1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Ảnh hưởng tuổi và thời gian điều hành của CEO đến hành vi điều chỉnh lợi nhuận của các công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán việt nam

104 539 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 104
Dung lượng 1,85 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Một số nghiên cứu trong nước gần đây đã quan tâm nhiều hơn đến việc đánh giá và phân tích các yếu tố tác động đến hành vi điều chỉnh thông tin BCTC đặc biệt là hành vi điều chỉnh lợi nhu

Trang 1

LA NGỌC MINH THUẬN

ẢNH HƯỞNG TUỔI VÀ THỜI GIAN ĐIỀU HÀNH CỦA CEO ĐẾN HÀNH VI ĐIỀU CHỈNH LỢI NHUẬN CỦA CÁC CÔNG TY NIÊM YẾT TRÊN THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN VIỆT NAM

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ

TP HỒ CHÍ MINH – 2017

Trang 2

LA NGỌC MINH THUẬN

ẢNH HƯỞNG TUỔI VÀ THỜI GIAN ĐIỀU HÀNH CỦA CEO ĐẾN HÀNH VI ĐIỀU CHỈNH LỢI NHUẬN CỦA CÁC CÔNG TY NIÊM YẾT TRÊN THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN VIỆT NAM

Chuyên ngành: Kế toán

Mã số: 60340301

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ

Người hướng dẫn khoa học:

TS LÊ THỊ MỸ HẠNH

TP HỒ CHÍ MINH – 2017

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan luận văn thạc sĩ kinh tế: “Ảnh hưởng tuổi và thời gian điều hành của CEO đến hành vi điều chỉnh lợi nhuận của các công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam” là công trình nghiên cứu của tôi với sự hướng dẫn của TS

Lê Thị Mỹ Hạnh Luận văn này chưa được ai công bố dưới bất kỳ hình thức nào Tất cả các nguồn tham khảo đã được công bố đầy đủ

TP.HCM, ngày 04 tháng 04 năm 2017

Tác giả luận văn

La Ngọc Minh Thuận

Trang 4

MỤC LỤC

TRANG PHỤ BÌA

LỜI CAM ĐOAN

MỤC LỤC

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT

DANH MỤC SƠ ĐỒ, BẢNG BIỂU

PHẦN MỞ ĐẦU 1

1 Tính cấp thiết của đề tài 1

2 Mục tiêu nghiên cứu 3

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 4

4 Phương pháp nghiên cứu 4

5 Kết cấu của luận văn 4

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU CÓ LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI 6

1.1 Các nghiên cứu nước ngoài 6

1.1.1 Nghiên cứu về mối quan hệ giữa tuổi của CEO và hành vi điều chỉnh lợi nhuận 6

1.1.2 Nghiên cứu về mối quan hệ giữa thời gian điều hành của CEO và hành vi điều chỉnh lợi nhuận 8

1.2 Các nghiên cứu trong nước 9

1.3 Khe hổng của nghiên cứu trước và định hướng nghiên cứu của tác giả13 CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ HÀNH VI ĐIỀU CHỈNH LỢI NHUẬN 16

2.1 Những vấn đề cơ bản về hành vi điều chỉnh lợi nhuận 16

2.1.1 Khái niệm hành vi điều chỉnh lợi nhuận 16

2.1.2 Động cơ điều chỉnh lợi nhuận 17

2.1.2.1 Động cơ hợp đồng bồi thường quản lý 17

2.1.2.2 Động cơ giao ước nợ 18

2.1.2.3 Động cơ thị trường vốn 19

Trang 5

2.1.2.4 Động cơ pháp lý 19

2.1.3 Thủ thuật điều chỉnh lợi nhuận 21

2.1.3.1 Thủ thuật điều chỉnh lợi nhuận thông qua lựa chọn phương pháp kế toán hoặc các ước tính kế toán 21

2.1.3.2 Thủ thuật điều chỉnh lợi nhuận thông qua cấu trúc các nghiệp vụ kinh tế 24

2.1.4 Mô hình nhận diện hành vi điều chỉnh lợi nhuận trong thực nghiệm 26

2.2 Lý thuyết nền 31

CHƯƠNG 3: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 36

3.1 Quy trình nghiên cứu của luận văn 36

3.2 Thiết kế nghiên cứu 37

3.2.1 Dữ liệu nghiên cứu 37

3.2.2 Mô hình nghiên cứu 38

3.2.3 Xây dựng thang đo các biến nghiên cứu 41

3.2.3.1 Biến phụ thuộc 41

3.2.3.2 Biến độc lập 42

3.2.3.3 Biến kiểm soát 43

3.2.4 Phương pháp ước lượng 50

CHƯƠNG 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 54

4.1 Mô tả thống kê và ma trận tương quan 54

4.2 Kết quả ước lượng mối quan hệ giữa tuổi và thời gian điều hành của CEO đến hành vi điều chỉnh lợi nhuận 58

4.3 Bàn luận kết quả nghiên cứu 64

CHƯƠNG 5: KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 69

5.1 Kết luận 69

5.2 Kiến nghị 71

5.3 Hạn chế của đề tài 75

5.4 Hướng nghiên cứu tiếp theo 76

TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Trang 6

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT

BCKQHĐKD Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh

BCLCTT Báo cáo lưu chuyển tiền tệ

BCTC Báo cáo tài chính

CEO Giám đốc điều hành

DA Discretionary accruals

GMM Generalized Method of Moments

HĐKD Hoạt động kinh doanh

HNX Sở giao dịch chứng khoán Hà Nội

HOSE Sở giao dịch Chứng khoán Thành phố Hồ Chí Minh

Trang 7

DANH MỤC SƠ ĐỒ, BẢNG BIỂU

Bảng 1.1 Tổng hợp các nghiên cứu về mối quan hệ giữa tuổi và thời gian điều hành của CEO đến HVĐCLN

Sơ đồ 3.1: Quy trình nghiên cứu

Biểu đồ 3.2: Phân bổ theo năm thành lập của các công ty trong mẫu nghiên cứu

Hình 3.3: Mô hình nghiên cứu

Bảng 4.1 Thống kê mô tả các biến trong luận văn

Bảng 4.2 Ma trận tương quan giữa các biến trong luận văn

Bảng 4.3 Kiểm định VIF lần 1

Bảng 4.4 Kiểm định VIF lần 2

Bảng 4.5 Kiểm định VIF lần 3

Bảng 4.6 Kết quả mô hình FEM

Bảng 4.7 Kết quả mô hình REM

Bảng 4.8 Kết quả tổng hợp và kiểm định mô hình FEM và REM

Bảng 4.9 Kết quả hồi quy mối quan hệ của các nhân tố ảnh hưởng đến HVĐCLN

Trang 8

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Trong bối cảnh ngày càng có nhiều vụ bê bối kế toán liên quan đến gian lận báo cáo tài chính (BCTC) được ghi nhận, nhiều quy định kế toán đã được xây dựng

để ngăn chặn các hiện tượng này Ngoài việc tuân thủ các quy trình kế toán hiện hành, kết quả điều tra các vụ bê bối tài chính của đầu những năm 2000 (ví dụ như Enron, Worldcom, Bông Bạch Tuyết và Bibica, ) cũng ghi nhận vai trò quan trọng cuả các Giám đốc điều hành (CEO) trong việc đảm bảo chất lượng các BCTC, khi

họ có thể sử dụng sức ảnh hưởng của mình để tác động lên kết quả BCTC thông qua hành vi điều chỉnh lợi nhuận (HVĐCLN) Bên cạnh đó, một phân tích do Beasley

và các đồng sự (2010)1 thực hiện, được phát hành bởi COSO (The Committee of Sponsoring Organizations of the Treadway Commission), một Ủy ban thuộc Hội đồng quốc gia Hoa kỳ về chống gian lận khi lập BCTC, về các trường hợp gian lận BCTC trong giai đoạn từ 1998 - 2007 ( Fraudulent Financial reporting 1998 - 2007) với mẫu khảo sát bao gồm 347 trường hợp gian lận bị phát hiện ra từ ngày 1/1/1998 đến 31/12/2007 cho thấy 72% số trường hợp theo công bố cưỡng chế kế toán và kiểm toán có liên quan đến vai trò CEO, và 65% được kết luận có liên quan đến giám đốc tài chính

Điều này dẫn đến hiện nay ngoài các quy định liên quan đến quy trình kế toán, còn có những quy định đối với vai trò của CEO trong việc hạn chế hành vi điều chỉnh của các BCTC được đặt ra gần đây để bảo vệ sự minh bạch của các báo cáo này Ngoài ra, với tình hình kinh tế nhiều biến động trong thời gian qua, vấn đề nâng cao năng lực cạnh tranh trên cơ sở tăng cường hiệu quả hoạt động kinh doanh (HĐKD), nâng cao chất lượng BCTC của các công ty niêm yết (CTNY) cũng được đặt lên hàng đầu, đòi hỏi các CTNY phải không ngừng nâng cao hiệu quả hoạt động

và minh bạch thông tin BCTC

1 Beasley, S.M; Carcello, V.J; Hermanson, R D and Neal, L.T (2010) An analysis of US Public Company: Fraudulent Financial Reporting: 1998 – 2007 COSO

Trang 9

Các sai phạm kế toán trong những năm gần đây cũng đặt ra yêu cầu cần thiết phải cải thiện chất lượng trình bày trong các BCTC bằng cách thiết lập các cấu trúc giám sát phù hợp Mối liên hệ giữa cơ chế quản trị doanh nghiệp và chất lượng thông tin vẫn luôn là một đề tài được tranh luận sôi nổi đặc biệt tại các quốc gia đang phát triển, trong đó có Việt Nam (VN), những nơi mà chất lượng BCTC không được đánh giá cao và luôn bị chỉ trích (Agrawal & Chadha, 20052; Brown và cộng

sự, 20103)

Nhiều nghiên cứu của tác giả trên thế giới chỉ ra rằng hành vi điều chỉnh lợi nhuận là một trong những tiêu chí để chứng minh chất lượng của BCTC Một số nghiên cứu trong nước gần đây đã quan tâm nhiều hơn đến việc đánh giá và phân tích các yếu tố tác động đến hành vi điều chỉnh thông tin BCTC đặc biệt là hành vi điều chỉnh lợi nhuận BCTC, đặc điểm hội đồng quản trị, các nhân tố bên trong, quy

mô doanh nghiệp, cấu trúc vốn,….Tuy nhiên, theo tìm hiểu của tác giả, tác giả chưa tìm thấy nghiên cứu trước công bố chính thức tại Việt Nam với nội dung chỉ tập trung đề cập đến nhân tố tuổi của CEO, thời gian điều hành của CEO có mối quan

hệ đến hành vi điều chỉnh lợi nhuận của các CTNY trên thị trường chứng khoán (TTCK) Việt Nam

Xuất phát từ những đòi hỏi mang tính lý luận và thực tiễn như trên, với mong muốn tìm hiểu, đánh giá, phân tích HVĐCLN và mối liên hệ giữa các nhân tố tuổi của CEO, thời gian điều hành của CEO ảnh hưởng như thế nào đến HVĐCLN nhằm đưa ra những khuyến nghị, chính sách công bố và minh bạch BCTC phù hợp nhằm nâng cao chất lượng thông tin BCTC các công ty hoạt động trên TTCK VN,

tác giả đề xuất nghiên cứu và thực hiện đề tài luận văn “Ảnh hưởng tuổi và thời gian điều hành của CEO đến hành vi điều chỉnh lợi nhuận của các công ty niêm yết trên TTCK VN”

Ý nghĩa của đề tài

Trang 10

Đề tài đóng góp vào sự phong phú của các nghiên cứu tại VN liên quan đến

HVĐCLN, mối quan hệ của tuổi và thời gian điều hành của CEO đến HVĐCLN

Về mặt thực tiễn:

Từ kết quả của nghiên cứu có thể ứng dụng vào thực tế như sau:

- Thứ nhất, tuổi và thời gian điều hành của CEO có thể được sử dụng như dữ

liệu đầu vào trong các mô hình lập quyết định được sử dụng bởi các công ty kiểm toán, các tổ chức tín dụng, trong việc xác định mức độ chấp nhận rủi ro khi lập kế hoạch kiểm toán hoặc ra quyết định cho vay

- Thứ hai, các doanh nghiệp khi tuyển dụng hoặc bổ nhiệm CEO nên lựa chọn các ứng viên có độ tuổi và kinh nghiệm điều hành phù hợp để hưởng lợi hơn thông qua việc có BCTC phản ánh đúng thực trạng doanh nghiệp, điều này sẽ làm giảm chi phí vốn và tăng giá trị của doanh nghiệp

- Thứ ba, các nhà đầu tư và các đối tượng sử dụng BCTC khác nên xem xét tuổi và thời gian điều hành của CEO cũng như các nhân tố ảnh hưởng đến hành vi điều chỉnh lợi nhuận,… khi đánh giá chất lượng báo cáo của doanh nghiệp trước khi ra quyết định đầu tư

2 Mục tiêu nghiên cứu

Mục tiêu của nghiên cứu này là xem xét xác định mối quan hệ giữa tuổi và thời gian điều hành của CEO ảnh hưởng như thế nào đến HVĐCLN BCTC của các CTNY Từ đó đề xuất các kiến nghị làm giảm thiểu HVĐCLN và làm tăng niềm tin của người sử dụng BCTC

Trong đó hành vi điều chỉnh lợi nhuận là một trong những tiêu chí để chứng minh chất lượng của BCTC

Để đạt được mục tiêu trên, câu hỏi nghiên cứu được đề ra như sau:

Tuổi và thời gian điều hành của CEO có ảnh hưởng như thế nào đến hành vi điều chỉnh lợi nhuận? Mức độ ảnh hưởng của nó như thế nào đến hành vi điều chỉnh lợi nhuận của các công ty niêm yết trên TTCK VN?

Trang 11

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu:

Đối tượng nghiên cứu của luận văn là ảnh hưởng của các nhân tố tuổi và thời gian điều hành của CEO đến hành vi điều chỉnh lợi nhuận của các doanh nghiệp niêm yết trên sàn giao dịch chứng khoán

Phạm vi nghiên cứu của luận văn giới hạn với mẫu bao gồm những công ty

cổ phần niêm yết trên cả 2 sàn: Sở giao dịch Chứng khoán Thành phố Hồ Chí Minh (HOSE) và Sở giao dịch chứng khoán Hà Nội (HNX) trong giai đoạn 2007-2015

4 Phương pháp nghiên cứu

Phương pháp nghiên cứu của đề tài được sử dụng là nghiên cứu định lượng Thu thập số liệu từ báo cáo thường niên và báo cáo quản trị của các CTNY trên sàn giao dịch chứng khoán HOSE và HNX giai đoạn 2007-2015 Dữ liệu thu thập được tổng hợp thành dạng bảng để phục vụ cho việc nghiên cứu Sau đó dựa vào tài liệu

và dữ liệu thu thập, tiến hành tổng hợp dữ liệu, phân tích và đánh giá Thực hiện thống kê mô tả, kiểm định mô hình và giả thuyết nghiên cứu bằng phương pháp phân tích hồi quy trên phần mềm Stata 13 Đồng thời nghiên cứu cũng sẽ sử dụng phương pháp so sánh và phân tích để đánh giá các kết quả đạt được với những bài nghiên cứu trước, xem xét có sự khác biệt giữa các kết quả thu được hay không

5 Kết cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu, luận văn được chia thành 5 chương

Phần mở đầu: Giới thiệu về công trình nghiên cứu

Trang 12

Chương 1: Tổng quan về tình hình nghiên cứu có liên quan: chương này tác

giả trình bày các nghiên cứu liên quan trước đây đã nghiên cứu về hành vi điều chỉnh lợi nhuận tại VN và quốc tế

Chương 2: Cơ sở lý thuyết: chương này tác giả trình bày các lý thuyết về

hành vi điều chỉnh lợi nhuận, mô hình đo lường hành vi điều chỉnh lợi nhuận và các

lý thuyết nền

Chương 3: Phương pháp nghiên cứu: chương này tác giả phát triển các giả

thuyết nghiên cứu trong bài, đưa ra mô hình nghiên cứu về các nhân tố ảnh hưởng đến hành vi điều chỉnh lợi nhuận, trình bày phương pháp thu thập dữ liệu, phương pháp phân tích dữ liệu

Chương 4: Kết quả nghiên cứu và thảo luận: chương này tác giả trình bày

kết quả nghiên cứu của mô hình hồi quy và thảo luận về mối quan hệ giữa các nhân

tố và hành vi điều chỉnh lợi nhuận

Chương 5: Kết luận – Kiến nghị: chương này tác giả trình bày kết luận của

nghiên cứu, hạn chế của bài nghiên cứu và đề xuất định hướng nghiên cứu trong tương lai

Trang 13

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU CÓ LIÊN

QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI

Hành vi điều chỉnh lợi nhuận BCTC là vấn đề đã được nghiên cứu của rất nhiều tác giả với nhiều công trình nghiên cứu ở nước ngoài cũng như ở Việt Nam

Để có một cái nhìn tổng quan về những nghiên cứu có liên quan, luận văn chọn lựa

và giới thiệu một số nghiên cứu tiêu biểu liên quan đến các vấn đề này Qua đó, sẽ rút ra khe hổng nghiên cứu đối với luận văn

1.1 Các nghiên cứu nước ngoài

1.1.1 Nghiên cứu về mối quan hệ giữa tuổi của CEO và hành vi điều chỉnh lợi nhuận

Liên quan đến nội dung nghiên cứu về tuổi của CEO và hành vi điều chỉnh lợi nhuận, nhóm tác giả Hua-Wei Huang và cộng sự thực hiện năm 2012 đã thực

hiện nghiên cứu với chủ đề: CEO Age and Financial Reporting Quality 4 Dựa trên những gì tìm được từ nghiên cứu trước đó (e.g., Mudrack 1989; Peterson et al 2001; Sundaram và Yermack 2007) về việc cá nhân trở nên thận trọng và tuân thủ các chuẩn mực đạo đức hơn khi họ càng lớn tuổi, nhóm tác giả lập luận rằng, các CEO lớn tuổi hơn thường ít có xu hướng thực hiện điều chỉnh lợi nhuận, điều này làm giảm HVĐCLN và làm cho chất lượng BCTC cao hơn Cụ thể, nhóm tác giả giả định rằng độ tuổi của CEO có quan hệ nghịch với việc các doanh nghiệp đạt được hoặc vượt lợi nhuận mục tiêu và điều chỉnh lợi nhuận Nhóm tác giả kiểm tra giả định này bằng cách thực hiện phương pháp phân tích từng biến một và phân tích hồi quy đa biến trên một mẫu gồm 3143 doanh nghiệp trên Compustas (Compustat

là một cơ sở dữ liệu thông tin tài chính, thống kê và thị trường cho các công ty toàn cầu hoạt động và không hoạt động trên khắp thế giới Dịch vụ này bắt đầu vào năm 1962) trong khoảng thời gian từ 2005 – 2008 Nhóm tác giả tìm thấy mối liên hệ nghịch biến rõ rệt giữa độ tuổi CEO với việc hoàn thành hay vượt lợi nhuận mục

4 Hua-Wei Huang, Ena Rose-Green, and Chih-Chen Lee, 2012.CEO age and financial reporting quality

American Accounting Association, 26(4): 725–740

Trang 14

tiêu và điều chỉnh lợi nhuận của doanh nghiệp Điều này cho thấy các CEO lớn tuổi

ít có khả năng để điều chỉnh hoàn thành hoặc vượt lợi nhuận mục tiêu và các CEO lớn tuổi ít có khả năng thực hiện HVĐCLN Do đó nghiên cứu của nhóm tác giả xem xét mối quan hệ giữa quản trị doanh nghiệp và HVĐCLN bằng cách xác định tuổi CEO là một yếu tố quyết định HVĐCLN Kết quả nghiên cứu của nhóm tác giả mang ý nghĩa điều chỉnh bổ sung cho các tác nhân được xác định từ các công trình nghiên cứu trước rằng tuổi của CEO có liên hệ với việc doanh nghiệp hoàn thành hoặc vượt lợi nhuận mục tiêu và điều chỉnh lợi nhuận

Tiếp đến, tương tự với nội dung nghiên cứu của nhóm tác giả Hua-Wei Huang và cộng sự kể trên nhưng đề cập thêm yếu tố sở hữu gia đình, tác giả Tang Wing Yin và Tsui Pui Chun trong năm 2014 cũng đã thực hiện đề tài với tên gọi

How do the CEO age and family-owned business affect the quality of financial reporting? 5 Nhóm tác giả đã cho rằng để xác định chất lượng của các BCTC, HVĐCLN là một trong những yếu tố cần được xem xét Nhóm tác giả đưa ra giả thuyết rằng công ty có CEO lớn tuổi ít có khả năng điều chỉnh lợi nhuận Trong nghiên cứu của mình, nhóm tác giả xác định sự tồn tại của việc điều chỉnh lợi nhuận bằng cách so sánh các con số lợi nhuận ròng của hai năm liên tiếp, họ so sánh các BCTC từ các báo cáo hàng năm của CTNY để xem liệu có bất kỳ điều chỉnh nào trên BCTC Sau đó, họ thu thập dữ liệu tuổi của CEO và ban kiểm soát cũng như các biến khác như các thành viên hội đồng quản trị thông qua các báo cáo hàng năm của CTNY Bên cạnh đó, họ còn lấy các chỉ số tài chính đưa vào mô hình hồi quy như các biến kiểm soát thông qua Bloomberg Cuối cùng, họ điều tra sự tương quan giữa tuổi tác CEO và HVĐCLN bằng việc sử dụng phần mềm SPSS Dựa trên các nghiên cứu trước đó của Tong (2007)6, công ty sở hữu gia đình có HVĐCLN cao

5 Tang Wing Yin and Tsui Pui Chun, 2014 How do the CEO age and family-owned business affect the

quality of financial reporting? Hong Kong Baptist University

6 Tong, Yen H (2007) Financial Reporting Practices of Family Firms, Advances in Accounting,

incorporating Advances in International Accounting, ISSN 0882-6110, ISBN 0762314257, Volume 23, pp

231 – 261

Trang 15

hơn, trong khi một số nghiên cứu (ví dụ như Madani, et al., 2013)7 cho thấy rằng quyền sở hữu gia đình không nhất thiết ảnh hưởng đến HVĐCLN Do đó, nhóm tác giả đã kết hợp các biến của tỷ lệ sở hữu của các thành viên gia đình trong mô hình hồi quy thứ hai để tìm hiểu xem sự hiệu ứng kết hợp của tuổi CEO và tỷ lệ sở hữu của các thành viên gia đình đến HVĐCLN Với nghiên cứu trên 174 công ty mẫu, kết quả cho thấy rằng tuổi CEO có một mối quan hệ ngược chiều với HVĐCLN Tuy nhiên, ảnh hưởng của hiệu ứng kết hợp của tuổi CEO và tỷ lệ sở hữu của các thành viên gia đình đến HVĐCLN chính là không đáng kể, đều này có nghĩa là mối quan hệ đó là không chắc chắn

1.1.2 Nghiên cứu về mối quan hệ giữa thời gian điều hành của CEO và hành vi điều chỉnh lợi nhuận

Theo Ali và Zhang (2013)8 thời gian điều hành hay đương chức cũng có là một yếu tố phản ánh độ tuổi và kinh nghiệm của các CEO Nghiên cứu của nhóm tác giả này xem xét những thay đổi trong động cơ của CEO trong quản lý thu nhập của doanh nghiệp trong thời gian đương chức của mình Nghiên cứu này cho thấy, doanh thu thường có xu hướng bị phóng đại lên trong những năm đầu hơn trong những năm cuối trong khoảng thời gian tại vị của các CEO và mối liên hệ này thì yếu hơn đối với các doanh nghiệp có tỷ lệ sở hữu bởi các tổ chức đầu tư và tại các doanh nghiệp có ban kiểm soát cũng như ban điều hành độc lập Kết quả này phù hợp với động cơ của CEO trong những năm đầu là xây dựng tầm ảnh hưởng trên thị trường về năng lực của mình trong những năm đầu bằng việc điều chỉnh tăng doanh thu CEO với năng lực cao hơn sẽ có khả năng “sống sót” qua các đợt có quyết định cách chức hoặc giữ lại trong những năm đầu của họ, và do đó họ có động cơ gian lận để đánh bóng khả năng của mình Về sau, chính những CEO này sẽ thường thận trọng hơn trong việc phóng đại thành tích để tránh ảnh hưởng đến danh tiếng của mình Tuy nhiên, nghiên cứu này còn cho thấy rằng hiện tượng điều chỉnh tăng

7 Madani; MoeinAddin; and Rad, (2013) Impact of Family Ownership, State ownership and Major

Shareholders on the Financial Reporting Quality of the Firms Listed on the Tehran Stock Exchange

Interdisciplinary Journal of Contemporary Research in Business, 5(5): 50-64

8 Ali and Zhang (2013) CEO Tenure and Earnings Management Journal of Accounting and Economics

Trang 16

doanh thu còn diễn ra rõ ràng hơn vào năm cuối trước khi về hưu so với những năm khác trong thời gian tại vị của họ Kết quả này được ghi nhận chỉ sau khi đã kiểm soát việc thổi phồng doanh thu trong những năm trước Điều này cũng phù hợp với các vấn đề liên quan đến việc ra đi của các CEO, và đồng thời lý giải sự thiếu kiểm soát của các CEOs trẻ lên doanh thu trên BCTC trong những năm đầu phục vụ khi

họ đang bắt đầu được chuyển giao dần công việc từ CEO tiền nhiệm

Bảng 1.1 Tổng hợp các nghiên cứu về mối quan hệ giữa tuổi và thời gian điều hành của CEO đến HVĐCLN

Yếu tố liên quan

How do the CEO age and owned business affect the quality

How do the CEO age and owned business affect the quality

family-of financial reporting

+

Ali và Zhang (2013)

CEO Tenure and Earnings Management

-

Nguồn: Tác giả tự tổng hợp

1.2 Các nghiên cứu trong nước

Các nghiên cứu trong nước liên quan đến hành vi điều chỉnh lợi nhuận đối vối các công ty niêm yết trên TTCK VN đã được một số tác giả nghiên cứu trước thực hiện như sau:

Trang 17

Tác giả Huỳnh Thị Vân với chủ đề “Nghiên cứu hành vi điều chỉnh lợi nhuận

ở các công ty cổ phần trong năm đầu tiên niêm yết trên TTCK VN” 9 được thực hiện năm 2012 trên cả hai sàn HOSE và HNX; đồng thời đo lường HVĐCLN bằng cả 2

mô hình của De Angelo (1986) và Friedlan (1994) để so sánh sự tương đồng cũng như sự khác nhau kết quả của 2 mô hình Trong nghiên cứu, tác giả đã kết luận trước sự hấp dẫn của những lợi ích ngắn hạn, các công ty thường có xu hướng điều chỉnh lợi nhuận lệch so với thực tế Các công ty cổ phần có xu hướng điều chỉnh lợi nhuận tăng lên trong năm đầu niêm yết Ngoài ra, nghiên cứu cũng chỉ ra rằng các công ty được hưởng ưu đãi thuế suất thu nhập doanh nghiệp sẽ điều chỉnh lợi nhuận trong năm đó lên rất cao nhằm tiết kiệm chi phí thuế thu nhập doanh nghiệp và quy

mô công ty không ảnh hưởng đến HVĐCLN

Tiếp đến, đi sâu vào đặc điểm của quản trị công ty và hành vi điều chỉnh lợi

nhuận, tác giả Giáp Thị Liên đã thực hiện đề tài “Nghiên cứu mối quan hệ giữa quản trị công ty và hành vi điều chỉnh lợi nhuận của công ty niêm yết trên sở giao dịch chứng khoán TP.HCM10 thực hiện vào năm 2014 sử dụng mô hình của Dechow & các cộng sự (1995) để đo lường nhận diện HVĐCLN và thu thập dữ liệu của 101 CTNY trên sàn HOSE trong 5 năm giai đoạn 2009-2013 Kết quả nghiên cứu cho thấy tách biệt vai trò của Chủ tịch hội đồng quản trị với tổng giám đốc, tăng tỷ lệ thành viên Hội đồng quản trị, tăng tỷ lệ sở hữu của ban giám đốc sẽ làm giảm HVĐCLN Bên cạnh đó nghiên cứu không tìm thấy mối quan hệ giữa quy mô Hội đồng quản trị, tỷ lệ thành viên Ban kiểm soát không kiêm nhiệm chức vụ trong công ty, tỷ lệ thành viên Ban kiểm soát có chuyên môn về tài chính – kế toán – kiểm toán, tỷ lệ sở hữu của thành viên Ban kiểm soát cũng như tỷ lệ sở hữu của thành viên Hội đồng quản trị đối với HVĐCLN Ngoài ra, cũng xem xét đến quản

trị công ty và HVĐCLN, năm 2015 tác giả Nguyễn Trọng Nguyên đã thực hiện nghiên cứu “Tác động của quản trị công ty đến hành vi điều chỉnh thông tin BCTC

9 Huỳnh Thị Vân,2012 Nghiên cứu hành vi điều chỉnh lợi nhuận ở các công ty cổ phần trong năm đầu tiên

niêm yết trên TTCK Việt Nam Luận văn thạc sĩ trường Đại học Đà Nằng

10 Giáp Thị Liên,2014 Nghiên cứu mối quan hệ giữa quản trị công ty và hành vi điều chỉnh lợi nhuận của

công ty niêm yết trên sở giao dịch chứng khoán TP.HCM – Luận văn Thạc sĩ trường ĐH Kinh tế TP.HCM

Trang 18

tại các công ty niêm yết ở VN”11 Tác giả đã khảo sát 195 công ty niêm yết trên TTCK VN bao gồm cả 2 sàn HOSE (107 doanh nghiệp) và HNX (87 doanh nghiệp) trong năm 2012 là năm đầu tiên thông tư 121 về quản trị công ty và thông tư 52 về công bố thông tin có hiệu lực Qua phân tích thống kê mô tả, kết quả cho thấy chất lượng thông tin BCTC chung của các CTNY tại VN chỉ đạt mức dưới trung bình Ngoại trừ đặc biệt tính kịp thời đạt mức trung bình, các đặc tính còn lại đều dưới mức trung bình Mức độ chất lượng thông tin BCTC các công ty dưới trung bình thể hiện chủ yếu ở hai hoạt động trình bày và công bố trong đó tập trung chủ yếu ở thông tin phi tài chính Mặc dù những nội dung liên quan đến chất lượng thông tin BCTC đã được Bộ tài chính yêu cầu thực hiện theo thông tư 52, nhưng hầu hết các doanh nghiệp chỉ trình bày và công bố ở mức độ tuân thủ các nội dung này nhưng chưa hướng tới sự hữu ích của thông tin cho người sử dụng Như vậy cho thấy chất lượng thông tin BCTC thấp chủ yếu do khối lượng và tính trung thực của thông tin phi tài chính, các yếu tố này phụ thuộc rất nhiều vào việc định hướng và giám sát của chính các CTNY

Nghiên cứu khác đi sâu vào đặc điểm hoạt động kiểm toán đối với hành vi

điều chỉnh lợi nhuận có nghiên cứu của Trần Thị Thu Thảo với chủ đề “Nghiên cứu thực nghiệm mối quan hệ giữa một số đặc điểm của công ty kiểm toán và kiểm toán viên đến hành vi điều chỉnh lợi nhuận tại công ty niêm yết trên TTCK VN”12 được thực hiện năm 2014, có 450 quan sát thu thập từ 90 công ty trên cả 2 sàn HOSE và HNX trong 5 năm (2009-2013) và sử dụng mô hình De Angelo Model (1986) được cải tiến bởi Friedlan (1994) để đo lường các khoản dồn tích tự định (DA) Kết quả nghiên cứu cho thấy giới tính kiểm toán viên có ảnh hưởng đến HVĐCLN thông qua các khoản dồn tích tự định (DA), cụ thể các nữ kiểm toán viên chấp nhận DA ở mức giá trị cao hơn so với các kiểm toán viên là nam Thêm vào đó, kết quả cho thấy số năm kinh nghiệm của kiểm toán viên có mối quan hệ ngược chiều với

11 Nguyễn Trọng Nguyên,2015 Tác động của quản trị công ty đến hành vi điều chỉnh thông tin BCTC tại các

công ty niêm yết ở Việt Nam Luận án Tiến sĩ trưởng ĐH Kinh tế TP.HCM

12 Trần Thị Thu Thảo,2014 Nghiên cứu thực nghiệm mối quan hệ giữa một số đặc điểm của công ty kiểm

toán và kiểm toán viên đến hành vi điều chỉnh lợi nhuận tại công ty niêm yết trên TTCK Việt Nam Luận văn

Thạc sĩ trường ĐH Kinh tế TP.HCM

Trang 19

HVĐCLN, số năm kinh nghiệm càng tăng các khoản DA càng giảm, nghĩa là chất lượng BCTC càng cao Ngoài ra, nghiên cứu không nhận thấy được mối quan hệ giữa quy mô công ty kiểm toán (trái ngược với kết quả Phan Thị Thanh Trang 2015), nhiệm kỳ kiểm toán viên, nhiệm kỳ kiểm toán và HVĐCLN của nhà quản lý

Ở góc độ nghiên cứu chung liên quan đến hành vi điều chỉnh lợi nhuận,

nghiên cứu năm 2015 của tác giả Phan Thị Thanh Trang với đề tài “Nghiên cứu hành vi điều chỉnh lợi nhuận các công ty niêm yết trên sở giao dịch chứng khoán TP.HCM”13 Tác giả đã thu thập dữ liệu từ 54 CTNY trên Sở giao dịch chứng khoán thành phố Hồ Chí Minh được chia thành 7 nhóm ngành nghề khác nhau, trong 3 năm và sử dụng mô hình của Friedlan (1994) để đo lường HVĐCLN BCTC Kết quả nghiên cứu cho thấy hầu hết các CTNY trên TTCK đều có HVĐCLN trong những năm niêm yết, đặc biệt là vào năm đầu nhằm thu hút vốn đầu tư Bên cạnh đó tác giả tìm ra mối quan hệ cùng chiều của quy mô công ty đến HVĐCLN, cụ thể là các công ty có quy mô doanh thu càng lớn thì khả năng điều chỉnh lợi nhuận càng cao Thêm vào đó thời gian hoạt động càng lâu thì khả năng các công ty có HVĐCLN càng tăng nguyên nhân do có thể công ty muốn duy trì mức lợi nhuận ổn định, đồng thời tạo sự tin tưởng với các cổ đông Ngoài ra, chất lượng công ty kiểm toán ảnh hưởng đáng kể đến mức độ điều chỉnh lợi nhuận, cụ thể với sự tham gia kiểm toán của các công ty kiểm toán Big 4 đã làm hạn chế HVĐCLN của nhà quản trị

Gần nhất, nghiên cứu về nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng BCTC nhưng có

đề cập đến hành vi điều chỉnh lợi nhuận có nghiên cứu của Nguyễn Thị Phương

Hồng được thực hiện năm 2016 với tên gọi “Các nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng BCTC của công ty niêm yết trên thị trường chướng khoán – bằng chứng thực nghiệm tại VN”14 Tác giả sử dụng dữ liệu của 123 CTNY trên TTCK VN trong giai

đoạn 3 năm (2012-2014) Kết quả nghiên cứu cho thấy trong 23 biến độc lập đưa

13 Phan Thị Thanh Trang,2015 Nghiên cứu hành vi điều chỉnh lợi nhuận các công ty niêm yết trên sở giao

dịch chứng khoán TP.HCM – Luận văn Thạc sĩ trường ĐH Kinh tế TP.HCM

14 Nguyễn Thị Phương Hồng,2016 Các nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng BCTC của công ty niêm yết trên

thị trường chướng khoán –bằng chứng thực nghiệm tại Việt Nam Luận án Tiến sĩ trường ĐH Kinh Tế

TP.HCM

Trang 20

vào mô hình, kết quả phân tích hồi quy mô hình 1 cho thấy có 11 biến có tác động đến chất lượng BCTC Trong số 11 biến có tác động đến biến phụ thuộc (chất lượng BCTC), có 5 biến có tác động thuận chiều đến chất lượng BCTC đó là tính kiêm nhiệm giữa chủ tịch HĐQT và TGĐ, tính độc lập của HĐQT, mức độ chuyên môn tài chính của HĐQT, sự tồn tại kế hoạch thưởng và thời gian niêm yết Có 6 biến có tác động ngược chiều đến chất lượng BCTC đó là quyền sở hữu bởi tổ chức, khả năng thanh toán hiện hành, quy mô công ty, loại ngành công nghiệp, lợi nhuận (ROE) và chính sách chia cổ tức Các biến còn lại bao gồm quyền sở hữu vốn của nước ngoài, quyền sở hữu vốn Nhà nước, quyền sở hữu vốn nhà quản lý và sự tập trung quyền sở hữu, quy mô HĐQT, mức độ thường xuyên của các cuộc họp của HĐQT, đòn bẩy tài chính, tuổi của công ty, tình trạng niêm yết, loại công ty kiểm toán, tính trì hoãn của BCTC và triển vọng phát triển không có tác động đến biến chất lượng BCTC xét về mặt ý nghĩa thống kê

1.3 Khe hổng của nghiên cứu trước và định hướng nghiên cứu của tác giả

Tác giả đã trình bày tổng quan các nghiên cứu quốc tế và nghiên cứu trong nước liên quan tới vấn đề nghiên cứu của tác giả Các công trình nghiên cứu quốc tế đều là những công trình nghiên cứu về mối quan hệ giữa tuổi của CEO, thời gian điều hành cũng như kinh nghiệm của CEO đối với HVĐCLN tại các quốc gia khác nhau trong những thời điểm khác nhau Trong khi các đề tài đã được thực hiện tại

VN đề cập đến là những công trình nghiên cứu về mô hình nhận diện HVĐCLN, HVĐCLN trong năm đầu niêm yết, và quản trị công ty, đặc điểm công ty kiểm toán

có mối quan hệ như thế nào đối với HVĐCLN Tuy nhiên, theo tìm hiểu của tác giả, tác giả chưa tìm thấy nghiên cứu trước công bố chính thức tại Việt Nam với nội dung chỉ tập trung đề cập đến nhân tố tuổi của CEO, thời gian điều hành của CEO

có mối quan hệ đến hành vi điều chỉnh lợi nhuận của các CTNY trên thị trường chứng khoán (TTCK) Việt Nam

 Do đó, nghiên cứu này sẽ nghiên cứu xem xét liệu có mối quan hệ giữa tuổi và thời gian điều hành của CEO đến HVĐCLN hay không Từ đó đưa ra các

Trang 21

phân tích, nhận định cũng như khuyến nghị nhằm giảm thiểu HVĐCLN cũng như cải thiện chất lượng BCTC của các CTNY trên TTCK VN

Trang 22

Kết luận chương 1

Ở chương này, tác giả đã trình bày tổng quan các nghiên cứu trong nước cũng như ở nước ngoài về hành vi điều chỉnh lợi nhuận Nghiên cứu về hành vi điều chỉnh lợi nhuận là một đề tài mang tính hấp dẫn và cấp thiết, có giá trị to lớn đối với người sử dụng BCTC nói riêng và xã hội nói chung

Trên cơ sở phân tích, đánh giá tài liệu nghiên cứu, tác giả đã xác định được nhưng điểm mạnh cũng như khe hổng của các nghiên cứu trước Từ đó, tác giả kế

sẽ kế thừa có chọn lọc điểm hay, điểm mạnh của các nghiên cứu trước nhằm xây dựng mô hình và phương pháp nghiên cứu phù hợp với TTCK VN Đồng thời, tác giả cũng sẽ khắc phục những hạn chế mà các nghiên cứu trong nước chưa làm được

để thực hiện đề tài nghiên cứu có tính mới, tính khác biệt hơn

Trang 23

CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ HÀNH VI ĐIỀU CHỈNH LỢI NHUẬN

Trong chương 2, tác giả sẽ trình bày phần cơ sở lý thuyết về khái niệm, động

cơ của hành vi điều chỉnh lợi nhuận Bên cạnh đó, tác giả cũng sẽ trình bày các thủ thuật điều chỉnh lợi nhuận và các mô hình đo lường hành vi quản trị lợi nhuận trên thế giới của các công ty niêm yết để làm căn cứ xác định các nhân tố ảnh hưởng đến hành vi điều chỉnh lợi nhuận

2.1 Những vấn đề cơ bản về hành vi điều chỉnh lợi nhuận

2.1.1 Khái niệm hành vi điều chỉnh lợi nhuận

Hành vi điều chỉnh lợi nhuận hay còn gọi là quản trị lợi nhuận là một khái niệm đã được nghiên cứu sâu rộng trên thế giới Hiện nay vẫn chưa có một định nghĩa thống nhất về hành vi điều chỉnh lợi nhuận Theo Huỳnh Thị Vân (2012) “Dù

có những tên gọi khác nhau nhưng đó là việc làm “méo mó” số liệu lợi nhuận được thực hiện thông qua hành vi điều chỉnh doanh thu và chi phí Hành vi này thường được gọi là quản trị lợi nhuận”

Trong bài nghiên cứu này tác giả sử dụng định nghĩa của Healy & Wahlen (1999)15 làm cơ sở để định nghĩa HVĐCLN được khái quát như sau:

“Hành vi điều chỉnh lợi nhuận xuất hiện khi các nhà quản lý sử dụng các xét đoán trong BCTC và trong cấu trúc các nghiệp vụ kinh tế để thay đổi BCTC nhằm đánh lừa các bên có liên quan về kết quả HĐKD tiềm ẩn của doanh nghiệp, hoặc nhằm tác động đến các kết quả của hợp đồng mà chúng phụ thuộc vào các số liệu kế toán được báo cáo”

Theo Schipper (1989)16, Arya và các cộng sự (2003)17 cho rằng HVĐCLN có thể có lợi cho quản lý để truyền tải thông tin cá nhân của họ dựa trên hoạt động công ty, và các tác động của hành vi điều chỉnh lợi nhuận đối với các nhà đầu tư có thể được giảm thiểu nếu chi phí thông tin là thấp Còn theo một số nhà nghiên cứu

15 Healy, P M & Wahlen, J M., 1999 A review of the earnings management literature and its implications

fos standard setting Accouting Horizons, 13(4), pp 365-383

16 Schipper, K., 1989 Commentary on Earning Management Accounting Horizons, 3(4), pp 99-102

17 Arya, A., Glover, J.C & Sunder, S., 2003 Are unmanaged earnings always better for shareholders?

Accounting Horizons, Volume 117, pp 111-116

Trang 24

khác cho rằng HVĐCLN làm tăng thông tin bất cân xứng giữa nhà quản và cổ đông, hành vi này làm xuất hiện rủi ro trong việc mất mát tài sản của cổ đông khi có sự xung đột lợi ích giữa cổ đông và nhà quản lý Theo Dechow & các cộng sự (1996)18

cung cấp bằng chứng cho thấy có một sự sụt giảm khoảng 9% trong giá cổ phiếu của những công ty bị SEC điều tra về HVĐCLN Còn theo Võ Văn Nhị và Hoàng Cẩm Trang (2013)19 hành vi điều chỉnh có thể gây bất lợi cho nhà đầu tư và thậm chí còn ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động thực sự của công ty, HVĐCLN tương đồng với nguy cơ phá sản Các công ty điều chỉnh lợi nhuận thì nguy cơ phá sản càng cao

2.1.2 Động cơ điều chỉnh lợi nhuận

Có nhiều động cơ thôi thúc các nhà quản trị thực hiện HVĐCLN mà các đối tượng sử dụng thông tin không thể nhận ra, mục tiêu cuối cùng của việc điều chỉnh lợi nhuận là nhằm thu được lợi ích nhất định cho doanh nghiệp hay cho nhà quản lý Theo Giáp Thị Liên (2014) có bốn động cơ chính đề thôi thúc các nhà quản trị thực hiện HVĐCLN đã được nhắc đến nhiều trong các nghiên cứu là động cơ hợp đồng bồi thường quản lý, động cơ giao ước nợ, động cơ thị trường vốn và động cơ pháp

2.1.2.1 Động cơ hợp đồng bồi thường quản lý

Hợp đồng bồi thường quản lý hay còn gọi là cam kết thưởng dựa trên việc hoàn thành kế hoạch kinh doanh thông qua chỉ tiêu kế hoạch doanh thu và lợi nhuận Khi nhà quản lý được bồi thường một cách rõ ràng hoặc hiển nhiên dựa trên hiệu quả hoạt động của công ty thì họ có thể sẽ che giấu hiệu quả hoạt động thực sự bằng cách điều chỉnh lợi nhuận để có được một khoản bồi thường cao hơn Nhà quản lý có xu hướng hành động để tối đa hóa lợi ích của mình vì vậy đây là một

18 Dechow, M.P., Sloan, G.R & hutton, P.A., 1996 Causes and consequences of earnings manipulations: an

analysis of firms subject to enforcement actions by the SEC Contemporary Accounting Research, 13(1), pp

1-36

19 Võ Văn Nhị & Hoàng Cẩm Trang, 2013 Hành vi điều chỉnh lợi nhuận và nguy cơ phá sản của các công ty

niêm yết trên Sở giao dịch chứng khoán TP.HCM Tạp chí Phát Triển Kinh Tế, số 276

Trang 25

động cơ mạnh khuyến khích các nhà quản lý có HVĐCLN Theo nghiên cứu của Watts & Zimmerman (1990)20 thì cho rằng các nhà quản lý có động lực để chuyển lợi nhuận từ kỳ kế toán tương lai về kỳ kế toán hiện hành khi một kế hoạch giải thưởng tồn tại dựa trên lợi nhuận Bên cạnh đó Healy (1985)21 cũng đưa ra nhận định rằng nhà quản lý sử dụng các ước tính kế toán để điều chỉnh tăng lợi nhuận nhằm đạt được khoản tiền thưởng theo thu nhập Ngoài ra theo nghiên cứu của Noronha & các cộng sự (2008)22 cho thấy động cơ hợp đồng bồi thường quản lý là động cơ mạnh mẽ nhất thúc đẩy nhà quản lý có HVĐCLN tại các CTNY của Trung Quốc

2.1.2.2 Động cơ giao ước nợ

Ngân hàng và chủ nợ luôn xem xét tư cách pháp nhân, lịch sử trả nợ, triển vọng của doanh nghiệp trong tương lai, khả năng sinh lời của kế hoạch kinh doanh, dòng tiền dự án đầu tư để xếp hạng tín dụng và đánh giá khả năng trả nợ của doanh nghiệp trước khi xét duyệt khoản tín dụng cho doanh nghiệp ngoài những tài sản đảm bảo cho khoản vay Các ngân hàng và chủ nợ thường yêu cầu doanh nghiệp đạt được một kết quả kinh doanh nhất định thể hiện qua số liệu kế toán Nếu doanh nghiệp không thực hiện được như trong giao ước nợ thì khả năng ngân hàng và các chủ nợ sẽ xếp hạng tín dụng khách hàng thấp hơn điều này đồng nghĩa với việc doanh nghiệp khó tiếp cận với vốn vay hơn, chi phí vốn vay cao hơn Tương ứng với hạng tín dụng thấp hơn lãi suất vay sẽ cao hơn do ngân hàng xem đây như phần

bù rủi ro khi cho vay khách hàng có mức rủi ro cao hơn Theo Defond & Jiambalvo (1994)23 xem xét một mẫu gồm 90 công ty vi phạm giao ước nợ và thấy rằng các

22 Noronha, C., Zeng, Y & Vinten, G., 2008 Earnings management in China: an exploratory study

Managerial Auditing Journal, 23(4), pp 367-385.

23Defond, M L & Jiambalvo, J 1994 Debt Convenant Violation and Manipulation of Accruals Journal of

Accounting and Economics, 17(1-2), pp 145-176.

Trang 26

công ty thao tác làm tăng thu nhập một năm trước năm vi phạm Sweeney (1994)24

sử dụng một mẫu 130 doanh nghiệp vi phạm giao ước nợ, cung cấp bằng chứng cho thấy rằng trong những năm trước khi vi phạm, các công ty phải đối mặt với chi phí cao khiến họ thao tác bằng cách thay đổi quy trình kế toán mặc định của họ để làm tăng thu nhập

2.1.2.3 Động cơ thị trường vốn

Các nhà quản lý có thể sẽ thực hiện HVĐCLN khi đối diện với các áp lực của thị trường vốn như phát hành cổ phiếu ra công chúng hay hoạt động sát nhập và mua bán doanh nghiệp Ngày càng có nhiều nghiên cứu trong và ngoài nước đưa ra xem xét động cơ của nhà quản lý thực hiện đều chỉnh tăng lợi nhuận trước khi phát hành cổ phiến ra công chúng Bởi vì lợi nhuận là một trong những tiêu chí quan trọng góp phần vào sự ra quyết định lựa chọn danh mục của nhà đầu tư do đó các nhà quản trị thường có động cơ sử dụng các thủ thuật nhầm làm tăng lợi nhuận để làm đẹp BCTC nhằm thu hút nhà đầu tư và gia tăng giá trị thị trường của cổ phiếu Việc xuất hiện thông tin bất cân xứng giữa chủ sở hữu, nhà đầu tư và nhà quản lý tạo cơ hội cho nhà quản lý thao túng giá trị cổ phiếu đặc biệt vào thời điểm phát hành cổ phiếu lần đầu ra công chúng Tại VN, theo nghiên cứu của Huỳnh Thị Vân (2012) cho thấy phần lớn các công ty cổ phần niêm yết trên TTCK VN điều chỉnh tăng lợi nhuận trước khi phát hành cổ phiếu ra công chúng lần đầu (IPO) Ngoài ra theo nghiên cứu của Erickson và Wang (1999)25 cho thấy bằng chứng rằng các doanh nghiệp thổi phồng lợi nhuận nhằm tăng giá cổ phiếu trước hoạt động sát nhập

2.1.2.4 Động cơ pháp lý

Theo kết quả nghiên cứu trong và ngoài nước việc đáp ứng các quy định về pháp lý cũng là động cơ làm xuất hiện HVĐCLN Theo quy định của pháp luật VN

24Sweeney, A P., 1994 Debt-Covenant Violations and Managers Accounting Responses Journal of

Accounting & Economics, 17(3), pp 281-308.

25 Erickson, M & Wang, S.-W, 1999 Earnings management by acquiring firms in stock foc stock mergers

Journal of Accouting and Economics, Volume 27, pp 149-176

Trang 27

một số ngành nghề kinh doanh yêu cầu vốn pháp định như: ngân hàng thương mại

cổ phần vốn pháp định 3000 tỷ đồng, kinh doanh vận chuyển hàng không khai thác lớn hơn 30 tàu bay vốn pháp định 1000 tỷ đồng, thiết lập mạng viễn thông di động mặt đất có sử dụng băng tần số vô tuyến điện vốn pháp định 500 tỷ đồng,… Ngoài

ra còn một số quy định như ngân hàng phải trích lập dự phòng rủi ro tín dụng bao gồm dự phòng chung và dự phòng cụ thể, các công ty bảo hiểm phải trích một tỷ lệ phí bảo hiểm thu được đầu tư vào trái phiếu chính phủ Với những quy định khắt khe đó có thể dẫn tới các doanh nghiệp trong các ngành này khi gặp khó khăn có thể

sẽ thao tác để đáp ứng quy định

Bên cạnh đó quy định về thuế suất thuế thu nhập doanh nghiệp cũng có thể là động cơ gây ra HVĐCLN Tại VN theo điều 10 nghị định 218/2013/NĐ-CP quy định áp dụng thuế suất 20% cho những doanh nghiệp có tổng doanh thu của năm trước liền kề nhỏ hơn 20 tỷ đồng, và áp dụng thuế suất 22% cho những doanh nghiệp còn lại ngoại trừ các doanh nghiệp hoạt động tìm kiếm, thăm dò, khai thác dầu khí và tài nguyên khác tại VN áp dụng từ 32% đến 50% Dễ dàng nhận các công ty có doanh thu bằng hoặc lớn hơn 20 tỷ một ít sẽ có động cơ điều chỉnh giảm doanh thu để hưởng lợi hơn thông qua thuế suất thuế thu nhập doanh nghiệp Theo kết quả nghiên cứu của Nguyễn Thị Minh Trang (2012)26 cũng cho thấy các doanh nghiệp không niêm yết tại VN có xu hướng điều chỉnh giảm lợi nhuận để tiết kiệm chi phí thuế thu nhập doanh nghiệp Bên cạnh đó theo Baralexis (2004)27 phát hiện

ra rằng các công ty nhỏ đang thực sự quan tâm nhiều hơn về tiết kiệm chi phí thuế trong cân nhắc điều chỉnh lợi nhuận Thêm vào đó, theo Noronha & các cộng sự (2008) cho thấy các công ty tư nhân tại Trung Quốc điều chỉnh lợi nhuận vì muốn giảm chi phí thuế thu nhập doanh nghiệp

26 Nguyễn Thị Minh Trang, 2012 Vận dụng mô hình của De Angelo và Friedlan để nhận dạng hành động

điều chỉnh lợi nhuận của nhà quản trị Tạp chí Đại học Đông Á, số 06.

27Baralexis, S., 2004 Creative accouting in small advancing coutries: The Greek case Managerial Auditing

Journal, 19(3), pp 440-461

Trang 28

2.1.3 Thủ thuật điều chỉnh lợi nhuận

Theo định nghĩa của Healy & Wahlen (1999) ta có thể thấy nhà quản lý có thể thực hiện HVĐCLN theo mong muốn chủ quan thông qua hai thủ thuật thông qua lựa chọn điều chỉnh ước tính kế toán hoặc thông qua cấu trúc các nghiệp vụ kinh tế Thứ nhất việc điều chỉnh dựa trên các khoản dồn tích bao gồm: ghi nhận doanh thu khi chưa đủ điều kiện ghi nhận, ghi khống doanh thu, các biện pháp nhằm điều chỉnh các khoản khấu hao, các khoản dự phòng giảm giá tài sản, vốn hóa các khoản chi phí không đủ điều kiện, trích trước các khoản chi phí không phù hợp,… Thứ hai việc điều chỉnh dựa trên các giao dịch thực: bao gồm các biện pháp như: tăng doanh thu thông qua chính sách giá và tín dụng, cắt giảm các chi phí hữu ích hay lựa chọn thời điểm đầu tư hoặc mua bán tài sản cố định (TSCĐ),…

2.1.3.1 Thủ thuật điều chỉnh lợi nhuận thông qua lựa chọn phương pháp kế toán hoặc các ước tính kế toán

Ước tính kế toán là một giá trị gần đúng của một chỉ tiêu liên quan đến BCTC được ước tính trong trường hợp thực tế đã phát sinh nhưng chưa có số liệu chính xác hoặc chưa có phương pháp tính toán chính xác hơn, hoặc một chỉ tiêu thực tế chưa phát sinh nhưng đã được ước tính để lập BCTC Biểu hiện cụ thể của các ước tính chỉ tiêu đã phát sinh là dự phòng phải thu khó đòi, dự phòng giảm giá đầu tư dài hạn, dự phòng giảm giá hàng tồn kho (HTK), trích khấu hao TSCĐ, chi phí trả trước, giá trị sản phẩm dở dang, doanh thu ghi nhận trước, doanh thu hợp đồng xây dựng dở dang và biểu hiện cụ thể của ước tính chỉ tiêu chưa phát sinh là

dự phòng chi phí bảo hành, chi phí trích trước…

Uớc tính kế toán đối với hàng tồn kho

Chuẩn mực kế toán HTK VAS 02 yêu cầu HTK phải được trình bày theo giá thấp hơn giữa giá gốc và giá trị thuần có thể thực hiện được Dự phòng giảm giá HTK: là dự phòng phần giá trị bị tổn thất do giảm giá vật tư, thành phần hàng hóa tồn kho có thể xảy ra trong năm kế hoạch Theo quy định tại điều 4 thông tư 228/2009/TT-BTC khi giá trị thuần có thể thực hiện được nhỏ hơn giá gốc HTK và

Trang 29

đảm bảo điều kiện có hóa đơn, chứng từ hợp pháp theo quy định của Bộ Tài chính hoặc các bằng chứng khác chứng minh giá vốn HTK và là những vật tư hàng hóa thuộc quyền sở hữu của doanh nghiệp tồn kho tại thời điểm lập BCTC thì doanh nghiệp được lập dự phòng giảm giá HTK Đây là khoản mục mang tính ước tính cao nên các nhà quản lý thường điều chỉnh ước tính khoản mục này nhằm tác động đến lợi nhuận theo mong muốn Nhà quản lý có thể lập dự phòng nhiều hơn mức thực tế nhằm làm tăng giá vốn hàng bán để làm giảm lợi nhuận hoặc ngược lại

Ước tính kế toán đối với tài sản cố định

Nhà quản lý cũng có thể sử dụng đánh giá chủ quan của mình để quyết định lựa chọn phương pháp khấu hao cũng như lựa chọn thời gian khấu hao TSCĐ để điều chỉnh lợi nhuận thông qua việc ước tính thời gian sử dụng lợi ích của tài sản Việc quyết định thời gian khấu hao TSCĐ mang tính xét đoán nên nhà quản lý có thể ước tính tăng thời gian sử dụng hữu ích của tài sản để làm giảm chi phí khấu hao hàng năm và làm tăng lợi nhuận hoặc ngược lại Tại VN, khung thời gian trích khấu hao TSCĐ được quy định tại phụ lục 01 của thông tư 45/2013/TT-BTC để xác định thời gian trích khấu hao cho từng loại TSCĐ cụ thể Nếu trích khấu hao nhanh hơn khung thì chi phí vượt khung đó sẽ bị loại ra khỏi chi phí được trừ của kỳ đó khi tính thuế thu nhập doanh nghiệp Ngoài ra, nhà quản lý cũng có thể sử dụng việc vốn hóa chi phí sửa chữa lớn TSCĐ để tăng lợi nhuận

Ước tính kế toán đối với lập dự phòng nợ phải thu khó đòi

Khi doanh nghiệp cung cấp hàng hóa, dịch vụ cho khách hàng mà chưa thu tiền sẽ phát sinh khoản nợ phải thu Dự phòng nợ phải thu khó đòi: là dự phòng phần giá trị bị tổn thất của các khoản nợ phải thu quá hạn thanh toán, nợ phải thu chưa quá hạn nhưng có thể không đòi được do khách nợ không có khả năng thanh toán Theo chuẩn mực kế toán VAS 14 khi xác định khoản phải thu là không chắc chắn thu được (Nợ phải thu khó đòi) thì phải lập dự phòng nợ phải thu khó đòi mà không ghi giảm doanh thu Các khoản nợ phải thu khó đòi khi xác định thực sự là không đòi được thì được bù đắp bằng nguồn dự phòng nợ phải thu khó đòi Còn

Trang 30

theo quy định tại điều 6 thông tư 228/2009/TT-BTC các khoản nợ phải thu khó đòi đảm bảo các điều kiện khoản nợ phải có chứng từ gốc, có đối chiếu xác nhận của khách nợ về số tiền còn nợ (hợp đồng kinh tế, khế ước vay nợ, bản thanh lý hợp đồng, cam kết nợ, đối chiếu công nợ và các chứng từ khác) và nợ phải thu đã quá hạn thanh toán ghi trên hợp đồng kinh tế, các khế ước vay nợ hoặc các cam kết nợ khác Như vậy, nhà quản trị có thể thao tác tuổi nợ để lập dự phòng làm giảm chi phí và tăng lợi nhuận hoặc ngược lại Ngoài ra trong trường hợp nợ phải thu chưa đến hạn thanh toán nhưng tổ chức kinh tế đã lâm vào tình trạng phá sản hoặc đang làm thủ tục giải thể; người nợ mất tích, bỏ trốn, đang bị các cơ quan pháp luật truy

tố, giam giữ, xét xử hoặc đang thi hành án hoặc đã chết… thì doanh nghiệp dự kiến mức tổn thất không thu hồi được để trích lập dự phòng Nhà quản trị có thể thông qua việc ước tính tỷ lệ nợ không thể thu hồi cao hơn để làm giảm lợi nhuận hoặc ngược lại

Các khoản mang tính chất ước tính khác

Ngoài lựa chọn điều chỉnh ước tính các khoản mục HTK, TSCĐ và nợ phải thu khó đòi thì nhà quản lý còn có thể điều chỉnh các khoản mục mang tính chất ước tính khác như ước tính tỷ lệ hoàn thành hợp đồng xây dựng để ghi nhận doanh thu,

dự phòng đầu tư ngắn hạn, dài hạn, chi phí bảo hành,…

Lựa chọn phương pháp kế toán đối với hàng tồn kho, tài sản cố định

Theo chuẩn mực kế toán quốc tế IAS 2 có ba phương pháp tính giá HTK như sau: phương pháp nhập trước – xuất trước, bình quân gia quyền hay thực tế đích danh Phương pháp xác định giá trị HTK khác nhau sẽ ảnh hưởng đến giá trị hàng tồng kho cuối kỳ, giá vốn hàng bán trong kỳ từ đó ảnh hưởng đến lợi nhuận báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh (BCKQHĐKD)

Theo chuẩn mực kế toán TSCĐ VAS 03 có các phương pháp khấu hao khác nhau như phương pháp khấu hao đường thẳng, khấu hao theo số dư giảm dần hay khấu hao theo số lượng sản phẩm Việc áp dụng phương pháp khấu hao khác nhau

sẽ tác động làm chi phí khấu hao khác nhau dẫn đến lợi nhuận sẽ bị thay đổi Ví dụ,

Trang 31

khi muốn giảm lợi nhuận trong những năm đầu khi mua tài sản thì nhà quản lý sẽ chọn phương pháp khấu hao theo số dư giảm dần thay vì khấu hao theo đường

thẳng

2.1.3.2 Thủ thuật điều chỉnh lợi nhuận thông qua cấu trúc các nghiệp vụ kinh tế

Cắt giảm hoặc lựa chọn thời điểm ghi nhận chi phí

Nhà quản trị có thể cắt giảm các chi phí hữu ích như chi phí nghiên cứu và phát triển, chi phí quảng cáo, chi phí duy tu bảo dưỡng thiết bị để tránh lỗ hoặc nhằm đạt được mức lợi nhuận kỳ vọng trong kỳ Việc này có thể làm đẹp lợi nhuận BCTC trong ngắn hạn nhưng việc cắt giảm những chi phí này có thể làm ảnh hưởng tiêu cực đến tình hình kinh doanh, sản xuất của doanh nghiệp trong những năm sau

Ngoài ra nhà quản trị cũng có thể lựa chọn thời điểm ghi nhận chi phí vào năm sau để làm đẹp lợi nhuận trong năm báo cáo Tuy việc này không làm ảnh hưởng đến phát triển doanh nghiệp trong dài hạn nhưng làm cho cổ đông, nhà đầu

tư không có cái nhìn khách quan về tình hình tài chính thực tế của công ty

Tăng doanh thu qua chính sách giá và tín dụng

Khi thấy nguy cơ có thể không đạt được kế hoạch đặt ra vào thời điểm gần kết thúc năm tài chích, các nhà quản trị thường sử dụng biện pháp nới lỏng các điều kiện tín dụng, giảm giá bán hoặc ra thông báo nâng giá vào năm sau để kích thích khách hàng mua hàng

Việc nới lỏng các điều kiện bán hàng trả chậm không yêu cầu khách hàng thanh toán ngay, nâng hạn mức tín dụng cho khách hàng sẽ làm tăng doanh số và lợi nhuận của doanh nghiệp trong kỳ Thủ thuật này được ví như việc chuyển doanh thu

và lợi nhuận của kỳ sau sang kỳ hiện tại Tuy nhiên, việc nới lỏng điều kiện và hạn mức tín dụng có thể đẩy doanh nghiệp vào tình thế khó khăn khi có quá nhiều nợ phải thu và có thể sẽ làm phát sinh nhiều khoản nợ phải thu khó đòi gây thiệt hại cho doanh nghiệp

Trang 32

Bên cạnh đó, các nhà quản trị có thể thông qua chính sách giá như khuyến mãi, giảm giá hàng bán trong dịp cuối năm hoặc ra thông báo tăng giá trong năm tiếp theo để bắt buộc khách hàng tự nguyện tăng doanh số trong kỳ Khách hàng sẽ sẵn sàng mua sản phẩm của doanh nghiệp để trữ hàng và tiết kiệm chi phí đầu vào cho năm sau Tuy nhiên việc giảm giá hàng bán có thể làm giảm biên lợi nhuận của doanh nghiệp không đủ bù đắp chi phí phát sinh hoặc việc tác động tiêu cực của thông báo tăng giá khiến khách hàng tìm kiếm nhà cung cấp khác thay vì mua hàng

để trữ

Ngoài ra, dễ dàng nhận thấy việc áp dụng hai phương pháp trên sẽ cho phép công ty tăng doanh số thông qua sản xuất hàng hóa vượt mức công suất tối ưu Ưu điểm việc này cho phép công ty giảm chi phí cho đơn vị sản phẩm nhờ tận dụng chi phí cố định tuy nhiên việc này có thể khiến máy móc thiết bị phải làm việc quá mức, ảnh hưởng tiêu cực tới năng suất và độ bền Bên cạnh đó sản phẩm làm ra nhiều, nếu không bán được, sẽ phát sinh chi phí bảo quản và HTK lâu ngày sẽ bị giảm giá trị

Lựa chọn thời điểm mua hoặc bán tài sản

Nhà quản trị cũng có thể quyết định thời điểm mua, nhượng bán TSCĐ để đẩy nhanh hoặc làm chậm lại việc ghi nhận chi phí và thu nhập khác của doanh nghiệp được ghi nhận vào BCKQHĐKD trong kỳ Từ đó, làm cho lợi nhuận trong niên độ hiện hành có thể tăng hoặc giảm Ví dụ, nhà quản trị có thể trì hoãn việc thanh lý máy móc thiết bị cũ, tốn kém chi phí sửa chữa, vận hành bảo dưỡng nếu việc thanh lý tài sản gây ra một khoản lỗ trong khi doanh nghiệp đang cần đạt được

kế hoạch lợi nhuận kỳ vọng

Lựa chọn thời điểm đầu tư, thanh lý các khoản đầu tư

Nhà quản trị có thể trì hoãn việc bán các khoản đầu tư không hiệu quả để tránh ghi nhận lỗ trong kỳ báo cáo hoặc đạt được lợi nhuận kỳ vọng trong kỳ báo cáo nhưng việc tiếp tục nắm giữ các khoản đầu tư không hiệu quả này có thể sẽ càng gây nhiều tổn thất cho doanh nghiệp trong tương lai

Trang 33

Ngoài ra, nhà quản trị có thể bán ngay các khoản đầu tư đang hiệu quả và có khả năng sinh lời cao trong tương lai để tăng lợi nhuận trong kỳ báo cáo nhằm tăng thêm lợi nhuận trong năm hiện tại Việc áp dụng biện pháp này có nghĩa là công ty

tự nguyện bỏ qua tiềm năng sinh lợi lớn từ các khoản đầu tư này trong những năm tiếp theo để tăng lợi nhuận trong năm hiện tai

2.1.4 Mô hình nhận diện hành vi điều chỉnh lợi nhuận trong thực

nghiệm

Nguyên tắc kế toán theo cơ sở dồn tích (Accrual basic) được xem như cơ sở của hành vi điều chỉnh lợi nhuận Đây là một trong các nguyên tắc kế toán cơ bản nhất chi phối các phương pháp kế toán cụ thể trong kế toán doanh nghiệp

Kế toán cơ sở dồn tích được định nghĩa là phương pháp kế toán dựa trên quy tắc Dự thu – Dự chi Qua đó, mọi nghiệp vụ kinh tế, tài chính của doanh nghiệp liên quan đến tài sản – nguồn vốn, doanh thu - chi phí phải được ghi sổ kế toán vào thời điểm phát sinh, mà không dựa vào thời điểm thực thu hoặc thực chi Ngoài ra, theo phương pháp kế toán này, lợi nhuận là phần chênh lệch giữa doanh thu và chi phí

Do đó, các BCTC và BCKQHĐKD được lập trên cơ sở dồn tích có thể phản ánh đầy đủ các giao dịch của doanh nghiệp kéo dài qua các kỳ kế toán khác nhau, như

nợ phải thu, nợ phải trả, khấu hao, dự phòng,….Tuy nhiên, vì những đặc điểm nói trên, kế toán cơ sở dồn tích cũng tạo ra cơ hội cho nhà quản lý điều chỉnh lợi nhuận thông qua các giao dịch không bằng tiền nhằm đạt đươc mục tiêu nào đó

Kế toán cơ sở tiền (Cash basic) là phương pháp kế toán dựa trên quy tắc Thực thu – Thực chi tiền Theo đó, thu nhập và chi phí chỉ được ghi nhận tại thời điểm thực thu tiền và thực chi Khác với kế toán theo cơ sở dồn tích, kế toán theo

cơ sở tiền chỉ cho phép ghi nhận các giao dịch phát sinh bằng tiền Một ưu điểm nổi bật của kế toán theo cơ sở tiền là tính khách quan cao, tiền thu vào và chi ra là những hoạt động hữu hình, cụ thể không bị chi phối ý một các chủ quan bởi các nhà quản lý

Nếu lợi nhuận được xác định theo cở sở tiền, lợi nhuận và dòng tiền từ HĐKD trong một kỳ sẽ bằng nhau Tuy nhiên, kế toán theo cơ sở tiền hiện nay

Trang 34

được sử dụng để lập báo cáo lưu chuyển tiền tệ, trong khi đó, BCKQHĐKD lại được áp dụng cơ sở dồn tích, điều này dẫn đến độ vênh gữa lợi nhuận và dòng tiền trình bày trên báo cáo lưu chuyển tiền tệ Các nhà nghiên cứu kế toán gọi độ vênh này là tổng biến kế toán dồn tích (Total accruals-TA) và được tính bằng công thức

Tổng biến kế toán dồn tích (TA) = Lợi nhuận sau thuế - Lưu chuyển tiền thuần từ HĐKD

Tổng biến kế toán dồn tích lại gồm 2 biến thành phần chính, cụ thể: kế toán dồn tích không điều chỉnh (Nondiscretionary accruals –NDA) và dồn tích có điều chỉnh (Discretionary accruals –DA) Trong đó, biến NDA thể hiện điều kiện kinh doanh, tùy thuộc vào đặc điểm hoạt động kinh doanh của từng đơn vị doanh nghiệp

cụ thể, do đó không thể bị điều chỉnh bởi nhà quản lý, ví dụ như độ dài của chu kỳ kinh doanh, chu kỳ sống của sản phẩm; ngược lại, nhà quản lý có thể điều chỉnh biến DA thông qua việc lựa chọn chính sách kế toán áp dụng hoặc tác động vào nghiệp vụ kinh tế phát sinh

TA = DA + NDA

Từ những lập luận nói trên, có thể nhận định việc phân tích DA sẽ giúp đánh giá liệu có sự tác động từ các nhà quản nhằm chi phối thông tin lợi nhuận hay không Theo nguyên tắc chung khi DA mang giá trị dương quá cao thì nguy cơ nhà quản trị đang thổi phồng lợi nhuận, hay âm quá thấp có thể là biểu hiện nhà quản trị đang che giấu lợi nhuận

Trang 35

Để ước tính giá trị của DA trong TA, các nhà nghiên cứu trên thế giới đã đưa

ra nhiều mô hình khác nhau Theo tổng hợp của Eli Bartov và các cộng sự (2000)28

có các mô hình được các nhà nghiên cứu trên thế giới sử dụng là Healy model (1985), De Angelo model (1986), Jones model (1991), Friedlan (1994), Modified Jones model (1995), Industry model (1995) Trong luận văn của mình tác giả xin trình bày sơ lược về sáu mô hình như sau:

Healy model (1985)

Theo cách tiếp cận của Healy, phần không thể điều chỉnh chính là trung bình tổng biến dồn tích các năm trước Giá trị trung bình của tổng các khoản dồn tích trong giai đoạn ước tính là giá trị các khoản dồn tích không tự định (NDA) Mô hình để tính NDA như sau:

DA it = TA it /A it-1 - NDA it

Với: NDA : Các khoản dồn tích không thể ước tính;

TA : Tổng các khoản dồn tích tính theo tổng tài sản

t : năm sự kiện (năm nghiên cứu hành động điều chỉnh lợi nhuận)

n : số năm trong kỳ ước tính

i : công ty I cần nghiên cứu hành vi điều chỉnh lợi nhuận

Theo mô hình của Healy, khi không có hành động điều chỉnh lợi nhuận của nhà quản trị, DA bằng 0 và TA chính là NDA NDA chính là giá trị trung bình của

TA Hay nói cách khác NDA không thay đổi từ năm này sang năm khác

De Angelo model (1986)

28Eli Bartov, Ferdinand A Gul & Judy S.L Tsui., 2000 Discretionary-Accruals Models and Audit

qualifications

Trang 36

Mô hình của DeAngelo, giả định rằng các thành phần biến kế toán không thể điều chỉnh (NDA) sinh ra là ngẫu nhiên và bằng với tổng biến kế toán dồn tích (TA) của thời kỳ t-1, do đó sự thay đổi trong tổng số biến kế toán dồn tích (TA) giữa thời

kỳ t và thời kỳ t-1 được giả định là do việc thực hiện các điều chỉnh kế toán:

DA it = TA it – TA it-1

Với: DAit là biến kế toán có thể điều chỉnh năm t

TAit là biến kế toán dồn tích năm t

TAit-1 là biến kế toán dồn tích năm t-1

Theo DeAngelo, số biến kế toán dồn tích (TA) được giả định chính là lợi nhuận sau thuế trừ dòng tiền hoạt động kinh doanh Phần biến kế toán có thể điều chỉnh (DA) chính là lợi nhuận điều chỉnh được thực hiện bởi lựa chọn kế toán có cân nhắc của nhà quản trị

Jones model (1991)

Jones (1991) đưa ra một mô hình làm suy yếu đi giả định rằng các khoản dồn tích không thể điều chỉnh (NDA) là các bất biến Theo Jones, phần NDA phụ thuộc vào doanh thu, quy mô của tài sản cố định (nguyên giá) Mô hình này nỗ lực để kiểm soát tác động của những thay đổi trong bối cảnh kinh tế của một doanh nghiệp lên các khoản dồn tích không thể điều chỉnh (NDA) Mô hình được thể hiện như sau:

Với: NDAit : Tổng các khoản dồn tích không tự định năm t

Ait-1 : Tổng tài sản tại năm t-1

ΔREVit : Chênh lệch trong doanh thu năm t so với năm t-1

PPEit : Tổng giá trị còn lại của TSCĐ tại năm t

Các hệ số α1, α2, α3 được ước lượng bằng phương pháp bình phương bé nhất (OLS) từ phương trình hồi quy sau:

Trang 37

Để khắc phục nhược điểm trên, Friedlan (1994) đã cải tiến mô hình của De Angelo bằng cách kiểm soát sự thay đổi mức độ HĐKD của doanh nghiệp bằng cách chia các biến của mô hình De Angelo cho doanh thu, cụ thể

DA it = TA it / Doanh thu it – TA it-1 / Doanh thu it-1

Bên cạnh đó, trên thực tế giá trị của DA của từng công ty có thể mang giá trị

âm hoặc dương tùy thuộc vào động cơ của nhà quản trị trong kỳ muốn thổi phồng (DA>0) hay che giấu bớt lợi nhuận (DA<0) đã thực hiện thực tế trong kỳ

Modified Jones model (1995)

Trong mô hình nguyên gốc, Jones Model (1991) đưa vào phương trình hồi quy hai biến là REV và PPE Theo diễn giải, giá trị REV thể hiện sự biến động doanh thu thuần của doanh nghiệp trong kỳ kế toán, nó phản ánh tình hình và môi trường HĐKD và là khoản mục mang tính khách quan không bị nhà quản trị lợi dụng để điều chỉnh lợi nhuận trong kỳ Tuy nhiên, ở mục chú giải số 31 tại trang

212 trong nghiên cứu của mình, tác giả cũng có đề cập tới những hạn chế trong diễn

Trang 38

giải của mình khi chọn ΔREV làm biến nghiên cứu Bà cho rằng doanh thu thuần cũng có thể bị tác động thông qua các khoản doanh thu bị ghi nhận không đúng niên

độ và các khoản vay có thể là doanh thu khống của doanh nghiệp Xuất phát từ hạn chế kể trên của mô hình gốc, các nhà nghiên cứu sau này đưa them biến ΔREC nhằm loại bỏ ảnh hưởng của các khoản doanh thu dồn tích do sự tăng lên của khoản mục phải thu khách hàng trong kỳ, qua đó giá trị doanh thu thuần tăng them phản ánh chính xác hơn môi trường kinh doanh của doanh nghiệp trong năm đó

NDA it = α 1 (1/A it-1 ) + α 2 (ΔREV it - ΔREC it ) + α 3 (PPE it )

Với: ΔRECt là chênh lệch trong khoản mục phải thu khách hàng năm t so với năm

t-1

Industry model (1995)

Tương tự như mô hình Jones Model, mô hình Industry Model cũng làm suy yếu giả định các khoản dồn tích không thể điều chỉnh (NDA) là bất biến theo thời gian Tuy nhiên, thay vì nỗ lực để mô hình hóa mộ cách trực tiếp các yếu tố quyết định của các khoản dồn tích không thể điều chỉnh (NDA) là giống nhau giữa các doanh nghiệp trong cùng một ngành Mô hình được trình bày như sau:

NDA it = γ 1 + γ 2 median I (TA it )

Với: medianI(TAt): giá trị trung vị của tổng các khoản dồn tích tính theo tổng tài sản của các doanh nghiệp không thuộc mẫu có cùng mã số SIC

γ1, γ2 là các thông số được ước tính bằng hồi quy OLS các quan sát trong giai đoạn ước tính

2.2 Lý thuyết nền

Lý thuyết đại diện (Agency theory)

Trong những cuối thập niên 60 và đầu những năm 70 của thế kỷ trước, các nhà kinh tế học đã phát hiện ra sự hiện diện cơ chế chia sẻ rủi ro giữa các cá nhân hoặc các nhóm lợi ích trong các tổ chức kinh doanh (Arrow, 1971, Wilson 1968) Được giới thiệu lần đầu tiên bởi Ross (1973) và Mitnick (1973), lý thuyết đại diện

Trang 39

ra đời đã củng cố cơ sở lý thuyết liên quan đến cơ chế chia sẻ rủi ro trong môi trường doanh nghiệp hiện đại

Lý thuyết đại diện lập luận rằng trong môi trường doanh nghiệp hiện đại, đặc biệt là trong các công ty đại chúng, tồn tại một mối quan hệ mà ở đó người chủ vốn góp là bên ủy quyền (principals) trong khi các nhà quản lý là bên đại diện hay (Agency) (Donaldson và Davis, 1991; Mitnick, 1973) mối quan hệ này được ẩn dụ bằng một hợp đồng (Jensen & Meckling, 1976)

Tuy nhiên, theo lý thuyết này, hai chủ thể của mối quan hệ này không có sự thống nhất trong mục tiêu hoạt động và trong mức độ chịu rủi ro Điều này dẫn đến những biểu hiện của chủ nghĩa cơ hội từ nhà quản lý Với quyền lập quyết định trong tay, họ có khả năng điều hành hoạt động của doanh nghiêp theo hướng nhằm tối đa hóa lợi ích cho cá nhân hơn là cho các cổ đông công ty (Williamson, 1985)

Trong thị trường vốn và thị trường lao động không hoàn hảo, những hành vi này có thể sẻ dẫn đến tổn thất kinh tế cho các cổ đông để phục vụ lợi ích tiêu dùng riêng của những cá nhân cơ hội Ngoài những hành vi tư lợi về kinh tế, lý thuyết đại diện cũng đề cấp đến việc các nhà quản lý cũng bỏ qua các cơ hội mang lại lợi nhuận mà các cổ đông của công ty hướng đến do lo ngại rủi ro

Như vậy, từ lý thuyết đại diện có thể kết luận nguồn gốc của những hành vi

tư lợi là do sự tách biệt về quyền sở hữu và quyền kiểm soát hay chính là do mâu thuẫn lợi ích giữa nhà quản lý và các cổ đông Tuy nhiên, việc để các cổ đông có thể kiểm soát và nhận diện được những hành vi cơ hội của nhà quản lý cũng không phải là một vấn đề đơn giản, nó đòi hỏi rất nhiều thời gian, cũng như nguồn lực của

tổ chức

Để hạn chế các hành vi này, đã có nhiều hướng tiếp cận khác nhau được đề xuất, trong đó bao gồm việc các cổ đông gắn kết lợi ích của nhà quản lý nhà quản lý với lợi ích chung của cổ đông, hay hy sinh một phần lợi ích của mình (chi phí đại diện) để khích lệ những đóng góp tích cực của nhà quản lý đến doanh nghiệp thông qua các hình thức khen thưởng phù hợp bằng tiền mặt và cổ phiếu có hoặc không có điều kiện (restricted stock grant) quyền chọn mua cổ phiếu (stock options grant) dựa

Trang 40

trên kết quả HĐKD dài hạn (Long-term bonus), hoặc thưởng dựa trên kết quả HĐKD đạt được (performance unit grant) Dù vậy, việc vận dụng chi phí đại diện như lương cần phải đi đôi với một cơ chế điều hành quản lý chặt chẽ, do đây có thể

là động lực tiêu cực dẫn đến những thủ thuật khác để đạt được mong muốn cá nhân của nhà quản lý

Lý thuyết thông tin bất cân xứng (Asymmetric Information)

Lần đầu giới thiệu vào những năm đầu thập niên 1970 bởi George Akerlof, Michael Spence và Jose Stiglitz, lý thuyết thông tin bất cân xứng (Asymmetric Information) là một trong những lý thuyết kinh tế vĩ đại nhất thế kỷ 20, mang lại giải thuởng Nobel kinh tế danh giá cho Akerlof cùng các đồng sự năm 2001

Trong bài viết “The market for “lemons”: uncertainty quality” xuất bản năm

1970, tác giả Akerlof chỉ ra rằng có sự xuất hiện của thông tin bất cân xứng trên thị trường khi một bên tham gia nào đó trong các giao dịch kinh tế (bên mua hoặc bên bán) sở hữu một lượng thông tin đầy đủ hơn về đặc tính sản phẩm Biểu hiện của hiện tượng này là tình trạng những thông tin cần thiết không được cập nhật kịp thời, đầy đủ, chính xác và công bằng đến tất cả những bên liên quan tham gia giao dịch

Ngoài ra, thông tin bất cân xứng cũng đồng nghĩa với sự bất cân xứng về lợi ích trong giao dịch kinh tế Đối với những thị trường nhạy cảm mà ở đó thông tin liên quan đến định giá là một mối quan tâm đặc thù như thị trường chứng khoán, khi mà các bên tham gia giao dịch không có được thông tin như nhau (ví dụ: ban điều hành công ty, cổ đông lớn có nhiều thông tin hơn, có thông tin sớm hơn hoặc tiếp cận thông tin dễ dàng hơn so với các bên còn lại (nhà đầu tư nhỏ lẻ)), có thể gây ra những tác động tiêu cực đến không chỉ việc ra quyết định đầu tư của các nhà đầu tư mà còn quá trình huy động vốn đầu tư của doanh nghiệp Khi đó có thể dẫn đến các giao dịch chứng khoán thất bại, kết quả là sự bất lực và sụp đổ của của thị trường này

Để khắc phục tình trạng thông tín bất cân xứng, lý thuyết thông tin bất cân xứng của Akerlof cùng các cộng sự (1973) đề xuất sử dụng cơ chế phát tín hiệu (signaling), trong đó bên có nhiều thông tin có thể phát tín hiệu một cách trung thực

Ngày đăng: 11/09/2017, 09:45

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Giáp Thị Liên, 2014. Nghiên cứu mối quan hệ giữa quản trị công ty và hành vi điều chỉnh lợi nhuận của công ty niêm yết trên sở giao dịch chứng khoán TP.HCM – Luận văn Thạc sĩ trường ĐH Kinh tế TP.HCM Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu mối quan hệ giữa quản trị công ty và hành vi điều chỉnh lợi nhuận của công ty niêm yết trên sở giao dịch chứng khoán TP.HCM
2. Huỳnh Thị Vân, 2012. Nghiên cứu hành vi điều chỉnh lợi nhuận ở các công ty cổ phần trong năm đầu tiên niêm yết trên TTCK VN. Luận văn thạc sĩ trường Đại học Đà Nằng Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu hành vi điều chỉnh lợi nhuận ở các công ty cổ phần trong năm đầu tiên niêm yết trên TTCK VN
3. Nguyễn Thị Minh Trang, 2012. Vận dụng mô hình của De Angelo và Friedlan để nhận dạng hành động điều chỉnh lợi nhuận của nhà quản trị. Tạp chí Đại học Đông Á, số 06 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tạp chí Đại học Đông Á
4. Nguyễn Thị Phương Hồng, 2016. Các nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng BCTC của công ty niêm yết trên thị trường chướng khoán –bằng chứng thực nghiệm tại VN. Luận án Tiến sĩ trường ĐH Kinh Tế TP.HCM Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng BCTC của công ty niêm yết trên thị trường chướng khoán –bằng chứng thực nghiệm tại VN
5. Nguyễn Trọng Nguyên, 2015. Tác động của quản trị công ty đến hành vi điều chỉnh thông tin BCTC tại các công ty niêm yết ở VN. Luận án Tiến sĩ trường ĐH Kinh tế TP.HCM Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tác động của quản trị công ty đến hành vi điều chỉnh thông tin BCTC tại các công ty niêm yết ở VN
6. Phan Thị Thanh Trang, 2015. Nghiên cứu hành vi điều chỉnh lợi nhuận các công ty niêm yết trên sở giao dịch chứng khoán TP.HCM – Luận văn Thạc sĩ trường ĐH Kinh tế TP.HCM Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu hành vi điều chỉnh lợi nhuận các công ty niêm yết trên sở giao dịch chứng khoán TP.HCM
7. Trần Thị Thu Thảo, 2014. Nghiên cứu thực nghiệm mối quan hệ giữa một số đặc điểm của công ty kiểm toán và kiểm toán viên đến hành vi điều chỉnh lợi nhuận tại công ty niêm yết trên TTCK VN. Luận văn Thạc sĩ trường ĐH Kinh tế TP.HCM Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu thực nghiệm mối quan hệ giữa một số đặc điểm của công ty kiểm toán và kiểm toán viên đến hành vi điều chỉnh lợi nhuận tại công ty niêm yết trên TTCK VN
8. Trương Thùy Dương, 2015. Nghiên cứu ảnh hưởng các đặc tính của hội đồng quản trị đến sự trình bày sai sót số liệu trên BCTC tại các công ty niêm yết trên TTCK VN. Luận văn Thạc sĩ trường ĐH Kinh tế TP.HCM Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu ảnh hưởng các đặc tính của hội đồng quản trị đến sự trình bày sai sót số liệu trên BCTC tại các công ty niêm yết trên TTCK VN
9. Võ Văn Nhị &amp; Hoàng Cẩm Trang, 2013. Hành vi điều chỉnh lợi nhuận và nguy cơ phá sản của các công ty niêm yết trên Sở giao dịch chứng khoán TP.HCM.Tạp chí Phát Triển Kinh Tế, số 276. Tiếng Anh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tạp chí Phát Triển Kinh Tế
1. Abdul Rahman, R., &amp; Haneem Mohamed Ali, F. (2006). Board, audit committee, culture and earnings management: Malaysian evidence. Managerial Auditing Journal, 21(7), 783-804 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Managerial Auditing Journal, 21
Tác giả: Abdul Rahman, R., &amp; Haneem Mohamed Ali, F
Năm: 2006
2. Agrawal &amp; Chadha, (2005). Corporate Governance and Accounting Scandals. Journal of Law and Economics, 48: 371-406 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Journal of Law and Economics
Tác giả: Agrawal &amp; Chadha
Năm: 2005
3. Aharony, J., LIN, C. J., &amp; Loeb, M. P. (1993). Initial public offerings, accounting choices, and earnings management. Contemporary accounting research, 10(1), 61-81 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Contemporary accounting research, 10
Tác giả: Aharony, J., LIN, C. J., &amp; Loeb, M. P
Năm: 1993
4. Akhtaruddin, M. (2005). Corporate mandatory disclosure practices in Bangladesh. The International Journal of Accounting, 40(4), 399-422 Sách, tạp chí
Tiêu đề: The International Journal of Accounting, 40
Tác giả: Akhtaruddin, M
Năm: 2005
5. Ali and Zhang, (2013). CEO Tenure and Earnings Management. Journal of Accounting and Economics Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ali and Zhang, (2013). CEO Tenure and Earnings Management
Tác giả: Ali and Zhang
Năm: 2013
6. Alsaeed, K. (2006). The association between firm-specific characteristics and disclosure: The case of Saudi Arabia. Managerial Auditing Journal, 21(5), 476- 496 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Managerial Auditing Journal, 21
Tác giả: Alsaeed, K
Năm: 2006
7. Anderson, R. C., &amp; Reeb, D. M. (2003). Founding‐ family ownership and firm performance: evidence from the S&amp;P 500. The journal of finance, 58(3), 1301- 1328 Sách, tạp chí
Tiêu đề: The journal of finance, 58
Tác giả: Anderson, R. C., &amp; Reeb, D. M
Năm: 2003
8. Anderson, R.C. and Reeb, D.M., 2003. Founding-family ownership and firm performance: evidence from the S&amp;P 500. Journal of Finance, 58:1301-27 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Journal of Finance
9. Armstrong, Jagolinzer, and Larcker, (2010). Chief Executive Officer Equity Incentives and Accounting Irregularities. Journal of Accounting Research, 48(2): 225–271 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Journal of Accounting Research
Tác giả: Armstrong, Jagolinzer, and Larcker
Năm: 2010
10. Arya, A., Glover,. J.C &amp; Sunder, S., 2003. Are unmanaged earnings always better for shareholders? Accounting Horizons, Volume 117, pp 111-116 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Accounting Horizons
11. Arrow, K. (1971) The functions of the executive. Cambridge, MA: Harvad University Press Sách, tạp chí
Tiêu đề: The functions of the executive

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm