4.Giả thuyết khoa học Nếu tìm ra được các biện pháp tổ chức, thiết kế đồ chơi và trò chơi cho trẻ 3 – 6 tuổi thông qua việc vận dụng lí thuyết của Montessori sẽ tạo điều kiện cho trẻ tr
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA GIÁO DỤC MẦM NON
**********
TRỊNH NGỌC THANH THUẬN
VẬN DỤNG PHƯƠNG PHÁP MONTESSORI VÀO
TỔ CHỨC, THIẾT KẾ ĐỒ CHƠI VÀ TRÒ CHƠI CHO TRẺ 3 - 6 TUỔI Ở TRƯỜNG MẦM NON HÙNG VƯƠNG - PHÚC YÊN - VĨNH PHÚC
Chuyên ngành: Phương pháp tổ chức hoạt động tạo hình
Người hướng dẫn khoa học:
ThS.VŨ LONG GIANG
Hà Nội – 2017
Trang 2LỜI CẢM ƠN
dục Mầm non đã hết lòng tận tình giảng dạy trong suốt quá trình em học tập tại trường
Em xin gửi lời cảm ơn sâu sắc đến Thầy Vũ Long Giang, người đã
nhiệt tình hướng dẫn em trong suốt quá trình thực hiện đề tài khóa luận tốt nghiệp của mình
Em chân thành cảm ơn cán bộ giáo viên, nhân viên trường Mầm non Hùng Vương – Vĩnh Yên – Vĩnh Phúc đã tạo điều kiện thuận lợi cho em hoàn thành khóa luận tốt nghiệp
Mặc dù có nhiều cố gắng, song kiến thức thì vô hạn mà năng lực cá nhân thì có hạn, không tránh khỏi nhiều thiếu xót Em rất mong nhận được những ý kiến đóng góp của các Thầy, Cô giáo và bạn đọc để đề tài này được hoàn thiện hơn
Em xin chân thành cảm ơn!
Xuân Hòa, Ngày 15 tháng 04 năm 2017 Sinh viên
Trịnh Ngọc Thanh Thuận
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Khóa luận là kết quả cố gắng, tìm tòi của bản thân tôi trong quá trình học tập và nghiên cứu ở trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2 cùng với sự
hướng dẫn tận tình của Thầy Vũ Long Giang
Tôi xin cam đoan kết quả nghiên cứu của đề tài “Vận dụng phương pháp Montessori vào tổ chức, thiết kế đồ chơi cho trẻ 3 – 6 tuổi trong trường mầm non Hùng Vương – Phúc Yên – Vĩnh Phúc” không có sự trùng lặp với bất kì một đề tài nào khác Nếu sai tôi xin chịu hoàn trách nhiệm!
Xuân Hòa, Ngày 15 tháng 04 năm 2017 Sinh viên
Trịnh Ngọc Thanh Thuận
Trang 5MỤC LỤC
I MỞ ĐẦU 1
1 Lí do chọn đề tài 1
2 Lịch sử nghiên cứu của đề tài 3
3 Mục đích nghiên cứu 5
4.Giả thuyết khoa học 5
5 Nhiệm vụ nghiên cứu 5
6 Đối tượng, khách thể và phạm vi nghiên cứu 6
7 Phương pháp nghiên cứu 6
8 Cấu trúc khóa luận 7
II NỘI DUNG 8
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN CỦA VIỆC VẬN DỤNG PHƯƠNG PHÁP MONTESSORI VÀO TỔ CHỨC, THIẾT KẾ ĐỒ CHƠI VÀ TRÒ CHƠI CHO TRẺ TỪ 3 – 6 TUỔI TRƯỜNG MẦM NON HÙNG VƯƠNG – VĨNH YÊN – VĨNH PHÚC 8
1.1 ĐỒ CHƠI CHO TRẺ (3 – 6 TUỔI) 8
1.1 1 Khái niệm đồ chơi cho trẻ em 8
1.1.2 Ý nghĩa của đồ chơi trẻ em 9
1.1.3 Phân loại đồ chơi 12
1.2 ĐỒ CHƠI TRẺ EM TRONG PHƯƠNG PHÁP GIÁO DỤC MONTESSORI 13
1.2.1 Giới thiệu về phương pháp Montessori 13
1.2.2 Một số nguyên tắc và đặc điểm cơ bản của phương pháp giáo dục Montessori 16
1.2.3 Các yếu tố trọng tâm và đặc trưng trong phương pháp Montessori 19
1.2.4 Tổ chức các hoạt động chơi và sử dụng đồ chơi cho trẻ 3 – 6 tuổi theo lí thuyết của Montessori 22
Tiểu kết chương 1 37
CHƯƠNG 2: TỔ CHỨC, THIẾT KẾ ĐỒ CHƠI CHO TRẺ 3 – 6 TUỔI TRONG TRƯỜNG MẦM NON HÙNG VƯƠNG – VĨNH YÊN – VĨNH PHÚC 38
2.1 THỰC TRẠNG TỔ CHỨC, THIẾT KẾ ĐỒ CHƠI CHO TRẺ 3 – 6 TUỔI TRONG TRƯỜNG MẦM NON HÙNG VƯƠNG 38
Trang 62.1.1 Thực trạng vận dụng cơ sơ vật chất về đồ chơi và trò chơi của trường
mầm non Hùng Vương 38
2.1.2 Thực trạng thiết kế và làm đồ chơi cho trẻ 3 – 6 tuổi ở trường mầm non Hùng Vương 39
2.1.3 Thực trạng việc sử dụng đồ chơi cho trẻ 3 – 6 tuổi ở trường mầm non Hùng Vương 43
2.2 ĐỀ XUẤT BIỆN PHÁP TỔ CHỨC,THIẾT KẾ ĐỒ CHƠI THEO LÍ THUYẾT MONTESSORI 46
2.2.1 Cở sở đề xuất biện pháp 46
2.2.2 Biện pháp 49
Tiểu kết chương 2 62
KẾT LUẬN 63
KHUYẾN NGHỊ 64
TÀI LIỆU THAM KHẢO 65
PHỤ LỤC 67
HÌNH MINH HỌA 70
Trang 7sử dụng nó hình thành hiểu biết và giao tiếp với thế giới bên ngoài Nhưng thiên hướng học tập của trẻ có thể bị hạn chế bởi nhiều yếu tố như thể chất, nhận thức và tình cảm xã hội Vì vậy việc được chăm sóc và phát triển tốt từ khi còn nhỏ sẽ góp phần tạo nền móng vững chắc cho sự phát triển trong tương lai của trẻ Chính vì thế mà giáo dục mầm non ngày càng trở nên quan trọng trong hệ thông giáo dục quốc dân
Theo nghiên cứu của Tổ chức Thế giới về giáo dục sớm trẻ em (OMEP), nếu không chơi, trẻ sẽ bị ngăn cách với cuộc sống này Sự sáng tạo thông qua "liệu pháp" chơi giúp trẻ em phát triển toàn diện về thể chất và tinh thần Chơi là cách học giúp trẻ khám phá thế giới xung quanh và phát triển tính thông minh sáng tạo Có rất nhiều loại đồ chơi giáo dục giúp trẻ phát triển các khía cạnh khác nhau của nhân cách, trí tuệ và sức khỏe
Nếu việc chơi được coi là cuộc sống của trẻ thì đồ chơi sẽ là chất liệu tạo nên cuộc sống đó Đồ chơi có tác dụng lớn đến việc hình thành và phát triển nhân cách trẻ Chính những đồ chơi này giúp trẻ được thao tác, được hoạt động, trải nghiệm, được thể hiện những nhu cầu cá nhân, được phát triển cân đối hài hòa, từ đó giúp trẻ phát triển toàn diện Đồ chơi giúp trẻ em tìm hiểu, khám phá thế giới xung quanh, nó giúp các em làm quen với những đặc điểm, tính chất của nhiều đồ vật, biết được công dụng của chúng trong sinh hoạt và trong lao động của con người Đồ chơi còn là phương tiện giúp trẻ phát hiện ra những mối quan hệ của người với người trong đời sống hằng ngày Hoạt động với đồ chơi vừa làm thỏa mãn nhu cầu vui chơi, vừa làm cho
Trang 82
đôi bàn tay khéo léo, đôi chân dẻo dai cơ thể mềm mại, hình dáng phát triển cân đối hài hòa, vừa chuẩn bị cho trẻ vào học tiểu học, vừa có thể tham gia tốt vào cuộc sống xã hội sau này
Hơn nữa, trong những giai đoạn đầu đời của trẻ, nếu trí tuệ chúng càng được kích thích (một cách tích cực) thì trí thông minh của chúng sẽ càng được phát triển Còn ngược lại, sự phát triển này sẽ dần chậm lại, bị mai một và kết quả là trí thông minh của trẻ bị sẽ bị ảnh hưởng nghiêm trọng sau này “SỬ DỤNG HOẶC LÀ MẤT”, cơ cấu hoạt động của các hệ thống thần kinh trẻ
em là như vậy Chính vì vậy mà việc giúp trẻ lĩnh hội các kiến thức, kĩ năng trong quá trình chơi thông qua việc hoạt động với đồ chơi là vô cùng quan trọng
Phương pháp Montessori được đánh giá là phương pháp giáo dục tiên tiến, khoa học và hoàn thiện nhất trên thế giới hiện nay, phương pháp này lấy tên tiến sĩ Montessori – nhà giáo dục, nữ bác sĩ người Italia, người đã dùng cả đời sáng tạo ra nó Qua quan sát và nghiên cứu hoạt động của trẻ, tiến sĩ Montessori đã phát hiện ra rằng, trí lực của con người không phải được định hình từ lúc mới sinh, ngược lại không ngừng được nâng cao và hoàn thiện trong điều kiện được phát huy tối đa cảm quan Hơn nữa, trẻ từ 0 – 6 tuổi đã
có thể biết “tiếp thu có trọn lọc”, giai đoạn này nên để quá trình diễn ra một cách tự nhiên, người lớn tránh áp đặt trẻ
Vì sự phát triển tự nhiên của trẻ, tiến sĩ Montessori đã thiết kế ra nhiều giáo cụ vừa đẹp, vừa hữu dụng, tạo ra một môi trường học tập thân thiện khiến trẻ có thể tự do tìm tòi, sáng tạo và vui vẻ học tập, từ đó làm dày thêm vốn sống, phát huy hết tiềm năng, giúp trẻ hình thành sự tự tin, sự tập trung
óc quan sát, sức sáng tạo và khả năng giao tiếp tạo nền tảng vững chắc cho
sự phát triển của trẻ Chính vì vậy mà tư tưởng giáo dục của bà vẫn đứng vững và có sức sống bền bỉ cả thế kỉ qua, ngày càng thu hút nhiều sự quan
Trang 93
tâm chú ý của các nhà giáo dục và các bậc phụ huynh trên toàn cầu Vì vậy, nếu giáo viên tự thiết kế đồ chơi theo phương pháp Montessori thì sẽ đạt hiệu quả cao trong việc giáo dục trẻ cũng như là tiết kiệm chi phí, hơn nữa lại phù hợp với đặc điểm nhận thức của trẻ ở từng địa phương, từng vùng miền khác nhau
Trong quá trình thực tập tại trường mầm non Hùng Vương, tôi nhận thấy giáo viên chưa thực sự quan tâm đến việc thiết kế đồ chơi cho trẻ Đồ chơi chủ yếu của trẻ là đồ chơi có sẵn như các con vật bằng nhựa, bộ lắp ghép, bộ
đồ chơi bằng gỗ và không đem lại hiệu quả cao trong quá trình chơi Hơn nữa, nhiều đồ chơi không đảm bảo chất lượng, không đảm bảo an toàn cho trẻ Đồ chơi thiết kế ra còn đơn giản, sơ sài, không có mục đích giáo dục rõ ràng, ít được quan tâm dẫn đến việc tổ chức hoạt động chưa hợp lí và gặp nhiều khó khăn và không đạt hiệu quả cao Chính vì những lí do này mà tôi
lựa chọn đề tài “Vận dụng phương pháp Montessori vào tổ chức, thiết kế đồ chơi và trò chơi cho trẻ từ 3 – 6 tuổi trường mầm non Hùng Vương – Vĩnh Yên – Vĩnh Phúc ” nhằm nâng cao chất lượng giáo dục nói chung cũng như
chất lượng thiết kế đồ chơi cho trẻ nói riêng
2 Lịch sử nghiên cứu của đề tài
Đồ chơi dành cho trẻ mầm non rất đa dạng và phong phú Nó có tác động mạnh mẽ đến sự phát triển của trẻ nhỏ Nhận thấy được tầm quan trọng của đồ chơi đối trẻ mầm non, bộ môn đồ chơi đã được đưa vào chương trình giáo dục sư phạm mầm non từ cấp học Trung cấp – Cao đẳng – Đại học Đã
có nhiều tài liệu nghiên cứu của nhiều tác giả nói về lĩnh vực đồ chơi:
Ở Việt Nam có các công trình nghiên cứu
Tác giả Đặng Nhật Hồng, Tạo hình và phương pháp hướng dẫn hoạt động tạo hình cho trẻ em – Làm đồ chơi – Quyển 1,2, NXB ĐHQGHN
Trang 10Tác giả Phạm Thị Việt Hà, Làm đồ chơi từ vật liệu thiên nhiên - Quyển
Nguyễn Minh, Nghệ thuật nuôi dạy trẻ đỉnh cao, NXB Thư viện Quốc
gia Việt Nam
Paula Polk Lillard, Phương pháp Montessori ngày nay, NXB KHXH
Các cuốn sách này đã xây dựng hệ thống lí luận về phương pháp Montessori và đưa ra hệ thống đồ chơi, giáo cụ theo phương pháp Montessori Ngoài ra, các cuốn sách này bước đầu đã phân loại đồ chơi, giáo cụ một cách khoa học
Trên đây là những đề tài khoa học có tính phổ quát phạm vi nghiên cứu nói chung về giáo dục mầm non Tuy nhiên chưa có đề tài nghiên cứu nào về việc vận dụng phương pháp Montessori vào tổ chức, thiết kế đồ chơi và trò chơi cho trẻ 3 – 6 tuổi trong trường mầm non Hùng Vương – Phúc Yên –
Vĩnh Phúc Vì vậy, tôi thấy rằng đề tài “Vận dụng phương pháp
Trang 115
Montessorri vào tổ chức, thiết kế đồ chơi và trò chơi cho trẻ 3 - 6 tuổi trong trường mầm non Hùng Vương – Vĩnh Yên –Vĩnh Phúc” là một đề
tài mới và có tính khả thi trong thực tế
Như vậy, với đề tài này tôi hy vọng sẽ đưa ra thêm một số ý kiến tham khảo trong lĩnh vực làm đồ chơi cho trẻ từ 3 – 6 tuổi
3 Mục đích nghiên cứu
Thông qua đề tài “Vận dụng phương pháp Montessorri vào tổ chức, thiểt kể đồ chơi và trò chơi cho trẻ 3 - 6 tuổi trong trường mầm non Hùng Vương – Vĩnh Yên –Vĩnh Phúc” nhằm đề ra các biện pháp thiết kế đồ
chơi, trò chơi để khai phá các tiềm năng sẵn có trong trẻ, phát triển cho trẻ về mọi mặt Từ đó, làm tiền đề cho sự phát triển của các giai đoạn tiếp theo thông qua vận dụng phương pháp Montessori
4.Giả thuyết khoa học
Nếu tìm ra được các biện pháp tổ chức, thiết kế đồ chơi và trò chơi cho trẻ 3 – 6 tuổi thông qua việc vận dụng lí thuyết của Montessori sẽ tạo điều kiện cho trẻ trong quá trình chơi, phát triển tư duy, kĩ năng chơi, kích thích sự
tò mò, ham hiểu biết của trẻ mầm non
5 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Xây dựng cơ sở lí luận cho đề tài nghiên cứu
- Tìm hiểu thực trạng thiết kế đồ chơi cho trẻ 3 – 6 tuổi trong trường mầm non Hùng Vương - Vĩnh Yên - Vĩnh Phúc
- Đề xuất biện pháp tổ chức, thiết kế đồ chơi cho trẻ 3 – 6 tuổi trường mầm non Hùng Vương - Vĩnh Yên - Vĩnh Phúc thông qua việc vận dụng phương pháp Montessori
Trang 126
6 Đối tượng, khách thể và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Việc tổ chức, thiết kế đồ chơi cho trẻ 3 – 6 tuổi trường mầm non Hùng Vương –Vĩnh Yên –Vĩnh Phúc thông qua vận dụng lí thuyết của phương pháp Motessori
- Khách thể nghiên cứu: Hoạt động chơi của trẻ ở trường mầm non Hùng Vương – Vĩnh Yên - Vĩnh Phúc
- Phạm vi nghiên cứu: Tổ chức, thiết kế đồ chơi cho trẻ 3 – 6 tuổi thông qua vận dụng lí thuyết Montessori trong trường mầm non Hùng Vương – Vĩnh Yên – Vĩnh Phúc
7 Phương pháp nghiên cứu
7.1 Phương pháp nghiên cứu lí luận
Tìm hiểu, đọc, phân tích, tổng hợp và hệ thống hóa về cơ sở phương pháp luận, nhưng tài liệu về tâm lí học, giáo dục học, các công trình nghiên cứu thực tiễn đã công bố nhằm làm rõ cơ sơ liên quan đến đề tài nghiên cứu
7.2 Phương pháp quan sát
Quan sát các hoạt động chơi của trẻ ở trường mầm non Đặc biệt quan sát trẻ khi chơi với đồ chơi, cách giáo viên tổ chức cho trẻ chơi Đồng thời thu thập nhưng thông tin liên quan đến việc giải quyết các nhiệm vụ nghiên cứu
Từ đó bổ sung thông tin cho các phương pháp khác
7.3 Phương pháp điều tra
Dùng phiếu câu hỏi cho các giáo viên ở trường mầm non Hùng Vương
để tìm hiểu thêm thông tin về nhận thức và cách thức tổ chức, hướng dẫn trẻ chơi qua các đồ chơi tự thiết kế
7.4 Phương pháp thực hành
Trang 137
8 Cấu trúc khóa luận
Ngoài phần mở đầu, kết luận và khuyến nghị, nội dung chính của khóa luận bao gồm 2 chương:
Chương 1: Cơ sở lí luận
Chương 2: Tổ chức, thiết kế đồ chơi cho trẻ 3- 6 tuổi trường mầm non Hùng Vương - Vĩnh Yên - Vĩnh Phúc thông qua việc vận dụng phương pháp Montessori
Trang 148
II NỘI DUNG CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÍ LUẬN CỦA VIỆC VẬN DỤNG PHƯƠNG PHÁP
MONTESSORI VÀO TỔ CHỨC, THIẾT KẾ ĐỒ CHƠI VÀ TRÒ CHƠI CHO TRẺ TỪ 3 – 6 TUỔI TRƯỜNG MẦM NON HÙNG VƯƠNG –
VĨNH YÊN – VĨNH PHÚC 1.1 ĐỒ CHƠI CHO TRẺ (3 – 6 TUỔI)
1.1 1 Khái niệm đồ chơi cho trẻ em
Đồ chơi trẻ em là phương tiện dùng cho trẻ chơi, nó là những vật cụ thể giúp trẻ cầm nắm dễ dàng Đồ chơi nhằm phát triển các chức năng tâm lí và hình thành nhân cách cho trẻ, trong đó việc phát triển thẩm mỹ rất quan trọng Ngoài ra, đồ chơi phải đảm bảo tính an toàn cho trẻ
Đồ chơi là nguồn vui, là người bạn gần gũi, thân thiết và không thể thiếu trong cuộc sống của trẻ Đồ chơi có khi là đối tượng để trẻ khám phá thế giới xung quanh, có khi là công cụ để trẻ thao tác các hoạt động, là chỗ dựa cho các trò chơi tưởng tượng của trẻ.Vì vậy đồ chơi có tác dụng thúc đẩy, hình thành và phát triển các chức năng tâm lý, góp phần hình thành nhân cách cho trẻ trong đó việc hình thành tình cảm thẩm mỹ rất quan trọng
Đồ chơi trẻ em cần đảm bảo những yêu cầu sau:
- Đảm bảo tính thẩm mỹ
+ Đẹp, hình thù hấp dẫn, dễ nhìn (búp bê có khuôn mặt đáng yêu; không chọn những đồ chơi có khuôn mặt hung dữ …)
+ Có màu sắc phù hợp với nhận thức của trẻ theo từng độ tuổi Đồ chơi
có màu sắc cơ bản giúp bé học nhận biết màu, phát triển thẩm mỹ
+ Có đủ độ mềm/ cứng để phát triển cảm giác của bé (mềm, cứng, thô ráp hay nhẵn nhụi)
- Đảm bảo sự an toàn
Trang 159
+ Không gây ra nguy hiểm đến cơ thể của trẻ (tránh sắc nhọn, dễ vỡ) + Không có những chất độc hại đến sức khỏe
+ Đồ chơi không quá to hoặc quá nhỏ đối với trẻ
- Đảm bảo yếu tố giáo dục:
+ Đồ chơi phù hợp theo độ tuổi kích thích sự phát triển theo từng giai đoạn của trẻ Đồ chơi có mức độ cao hơn khả năng của trẻ sẽ làm trẻ chóng chán, không thích chơi
+ Khuyến khích sự phát triển các mặt của trẻ
+ Một đồ chơi hữu ích khi nó có khả năng tích hợp sự phát triển nhiều mặt ở trẻ
1.1.2 Ý nghĩa của đồ chơi trẻ em
1.1.2.1 Nhu cầu chơi và đồ chơi với trẻ mầm non
- Đặc điểm tâm – sinh lý
+ Đặc điểm sinh lý:
Cơ thể trẻ đang dần dần hoàn thiện Các vận động của trẻ giai đoạn này ngày càng phát triển hơn Lúc bấy giờ, trẻ đã có thể vận động toàn thân, và bắt đầu làm các động tác phức tạp hơn như chơi đá cầu, nhảy dây, leo trèo, lộn xà đơn…
Bàn tay của trẻ ngày càng khéo léo hơn không những có thể hoạt động
tự do, mà động tác còn nhanh nhẹn và hoàn chỉnh hơn, nên có thể cầm bút để viết hoặc vẽ, đồng thời còn thực hiện nhiều động tác mới và tinh tế hơn Các
cơ bắp nhỏ tiếp tục phát triển và việc phối hợp các hoạt động của tay – mắt dần trở nên thành thạo Trẻ 3 - 6 tuổi có thể dành thời gian để vẽ, tô màu
+ Đặc điểm tâm lý:
Ở giai đoạn từ 3 đến 6 tuổi này, trí tưởng tượng của trẻ phát triển mạnh
và phần lớn thời gian của trẻ là chơi Trẻ chơi mà học và học mà chơi Chúng
Trang 1610
tự nghĩ ra những trò chơi và chơi mãi không chán
Vì khoảng thời gian chú ý, tập trung của trẻ không kéo dài nên trẻ ở lứa tuổi này không thích những trò chơi quá phức tạp, nhiều quy tắc Trẻ thích bắt chước hay “hóa thân” thành các nhân vật trong câu chuyện
Trẻ hứng thú khi chơi với các vật liệu thiên nhiên như: bùn, cát, đất, đá, sỏi Điều này kích thích sự phát triển trí tuệ của trẻ Cũng như thế, học và chơi với các chất liệu mỹ thuật như màu vẽ, giấy màu, đất sét nặn cũng sẽ giúp kích thích và phát triển sự sáng tạo ở trẻ
- Nhu cầu chơi của trẻ
Vui chơi là hoạt động chủ đạo của trẻ ngay từ khi còn nhỏ Thông qua hoạt động chơi trẻ được phát triển và tiếp thu một cách tốt hơn Vui chơi là một phần bản năng sớm được hình thành ngay từ nhỏ Khi trẻ 0-3 tuổi, trẻ bắt đầu từ việc cầm, nắm các đồ vật như cốc, thìa, xúc xắc, trống, hay bất kì đồ vật nào cũng có thể làm đồ chơi, đồ chơi và trò chơi cho trẻ lúc này rất đơn giản Trẻ 3 tuổi bắt đầu có ý thức về mình, bắt đầu chú ý và bắt chước người lớn về hành vi, cách ứng xử, nói năng, ăn mặc, Trẻ muốn khẳng định mình bằng cách “tập làm người lớn”, nhưng thực tế, trẻ chưa đủ sức lực và tri thức
để làm những công việc của người lớn Vì thế, ở trẻ 3 tuổi diễn ra mâu thuẫn gay gắt giữa nhu cầu và khả năng của trẻ
Hoạt động vui chơi, trong đó trò chơi theo chủ đề đã giúp trẻ giải quyết mâu thuẫn trên Trẻ thể hiện được tính độc lập và tập khẳng định “cái tôi” thông qua “xã hội trẻ em” trong hoạt động vui chơi Vì vậy, khi trẻ lớn hơn đồ chơi và trò chơi cũng phức tạp dần để đáp ứng với nhu cầu của trẻ, lúc này trẻ tham gia vào các trò chơi bắt chước, sáng tạo thì đồ chơi trở thành phương tiện để trẻ hóa thân vào các nhân vật, các công việc mà mình muốn chơi Khi trẻ chơi đồ chơi trở thành một giáo cụ giúp trẻ lĩnh hội các đặc điểm của sự
Trang 1711
vật, thông qua đồ chơi trẻ dần nhận thức được mối quan hệ thực sự giữa các
đồ chơi và giữa đồ chơi với con người
1.1.2.2 Đồ chơi trong sự phát triển toàn diện của trẻ mầm non
- Đồ chơi chơi là phương tiện giáo dục và phát triển trí tuệ cho trẻ mẫu giáo:
Hoạt động vui chơi là mảnh đất tốt để phát triển hoạt động thức của trẻ như cảm giác, tri giác, trí nhớ, tư duy, đặc biệt là trí tưởng tượng và ngôn ngữ
Đồ chơi giúp trẻ thực hiện hoạt động vui chơi với hiệu quả cao nhất
- Đồ chơi là phương tiện giáo dục và phát triển thẩm mỹ:
Thông qua các loại đồ chơi có tính thẩm mỹ cao sẽ dần hình thành cho trẻ ý thức về thẩm mỹ, nhận thức cái đẹp về thế giới xung quanh Từ đó, xây dựng nền tảng ban đầu về thẩm mỹ, qua đó không ngừng phát triển cái đẹp trong thế giới của trẻ
- Đồ chơi là phương tiện giáo dục và phát triển ngôn ngữ:
Trong quá trình hoạt động với đồ chơi, trẻ giao tiếp với các bạn chơi.Từ đó, mở rộng vốn từ cho trẻ, hơn nữa đồ chơi sẽ giúp trẻ nhập vai vào các nhân vật một các dễ dàng hơn, tạo điều kiện để trẻ chơi hiệu quả hơn
- Đồ chơi là phương tiện giáo dục và phát triển vận động:
Đồ chơi giúp trẻ hứng thú hơn trong các hoạt động vận động hằng ngày.Từ
đó, tăng tính hiệu quả của cho các hoạt động vận động
- Đồ chơi là phương tiện giáo dục và phát triển tình cảm xã hội:
Trẻ học được các mối quan hệ hằng ngày chủ yếu thông qua các hoạt động đóng vai theo chủ đề Trẻ được sắm vai thành các nhân vật mà mình thích để diễn tả lại các mối quan hệ đó, khi đó đồ chơi có vai trò quan trọng giúp trẻ có thể hóa thân thành các nhân vật một cách “xuất sắc” hơn Từ đây, trẻ dần được hình thành các phẩm chất đạo đức thông qua các trò chơi đóng vai
Trang 1812
1.1.3 Phân loại đồ chơi
Có rất nhiều cách phân loại đồ chơi.Việc phân loại dựa trên rất nhiều tiêu chí khác nhau như là: phân loại đồ chơi theo độ tuổi, phân loại đồ chơi theo mục đích giáo dục, phân loại đồ chơi theo hình thức chơi, phân loại đồ chơi theo nội dung chơi, Nhưng tựu chung lại việc phân loại đồ chơi chỉ nhằm phục vụ mục đích giáo dục chứ không có ảnh hưởng lớn đối với trẻ Trẻ
có thể chơi bất kì đồ chơi nào mà chúng thích
Tuy nhiên hiện nay, ở trường mầm non có thể chia đồ chơi thành các loại đồ chơi như sau: (Việc phân loại này vẫn mang tính chất tương đối)
- Phân loại theo hình thức đồ chơi:
+ Đồ chơi gắn với trò chơi (Mẫu giáo): Đòi hỏi trẻ phải có nhận thức,
kĩ năng nhất định, biết làm việc theo nhóm( chơi ô ăn quan, rubic, )
- Phân loại theo nội dung trò chơi
+ Đồ chơi dân gian và đồ chơi gắn với trò chơi dân gian
+ Đồ chơi vận động và đồ chơi gắn với trò chơi vận động
Vận động tinh: Là sự phát triển của các cơ khớp nhỏ, chủ yếu là các hoạt động của đôi bàn tay
Vận động thô: Là sự phát triển của cơ khớp lớn, của toàn cơ thể + Đồ chơi thông minh và đồ chơi gắn với trò chơi thông minh
Trang 1913
+ Đồ chơi học tập và đồ chơi gắn với học tập: gắn với mục đích giáo dục, tất cả đồ chơi trẻ em đều có thể là đồ chơi học tập khi được phục vụ mục đích giáo dục nhưng theo chương trình giáo dục mầm non có thể chia thành một số loại đồ chơi học tập như sau:
Đồ chơi phục vụ mục đích giáo dục theo chủ đề;
Đồ chơi gắn với các loại bài học (hình thành biểu tượng toán; làm quen với chữ cái, các tác phẩm văn học, );
Đồ chơi phát triển nhận thức (Đồ chơi thông minh)
1.2 ĐỒ CHƠI TRẺ EM TRONG PHƯƠNG PHÁP GIÁO DỤC
MONTESSORI
1.2.1 Giới thiệu về phương pháp Montessori
Phương pháp Montessori là một lí luận về giáo dục, cho rằng tiền đề giáo dục là tôn trọng đặc thù của trẻ - được lấy tên của bà Maria Montessori –
nữ bác sĩ y khoa đầu tiên của Italia, là một trong những người tiên phong và
có sức ảnh hưởng lớn trong lĩnh vực giáo dục Phương pháp Montessori là một phương pháp giáo dục trong đó coi trọng các tiềm năng của trẻ và nỗ lực
để phát triển tiềm năng này bằng một môi trường giáo dục thân thiện, cởi mở với các giáo viên được đào tạo sâu về chuyên môn kèm theo các đồ dùng học
tập được thiết kế đặc biệt
Maria Montessori (1879 – 1952) là nữ tiến sĩ y khoa đầu tiên của Italia,
là một trong những người tiên phong và có sức ảnh hưởng lớn nhất trong lịch
sử giáo dục mầm non Montessori đã ba lần được đề cử giải Nobel Hòa Bình cho những cống hiến của mình trong lĩnh vực giáo dục trẻ em Năm 1949, Montessori được nhận giải thưởng Nobel Hòa Bình Là một người tiên phong trong công cuộc đổi mới giáo dục trẻ em ở Châu Âu, những lý thuyết của bà
là tiền đề cho các công trình nghiên cứu sau này của các tên tuổi lớn như Piaget và Vygotsky Năm 1901, bà dời khỏi trường giáo dục đặc biệt, bà nghĩ
Trang 2014
đến việc giáo dục những trẻ em bình thường Năm 1904, Montessori làm Giáo
sư tại trường Đại học Rome, bà thường giảng dạy môn Nhân loại học, ngoài
ra còn xuất bản cuốn sách “Giáo dục nhân loại học” Năm 1907, khi Maria Montessori 28 tuổi, bà mở lớp học đầu tiên của mình gọi là Children’s House (Ngôi Nhà Trẻ Thơ) tại khu tái định cư ổ chuột khu vực San Lorenzo,
Ý Montessori đã bắt đầu thực hiện phương pháp giáo dục của mình thông qua quan sát những gì trẻ trải nghiệm với môi trường xung quanh, với các học
cụ và bài học được thiết kế dành riêng cho trẻ Trong giai đoạn này bà đã quan sát thấy rằng trẻ em hoàn toàn bị cuốn hút bởi các vật dụng và chất liệu được thiết kế để trợ giúp sự cảm nhận của giác quan Tiến sĩ Montessori tiếp tục phát triển những sự trợ giúp dạy học chuyên biệt được dùng cho những trẻ trong môi trường thích hợp và tôn trọng những đặc tính riêng biệt của trẻ Chỉ
5 năm sau bà đạt được thành công rực rỡ tới mức, ở nước Mỹ phía bên kia đại dương, đã có hàng trăm trường áp dụng phương pháp này của bà Tháng 5 năm 1952, bà qua đời tại Hà Lan hưởng thọ 73 tuổi
Cơ sở chính của phương pháp Montessori: Dựa trên những nghiên cứu, những quan sát tỷ mỷ ở trẻ, TS Montessori cho rằng: trẻ em phải được tôn trọng như những cá nhân riêng biệt; trẻ em có một sự nhạy cảm cao, có khả năng trí tuệ để tiếp thu và học hỏi từ môi trường nhưng không giống như những người lớn cả về chất lượng và năng lực Những năm quan trọng nhất của sự phát triển cho trẻ em là sáu năm đầu tiên của cuộc sống, khi mà việc học tập vô thức đang dần đưa đến mức độ ý thức; trẻ em nếu được tự do chọn lựa và hoạt động trong một môi trường được chuẩn bị kỹ, phù hợp với từng khả năng và từng giai đoạn phát triển, chúng sẽ phát huy tối đa tiềm năng sẵn
có của mình Montessori đã chia ra bốn giai đoạn phát triển ở trẻ, từ 0 - 6 tuổi,
từ 6 - 12 tuổi, từ 12 - 18 tuổi và từ 18 - 24 tuổi Theo bà mỗi giai đoạn ở trẻ có
Trang 2115
những đặc trưng sinh lý, tâm lý khác nhau nên phương pháp tiếp cận giáo dục phải khác nhau cho từng giai đoạn
Trong đó, giai đoạn trẻ từ 0-6 tuổi: là giai đoạn trẻ phát triển tâm sinh
lý không ngừng và nổi bật nhất Bà là người đầu tiên phát hiện và đưa ra khái niệm có tính quy luật “Trí tuệ thẩm thấu, các giai đoạn nhạy cảm và sự bình thường hóa”, để mô tả khả năng khám phá thế giới xung quanh rất tinh tế bằng các giác quan nhạy bén ở mỗi trẻ
Trí tuệ thẩm thấu: TS Montessori mô tả hành vi nỗ lực không ngừng
để học hỏi thông qua các kích thích từ môi trường xung quanh nhằm phát triển các giác quan, ngôn ngữ, văn hóa, giống như miếng bọt biển thấm hút nước và hình thành khái niệm với thuật ngữ “trí tuệ thẩm thấu” Bà khẳng định, giai đoạn phát triển quan trọng nhất của trẻ nằm ở sáu năm đầu đời – thời điểm trẻ sở hữu trong mình “Trí Tuệ Thẩm Thấu” Trí tuệ tiếp nhận của trẻ gồm tiếp nhận vô thức từ 0 - 3 tuổi và tiếp nhận có ý thức trong 3 năm sau Tiếp nhận vô thức giống như chụp ảnh, những hình ảnh tiếp nhận được khắc sâu trong não bộ, rất khó xóa bỏ Do đó, mục tiêu giáo dục trong thời kỳ này
là trau dồi, tu dưỡng khát khao học hỏi và tiếp thu một cách tự nhiên của trẻ, bằng cách cung cấp cho trẻ một môi trường hoạt động tự do Bà cũng cho rằng đây là khả năng duy nhất và đặc biệt trong giai đoạn đầu đời của trẻ và
nó phai nhạt dần sau khi trẻ được 6 tuổi
Giai đoạn nhạy cảm: Montessori phát hiện ra các giai đoạn nhạy cảm
đặc biệt của trẻ trước những kích thích từ môi trường xung quanh Bà gọi đó
là “giai đoạn nhạy cảm”, ở giai đoạn này trẻ em có khả năng tiếp nhận tri thức một cách rất dễ dàng và không biết mệt mỏi Đây là các giai đoạn thích hợp nhất để giáo dục, phát triển các giác quan, ngôn ngữ, sự khéo léo trong hoạt động chân tay, tính trật tự và văn hóa trong trẻ Các học cụ và hoạt động trong
Trang 2216
môi trường Montessori được thiết kế và sắp xếp phù hợp với từng giai đoạn nhạy cảm mà trẻ bộc lộ
Sự bình thường hoá: Khái niệm này xuất phát từ yếu tố tập trung vào
hoạt động đáp ứng nhu cầu phát triển của trẻ, khi trẻ chủ động lựa chọn công việc ưa thích, chúng sẽ chăm chú và vui vẻ với công việc đó Điểm nổi bật là khả năng tập trung cũng như các nguyên tắc không gây gò bó hay ép buộc theo khuôn khổ, trẻ cảm thấy hạnh phúc khi được làm việc Khi nguồn năng lượng của trí lực và tâm lý kết hợp hài hòa với nhau, cảm giác trật tự sẽ hình thành, trẻ biết cảm thông và tham gia giúp đỡ những người khác
TS Montessori cho rằng bản năng của con người có sự tự hoàn thiện, thích gần gũi với thiên nhiên, thích khám phá, thích giao tiếp, thích hoạt động
có mục đích với môi trường xung quanh Đồng thời bà cũng cho rằng mọi trẻ
em đều khác nhau, chúng có những khả năng riêng biệt, cách thức tiếp nhận kiến thức khác nhau với thời gian khác nhau
1.2.2 Một số nguyên tắc và đặc điểm cơ bản của phương pháp giáo dục Montessori
Phương pháp Montessri nhấn mạnh đến vai trò của tính tự lập, tự do (trong khuôn khổ cho phép) trong việc hình thành nhân cách của trẻ Ngoài ra, phương pháp này rất tôn trọng sự phát triển tâm sinh lý tự nhiên, cũng như trang bị đầy đủ cho học sinh các kiến thức trong cuộc sống hằng ngày và khoa học công nghệ tiến bộ, hiện đại.Có thể tóm tắt một số đặc điểm và nguyên tắc
cơ bản của phương pháp Montessori mà các tổ chức AMI (Hiệp Hội Montessori Quốc tế) và AMS (Hiệp Hội Montessori Mỹ) đã nêu ra như sau:
Phương pháp giáo dục Montessori là phương pháp giáo dục tỉ mỉ, không bỏ qua bất cứ khía cạnh nào của cuộc sống, rất chặt chẽ và toàn diện.Với mục tiêu là hỗ trợ để trẻ trưởng thành, không phải là để truyền đạt kiến thức một chiều, cũng không phải là sự đi trước một bước trong học thuật,
Trang 2317
càng không phải vì cạnh tranh, mà là yêu cầu được sống và phát triển ở trẻ Trẻ được rèn luyện, bồi dưỡng những thói quen tốt như: Tự giác làm việc của mình, làm việc có trình tự, hoàn thành công việc được giao; Nâng cao kỹ năng thực hành, khả năng suy nghĩ, giải quyết vấn đề độc lập, khả năng giao tiếp, thuyết phục và các phẩm chất tốt như: Đam mê học tập, yêu cuộc sống, nhân hậu, sẵn sàng giúp đỡ người khác, có ý thức bảo vệ môi trường sống và yêu chuộng hòa bình, được thể hiện:
- Một môi trường học tập tốt, được chuẩn bị kỹ lưỡng, phù hợp và thỏa mãn yêu cầu “trí tuệ thẩm thấu” và “thời kỳ nhạy cảm” của trẻ từ 0 - 6 tuổi, kích thức sự phát triển toàn diện cả về trí lực, thể lực, tình cảm và các kỹ năng
xã hội khác, giúp trẻ phát huy tính độc lập ở tất cả các lĩnh vực, phù hợp với
xu hướng phát triển tâm lý bên trong, đồng thời đảm bảo sức khỏe và sự an toàn của trẻ Trong phòng học có các khu phát triển các giác quan, khu toán học, khu khoa học, khu địa lý, khu ngôn ngữ, khu nghệ thuật… và khu phát triển các kỹ năng sinh hoạt hằng ngày Môi trường Montessori được xây dựng đẹp, hài hòa, sạch sẽ, có tính trật tự, đảm bảo điều kiện cho trẻ được hoạt động tự do Ngoài ra có sự sắp xếp hợp lý giữa các hoạt động phù hợp với nhu cầu của trẻ, mang tính chuyên biệt, giúp trẻ phát triển toàn diện
- Lớp học không phân theo độ tuổi, trình độ (lớp được ghép theo nhóm tuổi từ 2,5 hoặc 3 đến 6 tuổi, không liên quan đến điểm số và thành tích) Trong lớp có các độ tuổi và trình độ khác nhau sẽ tạo điều kiện sự tăng cường giúp đỡ, chỉ bảo nhau, tăng cường sự hợp tác, tăng cường kỹ năng học tập và tăng cường trách nhiệm Đó chính là những cơ hội để trẻ em được thực hành
sự hợp tác, giúp đỡ lẫn nhau và trách nhiệm cá nhân của mình từ khi còn nhỏ, nếu chúng ta muốn các em trở thành những thanh niên có trách nhiệm, sẵn sàng giúp đỡ mọi người và cộng đồng Cơ hội này sẽ không thể có ở các lớp cùng lứa tuổi
Trang 24kỹ năng xã hội giúp trẻ tăng khả năng hoạt động độc lập, thực hiện hành động, kiểm tra hành động và đánh giá hành động Đặc điểm của hoạt động tự
do là trẻ em được tự do trong vận động, đi lại; tự do lựa chọn hoạt động với bất kỳ đồ chơi và tài liệu nào mà chúng hiểu được (tất nhiên là các hoạt động này đã được giáo viên lên kế hoạch sắp xếp trước); tự do ôn, tự do lựa chọn tốc độ học tập cho đến khi nắm chắc kỹ năng và thỏa mãn mới thôi và tự do
có các mối quan hệ, học một mình hoặc học nhóm Tuy nhiên học sinh cũng cần thực hiện một số quy tắc như: Sau khi chơi xong, trẻ tự thu dọn, đặt về vị trí ban đầu và tiếp tục chọn một đồ chơi khác; không dẫm lên thảm của bạn khác; nói nhỏ và không quấy rầy người khác đang học; cái gì đã làm cũng sẽ phải được hoàn thành Kết quả mong đợi của hoạt động tự do là nâng cao năng lực về khả năng lựa chọn; khả năng quyết định; khả năng giải quyết vấn đề; khả năng đặt ra mục tiêu và đạt được mục tiêu đó; khả năng điều khiển và điều chỉnh hoạt động của riêng mình; khả năng đại diện cho quyền lợi và yêu cầu của chính mình; khả năng tự kiểm tra, tự điều chỉnh và khả năng tự cảm nhận, tự tìm ra các phương án hành động
- Trẻ em được tôn trọng, không bị làm phiền hay ngắt quãng khi đang
“làm việc” Trẻ em học hỏi khái niệm, kiến thức thông qua trải nghiệm thực tế với các học cụ, mô hình mang tính chất khám phá, xây dựng, hơn là học theo chỉ dẫn trực tiếp từ phía giáo viên
- Môi trường Motessori không có sự khen thưởng và kỷ luật thông thường mà thay thế khen thưởng là khuyến khích và động viên, thay thế kỷ
Trang 2519
luật thông thường bằng hình thức “kỷ luật tích cực” Phương pháp kỷ luật
tích cực là tăng cường dạy học sinh hành vi ứng xử có trách nhiệm, từ đó lấn
át hành vi không tích cực
- Cô giáo phải được đào tạo qua trải nghiệm, là người chịu trách nhiệm chuẩn bị và lên kế hoạch học tập, nhưng quan trọng hơn là hướng dẫn sự tìm tòi, nghiên cứu đối với từng em học sinh với sự tận tâm, nhiệt tình của mình theo từng chủ đề Cô phải là người luôn thể hiện niềm tin tưởng vào trẻ, tôn trọng và kiên nhẫn với trẻ Các em sẽ học được sự tự tin nếu cô giáo là đối tác, người tư vấn việc học chứ không phải người dạy và kiểm tra Cô giáo cần phải cân bằng nguyên tắc không can thiệp trực tiếp vào việc học của trẻ, nhưng lại không được bỏ rơi trẻ Cô giáo phải vừa là người quan sát, đồng thời lại là nhà khoa học, là tấm gương cho học sinh và phải là người đoán trước được tình huống để giúp trẻ phù hợp với mong muốn của mình, đồng thời giúp trẻ phát triển bình thường, phù hợp với sự phát triển chung
- Chương trình Montessori hướng đến tất cả các loại năng khiếu và phong cách học tập - động học, âm nhạc, không gian, giao tiếp, ngôn ngữ và toán học Chương trình giảng dạy phải phù hợp với sự phát triển và mục tiêu
đề ra Trẻ em được dạy cách tự chăm sóc bản thân, môi trường học tập và môi trường xung quanh mình
- Các học cụ giáo dục được Bà Montessori, đồng sự và các thế hệ tiếp nối nghiên cứu, hoàn thiện, sáng tạo và phát triển theo thời gian Hiện trên toàn thế giới chỉ có ba công ty có bản quyền sản xuất dụng cụ Montessori
1.2.3 Các yếu tố trọng tâm và đặc trưng trong phương pháp Montessori
Phương pháp giáo dục Montessori gồm hai yếu tố xây dựng trọng tâm:
Thứ nhất là môi trường giáo dục gồm tài liệu giáo dục (giáo cụ) và sự
luyện tập với tài liệu giáo dục Montessori nhấn mạnh môi trường giáo dục là
Trang 2620
yếu tố xây dựng hàng đầu cho phương pháp giáo dục của bà Theo bà, môi trường giáo dục là nơi giúp trẻ phát triển Môi trường đó không chỉ thỏa mãn những nhu cầu của trẻ mà còn phải loại bỏ những chướng ngại vật làm cản trở
sự phát triển của chúng Phương pháp giáo dục Montessori tạo môi trường tốt giúp trẻ có thể tự mình tìm tòi, khám phá cuộc sống, nhanh chóng thích ứng với môi trường xung quanh Môi trường giáo dục mà Montessori xây dựng có nhiều điểm khác biệt với môi trường giáo dục truyền thống Trong đó có 3 điểm khác biệt chính thể hiện cho 3 đặc trưng cơ bản của phương pháp này,
là: việc học của trẻ thông qua sự trải nghiệm các giác quan, tôn trọng những đặc tính riêng biệt, đề cao tính độc lập của trẻ và sự trộn lẫn lứa tuổi trong lớp học
Đặc trưng thứ nhất: trẻ trong lớp học Montessori học thông qua sự
trải nghiệm các giác quan Montessori xây dựng một môi trường giáo dục với
hệ thống giáo cụ gồm các vật thật, mô hình cụ thể được sắp xếp vào các góc hoạt động trong lớp học Montessori Trong môi trường lớp học Montessori, trẻ thỏa sức làm việc với các giáo cụ bằng cách trải nghiệm tất cả các giác quan như thị giác, thính giác, vị giác, khứu giác và xúc giác Thông qua những ấn tượng thu được từ các giác quan, trẻ dễ dàng lĩnh hội kiến thức nhân loại, những khái niệm trừu tượng, từ đó giúp trẻ phát triển ngôn ngữ, nhận thức và tư duy Chẳng hạn, trẻ hiểu khái niệm “lịch sử” một cách dễ dàng khi làm việc với giáo cụ “đồng hồ cát” thuộc lĩnh vực lịch sử Cùng với sự hướng dẫn của giáo viên và trực tiếp chứng kiến những hạt cát chảy xuống, trẻ hiểu
“lịch sử” là những sự kiện đã xảy ra và tích dần theo thời gian như những hạt cát đọng lại phía dưới đồng hồ
Đặc trưng thứ hai: Phương pháp giáo dục Montessori luôn đề cao nét
tính cách riêng biệt, sự độc lập của trẻ Phương pháp này chấp nhận sự duy
nhất của mỗi trẻ và cho phép trẻ phát triển tùy theo những khả năng riêng và
Trang 2721
thời gian riêng của mình Tính độc lập của trẻ hình thành từ môi trường lớp học được thiết kế đặc biệt Montessori tin rằng trẻ được giáo dục một cách tự nhiên chứ không phải dựa vào sự can thiệp của giáo viên Do đó, trong lớp học Montessori, trẻ có quyền tự do lựa chọn công việc mà bản thân trẻ hứng thú Trẻ thực hiện công việc theo nhịp độ, tiến độ của bản thân, trẻ có thể làm công việc trong thời gian dài mà không bị ngắt quãng giữa chừng Trẻ tự đánh giá công việc của mình một cách khách quan thông qua hoạt động độc lập với giáo cụ Trẻ tự biết bản thân đã làm đúng hay sai ở đâu vì giáo cụ Montessori
có chức năng “giáo dục tự động” Có nghĩa là khi trẻ làm sai, chính giáo cụ như “người thầy” sẽ “chỉ” cho trẻ thấy cái sai để trẻ tự điều chỉnh và tự hoàn thiện công việc của mình
Đặc trưng thứ ba: Montessori xây dựng môi trường giáo dục là những
lớp học có sự trộn lẫn lứa tuổi Đây là một xã hội “tự nhiên” có khoảng cách
về lứa tuổi giữa các trẻ Nếu như trong lớp học truyền thống, trẻ học theo nhóm cùng độ tuổi, việc học xuất phát từ những nhu cầu bên ngoài như thứ bậc, cạnh tranh… thì việc học của trẻ trong lớp học Montessori diễn ra tự nhiên, nhẹ nhàng Trẻ tự chia sẻ kinh nghiệm và học hỏi lẫn nhau Trẻ nhỏ hỏi trẻ lớn khi không biết hoặc chưa thành thục một công việc nào đó Nhìn các anh chị làm được những công việc khó, tự bản thân trẻ sẽ nảy sinh mong muốn học hỏi để được như anh, chị Còn anh, chị khi chỉ dẫn cho em sẽ có cơ hội được củng cố những điều đã học, thì cảm thấy tự tin hơn và những nét tính cách của một nhà lãnh đạo tương lai cũng dần được hình thành từ đó
Thứ hai, mặc dù Montessori nhấn mạnh môi trường giáo dục là yếu tố
xây dựng hàng đầu trong phương pháp của bà, tuy nhiên, trong phương pháp của bà không thể bỏ qua yếu tố là vai trò của giáo viên Montessori Sau những nỗ lực tạo ra mọi thứ mà trẻ cần, giáo viên đóng vai trò người quan sát còn những đứa trẻ thì tự do hoạt động Ngay cả khi trẻ làm sai thì giáo viên
Trang 2822
cũng để trẻ tự nhận ra và tự điều chỉnh lỗi sai của mình Điểm này khác hoàn toàn với cách giáo dục của các trường học bình thường, giáo viên thường đảm nhiệm vai trò chủ động còn những đứa trẻ ở vào vị trí bị động Montessori đã thay đổi khái niệm về giáo viên: Giáo viên không phải là người dạy trẻ mà là người tạo dựng môi trường, người hướng dẫn và người quan sát trẻ Trong đó, Montessori đặc biệt chú trọng năng lực quan sát của giáo viên Vai trò của giáo viên là giúp trẻ học tập tự do và mỗi đứa trẻ đều có những nhu cầu khác nhau theo từng giai đoạn, do đó nếu giáo viên không biết hành động của trẻ
đã thay đổi như thế nào thì giáo viên không thể thực hiện tốt mọi chức năng của mình Chính vì vậy, việc huấn luyện đào tạo “giáo viên Montessori” là công việc đòi hỏi phải thực hiện nghiêm túc Muốn trở thành “giáo viên Montessori”, học viên phải tham gia các khóa học trong thời gian ít nhất sáu tháng để nắm rõ phương pháp luận Montessori, cách chuẩn bị, sử dụng giáo
cụ và cách hướng dẫn, quan sát trẻ Sau khóa học, học viên sẽ được cấp chứng chỉ hoàn thành khóa học “Đào tạo giáo viên Montessori” và có thể làm việc trong các trường Montessori Các trung tâm đào tạo “giáo viên Montessori”
có mặt ở hầu hết các quốc gia có ứng dụng phương pháp giáo dục này Phần lớn các trung tâm đào tạo này chịu sự chi phối của hai tổ chức là Cộng đồng Montessori Mĩ (AMS) và Hiệp hội Montessori toàn cầu (AMI)
1.2.4 Tổ chức các hoạt động chơi và sử dụng đồ chơi cho trẻ 3 – 6 tuổi theo lí thuyết của Montessori
Trong phương pháp của Montessori, đồ chơi được đồng nhất với giáo
cụ trong lớp học.Vì thế với bà thì đồ chơi vừa để cho trẻ chơi, vửa cung cấp kiến thức cho trẻ Thông qua đồ chơi trẻ tự đánh giá công việc của mình một cách khách quan nhất Đồ chơi trong phương pháp Montessori được chia thành 5 nhóm như sau:
Trang 29bị đi học, đánh vần, ngữ pháp và kĩ năng viết
- Phát triển khả năng toán học – trẻ làm quen với các con số, các hình học thông qua các giáo cụ
- Phát triển các chủ đề văn hóa – trẻ được học về các đất nước (địa lý), động vật, thời gian, lịch sử, âm nhạc, chuyển động khoa học và nghệ thuật
Năm lĩnh vực này được bà Montessori bố trí, sắp xếp trong lớp học một cách hợp lí và khoa học nhằm tạo ra sự độc lập, tự do lựa chọn việc học qua các góc như sau:
- Góc sinh hoạt (hay góc luyện tập các kĩ năng sinh hoạt)
Góc sinh hoạt bao gồm những công việc gần gũi với sinh hoạt hàng ngày của trẻ Trong góc này, trẻ thực hiện những công việc từ dễ đến khó, từ đơn giản đến phức tạp để có thể tự phục vụ bản thân, thể hiện sự quan tâm tới người khác và biết cách chăm sóc môi trường sống xung quanh mình Những công việc trong góc sinh hoạt bao gồm:
* Với ít nước
- Mút, ống bóp
to, ống bóp nhỏ, phiễu, bình chứa
có hình dạng
- Cho trẻ chuyển nước bằng mút, bằng ống bóp lớn, bằng ống
Trang 30- Cho trẻ kẹp những bộ quần áo lên dây phơi
- Cho trẻ đổ vật
từ li trong sang li trong, tử li trong sang li đặc, từ li đặc sang li đặc
- Cho trẻ gấp khăn, gấp giấy, gấp khăn giấy
- Cho trẻ quét hạt
đỗ, quét giấy, quét thảm, quét
kệ đồ chơi, quét sàn
- Cho trẻ xâu hạt, xâu hạt theo mẫu
- Cho trẻ lau đánh giày, lau đồ bạc, lau đồ đồng, lau
đồ gỗ
- Cho trẻ cài cúc tròn, cài phécmơ-
khác nhau
- Li trong, li đặc, nước màu
- Xốp, viên bi, chậu nước
- Khăn lau, nước
- Xà phòng, nước
- Bàn chải đánh răng, kem đánh răng, nước
bóp nhỏ, bằng phễu, chuyển nước vào các bình chứa có hình dạng khác nhau
- Cho trẻ đổ nước
từ li trong sang li trong, từ li trong sang li đặc, từ li đặc sang li đặc,
đổ nước màu
- Cho trẻ khám phá vật nổi, vật chìm
- Cho trẻ lau nước bị đổ
- Cho trẻ tạo bọt
xà phòng
- Cho trẻ tập đánh răng
Trang 31- Cho trẻ khuân bàn, khuân ghế,
bê khay, bê hộp, mang thảm ra (gấp, mở thảm), đưa-nhận dao
- Cho trẻ tập cắt
- Cho trẻ tập mài, nghiền
- Cho trẻ đập, bóc các loại hạt, quả
có vỏ cứng
- Cho trẻ tập bóc
vỏ cam, vắt nước cam
* Với nhiều nước
- Bát, nước
- Búp bê, chậu, nước
- Quần áo, chậu,
xà phòng
- Hoa, lọ hoa, kéo
- Bình tưới, nước, cây
- Khăn, lá cây, nước
- Cho trẻ rửa bát
- Cho trẻ tắm cho búp bê
- Cho trẻ giặt quần áo
- Cho trẻ thực hành cắm hoa
- Cho trẻ tưới cây
- Cho trẻ lau lá
- Góc cảm giác (hay góc luyện tập giác quan)
Trong góc cảm giác, trẻ không những được củng cố, hệ thống lại những cảm giác, tri giác đã được hình thành, luyện tập ở góc sinh hoạt mà trẻ còn được hình thành năng lực đặc biệt có thể giúp trẻ thực hiện những công việc
Trang 3226
giàu tính sáng tạo sau này Đầu tiên, trẻ sẽ được tiếp xúc trực tiếp với các vật thật, vật cụ thể sau đó chuyển sang thực hiện những công việc trên tranh, giấy (thẻ hình, thẻ tên…) Giáo cụ trong góc cảm giác được phân loại theo mục đích luyện tập, phát triển từng giác quan riêng biệt: giáo cụ giúp trẻ phát triển thị giác, xúc giác, khứu giác, thính giác và vị giác Mặc dù có sự phân loại như vậy nhưng hầu như trong tất cả các giáo cụ đều có chức năng phát triển thị giác và xúc giác Giáo cụ trong góc cảm giác được sắp xếp vào 4 kệ, có thể linh hoạt thay đổi tùy theo điều kiện lớp học Dù có thể thay đổi nhưng việc trang bị và sắp xếp giáo cụ luôn phải tuân theo nguyên tắc chung là sắp xếp từ dễ đến khó, từ to đến nhỏ, từ đơn giản đến phức tạp, từ trái sang phải
và từ trên xuống dưới
độ lớn, chiều cao, chiều dài, độ dày, mỏng…Công việc với các giáo cụ trong kệ thứ hai của góc cảm giác bao gồm:
Tháp hồng: là tháp
Gồm những giáo cụ về màu sắc, đẳng thức, các khối hình
và các hình hình học.Công việc với các giáo cụ trong kệ thứ ba của góc cảm giác bao gồm:
Các khối hình học: khối cầu, lập phương, chóp nón, ovan, hình trứng, trụ tròn, lăng trụ tam giác đều, trụ vuông, chóp tam giác đều, chóp vuông Sau khi làm việc với các khối hình học, trẻ sẽ được làm việc với các
Gồm các giáo cụ giúp trẻ luyện tập giác quan phát triển thính giác, xúc giác, khứu giác,
vị giác, thị giác Công việc với các giáo cụ trong kệ thứ
Trang 33 Bậc thang nâu:
còn gọi là bậc thang rộng, gồm 10 khối
gỗ màu nâu có kích thước khác nhau
Giáo cụ này giúp trẻ làm quen với khái niệm rộng-hẹp, dày mỏng;
Gậy đỏ: là giáo cụ gồm 10 thanh gậy màu đỏ có chiều dài khác nhau, giúp trẻ nhận biết ngắn-dài
và tạo tiền đề để trẻ làm việc với gậy số trong góc toán;
Trụ núm 1: Gồm
10 trụ có chiều cao
và đường kính khác
mặt của các hình khối được làm từ mảnh gỗ;
Ngăn kéo các hình học phẳng (6 ngăn kéo): hình tròn, hình tam giác, hình tứ giác, hình cong, hình đa giác, các dạng hình khác;
Bảng màu 1: đỏ, vàng, xanh (3 màu cơ bản);
Bảng màu 2: đỏ, vàng, xanh, cam, xanh lá, tím – 6 màu (hỗn hợp màu);
Bảng màu 3: đỏ, vàng, xanh, cam, xanh lá, tím, hồng, nâu, xám, đen, trắng
Giúp trẻ nhận biết sắc độ;
Đẳng thức:
- Nhị thức 1: giúp trẻ hiểu về phân số (1 thành 2, thành 4, thành 8…);
- Đẳng thức bậc 2: giúp trẻ hiểu hằng đẳng thức (a+b)2 bằng cách tạo cặp giáo cụ
đỏ, xanh, đen có cùng bề rộng cùngchiều cao
- Đẳng thức bậc 3: giúp trẻ
tư của góc cảm giác bao gồm:
Hộp luyện thính giác:
6 ống tròn màu đỏ (mỗi ống có
âm thanh khác nhau),
6 ống tròn màu xanh (mỗi ống có
âm thanh khác nhau nhưng có cặp với âm thanh trong
6 ống màu đỏ);
chuông;
luyện tập xúc giác 1,2,3,4: ráp,
Trang 34 Trụ núm 2: gồm
10 trụ có chiều cao giống nhau, đường kính giảm dần giúp trẻ nhận biết, củng
cố về độ dày-mỏng;
Trụ núm 3: gồm
10 trụ có chiều cao cao dần, đường kính giảm dần Trẻ nhận biết khái niệm rộng, hẹp;
Trụ núm 4: Gồm
10 trụ có chiều cao thấp dần, đường kính như nhau Trẻ nhận biết khái niệm cao, thấp;
Trụ màu: về kích thước, hình dạng giống như trụ núm nhưng khác là có màu và không có
hiểu hằng đẳng thức (a+b+c)3 bằng cách tìm cặp giáo cụ giống nhau về màu,
về độ cao, về bề rộng
Hộp hình học:
- Hộp hình tam giác: gồm các mảnh gỗ hình tam giác
có màu xám, xanh lá, vàng,
đỏ Tạo ra các hình tam giác khác nhau từ những hình tam giác trên theo đường viền màu đen;
- Hộp hình lục giác lớn: gồm các hình tam giác có màu vàng, đỏ, ghép các hình tam giác tạo thành tam giác lớn, hình thoi, hình bình hành, hình lục giác…;
- Hộp hình lục giác nhỏ:
gồm các hình tam giác kích thước khác nhau có màu xám, xanh lá, đỏ, vàng Từ những hình tam giác này tạo thành hình thang, hình thoi, hình lục giác…;
- Hộp tứ giác tổng hợp: gồm các hình tam giác các loại có
nhẵn; dần dần có chia
độ ráp như ráp nhiều, ráp vừa phải, ráp ít… Hay nhẵn nhiều, nhẵn vừa phải, nhẵn ít;
Túi bí mật;
Đối chiếu tìm cặp vải;
Bộ lọ phát triển khứu giác: Tìm cặp các loại hạt, bột, chất lỏng có hương như quế, cà phê,
mè, giấm…;
Bộ lọ phát
Trang 35- Trụ màu đỏ: kích thước chức năng giống trụ núm 2;
- Trụ màu xanh lá:
kích thước chức năng giống trụ núm 3;
- Trụ màu xanh lam: kích thước chức năng giống trụ núm 4
màu xanh lá, vàng, đỏ, xám
Tạo thành hình vuông, chữ nhật, thoi, bình hành… từ các hình tam giác;
- Hộp chữ nhật (màu xanh):
gồm 5 mảnh gỗ hình tam giác màu xanh, không có viền đen Tạo ra các hình khác nhau theo ý thích từ 5 hình tam giác; - Hộp màu xanh 12 mảnh: gồm 12 hình tam giác màu xanh, xếp được các loại hình khác nhau như hình vuông, lụcgiác, hình đa giác 12 cạnh… từ 12 hình tam giác
triển vị giác: Tìm cặp các loại nguyên liệu như muối, đường, giấm, nước…
- Góc ngôn ngữ
Ngôn ngữ hiện diện ở tất cả các góc của lớp học Montessori Ở góc sinh hoạt thông qua việc cầm thìa, trẻ được tập cách cầm bút chì, những công việc như nảy hạt, đổ vật, đổ nước… giúp trẻ phát triển tai nghe tạo tiền đề phát triển khả năng nghe, hiểu sau này Ở góc luyện tập giác quan, mỗi giáo
cụ đều có các thẻ tên tương ứng giúp trẻ biết tên gọi từng giáo cụ từ đó giúp trẻ phát triển vốn từ Cũng trong góc này trẻ sử dụng những từ vựng về so sánh hơn kém, so sánh nhất như to, nhỏ, to hơn, nhỏ hơn, to nhất, nhỏ nhất… những từ vựng như ngọt, đắng, chua, thơm, bùi, lạnh, ấm, nhám, mềm, từ chỉ màu sắc, hình dạng… được trẻ lĩnh hội và củng cố thông qua việc luyện tập năm giác quan Chỉ trong một góc, trẻ đã có rất nhiều cơ hội được lĩnh hội, sử
Trang 3630
dụng ngôn ngữ Tiếp đó là góc toán, ngôn ngữ, văn hóa… không thể kể hết, đếm hết cơ hội trẻ được lĩnh hội, phát triển số lượng từ vựng và cơ hội sử dụng chúng Nhờ vậy, những trẻ học ở trường Montessori có khả năng sử dụng đa dạng, phong phú vốn từ vựng trong những lĩnh vực khác nhau Trước khi được thao tác thực hành tại góc ngôn ngữ, trẻ đã được làm quen với nhiều
từ vựng thông qua các vật cụ thể, so sánh về kích thước, hiểu về phương hướng nên trẻ có thể dễ dàng nhận ra và phân biệt những chi tiết nhỏ của chữ viết Trẻ cũng phân biệt được những chữ giống nhau, những chữ khác nhau thông qua công việc hay trò chơi xếp tiếp hình theo quy tắc, hình dạng nhất định
Công việc với các giáo cụ trong góc ngôn ngữ bao gồm:
So tranh lớn, nhỏ; Nhận biết phương hướng (theo học cụ quy định rõ về phương hướng); Tìm bóng của hình; Thẻ hình theo quy tắc; Thẻ hình ba bước; Đối chiếu thẻ chữ; Hộp tên gọi (hộp âm thanh): 5 - 6 vật trong mỗi hộp
có tên bắt đầu bằng các phụ âm trong bảng chữ cái; Từ ghép vần đầu tiên: từ ghép giữa phụ âm với nguyên âm a Từ ba - va, và tranh ảnh; Chữ cát: phụ
âm, nguyên âm bằng giấy nhám, hồ, bút chì màu, bút chì, giấy; Chữ gạo: khung viết chữ gạo, gạo, thẻ chữ cái; Tập hợp chữ cái: phim phụ âm, nguyên
âm, bảng tập hợp, bút chì, giấy, bút chì màu (đỏ, xanh); Khung các loại hình dạng bằng kim loại (cái đỡ bút chì, giá đỡ, bút chì màu, giấy…); Nhóm hình tròn: 5 cái; Các loại hình khác nhau: 5 cái; Từ đồng âm khác nghĩa (chữ cái giống nhau nhưng hình vẽ khác nhau) ví dụ mực, đường…; Từ ghép: bản đáp
án, thẻ hình đối chiếu; Giống cái, giống đực, giống trung: bản đáp án, thẻ đối chiếu; Từ tượng thanh: bản đáp án, thẻ đối chiếu; Từ tượng hình: bản đáp án, thẻ đối chiếu; Từ tôn kính: bản đáp án, thẻ đối chiếu; Ngữ pháp: thẻ từ theo kí hiệu màu sắc: danh từ, động từ, tính từ, trợ từ, bổ ngữ, từ liên kết, thán từ…;
Trang 37đó trẻ hiểu những khái niệm trừu tượng trong từng lĩnh vực Những công việc với các giáo cụ trong góc văn hóa khơi gợi ở trẻ niềm đam mê, cảm hứng tích cực với việc khám phá khoa học, tìm hiểu môi trường xung quanh Giáo cụ trong góc văn hóa được sắp xếp thành từng lĩnh vực lịch sử, địa lí, khoa học như sau:
+ Lịch sử
Khái niệm lịch sử gắn liền với khái niệm thời gian Trẻ được làm việc với các giáo cụ liên quan đến thời gian như cácloại đồng hồ, lịch… Trẻ dễ
Trang 3832
dàng biết cách tính thời gian cho một giờ, 1 ngày, 1 tuần… 1 đời người, 1 thời đại cũng như biết được những sự việc đã xảy ra gắn liền với mỗi khoảng thời gian đó Công việc với các giáo cụ thuộc lĩnh vực lịch sử bao gồm:
Đồ dùng, đồ chơi Hoạt động chơi
- Đồng hồ cát, đồng hồ một kim ( kim giờ),
đồng hồ hai kim ( kim phút, kim giờ)
- Nỉ đỏ, 12 miếng vải nền (nỉ đen), số màu
- Giáo cụ một tuần, một tháng, thẻ đối chiếu
- Giấy kẻ 30 ô, tranh vẽ, bút chì, lịch đáp án
- Cho trẻ đóng dấu đồng hồ theo thẻ
- Cho trẻ làm đồng hồ của tôi
- Cho trẻ sắp xếp công việc một ngày của trẻ
- Cho trẻ sắp xếp giáo cụ trong tuần, tháng
- Cho trẻ nhận biết đặc điểm của các nước
- Cho trẻ so sánh thời hiện đại và thời cổ đại
Trang 3933
- Các bộ trang phục thời cổ xưa
- Chum vại, vật thể mô phỏng những vật
dược khai quật dưới lòng đất
- Cho trẻ nhận biết các bộ trang phục
- Cho trẻ tìm hiểu về khảo cổ học
+ Địa lí
Hình dạng, đặc điểm, vị trí, tên gọi các châu lục, các dạng địa hình đất, nước… được trẻ lĩnh hội một cách dễ dàng khi làm việc với các giáo cụ sinh động thuộc lĩnh vực địa lí, một phần của góc văn hóa
Công việc trẻ thực hiện với các giáo cụ thuộc lĩnh vực địa lí gồm có:
Đồ dùng, dụng cụ Hoạt động chơi
- Cột Đông, Tây, Nam, Bắc, sợi dây
đỏ, la bàn
- Ống nghiệm, đất, nước, thẻ chữ
- Quả địa cầu cát
- Quả địa cầu màu
- Bản đồ cát, khay cát
- Bản đồ đáp án, thẻ chữ, mảng ghép
bản đồ
- Mảnh ghép những châu lục thuộc
bán cầu Đông, thẻ chữ (châu Á,
châu Âu, châu Mĩ, châu Úc);
- Mảnh ghép những lục địa thuộc
bán cầu Tây, thẻ chữ (lục địa Bắc
Mĩ, lục địa Nam Mĩ);
- Mảnh ghép các lục địa, kéo, bút
chì, giấy màu, kim chọc giấy, thảm
- Cho trẻ nhận biết về phương hướng
- Cho trẻ nhận biết đất, nước, không khí
- Cho trẻ quan sát quả địa cầu
- Cho trẻ phân biệt các vùng đất liền
- Cho trẻ quan sát, vẽ theo trên cát
- Cho trẻ ghép hình bản đồ thế giới
- Cho trẻ ghép bán cầu Đông
- Cho trẻ ghép bán cầu Tây
- Cho trẻ làm sách bản đồ thể hiện những vùng đất liền
Trang 4034
nhỏ, hồ
- Động vật, con người, công trình
kiến trúc, thức ăn từng lục địa
làm địa hình 2: làm sách – giấy màu
xanh, nâu, kéo, hồ, bút chì; cấu tạo
- Kính vạn hoa (lăng trụ);
- Kính lúp: kính lúp, vật quan sát;
- Phân biệt vật có từ tính và không có từ tính: nam
châm, những vật bị nam châm hút và không bị nam
- Vật nuôi trong nhà, động vật trong rừng;
- Vương quốc động vật: các loại động vật
và thẻ chữ, thẻ hình Động vật có xương