1. Trang chủ
  2. » Cao đẳng - Đại học

Lựa chọn bài tập nâng cao kĩ năng bật xa cho trẻ 4 – 5 tuổi trường mầm non Hùng Vương – Phúc Yên

62 863 4

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 62
Dung lượng 1,03 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Thông qua hoạt động bật xa giúp phát triển sức mạnh cho trẻ mầm non.Tổ chức các bài tập rèn kĩ năng bật xa cho trẻ mầm non góp phần phát triển cơ quan, hệ cơ quan trong cơ thể của trẻ, t

Trang 1

NGUYỄN THỊ TRANG

LỰA CHỌN BÀI TẬP NÂNG CAO

KỸ NĂNG BẬT XA CHO TRẺ 4-5 TUỔI TRƯỜNG MẦM NON HÙNG VƯƠNG

PHÚC YÊN – VĨNH PHÚC

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

HÀ NỘI, 5/2017

Trang 2

NGUYỄN THỊ TRANG

LỰA CHỌN BÀI TẬP NÂNG CAO

KỸ NĂNG BẬT XA CHO TRẺ 4-5 TUỔI TRƯỜNG MẦM NON HÙNG VƯƠNG

Trang 3

Tôi tên là: Nguyễn Thị Trang

Sinh viên K39B - Giáo dục Mầm non, Trường ĐHSP Hà Nội 2

Tôi xin cam đoan đề tài “Lựa chọn bài tập nâng cao kĩ năng bật xa cho trẻ 4 – 5 tuổi trường mầm non Hùng Vương – Phúc Yên”là kết quả

quá trình nghiên cứu, tìm tòi học hỏi của bản thân tôi dưới sự chỉ đạo của giáo viên hướng dẫn Những kết quả nghiên cứu trong khoá luận chưa từng được

công bố tại bất cứ công trình nghiên cứu nào

Hà Nội, ngày 20 tháng 4 năm 2017

Sinh viên

Nguyễn Thị Trang

Trang 4

CNH: Công nghiệp hóa ĐC: Đối chứng

GD&ĐT: Giáo dục và đào tạo GDMN: Giáo dục mầm non GDTC: Giáo dục thể chất

Trang 5

ĐẶT VẤN ĐỀ 1

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 4

1.1 Quan điểm của Đảng và nhà nước về Giáo dục Mầm non 4

1.2 Vị trí và vai trò của Giáo dục Mầm non 6

1.3 Vị trí và vai trò của Giáo dục Thể chất trong trường mầm non 7

1.4 Mục tiêu của giáo dục mầm non, chương trình giáo dục mầm non 8

1.4.1 Mục tiêu giáo dục mầm non 8

1.4.2 Chương trình giáo dục mầm non 9

1.5 Một số khái niệm có liên quan đến vấn đề nghiên cứu 9

1.5.1 Khái niệm bài tập thể chất 9

1.5.2 Khái niệm kĩ năng vận động 10

1.5.3 Khái niệm kỹ xảo vận động 11

1.6 Đặc điểm tâm sinh lí vận động của trẻ 4 – 5 tuổi 11

1.6.1 Đặc điểm tâm lí trẻ 4 – 5 tuổi 11

1.6.2 Đặc điểm sinh lí trẻ 4 – 5 tuổi 13

1.7 Nhiệm vụ Giáo dục Thể chất cho trẻ mẫu giáo 16

1.7.1 Nhiệm vụ bảo vệ sức khỏe 17

1.7.2 Nhiệm vụ giáo dưỡng 17

1.7.3 Nhiệm vụ giáo dục 17

1.8 Hoạt động bật xa đối với trẻ mầm non 18

1.8.1 Khái quát về kỹ năng bật xa 18

1.8.2 Vai trò của hoạt động bật xa đối với trẻ mầm non 19

1.8.3 Ý nghĩa của bài tập dẫn dắt trong việc nâng cao kĩ năng bật xa cho trẻ 4 -5 tuổi 20

CHƯƠNG 2 NHIỆM VỤ - PHƯƠNG PHÁP – TỔ CHỨC NGHIÊN CỨU 21

Trang 6

2.2.1 Phương pháp phân tích và tổng hợp tài liệu 21

2.2.2 Phương pháp phỏng vấn 21

2.2.3 Phương pháp quan sát sư phạm 22

2.3.4 Phương pháp kiểm tra sư phạm 22

2.2.5 Phương pháp thực nghiệm sư phạm 22

2.2.6 Phương pháp toán học thống kê 23

2.3 Tổ chức nghiên cứu 24

2.3.1 Thời gian nghiên cứu 24

2.3.2 Đối tượng nghiên cứu 25

2.3.3 Địa điểm nghiên cứu 25

CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 26

3.1 Đánh giá thực trạng công tác Giáo dục Thể chất và việc sử dụng bài tập nâng cao kĩ năng bật xa cho trẻ 4 – 5 tuổi trường mầm non Hùng Vương – Phúc Yên – Vĩnh Phúc 26

3.1.1 Thực trạng về cơ sở vật chất đáp ứng yêu cầu học giáo dục thể chất của trẻ 26

3.1.2 Thực trạng về đội ngũ giáo viên trong trường mầm non Hùng Vương 28

3.1.3 Thực trạng việc nhận thức của giáo viên về vai trò của Giáo dục Thể chất và dạy trẻ bài tập bật xa 29

3.1.4 Thực trạng việc tổ chức giờ học phát triển kĩ năng bật xa cho trẻ mầm non 32

3.2 Lựa chọn, ứng dụng và đánh giá hiệu quả bài tập nâng cao kĩ năng bật xa cho trẻ 4 – 5 tuổi trường mầm non Hùng Vương – Phúc Yên – Vĩnh Phúc 33

Trang 7

3.2.2 Ứng dụng và đánh giá tính hiệu quả bài tập nâng cao kĩ năng bật xa cho trẻ 4 -5 tuổi Trường mầm non Hùng Vương – Phúc Yên – Vĩnh Phúc 41

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 47 TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC 1

PHỤ LỤC 2

Trang 8

Bảng 3.1: Thực trạng về cơ sở vật chất đáp ứng yêu cầu học giáo dục thể

chất của trẻ (n = 36) 27 Bảng 3.2: Thực trạng về đội ngũ giáo viên trong trường (n = 36) 28 Bảng 3.3: Thực trạng nhận thức của giáo viên về sự cần thiết GDTC cho

trẻ mẫu giáo (n = 36) 29 Bảng 3.4: Thực trạng nhận thức của giáo viên về vai trò của hoạt động

bật xa cho trẻ mẫu giáo (n=36) 30 Bảng 3.5: Thực trạng về việc sử dụng bài tập bổ trợ nhằm phát triển kĩ

năng bật xa cho trẻ mẫu giáo (n = 36) 31 Bảng 3.6: Thực trạng việc tổ chức giờ học phát triển kĩ năng bật xa cho

trẻ mẫu giáo 32 Bảng 3.7: Kết quả phỏng vấn giáo viên về lựa chọn một số bài tập bổ trợ

nhằm nâng cao kỹ năng bật xa cho trẻ 4 - 5 tuổi trường mầm non Hùng Vương (n = 36) 35 Bảng 3.8: Bảng phỏng vấn mức độ ưu tiên sử dụng test kiểm tra đánh giá

kĩ năng bật xa cho trẻ mẫu giáo nhỡ trường mầm non Hùng Vương – Phúc Yên – Vĩnh Phúc (n=36) 41 Bảng 3.9: Kết quả kiểm tra trước thực nghiệm của 2 nhóm ĐC và TN (nA

= nB = 15) 43 Bảng 3.10: Tiến trình giảng dạy một số bài tập bổ trợ nhằm phát triển kĩ

năng bật xa cho trẻ 4 -5 tuổi trường mầm non Hùng Vương 44 Bảng 3.11: Kết quả kiểm tra sau TN của nhóm ĐC và TN (nA= nB=15) 45

Trang 9

ĐẶT VẤN ĐỀ

Giáo dục Thể chất cho trẻ mầm non là một trong những bộ phận của giáo dục toàn diện cho trẻ, nó tạo ra những điều kiện thuận lợi trong quá trình giáo dục trẻ, góp phần phát triển toàn diện các mặt giáo dục đức, trí, thể, mỹ

và lao động cho trẻ

Phát triển thể chất đóng vai trò vô cùng quan trọng với trẻ ngay từ bậc học mầm non Ở giai đoạn này cơ thể của trẻ còn non yếu, vì vậy thông qua hoạt động thể chất,trẻphát triển và dần hoàn thiện các cơ quan, hệ cơ quan trong cơ thể tăng sức đề kháng giảm bệnh tật, trẻ khỏe mạnh, linh hoạt và nhanh nhẹn Ngay từ nhỏ, nếu trẻ có chế độ ăn uống, học tập và rèn luyện thể chất phù hợp sẽ đào tạo ra được thế hệ trẻ đáp ứng được mục tiêu xây dựng con người trong thời đại mới, thời đại CNH-HĐH như Đảng và Nhà nước đã

đề ra và cụ thể hóa thực hiện trong Nghị quyết Hội nghị lần thứ IV Ban chấp

hành Trung ương Đảng khoá VII đã nêu "Con người phát triển cao về trí tuệ,

cường tráng về thể chất, phong phú về tinh thần, trong sáng về đạo đức là động lực của sự nghiệp xây dựng xã hội mới, đồng thời là mục tiêu của chủ nghĩa xã hội"[6]

Việc thiếu coi trọng đến công tác GDTCcho trẻ ở trường mầm non là một thiếu sót vô cùng to lớn Ở giai đoạn nàyGDTC không chỉ đơn thuần là việc hình thành những kiến thức sơ đẳng về GDTC cũng như những kỹ năng vận động để trẻ có thể đáp ứng cho hoạt động của trong hiện tại cũng như trong tương lai mà việc vô cùng quan trọng không thể thiếu trong công tác này còn là hình thành nền tảng sức khỏe, khả năng thích nghi cung cấp tư thế thân người hợp lý và hơn nữa là có thể uốn nắn những sai lệch của cơ thể do bẩm sinh và hoạt động hàng ngày tạo nên Đặc biệt kinh nghiệm về cuộc sống

Trang 10

còn hạn chế thông qua giáo dục thể chất còn có tác dụng điều chỉnh hành vi sai lệch và những mặt còn lại của giáo dục toàn diện

Giáo dục thể chất cho trẻ mầm non bao gồm các nội dung vận động rất

đa dạng trong đó bật xa là một trong những hoạt động vận động cơ bản đóng vai trò quan trọng Thông qua hoạt động bật xa giúp phát triển sức mạnh cho trẻ mầm non.Tổ chức các bài tập rèn kĩ năng bật xa cho trẻ mầm non góp phần phát triển cơ quan, hệ cơ quan trong cơ thể của trẻ, trẻ có sự phối hợp cơ thể dẻo dai, linh hoạt uyển chuyển Thông qua bài tập bật xa đòi hỏi cần có sự phối hợp giữa tay, chân và các bộ phận cơ thể một cách nhịp nhàng để có kết quả tốt, góp phần củng cố và phát triển hệ vận động; tránh được những trấn thương trong quá trình tập luyện gây ra

Trẻ mầm non 4 – 5 tuổi, ở giai đoạn này các chức năng sinh lý dần hoàn thiện, các cơ khớp đang ngày càng được củng cố và phát triển so với giai đoạn trước Vì vậy trẻ cần có những bài tập nâng cao, nhằm kết hợp các

bộ phận của cơ thể linh hoạt đòi hỏi cần có sự nỗ lực để hoàn thành nhiệm vụ

mà không làm trẻ quá căng thẳng, mệt mỏi, tạo cho trẻ hứng thú trong các bài tập, góp phần phát triển thể chất ở trẻ Tuy nhiên để hoạt động bật xa đạt kết quả tốt đòi hỏi sự kết hợp nhịp nhàng giữa chân, tay và toàn thân Trẻ không thể thực hiện tốt luôn bài tập ngay từ giai đoạn ban đầu, vì vậy đòi hỏi giáo viên cần phải thiết kế những bài tập phát triển kĩ năng bật xa cho trẻ

Những bài tập có vai trò quan trọng giúp trẻ thực hiện hoạt động bật xa đạt kết quả tốt đồng thời tránh được những tổn thương trong tập luyện Bài tập giúp cho trẻ làm quen với cách lấy đà, cách phối hợp chân tay, cách giữ thân người khi bật nhảy… Các bài tập bổ trợ cũng góp phần cho trẻ bớt gặp những chấn thương khi thực hiện bài tập bật nhảy Thông qua các bài tập dẫn dắtgiúp hình thành ở trẻ những kĩ năng phối hợp các bộ phận trên cơ thể nhằm đạt kết quả cao trong bài tập bật xa Trong quá trình tập bật xa cho trẻ,

Trang 11

những bài tập khiến trẻ cảm thấy bài tập đơn giản hơn, kết hợp cơ thể cũng không quá phức tạp tạo nên tâm thế thoải mái, nhẹ nhàng khiến trẻ thích thú hơn trong bài tập và đạt kết quả tốt hơn

Hiện nay, ở trường mầm non vận động bật xa là vận động cơ bản trong GDTC cho trẻ Tuy nhiên trong dạy và hướng dẫn trẻ luyện tập giáo viên mới chú ý tới việc cho trẻvận động chứ chưa chú ý tới chất lượng và hiệu quả thực hiện động tác giúp trẻ hoàn thiện các vận động Chính vì giáo viên chưa thực

sự thấy được sự quan trọng của những bài tập bổ trợ phù hợp nâng caokĩ năng bật xa cho trẻ và còn ngại tổ chức, ngại tiến hành Ngoài ra, những giờ phát triển thể chất chưa được tổ chức đúng đắn, phù hợp thậm trí trẻ không được tập luyện các bài tập một cách khoa học, bài bản.Vì vậyviệclựa chọn bài tập

bổ trợ để phù hợp với đặc điểm tâm sinh lý của trẻ cũng như những tiêu chuẩn đặc thù của bài tập bật xa

Xuất phát từ phân tích trên tôi lựa chọn đề tài nghiên cứu: “Lựa chọn bài tập nâng cao kĩ năng bật xa cho trẻ mẫu giáo 4-5 tuổi Trườngmầm non Hùng Vương – Phúc Yên – Vĩnh Phúc”

* Mục đích nghiên cứu

Lựa chọn các bài tập phù hợp nâng cao kỹ năng bật xa, góp phần nâng cao chất lượng dạy học GDTC và phát triển thể chất cho trẻ 4-5 tuổi Trường Mầm non Hùng Vương – Phúc Yên – Vĩnh Phúc

* Giả thuyết khoa học

Nếu việc lựa chọn bài tập để nâng cao kĩ năng bật xa cho trẻ mẫu giáo 4 – 5 tuổi trường mầm non Hùng Vương – Phúc Yên – Vĩnh Phúc có hiệu quả thì sẽ tạo điều kiện tốt cho việc nâng cao hoạt động của các cơ quan trong cơ thể, thúc đẩy sự phát triển những năng lực vận động cần thiết cho trẻ

Trang 12

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU

1.1 Quan điểm của Đảng và nhà nước về Giáo dục Mầm non

Phát triển GD&ĐT là quốc sách hàng đầu và là một trong những động lực quan trọng thúc đẩy sự nghiệp CNH – HĐH đất nước, là điều kiện để phát huy nguồn lực con người Khi sinh thời Bác Hồ đã nói “Một dân tộc dốt là một dân tộc yếu”cho ta thấy được vai trò vô cùng quan trọng của giáo dục Nền giáo dục có phát triển thì quốc gia đó mới hùng mạnh, chính vì thế đầu tư cho giáo dục là đầu tư cho sự phát triển, đảm bảo xây dựng một thế hệ kế tiếp

có đủ phẩm chất và năng lực phục vụ cho đất nước Trong Đại hội Đảng khóa

IX đã xác định “Giáo dục và đào tạo là quốc sách hàng đầu, phát triển giáo

dục và đào tạo là một trong những động lực quan trọng thúc đẩy sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước” [4] Vì vậy giáo dục hiện nay là sự

quan tâm của toàn Đảng, toàn dân và toàn xã hội Đặc biệt, GDMN có một vị trí rất quan trọng, là mắt xích đầu tiên trong hệ thống giáo dục quốc dân đặt nền móng cho sự phát triển giáo dục của đất nước trong tương lai

Chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng căn dặn “dạy trẻ giống như trồng cây

non, trồng cây non tốt thì cây lớn lên sẽ tốt, dạy trẻ tốt thì sau này các cháu thành người tốt” [1] Nhận thấy được vai trò quan trọng của GDMN Đảng và

Nhà nước đã ngày càng quan tâm, chú trọng với bậc học mầm non Hiện nay, việc giáo dục trẻ trước tuổi đi học luôn được Đảng và Nhà nước đã có những xác định rõ ràng về mục tiêu, nhiệm vụ của giáo dục lứa tuổi mầm non GDMN nhận được xứ mệnh góp phần giáo dục toàn diện, đặt nền móng cho con người giai đoạn mới có đầy đủ các phẩm chất đức, trí, thể, mĩ

Tư tưởng của Đảng, của Nhà nước và GDMN cũng được thể hiện rõ

trong văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X đó là:“…Đổi mới mạnh

Trang 13

mẽ GDMN và giáo dục phổ thông Khẩn trương điều chỉnh, khắc phục tình trạng quá tải và thực hiện nghiêm túc chương trình giáo dục và sách giáo khoa phổ thông, đảm bảo tính khoa học, cơ bản, phù hợp tâm lí lứa tuổi và điều kiện cụ thể của Việt Nam…” [7]

Quan điểm chiến lược về GDMN đến năm 2020 là thực hiện mục tiêu giáo dục toàn diện ở tất cả các bậc học, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước trong những năm tới Nghị quyết TW 2 khóa VIII đã

khẳng định: “Ở mọi cấp học, bậc học không thể coi nhẹ việc chăm sóc, bảo vệ

sức khỏe cho học sinh, tạo mọi điều kiện cho các em được học tập thông qua các hoạt động, khiến trẻ cảm thấy thoải mái về thể chất, tinh thần” [6]

Nhà nước đã coi GDMN là một bậc học đóng vai trò quan trọng đặt nền móng cho các cấp học tiếp theo và không thể thiếu trong hệ thống giáo dục quốc dân Trong nghị quyết số 14 NQ/TW ngày 11/1/1997 của bộ chính trị về cải

cách giáo dục đã chỉ rõ: “…kết hợp các biện pháp thể dục, khoa học và những

biện pháp y học hiện đại để bảo vệ sức khỏe và rèn luyện các cháu, làm cho thể chất của các cháu ngay từ bé đã được nuôi dưỡng và phát triển tốt”[8].Thấm

nhuần được tư tưởng của Đảng và Nhà nước, ngành GDMN đang ngày càng được trú trọng nâng cao về cơ sở vật chất, về chuyên môn nghiệp vụ nhằm thực hiện được nhiệm vụ nhà nước đã giao, rèn luyện thế hệ trẻ có đủ đức, đủ tài trong công cuộc xây dựng công nghiệp hóa hiện đại hóa đất nước

Nghị quyết TW8 Khóa XI về đổi mới căn bản, toàn diện GD&ĐT: “Đối

với GDMN giúp trẻ phát triển thể chất, tình cảm, hiểu biết, thầm mỹ, hình thành các yếu tố đầu tiên của nhân cách, chuẩn bị tốt cho trẻ vào lớp một, hoàn thành phổ cập GDMN cho trẻ 5 tuổi vào năm 2015, nâng cao chất lượng phổ cập trong những năm tiếp theo và miễn học phí trước năm 2026 Từng bước chuẩn hóa hệ thống các trường mầm non Phát triển GDMN dưới 5 tuổi có chất lượng phù hợp với điều kiện của từng dịa phương và cơ sở giáo dục”[6]

Trang 14

1.2 Vị trí và vai trò của Giáo dục Mầm non

GD&ĐT là cốt lõi, là trọng tâm của chiến lược trồng người Phát triển giáo dục là nền tảng để tạo ra những nguồn nhân lực có chất lượng cao, là động lực của sự nghiệp CNH – HĐH đất nước Bởi vậy Đảng ta đã khẳng định “giáo dục là quốc sách hàng đầu”[6] Trong đó GDMNcó vị trí rất quan trọng trong sự nghiệp phát triển nguồn nhân lực đất nước

GDMN là cấp học đầu tiên trong hệ thống giáo dục quốc dân và là cấp học đầu tiên đặt nền móng cho sự phát triển về thể chất, nhận thức, tình cảm

xã hội và thẩm mỹ cho trẻ em Những kiến thức mà trẻ được tiếp thu trong chương trình chăm sóc GDMN sẽ là nền tảng cho việc học tập và thành công sau này của trẻ Do vậy, phát triển GDMN là yếu tố quan trọng trong việc phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao cho đất nước

Ngày nay, khi tình hình kinh tế đất nước đang phát triển, GDMN ngày càng có vị trí và vai trò quan trọng của ngành GDMN trở thành cấp học đầu tiên trong hệ thống giáo dục quốc dân, là giai đoạn đặt nền móng cho trẻ học những cấp học tiếp theo Theo quan niệm của giáo dục hiện đại và tiến bộ cho

rằng: “đối với trẻ càng nhỏ bao nhiêu, thì lại cần phải đảm bảo sự cân đối

giữa nuôi và dạy bấy nhiêu, hai yếu tố này càng ảnh hưởng và tác động qua lại với nhau Nếu thiếu hụt một trong hai yếu tố trên đều có thể gây ra những ảnh hưởng tiêu cực đến sự tăng trưởng và phát triển của trẻ”[6]

Việt Nam bước sang giai đoạn CNH – HĐH đất nước, hội nhập kinh tế toàn cầu, GDMN càng được coi trọng và coi đây là giai đoạn vàng của sự phát triển Ngay từ nhỏ trẻ được học trong môi trường tốt, nhất định sẽ tạo

nên những con người tốt, như Hồ Chí Minh sinh thời đã nói: “Làm mẫu giáo

tức là thay mẹ dạy trẻ, dạy trẻ cũng như trồng cây non,trồng cây non được tốt thì sau này cây sẽ tốt, dạy trẻ tốt thì sau này các cháu thành người tốt”[1] Vì

vậy người đã luôn coi trọng giáo dục trẻ trong giai đoạn mầm non, trẻ cần

Trang 15

được ăn, ngủ, học tập khoa học tạo tiền đề cho sự phát triển các kỹ năng cần thiết cho sự phát triển sau này

Hiện nay, GDMN ngày càng được coi trọng với những yêu cầu cao Trẻ đến trường không chỉ ăn, ngủ mà còn tham gia các hoạt động học tập thông qua kết hợp với vui chơi rèn luyện cho trẻ các kĩ năng, kĩ xảo tạo nền móng kiến thức cơ sở cho trẻ học ở trường phổ thông Vì vậy đội ngũ giáo viên mầm non ngoài yêu nghề mến trẻ thì nay cần đạt được những yêu cầu về chuyên mônnghiệp vụ đáp ứng với nhu cầu của xã hội đề ra đối với giáo dục

ở trường mẫu giáo.Để đảm bảo cho sự tăng trưởng của xã hội mai sau, việc phát triển nhân tố con người phải được tiến hành không ngừng ngay từ khi trẻ còn nhỏ

Nhìn chung, khi kinh tế đất nước phát triển khả năng nhận thức của người dân cũng được nâng cao GDMN ngày càng được đặt đúng tầm quan trọng không những chỉ ở các thành phố lớn mà ở các địa phương cũng có những chuyển biến tích cực: Tỷ lệ trẻ đến lớp tăng, cơ sở trường lớp ngày càng khang trang, trang thiết bị dạy học ngày càng hiện đại, đội ngũ giáo viên không những đảm bảo về số lượng thay vào đó ngày càng được nâng cao về chuyên môn nghiệp vụ, đáp ứng yêu cầu cấp thiết của xã hội đối với ngành GDMN

1.3 Vị trí và vai trò của Giáo dục Thể chất trong trường mầm non

GDMN hướng đến giáo dục trẻ tiến tới sự phát triển toàn diện về: Đức, trí, thể, mĩ, lao động trong đó GDTC là bộ phận không thể thiếu và đóng vai trò quan trọng góp phần phát triển toàn diện

Đối với GDMN thì GDTC đóng vai trò quan trọng hơn bất cứ bậc học nào Bởi lứa tuổi này cơ thể trẻ đang phát triển rất nhanh về thể chất, các cơ quan hệ cơ quan đang dần hoàn thiện Việc thường xuyên cho trẻ tham gia các hoạt động GDTC giúp cơ thể trẻ phát triển hài hòa, cân đối; trẻ khỏe mạnh, nhanh nhẹn, linh hoạt trong các hoạt động hàng ngày

Trang 16

Thông qua hoạt động GDTC làm phong phú đời sống tinh thần của trẻ, trẻ vui tươi, hoạt bát và hào hứng tham gia hoạt động thông qua kết hợp học

mà chơi, chơi mà học GDTC trong trường tác động đến trẻ về vẻ đẹp thẩm

mĩ của con người, tạo cho trẻ những thói quen tham gia vào tập luyện hàng ngày, ngăn nắp gọn gàng Những hoạt động GDTC trên lớp đã góp phần giải quyết nhu cầu tham gia vận động cho trẻ như: chạy, nhảy, bò, trườn… khiến trẻ càng thích thú, làm đa dạng hơn các môn học trong trường mầm non

GDTC trong trường mầm non vừa là một môn học cũng là những hoạt động của trẻ Thông qua các hoạt động GDTC góp phần củng cố và phát triển các cơ quan, hệ cơ quan còn non yếu của trẻ Đồng thời GDTC có vị trí vô cùng quan trọng trong việc hình thành tư thế thân người đúng cho trẻ ngay từ giai đoạn mầm non Vì vậy GDTC trong trường mầm non chiếm một vị trí vô cùng quan trọng và cần thiết đối với sự phát triển của con người trong những giai đoạn đầu tiên của cuộc sống

Trong 6 năm đầu, trẻ em có đặc điểm phát triển mạnh mẽ ở tất cả các

cơ quan và hệ cơ quan của cơ thể Trẻ khi sinh ra được thừa hưởng những đặc điểm sinh vật của con người Những đặc điểm này là cơ sở cho sự phát triển thể chất và tâm lí sau này của đứa trẻ Khả năng phát triển của trẻ còn phụ thuộc vào quá trình giáo dục, vì vậy giáo dục thể chất đóng vai trò vô cùng quan trọng ngay từ khi trẻ nhỏ, tạo tiền đề cho sự phát triển của trẻ tốt của trẻ trong những giai đoạn tiếp theo

1.4 Mục tiêu của giáo dục mầm non, chương trình giáo dục mầm non

1.4.1 Mục tiêu giáo dục mầm non

Mục tiêu của GDMN là giúp trẻ phát triển về thể chất, tình cảm, trí tuệ, thẩm mĩ, hình thành những yếu tố đầu tiên của nhân cách, chuẩn bị cho trẻ vào lớp một; hình thành và phát triển ở trẻ những chức năng tâm sinh lí, năng

Trang 17

lực và phẩm chất mang tính nền tảng, những kĩ năng sống cần thiết phù hợp với lứa tuổi, khơi dậy và phát triển tối đa những khả năng tiềm ẩn, đặt nền tảng cho việc học ở các cấp học tiếp theo và cho việc học tập suốt đời

1.4.2 Chương trình giáo dục mầm non

Chương trình giáo dục mầm non được ban hành là chương trình khung,

có kế thừa những ưu việt của các chương trình chăm sóc giáo dục trẻ trước đây, được phát triển trên các quan điểm đảm bảo đáp ứng sự đa dạng của các vùng miền, các đối tượng trẻ, hướng đến sự phát triển toàn diện và tạo cơ hội cho trẻ phát triển

Chương trình giáo dục mầm non bao gồm:

- Chương trình giáo dục nhà trẻ

- Chương trình giáo dục mẫu giáo

Chương trình GDMN gồm 2 nhiệm vụ chăm sóc và giáo dục:

- Nhiệm vụ chăm sóc: Góp phần chăm sóc vệ sinh cá nhân, bữa ăn, giấc ngủ cho trẻ khoa học hợp lí Trẻ ở trường luôn có giờ giấc nhất định, giờ nào việc đấy, phù hợp với đặc điểm về tâm sinh lí của trẻ ở từng giai đoạn khác nhau sao cho phù hợp Hoạt động chăm sóc góp phần tạo điều kiện cho trẻ phát triển thể chất tốt nhất; trẻ khỏe, linh hoạt, nhanh nhẹn

- Nhiệm vụ giáo dục: Chương trình GDMN đảm bảo nội dung phát triển toàn diện cho trẻ về thể chất, nhận thức, ngôn ngữ, thẩm mĩ, tình cảm và

kĩ năng xã hội Chương trình đảm bảo cho trẻ được phát triển một cách tối đa

về cả thể chất lẫn tinh thần, đặt nền tảng tốt cho trẻ học tập ở các cấp học tiếp theo

1.5 Một số khái niệm có liên quan đến vấn đề nghiên cứu

1.5.1 Khái niệm bài tậpthể chất

Bài tập thể chất là những hoạt động vận động chuyên biệt do con người sáng tạo ra một cách có ý thức, có chủ đích, phù hợp với các qui luật Giáo dục Thể chất Người ta dùng chúng để giải quyết những nhiệm vụ Giáo dục Thể chất, đáp ứng những yêu cầu phát triển thể chất và tinh thần của con người

Trang 18

Theo định nghĩa trên, không phải bất cứ hoạt động vận động nào cũng được coi là bài tập Thể dục, Thể thao

Nhiều động tác tự nhiên trong đời sống của con người đã trở thành nội dung của các bài tập Thể dục, Thể thao Tất nhiên, hình thức và nội dung của chúng đã thay đổi nhiều để phù hợp với các quy luật và đáp ứng được các yêu cầu, mục tiêu của Giáo dục Thể chất Thí dụ: những hình thức vận động cơ bản của con người như đi, chạy, nhảy…có thể trở thành bài tập Thể dục, Thể thao Khi chúng có hình thức hợp lý theo quan điểm Giáo dục Thể chất và tạo

ra được các quá trình biến đổi chức năng của cơ thể ở mức độ cần thiết, phù hợp với yêu cầu giữ gìn sức khỏe, nâng cao các tố chất thể lực, hoàn thiện các

kỹ năng vận động [12]

1.5.2 Khái niệm kĩ năng vận động

Việc giảng dạy trong bất cứ lĩnh vực nào cũng không chỉ nhằm cung cấp biểu tượng, khái niệm về các vấn đề cần dạy, mà còn cung cấp kỹ năng,

Trong quá trình Giáo dục Thể chất, kỹ năng vận động được hình thành theo 2 dạng: kỹ năng thực hiện tổng hợp một số vận động và kỹ năng thực hiện các động tác riêng lẻ với độ phức tạp khác nhau [12]

Trang 19

1.5.3 Khái niệm kỹ xảo vận động

Kỹ xảo vận động là năng lựcgiải quyết nhiệm vụ vận động một cách tự động hoá trong đó người học chỉ tập trung chú ý vào các điều kiện và kết quả của hành động mà không tập trung vào kỹ thuật động tác riêng lẻ

Nói cách khác, kỹ xảo vận động là loại hành động vận động được tự động hoá một cách có ý thức, tự động hoá nhờ luyện tập, là mức độ tiếp thu

kỹ thuật vận động, trong đó việc điều khiển vận động đã trở nên tự động hoá

và các thao tác thể hiện sự tin tưởng cao [12]

1.6 Đặc điểm tâm sinh lí vận động của trẻ 4 – 5 tuổi

1.6.1 Đặc điểm tâm lí trẻ 4 – 5 tuổi

* Tri giác

Do tiếp xúc với nhiều đồ vật, hiện tượng, con người độ nhạy cảm phân biệt các dấu hiệu thuộc tính bên ngoài của chúng ngày càng chính xác và đầy đủ

Một số quan hệ không gian và thời gian được trẻ trẻ tri giác hơn trong tầm nhìn, nghe của trẻ.Khả năng quan sát của trẻ được phát triển không chỉ số lượng đồ vật mà cả các chi tiết, dấu hiệu thuộc tính, màu sắc

Bắt đầu xuất hiện khả năng kiểm tra độ chính xác của tri giác bằng cách hành động thao tác lắp ráp, vặn mở phù hợp với nhiệm vụ yêu cầu Các loại tri giác nhìn, nghe, sờ mó phát triển ở độ tinh nhạy.Việc tổ chức tri giác, hướng dẫn quan sát, nhận xét của cô giáo, cha mẹ giúp trẻ phát triển tính mục đích, kế hoạch

Trang 20

tri giác, hiểu và sử dụng chúng như một phương tiện giao tiếp ới những người xung quanh tuy ở mức độ đơn giản.Trí nhớ không chủ định của trẻ ở các dạng hoạt động phát triển khác nhau và tốc độ phát triển rất nhanh

Khi bước sang tuổi mẫu giáo, trí nhớ không chủ định vẫn chiếm ưu thế Khi lượng trí nhớ tăng lên trẻ có thể học thuộc những bài thơ, bài vè, ca dao, tục ngữ…mà không cần quá căng thẳng của hệ thần kinh Ở giai đoạn này trí nhớ gắn liền với trực quan, vì vậy nếu được tác động bằng hình ảnh trực quan thì trẻ sẽ nhớ nhanh và lâu hơn Đến giai đoạn cuối tuổi mẫu giáo, trí nhớ của trẻ có chủ định hơn và phát triển mạnh

Ở độ tuổi này, các loại trí nhớ: hình ảnh, vận động, từ ngữ đều được phát triển tuy ở mức độ khác nhau nhưng đều được hình thành và tham gia tích cực trong các hoạt động vui chơi, lao động, tạo hình ở trẻ

* Tư duy

Ở trẻ 4 - 5 tuổi các loại tư duy đều được phát triển nhưng mức độ khác nhau.Tư duy trực quan hành động vẫn tiếp tục phát triển, nhưng chất lượng khác với trẻ 3 - 4 tuổi ở chỗ trẻ bắt đầu biết suy nghĩ xem xét nhiệm vụ hoạt động, phương pháp và phương tiện giải quyết nhiệm vụ tư duy

Tư duy trực quan hình tượng phát triển mạnh mẽ và chiếm ưu thế.Nhờ có

sự phát triển ngôn ngữ, trẻ ở lứa tuổi này đã xuất hiện loại tư duy trừu tượng

- Một số đặc điểm trong tư duy ở trẻ 4 - 5 tuổi:

Mức độ khái quát ngẫu nhiên giảm dần từ 4 đến 5 tuổi trong hoạt động

tư duy của trẻ.Mức độ tích cực huy động vốn kinh nghiệm (liên tưởng) của trẻ tăng lên từ 4 - 5 tuổi.Sự khái quát các dấu hiệu chung giảm dần từ 4 - 5 tuổi, nhường chỗ cho các chi tiết đặc thù của các sự vật hiện tượng

Cô giáo cần tổ chức các tiết học vui chơi kích thích sự phát triển tư duy

ở trẻ, kích thích trẻ tìm tòi các dấu hiệu giống nhau, khác nhau, so sánh các đồ vật, tranh ảnh, hoa quả, đồ chơi

Trang 21

* Tưởng tượng

Nhờ có khả năng phát triển tạo hình mà tưởng tượng của trẻ phát triển Trẻ có thể thực hiện được những nhiệm vụ học tập thông qua nhớ lại cách làm mẫu, hình ảnh đã được quan sát khá tốt Không những vậy, trẻ ở giai đoạn này

có khả năng tưởng tượng rất phong phú, đa dạng Trẻ có thể tưởng tượng mọi thứ xung quanh cuộc sống dưới con mắt và tư duy của chúng [9]

1.6.2.Đặc điểm sinh lí trẻ 4 – 5 tuổi

1.6.2.1.Sự phát triển thể chất của trẻ 4 – 5 tuổi

Ở giai đoạn này cơ thể đã dần hoàn thiện, các cơ quan, hệ cơ quan vẫn đang trong giai đoạn phát triển Thời kì 4 -5 tuổi là giai đoạn rất thuận lợi để trẻ tiếp thu và củng cố các kỹ năng cần thiết cho sự phát triển toàn diện Trẻ

em ở giai đoạn này lớn nhanh, cơ thể cảm thấy như gầy hơn mất vè tròn trĩnh, mập mạp ở những giai đoạn trước Đặc trưng ở giai đoạn này là cơ thể phát triển chưa ổn định và khả năng vận động còn gặp nhiều hạn chế

* Sự phát triển của hệ thần kinh

Hệ thần kinh của trẻ ở giai đoạn này đã đạt được mức độ cao hơn ở giai đoạn trước Trẻ 4 -5 tuổi là giai đoạn diễn ra các quá trình ức chế tích cực dần dần phát triển; trẻ đã có khả năng phân tích, đánh giá, hình thành kĩ năng, kĩ xảo vận động và phân biệt được các hiện tượng xung quanh Vì vậy giáo viên cần có những bài tập phù hợp giữa vận động và nghỉ ngơi của trẻ, tránh để trẻ

ức chế căng thẳng, mệt mỏi trong quá trình tham gia vận động

Trang 22

Hệ cơ của trẻ em phát triển yếu, tổ chức cơ bắp còn ít, các sợi cơ nhỏ, mảnh thành phần nước trong cơ tương đối nhiều nên sức mạnh cơ bắp còn yếu, cơ nhanh mệt mỏi Do đó trẻ ở giai đoạn này không thích nghi với sự căng thẳng lâu của cơ bắp, cần xen kẽ giữa vận động và nghỉ ngơi trong thời gian luyện tập

Khớp của trẻ có đặc điểm là ổ khớp còn nông, cơ bắp xung quanh khớp còn mềm yếu, dây chằng lỏng lẻo, tính vững chắc của khớp tương đối kém Hoạt động phù hợp với lứa tuổi của trẻ sẽ giúp khớp được rèn luyện, từ đó tăng dần tính vững chắc của khớp

Để hệ vận động của trẻ thực hiện tốt các chức năng của mình, cần phải thường xuyên cho trẻ luyện tập hợp lý, vừa sức và chú ý đến tư thế thân người đúng của trẻ trong đời sống hàng ngày

* Hệ tuần hoàn

Đối với trẻ sức co bóp của tim còn yếu, mỗi lần co bóp chỉ chuyển đi được một lượng máu rất ít, nhưng mạch đập nhanh hơn ở người lớn Các mạch máu của trẻ rộng hơn so với của người lớn, do áp lực của máu yếu, cần củng cố các cơ tim cũng như các thành mạch làm cho nhịp điệu co bóp của tim tốt hơn

và phát triển khả năng thích ứng với sự thay đổi lượng vận động phù hợp Khi cho trẻ luyện tập nên đa dạng hóa các bài tập, nâng dần lượng vận động cũng như cường độ vận động, phối hợp động và tĩnh một cách nhịp nhàng

* Hệ hô hấp

Đường hô hấp của trẻ tương đối hẹp, niêm mạc hô hấp mềm mại, mao mạch phong phú, dễ phát sinh nhiễm cảm Khí quản của trẻ nhỏ, không khí đưa vào ít, trẻ thở nông nên khả năng trao đổi không khí ở phổi kém

Khi trẻ vận động, cơ thể đòi hỏi một lượng trao đổi khí tăng lên rõ dệt, điều này thúc đẩy tế bào phổi tham gia vào vận động hô hấp tăng lên, cơ hô

Trang 23

hấp mạnh dần lên, nâng cao tính đàn hồi của thành phổi, tăng lượng không khí phổi và dung tích sống

Bộ máy hô hấp của trẻ vẫn còn nhỏ, không chịu được những vận động quá sức kéo dài liên tục, những vận động đó sẽ làm cho cơ đang vận động bị thiếu oxy Việc tăng dần lượng vận động trong quá trình luyện tập sẽ tạo điều kiện cho cơ thể trẻ thích ứng với việc tăng lượng oxy cần thiết và ngăn ngừa được sự xuất hiện oxy quá lớn của cơ thể Ngoài ra việc thở đúng và sâu của

cơ thể trong quá trình tập luyện cũng rất quan trọng

* Sự phát triển của hệ trao đổi chất

Cơ thể trẻ đang phát triển đòi hỏi bổ sung liên tục năng lượng tiêu hao

và cung cấp các chất tạo hình để kiến tạo các cơ quan và mô Trẻ 4 – 5 tuổi quá trình lớn lên và hình thành các tế bào diễn ra với tốc độ chậm hơn so với

ở những giai đoạn trước, khác với người lớn ở trẻ em năng lượng tiêu hao cho

sự lớn lên và dự trữ chất nhiều hơn là cho hoạt động cơ bắp

Vận động cơ thể đòi hỏi sự phối hợp nhịp nhàng của toàn bộ cơ thể mới

có thể thực hiện được, đồng thời vận động cơ thể có tác dụng rèn luyện và thúc đẩy toàn bộ cơ thể Việc thực hiện chế độ vận động hợp lý cho cơ thể trẻ

sẽ giúp quá trình phát triển cơ thể của trẻ tốt hơn, nếu ngược lại sẽ có hại cho sức khỏe của trẻ

1.6.2.2 Sự phát triển sinh lý vận động của trẻ 4-5 tuổi

Tốc độ vận động thể lực của trẻ ở giai đoạn này chậm hơn so với những giai đoạn trước nhưng quá trình cốt hóa xương lại diễn ra nhanh Khả năng làm việc của hệ thần kinh còn yếu nên nếu vận động nhiều thì sẽ nhanh mệt mỏi Các phản xạ có điều kiện hình thành nhanh, song củng cố còn chậm Vì vậy, những thói quen vận động mới được hình thành không bền vững, dễ sai lệch

- Vận động đi chạy nhảy và cảm giác thăng bằng: Ở trẻ 4 -5 tuổi có sự phối hợp tay, chân chưa nhịp nhàng, tư thế còn ngập ngừng chưa chính xác

Trang 24

- Vận động nhảy: Việc vận động nhảy ở giai đoạn này còn gặp nhiều khó khăn, khả năng phối hợp vận động của trẻ chưa tốt, tay chưa là yếu tố tích cực thúc đẩy tăng vận tốc khi nhảy

- Vận động ném, chuyền, bắt bóng: Trẻ biết xác định hướng ném đúng,

đã biết cách phối hợp cơ thể và tay tuy nhiên vẫn còn vụng về thiếu chính xác

- Vận động bò, trườn, trèo: Khi bò trẻ đã biết phối hợp chính xác giữa tay và chân; khả năng trèo của trẻ tốt hơn đã biết cách xác định hướng vận động của mình

Vận động của trẻ giai đoạn này đã có bước phát triển hơn so với giai đoạn trước Tuy nhiên trẻ vẫn còn gặp nhiều khó khăn trong quá trình phối hợp các vận động với nhau và cần có những bài tập phù hợp để phát triển khả năng vận động cho trẻ [8]

1.7.Nhiệm vụ Giáo dục Thể chất cho trẻ mẫu giáo

Quyết định 55 của bộ giáo dục quy định mục tiêu, kế hoạch đào tạo của

nhà trẻ - mẫu giáo nêu rõ mục tiêu của giáo dục mầm non là: “Hình thành ở

trẻ những cơ sở đầu tiên của nhân cách con người mới XHCN Việt Nam”

[10]:

- Khỏe mạnh, nhanh nhẹn, cơ thể phát triển hài hòa cân đối

- Giàu lòng thương, biết quan tâm, nhường nhịn, giúp đỡ những người gần gũi (bố, mẹ,bạn, cô giáo) thật thà, lễ phép, mạnh dạn, hồn nhiên

- Yêu thích cái đẹp, biết giữ gìn cái đẹp và mong muốn tạo ra cái đẹp xung quanh

- Thông minh, ham hiểu biết, thích tìm tòi khám phá, có một số kĩ năng

sơ đẳng (quan sát, phân tích, tổng hợp, suy luận…) cần thiết vào trường phổ thông, thích đi học

Thực hiện mục tiêu GDMN là chuẩn bị tiền đề quan trọng, cần thiết cho việc thực hiện mục tiêu giáo dục ở các bậc học tiếp theo Để thực hiện được

Trang 25

mục tiêu giáo dục mầm non thì giáo dục thể chất trong trường mầm non cần thực hiện những nhiệm vụ sau:

1.7.1 Nhiệm vụ bảo vệ sức khỏe

Nhiệm vụ này bao gồm chăm sóc, nuôi dưỡng và rèn luyện một cách khoa học; chăm sóc trẻ khi ăn, ngủ, chơi và học, đảm bảo việc thực hiện chế

độ sinh hoạt đúng giờ cho trẻ; cho trẻ ăn đủ chất, đủ lượng; rèn luyện cơ thể bằng các hình thức tiết học thể dục, trò chơi

Nhiệm vụ này được triển khai cụ thể như sau:

- Rèn luyện, nâng cao sức đề kháng của cơ thể trẻ trước những tác động

từ môi trường xung quanh

- Củng cố và phát triển các cơ quan, hệ cơ quan trong cơ thể

- Góp phần nâng cao chức năng của hệ thần kinh thực vật

1.7.2 Nhiệm vụ giáo dưỡng

- Hình thành và phát triển các kĩ năng, kĩ xảo vận động, phát triển các

tố chất thể lực, thói quen vệ sinh, biết nắm được một số kiến thức sơ đẳng về GDTC Ở trẻ có khả năng thích nghi của hệ thần kinh, những vận động được hình thành dễ dàng ở trẻ

- Trẻ sử dụng những kĩ năng vào các hoạt động hàng ngày để thực hiện các vận động cơ bản như đi, chạy nhảy, leo trèo…trở thành các thói quen vận động Những thói quen vận động giúp trẻ tiết kiệm được sức khi chuyển động trong không gian, thúc đẩy sự phát triển các giác quan trong cơ thể tăng cường khả năng nhận thức trong thế giới xung quanh

1.7.3 Nhiệm vụ giáo dục

Trong quá trình GDTC, có nhiều khả năng giải quyết những nhiệm vụ giáo dục trí tuệ, đạo đức, thầm mĩ và lao động

Trang 26

- GDTC đối với giáo dục trí tuệ: GDTC một cách khoa học sẽ tạo ra những điều kiện thuận lợi cho hoạt động của hệ thần kinh giúp cho các quá trình tâm lí như cảm giác, tri giác, trí nhớ, tư duy phát triển tốt Đặc biệt GDTC tạo nền tảng hình thành ở trẻ một số thao tác tư duy quan sát, phân tích, so sánh, tổng hợp, khái quát

- GDTC với giáo dục đạo đức: Thông qua các tiết học thể dục hay khi

tổ chức các hoạt động trò chơi cho trẻ, giáo viên tiến hành nhận xét, đánh giá những hành vi đạo đức của trẻ thông qua các hoạt động; trẻ hình thành được những hiểu biết nhất định về hành vi đúng hay sai, trẻ cần nhường nhịn, thỏa thuận với bạn, tiết chế ham muốn cá nhân để cùng hoạt động đạt hiệu quả cao

- GDTC với giáo dục thẩm mĩ: GDTC tạo điều kiện thuận lợi cho giáo dục thẩm mĩ Trong quá trình thực hiện bài tập thể chất, các động tác được thực hiện một cách khéo léo, nhịp nhàng, sẽ tác động đến nhận thức của trẻ về

vẻ đẹp thân thể con người khi vận động Khi dạy trẻ bài tập vận động giáo viên làm mẫu chính xác giúp trẻ cảm nhận tốt hơn về bài tập, thấy được vẻ đẹp của bài tập và thực hiện một cách chính xác

- GDTC với giáo dục lao động: Đối với trẻ mầm non, giáo dục lao động cho trẻ là giúp trẻ lao động với người lớn những kĩ năng lao động đơn giản được thể hiện qua lao động tự phục vụ giáo dục trẻ hứng thú với lao động, yêu lao động, biết yêu quý và tôn trọng sự lao động của người lớn

1.8 Hoạt động bật xa đối với trẻ mầm non

1.8.1 Khái quát về kỹ năng bật xa

Bật xa là một trong những hoạt động phát triển sức mạnh của cơ thể kết hợp với sự phối hợp nhịp nhàng của tay, chân và thân người nhằm đẩy người bật về phía trước

Đối với trẻ mầm non, bật xa là một bài tập trong tiết phát triển thể chất cho trẻ Khi cho trẻ tập luyện yếu tố cần thiết là trẻ biết cách thực hiện và khả

Trang 27

năng phối hợp cơ thể của trẻ để đạt được kết quả tốt mà trẻ lại không cảm thấy quá mệt mỏi

1.8.2 Vai trò của hoạt động bật xa đối với trẻ mầm non

Bài tập bật xa trong các tiết học GDTC góp phần đa dạng các bài tập cho trẻ Ngoài những bài tập phát triển kĩ năng chạy, nhảy, bò, trườn…bài tập bật xa rèn cho trẻ kĩ năng bật, khiến các bài tập của trẻ phong phú đa dạng hơn Trẻ mầm non luôn thích thú với sự mới mẻ, thông qua những bài tập được thay đổi thường xuyên khiến cho trẻ thấy hứng thú, hào hứng tham gia vào các hoạt động và đạt được kết quả tốt hơn

Bật xa giúp hình thành tư thế thân người đẹp Qua việc quan sát cô làm mẫu, các bạn thực hiện và việc trẻ thực hành bài tập, trẻ sẽ nắm được tư thế đúng khi thực hiện Từ đó trẻ có ý thức trong việc thực hiện động tác, tạo được tư thế đúng, đẹp và đạt được kết quả cao

Thông qua các bài tập phát triển khả năng kết hợp các bộ phận trên cơ thể Bật xa là một hoạt động đòi hỏi sự kết hợp khá phức tạp các bộ phận như tay, chân và thân người Nếu như ở các gia đoạn trước cái bài tập của trẻ còn đơn giản, sự phối hợp các bài tập thường ít hơn thì ở 4 -5 tuổi trẻ cần đến những bài tập khó hơn, phức tạp hơn Bài tập giúp trẻ linh hoạt hơn, các cơ có

sự phối kết hợp với nhau nhằm giúp trẻ phát triển hệ thống xương và dây chằng chắc chắn và ổn định hơn

Bật xa giúp phát triển các tố chất thể lực, trẻ khỏe mạnh, linh hoạt và dẻo dai Các bài tập được thực hiện thường xuyên sẽ giúp trẻ có cơ thể dẻo dai hơn, săn chắc hơn và cơ thể ổn định hơn Ngoài ra thông qua các bài tập rèn cho trẻ tính kiên trì trong tập luyện, cố gắng vượt qua những khó khăn để hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao

Trang 28

1.8.3 Ý nghĩa của bài tập dẫn dắt trong việc nâng cao kĩ năng bật

xa cho trẻ 4 -5 tuổi

Bằng việc sử dụng các bài tập phù hợp sẽ giúp trẻ giảm bớt căng thẳng, mệt mỏi trong quá trình tập luyện Trẻ sẽ thấy bài tập đơn giản hơn, dễ dàng thực hiện các bài tập hơn Qua những động tác riêng lẻ có thể kết hợp học mà chơi, chơi mà học khiến cho tâm lí trẻ rất thoải mái Những giờ học khô khan không còn ám ảnh trong tâm lí trẻ Có thể khi tham gia luyện tập trẻ không còn thấy dường như mình đang tập mà là đang chơi, bài tập giúp tăng sự hứng thú và tinh thần thoải mái cho trẻ

Bài tậpcó tác dụng củng cố cho bài tập bật xa Những bài tập bổ trợ sẽ góp phần nâng cao những kĩ năng bật xa cho trẻ từ đơn giản đến phức tạp Khi tập các bài tập bổ trợ trẻ dễ dàng thực hiện các động tác đúng nhanh hơn, sau đó mới kết hợp thực hiện bài tập chính và đạt kết quả tốt hơn

Thông qua các bài tập trên lớp trẻ dễ dàng thực hiện hơn Khi được tổ chức các bài tập bổ trợ phù hợp, trẻ sẽ thấy mọi thứ rất đơn giản và trẻ có thể thực hiện tốt được theo hướng dẫn của cô Trẻ không cần phải thực hiện ngay những bài tập bật xa đòi hỏi sự khó khăn trong việc kết hợp các động tác của trẻ

Các bài tập bổ trợ giúp trẻ hình thành các kĩ năng bật xa để đạt được kết quả tốt Những động tác riêng lẻ của bài tập bổ trợ, trẻ được làm quen và luyện tập, khi trẻ thực hiện tốt rồi mới đi đến việc phối hợp động tác với nhau

để thực hiện tốt được bài tập của mình

Trang 29

CHƯƠNG 2 NHIỆM VỤ - PHƯƠNG PHÁP – TỔ CHỨC NGHIÊN CỨU

2.1 Nhiệm vụ nghiên cứu

Để giải quyết mục đích đặt ra trong đề tài, đề tài nghiên cứu hai nhiệm vụ:

Nhiệm vụ 1: Đánh giá thực trạng công tác Giáo dục Thể chất và việc sử dụng bài tập trong hình thành và nâng cao kĩ năng bật xa cho trẻ mầm non Hùng Vương- Phúc Yên- Vĩnh Phúc

Nhiệm vụ 2: Lựa chọn, ứng dụng và đánh giá hiệu quả bài tập nâng cao

kĩ năng bật xa cho trẻ mẫu giáo 4 – 5 tuổi

2.2 Các phương pháp nghiên cứu

2.2.1 Phương pháp phân tích và tổng hợp tài liệu

Mục đích của phương pháp này để thông qua nghiên cứu tài liệu, sách chuyên môn cũng như các thông tin khoa học có liên quan đến đề tài để có được những cơ sở lý luận phục vụ cho việc ứng dụng bài tập nâng cao kỹ năng bật xa cho trẻ mẫu giáo 4 – 5 tuổi trường mầm non Hùng Vương – Phúc Yên – Vĩnh Phúc

2.2.2 Phương pháp phỏng vấn

Đây là phương pháp mà chúng tôi sử dụng để phỏng vấn các giáo viên

trường mầm non Hùng Vương – Phúc Yên – Vĩnh Phúc

Nội dung phỏng vấn là những vấn đề liên quan đến việc sử dụng các bài tập bổ trợ trong việc nâng cao các kĩ năng bật xa cho trẻ

- Thực trạng về cơ sở vật chất tại trường

- Thực trạng việc GDTC trong trường mầm non

- Thực trạng việc tổ chức giờ học dạy trẻ kĩ năng bật xa

- Thực trạng việc sử dụng các bài tập bổ trợ nhằm nâng cao kĩ năng bật

xa cho trẻ

Trang 30

Các vấn đề phỏng vấn còn tập trung vào việc xác định các yêu cầu lựa chọn bài tập bổ trợnâng cao kĩ năng bật xa cho trẻ và từ đó có cơ sở để ứng dụng bài tập bổ trợ phát triển kĩ năng bật xa vào thực tiễn giảng dạy trong trường mầm non

2.2.3 Phương pháp quan sát sư phạm

Trong quá trình nghiên cứu đề tài, thông qua phương pháp này chúng

tôi có cái nhìn bao quát về quá trình giảng dạy, học tập của cô và trẻ có thể đưa cái nhìn tổng quát về thực trạng tổ chức hoạt động cho trẻ bật xa của trẻ

và trong quá trình trẻ thực hiện bài tập bật xa tại trường mầm non Hùng Vương – Phúc Yên

- Quan sát thực trạng công tác giảng dạy lĩnh vực Giáo dục Thể chất

- Quan sát quá trình tổ chức hoạt động bật xa của giáo viên

- Quan sát quá trình trẻ thực hiện

Từ đó lựa chọn và ứng dụng những bài tập phù hợp nhằm đạt hiệu quả cao

2.3.4 Phương pháp kiểm tra sư phạm

Mục đích của phương pháp này dùng để kiểm tra các chỉ số về chất lượng thực hiện kĩ năng bật xa và thành tích bật xa của trẻ trước và sau thực nghiệm Thực hiện các hoạt động để kiểm tra đánh giá như :

+ Đo kết quả bật xa của trẻ trước và sau thực nghiệm

+ Kiểm tra mức độ phối hợp của tay chân và thân người khi thực hiện

kỹ thuật bật xa

2.2.5 Phương pháp thực nghiệm sư phạm

Phương pháp này được chúng tôi sử dụng trong quá trình nghiên cứu

với mục đích đánh giá hiệu quả việc ứng dụng bài tập bổ trợ đã được lựa chọn Chúng tôi tiến hành thực nghiệm ở trẻ lớp 4 – 5 tuổi A1 Đối tượng thực nghiệm chia làm hai nhóm: nhóm thực nghiệm và nhóm đối chứng, mỗi nhóm 15 trẻ

Trang 31

+ Thời gian thực nghiệm được tiến hành trong 7 tuần

2.2.6 Phương pháp toán học thống kê

Trong quá trình nghiên cứu chúng tôi sử dụng phương pháp này để xử

lý số liệu và đánh giá hiệu quả của việc ứng dụng các bài tập bổ trợ đã lựa chọn [15]

B A

n n

X X t

i

X : Là giá trị từng cá thể

n A:Kích thước tập hợp mẫu nhóm A

n B:Kích thước tập hợp mẫu nhóm B

Ngày đăng: 11/09/2017, 10:05

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
4. Đảng cộng sản Việt Nam (2001), Văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc lần IX, Nxb chính trị Quốc Gia Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc lần IX
Tác giả: Đảng cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb chính trị Quốc Gia
Năm: 2001
5. Đặng Hồng Phương (2008), Giáo trình lí luận và phương pháp giáo dục thể chất cho trẻ lứa tuổi mầm non, Nxb Đại học Sƣ phạm Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình lí luận và phương pháp giáo dục thể chất cho trẻ lứa tuổi mầm non
Tác giả: Đặng Hồng Phương
Nhà XB: Nxb Đại học Sƣ phạm
Năm: 2008
6. Đào Thanh Âm (1995), Giáo dục mầm non, tập I, Nxb Đại học Sƣ Phạm Hà Nội 2 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo dục mầm non
Tác giả: Đào Thanh Âm
Nhà XB: Nxb Đại học Sƣ Phạm Hà Nội 2
Năm: 1995
7. Đào Thanh Âm (1995), Giáo dục mầm non, tập II, Nxb Đại học Sƣ phạm Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo dục mầm non
Tác giả: Đào Thanh Âm
Nhà XB: Nxb Đại học Sƣ phạm Hà Nội
Năm: 1995
8. Hoàng Thị Bưởi (1995), Phương pháp giáo dục thể chất cho trẻ mầm non, Nxb Cao đẳng sƣ phạm nhà trẻ mẫu giáo TW I.14 Sách, tạp chí
Tiêu đề: hương pháp giáo dục thể chất cho trẻ mầm non
Tác giả: Hoàng Thị Bưởi
Nhà XB: Nxb Cao đẳng sƣ phạm nhà trẻ mẫu giáo TW I.14
Năm: 1995
9. Hoàng Thị Phương (2005), Giáo trình vệ sinh trẻ em, Nxb Đại học Sư phạm Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình vệ sinh trẻ em
Tác giả: Hoàng Thị Phương
Nhà XB: Nxb Đại học Sƣ phạm
Năm: 2005
11. Nguyễn Đức Văn (2000), Phương pháp thống kê trong TDTT. Nxb TDTT Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương pháp thống kê trong TDTT
Tác giả: Nguyễn Đức Văn
Nhà XB: Nxb TDTT Hà Nội
Năm: 2000
12. Nguyễn Toán, Phạm Danh Tốn (2006), Lý luận và phương pháp TDTT, Nxb TDTT Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lý luận và phương pháp TDTT
Tác giả: Nguyễn Toán, Phạm Danh Tốn
Nhà XB: Nxb TDTT Hà Nội
Năm: 2006
13. Trần Thị Ngọc Trâm, Lê Thu Hương, Lê Thị Ánh Tuyết (2010), Hướng dẫn tổ chức thực hiện chương trình giáo dục mầm non Mẫu giáo nhỡ, Nxb Giáo dục Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hướng dẫn tổ chức thực hiện chương trình giáo dục mầm non Mẫu giáo nhỡ
Tác giả: Trần Thị Ngọc Trâm, Lê Thu Hương, Lê Thị Ánh Tuyết
Nhà XB: Nxb Giáo dục Việt Nam
Năm: 2010
14. Vũ Đào Hùng (1998), Phương pháp nghiên cứu khoa học thể dục thể thao, Nxb Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương pháp nghiên cứu khoa học thể dục thể thao
Tác giả: Vũ Đào Hùng
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 1998
1. BCH TW đảng khóa X, nghị quyết hội nghị lần thứ VIII về định hướng chiến lƣợc phát triển GD&ĐT Khác
2. Bộ chính trị, nghị quyết số 14 NQ/TW ngày 11/1/1997 về cải cách giáo dục Khác
3. Bộ GD&ĐT quyết định 55 quy định mục tiêu, kế hoạch đào tạo của nhà trẻ - mẫu giáo Khác
10. Nghị quyết TW2 khóa VIII về GD&ĐT và khoa học công nghệ Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w