1. Trang chủ
  2. » Cao đẳng - Đại học

Biện pháp nâng cao hiệu quả hoạt động thể dục sáng cho trẻ mẫu giáo 4 – 5 tuổi trƣờng mầm non Hoa Hồng – Phúc Yên

66 1,4K 9

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 66
Dung lượng 0,91 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tôi tên là: Đỗ Thị Hà Sinh viên lớp k39B – Giáo dục Mầm non, Trường ĐHSP Hà Nội 2 Tôi xin cam đoan đề tài: “Biện pháp nâng cao hiệu quả hoạt động thể dục sáng cho trẻ mẫu giáo 4 – 5 tuổi

Trang 1

KHOA GIÁO DỤC MẦM NON -

ĐỖ THỊ HÀ

BIỆN PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG THỂ DỤC SÁNG CHO TRẺ MẪU GIÁO 4 – 5 TUỔI TRƯỜNG MẦM NON HOA HỒNG – PHÚC YÊN

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Trang 2

Tôi tên là: Đỗ Thị Hà

Sinh viên lớp k39B – Giáo dục Mầm non, Trường ĐHSP Hà Nội 2

Tôi xin cam đoan đề tài: “Biện pháp nâng cao hiệu quả hoạt động thể dục sáng cho trẻ mẫu giáo 4 – 5 tuổi trường mầm non Hoa Hồng – Phúc Yên” là công trình nghiên cứu của riêng tôi: Các số liệu, kết quả thu

thập được trong khóa luận là trung thực, rõ ràng, chưa từng được công bố trong bất kỳ công trình nghiên cứu nào

Hà Nội, ngày tháng năm 2017

Sinh viên

Đỗ Thị Hà

Trang 3

CBQL : Cán bộ quản lý ĐHSP : Đại học Sƣ phạm

GD & ĐT : Giáo dục và đào tạo GDMN : Giáo dục mầm non GDTC : Giáo dục thể chất GVMN : Giáo viên mầm non

SL : Số lƣợng TCVĐ : Trò chơi vận động TDTT : Thể dục thể thao UBND : Ủy ban nhân dân

Trang 4

ĐẶT VẤN ĐỀ 1

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 4

1.1 Cơ sở lý luận xác định hướng nghiên cứu của đề tài 4

1.1.1 Những quan điểm của Đảng và Nhà nước về công tác Giáo dục Thể chất cho trẻ mầm non 4

1.1.2 Cơ sở khoa học của lý luận Giáo dục Thể chất cho trẻ em lứa tuổi mầm non 6

1.2 Giáo dục Mầm non trong hệ thống giáo dục quốc dân 9

1.2.1 Vị trí, vai trò của Giáo dục Mầm non 9

1.2.2 Mục tiêu của Giáo dục Mầm non 10

1.2.3 Nội dung phương pháp Giáo dục Mầm non 10

1.2.4 Chương trình Giáo dục Mầm non 11

1.2.5 Cơ sở Giáo dục Mầm non 12

1.3 Giáo dục Thể chất ở trường Mầm non 12

1.3.1 Vị trí và vai trò của môn Giáo dục Thể chất đối với việc phát triển thể chất cho trẻ mầm non 12

1.3.2 Nhiệm vụ Giáo dục Thể chất cho trẻ em lứa tuổi mầm non 13

1.4 Chương trình Giáo dục Thể chất cho trẻ mầm non 16

1.4.1 Bài tập đội hình, đội ngũ và ý nghĩa của bài tập đội hình, đội ngũ với sự phát triển của trẻ 16

1.4.2 Bài tập phát triển chung và ý nghĩa của bài tập phát triển chung đối với sự phát triển của trẻ 17

1.4.3 Bài tập vận động cơ bản và ý nghĩa của bài tập vận động cơ bản đối với sự phát triển của trẻ 18

1.5 Đặc điểm tâm sinh lý của trẻ mẫu giáo 19

Trang 5

1.6 Vị trí, vai trò của thể dục sáng trong quá trình phát triển thể chất cho

trẻ mầm non 23

CHƯƠNG 2 NHIỆM VỤ, PHƯƠNG PHÁP, TỔ CHỨC NGHIÊN CỨU 25

2.1 Nhiệm vụ nghiên cứu 25

2.2 Phương pháp nghiên cứu 25

2.2.1 Phương pháp phân tích và tổng hợp tài liệu 25

2.2.2 Phương pháp phỏng vấn 25

2.2.3 Phương pháp quan sát sư phạm 26

2.3.4 Phương pháp kiểm tra sư phạm 26

2.3.5 Phương pháp thực nghiệm sư phạm 26

2.3.6 Phương pháp toán thống kê 27

2.3 Tổ chức nghiên cứu 28

2.3.1 Thời gian nghiên cứu 28

2.3.2 Địa điểm nghiên cứu 28

2.3.3 Đối tượng nghiên cứu 29

CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 30

3.1 Đánh giá thực trạng tổ chức Giáo dục Thể chất cho trẻ mẫu giáo 4 – 5 tuổi trường mầm non Hoa Hồng – Phúc Yên 30

3.1.1 Thực trạng về cở vật chất của nhà trường 30

3.1.2 Thực trạng về đội ngũ giáo viên của trường mầm non Hoa Hồng – Phúc Yên 31

3.1.3 Thực trạng năng lực giảng dạy môn học Thể dục của giáo viên ở trường mầm non Hoa Hồng – Phúc Yên 33 3.1.4 Thực trạng việc tổ chức thể dục sáng cho trẻ mẫu giáo 4 – 5 tuổi 35

Trang 6

3.2.1 Cơ sở lựa chọn một số biện biện pháp nhằm nâng cao hiệu quả

hoạt động thể dục sáng 37

Nguyên tắc đảm bảo an toàn trong luyện tập cho trẻ 39

3.2.2 Lựa chọn một số biện pháp nâng cao hiệu quả hoạt động thể dục sáng 40

3.2.3 Kế hoạch tổ chức thực nghiệm một số biện pháp 46

3.2.4 Thực nghiệm và đánh giá hiệu quả của biện pháp 48

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 52 TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Trang 7

Bảng 3.1: Thực trạng về cơ sở vật chất và trang thiết bị giảng dạy của

trường mầm non Hoa Hồng – Phúc yên (n = 40) 31 Bảng 3.2: Thực trạng về trình độ của giáo viên trường mầm non Hoa

Hồng – Phúc Yên (n=40) 32 Bảng 3.3: Thực trạng nhận thức về môn học Thể dục trong quá trình dạy

học môn Thể dục ở bậc học Mầm non 34 Bảng 3.4: Tổng hợp ý kiến đánh giá của giáo viên về năng lực giảng dạy

môn học Thể dục cho trẻ mầm non (n = 40) 35 Bảng 3.5: Đánh giá hiệu quả việc tổ chức hoạt động thể dục sáng cho trẻ

(n = 40) 37 Bảng 3.6: Mức độ ưu tiên sử dụng biện pháp nâng cao hiệu quả hoạt

động sáng cho trẻ mẫu giáo 4 – 5 tuổi (n = 40) 40 Bảng 3.7: Mức độ ưu tiên sử dụng TCVĐ nhằm làm tăng hứng thú của

tập luyện thể dục sáng (n = 40) 44 Bảng 3.8: Kế hoạch thực nghiệm biện pháp đổi mới nội dung tổ chức

nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động sáng cho trẻ mẫu giáo 4 –

5 tuổi trường mầm non Hoa Hồng – Phúc Yên 47 Bảng 3.9: Kết quả kiểm tra năng lực vận động trước thực nghiệm đối với

trẻ mẫu giáo 4 – 5 tuổi (nA = nB = 10) 49 Bảng 3.10: Kết quả kiểm tra năng lực vận động của trẻ sau thực nghiệm

đối với trẻ mẫu giáo 4 – 5 tuổi (n = 10) 50

Trang 8

ĐẶT VẤN ĐỀ

Trong đời sống xã hội, giáo dục và đào tạo là lĩnh vực có vai trò quan trọng đối với mọi quốc gia, dân tộc ở mọi thời đại Trong xu thế phát triển nền kinh tế tri thức, giáo dục - đào tạo được xem là quốc sách, biện pháp quan trọng hàng đầu để phát triển ở nhiều quốc gia trên thế giới và Việt Nam không phải là ngoại lệ Con người vừa là mục tiêu, vừa là động lực cho sự phát triển xã hội, vì vậy muốn phát triển xã hội phải chăm lo nhân tố con người cả về thể chất lẫn tinh thần, đặc biệt nhận thức về thế giới xung quanh

để họ có thể góp phần xây dựng và phát triển xã hội Bác Hồ đã từng nói: “Một dân tộc dốt là một dân tộc yếu” [8], bởi không có tri thức, hiểu biết về xã hội, tự nhiên và chính bản thân mình, con người sẽ luôn lệ thuộc, bất lực trước những thế lực và sức mạnh cản trở sự phát triển của dân tộc, đất nước mình

Việt Nam đang có bước chuyển mình mạnh mẽ trên con đường chuyển sang một giai đoạn mới, giai đoạn công nghiệp hóa - hiện đại hóa đất nước, từng bước hội nhập sâu rộng với quốc tế, tiến tới thực hiện cho mục tiêu xây dựng một đất nước Việt Nam dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ và văn minh Giáo dục - đào tạo nhằm phát huy năng lực nội sinh “đi tắt, đón đầu” rút ngắn thời gian công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước

Vì vậy, hiện nay giáo dục đã trở thành mối quan tâm của toàn xã hội GDMN có một vị trí rất quan trọng, là khâu đầu tiên trong hệ thống giáo dục quốc dân, là bậc học đặt nền móng cho sự phát triển nhân cách con người mới

xã hội chủ nghĩa Việt Nam Chăm sóc - giáo dục trẻ em ngay từ những tháng năm đầu tiên của cuộc sống là một việc làm hết sức cần thiết và có ý nghĩa vô cùng quan trọng trong sự nghiệp chăm lo đào tạo và bồi dưỡng thế hệ trẻ trở thành những chủ nhân tương lai của đất nước Trẻ em hôm nay là thế giới ngày mai, trẻ em sinh ra có quyền được chăm sóc và bảo vệ, được tồn tại,

Trang 9

được chấp nhận trong gia đình và cộng đồng Vì thế, giáo dục con người ở lứa tuổi mầm non vừa là quyền lợi, vừa là nghĩa vụ của mỗi gia đình, nhà trường đối với xã hội, đối với cộng đồng Đặc biệt, GDTC cho trẻ càng có ý nghĩa quan trọng hơn bởi trong Nghị quyết số 04 NQ/TW của hội nghị lần thứ IV Ban Chấp hành Trung ương Đảng về những vấn đề cấp bách của sự nghiệp

chăm sóc và bảo vệ sức khoẻ của nhân dân có ghi rõ: “Sức khoẻ là cái vốn

quý nhất của mỗi con người và của toàn xã hội, là nhân tố quan trọng trong

sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc” [3]

Rất nhiều người sai lầm khi nói rằng ở lứa tuổi mầm non trẻ không cần GDTC Ở lứa tuổi này, cơ thể trẻ đang trong giai đoạn phát triển mạnh mẽ và hoàn thiện dần, nhưng sức đề kháng còn yếu, cơ quan chức năng còn chưa hoàn thiện nên dễ bị phát triển lệch lạc và mất cân đối Vì vậy trong giai đoạn này GDTC là vô cùng quan trọng

Tác dụng của thể dục buổi sáng đối với trẻ em hàng ngày có ý nghĩa to lớn về giáo dục và sức khỏe cho trẻ em đặc biệt là trẻ ở lứa tuổi mẫu giáo Buổi sáng ngay sau khi ngủ dậy tập thể dục đơn giản, trẻ có thể giải phóng năng lượng, thúc đẩy quá trình trao đổi chất và tích lũy được sự sảng khoái cho cả ngày Tập luyện thường xuyên như vậy nâng cao hoạt động của các cơ quan của cơ thể, thúc đẩy sự phát triển những kỹ năng vận động cần thiết, củng cố các nhóm cơ, hình thành tư thế đúng đắn

Tuy nhiên, thực trạng ở các trường mầm non cho thấy: Công tác GDTC trong trường học, cũng như hoạt động thể dục sáng còn chưa được quan tâm đúng mức, chưa đáp ứng được yêu cầu duy trì và nâng cao sức khỏe cho trẻ; thể dục sáng ở nhiều trường còn mang tính chất hình thức, đối phó; giáo viên chưa thực sự nhiệt tình hướng dẫn trẻ tập luyện, và do sự hạn chế về trình độ chuyên môn nghiệp vụ, cơ sở vật chất nên dẫn tới hiệu quả của hoạt động chưa cao

Trang 10

* Lịch sử nghiên cứu vấn đề

Bàn về vấn đề GDTC cho trẻ mẫu giáo có nhiều tác giả đề cập đến như:

- Những biện pháp nhằm nâng cao chất lượng nuôi dưỡng trẻ trong các trường mẫu giáo quận Thanh Xuân – Hà Nội (Luận văn Thạc sĩ – Dương Thúy Quỳnh – 1999)

- Giải pháp nâng cao hiệu quả công tác GDTC cho trẻ mẫu giáo trường mầm non Hùng Vương – Phúc Yên (Vũ Thị Huệ, ĐHSP Hà Nội 2014)

Như vậy, có rất nhiều đề tài nghiên cứu vấn đề GDTC cho trẻ em lứa tuổi mầm non nhưng chưa có ai nghiên cứu đề tài “Biện phát nâng cao hoạt động thể dục sáng cho trẻ mẫu giáo 4 – 5 tuổi trường mầm non Hoa Hồng – Phúc Yên”

Xuất phát từ những thực trạng trên, là một giáo viên mầm non trong tương lai, tôi rất quan tâm tới vấn đề GDTC nói chung, cũng như hoạt động thể dục

sáng nói riêng nên tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “Biện pháp nâng cao hiểu quả hoạt động thể dục sáng cho trẻ mẫu giáo 4 - 5 tuổi ở trường mầm non Hoa Hồng – Phúc Yên”

* Giả thuyết khoa học

Nếu việc lựa chọn và áp dụng các biện pháp để nâng cao hiệu quả hoạt động thể dục sáng cho trẻ mẫu giáo 4 - 5 tuổi trường mầm non Hoa Hồng – Phúc Yên có hiệu quả thì sẽ tạo điều kiện tốt để nâng cao hoạt động của các

cơ quan trong cơ thể, thúc đẩy sự phát triển những năng lực vận động cần thiết cho trẻ

Trang 11

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU

1.1 Cơ sở lý luận xác định hướng nghiên cứu của đề tài

1.1.1 Những quan điểm của Đảng và Nhà nước về công tác Giáo dục Thể chất cho trẻ mầm non

Từ trước đến nay, trung thành với học thuyết Mác – Lê nin, tư tưởng

Hồ Chí Minh, Đảng và Nhà nước ta rất chú trọng đến việc phát triển toàn diện cho thế hệ trẻ, thường xuyên quan tâm đến công tác GDTC, coi đó là mục tiêu quan trọng trong sự nghiệp đào tạo con người mới Với tư tưởng chỉ đạo đó Đảng và Nhà nước ta không ngừng tạo ra những điều kiện kinh tế và xã hội thuận lợi để biến học thuyết phát triển con người toàn diện thành hiện thực trong đời sống xã hội nước ta

Hồ Chủ Tịch đã từng căn dặn: “Dạy trẻ như trồng cây non”, “giáo dục mẫu giáo tốt sẽ mở đầu cho một nền giáo dục tốt” [8] Nhận thức được vai trò quan trọng của GDMN trong sự nghiệp phát triển toàn diện nhân cách con người Việt Nam hiện đại, giáo dục trẻ trước tuổi đi học – giáo dục tiền học đường, luôn được Đảng và Nhà nước ta đặc biệt quan tâm

Ngày 31/3/1960, Bác Hồ đã tự tay viết thư gửi hội nghị cán bộ TDTT toàn miền Bắc Trong thư Người dạy: “Giữ gìn dân chủ, xây dựng nước nhà, gây đời sống mới, việc gì cũng có sức khỏe mới làm thành công” và Người chỉ rõ muốn có sức khỏe thì nên thường xuyên luyện tập TDTT [8]

Tư tưởng của Đảng và Nhà nước về GDMN cũng được thể hiện rõ trong văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X đó là “ Đổi mới mạnh

mẽ GDMN và giáo dục phổ thông Khẩn trương điều chỉnh, khắc phục tình trạng quá tải và thực hiện nghiêm túc chương trình giáo dục và sách giáo khoa phổ thông đảm bảo tính khoa học, cơ bản phù hợp tâm lý lứa tuổi và điều kiện

Trang 12

cụ thể của Việt Nam ” [6] Nghị quyết số 14 NQ/TW ngày 11/1/1979 của Bộ Chính trị về cải cách giáo dục đã chỉ rõ “ kết hợp các biện pháp thể dục khoa học và những biện pháp y học hiện đại để bảo vệ sức khỏe và rèn luyện các cháu, làm cho thể chất của các cháu ngay từ bé đã được nuôi dưỡng và phát triển tốt” [4]

Tư tưởng của Đảng đã được thể hiện trong thư gửi tạp chí “Vì trẻ thơ” ngày 08/01/1997, nguyên Tổng bí thư Đỗ Mười đã viết: “Bảo vệ và chăm sóc giáo dục trẻ em, là một trong những mắt xích đầu tiên của quá trình triển khai thực hiện chiến lược con người” [9]

Văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IV (1976) đã chỉ rõ: “…Cần đẩy mạnh phong trào Thể dục, thể thao có tính quần chúng rộng lớn trong cả nước, trước hết là ở cơ sở, nhằm thiết thực phục vụ sản xuất, công tác và học tập, phục vụ quốc phòng, góp phần xây dựng con người mới và nếp sống mới” [2]

Ngày 11 tháng 01 năm 1979, Bộ Chính trị ban hành Nghị quyết số 14 – NQ/TW về cải cách giáo dục, trong đó nhấn mạnh: “…Chăm lo xây dựng thói quen giữ gìn vệ sinh và rèn luyện thân thể của học sinh, đẩy mạnh các hoạt động Thể dục, thể thao, nâng cao chất lượng luyện tập quân sự, chuẩn bị tốt cho học sinh về ý thức và năng lực sẵn sang chiến đấu bảo vệ Tổ quốc” [4]

GDMN có vị trí rất quan trọng, là khâu đầu tiên trong hệ thống giáo dục quốc dân, là bậc học đặt nền móng cho sự phát triển nhân cách con người mới xã hội chủ nghĩa Việt Nam Do vậy, giáo dục nói chung và GDTC nói riêng cho trẻ trước tuổi đi học có ý nghĩa đặc biệt quan trọng và mang tính chất quyết định cho sự phát triển sau này của trẻ

Nghị quyết số 29/NQ-TW ngày 04/11/2013 của Hội nghị Trung ương 8 khóa XI về Đổi mới căn bản, toàn diện Giáo dục và Đào tạo: “Đối với GDMN giúp trẻ phát triển thể chất, tình cảm, hiểu biết, thẩm mỹ, hình thành các yếu

Trang 13

tố đầu tiên của nhân cách, chuẩn bị tốt cho trẻ vào học lớp một, hoàn thành phổ cập GDMN cho trẻ 5 tuổi vào năm 2015, nâng cao chất lượng phổ cập trong những năm tiếp theo và miễn học phí trước năm 2026” [5]

1.1.2 Cơ sở khoa học của lý luận Giáo dục Thể chất cho trẻ em lứa tuổi mầm non

Các nhà lý luận giáo dục duy vật cho rằng: GDTC là một hiện tượng xã hội – là phương tiện phục vụ xã hội, chủ yếu nhằm nâng cao thể chất, đồng thời tác động mạnh mẽ đến sự phát triển tinh thần của con người

Các tư tưởng tiến bộ về giáo dục toàn diện con người, đó là con người phải được phát triển hài hòa giữa thể chất và tinh thần đã xuất hiện trong kho tàng văn hóa chung của xã hội loài người từ nhiều thế kỷ trước đây

Từ nhà triết học cổ đại Hy Lạp Aristôt (384 – 322) trước công nguyên, những người theo chủ nghĩa nhân đạo thời Phục Hưng như Môngtenhơ (1533 – 1592), những người theo chủ nghĩa xã hội không tưởng như Saint – Simon (1760- 1825), đến những nhà bác học và giáo dục nổi tiếng người Nga như: M.V.Lômônôxôp (1722 – 1765), V.G.Belinxki (1811 – 1848) và nhiều người khác nữa, đã phát triển, bảo vệ tư tưởng của học thuyết về phát triển hài hòa giữa năng lực thể chất và tinh thần của con người

Trang 14

Trên cơ sở nghiên cứu một cách sâu sắc các quy luật khách quan của sự phát triển xã hội, C Mác và Ănghen đã chứng minh sự phụ thuộc của giáo dục vào điều kiện vật chất, khám phá bản chất xã hội và giai cấp của giáo dục Công lao lớn nhất của C Mác là phát hiện ra sự tái sản xuất trong mỗi con người để xã hội phát triển

Sau này người kế tục là V.I.Lênin đã trang bị cho lý luận GDTC phương pháp nhận thức và cho phép nghiên cứu sâu sắc những quy luật sư phạm trong quá trình GDTC cho con người nói chung, cho trẻ mầm non nói riêng

b Cơ sở tâm lý học

Tâm lý học trẻ em nghiên cứu những sự kiện và quy luật phát triển hoạt động, phát triển các quá trình và phẩm chất tâm lý và sự hình thành nhân cách của trẻ trong sự phát triển của nó

Tâm lý học ở lứa tuổi mầm non là một bộ phận của tâm lý học trẻ em

Nó nghiên cứu những quy luật, những đặc điểm lứa tuổi của các quá trình tâm

lý, những khả năng lứa tuổi của việc lĩnh hội kinh nghiêm lịch sử - xã hội, những nhân tố chủ đạo của sự phát triển tâm lý của trẻ em lứa tuổi mầm non: từ lọt lòng đến sáu tuổi

Dựa vào lý thuyết hoạt động, các đặc điểm tâm lý lứa tuổi, các trạng thái tâm lý và các thuộc tính tâm lý của trẻ em, các nhà giáo dục thiết kế hệ thống phương pháp GDTC phù hợp với trẻ

c Cơ sở giáo dục học

Con người là đối tượng của nhiều ngành khoa học (Triết học, văn học,

sử học,…) trong đó con người cũng chính là đối tượng của giáo dục Giáo dục học nghiên cứu bản chất của quá trình giáo dục, quá trình hình thành con người có mục đích, có kế hoạch, một hoạt động tự giác tác động đến việc hình thành nhân cách của trẻ em, của nhà giáo dục hoặc tổ chức giáo dục Trên cơ

Trang 15

sở đó, giáo dục học xác định mục đích, mục tiêu giáo dục, quy định nội dung, chỉ ra phương pháp, hình thức tổ chức giáo dục thích hợp [1]

Dựa vào những kiến thức về mục tiêu, nhiệm vụ giáo dục trẻ em, những quan điểm cơ bản, các nguyên tắc xây dựng chương trình chăm sóc giáo dục, các phương pháp, hình thức tổ chức chăm sóc giáo dục trẻ, trong đó giáo dục thể chất là một bộ phận của phát triển giáo dục toàn diện

1.1.2.2 Cơ sở khoa học tự nhiên

Cơ sở khoa học tự nhiên của GDTC là toàn bộ các môn khoa học mà nhiệm vụ của nó là nghiên cứu những quá trình phát triển sinh học của con người Những kiến thức khoa học này được xây dựng trên cơ sở học thuyết của các nhà sinh học vĩ đại như: I.M.Xêtrênốp (1829 – 1905), I.P.Paplốp (1849 – 1936) và những nhà kế tục Các học thuyết đó bao gồm: Học thuyết

về sự thống nhất giữa cơ thể và môi trường, học thuyết về mối liên hệ thần kinh tạm thời của các phản xạ có điều kiện và sự hình thành định hình động lực, học thuyết về hoạt động thần kinh cao cấp

Ngoài ra, còn có cơ sở về tổ chức của GDTC Cơ cấu tổ chức của hệ thống GDTC dựa trên cơ sở về tổ chức Nhà nước, các tổ chức xã hội và tư nhân Các tổ chức này có nhiệm vụ chỉ đạo hướng dẫn mọi người thực hiện đường lối, quan điểm và nhiệm vụ của GDTC Bên cạnh đó còn có các hệ thống các trường TDTT, câu lạc bộ TDTT nhà nước và tư nhân Chỉ đạo phong trào TDTT quần chúng

Những môn khoa học thuộc nhóm này bao gồm: Sinh lý học TDTT, sinh cơ học, sinh hóa học, vệ sinh học, y học TDTT, thể dục chữa bệnh

Mỗi môn khoa học nghiên cứu những mặt riêng lẻ, các quy luật hay các điều kiện GDTC có liên quan đến bản chất của GDTC, cho phép lựa chọn các phương tiện, nội dung, phương pháp sư phạm phù hợp trong quá trình GDTC cho con người

Trang 16

1.2 Giáo dục Mầm non trong hệ thống giáo dục quốc dân

1.2.1 Vị trí, vai trò của Giáo dục Mầm non

Trong đời sống xã hội, GD & ĐT là lĩnh vực có vai trò quan trọng đối với mọi quốc gia, dân tộc ở mọi thời đại Trong xu thế phát triển tri thức ngày nay, GD & ĐT được xem là chính sách, biện pháp quan trọng hàng đầu để phát triển ở nhiều quốc gia trên thế giới và Việt Nam không phải là ngoại lệ

GDMN là bậc học đầu tiên trong hệ thống giáo dục quốc dân, đặt nền móng cho sự phát triển về thể chất, nhận thức, tình cảm xã hội và thẩm mỹ cho trẻ em Những kỹ năng mà trẻ được tiếp thu qua chương trình chăm sóc giáo dục mầm non sẽ là nền tảng cho việc học tập và thành công sau này của trẻ Do vậy, phát triển GDMN, tăng cường khả năng sẵn sàng đi học cho trẻ là yếu tố quan trọng trong việc phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao cho đất nước GDMN thực hiện việc nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục trẻ từ 3 tháng tuổi đến 6 tuổi Mục tiêu của GDMN là giúp trẻ phát triển về thể chất, tình cảm, trí tuệ, thẩm mỹ, hình thành những yếu tố đầu tiên của nhân cách, chuẩn

bị cho trẻ vào lớp 1; hình thành và phát triển ở trẻ những chức năng tâm sinh

lý, những kỹ năng sống phù hợp với lứa tuổi, đặt nền tảng cho việc học ở các cấp học tiếp theo

GDMN là giai đoạn khởi đầu, đây còn được xem là thời kỳ vàng của cuộc đời Sự phát triển của trẻ trong thời kỳ này rất đặc biệt, chúng hồn nhiên, non nớt, buồn vui, khóc cười theo ý thích Những gì trẻ được học, được trang

bị ở trường mầm non có thể sẽ là dấu ấn theo trẻ suốt cả cuộc đời Theo như nhà giáo dục lỗi lạc người Nga A.X.Makarenko (1888 – 1939) đã nói:

“Những cơ sở căn bản của việc giáo dục trẻ được hình thành từ trước tuổi lên

5 Những điều dạy cho trẻ trong thời kì đó chiếm tới 90% tiến trình giáo dục trẻ Về sau việc giáo dục đào tạo con người vẫn tiếp tục nhưng lúc đó là bắt đầu nếm quả, cùng những nụ hoa thời đó được vun trồng trong 5 năm đầu tiên” [12]

Trang 17

1.2.2 Mục tiêu của Giáo dục Mầm non

Mục tiêu của GDMN là giúp trẻ em phát triển về thể chất, tình cảm, trí tuệ, thẩm mỹ, hình thành cho trẻ những yếu tố đầu tiên của nhân cách, chuẩn

bị cho trẻ vào học lớp một GDMN tạo sự khởi đầu cho sự phát triển toàn diện của trẻ, đặt nền tảng cho việc học ở các cấp học tiếp theo và cho việc học tập suốt đời

Xuất phát từ mục tiêu trên, mục đích của GDTC cho trẻ mầm non là:

- Đảm bảo sự phát triển toàn diện, giúp trẻ phát triển cơ thể cân đối, khỏe mạnh, nhanh nhẹn, góp phần thực hiện mục tiêu giáo dục toàn diện

- Chuẩn bị sức khỏe để trẻ em có thể thích ứng với điều kiện môi trường sống và chuẩn bị vào học lớp một

- Tăng cường thể chất, góp phần hoàn thiện về mặt hình thái và các chức năng của cơ thể (Trong đó cả chức năng sinh học của cơ thể)

Những mục đích này mang tính khách quan vì nó phản ánh những yêu cầu có tính quy luật: Con người cần phải được chuẩn bị đầy đủ về các mặt tinh thần và thể chất, thích ứng với điều kiện sống và môi trường sống

1.2.3 Nội dung phương pháp Giáo dục Mầm non

1.2.3.1 Nội dung Giáo dục Mầm non

- Phải đảm bảo phù hợp với sự phát triển tâm sinh lí trẻ em, hài hòa giữa nuôi dưỡng, chăm sóc và giáo dục; giúp trẻ phát triển cơ thể cân đối, khỏe mạnh, nhanh nhẹ; biết kính trọng, yêu mến, lễ phép với ông bà, cha mẹ, thầy cô giáo và người trên; yêu quý anh, chị, em, bạn bè; thật thà, mạnh dạn, hồn nhiên, yêu thích cái đẹp, ham hiểu biết, thích đi học

- Đảm bảo tính vừa sức và nguyên tắc đồng tâm, phát triển từ dễ đến khó; đảm bảo tính liên thông giữa các độ tuổi, giữa nhà trẻ, mẫu giáo và cấp tiểu học; thống nhất giữa nội dung giáo dục với cuộc sống hiện thực gắn với kinh nghiệm sống của trẻ, chuẩn bị cho từng trẻ bước hòa nhập vào cuộc sống

Trang 18

1.2.3.2 Phương pháp Giáo dục Mầm non

Phương pháp GDMN chủ yếu thông qua việc tổ chức các hoạt động vui chơi để giúp trẻ phát triển toàn diện; chú trọng việc nêu gương, động viên khích lệ

- Đối với giáo dục nhà trẻ, phương pháp giáo dục phải chú trọng giao tiếp thường xuyên, thể hiện sự yêu thương và tạo sự gắn bó của người lớn với trẻ; chú ý đặc điểm cá nhân trẻ để lựa chọn phương pháp giáo dục phù hợp, tạo cho trẻ có cảm giác an toàn về thể chất và tinh thần; tạo điều kiện thuận lợi cho trẻ được tích cực hoạt động giao lưu cảm xúc, hoạt động với đồ vật và vui chơi, kích thích sự phát triển các giác quan và các chức năng tâm – sinh lý; tạo môi trường giáo dục gần gũi với khung cảnh gia đình, giúp trẻ thích nghi với nhà trẻ

- Đối với giáo dục mẫu giáo, phương pháp giáo dục phải tạo điều kiện cho trẻ được trải nghiệm, tìm tòi, khám phá môi trường xung quanh dưới nhiều hình thức đa dạng, đáp ứng nhu cầu, hứng thú của trẻ theo phương châm “chơi mà học, học bằng chơi” Chú trọng đổi mới tổ chức môi trường giáo dục nhằm kích thích và tạo cơ hội cho trẻ tích cực khám phá, thử nghiệm

và sáng tạo ở các khu vực hoạt động một cách vui vẻ Kết hợp hài hoà giữa giáo dục trẻ trong nhóm bạn với giáo dục cá nhân, chú ý đặc điểm riêng của từng trẻ để có phương pháp giáo dục phù hợp Tổ chức hợp lí các hình thức hoạt động cá nhân, theo nhóm nhỏ và cả lớp, phù hợp với độ tuổi của nhóm/lớp, với khả năng của từng trẻ, với nhu cầu và hứng thú của trẻ và với điều kiện thực tế

1.2.4 Chương trình Giáo dục Mầm non

Chương trình GDMN thể hiện mục tiêu GDMN cụ thể hóa các yêu cầu: Nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục trẻ em ở từng độ tuổi; quy định việc tổ chức các hoạt động nhằm tạo điều kiện để trẻ em phát triển về thể chất, tình cảm,

Trang 19

trí tuệ, thẩm mĩ; hướng dẫn cách thức đánh giá sự phát triển của trẻ ở tuổi mầm non

1.2.5 Cơ sở Giáo dục Mầm non

Cơ sở GDMN bao gồm:

- Nhà trẻ: Nhận trẻ từ ba tháng đến ba tuổi

- Trường, lớp mẫu giáo: Nhận trẻ từ ba tuổi đến sáu tuổi

- Trường mầm non là cơ sở giáo dục kết hợp giữa nhà trẻ và mẫu giáo, nhận trẻ em từ ba tháng đến sáu tuổi

GDTC cho trẻ mầm non là quá trình tác động nhiều mặt vào cơ thể trẻ tổ chức cho trẻ vận động và sinh hoạt hợp lý nhằm làm cho cơ thể trẻ phát triển đều đặn, sức khỏe được tăng cường, tạo cơ sở cho sự phát triển toàn diện

GDTC trong trường học là yếu tố cơ bản để chuẩn bị sức khỏe, thể lực phục vụ cho lao động sẵn sàng bảo vệ Tổ quốc Vì kết quả của hoạt động GDTC

là trình độ hoạt động thể lực của người học sẽ được nâng cao Đó là cơ sở để tiếp thu các thao tác lao động và hình thành kỹ xảo vận động

Công tác GDTC và thể thao học đường có ý nghĩa quan trọng đặc biệt trong giai đoạn phát triển này của mỗi con người và thể hiện ở các mặt sau đây:

Trang 20

- Tạo dựng cơ sở cho sự phát triển thể chất toàn diện: Hoàn thiện hình thái, củng cố sức khỏe và hình thành hệ thống các kỹ năng, kỹ xảo Tất cả các vấn đề đó có tác dụng tạo nên những điều kiện khách quan để hình thành và rèn luyện nhân cách

- Góp phần trang bị cho trẻ các năng lực nhất định: Trang bị cho trẻ năng lực về trí tuệ và thể chất nhằm giúp trẻ hoàn thành chương trình học mẫu giáo

- Sự tích cực vận động trong giai đoạn phát triển mạnh mẽ của cơ thể:

Cơ thể con người lúc này có tác dụng góp phần giải quyết các nhiệm vụ giáo dục chung cho trẻ: Đạo đức, thẩm mĩ, lao động Mặt khác, tất cả các phương tiện nêu trên đều như một thể thống nhất, hữu cơ và có tác dụng quyết định tới sự phát triển của trẻ, điều này không thể tự động có được mà phải thông qua một quá trình giáo dục nghiêm túc, công phu Sự phát triển mạnh mẽ về hình thái, chức năng cơ thể, các phẩm chất cá nhân của trẻ phụ thuộc vào điều kiện sống, tính chất hoạt động của con người, trong đó có việc sử dụng hiệu quả các phương tiện GDTC Rõ ràng rằng sự thiếu hụt vận động là hiểm họa chủ yếu dẫn đến suy giảm sức khỏe, sức đề kháng và sự phát triển bình thường của cơ thể học sinh

- Hình thành và hoàn thiện các kỹ năng, kỹ xảo vận động sống

- Hình thành sự ham thích vững chắc và kỹ năng tập luyện Thể dục, thể thao

1.3.2 Nhiệm vụ Giáo dục Thể chất cho trẻ em lứa tuổi mầm non

GDTC cho trẻ mầm non là một trong những bộ phận của giáo dục toàn diện cho trẻ, nó tạo ra những điều kiện thuận lợi trong quá trình giáo dục trẻ

Dựa trên mục đích của GDTC mầm non là: “giáo dục trẻ khỏe mạnh, nhanh nhẹn, cơ thể phát triển hài hòa, cân đối”, đặc điểm phát triển của trẻ, các giai đoạn cấp thiết của sự phát triển thể chất của trẻ lứa tuổi mầm non, người ta đề ra ba nhiệm vụ GDTC cho trẻ mầm non

Trang 21

1.3.2.1 Nhiệm vụ bảo vệ và tăng cường sức khỏe

Nhiệm vụ này bao gồm chăm sóc, nuôi dưỡng và rèn luyện một cách khoa học; chăm sóc trẻ khi ăn, ngủ, chơi và học, đảm bảo việc thực hiện chế

độ sinh hoạt đúng giờ cho trẻ; cho trẻ ăn đủ chất, đủ lượng; rèn luyện cơ thể bằng các hình thức tiết học Thể dục, trò chơi vận động, dạo chơi

Nhiệm vụ này được chuyển khai cụ thể như sau:

- Rèn luyện, nâng cao sức đề kháng của cơ thể trẻ em trước tác động của những điều kiện môi trường xung quanh

- Củng cố cơ quan vận động, hình thành tư thế thân người hợp lý

- Góp phần nâng cao chức năng của hệ thần kinh thực vật

1.3.2.2 Nhiệm vụ giáo dưỡng

Hình thành và phát triển những kỹ năng, kỹ xảo vận động, phát triển tố chất thể lực, thói quen vệ sinh, biết được một số kiến thức sơ đẳng về GDTC

Nhờ có tính thích nghi của hệ thần kinh, những kỹ năng vận động được hình thành dễ dàng ở trẻ em Trẻ sử dụng những kỹ năng đó trong cuộc sống hàng ngày để di động, dần dần trở thành thói quen vận động

Tập luyện đúng đắn các động tác của bài tập vận động sẽ ảnh hưởng đến cơ bắp, dây chằng, khớp, hệ xương Việc sử dụng thành thạo những kỹ năng vận động cho phép trẻ suy nghĩ về nhiệm vụ xuất hiện trong tình huống bất ngờ trong hoạt động, vận động và trò chơi

Cùng với việc hình thành kỹ năng vận động ở trẻ cần phát triển các tố chất thể lực nhanh nhẹn, khéo léo, mạnh mẽ, bền bỉ, từ những ngày đầu tiên của cuộc sống Với mục đích phát triển sức mạnh, nhanh nhẹn, khéo léo thì phải tăng độ xa, độ cao của nhảy, tập ném xa

Rèn luyện thói quen vệ sinh cá nhân và vệ sinh công cộng ở trẻ có ý nghĩa quan trọng đối với sức khỏe của trẻ

Trang 22

Tùy vào từng độ tuổi của trẻ, ta cần phải truyền đạt một số hiểu biết có liên quan đến GDTC Thông qua các tiết học Thể dục, cần dạy trẻ những kiến thức về tên gọi và cách sử dụng những dụng cụ thể dục đơn giản như bóng, vòng, gậy các bộ phận của cơ thể như tay, chân, ngực, bụng, lưng các hướng chuyển động trên, dưới, trước, sau những kiến thức đó làm cho vận động của trẻ trở nên chính xác, có định hướng hơn

1.3.2.3 Nhiệm vụ giáo dục

Đối với trẻ mầm non, khả năng tự nhận thức của trẻ còn hạn chế, do đó cần hình thành ở trẻ những nhu cầu, thói quen đến việc thực hiện bài tập thể chất hàng ngày, giáo dục lòng yêu thích rèn luyện thể dục, sự hứng thú đến việc luyện tập

Trong quá trình GDTC, có nhiều khả năng kết hợp giải quyết những nhiệm vụ giáo dục trí tuệ, đạo đức, thẩm mỹ và lao động

GDTC với giáo dục trí tuệ:

Cơ thể con người là một khối thống nhất, trí lực và thể lực đều do hệ thống thần kinh trung ương điều khiển Khoa học về sinh lý và tâm lý đã chỉ

rõ, một cơ thể khỏe mạnh là tiền đề vật chất giúp con người phát triển trí óc của mình

GDTC với giáo dục đạo đức:

Đối với trẻ mầm non, do kinh nghiệm đạo đức còn hạn chế và khả năng

tự ý thức còn yếu, nên trẻ rất khó đánh giá hành vi của bản thân và các bạn cùng tuổi Điều đó, đòi hỏi trách nhiệm của nhà giáo dục đối với việc hình thành có định hướng những cơ sở đạo đức ở trẻ nhỏ

GDTC với giáo dục thẩm mỹ:

GDTC tạo điều kiện thuận lợi cho giáo dục thẩm mĩ Trong quá trình thực hiện bài tập thể chất, các động tác được thực hiện một cách khéo léo, nhịp nhàng, sẽ tác động đến nhận thức của trẻ về vẻ đẹp của thân thể con người khi

Trang 23

vận động, tạo khả năng đánh giá cái đẹp của thân thể con người khi vận động, cái đẹp của động tác về các tư thế như đi, đứng, chạy Ngoài ra, màu sắc của dụng cụ thể dục cũng tác động đến việc hình thành ở trẻ óc thẩm mĩ

GDTC với giáo dục lao động:

Trong quá trình GDTC còn giải quyết một số nhiệm vụ lao động Trong các giờ luyện tập thể dục, trẻ có thể tham gia chuẩn bị và thu dọn dụng cụ thể dục Thông qua các trò chơi vận động có chủ đề, trẻ sẽ hiểu được tính chất của các nghề nghiệp và các thao tác lao động của con người [10]

1.4 Chương trình Giáo dục Thể chất cho trẻ mầm non

Chương trình GDMN là chương trình khung của Bộ GD & ĐT, nội dung chương trình mang tính chất gợi ý Người GVMN phải dựa vào chương trình đó để xây dựng kế hoạch và nội dung kiến thức giảng dạy Do vậy, nội dung GDTC cho trẻ em lứa tuổi mầm non là căn cứ để xây dựng chương trình chăm sóc trẻ trong các nhà trường đồng thời là căn cứ để đào tạo, bồi dưỡng nâng cao trình độ GVMN

1.4.1 Bài tập đội hình, đội ngũ và ý nghĩa của bài tập đội hình, đội ngũ với

Trang 24

có phản ứng nhanh với các yêu cầu của giáo viên Qua đó, trẻ hiểu được tác dụng của điều lệnh trong bài tập

Luyện tập đội hình, đội ngũ còn giúp cho việc phát triển ở trẻ sự chú ý, khả năng phối hợp hành động khi hoạt động tập thể, khả năng định hướng trong không gian, rèn luyện tư thế đúng

Ngoài ra, các bài đội hình, đội ngũ có liên quan đến động tác đi và có ảnh hưởng lớn đến sự phát triển vận động đi của trẻ

1.4.2 Bài tập phát triển chung và ý nghĩa của bài tập phát triển chung đối với sự phát triển của trẻ

* Ý nghĩa

Bài tập phát triển chung có tác dụng củng cố tăng cường sức khỏe cho trẻ, nâng cao trạng thái hoạt động của cơ thể, ảnh hưởng tích cực đến hệ thần kinh, hệ tuần hoàn, hệ hô hấp, giúp cơ thể phát triển cân đối, hài hòa về hình thái và chức năng

Ngoài ra, bài tập phát triển chung còn làm nhiệm vụ hỗ trợ các bài tập vận động cơ bản trong tiết học

* Phân loại bài tập phát triển chung

Dựa vào cấu trúc của cơ thể người ta phân chia bài tập phát triển chung thành 4 nhóm:

- Nhóm bài tập phát triển hô hấp

- Nhóm bài tập củng cố và phát triển cơ tay – vai

Trang 25

- Nhóm bài tập củng cố, phát triển cơ lưng và tính mềm dẻo của cột sống

- Nhóm bài tập củng cố, phát triển cơ bụng, cơ chân tạo khả năng củng

cố cơ bụng, cơ chân và bảo vệ các cơ quan nội tạng khỏi những chấn động bên ngoài khi cử động mạnh

1.4.3 Bài tập vận động cơ bản và ý nghĩa của bài tập vận động cơ bản đối với sự phát triển của trẻ

* Khái niệm

Vận động cơ bản là những vận động cần thiết đối với con người trong cuộc sống, được sử dụng trong các hoạt động và hoàn cảnh khác nhau như khi

di chuyển, chạy… Khắc phục khó khăn nhảy qua rãnh nước, leo chèo, ném…

Bài tập vận động cơ bản là một loại bài tập thể chất bao gồm một hệ thống các hoạt động vận động được chọn lọc từ các vận động cơ bản tác động lên nhóm cơ bắp lớn của cơ thể nhằm giải quyết nhiệm vụ giáo dưỡng và giáo dục trong quá trình GDTC cho trẻ

* Ý nghĩa

Việc tập luyện các bài tập vận động cơ bản sẽ giúp hoàn thiện khả năng làm việc của hệ thần kinh trung ương, hệ tuần hoàn, hệ hô hấp củng cố và phát triển cơ bắp, rèn luyện hình thành các tư thế đúng Qua đó tác động tốt tới sức khỏe và phát triển thể lực tạo điều kiện phát triển các tố chất nhanh, mạnh, khéo…

Ngoài ra các bài tập vận động cơ bản còn có tác dụng:

- Giúp trẻ phát triển khả năng định hướng trong không gian

- Giúp trẻ phát triển khả năng định hướng về thời gian

- Giúp trẻ phát triển khả năng định hướng trong hoạt động tập thể

* Phân loại bài tập vận động cơ bản

Dựa vào chu kỳ của bài tập vận động cơ bản người ta phân chia thành hai loại bài tập:

Trang 26

- Bài tập vận động cơ bản có chu kỳ

- Bài tập vận động cơ bản không có chu kỳ

1.5 Đặc điểm tâm sinh lý của trẻ mẫu giáo

1.5.1 Đặc điểm tâm lý

Trẻ ưa thích hoạt động:

Bởi lứa tuổi mẫu giáo vui chơi là hoạt động chủ đạo của trẻ

Trẻ rất thích chơi những trò chơi bắt chước người lớn như: Nấu ăn, bán hàng, xây dựng ghép hình, các trò chơi đóng vai theo chủ đề và các trò chơi vận động như: Đá bóng, cướp cờ, ai ném xa nhất, đu quay, cầu trượt

Ý thức cái tôi của trẻ rõ nét hơn:

4 – 5 tuổi, trẻ đã biết phân biệt rõ mình và người khác, mình và thế giới xung quanh Trẻ đã có thể biết đến tên của mình, tuổi, cha mẹ, con trai hay con gái, có thể so sánh một cách đơn giản mình và bạn khác Trẻ rất quan tâm, chú ý đến những nhận xét của mọi người đến bản thân mình

Cha mẹ nên lưu ý việc này, không nên nói về trẻ với người khác trước mặt trẻ (khen, chê) để tránh cho trẻ có những thái độ không chính xác về bản thân (tự ti hoặc tự kiêu, )

Giai đoạn này, bé đã biết giữ gìn, duy trì mối quan hệ với người chăm

sóc bằng cách suốt ngày ở bên cạnh người đó Trẻ đôi khi tỏ ra thích ba hoặc

mẹ hơn người kia, việc gì cũng bắt người đó làm cho mình (thường con trai đối với mẹ, con gái đối với ba), ví dụ như chỉ bác giúp việc cho ăn cơm, chỉ

bà thay quần áo

Tỏ rõ bé thích ai hơn:

Tới lớp bé sẽ có bạn thân, thích chơi với bạn nào hơn Về nhà bé tỏ ra quấn quýt với người bé có nhiều tình cảm hơn Bé có thể thích mẹ cho ăn cơm, thích ba dạy học, thích bà tắm cho và thường chỉ định rõ công việc cho người đó được “đặc quyền” giúp bé

Trang 27

Bắt chước người lớn:

Trẻ 4 – 5 tuổi rất thích bắt chước người lớn Bé thích chơi trò gia đình

và tái hiện lại cuộc sống hằng ngày của gia đình bạn mà bé nhìn thấy Bé gái thường bắt chước theo hành động của mẹ như trang điểm, chải đầu, ngắm nghía trước gương, cùng mẹ nấu cơm, quét nhà… Bé trai lại tỏ ra coi cha là hình mẫu lý tưởng, thích làm giống bố

Muốn được công nhận là một người lớn:

Khi bạn nói bé lớn rồi đã biết tự đánh răng hoặc tự mặc quần áo, bé sẽ

dễ dàng tự động đi làm việc hơn Trẻ 4 – 5 tuổi thích nói chuyện, hay cười hay nói, và yêu cầu người khác lắng nghe mình nói Bé thường làm ra các hành động ngộ nghĩnh, gây cười để cha mẹ cười Nếu thấy người lớn có biểu hiện trước cách nói của bé, bé thường lặp lại các hành động đó và tỏ ra khoái chí khi gây cười cho người lớn

Giai đoạn tình cảm thăng trầm:

Để ý thấy, trẻ 4 – 5 tuổi đã bắt đầu có sự phân biệt yêu ghét Bé có thể rất nghe lời bố, răm rắp làm theo khi bố sai khiến Nhưng với mẹ lại tỏ ra chống đối, bướng bỉnh Bé sẽ tỏ ra ghen tị trước mối quan hệ giữa trẻ và cha

mẹ, ví dụ như ghen với em bé

Muốn được tự làm các việc cá nhân:

Khi 4 – 5 tuổi bé muốn tự tay chăm sóc bản thân như tự xúc ăn, tự rửa tay, mặc quần áo, tự ngồi bô…

Khi trẻ 4 – 5 tuổi, cha mẹ hãy coi bé như một “người lớn”, để bé tự làm việc, học hỏi như một người lớn Cha mẹ hãy ở bên để kịp thời hướng dẫn đúng cho bé chứ không nên bắt ép bé

Kết bạn:

Bé sẽ chơi ngoan hơn với khoảng một đến hai người bạn mà bé ưa thích Bé sẽ có xu hướng xây dựng tình bạn một cách rõ ràng, gần gũi đối với

Trang 28

các bạn mà bé nhìn thấy thường xuyên và có các hoạt động tương tự như bé, các hành động này có thể chỉ là chơi nhào lộn, nghệ thuật hoặc thủ công Việc

bé bốn tuổi có bạn rất quan trọng, đó là sự ảnh hưởng của cách bạn chơi với

bé Khi bé bốn tuổi chơi với một người bạn chứ không phải là một người lạ nào đó, hoạt động của bé sẽ đa dạng hơn và bé sẽ đưa ra nhiều ý tưởng để duy trì tình bạn đó

Khoảng 2/3 trẻ em trong độ tuổi bốn tuổi sẽ chọn chơi với các bạn có cùng giới tính Để tăng cường tình bạn cho bé, bạn hãy sắp xếp các cuộc gặp mặt, đi chơi ở nhà cũng như ở trường học Bé 4 – 5 tuổi sẽ phát triển các kĩ năng cần thiết để trở thành một người bạn tốt, trở thành một người biết lắng nghe, nhận thức được cảm xúc của người khác và có khả năng chia sẻ Những khả năng này sẽ làm cho con bạn hòa đồng hơn [11]

1.5.2 Đặc điểm sinh lý

Tuổi mẫu giáo (trẻ từ 3 - 6 tuổi): Đây là thời kì thuận lợi để trẻ tiếp thu

và củng cố các kĩ năng cần thiết Trẻ em lứa tuổi này lớn nhanh, cảm thấy như gầy hơn, mất vẻ tròn trĩnh, mập mạp đã có ở tuổi nhà trẻ Đặc trưng của trẻ lứa tuổi này là cơ thể phát triển chưa ổn định và khả năng vận động còn hạn chế Từ lúc trẻ mới sinh ra, hệ thần kinh của trẻ chưa chuẩn bị đầy đủ để thực hiện các chức năng của mình Hệ thần kinh thực vật được phát triển hơn Trẻ

từ 4 - 5 tuổi, quá trình ức chế tích cực dần dần phát triển, trẻ đã có khả năng phân tích, đánh giá, hình thành kỹ năng, kỹ xảo vận động và phân biệt được

sự vật hiện tượng xung quanh

Hệ thần kinh

Sự phát triển của hệ thần kinh ở lứa tuổi này đã được ở mức cao hơn so với lứa tuổi nhà trẻ Sự trưởng thành của các tế bào thần kinh của đại não kết thuc…Tuy nhiên ở trẻ em quá trình hưng phấn và ức chế chưa cân bằng, sự hưng phấn mạnh hơn sự ức chế Do đó, phải đối xử thận trọng với trẻ, tránh

Trang 29

để trẻ phải thực hiện một khối lượng vận động quá sức hoặc kéo dài thời gian vận động vì sẽ làm trẻ mệt mỏi Hệ thần kinh có tác dụng chi phối và điều tiết đối với vận động cơ thể vì vậy hoạt động vận động cảu trẻ có hai tác dụng: Thúc đẩy sự phát triển công năng của tổ chức cơ bắp và thúc đẩy sự phát triển công năng của hệ thần kinh Vận động cơ thể của trẻ có thể cải thiện tính công năng của quá trình thần kinh ở chúng Song cần chú ý tới sự luân phiên giữa vận động và nghỉ ngơi, tình trạng quá trình vận động của trẻ

Hệ vận động: Bao gồm xương, cơ và khớp

Xương: Thành phần hóa học xương của trẻ có chứa nhiều nước và chất

hữu cơ hơn chất vô cơ so với người lớn, nên có nhiều sụn xương, xương mềm, dễ bị cong gãy Ở trẻ 4 – 5 tuổi xương cột sống có 2 đoạn uốn cong vĩnh viễn ở cổ và ngực, lồng ngực đã hẹp hơn, đường kính ngang lớn hơn đường kính trước sau, xương sườn chếch theo hướng dốc nghiêng

Cơ: Hệ cơ của trẻ phát triển yếu, tổ chức cơ bắp còn ít, các sợi cơ nhỏ

mảnh, thành phần nước trong cơ tương đối nhiều nên sức mạnh cơ bắp còn yếu, cơ nhanh mệt mỏi Do đó, trẻ lứa tuổi này không thích nghi với sự căng thẳng lâu của cơ bắp, cần xen kẽ giữa vận động và nghỉ ngơi thích hợp trong thời gian luyện tập Khi trẻ được thường xuyên tham gia vận động thể lực hợp

lý sẽ tăng cường hiệu quả công năng các tổ chức cơ bắp, làm cho sức mạnh và sức bền cơ bắp phát triển

Khớp: Trẻ lứa tuổi này ổ khớp còn nông, cơ bắp xung quanh khớp còn

yếu, dây chằng lỏng lẻo Hoạt động vận động phù hợp với lứa tuổi của trẻ sẽ giúp khớp được rèn luyện, từ đó tăng tính vững chắc của khớp

Hệ tuần hoàn

Hệ tuần hoàn của trẻ đang phát triển và hoàn thiện Buồng tim phát triển tương đối hoàn thiện, tần số co bóp của tim là 80 – 110 lần /phút Để tăng cường công năng của tim, khi cho trẻ luyện tập nên đa dạng hóa các dạng

Trang 30

bài tập, nâng dần lượng vận động cũng như cường độ vận động, phối hợp động và tĩnh một cách nhẹ nhàng

Cơ thể trẻ đang phát triển đòi hỏi bổ sung liên tục năng lượng tiêu hao

và cung cấp các chất tạo hình để kiến tạo các cơ quan và mô Ở trẻ năng lượng tiêu hao cho sự lớn lên và dự trữ chất nhiều hơn là cho hoạt động cơ bắp Do vậy, khi trẻ hoạt động vận động quá mức, ngay cả khi dinh dưỡng đầy đủ thường dẫn đến tiêu hao năng lượng dự trữ trong các cơ bắp và đọng lại những sản phẩm độc hại ở các cơ quan trong quá trình trao đổi chất Sẽ làm ảnh hưởng tới cơ bắp và hệ thần kinh, làm giảm sự nhạy cảm Do đó, cần thường xuyên thay đổi vận động của các cơ, chọn hình thức vận động phù hợp với trẻ

1.6 Vị trí, vai trò của thể dục sáng trong quá trình phát triển thể chất cho trẻ mầm non

Tập thể dục buổi sáng rất có lợi cho sức khỏe, một vài phút khởi động buổi sáng cũng giúp sự trao đổi chất trong cơ thể bạn “vận động” theo Bằng cách này, sự trao đổi chất trong cơ thể bạn sẽ được đẩy mạnh, diễn ra thuận lợi hơn và cơ thể đốt cháy được nhiều calo hơn Đặc biệt, bài tập buổi sáng rất

có ý nghĩa về giáo dục và sức khỏe của trẻ em, nhất là lứa tuổi mẫu giáo và mầm non Buổi sáng ngay sau khi ngủ dậy tập thể dục đơn giản, trẻ tích lũy được sự sảng khoái cho cả ngày

Thể dục buổi sáng giúp ổn định quá trình trao đổi chất ngay từ sáng và quá trình này không bị cản trở bởi bất kì lý do gì trong suốt cả ngày, tăng

cường năng lượng, giúp ngủ tốt hơn và còn nhiều lợi ích khác

Trang 31

Tập luyện thường xuyên như vậy, cơ thể của trẻ nâng cao hoạt động của các cơ quan của cơ thể, thúc đẩy sự phát triển những kỹ năng vận động cần thiết, củng cố các nhóm cơ, hình thành tư thế đúng đắn

Thể dục sáng hàng ngày cho trẻ vào một thời gian nhất định trước bữa

ăn sáng Thời gian tập khoảng 10 phút Cũng như các buổi tập khác, trẻ nên mặc quần áo thích hợp để dễ vận động Trang bị dụng cụ như gậy, nơ, vòng, hoa tua, cờ,… thể dục phù hợp với động tác để tạo hứng thú cho trẻ tập

Giáo viên nên quan sát cách đứng của trẻ, tư thế đầu, vai, mông và đặc biệt là cột sống của trẻ Trẻ cần đứng thẳng, vai thả đều, không lên gân, tay cử động thoải mái, không cúi đầu Giữ cho trẻ tư thế đứng ngay cả khi nghỉ, khi

đi bộ, chạy và làm các cử động khác Số lần lặp lại mỗi bài tập phụ thuộc vào tính chất mỗi động tác, cũng như trình độ thể lực của trẻ Những bài tập khó,

có khối lượng vận động lớn chỉ nên lặp lại 2 - 3 lần, còn động tác phát triển chung đối với tay, chân thì nên từ 4 - 6 lần Chọn động tác và sắp xếp bài tập cho trẻ cần theo một số quy định Trước hết động tác phải phù hợp và hấp dẫn đối với trẻ em Bài tập phải có tác động hoàn thiện kĩ năng đi, chạy, trèo, ném, thúc đẩy sự hình thành tư thế đúng, gây sự hoạt động tích cực của các cơ quan

hô hấp, tuần hoàn, các nhóm cơ… Sẽ rất tốt nếu tổ chức thể dục buổi sáng bằng các trò chơi vận động có chủ đề gồm 3 – 4 động tác thể dục Không nên quên

đi bộ, các bài tập củng cố cơ vai, cơ chân, tay lưng, bụng, chạy 10 - 15giây và

đi bộ kết thúc nhằm hồi tĩnh hô hấp, điều hòa hoạt động tim, chuyển dần cơ thể vào trạng thái yên tĩnh bình thường Mỗi lần tập thể dục sáng cần thay đổi chủ

đề trò chơi Sự đa dạng đó phụ thuộc vào óc tưởng tượng của mỗi chúng ta Có thể soạn các bài tập có động tác bướm bay, chim bay…

Trang 32

CHƯƠNG 2 NHIỆM VỤ, PHƯƠNG PHÁP, TỔ CHỨC NGHIÊN CỨU

2.1 Nhiệm vụ nghiên cứu

Để đạt được mục đích nghiên cứu, đề tài tiến hành giải quyết 2 nhiệm

vụ sau:

- Nhiệm vụ 1: Đánh giá thực trạng tổ chức GDTC cho trẻ mẫu giáo 4 -

5 tuổi trường mầm non Hoa Hồng – Phúc Yên

- Nhiệm vụ 2: Lựa chọn, ứng dụng và đánh giá hiệu quả một số biện pháp nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động thể dục sáng cho trẻ mẫu giáo 4 - 5 tuổi trường mầm non Hoa Hồng – Phúc Yên

2.2 Phương pháp nghiên cứu

Để giải quyết các nhiệm vụ trên trong quá trình nghiên cứu tôi đã sử dụng các phương pháp nghiên cứu sau:

2.2.1 Phương pháp phân tích và tổng hợp tài liệu

Sử dụng phương pháp này để thu thập thông tin bằng cách đọc và phân tích tài liệu tham khảo Trong quá trình nghiên cứu chúng tôi đi tìm hiểu, tập hợp tài liệu như các văn kiện, Nghị quyết của Đảng và Nhà nước, các sách viết chuyên ngành, tuyển tập các tư liệu giảng dạy bộ môn GDTC, các tài liệu lưu trữ Tìm hiểu nghiên cứu các sách viết về trò chơi vận động, các sách giải phẫu sinh lý Từ nhiều nguồn tư liệu khác nhau: Sách, báo, internet… chúng tôi thu thập tài liệu có liên quan nhằm mở rộng kiến thức tâm sinh lý, phương pháp GDTC cho trẻ mầm non trong việc thực hiện giảng dạy bộ môn GDTC cho trẻ tại trường mầm non hiện nay

2.2.2 Phương pháp phỏng vấn

Là phương pháp thu thập thông tin qua hỏi – trả lời, giữa nhà nghiên

cứu với các cá nhân, tổ chức khác nhau về các vấn đề cần quan tâm

Trang 33

Đối tượng phỏng vấn là cán bộ quản lý nhà trường, giáo viên

Nội dung điều tra bao gồm: Cơ sở vật chất của nhà trường, trình độ chuyên môn của giáo viên, năng lực giảng dạy của giáo viên, thực trạng nhận thức về môn học Thể dục trong quá trình dạy học môn Thể dục ở bậc học Mầm non, thực trạng việc tổ chức hoạt động thể dục sáng ở nhà trường

2.2.3 Phương pháp quan sát sư phạm

Phương pháp quan sát sư phạm là quan sát đối tượng nghiên cứu trong quá trình giáo dục, giáo dưỡng Trong thời gian thực hiện đề tài, việc quan sát

sư phạm được sử dụng trong quá trình dự giờ, quan sát quá trình học thể chất

và các hoạt động khác giữa giáo viên và trẻ cùng tham gia Qua phương pháp này có thể đánh giá và phân tích được quá trình giảng dạy, học tập của cô và trẻ, giúp chúng tôi có cái nhìn khách quan hơn từ đó có thể đưa ra một số biện pháp để phát triển quá trình GDTC cho trẻ

2.3.4 Phương pháp kiểm tra sư phạm

Trong quá trình nghiên cứu chúng tôi đã tiến hành tổ chức kiểm tra sư phạm nhằm đánh giá quá trình giảng dạy của giáo viên với trẻ trong việc học tập môn GDTC, nghiên cứu trước thực nghiệm và sau thực nghiệm Đặc biệt, phương pháp này còn kiểm nghiệm tính hiệu quả của các TCVĐ nhằm phát triển năng lực vận động cho trẻ mẫu giáo 4 – 5 tuổi tại trường mầm non Hoa Hồng – Phúc Yên

Nội dung kiểm tra năng lực vận động cho trẻ gồm 3 test:

- Test 1: Bật xa (cm)

- Test 2: Ném xa bằng một tay (m)

- Test 3: Chạy 30 m (s)

2.3.5 Phương pháp thực nghiệm sư phạm

Phương pháp thực nghiệm dung để xác định hiệu quả của những biện pháp đã được lựa chọn trong quá trình nghiên cứu Thực nghiệm được tiến hành với hai nhóm: Nhóm ĐC và nhóm TN

Ngày đăng: 11/09/2017, 10:07

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Đào Thanh Âm (1995), Giáo dục mầm non tâp I, II, Nxb Đại học Sƣ phạm Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo dục mầm non tâp I, II
Tác giả: Đào Thanh Âm
Nhà XB: Nxb Đại học Sƣ phạm Hà Nội
Năm: 1995
2. Đảng cộng sản Việt Nam (2001), Văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IV (1976), Nxb Chính trị quốc gia Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IV (1976)
Tác giả: Đảng cộng sản Việt Nam (2001), Văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IV
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 1976
7. Bộ GD & ĐT (2000), Đổi mới nội dung và phương pháp giáo dục mầm non, Nxb Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đổi mới nội dung và phương pháp giáo dục mầm non
Tác giả: Bộ GD & ĐT
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2000
8. Hồ Chí Minh toàn tập (1995), Nxb Chính trị Quốc gia Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hồ Chí Minh toàn tập
Tác giả: Hồ Chí Minh toàn tập
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia
Năm: 1995
9. Tạp chí “Vì trẻ thơ” ngày 08/01/1997, Nxb Kim Đồng Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vì trẻ thơ
Nhà XB: Nxb Kim Đồng
10. Đặng Hồng Phương (2011), Giáo trình lí luận và phương pháp GDTC cho trẻ em lứa tuổi mầm non, Nxb Đại học Sƣ phạm Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình lí luận và phương pháp GDTC cho trẻ em lứa tuổi mầm non
Tác giả: Đặng Hồng Phương
Nhà XB: Nxb Đại học Sƣ phạm
Năm: 2011
11. Đặng Trúc Thao (1990), Dạy thể dục cho trẻ mẫu giáo, Nxb Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dạy thể dục cho trẻ mẫu giáo
Tác giả: Đặng Trúc Thao
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 1990
12. Đào Nhƣ Trang (1998), Đổi mới nội dung – phương pháp chăm sóc giáo dục trẻ em 0 – 6 tuổi, Nxb Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đổi mới nội dung – phương pháp chăm sóc giáo dục trẻ em 0 – 6 tuổi
Tác giả: Đào Nhƣ Trang
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 1998
3. Ban Chấp hành TW Đảng Cộng sản Việt Nam. Nghị quyết số 04 NQ/TW của Hội nghị lần thứ IV Ban Chấp hành Trung ƣơng Đảng Khác
4. Ban Chấp hành TW Đảng Cộng sản Việt Nam. Nghị quyết số 14 NQ/TW ngày 11/1/1979 của Bộ Chính trị về cải cách giáo dục Khác
5. Ban Chấp hành TW Đảng Cộng sản Việt Nam. Nghị quyết số 29 NQ/TW ngày 04/11/2013 của Hội nghị Trung ƣơng 8 khóa XI về Đổi mới căn bản, toàn diện Giáo dục và Đào tạo Khác
6. Ban Chấp hành TW Đảng Cộng sản Việt Nam. Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w