Vì vậy đề tài “Tác động của chính sách vay vốn và đào tạo nghề của Chính phủ đến giảm nghèo đối với vùng dân tộc thiểu số trên địa bàn tỉnh tỉnh An Giang giai đoạn 2008-2013” được chọn
Trang 1LÂM QUANG THI
TÁC ĐỘNG CỦA CHÍNH SÁCH VAY VỐN VÀ ĐÀO TẠO NGHỀ CỦA CHÍNH PHỦ ĐẾN GIẢM NGHÈO ĐỐI VỚI VÙNG DÂN TỘC THIỂU SỐ TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH
AN GIANG GIAI ĐOẠN 2008 - 2013
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
TP HỒ CHÍ MINH - NĂM 2017
Trang 2LÂM QUANG THI
TÁC ĐỘNG CỦA CHÍNH SÁCH VAY VỐN VÀ ĐÀO TẠO NGHỀ CỦA CHÍNH PHỦ ĐẾN GIẢM NGHÈO ĐỐI VỚI VÙNG DÂN TỘC THIỂU SỐ TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH
AN GIANG GIAI ĐOẠN 2008 - 2013
Trang 3Tôi cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu và kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nghiên cứu nào khác
Ngày 10 tháng 05 năm 2017
Tác giả
Lâm Quang Thi
Trang 4CÁC TỪ VIẾT TẮT
Trang 5MỤC LỤC
TRANG PHỤ BÌA
LỜI CAM ĐOAN
CÁC TỪ VIẾT TẮT
DANH MỤC CÁC BẢNG
DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ
Chương 1 GIỚI THIỆU 1
1.1 ĐẶT VẤN ĐỀ 1
1.2 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU 2
1.2.1 Mục tiêu chung 2
1.2.2 Mục tiêu cụ thể 2
1.3 CÂU HỎI NGHIÊN CỨU 3
1.4 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU 3
1.4.1 Đối tượng nghiên cứu 3
1.4.2 Phạm vi nghiên cứu 3
1.5 BỐ CỤC CỦA ĐỀ TÀI 3
Chương 2 CƠ SỞ LÝ THUYẾT 5
2.1 LÝ THUYẾT LIÊN QUAN 5
2.1.1 Nghèo 5
2.1.2 Đánh giá chính sách 9
2.2 CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN NGHÈO 10
2.2.1 Vai trò của tín dụng đối với giảm nghèo 10
2.2.2 Các yếu tố về nhân khẩu học 11
2.2.3 Tình trạng việc làm và giáo dục của hộ 12
2.2.4 Năng lực sản xuất của hộ 12
2.2.5 Các điều kiện bên ngoài 13
2.2.6 Đặc điểm dân tộc 13
2.3 CÁC NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI 14
Trang 62.4 TÓM TẮT CHƯƠNG 2 18
Chương 3 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 19
3.1 MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU 19
3.1.1 Khung nghiên cứu 19
3.1.2 Thiết kế nghiên cứu 19
3.1.3 Mô hình đánh giá tác động 20
3.1.4 Phương pháp phỏng vấn sâu 21
3.2 DỮ LIỆU NGHIÊN CỨU 22
3.2.1 Mô tả và định nghĩa các biến trong mô hình 22
3.2.2 Dữ liệu thứ cấp 24
3.2.3 Dữ liệu sơ cấp 25
3.2.4 Kiểm soát chất lượng nghiên cứu định lượng 28
3.2.5 Phương pháp phân tích số liệu 29
3.3 TÓM TẮT CHƯƠNG 3 29
Chương 4 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 30
4.1 TỔNG QUAN CHƯƠNG TRÌNH GIẢM NGHÈO NGƯỜI DÂN TỘC THIỂU SỐ TẠI TỈNH AN GIANG GIAI ĐOẠN 2008 – 2013 30
4.1.1 Đặc điểm tự nhiên và kinh tế xã hội tỉnh An Giang 30
4.1.2 Tổng quan về tình trạng nghèo của người dân tộc thiểu số tại tỉnh An Giang giai đoạn 2008 – 2013 32
4.1.3 Thách thức trong công tác giảm nghèo người dân tộc thiểu số 34
4.1.4 Thực trạng chính sách, chương trình hỗ trợ giảm nghèo đối với người dân tộc thiểu số tại tỉnh An Giang 35
4.2 ĐẶC ĐIỂM KINH TẾ XÃ HỘI CỦA HỘ PHỎNG VẤN 38
4.2.1 Đặc điểm nhân khẩu học hộ phỏng vấn 38
4.2.2 Việc làm và thu nhập 39
4.2.3 Tình trạng nhà ở và các vật dụng thiết yếu 40
4.2.4 Sự khác biệt về điều kiện kinh tế, xã hội của hộ gia đình 43
4.3 KẾT QUẢ ĐÁNH GIÁ CHÍNH SÁCH 45
Trang 74.3.1 Khả năng tiếp cận chính sách 45
4.3.2 Tác động của chính sách vay vốn đối với người nghèo tại tỉnh An Giang 48
4.3.3 Tác động chính sách đào tạo nghề đối với người nghèo tại tỉnh An Giang 54
4.4 TÓM TẮT CHƯƠNG 4 58
Chương 5 KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 60
5.1 KẾT LUẬN 60
5.2 KHUYẾN NGHỊ CHÍNH SÁCH 61
5.2.1 Về điều chỉnh chính sách hỗ trợ giảm nghèo 61
5.2.2 Chính sách vay vốn sản xuất 62
5.2.3 Chính sách hỗ trợ đào tạo nghề và việc làm 63
5.3 HẠN CHẾ CỦA ĐỀ TÀI VÀ ĐỀ XUẤT HƯỚNG NGHIÊN CỨU TIẾP THEO 63
TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
Trang 8DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 3.1: Biến quan sát trong mô hình nghiên cứu 23
Bảng 3.2: Phân bổ số mẫu điều tra 26
Bảng 4.1:Tình hình diễn biến nghèo ở tỉnh An Giang giai đoạn 2009-2013 33
Bảng 4.2:Đặc điểm nhân khẩu học hộ phỏng vấn 39
Bảng 4.3:Cơ cấu thu nhập của hộ gia đình 40
Bảng 4.4: Tình trạng nhà ở 41
Bảng 4.5: Tình trạng sở hữu nhà ở 41
Bảng 4.6: Tình trạng nước sạch và vệ sinh 42
Bảng 4.7:Tỷ lệ sở hữu các vật dụng, thiết bị thiết yếu của hộ gia đình 42
Bảng 4.8: Kiểm định trung bình (t-test) sự khác biệt về kinh tế, xã hội của hộ gia đình 44
Bảng 4.9: Tương quan giữa trạng thái của hộ dân và tham gia chính sách 45
Bảng 4.10: Tiếp cận vay vốn từ các nguồn chính thức 46
Bảng 4.11: Tiếp cận chính đào tạo nghề 47
Bảng 4.12: Tác động của chính sách vay vốn đối với hộ dân 49
Bảng 4.13: Hệ số odd ratio của các yếu tố ảnh hưởng đến khả năng thoát nghèo 51
Bảng 4.14: Hàm probit tác động của chính sách vay vốn 52
Bảng 4.15: Tác động của chính sách vay vốn đối với khả năng thoát nghèo 53
Bảng 4.16: Tác động của chính sách vay vốn đối với hộ dân 54
Bảng 4.17: Hệ số odd ratio của các yếu tố ảnh hưởng đến khả năng thoát nghèo 56
Bảng 4.18: Hàm probit tác động của chính sách vay vốn 57
Bảng 4.19: Tác động của chính sách đào tạo nghề đối với khả năng thoát nghèo 57
Trang 9DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ
Hình 2-1: Vòng luẩn quẩn của nghèo đói 8
Hình 3-1: Khung nghiên cứu do tác giả đề xuất 19
Hình 3-2: Thiết kế nghiên cứu 20
Hình 4.1: Bản đồ tỉnh An Giang 30
Hình 4.2: Tỷ lệ hộ nghèo tỉnh An Giang giai đoạn 2006 - 2013 32
Trang 10Chương 1 GIỚI THIỆU
Chương này trình bày tổng quan về đề tài nghiên cứu Cơ sở hình thành đề tài, mục tiêu, đối tượng nghiên cứu Xuất phát từ ý tưởng và mục tiêu, nghiên cứu
cụ thể hóa các câu hỏi nghiên cứu mà sẽ được làm rõ trong suốt đề tài Sau cùng là trình bày bố cục của đề tài nghiên cứu
An Giang là tỉnh ở miền Tây Nam bộ, thuộc khu vực Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL), có 11 đơn vị hành chính cấp huyện, thị xã, thành phố (8 huyện, 2 thị xã, 1 thành phố) và 156 đơn vị hành chính cấp xã, phường, thị trấn Trong đó, có
18 xã biên giới, 36 xã dân tộc (Khmer 27 xã, Chăm 09 xã nằm trên địa bàn 08 huyện), 35 xã đặc biệt khó khăn theo Quyết định 30/2007/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ Tỉnh An Giang có 30 dân tộc; trong đó dân tộc thiểu số là 29 dân tộc, với 112.809 người, chiếm 5,26% dân số cả tỉnh, trong đó chủ yếu là dân tộc Chăm, Khơme, Hoa Do đặc thù có nhiều xã khó khăn nên tỷ lệ hộ nghèo chung cả tỉnh An Giang vẫn còn ở mức khá cao
Nhận thức được tầm quan trọng của công tác giảm nghèo, đặc biệt là giảm nghèo vùng dân tộc thiểu số, thời gian qua, tỉnh An Giang rất quan tâm thực hiện các chính sách, chương trình hỗ trợ đối với người nghèo dân tộc thiểu số Tỉnh An Giang đã xây dựng Đề án giảm nghèo số 25/ĐA-UBND, tập trung nguồn lực để thực hiện Quyết định 74/2008/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ về chính sách hỗ trợ giải quyết đất ở, đất sản xuất, vay vốn và giải quyết việc làm cho hộ đồng bào
Trang 11dân tộc thiểu số nghèo, đời sống khó khăn
Nhờ thực hiện tốt các chính sách trên tỷ lệ hộ nghèo dân tộc thiểu số giảm từ 31,43% (6.895 hộ) năm 2007 xuống còn 17,43% (4.870 hộ) vào cuối năm 2013.Tuy nhiên, tỷ lệ nghèo vùng dân tộc thiểu số vẫn còn cao hơn so với tỷ lệ chung của toàn tỉnh đặt ra nhiều thách thức cho tỉnh An Giang trong phát triển kinh tế - xã hội, nâng cao đời sống vật chất, tinh thần cho người dân
Những thành tựu đạt được trong việc giảm nghèo vùng dân tộc thiểu số phản ánh hiệu quả của các chính sách cấp quốc gia nói chung và các chính sách của tỉnh
An Giang nói riêng trong những năm vừa qua Việc đánh giá tác động của các chính sách và chương trình giảm nghèo sẽ là cơ sở quan trọng cho việc sửa đổi các chính sách và chiến lược giảm nghèo bền vững của tỉnh An Giang trong các năm tiếp
theo Vì vậy đề tài “Tác động của chính sách vay vốn và đào tạo nghề của Chính
phủ đến giảm nghèo đối với vùng dân tộc thiểu số trên địa bàn tỉnh tỉnh An Giang giai đoạn 2008-2013” được chọn để nghiên cứu
1.2 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU
Mục tiêu 3: Khuyến nghị các chính sách, chương trình nhằm giảm nghèo bền vững đối với vùng dân tộc thiểu số trong thời gian tới
Trang 121.3 CÂU HỎI NGHIÊN CỨU
Câu hỏi 1: Những hộ nghèo dân tộc thiểu số gặp khó khăn gì khi tiếp cận với chính sách vay vốn và chính sách đào tạo nghề?
Câu hỏi 2: Chính sách tín dụng cho người nghèo có giúp người dân thoát nghèo?
Câu hỏi 3: Chính sách đào tạo nghề có giúp người dân thoát nghèo?
1.4 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU
1.4.1 Đối tượng nghiên cứu
Hộ nghèo dân tộc thiểu số và chính sách vay vốn, chính sách đào tạo nghề của Chính phủ là đối tượng nghiên cứu của đề tài này
1.5 BỐ CỤC CỦA ĐỀ TÀI
Ngoài phần phụ lục và các vấn đề có liên quan thì bố cục chính của đề tài gồm
5 chương, được chia như sau:
Chương 1: Giới thiệu
Chương 2: Cơ sở lý thuyết
Trang 13Chương 3: Phương pháp nghiên cứu
Chương 4: Kết quả nghiên cứu và thảo luận Chương 5: Kết luận và khuyến nghị chính sách
Trang 14Chương 2 CƠ SỞ LÝ THUYẾT
Chương này trình bày cơ sở lý thuyết liên quan đến đói nghèo và lược khảo một số tài liệu nghiên cứu về đói nghèo tại Việt Nam làm cơ sở để đề xuất mô hình nghiên cứu
2.1 LÝ THUYẾT LIÊN QUAN
2.1.1 Nghèo
2.1.1.1 Khái niệm nghèo
Đói nghèo là một khái niệm đa chiều vừa dễ và vừa khó để định nghĩa Đói nghèo thường được mô tả như một tình trạng theo đó những cá nhân, hộ gia đình và cộng đồng thiếu các nguồn lực để tạo ra những nguồn thu nhập có thể duy trì mức tiêu dùng đủ đáp ứng các nhu cầu cho một cuộc sống đầy đủ, sung túc Theo cách tiếp cận này, đói nghèo là tình trạng thiếu thốn vật chất Sự thiếu thốn vật chất còn
có thể được thể hiện qua những nét đặc trưng của những khu vực mà người nghèo thường sinh sống, là những nơi thường thiếu điện, nước sạch hay nhà vệ sinh và các dịch vụ khác (UNDP, 2012)
Nghèo là một hiện tượng đa chiều, tình trạng nghèo cần được nhìn nhận là sự thiếu hụt/không được thỏa mãn các nhu cầu cơ bản của con người Vì vậy, nghèo đa chiều có thể được hiểu là tình trạng con người không được đáp ứng một hoặc một
số nhu cầu cơ bản trong cuộc sống (Bộ Lao động, Thương binh và xã hội, 2014) ESCAP (1993)1 đưa ra định nghĩa về nghèo như sau: “Nghèo là một bộ phận dân cư không được hưởng và thoả mãn những nhu cầu cơ bản của con người, mà những nhu cầu này đã được xã hội thừa nhận tuỳ theo trình độ phát triển kinh tế xã hội phong tục tập quán của địa phương”
Hội nghị thượng đỉnh thế giới về phát triển xã hội tổ chức năm 1995 đưa định nghĩa về nghèo: “Người nghèo là tất cả những ai mà thu nhập thấp hơn dưới một đô
1 Báo cáo hội nghị về chống nghèo ở khu vực Châu Á - Thái Bình Dương do ESCAP tổ chức tháng 9/1993 tại Bangkok, Thái Lan
Trang 15la mỗi ngày cho mỗi người, số tiền được coi như đủ để mua những sản phẩm cần thiết để tồn tại.”
Các nhóm nghiên cứu của UNDP, UNFPA, UNICEF trong công trình “Xoá đói giảm nghèo ở Việt Nam-1995” đã đưa ra định nghĩa: “Nghèo là tình trạng thiếu khả năng trong việc tham gia vào đời sống quốc gia, nhất là tham gia vào lĩnh vực kinh tế”
Word Bank (2000)2 thì: “Đói nghèo không chỉ bao hàm sự khốn cùng về vật chất (được đo lường theo một khái niệm thích hợp về thu nhập hoặc tiêu dùng) mà còn là sự hưởng thụ thiếu thốn về giáo dục và y tế Nghèo có nghĩa là không có nhà cửa, quần áo, ốm đau mà không ai chăm sóc, mù chữ và không được đến trường” Một cách hiểu khác thì nghèo là một bộ phận dân cư có mức sống dưới ngưỡng quy định của sự nghèo Nhưng ngưỡng nghèo còn phụ thuộc vào đặc điểm
cụ thể của từng địa phương, từng thời kỳ cụ thể hay từng giai đoạn phát triển kinh tế
xã hội cụ thể của từng địa phương hay từng quốc gia
Kể từ năm 2000, Ủy ban Kinh tế và Xã hội châu Á Thái Bình Dương của Liên hiệp quốc (UNESCAP) đã đưa ra ba khái niệm liên quan chặt chẽ với nhau để mô tả nghèo đói, đó là nghèo thu nhập (poverty of income), nghèo tiếp cận (poverty of access), và nghèo sức mạnh (poverty of power)
Nghèo thu nhập là khi thu nhập dưới một ngưỡng nghèo Nghèo thu nhập thường được sử dụng để đánh giá nghèo đói, cách biệt giàu nghèo, bất bình đẳng và mức độ thoát nghèo của một quốc gia
Nghèo tiếp cận làm vững chắc hơn nữa cái nghèo thu nhập và vòng luẩn quẩn đói nghèo Người nghèo không tiếp cận được với rất nhiều dịch vụ và cơ sở hạ tầng
cơ bản, từ giao thông đến giáo dục, nguồn vốn, nước sạch, nhà ở, an sinh xã hội, thông tin và chính sách
Nghèo sức mạnh thể hiện ở chỗ cho dù có thể tiếp cận được, thì những chính sách và thông tin này có thực sự giúp được những người nghèo không? Câu trả lời
là “có” chỉ khi nó đáp ứng được nhu cầu và bắt nguồn từ thực tế của họ Điều đó
2 World Bank (2000) Báo cáo về tình hình phát triển thế giới - Tấn công nghèo đói World Bank
Trang 16liên quan đến việc người nghèo có được tạo điều kiện, và có đủ năng lực, sức mạnh
để có ý kiến tham gia vào quá trình xây dựng chính sách và những quyết định liên quan đến chính họ hay không
Ở Việt Nam căn cứ vào tình hình kinh tế xã hội và mức thu nhập của nhân dân trong những năm qua thì khái niệm đói nghèo được xác định là tình trạng một bộ phận dân cư chỉ có những điều kiện thoả mãn những nhu cầu tối thiểu và cơ bản nhất trong cuộc sống và có mức sống thấp hơn mức sống của cộng đồng xét trên mọi phương diện.Ở Việt Nam thì nghèo được chia thành các mức khác nhau: nghèo tuyệt đối, nghèo tương đối, nghèo có nhu cầu tối thiểu
Nghèo tuyệt đối: Là tình trạng một bộ phận dân cư thuộc diện nghèo không có khả năng thoả mãn nhu cầu tối thiểu của cuộc sống: ăn, mặc, ở, và đi lại
Nghèo tương đối: là tình trạng một bộ phận dân cư thuộc diện nghèo có mức sống dưới mức sống trung bình của cộng đồng và địa phương đang xét
Nghèo có nhu cầu tối thiểu: Đây là tình trạng một bộ phận dân cư có những đảm bảo tối thiểu để duy trì cuộc sống như đủ ăn, đủ mặc, đủ ở và một số sinh hoạt hàng ngày nhưng ở mức tối thiểu
2.1.1.2 Đặc điểm hộ nghèo
Người nghèo đa phần là người nông dân sống ở vùng nông thôn, do họ thiếu thốn, thiếu kinh nghiệm, thiếu kiến thức sản xuất nên đời sống gặp nhiều khó khăn
Đa phần họ bị hạn chế về khả năng nhận thức và kỹ năng sản xuất kinh doanh nên
họ thường tổ chức sản xuất theo thói quen, chưa biết mở mang ngành nghề, chưa có điều kiện tiếp xúc thị trường Các hộ nghèo thường có nhiều con hoặc ít lao động trong gia đình, chịu áp lực lớn về chi phí y tế, giáo dục và không thỏa mãn các nhu cầu cơ bản của đời sống
Đói nghèo thường đi đôi với thất nghiệp, suy dinh dưỡng, mù chữ, rủi ro về môi trường, thiếu các dịch vụ về y tế và xã hội kể cả dịch vụ chăm sóc sức khỏe sinh sản, kế hoạch hóa gia đình Tất cả những yếu tố này tạo ra tỷ lệ sinh, tử và bệnh tật tăng cao, năng suất lao động thấp Ảnh hưởng đến tốc độ phát triển kinh tế của đất nước, làm chậm tiến độ đến nền kinh tế công nghiệp
Trang 17Hình 2-1: Vòng luẩn quẩn của nghèo đói
Nguồn: Tổng cục dân số - Kế hoạch hóa gia đình (2013)
2.1.1.3 Chuẩn nghèo của Việt Nam
Theo Quyết định số 170/2005/QĐ-TTg ngày 08/07/2015 của Thủ tướng Chính phủ về việc ban hành chuẩn nghèo áp dụng cho giai đoạn 2006 -2010 thì khu vực nông thôn: những hộ có mức thu nhập bình quân từ 200.000 đồng/người/tháng (2.400.000 đồng/người/năm) trở xuống là hộ nghèo Khu vực thành thị: những hộ
có mức thu nhập bình quân từ 260.000 đồng/người/tháng (dưới 3.120.000 đồng/người/năm) trở xuống là hộ nghèo
Theo Quyết định số 09/2011/QĐ-TTg ngày 30/01/2011 của Thủ tướng Chính phủ về việc ban hành chuẩn hộ nghèo, nhóm hộ tham gia chính sách áp dụng cho giai đoạn 2011- 2015 thì:
Hộ nghèo ở nông thôn là hộ có mức thu nhập bình quân từ 400.000 đồng/người/tháng (từ 4.800.000 đồng/người/năm) trở xuống.Hộ nghèo ở thành thị
là hộ có mức thu nhập bình quân từ 500.000 đồng/người/tháng (từ 6.000.000 đồng/người/năm) trở xuống
Nhóm hộ tham gia chính sách ở nông thôn là hộ có mức thu nhập bình quân từ 401.000 đồng đến 520.000 đồng/người/tháng.Nhóm hộ tham gia chính sách ở thành thị là hộ có mức thu nhập bình quân từ 501.000 đồng đến 650.000đồng/người/tháng
Trang 182.1.2 Đánh giá chính sách
2.1.2.1 Khái niệm
Theo Jean-Pierre Cling và cộng sự (2012) thì đánh giá chính sách là cách tiếp cận mang tính thực chứng Đây là việc xem xét và đánh giá các chính sách đã được triển khai dựa vào những số liệu kinh tế vi mô và các kỹ thuật kinh tế lượng Đánh giá chính sách bao gồm:
Đánh giá nhu cầu: đối tượng mục tiêu là ai, bản chất vấn đề cần giải quyết là
gì, chương trình nằm trong khuôn khổ nào, hoạt động can thiệp có vị trí như thế nào?
Đánh giá quy trình: chương trình được triển khai thế nào trong thực tế, các dịch vụ đã hứa được cung cấp chưa, dịch vụ có đến được đối tượng mục tiêu không, khách hàng có hài lòng không?
Đối với hai giai đoạn đầu tiên này, văn hóa đánh giá có tồn tại Những giai đoạn này được các cơ quan viện trợ triển khai đều đặn một cách có hệ thống
Đánh giá tác động: liệu chương trình có tạo ra tác động mong đợi đối với các
cá nhân hay đối tượng mục tiêu, các hộ gia đình, các thể chế, các đối tượng thụ hưởng của chương trình? Những tác động này là nhờ chương trình hay nhờ vào các yếu tố khác? Mục tiêu của đánh giá tác động của chính sách là đo lường mức độ thay đổi trong phúc lợi của đối tượng tham gia do chính sách đó mang lại
2.1.2.2 Các phương pháp đánh giá
Có 2 cách đánh giá chính sách (Jean-Pierre Cling và cộng sự, 2012):
Cách 1: Sử dụng các dữ liệu về lịch sử của những đối tượng thụ hưởng và “dự đoán” kết quả thông qua các kỹ thuật kinh tế lượng truyền thống
Cách 2: Sử dụng nhóm đối tượng thụ hưởng và so sánh với một nhóm “so sánh” - tức là nhóm không hưởng lợi từ chính sách Chúng ta có thể lựa chọn nhóm đối tượng không tham gia chương trình có những đặc điểm tương tự nhóm đối tượng tham gia chương trình
Theo Khandker và cộng sự (2010) các phương pháp đánh giá tác động được
Trang 19áp dụng phổ biến như sau: (1) Đánh giá ngẫu nhiên hóa (Randomized evaluation); (2) Phương pháp đối chiếu (Matching method), đặc biệt là so sánh điểm xu hướng (PSM-propensity score matching); (3) Phương pháp sai biệt kép (DD:Double- difference hay DID-diffence in difference); (4) Phương pháp biến công cụ (IV-Instrument Variable); (5) Thiết kế Gián đoạn hồi Quy (Regression Discontinuity) và Phương pháp tuần tự (Pipeline)
2.2 CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN NGHÈO
Mức sống của người nghèo được phản ánh trên nhiều khía cạnh như thu nhập, chi tiêu đời sống, mức độ tiếp cận với các dịch vụ y tế, giáo dục… Các nghiên cứu thựcnghiệm về nghèo đói đã phân tích và chỉ ra các nhóm nhân tố ảnh hưởng đến mức sống của người nghèo ở nhiều nơi trên thế giới, trong đó tín dụng là một yếu tố quan trọng
2.2.1 Vai trò của tín dụng đối với giảm nghèo
Vốn là đầu vào quan trọng cho quá trình sản xuất, chính vì vậy thiếu vốn là một trong những nguyên nhân rơi vào nghèo, làm cho thu nhập và chi tiêu của người nghèo bị hạn chế Có nhiều vốn sản xuất và dễ dàng tiếp cận được các nguồn vốn sẽ tạo cơ hội nâng cao mức sống cho người nghèo
Nhiều nghiên cứu chỉ ra rằng tiếp cận tín dụng là điều kiện quan trọng để người nghèo tăng cường đầu tư cho sản xuất, trang trải chi phí học hành cho con cái Nhờ đó, nâng cao thu nhập và có cơ hội thoát nghèo bền vững Ngân hàng thế giới (1995) đã khuyến cáo rằng cải thiện thị trường tín dụng là một chính sách quan trọng để giảm nghèo đói ở Việt Nam
Nghiên cứu về mối quan hệ giữa tín dụng và giảm nghèo ở một số quốc gia Châu Phi, các tác giả Nader (2007), Khandker (2005), Morduch và Haley (2002) đã khẳng định vai trò quan trọng của việc cấp tín dụng với những điều kiện ưu đãi cho người nghèo, đó là phương tiện để giúp họ thoát nghèo Theo Fukui và Llanto (2003) thì vai trò của hoạt động tín dụng cho người nghèo thể hiện qua sự đóng góp của nó vào thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, giảm tác động của sự bất ổn kinh tế và tăng
Trang 20tính tự chủ cho các hộ nghèo
Madajewicz (1999) và Copestake& Blalotra (2000) nhận thấy việc cho người nghèo vay vốn sẽ giúp họ tự làm việc cho chính mình, và có vốn để thực hiện những hoạt động kinh doanh nhỏ, đó chính là cơ hội để họ thoát nghèo
Một số công trình nghiên cứu ở Việt Nam như Phạm Vũ Lửa Hạ (2003), Nguyễn Trọng Hoài (2005) cũng khẳng định rằng tín dụng và tiếp cận tín dụng là điều kiện quan trọng quyết định đến khả năng nâng cao mức sống và thoát khỏi đói nghèo của các hộ nghèo.Nhờ đó giúp người nghèo tăng cường được vị thế của mình trong xã hội, phát triển các hoạt động sản xuất kinh doanh nhỏ, kể cả sản xuất nông nghiệp, tăng thu nhập và giảm khả năng dễ tổn thương
Nhìn chung, tín dụng cho người nghèo được ủng hộ bởi các chuyên gia kinh tế
vì nó thúc đẩy sự phát triển kinh tế trong dài hạn ở các vùng khó khăn
2.2.2 Các yếu tố về nhân khẩu học
Số nhân khẩu trong hộ: Báo cáo Phát triển Việt Nam 2004 chỉ ra rằng những
hộ gia đình càng đông người thì thu nhập và chi tiêu bình quân đầu người càng giảm xuống Verner (2005), Dự án Diễn đàn miền núi (2005), Nguyễn Trọng Hoài (2005) cũng có kết luận tương tự về mối quan hệ nghịch biến giữa số nhân khẩu trong hộ và phúc lợi của người nghèo
Tỷ lệ phụ thuộc: Tỷ lệ phụ thuộc là số người ăn theo trên một lao động trong
hộ Các nghiên cứu về nghèo đói của Ngân hàng thế giới và các chuyên gia kinh tế phát triển đều nhất trí rằng tỷ lệ phụ thuộc là một yếu tố quan trọng quyết định sự sung túc hay nghèo khó của các hộ gia đình ở các địa phương Tỷ lệ phụ thuộc càng cao thì phúc lợi mà mỗi người trong hộ nhận được càng thấp, do một người lao động phải nuôi sống nhiều người hơn Đặc biệt là những hộ có nhiều trẻ em sẽ có mức thu nhập bình quân đầu người thấp hơn những hộ có ít trẻ em
Giới tính của chủ hộ: Có những quan điểm trái ngược nhau về mối quan hệ giữa giới tính của chủ hộ và nghèo đói Nhiều nghiên cứu chỉ ra rằng những hộ có chủ hộ là nam thường có thu nhập và chi tiêu bình quân đầu người cao hơn hộ có chủ hộ là nữ Những hộ gia đình mà vợ (hoặc chồng) của chủ hộ bị chết hay ly dị có
Trang 21mức thu nhập và chi tiêu đầu người thấp hơn những hộ có đầy đủ cả vợ và chồng Tuy nhiên, theo đánh giá của UNDP (1995), ở Việt Nam, những hộ do phụ nữ làm chủ hộ không nghèo hơn so với những hộ do nam giới làm chủ
2.2.3 Tình trạng việc làm và giáo dục của hộ
Những hộ gia đình có nhiều người có trình độ cao có khả năng có thu nhập cao hơn những hộ khác do họ có thể tiếp cận được những công việc được trả lương cao hơn Baulch và McCulloch (1998) đã nghiên cứu về nghèo đói ở Pakistan trong năm năm và kết luận rằng trình độ giáo dục cao hơn, đặc biệt là giáo dục phổ thông làm tăng khả năng thoát nghèo của các hộ World Bank (2004) cho rằng đầu tư vào giáo dục là cách tốt nhất để người nghèo thoát nghèo một cách bền vững Người nghèo có trình độ cao hơn không chỉ có khả năng sản xuất tốt hơn mà có thể dễ dàng chuyển đổi nghề nghiệp hơn nếu như có một biến cố nào đó xảy ra với công việc của họ
Verner (2005) và Khandker (2009) chỉ ra rằng những hộ gia đình có người làm việc trong lĩnh vực phi nông nghiệp hay làm việc hưởng lương sẽ có mức sống cao hơn những hộ chỉ làm nông nghiệp Krishna (2004) theo dõi việc rơi vào nghèo và thoát nghèo ở 35 ngôi làng ở vùng Rajashthan, Ấn Độ và kết luận rằng sự đa dạng hóa thu nhập và khả năng tiếp cận các việc làm công ăn lương (kể cả việc làm không thường xuyên) sẽ tăng khả năng thoát nghèo của người dân
Nguyễn Trọng Hoài (2005) nghiên cứu về nghèo đói ở các tỉnh Đông Nam Bộ
đã kết luận yếu tố có ảnh hưởng lớn nhất đến phúc lợi của hộ là việc làm Hộ gia đình có việc làm chi tiêu nhiều hơn hộ không có việc làm và hộ có việc làm thuần nông có mức chi tiêu bình quân đầu người thấp hơn hộ có việc làm phi nông nghiệp Như vậy, có một sự nhất trí cao giữa các nghiên cứu rằng việc làm là một yếu
tố quan trọng có ảnh hưởng đến phúc lợi của người nghèo và việc làm phi nông nghiệp là cơ hội để họ thoát nghèo
2.2.4 Năng lực sản xuất của hộ
Trong các nghiên cứu đất đai thường được sử dụng để đại diện cho năng lực
Trang 22sản xuất của hộ, vì đa số người nghèo sống ở nông thôn và phụ thuộc rất lớn vào sản xuất nông nghiệp Đất đai là một yếu tố rất quan trọng ảnh hưởng đến thu nhập, chi tiêu cũng như những cơ hội cải thiện mức sống của người nghèo
Báo cáo tổng hợp về đánh giá nghèo đói ở Việt Nam có sự tham gia của người dân (1999) đã chỉ ra rằng có đủ đất đai tương đối tốt để sản xuất là cơ sở để hộ nghèo cải thiện cuộc sống Những hộ gia đình có đất đai tốt hơn (độ dốc thấp, gần gủi với nhà ở, có hệ thống tưới tiêu tốt và không nhiễm mặn) sẽ khấm khá hơn những hộ khác Những hộ sở hữu nhiều đất đai có thể đa dạng hóa loại cây trồng, nhờ đó cải thiện mức sống tốt hơn những hộ khác
Khandker (2009), Datar (2009), Nguyễn Trọng Hoài (2005) cũng khẳng định diện tích đất đai và khả năng tiếp cận đất đai có ảnh hưởng cùng chiều tới mức thu nhập và chi tiêu của hộ nghèo
2.2.5 Các điều kiện bên ngoài
Điều kiện địa lý, giao thông, khoảng cách đến khu vực trung tâm có tác động đáng kể đến mức sống của các hộ gia đình Báo cáo phát triển Việt Nam, 2004 đã khẳng định rằng những hộ gia đình ở vùng sâu, vùng xa có mức chi tiêu đầu người thấp hơn những hộ ở đồng bằng và thành thị World Bank (1995) khẳng định cơ sở
hạ tầng là yếu tố có ảnh hưởng quan trọng tới năng suất nông nghiệp, gắn liền với
sự phát triển việc làm phi nông nghiệp và thúc đẩy sự tham gia của người nghèo vào nền kinh tế thị trường Những người dân sống gần cơ sở hạ tầng có mức sống cao hơn và có khả năng tận dụng những ưu thế của thị trường hơn những hộ ở xa
Minot và Baulch (2003) cho rằng nghèo đói ở Việt Nam có mối quan hệ chặt chẻ với các yếu tố địa lí như địa hình, độ dốc, đặc điểm đất đai, khoảng cách từ nơi
ở đến trung tâm
2.2.6 Đặc điểm dân tộc
Các nghiên cứu trước chỉ ra rằng các hộ thuộc dân tộc thiểu số có thu nhập thấp hơn các hộ người Kinh hay người Hoa Trong điều kiện như nhau, người dân tộc thiểu số có mức chi tiêu thấp hơn người Kinh và người Hoa 13% (WB, 2004)
Trang 23Bởi vì phần lớn dân tộc thiểu số ở Việt Nam sống ở các vùng núi, vùng sâu, vùng
xa, cơ sở hạ tầng kém phát triển; ít có điều kiện học hành vì thế kỹ năng ứng dụng
kỹ thuật vào sản xuất kinh doanh cũng rất kém Hơn nữa, các hộ dân tộc thiểu số thường có đông con, đất đai ít và không màu mỡ…
Tóm lại, dựa vào lý thuyết về thu nhập và những nghiên cứu thực nghiệm về nghèo đói, có thể thấy các yếu tố ảnh hưởng đến mức sống của người nghèo bao gồm: (1) Cấp độ cá nhân (trình độ giáo dục, tuổi, giới tính); (2) Cấp độ hộ gia đình (quy mô nhân khẩu của hộ, diện tích đất, tỷ lệ phụ thuộc, đặc điểm dân tộc); (3) Cấp
độ vùng (Khoảng cách từ nơi ở đến trung tâm, đặc điểm vùng, giao thông); (4) Cấp
độ chính phủ (Sự hỗ trợ về giáo dục, y tế, tín dụng)
2.3 CÁC NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI
Đã có nhiều đánh giá và nghiên cứu chuyên sâu về nguyên nhân nghèo của đồng bào dân tộc thiểu số tại Việt Nam Jamieson và các cộng sự (1998) đã khái quát những khó khăn và thách thức phát triển ở các vùng dân tộc thiểu số thành 4 vấn đề có quan hệ chặt chẽ với nhau, bao gồm: i) Nghèo đói; ii) Sức ép dân số; iii) Môi trường bị suy thoái; và iv) Sự phụ thuộc của đồng bào dân tộc thiểu số vào các
hệ thống bên ngoài cũng như sự lề hóa của nền kinh tế các dân tộc thiểu số
Báo cáo phân tích xã hội quốc gia năm 2009 của Ngân hàng thế giới (WB 2009), trong đó đã tổng kết các nhóm dân tộc thiểu số đang gặp bất lợi ở 6 yếu tố cơ bản dẫn đến kết quả sinh kế thấp hơn so với nhóm đa số, đó là bất lợi về tiếp cận giáo dục, di chuyển lao động, tín dụng, đất sản xuất, tiếp cận thị trường và định kiến của nhóm đa sốđối với các nhóm dân tộc thiểu số Không có một yếu tố duy nhất giải thích sự khác biệt về mức sống giữa các nhóm dân tộc thiểu số và nhóm đa số,
mà 6 yếu tố trên kết hợp lại tạo thành một “vòng luẩn quẩn” dẫn đến nghèo trong đồng bào dân tộc thiểu số giảm chậm
Theo nghiên cứu của Ngân hàng thế giới (2012), trên toàn lãnh thổ Việt Nam,
có 66% đồng bào dân tộc thiểu số sống ở mức dưới chuẩn nghèo vào năm 2010, trong khi đó chỉ có 13% đồng bào dân tộc đa số (người Kinh) sống ở mức dưới chuẩn nghèo
Trang 24Mối liên hệ giữa tình trạng nghèo đói, tính dễ tổn thương ở các cộng đồng dân tộc thiểu số tại Việt Nam với biến đổi khí hậu và thiên tai đã được đề cập trong nhiều nghiên cứu của các cơ quan phát triển Liên hợp quốc, Ngân hàng Thế giới (WB) và các tổ chức phi chính phủ (NGOs) Biến đổi khí hậu có thể làm cho mực nước biển tăng lên, có khả năng ảnh hưởng đến hàng triệu người sống ở vùng đồng bằng và vùng ven biển, đòi hỏi phải tái định cư hàng loạt ở các khu vực miền núi…
Và điều đó sẽ ảnh hưởng không nhỏ đến diễn biến kinh tế - xã hội của các cộng đồng dân tộc thiểu số (McDougall, 2010 trích dẫn bởi Oxfam and ActionAid Vietnam, 2012 trang 4)
Dựa trên kết quả khảo sát tại các tỉnh Lạng Sơn, Hải Dương, Kon Tum, Bình Thuận và An Giang, Viện Khoa học Xã hội Việt Nam (VASS 2011) đã phân tích bối cảnh nghèo của đồng bào dân tộc thiểu số, trong đó đề cập đến những khó khăn chính về cơ sở hạ tầng, tạo việc làm, khả năng tiếp cận các dịch vụ xã hội, chất lượng giáo dục và các rào cản ngôn ngữ
Nghiên cứu của Baulch và Vũ (2012) phân tích vai trò của đặc điểm (gồm đặc điểm nhân khẩu hộ gia đình, trình độ học vấn, sở hữu đất, đặc điểm xã) và hiệu quả thu nhậpcủa các đặc điểm (do ảnh hưởng của các yếu tố không quan sát được qua điều tra mức sống, ví dụ như chất lượng đất, chất lượng giáo dục, các rào cản văn hóa, định kiến và kỳ thị với đồng bào dân tộc thiểu số) đến sự khác biệt về thu nhập/chi tiêu giữa nhóm dân tộc đa số và các nhóm dân tộc thiểu số, dựa trên số liệu VHLSS 2010 (cập nhật một nghiên cứu tương tự trước đó dựa trên số liệu VHLSS 2006) Khác biệt về đặc điểm đóng góp gần một nửa vào khác biệt về mức sống giữa nhóm đa số và các nhóm dân tộc thiểu số; ngược lại, khác biệt về hiệu quả thu nhập đóng góp trên một nửa vào sự khác biệt về mức sống Nghiên cứu cũng cho thấy, thu nhập từ việc làm phi nông nghiệp, kinh doanh, dịch vụ và tiền gửi chiếm
tỷ trọng nhỏ hơn nhiều trong thu nhập của nhóm dân tộc thiểu số so với nhóm đa số Báo cáo của Oxfam và AAV (2012) tổng hợp kết quả theo dõi nghèo nông thôn tại mạng lưới các điểm quan trắc giai đoạn 2007-2011 cũng cho thấy mức độ giảm nghèo không đồng đều giữa các địa bàn dân cư Tỷ lệ nghèo theo chuẩn nghèo
Trang 25thu nhập của Chính phủ tại các vùng dân tộc thiểu số giảm chậm và còn ở mức rất cao Cuộc sống của đồng bào dân tộc thiểu số còn rất khó khăn với những bất lợi đa chiều, điển hình là bất lợi về điều kiện sống (nước sinh hoạt, nhà vệ sinh), tiếp cận thị trường, việc làm phi nông nghiệp và chống đỡ rủi ro Tỷ lệ hộ thuần làm nông nghiệp còn khá cao, trong khi đây là một tiêu chí nghèo quan trọng theo cảm nhận của người dân Tình trạng “thiếu ăn” vào thời điểm giáp hạt, gặp thiên tai dịch bệnh vẫn là thách thức lớn đối với một bộ phận dân cư ở vùng dân tộc thiểu số Ngay trong một cộng đồng cũng có nhiều nhóm gặp khó khăn đặc thù, như nhóm nghèo kinh niên, nhóm nghèo tạm thời, nhóm nghèo dễ bị tổn thương, và nhóm cận nghèo hoặc mới thoát nghèo, cần có chính sách hỗ trợ phù hợp với từng nhóm
Một số nghiên cứu định tính gần đây có những nỗ lực bước đầu nhằm tài liệu hóa các chiến lược thoát nghèo của đồng bào dân tộc thiểu số Nghiên cứu do WB
và Oxfam phối hợp thực hiện trong năm 2011 về động lực giảm nghèo dài hạn tại Việt Nam chỉ ra rằng, cải thiện về sinh kế nông nghiệp được coi là yếu tố chính dẫn đến cải thiện đời sống trong những năm 1990; sang đến các năm 2000 việc làm phi nông nghiệp, đặc biệt là lao động di cư, đóng vai trò ngày càng lớn hơn Tuy nhiên trong vài năm trở lại đây hiệu quả của di cư bị chững lại Triển vọng tiếp tục cải thiện sinh kế bền vững đang gặp nhiều khó khăn, thách thức ở các cộng đồng dân tộc thiểu số, đặc biệt liên quan đến những hạn chế về chất lượng lao động và khả năng di chuyển lao động (Nguyễn Tam Giang và cộng sự, 2012)
Trong khuôn khổ dự án “Theo dõi nghèo theo phương pháp cùng tham gia”, một nghiên cứu của Oxfam và AAV (2012) đã bước đầu tổng kết những chiến lược thoát nghèo khác nhau của hộ gia đình nông thôn tại các điểm quan trắc trong giai đoạn 2007-2011, dựa trên sự kết hợp giữa phát triển sản xuất nông nghiệp (đa dạng hóa,thâm canh dựa vào đất), tìm kiếm việc làm phi nông nghiệp (bao gồm cả di chuyển lao động) và đầu tư vào học hành của con cái
Tiếp nối nghiên cứu nêu trên, Oxfam và AAV đã tổ chức thực hiện một chuyên đề nghiên cứu về “mô hình giảm nghèo” tại một số cộng đồng dân tộc thiểu
số điển hình, nhằm phân tích các yếu tố ảnh hưởng khiến cho cộng đồng này, hộ gia
Trang 26đình này có đời sống tốt hơn cộng đồng khác, hộ gia đình khác trong cùng bối cảnh Phùng Đức Tùng và cộng sự (2012) cho thấy Chương trình 135 đã giúp cải thiện rõ rệt việc tiếp cận đến các cơ sở hạ tầng cơ bản, tiếp cận đến thị trường và do vậy làm tăng năng suất trong nông nghiệp, cơ hội việclàm phi nông nghiệp và do vậy làm tăng thu nhập và cải thiện đời sống của các hộ gia đình trong các xã thuộc Chương trình
Tỷ lệ nghèo ở các xã thuộc Chương trình đã giảm từ 57,5% xuống 49,2% trong giai đoạn 2007- 2012, chủ yếu do tỷ lệ nghèo đói ở các đồng bào thiểu số giảm Tỷ lệ nghèo ở các hộ dân tộc Kinh gần như không giảm ở các hộ gia đình người Kinh
Mặc dù tỷ lệ nghèo đói giảm xuống, khoảng cách nghèo và các chỉ số về mức độnghiêm trọng của người nghèo ở các vùng thuộc CT 135-II vẫn không giảm trongkhoảng thời gian 2007 – 2012 Thu nhập bình quân đầu người của các hộ tăng khoảng 20% trong khoảng thời gian 2007 – 2012 Các hộ có thu nhập thấp có mức tăng thấp hơn các hộ thu nhập cao Dođó, bất bình đẳng về thu nhập giữa các hộ trong các xã 135-II ngày một tăng lên Chỉ số Gini (theo thang điểm 100) đã tăng từ
43 năm 2007 lên 47 năm 2012 Bất bình đẳng giữa các hộ dân tộc Kinh cũng như các hộ đồng bào thiểu số cũng gia tăng trong khoảngthời gian này Bất bình đẳng trong nội bộ nhóm là nguyên nhân chính tạo ra bất bìnhđẳng chung trong khi bất bình đẳng giữa các nhóm chiếm không đến 10% tình trạng bất bình đẳng chung Việc phân tích cấu thành của tình trạng đói nghèo cho thấy những kết quả giảm nghèo ởcác xã thuộc CT135-II đạt được chủ yếu do tăng thu nhập Nghèo đói rất nhạy cảm với tăng trưởng kinh tế Tuy vậy, tính co giãn của nghèo đói theo tăng trưởng thu nhập có xu hướng giảm Điều này cho thấy phân phối lại thu nhập đóng vai trò rất quan trọngtrong giảm khoảng cách nghèo và mức độ đói nghèo
Các hộ nằm trong các xã CT 135-II phụ thuộc rất nhiều vào thu nhập nông nghiệp Gần 60% thu nhập của các hộ từ các hoạt động nông nghiệp Hiện đang diễn ra sự chuyển dịch từ các hoạt động nông nghiệp sang phi nông nghiệp Tỷ trọng đóng góp từ tiền công/tiền lương vào tổng thu nhập có chiều hướng gia tăng
Trang 27tuy nhiên vẫn ở tỷ lệ khá nhỏ Tỷ trọng thu nhập từ phi nông nghiệp còn khá hạn chế, chỉ ở mức khoảng 5%
Tỷ lệ các hộ nghèo tạm thời là khá lớn Có đến 22,1% hộ thoát khỏi đói nghèo nhưng lạicó đến 14,3% các hộ trở thành hộ nghèo giữa 2 năm Các hộ dân tộc Kinh
dễ có khuynh hướng trở thành hộ nghèo tạm thời trong khi các hộ đồng bào thiểu số lại có nhiều khả năng là hộ nghèo kinh niên Mặc dù các hộ dân tộc Kinh có tỷ lệ thoát nghèo cao hơn,tỷ lệ các hộ không nghèo người Kinh rơi vào diện nghèo lại cao hơn vào năm 2012
Các nghiên cứu ở trên chủ yếu tập trung vào vấn đề nghèo đói ở các khu vực khác nhau của Việt Nam nhưng chưa có nghiên cứu nào đi sâu đánh giá tác động của chính sách của Chính phủ đối với người nghèo dân tộc thiểu số tại tỉnh An Giang Do vậy, đề tài này có nhiều đóng góp mới cho việc đánh giá hiệu quả chính sách và các chương trình hỗ trợ cũng như hàm ý chính sách giảm nghèo đối với người nghèo dân tộc thiểu số tại tỉnh An Giang nói riêng và các tỉnh thành khác của Việt Nam nói chung
2.4 TÓM TẮT CHƯƠNG 2
Chương 2 trình bày những khái niệm về nghèo đói, phương pháp đánh giá tác động Chương này cũng tổng hợp các nhân tố ảnh hưởng đến mức sống hộ nghèo Đồng thời cũng lược khảo một số tài liệu nghiên cứu có liên quan để làm cơ sở xây dựng mô hình định lượng nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu ở chương 3
Trang 28
Chương 3 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Chương này giới thiệu phương pháp nghiên cứu của đề tài bao gồm phương pháp chọn vùng nghiên cứu, thiết kế nghiên cứu, thiết kế bảng câu hỏi điều tra, phương pháp thu thập dữ liệu, cỡ mẫu và mô hìnhphân tích định lượng
3.1 MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU
3.1.1 Khung nghiên cứu
Hình 3-1: Khung nghiên cứu của đề tài
3.1.2 Thiết kế nghiên cứu
Nghiên cứu tác động các chính sách của Chính phủ đến giảm nghèo đối với vùng đồng dân tộc thiểu số trên địa bàn tỉnh tỉnh An Giang giai đoạn 2008-2013 phương pháp nghiên cứu định lượng và định tính
Mục tiêu 1: Phân tích kết quả và hạn
chế củachính sách giảm nghèo đối với
vùng dân tộc thiểu số của tỉnh An
Giang giai đoạn 2008 - 2013
Mục tiêu 2: Đánh giá tác động của chính sách vay vốn và đào tạo nghề đến khả năng thoát nghèo của hộ nghèo vùng dân tộc thiểu số
Khuyến nghị các chính sách, chương trình nhằm giảm nghèo
bền vững đối với vùng dân tộc thiểu số
Khả năng thoát nghèo của hộ dân tộc thiểu số
Các yếu tố kinh tế - xã hội
Tuổi, giới tính, giáo dục, dân
tộc, quy mô hộ, diện tích
canh tác
Chính sách đào tạo
nghề Chính sách vay vốn
Trang 29Nghiên cứu định lượng sử dụng phương pháp phỏng vấn trực tiếp những hộ nghèo và cận nghèo Nghiên cứu định tính sử dụng phương pháp phỏng vấn sâu những hộ nghèo trên cơ sở các phát hiện quan trọng từ nghiên cứu định lượng
Hình 3-2: Thiết kế nghiên cứu
3.1.3 Mô hình đánh giá tác động
Có rất nhiều nghiên cứu đánh giá tác động của các chương trình giảm nghèo ở Việt Nam Khi có số liệu gốc về đối tượng thụ hưởng và đối tượng không tham gia chương trình, phương pháp thường được sử dụng là hồi quy tác động cố định (fixed-effects regressions) với số liệu mảng (panel data), hoặc phương pháp khác biệt trong khác biệt (difference-in-differences) Phùng và các cộng sự (2013) đánh giá tác động chương trình 135-II sử dụng phương pháp hồi quy tác động cố định Phương pháp cũng được sử dụng để đánh giá hệ thống an sinh xã hội trong Van de Wall (2002), Van Den Berg và Nguyen (2011), đánh giá tác động của đường giao thông nông thôn trong Van de Walle và Cratty (2002), Mu và Van de Walle (2007), Nguyễn (2011)
Do không có số liệu điều tra gốc năm 2008, nên đề tài phải sử dụng số liệu điều tra hiện tại, so sánh nhóm thụ hưởng và nhóm không thụ hưởng để đánh giá tác động của các chương trình Để xử lý vấn đề khác biệt giữa nhóm thụ hưởng và nhóm không thụ hưởng, trong đề tài này tác giả sử dụng phương pháp hồi quy logarit và kỹ thuật Kết nối điểm xu hướng PSM (Propensity Score Matching) để
Trang 30đánh giá tác động của các chương trình giảm nghèo Phương trình hồi quy tổng quát
Ti: biến chính sách của hộ gia đình i, (Ti=1 nếu hộ gia đình i có tham gia chính sách, Ti=0 nếu không tham gia)
Xi: nhóm biến số kiểm soát, chẳng hạn như đặc điểm hộ gia đình i
i: sai số của mô hình
Ý tưởng chung của phương pháp Kết nối điểm xu hướng PSM là lọc ra 2 nhóm hộ gia đình có tham gia chính sách và không tham gia chính sách Hai nhóm này lọc theo tiêu chí là có các đặc điểm hộ gia đình giải thích việc tham gia/không tham gia là như nhau (chẳng hạn có cùng kích thức hộ, cùng trình độ học vấn v.v.) Khi các đặc điểm hộ gia đình của 2 nhóm là giống nhau thì việc thoát nghèo hay không sẽ do việc tham gia chính sách quyết định
Các bước trong phân tích Kết nối điểm xu hướng PSM (Khandker, 2010) gồm: Bước 1: Tính toán mô hình tác động; Bước 2: Xác định Vùng hỗ trợ chung và Kiểm định cân bằng; Bước 3: So sánh đối tượng tham gia và không tham gia; Bước 4: Tính toán tác động can thiệp bình quân; Bước 5: Tính toán sai số chuẩn bằng PSM
3.1.4 Phương pháp phỏng vấn sâu
Phỏng vấn sâu đối với nhóm hộ nghèo để đánh giá khả năng tiếp cận chính sách vay vốn và đào tạo nghề từ danh sách phỏng vấn định lượng ban đầu với mục đích làm rõ thêm các thông tin đã thu thập được và tìm hiểu những lợi ích mà hộ gia đình có được khi tham gia chính sách hoặc những hạn chế của chính sách
Trang 313.2 DỮ LIỆU NGHIÊN CỨU
3.2.1 Mô tả và định nghĩa các biến trong mô hình
Nghiên cứu này sử dụng mô hình hồi quy Logarit và Phương pháp Kết nối điểm xu hướng (PSM) để đánh giá tác động của chính sách tín dụng và chính sách đào tạo đến khả năng thoát nghèo của hộ gia đình Các biến số sử dụng trong các
mô hình này được xây dựng như sau:
Biến phụ thuộc (Y): Mặc dù mức sống của người nghèo thể hiện ở nhiều khía cạnh, nhưng quan trọng nhất là thu nhập và chi tiêu cho đời sống Đề tài sử dụng biến phụ thuộc dựa vào thu nhập bình quân đầu ngườiđể đại diện cho mức sống của
hộ nghèo Cụ thể, biến phụ thuộc được đo lườngnhư sau:
Yilà khả năng thoát nghèo của hộ gia đình i
Yi= 1 nếu thay đổi trạng thái từ nghèo không nghèo, = 0 cho các trường hợp còn lại (giữ nguyên trạng thái hoặc từ cận nghèo chuyển sang nghèo)
Trong nghiên cứu này khả năng thoát nghèo Y được đo lường bằng chênh lệch thu nhập của hộ gia đình giữa hai thời điểm đánh giá chính sách như sau:
𝑌𝑖 = {= 1 𝑛ế𝑢 𝑌2013𝑖 − 𝑌2009𝑖 > 0
= 0 𝑛ế𝑢 𝑌2013𝑖 − 𝑌2009𝑖 ≤ 0Trên cơ sở lý thuyết và các nghiên cứu có liên quan, mô hình nghiên cứu có
11 biến độc lập (bảng 3.1)
Vay vốn chính thức (VayChinhthuc): Là biến giả, nhận giá trị là 1 nếu hộ có vay vốn chính thức; ngược lại thì nhận giá trị là 0 Việc vay vốn có ảnh hưởng đến vấn đề mở rộng đầu tư sản xuất, góp phần tăng thu nhập hộ gia đình Giả định biến này có quan hệ cùng chiều với biến phụ thuộc (Y)
Đào tạo nghề (Daotaonghe): Là biến giả, nhận giá trị là 1 nếu hộ có tham gia đào tạo nghề; ngược lại thì nhận giá trị là 0 Việc đào tạo nghề đối với hộ đồng bào dân tộc thiểu số là rất quan trọng, góp phần nâng cao khả năng tìm việc làm có thu nhập tốt hơn, qua đó làm tăng thu nhập của hộ Giả định biến này có quan hệ cùng chiều với biến phụ thuộc (Y)
Trang 32Bảng 3.1: Biến quan sát trong mô hình nghiên cứu
Kỳ vọng dấu
Cơ sở lý thuyết
Biến giảvay vốn chính thức (0:
Nader (2007), Khandker (2005), Morduch và Haley (2002)
Biến giảtham gia đào tạo nghề
(0:không tham gia; 1: có tham
gia)
Daotaonghe + Nguyễn Trọng Hoài (2005)
Quy mô hộ, bằng số nhân khẩu
-Verner (2005), Dự án Diễn đàn miền núi (2005), Nguyễn Trọng Hoài (2005)
-Verner (2005), Dự án Diễn đàn miền núi (2005), Nguyễn Trọng Hoài (2005)
Giới tính của chủ hộ (1 nếu chủ
Verner (2005), Dự án Diễn đàn miền núi (2005), Nguyễn Trọng Hoài (2005)
Dân tộc của chủ hộ (giá trị 1 nếu
chủ hộ dân tộc Chămhoặc Hoa,
0 nếu dân tộc Khơ me)
Dantoc + World Bank (2004)
Trình độ giáo dục trung bình của
hộ, bằng số năm đi học bình
quân/1 người
SonamDihoc + Baulch và McCulloch
(1998)
Tỷ lệ(%) thu nhập phi nông
Verner (2005), Khandker (2009)
Diện tích đất canh tác bình quân
-Khandker (2009), Tri Datar (2009), Nguyễn Trọng Hoài (2005)
Nguồn: Tổng hợp các nghiên cứu có liên quan
Tỷ lệ (%) phụ thuộc (TLphuthuoc): Biến này đo lường tỷ lệ phần trăm tổng số người không nằm trong độ tuổi lao động (dưới 15 tuổi và trên 55 tuổi đối với nữ hoặc trên 60 tuổi đối với nam) so với tổng số người của hộ Khi trong hộ có tỷ lệ phụ thuộc cao, điều đó cũng có nghĩa là hộ gia đình đó có ít người tạo ra thu nhập
và có nhiều người không tạo ra thu nhập, dẫn đến thu nhập bình quân của hộ sẽ giảm Giả định biến này có mối quan hệ nghịch biến với biến phụ thuộc (Y)
Giới tính của chủ hộ (Gioitinh): Là biến giả, nhận giá trị 1 nếu chủ hộ là nam;
Trang 330 nếu chủ hộ là nữ Những hộ có chủ hộ là nam thường có thu nhập và chi tiêu bình quân đầu người cao hơn hộ có chủ hộ là nữ, do vậy giả định biến này có quan hệ cùng chiều với biến phụ thuộc (Y)
Dân tộc của chủ hộ: Là biến giả, nhận giá trị 1 nếu chủ hộ dân tộc Chăm hoặc Hoa, 0 nếu dân tộc khác Các hộ thuộc dân tộc hộ người Chăm hay người Hoa thường có thu nhập cao hơn nhóm hộ người Khơme do vậy giả định biến này có quan hệ cùng chiều với biến phụ thuộc (Y)
Trình độ giáo dục trung bình của hộ (SonamDihoc): Là biến thể hiện số năm
đi học của hộ (năm) Người có trình độ học vấn thấp thường hạn chế về hiểu biết và khả năng tiếp thu kiến thức chuyên môn kém hơn so với người có trình độ cao và thường có thu nhập thấp hơn so với người có trình độ cao Giả định biến này có quan hệ cùng chiều với biến phụ thuộc (Y)
Tỷ lệ (%) thu nhập phi nông nghiệp trong tổng thu nhập(TNphiNN): Ở nông thôn các hoạt động nông nghiệp là chủ yếu và thường sản xuất theo mùa vụ nên phụ thuộc rất nhiều vào điều kiện tự nhiên Do vậy, việc tạo ra thêm thu nhập bằng các hoạt động phi nông nghiệp giúp đa dạng hoá nguồn thu, giảm thiểu được rủi ro và tăng thu nhập Giả định biến này có quan hệ cùng chiều với biến phụ thuộc (Y) Diện tích đất canh tác bình quân đầu người (Dientich): Được tính bằng diện tích canh tác của hộ chia cho (:) số nhân khẩu của hộ Đối với hộ gia đình ở nông thôn, đất sản xuất là tư liệu chính và có tính chất quyết định đến thu nhập của hộ
Do đó thiếu đất hoặc không có đất sản xuất thì hộ gia đình thường có thu nhập thấp Giả định biến này có quan hệ cùng chiều với biến phụ thuộc (Y)
3.2.2 Dữ liệu thứ cấp
Dữ liệu thứ cấp bao gồm kết quả các nghiên cứu liên quan đến đề tài; số liệu thống kê về nghèo của người dân tộc thiểu số của tỉnh An Giang trong giai đoạn
2008 – 2013; tình hình phát triển kinh tế xã hội tỉnh An Giang giai đoạn 2008 –
2013 và định hướng xóa đói giảm nghèo tỉnh An Giang giai đoạn 2015 – 2020
Dữ liệu thứ cấp được thu thập qua qua sách báo, tạp chí, các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước; Niên giám thống kê; Báo cáo về thực hiện chương trình,
Trang 34chính sách giảm nghèo từ Sở Lao động, Thương binh và xã hội tỉnh An Giang
3.2.3 Dữ liệu sơ cấp
3.2.3.1 Chọn đối tượng điều tra
Trong nghiên cứu này, các đối tượng thuộc nhóm hưởng lợi và nhóm so sánh
là các hộ nghèo tại thời điểm năm 2008 Dựa vào danh sách hộ gia đình và mức thu nhập của hộ vào năm 2008, đề tài chọn các hộ gia đình gần mức thu nhập 360.000 đồng/người/tháng vào trong mẫu khảo sát Cách chọn này sẽ đảm bảo tính tương đồng tương đối cao giữa 2 nhóm hưởng lợi và nhóm so sánh
Ngoài ra, các hộ thuộc nhóm so sánh sẽ là các hộ cũng nằm trên cùng một địa bàn với các hộ thuộc nhóm hưởng lợi (hộ nghèo) Việc chọn các hộ nằm trên cùng một địa bàn sẽ đảm bảo các đặc điểm về kinh tế xã hội giữa nhóm hưởng lợi và nhóm so sánh sẽ không có sự khác biệt
3.2.3.2 Xác định cỡ mẫu
Cỡ mẫu được tính theo công thức: (1 2)Z2/2
MOE
p p
(2) Trong đó:
p: tỷ lệ xuất hiện các phần tử trong đơn vị lấy mẫu (0 ≤ p ≤ 1)
Z: độ tin cậy; MOE: tỷ lệ sai số ước lượng
Ở đây tác giả chọn p = 0,75; Z /2= 1,96 và sai số ước lượng MOE = 0,06 → n
= 200 Để dự phòng, cỡ mẫu của nghiên cứu hộ nghèo thuộc nhóm hưởng lợi được chọn là 220.Cỡ mẫu cho hộ nghèo thuộc nhóm so sánh là 220 Như vậy, tổng số mẫu điều tra nhóm hưởng lợi và so sánh sẽ là 440
3.2.3.3 Phương pháp chọn mẫu
Sử dụng phương pháp chọn mẫu ngẫu nhiên phân tầng theo số lượng hộ nghèo phân bổ theo từng địa bàn là huyện Đề tài chọn 3 huyện có số lượng lớn hộ nghèo người dân tộc thiểu số để thực hiện phỏng vấn định lượng Phân bổ số mẫu điều tra cho các địa bàn được trình bày tại bảng 3.2
Trang 35Bảng 3.2: Phân bổ số mẫu điều tra
3.2.3.5 Thiết kế bảng hỏi định lượng
Bảng câu hỏi sẽ thu thập một số thông tin của đối tượng phỏng vấn năm 2008
và vào thời điểm phỏng vấn.Những thông tin này giúp cho việc đo lường tác động một cách chính xác hơn, với độ tin cậy cao hơn Nội dung bảng câu hỏi được xây dựng dựa trên phỏng vấn các chuyên gia tham gia vào quá trình thực hiện chính sách Ngoài các thông tin chung của hộ cần thu thập liên quan đến các đặc trưng của
hộ như nhân khẩu, đặc điểm chủ hộ, thu nhập bình quân đầu người, tài sản và điều kiện sống, mức độ phù hợp của các chính sách đến nhu cầu của hộ cũng được thu nhập (chi tiết bảng câu hỏi xem phụ lục) Các thông tin chính trong bảng hỏi định lượng được thu thập (ngoài các thông tin cơ bản của hộ gia đình) như sau:
Chính sách nhà ở: Thu thập các thông tin về tình trạng nhà ở của hộ, loại nhà, diện tích, điều kiện vệ sinh và sử dụng nước sạch, các hỗ trợ mà hộ nhận được, đánh giá và nhận xét của hộ về tác động của các hỗ trợ này đến điều kiện ăn ở của hộ, các
Trang 36khó khăn và trở ngại trong quá trình nhận được các hỗ trợ; các khó khăn mà hộ đang gặp phải đối với điều kiện sống
Chính sách tín dụng cho hộ nghèo: Thu thập các thông tin chính về hiện trạng vay nợ của hộ, nguồn cho vay, số tiền vay, lãi suất, mục đích vay và thời hạn vay, việc tiếp cận với tín dụng từ chính sách hỗ trợ, hiểu biết về chính sách, đánh giá về thủ tục liên quan đến việc tiếp cận đến nguồn tín dụng từ chính sách và tác động chính sách tín dụng đối với hộ nghèo
Chính sách hỗ trợ học nghề, giải quyết việc làm: Phỏng vấn các đối tượng trong độ tuổi lao động về tình trạng việc làm, thời gian làm việc bình quân trong năm, trình độ giáo dục và giáo dục chuyên nghiệp, thu nhập bình quân, các hỗ trợ nhận được từ chính sách hỗ trợ học nghề, giải quyết việc làm, đánh giá và nhận định
về tác động của chính sách đến kỹ năng nghề nghiệp và khả năng tìm việc làm của đối tượng phỏng vấn; các khó khăn gặp phải khi tìm việc và đánh giá mức độ hỗ trợ của các trung tâm giới thiệu việc làm; thông tin về các hỗ trợ của chính sách
3.2.3.6 Mô tả cách đo lường các biến số
Các biến định lượng: chi phí, thu nhập, số tiền vay, các khoản hỗ trợ là các biến liên tục hữu hạn, sử dụng thang đo giá trị để đo lường.Các biến giới tính (nam, nữ); hộ nghèo, thoát nghèo; có hay không có tham gia chương trình sử dụng giá trị
0, 1 để gán cho các biến này
3.2.3.7 Phương pháp thu dữ liệu
Dữ liệu được thu thập thông qua phỏng vấn sơ bộ và phỏng vấn chính thức Phỏng vấn sơ bộ được tiến bằng phương pháp khảo sát, xác định các yếu tố liên quan đến tác động cua chính sách giảm nghèo, tiến hành qua 2 bước:
Bước 1: Thảo luận với các chuyên gia có kinh nghiệm về đánh giá tác động chính sách và nghiên cứu về nghèo nhằm có thông tin để xây dựng phiếu khảo sát Bước 2: Tiến hành khảo sát thăm dò 10 hộ nghèo và 10 nhóm hộ tham gia chính sách nhằm điều chỉnh các câu hỏi cho hợp lý, trước khi đưa ra bảng câu hỏi nghiên cứu chính thức
Trang 373.2.4 Kiểm soát chất lượng nghiên cứu định lượng
3.2.4.1 Xác định đúng địa bàn và hộ phỏng vấn
Tính chính xác của danh sách mẫu được đảm bảo bằng cách giao các đội điều tra làm việc với chính quyền địa phương (trưởng thôn/trưởng tổ dân phố) khi họ đến địa bàn Đội trưởng của mỗi đội gọi điện để thảo luận với cán bộ chuyên trách ở các
xã về kế hoạch phỏng vấn và yêu cầu cán bộ thông báo cho các hộ gia đình về thời gian tiến hành phỏng vấn ít nhất một ngày trước khi điều tra
3.2.4.2 Đảm bảo chất lượng số liệu
Việc giám sát được thực hiện trong suốt quá trình thu thập dữ liệu Ngoài việc dựphỏng vấn của các điều tra viên để đánh giá thái độ làm việc và chất lượng các cuộc phỏng vấn, giám sát viên của đề tài đã thực hiện kiểm tra ngẫu nhiên các hộ gia đình (phúc tra) để đảm bảo rằng tất cả điều tra viên tuân thủ đúng theo các thủ tục phỏng vấn và ghi lại thông tin chính xác
Giám sát viên thực hiện nhiệm vụ đồng thời với các đội điều tra từ khi bắt đầu đến khi kết thúc thực địa Ngoài ra, để đảm bảo điều tra viên quán triệt nhiệm vụ của mình, giám sát viên đã thiết lập sẵn số điện thoại hỗ trợ, sẵn sàng trả lời mọi thắc mắc của điều tra viên khi có câu hỏi
3.2.4.3 Thay thế hộ và đối phó với các hộ từ chối phỏng vấn
Để giảm thiểu các trường hợp thay thế mẫu, các điều tra viên thông báo trước cho cán bộ xã về thời gian phỏng vấn và yêu cầu các xã thông báo với các hộ điều tra về mục đích, nội dung của cuộc điều tra và thời gian điều tra viên xuống làm việc với hộ Trong những trường hợp người trả lời từ chối tham gia vào các cuộc phỏng vấn, hộ đó sẽ được thay thế bằng hộ gia đình khác
Do mẫu điều tra được lấy từ danh sách hộ nghèo ở thời điểm năm 2009, nhiều
hộ đã thay đổi địa bàn cư trú vào thời điểm điều tra Do đó, điều tra viên vẫn gặp phải một số khó khăn khi tiếp cận hộ, thay thế hộ trong trường hợp các hộ được chọn đã di chuyển đi nơi khác Tuy nhiên, đây là vấn đề nghiên cứu đã lường trước
và có phương án chuẩn bị danh sách hộ thay thế Vì vậy, các điều tra viên vẫn đảm
Trang 38bảo được tiến độ và chất lượng số liệu thu thập
3.2.5 Phương pháp phân tích số liệu
Mục tiêu 1: Nghiên cứu sử dụng thống kê mô tả để phân tích, đánh giá thực trạng nghèo và những kết quả đạt được trong thực hiện chính sách giảm nghèo đối với người dân tộc thiểu số
Mục tiêu 2: Nghiên cứu sử dụng thống kê mô tả để phân tích các đặc điểm kinh tế - xã hội của đối tượng phỏng vấn;thực hiện kiểm định t – test giá trị trung bình các chỉ tiêu phúc lợi giữa nhóm hộ nghèo và cận nghèo Nghiên cứu sử dụng phương pháp Kết nối điểm xu hướng (PSM) để phân tích tác động của các chính sách vay vốn, chính sách đào tạo lên thu nhập của hộ gia đình
Mục tiêu 3: Sử dụng phương pháp diễn dịch, tổng hợp các kết quả thu được từ mục tiêu 1 và mục tiêu 2 để khuyến nghị chính sách
Đề tài sử dụng phần mềm Stata phiên bản 12.0 để hỗ trợ xử lý dữ liệu
3.3 TÓM TẮT CHƯƠNG 3
Chương 3 trình bày phương pháp nghiên cứu của đề tài Kết quả giai đoạn này
đã xác định mô hình nghiên cứu định lượng có 10 biến độc lập tác động đến thu nhập và chi tiêu của hộ nghèo, từ đó hình thành nên bảng câu hỏi khảo sát cho nghiên cứu định lượng
Nghiên cứu sử dụng kỹ thuật đánh giá tác động bằng phương pháp phương pháp hồi quy logarit và kỹ thuật Kết nối điểm xu hướng PSM (Propensity Score Matching), theo đó kích thước mẫu là 220 hộ thuộc nhóm so sánh và 220 hộ thuộc nhóm hưởng lợi Mẫu được chọn bằng kỹ thuật chọn mẫu phân tầng Các kỹ thuật phân tích hồi quy đa biếnvà kiểm định kiểm định t -test về khác biệt ở giữa nhóm hộ hưởng lợi và nhóm hộ so sánh được thực hiện để đảm bảo tính phù hợp của mô hình nghiên cứu
Trang 39Chương 4 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN
Chương này trình bày kết quả nghiên cứu để trả lời cho 2 câu hỏi: (1) Các chính sách của Chính phủ đã tác động đến giảm nghèo trong vùng dân tộc thiểu số
ở An Giang như thế nào? Và (2) Những hộ nghèo dân tộc thiểu số gặp khó khăn gì khi tiếp cận với các chính sách, chương trình hỗ trợ giảm nghèo?
4.1 TỔNG QUAN CHƯƠNG TRÌNH GIẢM NGHÈO NGƯỜI DÂN TỘC THIỂU SỐ TẠI TỈNH AN GIANG GIAI ĐOẠN 2008 – 2013
4.1.1 Đặc điểm tự nhiên và kinh tế xã hội tỉnh An Giang
4.1.1.1 Đặc điểm tự nhiên
An Giang là tỉnh ở miền Tây Nam Bộ, có diện tích tự nhiên 3.536,67 km2(Cục thống kê tỉnh An Giang, năm 2014) thuộc vùng Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL), một phần nằm trong vùng Tứ giác Long Xuyên
Hình 4.1: Bản đồ tỉnh An Giang
Nguồn: gis.chinhphu.vn
Trang 40Phía Bắc và Tây bắc giáp Vương quốc Campuchia, phía Tây Nam giáp tỉnh Kiên Giang, phía Nam giáp tỉnh Cần Thơ, phía Đông giáp tỉnh Đồng Tháp So với các tỉnh ĐBSCL, An Giang là một tỉnh có quy mô tương đối lớn cả về diện tích lẫn dân số Tỉnh An Giang có 11 đơn vị hành chính cấp huyện gồm: Thành phố Long Xuyên, TP Châu Đốc và 9 huyện; 156 đơn vị hành chính cấp xã gồm 21 phường,
16 thị trấn, 119 xã
Ở An Giang yếu tố khí hậu cơ bản qua các năm khá thuận lợi cho nông nghiệp theo hướng đa canh, thâm canh tăng vụ An Giang nằm trong vùng nhiệt đới gió mùa, quanh năm nóng ẩm, có chế độ nhiệt tương đối cao và bức xạ dồi dào Nhiệt
độ trung bình hàng năm từ 25oC đến 27oC, nhiệt độ cao nhất 36,9oC, nhiệt độ thấp nhất 17,7oC Độ ẩm không khí bình quân 80 - 83% Lượng mưa trung bình đạt 1.450 - 1.504 mm/năm Số ngày mưa bình quân 100 - 115 ngày/năm
4.1.1.2 Đặc điểm kinh tế - xã hội tỉnh An Giang
Dân số trung bình tỉnh An Giangnăm 2013 là 2.155.323 người, mật độ dân số trung bình là 609 người/km2 Tỷ lệ tăng dân số tự nhiên của tỉnh An Giang năm
2005 là 1,36%, đến năm 2013 giảm còn 0,94% (Cục thống kê An Giang, 2014) Cũng như nhiều tỉnh ĐBSCL, An Giang có cơ cấu đa dân tộc Ngoài người Kinh là chủ yếu, các dân tộc khác chiếm khoảng 2,7% dân số toàn tỉnh, trong đó người Khơ me chiếm 2,1%, người Chăm, Hoa và các dân tộc khác chiếm khoảng 0,6%
Chính phủ đã công nhận 21 xã vùng núi thuộc 2 huyện Tri Tôn (9 xã) và Tịnh Biên (12 xã) và công nhận khu vực vùng dân tộc đồng bằng gồm xã Lương An Trà huyện Tri Tôn và 5 xã: Đa Phước, Khánh Bình, Quốc Thái, Nhơn Hội, Vĩnh Trường của huyện An Phú
Tổng sản phẩm quốc nội (GDP) trên địa bàn tỉnh năm 2013 đạt 54.403,7 tỷ đồng, gấp 1,58 lần GDP năm 2008 (Cục Thống kê An Giang, 2014) Tốc độ tăng GDP tăng bình quân giai đoạn 2008 – 2013 là 9,52% Đến hết năm 2013, GDP bình quân đầu người theo giá hiện hành ở tỉnh An Giang đạt 31,2 triệu đồng/năm.Tỷ lệ nghèo của tỉnh An Giang năm 2009 là 5,81%, đến hết năm 2013 là 4,96%