ý nghĩa của GDTC, theo Mác “Việc kết hợp lao động sản xuất với
trí dục và thể chất không những chỉ là một trong những phương tiện tăng sản xuất xã hội mà còn là phương tiện duy nhất để đào tạo con người phát triển
có ý nghĩa quan trọng hơn
Trang 10Ở lứa tuổi mẫu giáo hoạt động vui chơi đóng vai trò chủ đạo, bởi vui chơi đã gây ra những biến đổi về chất, có ảnh hưởng quyết định đến sự hình thành nhân cách và là tiền đề cho sự học tập ở lứa tuổi tiếp theo Phương châm “học mà chơi, chơi mà học” luôn được quán triệt trong công tác chăm sóc giáo dục trẻ Việc kết hợp các trò chơi trong hoạt động học có chủ đích tại trường mầm non có ý nghĩa vô cùng to lớn trong việc: rèn luyện thể lực, sự khéo léo, nhanh nhẹn, sự nhịp nhàng, rèn luyện trí tuệ, sự nhanh trí, óc phán đoán, gợi xúc cảm thẩm mĩ, khả năng hoạt động nhóm, gắn kết tình bạn,… Trò chơi được xem là hình thức giáo dục đơn giản, giúp hình thành nhân cách cũng như phát triển thể chất cho trẻ Trẻ em không chỉ cần được chăm sóc sức khỏe, được học tập, mà quan trọng nhất trẻ cần được thỏa mãn nhu cầu vui chơi Đúng như PGS TS Nguyễn Văn Huy Giám đốc Bảo tàng Dân tộc học
Việt Nam đã nói: “Cuộc sống đối với trẻ mầm non không thể thiếu những trò
chơi” Do vậy, hướng dẫn và tổ chức cho trẻ chơi các trò chơi một các khoa
học, hợp lý là nhiệm vụ quan trong của các cô giáo mầm non, các bậc cha mẹ
và những người lớn nói chung Làm tốt nhiệm vụ này là chúng ta đã góp phần mang lại lợi ích cho đất nước, niềm vui và hạnh phúc cho tuổi thơ
Trong quá trình nghiên cứu tại trường mầm non Ngô Quyền – Vĩnh yên – Vĩnh Phúc, quan sát và thấy được việc sử dụng các trò chơi trong phát triển thể chất nói chung, phát triển sức nhanh cho trẻ 5 – 6 tuổi nói riêng còn nhiều hạn chế, các trò chơi được sử dụng để GDTC cho trẻ còn nghèo nàn và chưa tạo được hứng thú cho trẻ 5- 6 tuổi chính vì những lý do trên tôi thấy việc nghiên
cứu đề tài: “Lựa chọn một số trò chơi nhằm phát triển sức nhanh cho trẻ 5 – 6
tuổi trường mầm non Ngô Quyền – Vĩnh Yên – Vĩnh Phúc” là vô cùng cần
thiết
Trang 11* Lịch sử vấn đề nghiên cứu đề tài
Bàn về vấn đề sử dụng một số trò chơi nhằm phát triển sức nhanh cho trẻ
5 – 6 tuổi có nhiều tác giả đề cập đến như:
- Nguyễn Thị Thúy Mai, lựa chọn một số trò chơi vận động nhằm phát
triển sức nhanh cho trẻ mẫu giáo lớn (5 – 6 tuổi) trường mầm non Vĩnh Sơn – Vĩnh Tường – Vĩnh Phúc, (ĐHSP Hà Nội 2/2013)
- Nguyễn Thị Hương, lựa chọn và ứng dụng một số trò chơi vận động để
phát triển sức mạnh cho trẻ mẫu giáo lớn (5 – 6 tuổi) trường mầm non Ngô Quyền – Vĩnh Yên – Vĩnh Phúc, (ĐHSP Hà Nội 2/2014)
Như vậy có rất nhiều đề tài nghiên cứu vấn đề sử dụng một số trò chơi nhằm phát triển sức nhanh cho trẻ 5 – 6 tuổi nhưng chưa có ai nghiên cứu đề
tài “Lựa chọn một số trò chơi nhằm phát triển sức nhanh cho trẻ 5 – 6 tuổi
trường mầm non Ngô Quyền - Vĩnh Yên - Vĩnh Phúc” vì vậy chúng tôi lựa
chọn đề tài này để tiến hành nghiên cứu
* Mục đích nghiên cứu
Nghiên cứu và lựa chọn được một số trò chơi nhằm phát triển sức nhanh cho trẻ 5 - 6 tuổi trường mầm non Ngô Quyền - Vĩnh Yên - Vĩnh phúc, thông qua đó nâng cao chất lượng và hiệu quả GDTC cho trẻ
* Giả thuyết khoa học
Nếu các trò chơi được tổ chức khoa học, hợp lý, phù hợp với lứa tuổi của trẻ mẫu giáo lớn (5 – 6 tuổi) trường mầm non Ngô Quyền – Vĩnh Yên – Vĩnh Phúc, sẽ góp phần nâng cao phát triển toàn diện cho trẻ, đặc biệt là phát triển được sức nhanh cho trẻ một cách tốt nhất
Trang 12CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
1.1 Cơ sở lý luận xác định hướng nghiên cứu của đề tài
1.1.1 Những quan điểm của Đảng và Nhà nước về công tác GDTC cho trẻ mầm non
Hồ Chủ tịch đã từng căn dặn: “Dạy trẻ như trồng cây non, giáo dục mẫu giáo tốt sẽ mở đầu cho một nền giáo dục tốt” [1] Nhận thức được vai trò của GDMN trong sự hình thành và phát triển nhân cách con người Việt Nam hiện đại, giáo dục trẻ trước tuổi học – giáo dục tiền học đường, luôn được Đảng và nhà nước ta đặc biệt quan tâm, định hướng xác định mục tiêu, nhiệm vụ giáo dục học sinh lứa tuổi mầm non Nghị quyết số 14 NQ/TW ngày 11/1/1979
của Bộ Chính trị về cải cách giáo dục đã chỉ rõ “… kết hợp các biện pháp thể
dục khoa học và những biện pháp y học hiện đại để bảo vệ sức khỏe và rèn luyện cho các cháu làm cho thể chất của các cháu ngay từ bé đã được nuôi dưỡng và phát triển tốt” [3] Trong thư của Nguyên Tổng bí thư Đỗ Mười gửi
tạp chí “Vì trẻ thơ” có viết: “Bảo vệ và chăm sóc giáo dục trẻ em, là một trong những mắt xích đầu tiên của quá trình triển khai thực hiện chiến lược con người” [10]
Quan điểm giáo dục hiện đại và tiến bộ nhất nhấn mạnh rằng, cùng với việc chăm lo nuôi dưỡng, bảo vệ sức khỏe của trẻ, chủ động tạo ra những kích thích, làm nảy sinh nhu cầu phát triển mới, từng bước hoàn thiện và phát triển nhân cách của trẻ Vì vậy, việc chăm sóc và giáo dục trẻ ngay từ những năm đầu tiên của cuộc sống là một việc làm hết sức cần thiết và có ý nghĩa vô cùng quan trọng trong sự nghiệp chăm lo đào tạo và bồi dưỡng thế hệ trẻ trở thành những chủ nhân tương lai của đất nước
Trang 13Con người cần phải được giáo dục, đào tạo một cách có hệ thống ngay từ những bước chập chững đầu tiên Trong những điều kiện phát triển giáo dục một cách đặc biệt thì khả năng tiềm tàng to lớn của trẻ sẽ được bộc lộ và do
đó việc hình thành nhân cách cho trẻ sẽ thu được những thành công to lớn Nhiều công trình khoa học trên thế giới và ở Việt Nam đã chứng minh được lợi ích và hiệu quả của việc “can thiệp” vào lứa tuổi mầm non Việc chăm sóc sức khỏe của trẻ một cách khoa học từ khi trẻ còn nhỏ sẽ đảm bảo phát triển toàn diện, đúng hướng, làm cơ sở cho sự phát triển trong những giai đoạn tiếp theo của con người
Do vậy, giáo dục nói chung và GDTC nói riêng cho trẻ trước tuổi đi học
có ý nghĩa đặc biệt quan trọng Nếu trẻ không được chăm sóc, GDTC đúng đắn và có hệ thống sẽ gây ra những thiếu sót trong sự phát triển của cơ thể trẻ,
mà về sau không thể khắc phục được Có thể nói sự thành công trong bất kì hoạt động nào của trẻ cũng đều phụ thuộc vào trạng thái sức khỏe Sức khỏe tốt sẽ tạo điều kiện cho trẻ tiếp thu quá trình một cách toàn diện
Quan điểm Giáo dục và Đào tạo đến năm 2020 là thực hiện mục tiêu giáo dục toàn diện ở tất cả các bậc học, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước Nghị quyết Trung ương 2 khóa VIII đã khẳng định: Ở bậc học, cấp học, ngành học nhất thiết không được coi nhẹ việc chăm sóc, bảo
vệ sức khỏe cho học sinh, tạo điều kiện cho các em được rèn luyện thông qua các hoạt động, đặc biệt là hoạt động TDTT, để bản thân các em được thoải
mái về thể chất, tinh thần và xã hội [4]
Văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IV (1976) đã chỉ rõ: “… Cần đẩy mạnh phong trào thể dục, thể thao có tính quần chúng rộng lớn trong cả nước, trước hết là ở cơ sở, nhằm thiết thực phục vụ sản xuất, công tác và học tập, phục vụ quốc phòng, góp phần xây dựng con người mới và nếp sống mới” [2]
Trang 14Ngày 11 tháng 01 năm 1979, Bộ Chính trị ban hành Nghị quyết số 14 – NQ/TW về cải cách giáo dục, trong đó nhấn mạnh:… chăm lo xây dựng thói quen giữ gìn vệ sinh và rèn luyện thân thể của học sinh, đẩy mạnh các hoạt động Thể dục, thể thao, nâng cao chất lượng luyện tập quân sự, chuẩn bị tốt cho học sinh về ý thức và năng lực sẵn sàng chiến đấu bảo vệ Tổ quốc.[3] Đối với GDMN việc kết hợp những phương pháp thể dục khoa học và những biện pháp y học hiện đại để bảo vệ sức khỏe và rèn luyện cơ thể các cháu, làm cho thể chất của các cháu ngay từ bé đã được nuôi dưỡng và phát triển tốt
1.1.2 Cơ sở khoa học của lý luận GDTC cho trẻ lứa tuổi mầm non
1.1.2.1 Cơ sở tư tưởng
Trong đời sống thực tế xã hội, không có GDTC chung chung tồn tại ngoài điều kiện lịch sử cụ thể Trong mỗi chế độ kinh tế xã hội nhất định đều
có quan điểm về GDTC
Các nhà lý luận giáo dục duy tâm cho rằng, GDTC là bản tính hay nhu cầu bản năng của con người giống như các sinh vật khác, GDTC mang tính chất bẩm sinh của con người cũng tương tự như “sự giáo dục” – bắt trước của loài vật vậy như đi, chạy, nhảy,… Với lập luận này, trên thực tế họ đã phủ nhận vai trò của lao động và tư duy – một hiện tượng mới về chất đã làm cho con người khác biệt với các loài vật Theo họ, thực tiễn của hình thức giáo dục này nhằm thỏa mãn những yêu cầu bản năng nào đó và hầu như không có liên hệ đến yêu cầu xã hội và giáo dục và cả nội dung của giáo dục
Các nhà lý luận giáo dục duy vật cho rằng: GDTC là một hiện tượng xã hội – là phương tiện phục vụ xã hội, chủ yếu nhằm nâng cao thể chất, đồng thời tác động mạnh mẽ đến sự phát triển tinh thần của con người Họ khẳng định rằng, chỉ khi nào con người tự giác tập luyện các bài tập thể chất, nhằm phát triển cơ thể của bản thân để chuẩn bị cho những hoạt động thể chất nhất định thì lúc đó GDTC thật sự có hiệu quả
Trang 15Các tư tưởng tiến bộ về giáo dục toàn diện, đó là con người phải được phát triển hài hòa giữa thể chất và tinh thần đã xuất hiện trong kho tàng văn hóa chung của xã hội loài người từ nhiều thế kỷ trước đây
Tuy nhiên, do tính chất của quan hệ xã hội và lịch sử trong các chế độ ấy thực sự đã không vượt ra khỏi giới hạn của những ước mơ tư duy cao đẹp nhưng không có điều kiện khách quan để biến thành hiện thực
Trên cơ sở nghiên cứu một cách sâu sắc quy luật khách quan của sự phát triển xã hội, Các Mác và Ăngghen đã chứng minh sự phụ thuộc của giáo dục
và điều kiện vật chất, khám phá bản chất xã hội và giai cấp của giáo dục Các Mác nhấn mạnh rằng: “Giáo dục trong tương lai sẽ kết hợp lao động sản xuất của xã hội, mà còn là biện pháp duy nhất để đào tạo con người phát triển toàn diện” [14]
Công lao lớn nhất của C.Mác là phát hiện ra sự tái sản xuất trong mỗi con người để xã hội phát triển Ông coi GDTC là một bộ phận hữu cơ của hiện tượng giáo dục, là điều kiện tất yếu đối với việc phát triển con người một cách toàn diện GDTC là phương tiện quan trọng để phát triển thể lực con người và nó được bắt đầu từ lứa tuổi nhỏ GDTC cho trẻ mầm non là cơ sở phát triển toàn diện, rèn luyện cơ thể, hình thành những thói quen vận dộng cần thiết cho cuộc sống
Như vậy, luận điểm về tính tất yếu của sự phát tiển toàn diện về thể chất
và tinh thần, luận điểm về sự thống nhất giữa các mặt giáo dục đức, trí, thể,
mĩ và lao động trong thuyết học của Mác và sau này người kế tục là V.I.Lênin
đã trang bị cho lý luận GDTC phương pháp nhận thức và cho phép nghiên cứu sâu sắc những quy luật sư phạm trong quá trình GDTC cho con người nói chung, cho trẻ mầm non nói riêng
1.1.2.2 Cơ sở khoa học tự nhiên
Cơ sở khoa học tự nhiên của GDTC là toàn bộ các môn khoa học mà nhiệm vụ của nó là nghiên cứu những quá trình phát triển sinh học của con
Trang 16người Những kiến thức khoa học này được xây dựng trên cơ sở học thuyết của các nhà sinh học vĩ đại như: I.M.Xêtrênnốp (1829 – 1905) I.P.Paplốp (1849 -1936) và những người kế tục Các học thuyết đó bao gồm: học thuyết
về sự thống nhất giữa cơ thể và môi trường, học thuyết về mối liên hệ thần kinh tạm thời của các phản xạ có điều kiện và sự hình thành định hình động lực, học thuyết về hoạt động thần kinh cao cấp
Các môn khoa học tự nhiên nghiên cứu các quá trình phát triển sinh học của con người, quy luật về sự thay đổi trong cơ thể do ảnh hưởng của luyện tập TDTT, quy luật về sự thay đổi cơ chế sinh lý theo giới tính và theo lứa tuổi ảnh hưởng của lượng vận động, những biểu hiện của những quy luật vật
lý, sinh học trong các động tác kỹ thuật của bài tập thể chất tác động lên cơ thể con người,…
Những môn khoa học thuộc nhóm này bao gồm: sinh lý TDTT, sinh cơ học, sinh hóa học TDTT, vệ sinh họcTDTT, y học TDTT, thể dục chữa bệnh Sinh lý học TDTT nghiên cứu những quy luật hình thành kỹ năng, kỹ xảo vận động và quá trình phát triển tố chất thể lực của con người, cấu tạo của
cơ thể, chức năng hoạt động của các cơ quan và hệ cơ quan, đặc điểm phát triển vận động trẻ em theo lứa tuổi
Sinh cơ học TDTT giúp cho việc nghiên cứu kỹ thuật của bài tập thể chất, đánh giá chất lượng thực hiện chung, đề ra phương pháp sửa chữa động tác sai và đạt kết quả tốt nhất trong quá trình hình thành kỹ năng vận động Sinh hóa học TDTT nghiên cứu các quá trình hóa học diễn ra trong cơ thể khi thực hiện bài tập thể chất cho phép hoàn thiện phương pháp tiến hành chúng
Vệ sinh học TDTT nghiên cứu những vấn đề có liên quan đến chế độ vận động hợp lý, các phương tiện hoạt động TDTT
Y học TDTT nghiên cứu những vấn đề đảm bảo về mặt sức khỏe cho mọi người trong quá trình luyện tập TDTT
Trang 17Thể dục chữa bệnh nghiên cứu và xây dựng hệ thống bài tập thể chất nhằm hoàn thiện những khuyết tật của con người về mặt thể chất
Mỗi một môn khoa học trên nghiên cứu những mặt riêng lẻ, các quy luật hay các phương tiện, nội dung, phương pháp sư phạm phù hợp trong quá trình GDTC cho con người
Lịch sử TDTT nghiên cứu sự phát sinh, quá trình phát triển TDTT
Tâm lý học TDTT nghiên cứu những đặc điểm tâm lý, những biến đổi về tâm lý con người do ảnh hưởng của hoạt động này
Giáo dục học TDTT nghiên cứu quá trình giáo dục trong hoạt động TDTT và mối liên quan của hoạt động này với các mặt giáo dục toàn diện
Lý luận và phương pháp giáo dục các môn TDTT nghiên cứu cơ sở lý luận, cơ sở thực tiễn và quá trình giáo dục bộ môn đó với các lứa tuổi
1.2 GDMN trong hệ thống giáo dục quốc dân
1.2.1 Vị trí, vai trò của GDMN
Giáo dục đào tạo là cốt lõi, là trong tâm của chiến lược trồng người Phát triển giáo dục là nền tảng để tạo ra nguồn nhân lực có chất lượng cao, là động lực của sự nghiệp công nghiệp hóa - hiện đại hóa Bởi vậy Đảng ta đã khẳng định “Giáo dục là quốc sách hàng đầu” Trong đó GDMN là một bộ phận cấu thành của hệ thống giáo dục quốc dân, có vị trí rất quan trọng trong sự nghiệp phát triển nguồi nhân lực của đất nước GDMN thực hiện việc nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục trẻ từ 3 tháng tuổi đến 6 tháng tuổi
Trang 18GDMN là mắt xích đầu tiên trong hệ thống giáo dục quốc dân Trong báo cáo giám sát toàn cầu về giáo dục cho mọi người năm 2005, UNESCO đã đánh giá: “Những năm đầu của cuộc sống là giai đoạn chủ yếu của sự phát triển trí tuệ, nhân cách hành vi Bằng chứng cho thấy rằng việc chăm sóc giáo dục trẻ ở lứa tuổi trước tuổi đi học có liên quan đến việc phát triển nhận thức
và xã hội tốt hơn” [5]
GDMN là giai đoạn khởi đầu đặt nền móng cho sự hình thành và phát triển nhân cách trẻ em, thời kì mầm non còn được gọi là thời kì vàng của cuộc đời Sự phát triển của trẻ em trong thời kì này rất đặc biệt, chúng hồn nhiên non nớt, buồn vui, khóc cười theo ý thích Những gì trẻ được học, được trang
bị ở trường mầm non có thể sẽ là những dấu ấn theo trẻ suốt cả cuộc đời Theo như nhà giáo lỗi lạc người Nga đã nói: “Những cơ sở căn bản của việc giáo dục trẻ được hình thành từ trước tuổi lên 5 Những điều dạy cho trẻ trong thời kỳ đó chiếm 90% tiến hành giáo dục trẻ Về sau việc giáo dục đào tạo con người vẫn tiếp tục nhưng lúc đó là bắt đầu nếm quả, cùng những nụ hoa thời đó được vun tròng trong 5 năm đầu tiên”
Vậy nên đứa trẻ lớn lên sẽ trở thành người như thế nào phần lớn phụ thuộc vào tuổi thơ của các bé được diễn ra sao, bàn tay nào dẫn dắt các bé trong những năm tháng thơ ấu, dẫn dắt như thế nào? Điều này phần lớn phụ thuộc vào cha mẹ và đặc biệt là GDMN
Lịch sử GDMN ghi nhận: GDMN là khâu đầu tiên của quá trình đào tạo con người Việt Nam GDMN góp phần giải phóng phụ nữ yên tâm công tác, lao động sản xuất, có điều kiện học nâng cao hiểu biết và hưởng thụ những phúc lợi nhỏ trong gia đình cũng như có cơ hội đóng góp cho xã hội
Như vậy, GDMN là bậc học đầu tiên trong hệ thống giáo dục quốc dân Tầm quan trọng của GDMN là chỗ nó đặt nền móng ban đầu cho việc giáo dục hình thành và phát triển nhân cách của trẻ
Trang 19Chương trình GDMN là căn cứ để triển khai và chỉ đạo công tác chăm sóc giáo dục trẻ trong các cơ sở GDMN, đồng thời là căn cứ để đào tạo bồi dưỡng giáo viên mầm non, tăng cường cơ sở vật chất và đảm bảo các điều kiện để nâng cao chất lượng GDMN
1.2.4 Nội dung, phương pháp GDMN
Nội dung GDMN phải đảm bảo tính khoa học, tính vừa sức và nguyên tắc tính đồng tâm phát triển từ dễ đến khó; đảm bảo tính liên thông giữa các
độ tuổi; thống nhất giữa nội dung giáo dục với cuộc sống hiện thực, gắn với cuộc sống và kinh nghiệm của trẻ, chuẩn bị cho trẻ từng bước hòa nhập vào cuộc sống Phù hợp với sự phát triển tâm sinh lý của trẻ em, hài hòa giữa nuôi dưỡng, chăm sóc và giáo dục; giúp trẻ em phát triển cơ thể với lứa tuổi; giúp trẻ em biết kính trọng, yêu mến, lễ phép với ông bà, cha mẹ, thầy cô giáo; yêu
Trang 20quý anh, chị, em, bạn bè; thật thà, mạnh dạn, tự tin và hồn nhiên, yêu thích cái đẹp; ham hiểu biết, thích cái đẹp
Phương pháp GDMN chủ yếu là thông qua việc tổ chức các hoạt động chơi để giúp trẻ phát triển toàn diện; chú trọng trong việc nêu gương, động viên, khích lệ Phương pháp giáo dục phải tạo điều kiện cho trẻ được trải nghiệm, tìm tòi, khám phá môi trường xung quanh dưới nhiều hình thức đa dạng, đáp ứng nhu cầu, hứng thú của trẻ theo phương châm “chơi mà học, học bằng chơi” Chú trọng đổi mới tổ chức môi trường giáo dục nhằm kích thích
và tạo cơ hội cho trẻ tích cực khám phá, thử nghiệm và sáng tạo ở các khu vực hoạt động một cách vui vẻ
GDTC cho trẻ mầm non là quá trình tác động nhiều mặt vào cơ thể trẻ tổ chức cho trẻ vận động và sinh hoạt hợp lý nhằm làm cho cơ thể trẻ phát triển đều đặn, sức khỏe được tăng cường, tạo cơ sở cho sự phát triển toàn diện Mục tiêu của giáo dục là phải đào tạo ra những con người toàn diện về mọi mặt có đủ: đức, trí, thể, mĩ, lao động Bên cạnh công tác giáo dục văn hóa thì GDTC cũng chiếm một vị trí quan trọng, là một bộ phận không thể thiếu của giáo dục quốc dân Nó là tiền đề giúp người học có đủ sức khỏe, tinh thần thoải mái, sảng khoái để tiếp thu kiến thức các bộ môn khác
Trang 21Sức khỏe là vốn quý giá nhất có ý nghĩa sống còn đối với con người, đặc biệt là trẻ dưới 6 tuổi Ở lứa tuổi này quá trình tăng trưởng của trẻ đang diễn
ra nhanh chóng, nhưng cơ thể trẻ lại quá non nớt, trẻ dễ chịu ảnh hưởng của những tác động bên ngoài, sức đề kháng của trẻ kém cho nên dễ mắc bệnh
Do vậy, trẻ chỉ có thể phát triển thể lực tốt nếu người lớn chú ý đến việc chăm sóc, giữ gìn sức khỏe, bảo vệ hệ thần kinh khỏe mạnh cho trẻ
GDTC trong trường học là yếu tố cơ bản để chuẩn bị sức khỏe, thể lực phục vụ cho lao động sẵn sàng bảo vệ Tổ quốc Vì kết quả của hoạt động GDTC
là trình độ hoạt động thể lực của người học sẽ được nâng cao Đó là cơ sở để tiếp thu các thao tác lao động và giải quyết các kỹ xảo vận động hoàn thiện
1.3.2 Nhiệm vụ GDTC cho trẻ em lứa tuổi mầm non
GDTC cho trẻ mầm non là một trong những bộ phận của giáo dục toàn diện cho trẻ, nó tạo ra những điều kiện thuận lợi trong quá trình giáo dục trẻ Dựa trên mục đích của GDTC mầm non là: “giáo dục trẻ khỏe mạnh, nhanh nhẹn, cơ thể phát triển hài hào, cân đối”, đặc điểm phát triển của trẻ, các giai đoạn cấp thiết của sự phát triển thể chất của trẻ lứa tuổi mầm non, người ta đề ra ba nhiệm vụ GDTC cho trẻ mầm non
1.3.2.1 Nhiệm vụ bảo vệ sức khỏe
Nhiệm vụ này bao gồm chăm sóc, nuôi dưỡng và rèn luyện một cách khoa học; chăm sóc trẻ khi ăn, ngủ, chơi và học, đảm bảo việc thực hiện chế
độ sinh hoạt đúng giờ cho trẻ; cho trẻ ăn đủ chất, đủ lượng; rèn luyện cơ thể bằng các hình thức tiết học thể dục, trò chơi vận động, dạo chơi
Nhiệm vụ này được triển khai cụ thể như sau:
- Rèn luyện, nâng cao sức đề kháng của cơ thể trẻ em trước tác động của những điều kiện môi trường xung quanh
- Củng cố cơ quan vận động, hình thành tư thế thân người hợp lý
- Góp phần nâng cao chức năng của hệ thần kinh thực vật
Trang 221.3.2.2 Nhiệm vụ giáo dưỡng
Hình thành và phát triển những kỹ năng, kỹ xảo vận động, phát triển tố chất thể lực, thói quen vệ sinh, nắm được một số kiến thức sơ đẳng về GDTC Nhờ có tính thích nghi của hệ thần kinh, những kỹ năng vận động được hình thành dễ dàng ở trẻ em Trẻ sử dụng những kỹ năng đó trong cuộc sống hàng ngày để di động, dần dần trở thành thói quen vận động
Tập luyện đúng đắn các động tác của bài tập vận động sẽ ảnh hưởng đến
cơ bắp, dây chằng, khớp, hệ xương Việc sử dụng thành thạo những kỹ năng vận động cho phép trẻ suy nghĩ về nhiệm vụ xuất hiện trong tình huống bất ngờ trong hoạt động, vận động và trò chơi
Cùng với việc hình thành kỹ năng vận động ở trẻ cần phát triển các tố chất thể lực nhanh nhẹn, khéo léo, mạnh mẽ, bền bỉ, từ những ngày đầu tiên của cuộc sống Với mục đích phát triển sức mạnh, nhanh nhẹn, khéo léo thì phải tăng độ xa, độ cao của nhảy, tập ném xa
Rèn luyện thói quen vệ sinh cá nhân và vệ sinh công cộng ở trẻ có ý nghĩa quan trọng đối với sức khỏe của trẻ
Tùy vào từng độ tuổi của trẻ, ta cần phải truyền đạt một số hiểu biết có liên quan đến GDTC Thông qua các tiết học thể dục, cần dạy trẻ những kiến thức về tên gọi và cách sử dụng những dụng cụ thể dục đơn giản như bóng, vòng, gậy các bộ phận của cơ thể như tay, chân, ngực, bụng, lưng các hướng chuyển động trên, dưới, trước, sau những kiến thức đó làm cho vận động của trẻ trở nên chính xác, có định hướng hơn
1.3.2.3 Nhiệm vụ giáo dục
Đối với trẻ mầm non, khả năng tự nhận thức của trẻ còn hạn chế, do đó cần hình thành ở trẻ những nhu cầu, thói quen đến việc thực hiện bài tập thể chất hàng ngày, giáo dục lòng yêu thích rèn luyện thể dục, sự hứng thú đến việc luyện tập
Trang 23Trong quá trình GDTC, có nhiều khả năng kết hợp giải quyết những nhiệm vụ giáo dục trí tuệ, đạo đức, thẩm mỹ và lao động
GDTC với giáo dục trí tuệ:
Cơ thể con người là một khối thống nhất, trí lực và thể lực đều do hệ thống thần kinh trung ương điều khiển Khoa học về sinh lý và tâm lý đã chỉ
rõ, một cơ thể khỏe mạnh là tiền đề vật chất giúp con người phát triển trí óc của mình
GDTC với giáo dục đạo đức:
Đối với trẻ mầm non, do kinh nghiệm đạo đức còn hạn chế và khả năng
tự ý thức còn yếu, nên trẻ rất khó đánh giá hành vi của bản thân và các bạn cùng tuổi Điều đó, đòi hỏi trách nhiệm của nhà giáo dục đối với việc hình thành có định hướng những cơ sở đạo đức ở trẻ nhỏ
GDTC với giáo dục thẩm mỹ:
GDTC tạo điều kiện thuận lợi cho giáo dục thẩm mĩ Trong quá trình thực hiện bài tập thể chất, các động tác được thực hiện một cách khéo léo, nhịp nhàng, sẽ tác động đến nhận thức của trẻ về vẻ đẹp của thân thể con người khi vận động, tạo khả năng đánh giá cái đẹp của thân thể con người khi vận động, cái đẹp của động tác về các tư thế như đi, đứng, chạy Ngoài ra, màu sắc của dụng cụ thể dục cũng tác động đến việc hình thành ở trẻ óc thẩm mĩ
Giáo thể chất với giáo dục lao động:
Trong quá trình GDTC còn giải quyết một số nhiệm vụ lao động Trong các giờ luyện tập thể dục, trẻ có thể tham gia chuẩn bị và thu dọn dụng cụ thể dục Thông qua các trò chơi vận động có chủ đề, trẻ sẽ hiểu được tính chất của các nghề nghiệp và các thao tác lao động của con người
1.4 Đặc điểm tâm lý của trẻ 5 - 6 tuổi trường mầm non Ngô Quyền
1.4.1 Đặc điềm sinh lý
Hệ thần kinh: sự phát triển của hệ thần kinh ở lứa tuổi này đã được ở mức
cao hơn so với lứa tuổi nhà trẻ Sự trưởng thành của các tế bào thần kinh của
Trang 24đại não kết thúc… Tuy nhiên ở trẻ em quá trình hưng phấn và ức chế chưa cân bằng, sự hưng phấn mạnh hơn sự ức chế Do đó, phải đối xử thận trọng với trẻ, tránh để trẻ phải thực hiện một khối lượng vận động quá sức hoặc kéo dài thời gian vận động vì sẽ làm trẻ mệt mỏi Hệ thần kinh có tác dụng chi phối và điều tiết đối với vận động cơ thể vì vậy hoạt động vận động của trẻ có hai tác dụng: thúc đẩy sự phát triển công năng của tổ chức cơ bắp và thúc đẩy sự phát triển công năng của hệ thần kinh Vận động cơ thể của trẻ có thể cải thiện tính công năng của quá trình thần kinh ở chúng Song cần chú ý tới sự luân phiên giữa vận động và nghỉ ngơi, tình trạng quá trình vận động của trẻ
Hệ vận động: bao gồm xương, cơ và khớp
Xương: thành phần hóa học xương của trẻ có chứa nhiều nước và chất
hữu cơ hơn chất vô cơ so với người lớn, nên có nhiều sụn xương, xương mềm, dễ bị cong gãy Ở trẻ 5 – 6 tuổi xương cột sống có 2 đoạn uốn cong vĩnh viễn ở cổ và ngực, lồng ngực đã hẹp hơn, đường kính ngang lớn hơn đường kính trước sau, xương sườn chếch theo hướng dốc nghiêng
Cơ: hệ cơ của trẻ phát triển yếu, tổ chức cơ bắp còn ít, các sợi cơ nhỏ
mảnh, thành phần nước trong cơ tương đối nhiều nên sức mạnh cơ bắp còn yếu, cơ nhanh mệt mỏi Do đó, trẻ lứa tuổi này không thích nghi với sự căng thẳng lâu của cơ bắp, cần xen kẽ giữa vận động và nghỉ ngơi thích hợp trong thời gian luyện tập Khi trẻ được thường xuyên tham gia vận động thể lực hợp
lý sẽ tăng cường hiệu quả công năng các tổ chức cơ bắp, làm cho sức mạnh và sức bền cơ bắp phát triển
Khớp: trẻ lứa tuổi này ổ khớp còn nông, cơ bắp xung quanh khớp còn
yếu, dây chằng lỏng lẻo Hoạt động vận động phù hợp với lứa tuổi của trẻ sẽ giúp khớp được rèn luyện, từ đó tăng tính vững chắc của khớp
Hệ tuần hoàn: hệ tuần hoàn của trẻ đang phát triển và hoàn thiện Buồng
tim phát triển tương đối hoàn thiện, tần số co bóp của tim là 80 – 110 lần /phút
Trang 25Để tăng cường công năng của tim, khi cho trẻ luyện tập nên đa dạng hóa các dạng bài tập, nâng dần lượng vận động cũng như cường độ vận động, phối hợp động và tĩnh một cách nhẹ nhàng
Hệ hô hấp: hô hấp của trẻ tương đối hẹp, niêm mạc đường hô hấp mềm
mại, mao mạch phong phú, dễ phát sinh nhiễm cảm Lên 6 tuổi thể tích hô hấp của phổi là khoảng 215 – 220 ml Trẻ 5 – 6 tuổi mỗi phút hít thở khoảng
20 – 22 lần
Hệ trao đổi chất: cơ thể trẻ đang phát triển đòi hỏi bổ sung liên tục năng
lượng tiêu hao và cung cấp các chất tạo hình để kiến tạo các cơ quan và mô
Ở trẻ năng lượng tiêu hao cho sự lớn lên và dự trữ chất nhiều hơn là cho hoạt động cơ bắp Do vậy, khi trẻ hoạt động vận động quá mức, ngay cả khi dinh dưỡng đầy đủ thường dẫn đến tiêu hao năng lượng dự trữ trong các cơ bắp và đọng lại những sản phẩm độc hại ở các cơ quan trong quá trình trao đổi chất
Sẽ làm ảnh hưởng tới cơ bắp và hệ thần kinh, làm giảm sự nhạy cảm Do đó, cần thường xuyên thay đổi vận động của các cơ, chọn hình thức vận động phù hợp với trẻ
1.4.2 Đặc điểm tâm lý
Do đặc thù là một trường của thành phố nên trẻ em đến trường là con em cán bộ, công nhân viên chức nhà nước (chiếm 70%), còn lại là con em nông thôn (30%) Vì thế mà hằng ngày được bố mẹ đưa đến trường trong sự yêu thương, quan tâm, chăm sóc rất chu đáo Điều đó tạo cho trẻ cảm giác an toàn, yên tâm và tâm lý thoải mái, vui vẻ khi tới trường
Trẻ ưa thích hoạt động
- Bởi lứa tuổi mẫu giáo vui chơi là hoạt động chủ đạo của trẻ
- Trẻ rất thích chơi những trò chơi bắt chước người lớn như: nấu ăn, bán hàng, xây dựng ghép hình, các trò chơi đóng vai theo chủ đề và các trò chơi vận động như: đá bóng, cướp cờ, ai ném xa nhất, đu quay, cầu trượt…
Trang 26Trẻ có tâm lý ngại đi học:
- Trong thực tế có rất nhiều trẻ hăng hái đến trường Đó đa số là những đứa trẻ hướng ngoại, ưa thích khám phá và chúng hứng thú đi học để có thêm bạn cùng chơi Nhưng cũng còn một số ít trẻ sợ đến trường, thường nhút nhát hoặc hay khóc khi đến lớp
- Để khắc phục tình trạng sợ đến lớp của trẻ cha mẹ cần tạo cho trẻ hứng thú khi đến trường bằng việc trò chuyện, giảng giải với trẻ (ví dụ: con bây giờ
đã lớn rồi, cần phải đi học, ở lớp có rất nhiều bạn mới, có nhiều đồ chơi mà ở nhà không có, con đến lớp con được hát, múa, vẽ, nặn,…), không hù dọa trẻ
và quan tâm đến trẻ nhiều hơn
Trẻ có nhu cầu chơi trong nhóm bạn
- Trẻ có ý thức chan hòa với bạn cùng chơi Biết tuân thủ luật chơi, biết mượn, chia sẻ đồ chơi với bạn, biết thiết lập mối quan hệ rộng rãi và phong phú với bạn cùng chơi
- Nếu như ở lứa tuổi trước, chỉ cần hai bạn cùng chơi mẹ con thì đến tuổi này, các bạn cùng hợp tác lại để chơi trò chơi gia đình với các vai bố, mẹ, con cái, ông bà
Tính tình tương đối ổn định, dễ hướng dẫn, chỉ bảo
- Đời sống tình cảm của trẻ lứa tuổi này phong phú và sâu sắc hơn nhiều
so với lứa tuổi trước Trẻ trải nghiệm nhiều trạng thái cảm xúc, tình cảm,
hướng tình cảm của mình đến nhiều đối tượng khác nhau
- Trẻ luôn mong muốn nhận được sự yêu thương trìu mến của cha mẹ, rất
dễ tủi thân khi không được quan tâm Trẻ cũng bộc lộ tình cảm của mình mạnh
mẽ và rõ ràng hơn với mọi người, luôn tỏ ra an ủi, thông cảm với người khác
Sự phát triển cảm xúc và ngôn ngữ
- Ở lứa tuổi này, tình cảm đã bắt đầu phức tạp và phân hóa, từ quan hệ gắn
bó mẹ - con, trẻ bắt đầu có nhu cầu giao lưu tình cảm nhiều hơn giữa mẹ - con
Trang 27ở trẻ trai và bố - con ở trẻ gái Trẻ đòi hỏi sự quan tâm cuộc sống một cách cụ thể và đa dạng hơn, vì vậy đã xuất hiện ở trẻ những biểu hiện về tình cảm rõ ràng cũng như những phản ứng chống đối dưới nhiều hình thức khác nhau
- Đây là lứa tuổi phát triển khá hoàn chỉnh về khả năng giao tiếp, trẻ có khả năng nói những câu đầy đủ, đôi khi phức tạp cũng như hiểu được những câu nói của người khác Điều này là cơ sở cho trẻ tiếp nhận những kiến thức của lớp 1 và bậc học tiếp theo
1.5 Một số nét của trò chơi trẻ em
1.5.1 Khái niệm trò chơi
Trò chơi là một hoạt động tự nhiên và cần thiết nhằm thỏa mãn những nhu cầu giải trí của con người Trò chơi là một phương pháp giáo dục thực hành hiệu nghiệm nhất đối với việc hình thành nhân cách, trí lực của trẻ
Đối với người lớn trò chơi là giải trí, thư giãn, giúp cho đầu óc thoải mái bớt căng thẳng sau những giờ làm việc mệt mỏi Với trẻ em, ngoài sự giải trí, trò chơi còn là nhu cầu cần thiết cho sự phát triển trí, đức, thể, và nhân cách con người Trò chơi là một phương pháp giáo dục giúp trẻ rèn luyện và phát triển toàn mĩ các giác quan chính, làm cho trẻ khéo léo hơn, trí tưởng tượng phong phú hơn Trò chơi còn giúp trẻ biết quan sát và phản ứng nhanh, biết tôn trọng kỷ luật, biết tự chủ, từ đó nảy nở tình đồng đội, đoàn kết yêu thương nhau…
Trong phương pháp giáo dục hiện đại, trò chơi là một trong những phương pháp huấn luyện quan trọng Nước Bỉ đứng đầu về tiến bộ sư phạm, thấy rõ sự quan trọng và lợi ích của trò chơi trong công tác giáo dục, nên đã đưa bộ môn trò chơi vào trong chương trình giáo dục quốc gia Nhà tâm lý học Kunkel người Anh nói: “Trò chơi là một phương tiện để tái tạo lại tâm lý
ổn định cho một số trẻ khó tính, dở người, vô trật tự… vì trong lúc chơi trẻ không thu mình lại, chúng sẽ vui vẻ hẳn lên, thích hoạt động hơn… Khi bị
Trang 28khép vào luật chơi, các em sẽ dần dần có trật tự, kỷ luật và sinh động hơn…” [18]
1.5.2 Đặc điểm và cách thức phân loại trò chơi
Trò chơi là một hình thức hoạt động được bày ra để vui chơi giải trí Dân tộc nào cũng có một kho tàng trò chơi cổ xưa và hiện đại, được chia thành nhiều loại, nhưng tựu chung lại có hai loại chính:
Loại thứ nhất là trò chơi không có luật, người chơi có thể tự ý hoạt động miễn sao phù hợp với nội dung chơi như trò chơi đóng vai theo chủ đề, trò chơi đóng kịch (tức là trò chơi phân theo tác phẩm văn học), trò chơi lắp ghép, trò chơi xây dựng, trò chơi thả diều,…
Loại trò chơi thứ hai là trò chơi có luật Người chơi phải tuân thủ luật chơi đã được quy định một cách khách quan trong trò chơi Loại trò chơi này rất phong phú, nhiều nhất là trò chơi trí tuệ và trò chơi thể thao, có thể kể đến những trò chơi như cướp cờ, nhảy dây, tìm đúng nhà, đô-mi-nô, cờ vua, cờ tướng… Trò chơi có luật thường mang yêu tố thi đua, nhưng được hay thua đều cũng vui vẻ cả
Nếu lấy thời gian làm tiêu trí phân loại thì cũng có thể chia làm hai loại trò chơi: loại thứ nhất là trò chơi dân gian cổ truyền, như đánh chuyền, đánh chắt, ô ăn quan, lộn cầu vồng, rồng rắn lên mây, kéo cưa lửa xẻ…Loại thứ hai
là loại trò chơi hiện đại như bóng đá, ném bóng, cờ vua, cờ tướng…
1.5.3 Ý nghĩa của trò chơi
Trò chơi cùng với các môn học TDTT khác góp phần thúc đẩy cơ thể của trẻ phát triển nhanh chóng, cân đối, hoàn chỉnh Thông qua trò chơi, hệ thần kinh của trẻ được củng cố và phát triển Trò chơi giúp cho hệ xương của trẻ phát triển được bình thường và cân đối
Trang 29Vận dụng các trò chơi đúng mức, phù hợp sẽ thúc đẩy việc phát triển và củng cố các cơ quan nội tạng của trẻ, làm cho lồng ngực phát triển, phổi nở nang, dung tích sống tăng lên, tần số hô hấp giảm dần tới mức hoàn chỉnh Trò chơi còn đóng một phần khá lớn vào việc phát triển các tố chất thể lực của các trẻ Ngoài ra trò chơi còn giúp trẻ hình thành và trang bị cho mình một số kỹ năng cần thiết trong cuộc sống như leo trèo, chạy nhảy, vượt chướng ngại vật,…
Trong lĩnh vực tinh thần trò chơi còn giúp rất nhiều vào việc xây dựng đạo đức, tư cách của trẻ
Như vậy, ta thấy rằng trò chơi có tác dụng rất lớn trong việc xây dựng, giáo dục con người Nó không những chỉ thúc đẩy cho cơ thể của trẻ phát triển nhanh chóng tới mức hoàn chỉnh mà nó còn nâng cao được thể lực và đạo đức của trẻ Do đó trò chơi cần phải được coi trọng đúng mức trong công tác chăm sóc giáo dục trẻ ở các nhà trường
1.6 Cơ sở giáo dục sức nhanh
1.6.1 Khái niệm và các hình thức biểu hiện của sức nhanh
Sức nhanh là một tổ hợp thuộc tính chức năng của con người Nó quy định chủ yếu và trực tiếp đặc tính tốc độ cũng như thời gian phản ứng vận động
Người ta phân biệt ba hình thức đơn giản biểu hiện sức nhanh như sau:
1 Thời gian tiềm tàng của phản ứng vận động
2 Tốc độ động tác đơn (với khối lượng đối kháng bên ngoài nhỏ)
3 Tần số động tác
Các hình thức đơn giản của sức nhanh tương đối độc lập với nhau Đặc biệt những chỉ số về thời gian phản ứng vận động hầu như không tương quan với tác động tương tác Những hình thức kể trên là thể hiện các năng lực tốc
độ khác nhau
Trang 30Trong thực tiễn thường thấy sức nhanh được thể hiện tổng hợp Thí dụ, thành tích chạy ngắn phụ thuộc vào thời gian phản ứng vận động, tốc độ động tác đơn (chạy 30m) và tần số bước Trong động tác phối hợp phức tạp thì tốc
độ không chỉ phụ thuộc vào sức nhanh mà còn chịu sự chi phối của nhiều nhân tố khác
1.6.2 Đặc điểm của sức nhanh
Sức nhanh là một tố chất thể lực để tiến hành các hành vi vận động trong thời gian ngắn nhất trong các điều kiện quy định
Sức nhanh động tác là một trong những cơ sở quy định thành tích của nhiều môn thể thao có chu kì, nó cũng đặc biệt quan trọng đối với môn chạy
cự li ngắn Các tiền đề quan trọng cho sức nhanh là tính linh hoạt của các quá trình thần kinh, khả năng kéo giãn, tính đàn hồi thả lỏng của các cơ, ý chí tinh thần, các cơ chế sinh hóa
- Tính linh hoạt của các quá trình thần kinh
Chỉ khi nào thay đổi một cách nhanh nhất giữa hưng phấn và ức chế trong sự điều hòa tương ứng của hệ thần kinh cơ, kết hợp dùng lực tốt nhất thì mới có thể đạt được một tốc độ động tác cao và tần số động tác tối đa
- Năng lực sức nhanh – mạnh:
Là tỉ lệ sức nhanh – mạnh, trong sức nhanh phản ứng đặc biệt trong sự tốc độ cao, lúc xuất phát và trong khả năng nhanh chóng đạt tốc độ như trong chạy cự li ngắn, chạy tiếp sức, chạy nhanh 8m và trong phần lớn các môn bóng Về sinh hóa, sức nhanh phụ thuộc đặc biệt vào nguồn dự trữ năng lượng trong cơ và mức độ của sự huy động năng lượng hóa học
- Tính đàn hồi của cơ
Khả năng kéo giãn, tính đàn hồi và khả năng thả lỏng của các cơ hoạt động thay đổi nhau trong các bài tập sức nhanh Nếu các tính chất này không được phát triển đầy đủ thì không thể đạt được biên độ động tác cần thiết và
Trang 31các cơ vận động phải khắc phục một lực rất lớn trong quá trình thực hiện động tác Do quá trình phát triển sức nhanh luôn luôn sử dụng bài tập kéo giãn và thả lỏng
- Sự lỗ lực ý chí
Việc đạt được sức nhanh cao nhất phụ thuộc một cách quyết định vào sự
nỗ lực của ý chí Một điều kiện không thể thiếu được là thông báo chính xác thành tích đạt được
Như vậy sức nhanh phụ thuộc chủ yếu vào tính linh hoạt của quá trình thần kinh cơ và tốc độ co cơ Cả 2 nhóm mặc biến đổi dưới tác dụng của tập luyện, nhưng nói chung đều là những yếu tố được quy định với các đặc điểm
di truyền Do đó trong quá trình tập luyện, sức nhanh biến đổi chậm và ít hơn sức mạnh và sức bền
1.6.3 Phương pháp giáo dục sức nhanh phản ứng vận động
1.6.3.1 Phương pháp phát triển sức nhanh phản ứng vận động đơn giản
Tập luyện sức nhanh phản ứng vận động theo phương pháp cảm giác vận động được tiến hành theo 3 giai đoạn:
+ Giai đoạn 1: Người tập thực hiện động tác trong điều kiện phản ứng nhanh nhất đối với tín hiệu Sau mỗi lần thực hiện bài tập, huấn luyện viên thông báo cho người tập về thành tích đạt được
+ Giai đoạn 2: Cũng thực hiện các bài tập như giai đoạn 1 nhưng khi về đích huấn luyện viên hỏi người tập dự đoán thời gian đạt được, sau đó huấn luyện viên thông báo cho người tập thời gian đạt được thực tế
+ Giai đoạn 3: Huấn luyện viên yêu cầu người tập thực hiện với tốc độ cho trước
1.6.3.2 Phương pháp phát triển sức nhanh phản ứng vận động phức tạp
Phản ứng vận động phức tạp trong thể thao thường gặp có 2 loại:
+ Phản ứng với vật thể di động
Trang 32+ Phản ứng với lựa chọn
- Phản ứng với các vật thể di động thường thấy trong các môn bóng đá
và các môn đối kháng cá nhân Trong phản ứng đối với vật thể di động thì kĩ năng quan sát giữ vai trò cơ bản Vì vậy, cần đặc biệt chú ý kĩ năng này Để phát triển kĩ năng quan sát người ta sử dụng các bài tập đối với vật thể di động
Yêu cầu tập luyện là tăng tốc độ vật thể, tăng tính bất ngờ và rút ngắn cự li
- Phản ứng lựa chọn xảy ra khi chọn một trong số những động tác đáp lại
sự thay đổi hành vi của đối phương hoặc sự biến đổi tình huống Để giáo dục phản ứng lựa chọn cần tuân theo quy tắc từ đơn giản đến phức tạp, số lượng biến đổi tình huống cũng tăng lên dần dần
Trang 33CHƯƠNG 2 NHIỆM VỤ VÀ PHƯƠNG PHÁP TỔ CHỨC NGHIÊN CỨU
2.1 Nhiệm vụ nghiên cứu
Để giải quyết đề tài này, đề tài sẽ giải quyết 2 nhiệm vụ chính sau:
- Nhiệm vụ 1: Nghiên cứu thực trạng tổ chức GDTC và việc sử dụng
một số trò chơi nhằm phát triển sức nhanh cho trẻ 5 - 6 tuổi trường mầm non
Ngô Quyền - Vĩnh Yên - Vĩnh Phúc
- Nhiệm vụ 2: Lựa chọn và đánh giá hiệu quả một số trò chơi phù hợp
nhằm phát triển sức nhanh cho trẻ 5 - 6 tuổi trường mầm non Ngô quyền - Vĩnh Yên - Vĩnh Phúc
2.2 Các phương pháp nghiên cứu
2.2.1 Phương pháp đọc phân tích và tổng hợp tài liệu
Sử dụng phương pháp này để thu thập thông tin bằng cách đọc và phân tích tài liệu tham khảo Trong quá trình nghiên cứu chúng tôi tìm hiểu, tập hợp tài liệu như các văn kiện, Nghị quyết của Đảng và Nhà nước, các sách viết chuyên môn, tuyển tập các tư liệu giảng dạy bộ môn GDTC, các tài liệu lưu trữ Tìm hiểu nghiên cứu các sách viết về trò chơi vận động, các sách giải phẫu sinh lý Từ nhiều nguồn tư liệu khác nhau: Sách, báo, internet… chúng tôi thu thập tài liệu có liên quan nhằm mở rộng kiến thức tâm sinh lý, phương pháp GDTC cho trẻ mầm non trong việc thực hiện giảng dạy bộ môn GDTC
cho trẻ tại trường mầm non hiện nay
2.2.2 Phương pháp phỏng vấn
Phương pháp phỏng vấn là phương pháp thu thập thông tin qua hỏi – Trả lời, giữa nhà nghiên cứu với các cá nhân, tổ chức khác nhau về các vấn đề cần quan tâm
Đối tượng điều tra là cán bộ quản lý nhà trường, giáo viên
Trang 34Nội dung điều tra: Về cơ sở vật chất của nhà trường, năng lực giảng dạy của giáo viên, cán bộ quản lý nhà trường, sự quan tâm lãnh đạo của nhà trường đối với môn học GDTC và việc tổ chức giảng dạy trong nhà trường
2.2.3 Phương pháp quan sát sư phạm
Phương pháp quan sát sư phạm là quan sát đối tượng nghiên cứu trong quá trình giáo dục, giáo dưỡng Trong thời gian thực hiện đề tài, việc quan sát
sư phạm được sử dụng trong quá trình dự giờ, quan sát quá trình học thể chất
và các hoạt động khác giữa giáo viên và trẻ cùng tham gia Qua phương pháp này có thể đánh giá và phân tích được quá trình giảng dạy, học tập của cô và trẻ, giúp chúng tôi có cái nhìn khách quan hơn từ đó có thể đưa ra một số biện pháp để phát triển quá trình GDTC cho trẻ
2.2.4 Phương pháp kiểm tra sư phạm
Trong quá trình nghiên cứu chúng tôi đã tiến hành tổ chức kiểm tra sư phạm nhằm đánh giá quá trình giảng dạy của giáo viên với trẻ trong việc học tập môn GDTC, nghiên cứu trước thực nghiệm và sau thực nghiệm Đặc biệt, phương pháp này còn kiểm nghiệm tính hiệu quả của các trò chơi nhằm phát triển năng lực vận động cho trẻ mẫu giáo 4 – 5 tuổi tại trường mầm non Ngô Quyền – VĩnhYên – Vĩnh Phúc
Nội dung kiểm tra năng lực vận động cho trẻ gồm 3 test:
Trang 35Tiến hành thực nghiệm so sánh 2 nhóm đối tượng là trẻ mẫu giáo lớn trường mầm non Ngô Quyền Ở đây chúng tôi phân ra làm 2 nhóm:
- Nhóm ĐC: 10 trẻ
- Nhóm TN: 10 trẻ
Chương trình thực hiện trong 6 tuần Nhóm ĐC tập theo các hình thức và chương trình cũ của trường mầm nôn Ngô Quyền Nhóm TN được áp dụng hệ thống các trò chơi nhằm phát triển sức nhanh đã chọn
2.2.6 Phương pháp thống kê toán học
Phương pháp thống kê toán học nhằm phân tích xử lý số liệu đã thu thập được trong quá trình nghiên cứu đề tài Sau khi thu thập số liệu, đã sử dụng phương pháp thống kê toán học để xử lý và áp dụng công thức sau:
Trong đó: ̅: Số trung bình
x1 : Giá trị quan sát thứ i
t : độ tin cậy : độ lệch chuẩn