1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Nghiên cứu xác định thông số công nghệ bảo quản gỗ keo lai (acacia mangium x a auriculiformis) làm nguyên liệu ván sàn, cabin cho tàu thuyền đi biển

77 299 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 77
Dung lượng 1,11 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đối với các tàu vượt đại dương có tải trọng lớn tàu chở hàng, chở khách nguyên liệu chính là thép, các hợp kim, vật liệu composit có độ bền cơ học cao, gỗ chủ yếu được sử dụng làm nội th

Trang 1

ĐINH VĂN TIẾN

NGHIÊN CỨU XÁC ĐỊNH THÔNG SỐ CÔNG NGHỆ BẢO QUẢN GỖ

KEO LAI ( Acacia mangium x A.auriculiformis) LÀM NGUYÊN LIỆU

VÁN SÀN, CABIN CHO TÀU THUYỀN ĐI BIỂN

Chuyên ngành: Kỹ thuật máy, Thiết bị và Công nghệ gỗ giấy

Mã số: 60.52.24

LUẬN VĂN THẠC SĨ KỸ THUẬT

Hướng dẫn khoa học: TS Nguyễn Thị Bích Ngọc

Trang 2

ĐẶT VẤN ĐỀ

Diện tích biển nội thủy Việt Nam có khoảng 4.200 km2, với chiều dài

bờ biển trên 3000km Đó là lợi thế của kinh tế biển cho việc khai thác khoáng sản, hải sản, giao thông vận tải,

Hiện nay trong đánh bắt hải sản và vận tải biển, tàu thuyền bằng gỗ vẫn chiếm tỷ trọng lớn do có nhiều ưu việt hơn so với phương tiện làm bằng vật liệu khác Đặc tính ưu việt của gỗ là dễ gia công chế biến, chịu va đập, chịu uốn, giá thành rẻ Tuy nhiên tầu thuyền được đóng bằng gỗ thường bị các loài sinh vật sống trong môi trường nước biển tấn công phá hoại phương tiện một cách âm thầm và rất mãnh liệt

Các đề tài nghiên cứu về bảo quản gỗ tàu thuyền hiện nay quan tâm chủ yếu đến việc nghiên cứu chống lại sự phả hủy gỗ của các sinh vật hại dưới nước mà cụ thể là chống Hà hại gỗ, chưa có nghiên cứu về phòng chống sinh vật gây hại cho phần gỗ trên mớn nước Do đặc điểm sử dụng của tàu thuyền, các kết cấu gỗ luôn bị hút ẩm tạo môi trường thuận lợi cho nấm mục và côn trùng tấn công Trong thực tiễn khảo sát tàu thuyền đi biển cho thấy gỗ phần cabin, sàn tàu thường bị nấm mục và bị mọt cánh cứng gây hại Vì thế cần thiết có các nghiên cứu chống sinh vật gây hại cho các kết cấu gỗ đóng boong, sàn, cabin, hầm tàu, đồng bộ với việc phòng chống Hà để bảo vệ con tàu một cách toàn diện hơn

Trước tình hình một số loại gỗ rừng tự nhiên phù hợp để đóng tàu thuyền

đi biển ngày càng khan hiếm, giá thành cao, trong khi nhu cầu về gỗ đóng tàu thuyền đi biển còn rất lớn Theo tính toán của các cơ sở đóng tàu: Tùy theo công suất tàu, khối lượng gỗ làm sàn, hầm, cabin tàu thường chiếm từ 30%-40% tổng lượng gỗ cần thiết để đóng một tàu gỗ Nếu lượng gỗ này được thay thế bằng gỗ rừng trồng sẽ góp phần đáng kể giải quyết tình trạng khan hiếm nguyên liệu trong công nghiệp đóng tàu thuyền hiện nay

Trang 3

Xuất phát từ yêu cầu đó, tôi tiến hành thực hiện đề tài luận văn thạc sĩ là:

“Nghiên cứu xác định thông số công nghệ bảo quản gỗ Keo lai ( Acacia mangium x A.auriculiformis) làm nguyên liệu ván sàn, cabin cho tàu

thuyền đi biển” Nội dung của đề tài luận văn là một nội dung nghiên cứu

của đề tài cấp nhà nước “Nghiên cứu xử lý một số loại gỗ rừng trồng từ nhóm

V đến nhóm VIII làm nguyên liệu đóng tàu thuyền đi biển” thuộc chương trình KC.07/06-10 Nghiên cứu, ứng dụng và phát triển công nghệ phục vụ công nghiệp hóa và hiện đại hóa nông nghiệp và phát triển nông thôn do Viện Khoa học Lâm nghiệp Việt Nam chủ trì thực hiện từ năm 2009- 2010

Trang 4

Chương 1:TỔNG QUAN

1.1 SƠ LƯỢC LỊCH SỬ NGHIÊN CỨU BẢO QUẢN GỖ ĐÓNG TÀU

THUYỀN ĐI BIỂN

1.1.1 Lịch sử nghiên cứu ngoài nước

Từ lâu trong lĩnh vực hàng hải trên thế giới, người ta đã phát hiện mật độ tấn công của một động vật sống trong môi trường nước biển đến phương tiện vận chuyển bằng gỗ Vì thế, trong những năm 1730, việc nghiên cứu chính thức thu hút được các nhà khoa học Năm 1733, Sellius nhà sinh vật Hà Lan

đã tiến hành phân loại Hà và đặt tên Hà phá hoại gỗ đã được xếp vào nhóm động vật thân mềm Những nghiên cứu cơ bản về Hà hại gỗ cho tàu thuyền đi biển do các tác giả người nước ngoài nghiên cứu, cũng đã được đề cập đến

mô tả một số loài Hà tại nước ta như: Năm 1936, F Doll, Tạp chí Ngư học có bài Les.Animaux rongeure deis surles có tes de l´ Indochine ( những động vật gặm gỗ ven bờ Đông dương ), Jour Conehykial ( số 296 – 301 ) đã mô tả một

số loài Hà sưu tầm được ở ven biển nước ta Cuối những năm 1950, ở Trung Quốc người ta cũng đã sử dụng CuSO4 để tẩm gỗ đóng tàu thuyền đi biển kết quả có khả quan nhưng do sử dụng ở dạng nguyên đơn chất, vì vậy khả năng rửa trôi của thuốc là rất lớn, do đó kết quả phòng trừ Hà không cao [25]

Cho đến nay vẫn còn tồn tại một số vấn đề chưa giải quyết được nhất là biện pháp phòng trừ Hà hại gỗ vẫn còn thụ động, hiệu quả thiết thực chưa cao Ở Pháp, các nhà khoa học đã đưa ra một số giải pháp bảo quản trụ gỗ để ngăn ngừa sự phá hoại của Hà: Giữ nguyên vỏ cây, bao bọc xung quanh khúc

gỗ bằng một lớp kim loại hay lớp dầu, nhựa, sơn thậm chí còn được bao bọc bằng một lớp xi măng ra bề ngoài gỗ

Năm 1961 – 1964, Roe, T., Hochman, H đã tiến hành nghiên cứu đánh giá hiệu lực chống Hà hại gỗ của một số loại thuốc hữu cơ như Creosote, nhựa than, hỗn hợp nhựa than Cresote, Oxit tributylin Kết quả nghiên cho

Trang 5

thấy rằng các loại thuốc trên có hiệu lực ngăn chặn sự xâm nhập của Hà

Mastesia và Teredine và các hoá chất vô cơ như hợp chất của đồng, thuỷ ngân

lại có khả năng phòng chống Hà Limnoria Để tăng khả năng phòng chống 2

loài Hà trên, các cuộc thử nghiệm hỗn hợp giữa Creosote, đồng hoặc oxit magie với dieldrin hoặc fenyl mercuric oleate đã được thử nghiệm và cho hiệu quả tốt [45]

Các nghiên cứu đánh giá độ bền tự nhiên của một số loại gỗ thương mại

của Thổ nhĩ kỳ gồm gỗ Sồi (Quercus petraea), dẻ (Castanea sativa), dương (Fagus orientalis), gỗ giác và lõi của Thông Scots (Pinus sylvestris) đã được

nhóm nghiên cứu của Trường đại học Tổng hợp Kareaelmas và Trường đại học tổng hợp Portmouth thực hiện Mẫu các loại gỗ được gia công với kích thước 25x75x200mm được đặt tại cảng Portmouth thuộc biển Địa trung hải Thời gian theo dõi khảo nghiệm 7 tháng Kết quả đã xác định được mẫu gỗ Thông Scot bị phá hủy hoàn toàn, gỗ Sồi, Dương và gỗ Dẻ bị Hà gây hại từ 25% đến 50% mẫu gỗ Như vậy, các loại gỗ thí nghiệm đều bị Hà tấn công,

gây hại mạnh Loài Hà Teredo navalis được xác định có mặt ở hầu hết các

mẫu gỗ thí nghiệm [46]

Edwin L.và Pillai A.G G của Viện nghiên cứu Thủy sản Ấn Độ đã đánh giá hiệu lực phòng chống Hà biển của một số loại thuốc CCA (Đồng- Crom – Asenic), hỗn hợp Đồng – Creosote, hỗn hợp Asenic – Creosote Mẫu gỗ cao

su 20 tuổi có kích thước 50x50 x200mm được tẩm lần lượt các hỗn hợp chất bảo quản trên đây theo phương pháp chân không áp lực Mẫu gỗ tẩm được đặt tại cảng biển Cochin trong thời gian 33 tháng Kết quả khảo nghiệm cho biết mẫu đối chứng bị phá hủy trong thời gian 6 tháng Bằng phương pháp xác định độ bền nén dọc thớ, mẫu đối chứng giảm độ bền trung bình 0,16N/mm2/ngày Mẫu tẩm hỗn hợp Asenic – Creosote có độ bền nén dọc thớ

Trang 6

giảm 19%, mẫu tẩm Đồng – Creosote giảm 13% và mẫu tẩm CCA giảm 7% [47]

Bên cạnh các nghiên cứu xử lí chống Hà biển hại gỗ bằng các loại hóa chất bảo quản tương đối thông dụng trên thế giới, hiện nay xu hướng nghiên cứu biến tính gỗ nhằm nâng cao độ bền tự nhiên và các đặc tính khác của gỗ

đã được tiến hành Nhóm các nhà nghiên cứu tại Trường đại học Công nghệ Chalmers và Trường Đại học Nông nghiệp của Thụy Điển đã nghiên cứu đánh giá độ bền của gỗ Thông được acetyl hoá với sinh vật gây hại trong đó

có Hà biển Mẫu gỗ thử nghiệm có mực độ acetyl hóa 14,5%, 19,7% và 21,3% được đặt tại vùng biển phía tây của Thụy Điển Kết quả khảo nghiệm xác định tuổi thọ trung bình của gỗ acetyl hóa không quá 2 năm Mẫu gỗ có tỷ

lệ acetyl hóa 21,3% có mức độ Hà gây hại nhẹ Ở mức acetyl hóa 14,5% mẫu

bị phá hoại hoàn toàn sau 22 tháng thử nghiệm [42]

Trong những năm trước đây, phần lớn các loại gỗ sử dụng ngoài trời với các mục đích khác nhau thường được bảo quản bằng các loại thuốc chứa các hợp chất của đồng Do môi trường sử dụng ngoài trời, vấn đề khả năng rửa trôi của thuốc bảo quản sau khi đã ngâm tẩm vào mẫu gỗ đã được quan tâm

để đánh giá hiệu quả của công tác bảo quản cũng như khả năng gây ô nhiễm môi trường của thuốc bảo quản gỗ có chứa hợp chất của đồng Lang – Dong Lin và các cộng sự (2009) đã nghiên cứu khả năng rửa trôi, ăn mòn kim loại

và và khả năng phòng chống mối của 03 loại gỗ khác nhau đã được xử lý bằng một số thuốc bảo quản có chứa hợp chất của đồng bao gồm:

- ACQ –A (7,2% Alkylbenzyldimethyl ammonium chloride + 9,2 CuO);

- Wolman CA-B (Copper azole)

Kết quả nghiên cứu cho biết tỷ lệ rửa trôi thuốc trong các loại gỗ đạt trong khoảng từ 6,92 – 19,54 %.Tỷ lệ ăn mòn kim loại của thuốc gôc đồng đat từ

Trang 7

1,65% - 3,11% và cao hơn so với thuốc chứa hợp chất của kẽm Các mẫu gỗ sau tác động rửa trôi vẫn đạt hiệu lực phòng chống mối tốt [43]

Với các hóa chất như Sunphat đồng CuSO4, CuO , thuốc bảo quản CCA (hỗn hợp của hợp chất của đồng, Crôm và Asenic) đã có nhiều công trình nghiên cứu xác định hiệu lực phòng chống đối với nấm mục và côn trùng Riêng thuốc bảo quản CCA, là loại thuốc được sử dụng rất rộng rãi tại Châu

Âu, châu Mỹ, châu Úc Để bảo quản gỗ dùng ngoài trời có tác dụng chống nấm mục và côn trùng rất tốt Song hiện nay, loại thuốc này đang bị hạn chế

và cấm sử dụng ở nhiều quốc gia trên thế giới do tác động gây ô nhiễm môi trường

Tổng quan sơ lược tình hình nghiên cứu ở nước ngoài cho thấy việc nghiên cứu bảo quản gỗ đóng tàu thuyền đã được đề cập từ rất lâu Song các kết quả nghiên cứu đó chỉ mang tính chất tham khảo bởi đối tượng gỗ cần tác động bảo quản, điều kiện, môi trường sử dụng tàu thuyền ở Việt Nam có nhiều khác biệt Đặc biệt là các loại thuốc chứa thành phần Asenic như CCA không được phép sử dụng ở Việt Nam để bảo quản gỗ

1.1.2 Lịch sử nghiên cứu trong nước

Năm 1958-1960, Viện nghiên cứu vật liệu- Bộ Giao thông vận tải và Bưu điện đã tiến hành thí nghiệm phòng trừ hà hại gỗ Gần 1 vạn mẫu được đặt tại Hải Phòng, Quảng Ninh đã có kết quả sơ bộ như sau:

+ Các loại gỗ nhóm 2 như: Lim, Táu, Nghiến, Sến: hà biển có phá hoại

nhưng chậm hơn các loại gỗ hồng sắc

+ CuSO4 nồng độ sử dụng 20 -25% mới đủ sức chống lại hà

Năm 1960 -1961, Khoa nghiên cứu gỗ - Học viện Nông lâm có thả một

số mẫu thử nghiệm và cọc gỗ ở cảng Hòn Gai và Bến Thủy Hải Phòng để thử nghiệm hiệu lực của thuốc bảo quản đối với hà biển Song công việc bị bỏ dở, gián đoạn và không có số liệu để tổng kết

Trang 8

Năm 1964, Bộ môn Bảo quản – Viện nghiên cứu Lâm nghiệp đã nghiên cứu

sử dụng creosote tẩm gỗ sau sau đóng thuyền vận tải biển Kết quả kéo dài tuổi thọ gỗ được 7 năm Tuy nhiên creosote có nhược điểm làm ô nhiễm môi trường nên kết quả này không được ứng dụng

Năm 1969 -1974, bộ môn Bảo quản gỗ tiếp tục thử nghiệm hiệu lực chống hà biển của 2 loại chế phẩm creosote và CuSO4 + NaOH, mẫu được đặt tại Đồ Sơn, Hải Phòng Nhưng do hoàn cảnh chiến tranh nên việc theo dõi thực nghiệm bị bỏ dở không có kết quả

Năm 1973 Ty Lâm nghiệp Thanh Hoá đã áp dụng kỹ thuật chống hà của Viện NC Lâm nghiệp xuất bản trong tỉnh cuốn “Kỹ thuật chống hà mục cho thuyền và bè đánh cá” Theo báo cáo, đã kéo dài tuổi thọ của tre luồng làm bè đánh cá gấp 3 lần và thuyền gỗ đánh cá lên 2 lần bằng thuốc Creosote Tuy nhiên, với nhược điểm làm ô nhiễm môi trường của Creosote nên kết quả này không được ứng dụng rộng rãi

Năm 1982 Phòng NC Bảo quản lâm sản – Viện KHLN Việt Nam đã nghiên cứu đề tài chống hà cho tàu thuyền đi biển bằng gỗ Đề tài đã sử dụng

4 loại thuốc gốc đồng là XM5A, XM5B, LN3 và (CuSO4 + NaOH) với các nồng độ 3, 5, 10 % Thuốc được tẩm vào mẫu gỗ theo phương pháp áp lực chân không và ngâm thường Mẫu thí nghiệm được treo tại vùng biển Hòn Gai – Quảng Ninh Kết quả tài liệu đã chỉ ra được các cấp nồng độ thuốc có hiệu lực tốt đối với hà, kéo dài tuổi thọ của gỗ lên 6 lần so với mẫu đối chứng

Đề tài cũng chứng minh các thuốc được sử dụng có nồng độ 1 – 10 % không làm ảnh hưởng đến thực phẩm tươi sống ướp muối chứa trong khoang thuyền

cá tẩm thuốc sau 24 h

Song song với những kết quả thử hiệu lực của các loại thuốc bảo quản lâm sản chống hà cho tàu thuyền đi biển tại Hồng Gai - Quảng Ninh (1981) Phòng Bảo quản lâm sản – Viện KHLN Việt Nam cũng đã đóng 1 thuyền

Trang 9

thực nghiệm bằng gỗ nhóm 5 – 6, ngâm thường với thuốc XM5A 10% Thuyền hoạt động vận tải khu vực cửa sông Ninh Cơ – Thái Bình Kết quả thuyền tẩm thuốc hoạt động liên tục 5 năm không phải thui đốt, trong khi đó ván vỏ đối chứng không tẩm thuốc bị hà ăn nát sau 5 tháng [25]

Năm 2007 Phòng NC Bảo quản Lâm sản Viện Khoa học Lâm nghiệp Việt Nam do TS Bùi Văn Ái chủ trì thực hiện đề tài “Nghiên cứu công nghệ bảo quản gỗ đóng tàu thuyền đi biển” đã tiến thử nghiệm với 7 loại gỗ rừng trồng và 3 loại gỗ rừng tự nhiên và có một số kết quả như sau:

+ Các loại gỗ như Táu mật, Sao đen, Dầu mít, Bạch đàn trắng đã được nghiên cứu ngâm tẩm với thuốc XM5 nồng độ 10% trở lên có hiệu lực tốt với Hà[2]

+ Gỗ Bạch đàn trắng được tẩm thuốc bảo quản CHG 15% sau 2 tháng vẫn chưa bị hà tấn công phá hoại và có độ bền tương đương với gỗ Táu tự nhiên[9]

+ Độ bền tự nhiên của gỗ Bạch đàn trắng tốt hơn so với các loại gỗ rừng trồng khác [34]

+ Mối quan hệ giữa nồng độ thuốc và khả năng thấm thuốc, áp lực tẩm

và thời gian duy trì áp lực tuân theo dạng phương trình tuyến tính hồi quy bậc nhất[34]

Sơ lược lịch sử nghiên cứu trong ngoài nước cho thấy những nghiên cứu về sinh học của hà hại gỗ và các giải pháp phòng chống hà cho tàu thuyền

đi biển đã được tập trung nghiên cứu Trong khi đó vấn đề sinh vật gây hại cho gỗ đóng tầu thuyền ( mối, mọt, xén tóc, nấm mục…) chưa được quan tâm nhiều Đặc biệt là gỗ sử dụng làm sàn, cabin, khoang chứa,… chịu ảnh hưởng của rất nhiều điều kiện tự nhiên như mưa bão, nắng gió, hay thường xuyên bị

cọ rửa làm ảnh hưởng rất nhiều đến độ bền tự nhiên, hay làm cong vênh nứt

Trang 10

nẻ chính vì vậy cần có nghiên cứu chống nấm mốc, mục mọt cho gỗ đóng boong, hầm tầu, sàn, cabin

1.2 YÊU CẦU VỀ NGUYÊN LIỆU GỖ ĐÓNG TÀU THUYỀN ĐI BIỂN

Hiện nay, trên thế giới có tới trên 130 loại nguyên vật liệu được sử dụng trong ngành công nghiệp đóng tàu thuyền Tùy theo chức năng, quy mô công suất, tải trọng của tàu, hàng hóa chuyên chở và hành trình vận chuyển, các tàu thuyền được đóng bằng các loại nguyên vật liệu khác nhau Đối với các tàu vượt đại dương có tải trọng lớn (tàu chở hàng, chở khách) nguyên liệu chính

là thép, các hợp kim, vật liệu composit có độ bền cơ học cao, gỗ chủ yếu được

sử dụng làm nội thất và là nguyên liệu không thể thiếu trong hầu hết các con tàu, các tàu thuyền nhỏ phục vụ du lịch, thể thao có kết cấu gọn nhẹ thường được chế tạo bằng các vật liệu nhẹ, bền đẹp như composit, gỗ dán đặc biệt hoặc các hợp kim, kim loại như nhôm, inox

Mặc dù nguyên liệu đóng tàu thuyền ngày nay rất phong phú, song đối với các tàu đánh cá, tàu du lịch, tàu chở hàng công suất vừa và nhỏ hiện nay vẫn

sử dụng nguyên liệu gỗ là chủ yếu vì công nghệ đóng tàu thuyền gỗ không đòi hỏi các thiết bị hiện đại, giá thành đóng mới và sửa chữa tàu thuyền gỗ không quá cao, phù hợp với khả năng tài chính của các hộ ngư dân, đặc biệt là ngư dân các nước đang phát triển như Việt Nam

Ở Việt Nam trước những năm 60, phần lớn các tàu thuyền đánh cá có công suất nhỏ từ (25-60 CV) đều được làm bằng gỗ; đến những năm 70, xuất hiện một số tàu đánh cá làm bằng xi măng lưới thép, nhưng các loại tàu này chủ yếu chạy trên sông hoặc pha sông-biển, có công suất thấp Các loại tàu lớn chở hàng vượt đại dương đều có vỏ làm bằng các loại thép chất lượng cao

Trang 11

Đối với các tàu thuyền được đóng bằng vật liệu phi gỗ, có thể nói không có quy định bắt buộc nào về việc sử dụng gỗ vào bộ phận nào của tàu; tuy nhiên thường thì với các loại tàu này, gỗ được dùng để đóng phần nội thất trên tàu Đối với các tàu được đóng bằng gỗ, kết cấu của một con tàu và yêu cầu nguyên liệu gỗ thường được quy định như sau:

Thân tàu được chia thành các phần cơ bản sau:

- Phần đuôi tàu - Là phần thân tàu có chiều dài bằng 0,3L tính từ đường vuông

Trang 12

TT Cơ cấu thân tàu Khối lượng riêng của gỗ

Yêu cầu chất lượng của gỗ:

- Gỗ dùng để đóng tàu phải là gỗ có chất lượng tốt, được sấy khô không

có bướu và giác, không mục, sâu, hoặc tách lớp, gỗ phải không bị nứt và không có các khuyết tật khác (các bướu nhỏ và riêng lẻ ở phía trong có thể chấp nhận được nếu không ảnh hưởng nhiều đến

chất lượng gỗ)

- Gỗ được dùng để chế tạo các cơ cấu dọc phải được sấy khô hợp lý Nếu

gỗ bị quá khô thì phải phủ một lớp dầu gai hoặc sơn dầu trước khi lắp ráp để ngăn ngừa hiện tượng tách lớp

Trang 13

-Gỗ dùng để chế tạo các cơ cấu thân tàu, đặc biệt là ván vỏ phải dùng gỗ nhóm I, II, III

-Không được dùng gỗ nhóm IV, V, VI để làm sườn, sống mạn và mã nối, sống đuôi, sống mũi, trục bánh lái, ống bao trục chân vịt và bệ máy

-Ván vỏ dưới đường nước phải là gỗ nhóm II hoặc nhóm III, trên đường nước có thể nhóm IV, ván bao thượng tầng và ván boong có thể dùng nhóm V Vách kín nước dùng nhóm V, yêu cầu gỗ phải được xẻ phẳng -Tiêu chuẩn phân nhó m về tính chất cơ lý theo TCVN 1027 – 71 Đô ̣ co ngót (dãn nở ) phu ̣ thuô ̣c vào đô ̣ ẩm, tố i đa là 12% theo hướng tiếp tuyến

vớ i thớ, 6% theo hướng bán kính và 1% theo hướng do ̣c thớ

- Gỗ dùng để đóng tàu phải được bảo quản trong môi trường khô và trước khi lắp ráp lên tàu gỗ phải có độ ẩm theo quy định (12%)

- Gỗ dán được dùng trong đóng tàu phải có chất lượng cao, phù hợp với mục đích sử dụng, phải có tính chịu nước lâu dài

- Ngoài vật liệu gỗ, có thể dùng các vật liệu khác để chế tạo các cơ cấu thân tàu (kết hợp vật liệu gỗ) Các vật liệu này phải có chất lượng tốt và phù hợp với mục đích sử dụng, đồng thời phải thoả mãn các yêu cầu của đăng kiểm đối với vật liệu đóng tàu Việc kết hợp các vật liệu khác với gỗ phải có các tài liệu tính toán để chứng minh rằng việc kết hợp các vật liệu đảm bảo đủ

độ bền cho thân tàu ở các điều kiện sóng gió của các vùng mà tàu hoạt động Phải ghi rõ các đặc tính cơ bản của vật liệu được sử dụng trong các bản vẽ tương ứng [37]

Do yêu cầu an toàn, nên các loại vật liệu (trong đó có vật liệu gỗ) dùng trong công nghiệp đóng tàu, thuyền đặc biệt là tàu-thuyền đi biển phải tuân thủ các yêu cầu ngặt nghèo được quy định trong các tiêu chuẩn (tiêu chuẩn chung quốc tế và tiêu chuẩn riêng của từng nước)

Trong các tiêu chuẩn này, người ta chỉ ra các lọai gỗ được dùng trong công

Trang 14

nghiệp đóng tàu-thuyền, yêu cầu chất lượng nguyên liệu gỗ Ví dụ trong tiêu chuẩn ISO 12215-3 phần quy định về vật liệu gỗ chỉ rõ các loại gỗ được sử dụng, các cấp tuổi thọ, độ bền tương ứng cho từng lọai gỗ và các yêu cầu khác như:

Gỗ phải chịu được môi trường nước biển và phải thuộc các cấp tuổi thọ 1,2 hoặc 3 trong bảng dưới đây ngoại trừ một số trường hợp cụ thể khác trong phần này của tiêu chuẩn ISO 12215

Bảng 1.1: Quy định cấp tuổi thọ theo khả năng chịu dựng (về thời gian) Cấp tuổi thọ Khả năng chịu đựng (năm) Sức chống chịu

(nguồn: ISO 12215-3, cấu trúc tàu thuyền nhỏ, phần 3: các loại vật liệu)

Việc lựa chọn các loại gỗ theo cấp như trên thể hiện trong bảng dưới đây

Gỗ ở các cấp tuổi thọ thấp hơn có thể được sử dụng như đã liệt kê trong bảng 1.2 dưới đây, miễn là các tính chất cơ học phải phù hợp với tiêu chuẩn của các bộ phận của tàu và thích hợp với các biện pháp bảo quản

Trang 15

Bảng 1.2: Phân loại gỗ theo cấp tuổi thọ Tên gỗ

(tên khoa học)

cấp tuổi thọ

Tên gỗ (tên khoa học)

cấp tuổi thọ

Basamiferum

2,3

(nguồn: ISO 12215-3, cấu trúc tàu thuyền nhỏ, phần 3: các loại vật liệu)

Gỗ cho phần cấu trúc khung không cho phép khuyết tật điều này có thể làm yếu, giảm tuổi thọ của tàu, ví dụ các khuyết tật như: giòn, mục, vết vỡ, mắt, và gỗ giác

Các tấm ván vỏ yêu cầu không được cong vênh, vặn xoắn trong quá trình sử dụng, vì thế các lọai ván này nên dùng ván xuyên tâm

Độ ẩm của gỗ phải nằm trong phạm vi quy định tùy theo phương pháp ghép nối và kích thước ổn định của cấu trúc Độ ẩm trung bình thường không lớn hơn 15%

Trong cuốn cẩm nang về vật liệu gỗ dùng trong công nghiệp đóng tàu thuyền (do Cục hải quân, phòng thí nghiệm về đóng tàu phối hợp với Phòng thí nghiệm các sản phẩm rừng, Cục nông nghiệp Hoa Kì xuất bản) các tác giả

đã cung cấp các thông tin là kết quả nghiên cứu liên quan đến sử dụng vật liệu gỗ trong đóng tàu-thuyền:

Trang 16

- Các yếu tố ảnh hưởng đến việc sử dụng gỗ trong đóng tàu thuyền: Khối lượng thể tích, độ ẩm, khuyết tật, các mối nguy hại khác như mục mọt,

Gỗ dùng để làm sàn, hầm và cabin tàu thuyền theo tiêu chuẩn Viêt Nam TCVN 3903-1984 và TCVN 7094-2007 là những loại gỗ thuộc nhóm IV và nhóm V Nhóm nguyên liệu này không đòi hỏi yêu cầu chất lượng cao như ván là khung xương, thân tàu (gỗ nhóm I,II,III), nhưng phải đảm bảo tính chất

cơ lý, độ bền tự nhiên, hạn chế sự tác động của các yếu tố sinh học và phi sinh học đến gỗ để đạt được yêu cầu chất lượng nguyên liệu gỗ tàu thuyền hiện nay

Theo Tiêu chuẩn Việt Nam TCVN 3903 – 1984 năm 1996 và dự thảo Tiêu chuẩn Việt Nam TCVN 7094 - 2007, vật liệu gỗ sử dụng đóng tàu cá được quy định rất cụ thể:

- Gỗ dùng để đóng tàu phải được sấy khô, có độ ẩm từ 15 đến 22%, không

bị xiên thớ và phải phù hợp với những quy định “Định mức khuyết tật cho phép của gỗ”

- Gỗ nhóm I, II, III được dùng để chế tạo khung xương của tàu Không được dùng gỗ nhóm IV, nhóm V và nhóm VI để làm sườn, sống mạn và mã nối, sống đuôi, sống mũi, trục lái, ống bao trục chân vịt và bệ máy

Trang 17

- Ván vỏ vùng dưới nước phải là gỗ nhóm II hoặc nhóm III Ván vỏ vùng trên đường nước và ván boong có thể là gỗ nhóm IV Ván bao của thượng tầng của thượng tầng hoặc của lầu có thể là gỗ nhóm V Ván vách ngang kín nước có thể là gỗ nhóm IV

- Ngoài ra, các loại gỗ dùng để chế tạo các cơ cấu của tàu còn phải thoả mãn các quy định khác của Tiêu chuẩn Việt Nam đã ban hành

TCVN 1072 – 71 Gỗ phân nhóm theo tính chất cơ lý

Chiều rộng của dải ván boong không được lớn hơn 25 mm Chiều dày ván không được nhỏ hơn các kích thước quy định dưới đây:

Với các tấm ván có chiều dài từ 15 m trở lên, chiều dày ván không nhỏ hơn 4,5 cm (gỗ nhóm II), không nhỏ hơn 5 cm (với gỗ nhóm III) và không nhỏ hơn 6 cm (với gỗ nhóm IV)

Do nguồn nguyên liệu gỗ rừng tự nhiên cung ứng cho công nghiệp đóng tàu thuyền trở nên khan hiếm, nguồn kinh phí hạn hẹp nên một số cơ sở đóng mới

và sửa chữa tàu thuyền đánh cá ở Việt Nam đã mạnh dạn sử dụng một số loại

gỗ rừng trồng làm nguyên liệu đóng sàn, cabin các tàu thuyền đi biển có công suất nhỏ Điều đáng lo ngại là các loại gỗ này hoàn toàn không được xử lí nâng cao độ bền cơ lí, không được bảo quản nhằm nâng cao độ bền tự nhiên của gỗ vì thế mức độ an toàn cho các tàu này trong quá trình sử dụng khó có thể đảm bảo Cục Quản lí khai thác nguồn lợi thủy sản (Bộ Thủy sản trước

Trang 18

đây) đã có các cảnh báo, khuyến cáo các hộ ngư dân và cơ sở đóng tàu thuyền mối nguy hại của sinh vật gây hại không đảm bảo an toàn, nhưng việc áp dụng các biện pháp bảo quản là rất khó thực hiện Vì vậy, công tác nghiên cứu bảo quản gỗ rừng trồng dùng cho nghành đóng tàu là rất cần thiết

Bảng1.3:Gỗ được sử dụng đóng tàu thuyền và tính chất cơ lý

Tên Thương mại Hệ số

co rút thể tích

Khối lượng thể tích (kg/m 3 )

Giới hạn bền uốn (MPa)

Giới hạn bền khi nén dọc thớ (MPa)

Mersawa Venven Kabak May bak

Mala Thai Laos

Light hopea Merawan Takhianth ong

UNK

I Mala Thai

Takien-nu Mayran

Thai Indo 0,67 870 132 65

4 Parashorea

stellata Kurz

Chò đen

Khoai kheo Gerutu

Thai Mala 0,54 810 162 64

Bitis Sen

Mala Vina 0,59 1060 221 83

Vina Mala Fran

Trang 19

Chương 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT

II.1 GỖ KEO LAI VÀ KHẢ NĂNG SỬ DỤNG LÀM NGUYÊN LIỆU ĐÓNG TÀU THUYỀN ĐI BIỂN

2.1.1 Gỗ Keo lai

Keo lai là tên gọi tắt để chỉ giống lai tự nhiên giữa Keo tai tượng

(Acacia mangium) và Keo lá tràm (Acacia auriculiformis) Giống lai tự nhiên

này thuộc họ đậu, được Messrs Herburn và Shim phát hiện lần đầu vào năm

1972 trong số các cây Keo tai tượng trồng ở Sook Tulupid thuộc bang Sabah của Malaysia Sau này Tham (1976) cũng coi đó là một giống lai Đến tháng 7 năm 1978, Pedgley cũng xác nhận đó là giống lai tự nhiên giữa Keo tai tượng

và Keo lá tràm

Keo lai cũng được trồng vài chục cây tại trung tâm nghiên cứu giống cây rừng ASEAN – Canada ở Muaklek – Thái Lan, Ở Indonesia, từ năm1992, người ta cũng bắt đầu thí nghiệm trồng cây keo lai từ nuôi cấy mô phân sinh Ngoài ra người ta còn tìm thấy Keo lai tự nhiên ở khu trồng Keo tai tượng ở Viện nghiên cứu Lâm nghiệp – Đài Loan và ở Quảng Châu – Trung Quốc

Ở Việt Nam, Keo lai xuất hiện lác đác tại một số nơi ở Nam Bộ như Tân Tạo, Trảng Bom, Sông Mây, Trị An và ở Bắc Bộ là Ba Vì Đặc điểm nổi bật của cây lai là sinh trưởng nhanh, vượt lên rõ rệt trên tán rừng Vì thế, từ xa

đã nhận biết được những cây lai tự nhiên này Keo lai sinh trưởng vượt trội so với cây bố mẹ Khảo nghiệm tại các vùng trồng thử cho thấy, trong điều kiện đất đồi trọc cho năng suất cao, cấu trúc rễ cây có nốt sần nên có khả năng ổn định và tổng hợp lượng đạm cho đất có tác dụng cải tạo đất

Keo lai ở độ tuổi 5 – 6 đạt đường kính ngang ngực 30cm – 40cm, thân thẳng, có màu nâu xám nhạt, mặt vỏ mịn hơn thân cây bố mẹ[10] Lá Keo lai

có dạng lá trung gian của Keo tai tượng và Keo lá tràm, không rộng chiều ngang như lá Keo tai tượng nhưng lại rộng hơn Keo lá tràm Gân là thường có

Trang 20

4 – 5, trong khi gân lá Keo tai tượng là 5,6 hoặc 7, Keo lá tràm là 3 hoặc 4 Lá Keo lai có màu xanh sẫm hơn cây bố mẹ, đặc biệt keo lai có khả năng chống chịu với bệnh thối ruột, trong khi cây bố mẹ không có khả năng đó

Gỗ Keo lai có khối lượng thể tích trung bình từ 0.40 đến 0.46 kg/cm3

Tỷ lệ các thành phần hóa học của Keo lai (so với nguyên liệu khô tuyệt đối)

có Xenlulô khoảng 50%, lignin: 25%, pentozan: 20%, còn lại là một số chất tan trong benzen, tan trong NaOH và tan trong nước 11 Keo lá có cấu tạo thô đại là giác lõi phân biệt (giác màu trắng, lõi màu vàng ngà), vòng năm không rõ, thớ gỗ thẳng mịn, gỗ sớm gỗ muộn không phân biệt Phân bố lỗ mạch phân tán và tụ hợp, tia gỗ nhỏ, nhiều Phân bố tế bào mô mềm trên mặt cắt ngang không rõ Cây keo lai ở độ tuổi 5 đến 6 có một số tính chất vật lý được biểu thị ở bảng 1.410

Bảng 2.1: Một số tính chất vật lý của gỗ Keo lai ở độ tuổi 5 – 6

Co rút thể tích (%) 5,80 Khối lượng thể tích gỗ khô kiệt (g/cm3)

Trang 21

2.1.2 Khả năng sử dụng gỗ Keo lai làm nguyên liệu đóng tàu thuyền

Nghiên cứu sử dụng gỗ rừng trồng chỉ thực sự được quan tâm khi nguồn nguyên liệu gỗ rừng tự nhiên trở nên khan hiếm do Nhà nước thực hiện chủ trương đóng cửa rừng nhằm bảo vệ và khôi phục nguồn tài nguyên rừng

tự nhiên bị khai thác quá mức trong nhiều năm Các nghiên cứu sử dụng gỗ rừng trồng chủ yếu quan tâm tới sản xuất ván nhân tạo, sử dụng gỗ xẻ cho đóng đồ mộc nội địa và xuất khẩu

Như một tất yếu khách quan, khi nguồn nguyên liệu gỗ rừng tự nhiên khan hiếm, sản lượng gỗ rừng trồng ngày một tăng thì sử dụng gỗ rừng trồng đòi hỏi phải được mở rộng và nâng cao giá trị, các nghiên cứu về gỗ rừng trồng đã và đang thu hút sự quan tâm của các nhà khoa học Hầu hết các nghiên cứu về sử dụng gỗ rừng trồng đã được tiến hành đều tập trung nghiên cứu nâng cao chất lượng gỗ, mở rộng khả năng sử dụng gỗ trong lĩnh vực chế biến đồ nội, ngoại thất và đồ mộc xây dựng, chưa có các nghiên cứu nâng cao chất lượng gỗ làm nguyên liệu đóng tàu thuyền

Mặc dù gỗ keo lai chưa được xếp nhóm trong bảng phân nhóm gỗ của Việt Nam song căn cứ vào kết quả nghiên cứu và tính chất cơ vật lý của gỗ thì gỗ keo lai đang được đề nghị xếp vào nhóm V Căn cứ vào yêu cầu nguyên liệu

gỗ đóng tàu thuyền nhỏ thì gỗ keo lai hoàn toàn có khả năng sử dụng để đóng boong tàu, sàn, cabin nếu được xử lý bảo quản để nâng cao độ bền tự nhiên của gỗ

II.2 SINH VẬT GÂY HẠI GỖ TÀU THUYỀN

2.2.1 Hà biển hại gỗ

Hà hại lâm sản là loài động vật thân mềm sống trong nước biển và cả trong nước lợ, chúng xâm nhập vào tre, gỗ và đào hang ngoằn ngoèo trong gỗ

Trang 22

làm mất một phần hoặc mất hoàn toàn ứng lực cơ học và làm mất giá trị và giá trị sử dụng của tre, gỗ

2.2.1.1 Vị trí phân loại và hình thái của Hà

Hà mà chúng ta đề cập đến thuộc ngành thân mềm Mollusca, lớp biện mang Lamellibranchia hay còn gọi là lớp hai mảnh vỏ Bivalvia, Bộ

Eulamellibranchia, bộ phụ ít răng Adapedonta, họ hà hại gỗ Teredinidae

Họ hà hại gỗ Teredinidae được chia ra làm hai phân họ, trong đó phân

họ Teredinae sống trong nước biển và hại gỗ nghiêm trọng Phân họ này bao

gồm những loài thân mềm, xâm nhập vào gỗ, đào những đường hang chằng chịt trong gỗ Cho đến nay trên thế giới đã phát hiện được trên 160 loài, 8 giống và phân bổ khắp thế giới, số lượng loài giảm dần từ xích đạo đến vùng

ôn đới Ở nước ta đã phát hiện được ở vùng biển Quảng Ninh, Hải Phòng có

20 loài thuộc 2 giống trong đó có 2 loài phá hại gỗ nghiêm trọng là Teredo

manni và Bankia saullii thường có tên gọi là hà bún hay hà suốt

2.2.1.2 Đặc tính sinh học của hà hại gỗ

Theo Grave năm 1928, một năm hà hại gỗ sinh sản 3 đến 4 lứa, mỗi lứa

từ 5 vạn đến 1 triệu trứng, trứng hà hại gỗ trôi nổi trong nước biển rồi nở ra ấu trùng nhỏ li ti bơi lội trong nước nhờ có tiêm mao, ấu trùng của hà có tính hướng dương, thời gian sống của hà từ 10 tháng đến 1 năm

Để xâm nhập vào gỗ, thoạt tiên ấu trùng của hà bám vào được mặt ngoài của gỗ, chúng khoét lỗ chui vào trong gỗ và chính lỗ chui vào ban đầu ấy là điểm liên hệ giữa hà với môi trường nước biển bên ngoài, trong suốt thời kỳ

hà sống trong gỗ, sự trao đổi này do 2 ống xi phông đảm nhiệm

Trong quá trình sinh trưởng và phát triển hà hại gỗ luôn luôn tiết ra một chất dịch làm mềm gỗ, chất dịch có chất vôi khi khô kết lại xung quanh hang đục của hà có màu trắng chính lớp vôi này bảo vệ cho hà an toàn không bị xâm hại của nước biển Trong quá trình sinh trưởng và phát triển, đầu hà gặm

Trang 23

gỗ đến đâu thì thân càng dài ra đến đó Mỗi cá thể hà đục một hang riêng biệt trong gỗ, nhưng những hang đục của cá thể này không xuyên qua hang gỗ kia, khi nào gỗ không còn nữa thì hà cũng hết thức ăn mà chết

Về mặt sinh thái: theo tài liệu của Viện nghiên cứu biển năm 1970, đối với loài hà bún ở vùng biển Hải Phòng - Đồ Sơn thì nhiệt độ thích hợp với hà

là 20-32o C, độ mặn là 0,7-3,3%, độ pH là 8,1- 8,35 Với điều kiện sinh thái này là thích hợp với đời sống của hà Hà thường sinh sản vào cuối tháng 6 đến cuối tháng 10 hàng năm Hà không ưa nước bùn bẩn, cho nên đối với những cọc gỗ chôn cố định thì hà thường xâm nhập phá hại phần gỗ cách lớp bùn khoảng 1mét và phần giao động của nước thuỷ triều lên xuống

2.2.1.3 Tác hại của hà đối với gỗ

Khi gỗ được ngâm trong điều kiện biển có độ mặn từ 0,7 - 3,3% trong điều kiện nhiệt độ và độ pH thích hợp thì hà sẽ xâm nhập và phá hại gỗ như thuyền, bè đi biển, cọc tàu biển ở các bến cảng Một ví dụ cho thấy rằng cầu tàu Bến thuỷ - Nghệ An làm bằng gỗ thiết mộc từ năm 1954 đến năm

1956 bị hỏng 70 % Cầu tàu Cửa Hội cũng ở Nghệ An làm bằng gỗ như phi lao từ năm 1954 đến năm 1957 thì hỏng hoàn toàn không còn sử dụng được nữa

Không phải đến ngày nay người ta mới biết đến sự nguy hại của hà đối với tàu thuyền đi biển cũng như những vật liệu bằng gỗ được dùng trong nước biển mà cách đây trên 2000 năm nhà bác học người La Mã tên là Pline đã giới thiệu sự phá hại của hà đối với gỗ được dùng trong nước biển trong toàn tập vạn vật học của ông Tuy vậy, cho mãi thế kỷ 18 những nghiên cứu về hà mới được chú ý nhiều hơn

2.2.1.4 Phòng trừ hà hại gỗ

Các tài liệu trong nước cũng như trên thế giới cho thấy rằng các loại chế phẩm bảo quản lâm sản có thành phần gốc đồng ( Cu++) có khả năng ngăn

Trang 24

ngừa hà có hiệu quả hơn cả Lê Văn Lâm (1985), đã bước đầu nghiên cứu hiệu lực phòng chống hà của các loại chế phẩm XM5A, XM5B , LN3 với nồng

độ sử dụng 5%, 10% và CuSO4 +NaOH nồng độ 10% và 15% Kết quả nghiên cứu cho biết các loại chế phẩm trên đều có hiệu lực phòng chống hà rất tốt, có thể kéo dài tuổi thọ sử dụng của gỗ tẩm lên từ 5 đến 6 lần so với gỗ đối chứng không tẩm thuốc Các chế phẩm XM5A, XM5B , LN3 sau khi tẩm vào gỗ đã được xác định không làm ảnh hưởng tới thực phẩm trực tiếp chứa trong khoang tàu Cho đến nay, các chế phẩm bảo quản lâm sản được Cục bảo

vệ thực vật quản lý, chế phẩm bảo quản dùng để tẩm tre, gỗ đóng tàu thuyền

đi biển được đăng ký với tên thương mại là CHG và loại chế phẩm dạng cao dùng để quét bên ngoài tàu thuyền có tên thương mại là M1[18]

2.2.2 Côn trùng hại gỗ

Côn trùng hại gỗ được hiểu theo nghĩa rộng vì chúng không những hại gỗ

mà còn hại tre, nứa, song, mây, còn hiểu theo nghĩa hẹp là côn trùng hại gỗ

Côn trùng hại gỗ bao gồm rất nhiều loài thuộc bộ cánh cứng (Coleoptera) mà

nhân dân thường gọi là cánh cứng hại gỗ hay mọt hại gỗ Bên cạnh các loài mọt hại gỗ còn có rất nhiều loài mối cũng hại gỗ thuộc bộ cánh bằng

(Isoptera) mà ta thường gọi là mối hay mối hại gỗ, như vậy côn trùng hại lâm

sản ở nước ta có 2 nhóm chính, đồng thời cũng thuộc 2 bộ côn trùng khác nhau như sau:

- Côn trùng hại gỗ thuộc bộ cánh cứng (Coleoptera)

- Mối hại gỗ thuộc bộ cánh bằng ( Isoptera)

Căn cứ vào đặc trưng hình thái và đặc tính sinh học, mối hại gỗ và mọt hại gỗ thuộc hai bộ khác nhau, nhưng cả hai nhóm này có một đặc tính chung

là đều lấy gỗ làm thức ăn chính hoặc trực tiếp hoặc gián tiếp để sinh trưởng

và phát triển

Trang 25

2.2.2.1 Côn trùng cánh cứng hại gỗ

Côn trùng cánh cứng hại gỗ hay lâm sản cũng có khi gọi là Mọt gỗ thuộc bộ

cánh cứng Coleoptera, chúng tấn công gây hại đối với gỗ và các lâm sản khác

gây ra thiệt hại lớn cho ngành khai thác, chế biến và sử dụng gỗ Mọt hại gỗ

là một khái niệm rất chung chung để chỉ một nhóm côn trùng hại gỗ thuộc bộ

cánh cứng Coleoptera gồm rất nhiều loài, giống và họ, mà không chỉ một loài

cụ thể nào Theo thống kê chưa đầy đủ thì ở Việt Nam có hàng 1000 loài, mức độ phá hại của từng loài cũng khác nhau

Côn trùng cánh cứng hại gỗ hay lâm sản cũng có khi gọi là Mọt gỗ

thuộc bộ cánh cứng Coleoptera, chúng tấn công gây hại đối với gỗ và các lâm

sản khác gây ra thiệt hại lớn cho ngành khai thác, chế biến và sử dụng gỗ Mọt hại gỗ là một khái niệm rất chung chung để chỉ một nhóm côn trùng hại

gỗ thuộc bộ cánh cứng Coleoptera gồm rất nhiều loài, giống và họ, mà không

chỉ một loài cụ thể nào Theo thống kê chưa đầy đủ thì ở Việt Nam có hàng

1000 loài, mức độ phá hại của từng loài cũng khác nhau

Trong mỗi họ có thể phân chia ra hai hoặc nhiều phân họ khác nhau Trong 9 họ cánh cứng hại gỗ hay còn gọi là mọt gỗ kể trên sẽ được giới thiệu

kỹ hơn đối với các họ: Anobiidae, Bostrychidae, Cerambycidae, Lyctidae,

Platypodidae và Scolytidae

Côn trùng cánh cứng chia làm 3 nhóm chính:

- Nhóm côn trùng hại vỏ cây ( Phloeophagy)

- Nhóm côn trùng hại gỗ trực tiếp (gỗ khô) Xylophagy

- Nhóm côn trùng hại gỗ tươi (Xylo- mycetophagy)

Đối với gỗ tàu thuyền kết cấu cabin, sàn thì đối tượng côn trùng cánh cứng hại gỗ khô trực tiếp là đối tượng gây hại chính cần nghiên cứu phòng trừ

Trang 26

2.2.2.2 Mối hại gỗ

Mối là côn trùng đa hình thái, chúng có đời sống xã hội chặt chẽ, sống kín đáo trong đất và trong các giá thể bằng gỗ, mối gây thiệt hại lớn cho ngành lâm nghiệp, thuỷ lợi, xây dựng, kiến trúc Mối không những phá hại những nhà tranh tre nứa lá, nhà cấp 4 mà chúng xâm nhập gây hại những cấu kiện bằng gỗ trong cao ốc nhiều tầng, chúng còn phá hại các loài cây công nghiệp như cao su, cà phê, mía, chè, mối phá hại các sản phẩm có nguồn gốc

từ xenluloza [18]

Vị trí phân loại của mối

Theo hệ thống phân loại côn trùng thì mối là côn trùng nguyên thuỷ

thuộc bộ cánh bằng Isoptera, có họ hàng gần gũi với gián, niên đại tồn tại của

mối có đến 200 triệu năm (Zalessky 1937), còn kiến thì niên đại tồn tại của nó ước khoảng 70 triệu năm, nên người ta nói rằng mối là tổ tiên của lớp côn trùng Phương thức sinh sống của mối Isoptera và ong kiến Hymenoptera là rất giống nhau, chúng là côn trùng xã hội, đều sống thành quần thể, và đã cùng với niên đại tồn tại của loài người không đến 1 triệu năm

Mối là côn trùng đa hình thái, mỗi một tổ mối tự hình thành một quần thể, đầu tiên từ một đôi mối cánh (sau này gọi là mối vua và mối chúa nguyên thuỷ) chúng bắt đầu giao phối và đẻ trứng, sau đó nở thành mối non, từ mối non sau phân hoá thành hai loại hình lớn là loại hình sinh sản và loại hình không sinh sản Ở hai loại hình lớn này có thể phân chia thành nhiều đẳng cấp, trong loại hình không sinh sản có mối lính và mối thợ còn loại hình sinh sản có mối cánh, và mối cánh ngắn (có khi còn gọi là mối giống)

Mối rất phong phú về thành phần loài, đối tượng gây hại của mối rất đa dạng, song với gỗ tàu thuyền do đặc điểm sử dụng, chủng loại mối gây hại

cần quan tâm phòng trừ đó là mối gỗ khô (Cryptotermes domesticus

Trang 27

Haviland). Mối gỗ khô bay giao hoan phân đàn vào tháng 4 đến thang 9, ngoài những tháng này ra vẫn có hiện tượng bay giao hoan phân đàn vào tháng 10, 11 hàng năm khi trời nắng ấm

- Sự hình thành tổ mối gỗ khô: Mối cánh trưởng thành sau khi khi bay

ra khỏi tổ bằng chính lỗ nhỏ mà mối gỗ khô dùng để đùn phân mối ra ngoài còn gọi là lỗ vũ hoá và lỗ thông khí, đường kính lỗ vũ hoá  ≥ 1 mm Khi nào không đùn phân mối ra và không phải là thời kỳ vũ hoá thì mối dùng nước bọt của mối tiết ra đem nhào với phân mối rồi bịt lỗ vũ hoá lại Mối cánh trưởng thành đực và cái bay ra khỏi tổ rất nhanh nhẹn, chúng bay qua bay lại mấy vòng rồi đậu xuống đất hoặc những mặt bàn, ghế giường tủ, chúng hoạt động mạnh làm cánh rụng và tìm nhau ghép đôi Mối đực và mối cái tìm đến những khe hở của mộng ghép, vết nứt của gỗ và đặc biệt chúng tìm đến những lỗ mọt nước (mọt gỗ tươi) có trên bề mặt gỗ để làm tổ, khi tìm được nơi thích hợp chúng dùng nước bọt chúng tiết ra đem nhào với phân mối và mùn gỗ do chúng gậm ra tạo ra một thứ hồ để bịt các khe hở tạo nên tổ mối ban đầu, kính thước của tổ mối ban đầu dài hơn chiều dài của mối đực, mối cái khoảng 1,2- 1,5 cm, chiều rộng khoảng 1,2-1,5mm Con đực và con cái giao phối sau 7-10 ngày thì đẻ trứng, trứng nở ra mối non Lúc này mối đực và mối cái được gọi

là mối vua mối chúa nguyên thuỷ (mối vua mối chúa đầu tiên) Mối non qua nhiều lần lột xác thành các đẳng cấp mối khác nhau: mối thợ giả mối lính, mối sinh sản cánh ngắn Tổ mối ở trong gỗ nơi mối lấy thức ăn, không liên hệ với đất, với nguồn nước và không có đường mui, không có vườn cấy nấm

- Vai trò của mối lính, mối thợ giả, mối sinh sản cánh ngắn:

Mối lính chiếm tỷ lệ khoảng 5-6% trong tổng số cá thể của quần thể mối Chức năng mối lính chưa rõ ràng lắm Theo tài liệu của Thái Bàng Hoa (1964) thì mối lính dùng phần đầu cứng rắn của mình để bịt các lỗ thông khí khi cần thiết để ngăn chặn thiên địch xâm nhập vào tổ mối gỗ khô

Trang 28

Mối thợ giả, mối sinh sản cánh ngắn có chức năng gậm gỗ và dùng bộ phận miệng như một bàn tay Rôbốt để gắp những viên phân mối vứt ra ngoài qua lỗ thông khí hoặc gắp trứng mối đặt vào nơi thích hợp Khi không thải phân ra ngoài thì bịt lỗ thông khí lại

Mối sinh sản cánh ngắn có thể gọi là mối vua mối chúa bổ sung vì nó

có khả năng sinh sản và cùng tồn tại với mối vua và mối chúa nguyên thuỷ trong cùng một tổ, mối vua và mối chúa nguyên thuỷ tự gặm gỗ để sống và không cần một đẳng cấp nào mớm thức ăn cho, chức năng này khác với mối

vua và mối chúa ở đẳng cấp cao như Rheticulitermes

- Tổ mối gỗ khô: Là những khoang rỗng, không có hình dạng đặc trưng, những khoang lớn dài thường song song với thớ gỗ, nếu thớ gỗ vằn thì hang mối cũng vằn theo, giữa các hang mối này thường có nhiều lỗ nhỏ có đường kính  ≥ 1mm thông với nhau, khi không cần thiết thì bịt lại như là bịt

lỗ thông khí Khi bàn ghế bị mối gỗ khô hại nghiêm trọng thì lấy ngón tay di nhẹ trên bề mặt gỗ thì hang mối sẽ lộ ra ngoài làm mất vẻ đẹp của gỗ vì khi gặm gỗ mối gỗ khô bao giờ cũng chừa lại một lớp gỗ mỏng trên bề mặt gỗ để tránh ánh sáng và giữ độ ẩm cần thiết cho tổ mối Trong một tổ mối thường thông ra ngoài bằng một lỗ thông khí bằng chính lỗ này mối đùn phân ra ngoài, đồng thời cũng là lỗ vũ hoá Đường kính của lỗ vũ hoá  ≥1mm nhưng

để đùn phân ra ngoài mối gỗ khô chỉ mở rộng khoảng 0,3 – 0,4 mm, khi vũ hoá chúng mới mở rộng lỗ vũ hoá với độ rộng thích hợp để bay ra ngoài Thức ăn của mối gỗ khô là gỗ, gỗ chết khô ở trong thân cây sống Mối gỗ khô hại gỗ từ năm này qua năm khác làm gỗ mất hết ứng lực không dùng được

Thân thể của mối cũng giống như những côn trùng khác gồm có 3 phần

là đầu, ngực và bụng Đầu có thể cử động tự do và có các khí quan quan trọng như miệng, râu đầu và mắt, 3 đốt ngực có 3 đôi chân, ở thành trùng có cánh còn có 2 đôi cánh

Trang 29

2.2.3 Nấm mục

Hầu hết các loại gỗ nếu để ngoài trời đều bị nấm mục xâm nhập và gây hại Sự xâm nhiễm của nấm mục có thể sảy ra khi gỗ còn ở dạng gỗ tròn, gỗ súc, gỗ xẻ xếp đống để hong phơi hoặc lưu giữ trong kho và các sản phẩm gỗ đang trong quá trình sử dụng Nấm mục ban đầu xâm nhiễm vào gỗ tại các điểm nhỏ trên bề mặt gỗ, tốc độ phát triển và phân huỷ gỗ sẽ phụ thuộc vào các điều kiện phù hợp với từng loài nấm

Với các đối tượng gỗ sử dụng làm cột cọc, hàng rào, gỗ trụ mỏ, tà vẹt

và các hình thức sử dụng gỗ tiếp xúc trực tiếp với nền đất và bị ẩm ướt dễ bị nấm mục gây hại Lượng gỗ tổn thất do nấm mục gây ra là rất lớn, bởi trong những điều kiện sử dụng như vậy rất phù hợp cho sự phát triển của nấm mục

Khi gặp các điều kiện thuận lợi, nấm mục xâp nhập và phát triển trên

bề mặt gỗ hoặc tại các vết nứt trên gỗ Sợi nấm sẽ phát triển thành hệ sợi, có dạng hình quạt, màu trắng hoặc nâu có thể nhìn thấy bằng mắt thường Hệ sợi nấm giữ vai trò như hệ thống rễ của cây Trong giai đoạn đầu, sợi nấm phát triển sâu vào trong gỗ theo các hướng khác nhau, thường sợi nấm đi từ tế bào này qua tế bào khác bằng cách qua các lỗ do chính sợi nấm tạo ra khi tiếp xúc với vách tế bào Các công trình nghiên cứu đã cho biết nấm có khả năng tiết

ra enzim làm thủng vách tế bào mà không cần có áp lực cơ học nào Trong quá trình sợi nấm xâm nhập vào gỗ, không có sự phân huỷ gỗ, do đó chưa làm thay đổi các tính chất của gỗ Giai đoạn tiếp theo, gỗ chớm bị mục, màu sắc của gỗ sẽ bị thay đổi nhưng rất khó nhận biết và rất dễ bị lẫn với trường hợp

gỗ bị biến màu do phản ứng của một số hợp chất hoá học trong gỗ gây ra Hơn nữa, sự biến màu này thường xuất hiện trên bề mặt gỗ còn tươi hơn là đối với gỗ đã khô Theo thời gian, sự biến màu trên bề mặt gỗ ngày càng rõ hơn, vách tế bào gỗ bắt đầu bị phân huỷ, gỗ có sự thay đổi đáng kể về màu sắc, cấu trúc và độ bền cơ học Giai đoạn cuối cùng, gỗ có thể trở nên mục,

Trang 30

mềm, xốp, xơ ra, nứt theo vòng năm, rỗng hoặc dễ bở vụn, phụ thuộc vào cách thức phá hoại của mỗi loài nấm

Gỗ bị mục nát còn có thể là hậu quả của quá trình phá hoại kế tiếp nhau của các loại nấm mục Các loài nấm có sức phá hại yếu thường xâm nhập trước vào đối tượng gỗ còn tương đối ẩm Các loại nấm này một mặt sử dụng các chất chứa trong tế bào, một mặt phá vách tế bào nhưng ở mức độ yếu Chúng không có khả năng phá hại hoàn toàn vách tế bào gỗ, do vậy trong gỗ ngoài sự biến màu còn có hiện tượng mục nhẹ Tiếp theo, khi độ ẩm của gỗ giảm nhiều, trong tế bào gỗ có nhiều khoảng trống do nước bốc hơi và không khí thay thế, do vậy lượng oxy trong gỗ càng lớn, thuận lợi cho các loài nấm mục có khả năng phá hại mạnh xenlulo và linhin, làm mất hoàn toàn ứng lực

cơ học của gỗ

Dựa trên phản ứng hoá học với các thành phần hoá học của vách tế bào

và kết quả thay đổi màu sắc gỗ do nấm mục gây ra, có hai nhóm nấm gây mục

gỗ chính có thể phân biệt được, đó là:

-Nhóm nấm gây mục trắng: Những loài nấm thuộc nhóm này có thể phân huỷ cả xenlulo và linhin của gỗ, gỗ bị mục thường có màu trắng và có thể quan sát thấy những vệt sọc có kích thước thay đổi trên phần gỗ còn chắc -Nhóm nấm gây mục nâu: Tập trung phá hoại xenlulo, gỗ mục có màu nâu và rất dễ bị bở vụn dưới tác động của ngoại lực

Ngoài ra còn có một số loài nấm mục có đặc điểm phá hoại gỗ kết hợp giữa đặc điểm của hai nhóm nấm trên

Mỗi loài nấm mục cũng có yêu cầu một ngưỡng độ ẩm nhất định cho quá trình phát triển Thông thường, độ ẩm gỗ trên điểm bão hoà thớ gỗ là phù hợp nhất cho các loài nấm mục Khi độ ẩm gỗ trong khoảng 25% - 30%, sự phát triển của nấm chậm lại, và dưới 20% nấm sẽ bị ức chế hoàn toàn Do đó,

gỗ lành nếu được sấy hoặc phơi khô sẽ tránh được sự gây hại của nấm mục,

Trang 31

trừ khi gỗ đó bị ướt hoặc để hút ẩm trở lại đạt đến mức độ ẩm phù hợp cho nấm mục xâm nhập và phát triển Hơn thế nữa, gỗ đã bị nấm mục xâm nhiễm nếu được làm khô đạt độ ẩm dưới 20%, thì sự phát triển của nấm mục cũng bị ngưng trệ hoàn toàn Khoảng thời gian sợi nấm có thể sống, qua trạng thái tiềm sinh dưới điều kiện không khí khô sẽ thay đổi tuỳ theo từng loài nấm, song có trường hợp có thể kéo dài tới hàng năm Đó là khả năng sợi nấm có thể sống lại khi độ ẩm gỗ đạt tới ngưỡng phù hợp cho sự phát triển của nấm

Nấm mục cũng có khả năng phát triển trong khoảng nhiệt độ rộng, song chúng thường phát triển nhanh hơn trong giai đoạn thời tiết ấm của năm Khoảng nhiệt độ thích hợp cho nấm mục là từ 240 đến 320C Khi nhiệt độ thấp dưới 240C, tốc độ phát triển của nấm chậm lại, và ở trạng thái tiềm sinh Khi nhiệt độ tăng lên nếu cung cấp nhiệt bằng hơi nóng trong một thời gian nhất định sẽ diệt được nấm Phần lớn các loài nấm mục sẽ ngừng phát triển ở nhiêt

độ 400C

Nấm mục duy trì nòi giống bằng các bào tử được sinh ra với số lượng rất lớn trong các quả thể Quả thể thường xuất hiện trên bề mặt của gỗ đã bị mục Quả thể của các loài nấm mục rất khác nhau về hình dạng, kích thước, màu sắc, cấu trúc đây cũng là một trong các căn cứ để nhận biết loài nấm gây hại

Nấm mục cũng có thể phát sinh và phát triển không cần bào tử mà bằng cách mọc trực tiếp các sợi nấm từ đất, từ gỗ đã mục sang gỗ lành nếu để tiếp xúc với nó Trường hợp này thường sảy ra trong đống gỗ hong phơi khô, khi

gỗ còn tươi, gỗ xẻ hoặc các sản phẩm gỗ được xếp đống trên các thanh kê đã

bị nhiễm nấm mục Sợi nấm có thể phát triển trên bề mặt gỗ và lan rộng vào trong gỗ [18]

Trang 32

2.3 CHẾ PHẨM BẢO QUẢN LÂM SẢN

Chế phẩm bảo quản lâm sản hay còn gọi là thuốc bảo quản lâm sản là hỗn hợp những hoạt chất có nguồn gốc nguyên liệu từ hoá chất vô cơ, hoá chất hữu cơ, từ thực vật, vi sinh vật Chế phẩm bảo quản lâm sản được sử dụng để tác động một cách trực tiếp hoặc gián tiếp vào lâm sản nhằm mục đích phòng ngừa sự xâm nhập của các tác nhân gây hại lâm sản hoặc dùng để diệt trừ côn trùng và nấm hại lâm sản

2.3.1 Yêu cầu đối với chế phẩm bảo quản lâm sản

Một hoạt chất có nguồn gốc hoá học hoặc sinh học muốn được dùng làm chế phẩm bảo quản lâm sản lý tưởng phải đáp ứng các yêu cầu sau:

- Có hiệu lực cao đối với sinh vật hại lâm sản

- Không độc hại đối với người và gia súc

- Không gây ô nhiễm môi trường

- Dễ thấm vào gỗ và lâm sản

- Có tính ổn định trong vật liệu tẩm

- Không làm giảm tính chất cơ học của vật liệu tẩm

- Không ăn mòn kim loại

- Không làm tăng khả năng bốc cháy của vật liệu tẩm

- Không ảnh hưởng đến trang sức bề mặt

- Rẻ, dễ sản xuất và sử dụng

Trong thực tế, không có một hoạt chất nào đáp ứng được tất cả các yêu cầu trên, nhưng vẫn có nhiều hoạt chất được dùng làm chế phẩm bảo quản lâm sản, đó là vì các chế phẩm ấy đã đạt được một số yêu cầu quan trọng, phù hợp với điều kiện môi trường sử dụng và bằng các biện pháp kỹ thuật tổng hợp có thể khắc phục được những nhược điểm của chế phẩm, hoặc có thể bỏ qua một số yêu cầu không phải là quyết định

Trang 33

Trải qua quá trình sử dụng lâu dài, một số chế phẩm bảo quản lâm sản chứa thành phần hoá chất có hiệu lực rất tốt đối với sinh vật gây hại lâm sản song có độc tính cao hoặc khó phân huỷ gây tác động xấu đối với sức khoẻ con người và môi trường nên đã dần bị loại bỏ và cấm sử dụng trên phạm vi toàn cầu Hiện nay và xu hướng phát triển của chế phẩm bảo quản lâm sản trong tương lai là sử dụng các hoá chất có độ an toàn cao với môi trường và

ưu tiên phát triển các loại chế phẩm có nguồn gốc sinh học Như vậy, cho đến nay chế phẩm bảo quản lâm sản không chỉ đơn thuần là các chế phẩm có nguồn gốc hoá học mà còn có các chế phẩm chứa hoạt chất chính chiết xuất

từ thực vật hoặc vi sinh vật

2.3.2 Cơ chế tác dụng của chế phẩm bảo quản lâm sản

Do có nhiều đối tượng sinh vật và phi sinh vật phá hại lâm sản, nhiều loại chế phẩm khác nhau nên tác dụng bảo quản của chế phẩm cũng rất khác nhau Chế phẩm có thể được xử lý trực tiếp lên cơ thể sinh vật (như đối với mối) hoặc chủ yếu là bằng cách tẩm sâu vào gỗ vào lâm sản, hoặc xông hơi, nhưng dù cách xử lý thế nào cũng đều nhằm phòng ngừa hoặc tiêu diệt các tác nhân gây hại lâm sản với các tác động như sau:

2.3.2.1 Cơ chế tác dụng phòng trừ côn trùng, hà biển của các chế phẩm bảo quản có nguồn gốc hoá học

Chế phẩm bảo quản lâm sản có nguồn gốc hoá học hoặc chiết suất từ thực vật, khi sử dụng để phòng trừ côn trùng và hà biển, sẽ xâm nhập vào cơ thể của chúng qua vỏ cơ thể, qua miệng và qua hô hấp

- Chế phẩm xâm nhập qua vỏ cơ thể: Chế phẩm có đặc tính thẩm

thấu qua vỏ cơ thể côn trùng bằng cách hoà tan trong lipit và lipoprotein của lớp biểu bì trên của vỏ cơ thể Hoặc chế phẩm có thể xâm nhập vào cơ thể côn trùng qua những đoạn da mềm như các đoạn khớp đầu, ngực, bàn chân, chân lông, râu cơ quan cảm giác Chế phẩm xâm nhập qua chỗ da mềm này và qua

Trang 34

các tuyến tiết dịch vào lớp hạ bì và màng đáy rồi từ đó vào tế bào thần kinh,

tế bào máu và được truyền đi khắp cơ thể thông qua hệ thống tuần hoàn

- Chế phẩm xâm nhập qua đường tiêu hoá: Chế phẩm xâm nhập vào

cơ thể côn trùng qua miệng vào đường ruột cùng với thức ăn và được hấp thụ chủ yếu ở đoạn ruột giữa qua bao ruột peritrophit rồi khuếch tán qua lớp biểu

bì ruột vào tế bào thần kinh, máu truyền đi khắp cơ thể Một lượng chế phẩm cũng có thể thẩm thấu qua thành ruột trước vào thành ruột sau và được giữ lại

ở đó Quá trình đồng hoá và bài tiết thức ăn tiến triển càng chậm chất độc càng lưu lại lâu trong ruột, thức ăn không tiêu hoá được vì chế phẩm bảo quản

sẽ tiêu diệt các vi khuẩn trong ruột côn trùng có tác dụng giúp tiêu hoá thức

ăn, hoặc phá huỷ men tiêu hoá của côn trùng

- Chế phẩm xâm nhập qua đường hô hấp: Ngoài những loại chế

phẩm tác động qua đường tiếp xúc, đường tiêu hoá còn có loại chế phẩm gây hiệu lực qua đường hô hấp do một phần chế phẩm biến thành thể khí có tác dụng xông hơi Chất độc xâm nhập qua lỗ thở cơ thể côn trùng và từ đó qua

hệ thống khí quản và vi khí quản vào tổ chức tế bào thông qua quá trình thông hơi Chế phẩm xâm nhập qua đường hô hấp gây độc nhanh và mạnh hơn rất nhiều so với xâm nhập qua đường ruột và qua vỏ cơ thể côn trùng bởi sẽ tác động ngay tới tế bào thần kinh

2.3.2.2 Cơ chế tác dụng của chế phẩm bảo quản lâm sản đối với nấm

Chế phẩm bảo quản đã được tẩm vào gỗ, tre nứa, trước hết nó đã tạo ra một môi trường khác hẳn với tre nứa không tẩm, nó tước bỏ những điều kiện tối ưu hoặc ít ra là không thuận lợi cho việc nảy mầm của các bào tử, hơn thế nữa nó phá hoại ngay các bào tử nấm Các chất thấm vào các bào tử, phản ứng với các thành phần chủ yếu của bào tử làm cho bào tử không thể nảy mầm được vì trong thành phần cấu tạo của bào tử có nhiều nhóm có hoạt tính hoá học như nhóm hydroxin, photphatamin, cacbonxin, sunfrin, amidzol

Trang 35

trong đó nhóm nào cũng có khả năng phản ứng với hoá chất tích luỹ trong bào

tử Mặt khác, các hoá chất khi đã xâm nhập được vào nấm, chúng có khả năng tạo thành các lực liên kết Vanderval, liên kết hydro, liên kết ion, liên kết bán phân cực hoặc liên kết đồng hoá trị với các axit amin, protein và các chất khác trong quá trình cơ bản trao đổi chất của nấm, ức chế sự phân chia tế bào, làm biến đổi cấu trúc bên trong của tế bào Tuỳ loại hoá chất mà một số men của

tế bào nấm bị ức chế làm rối loạn các hoạt động dinh dưỡng như hút nước, hút glucose quá nhiều, làm ngưng kết hoặc biến tính protit

Kết quả tổng hợp của các tác động nói trên của chế phẩm bảo quản sẽ làm cho nấm biến dạng về hình thái hoặc bị tiêu diệt ngay trên gỗ đã tẩm

Để bảo vệ gỗ đóng tàu thuyền đi biển, do đặc tính về điều kiện môi trường làm việc của tàu thuyền là phải chịu tác động trực tiếp của các yếu tố thời tiết và ngoại cảnh như: Mưa nắng, nước biển đòi hỏi loại chế phẩm dùng

để bảo quản gỗ tàu thuyền phải đáp ứng những yêu cầu cơ bản sau đây:

- Chế phẩm phải có hiệu lực tốt với cả nấm, côn trùng và hà hại gỗ

- Chế phẩm phải có khả năng cố định trong gỗ sau quá trình ngâm tẩm

để chống chịu rửa trôi

- Chế phẩm phải ổn định, không bị giảm nhanh hiệu lực dưới tác động của các yếu tố thời tiết

Xuất phát từ những yêu cầu cơ bản đối với chế phẩm dùng để bảo quản

gỗ tàu thuyền, căn cứ vào danh mục thuốc Bảo vệ thực vật được phép sử dụng, hạn chế sử dụng và cấm sử dụng ở Việt Nam do Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn ban hành năm 2010 [4], loại chế phẩm được xác định là phù hợp là XM5 100 bột

Cả hai thành phần thuốc XM5 là CuSO4 và K2CrO7 đều hòa tan trong nước, nhưng hai thành phần trên kết hợp với nhau và một số thành phần hóa học khác trong gỗ sẽ tạo ra phức chất vẫn có tính độc với sâu nấm nhưng

Trang 36

không hòa tan trong nước, do đó chống được rửa trôi Nguyễn Văn Thống

30 đã diễn giải phương trình tạo phức sau khi tẩm vào gỗ như sau:

8 CuSO4 + Na2Cr2O7 + 2CrO3 + 9H2O =

2 CuCr2(SO4)4 H2O + 2NaOH + 6Cu(OH)2 + 6O2

Nồng độ dung dịch thường pha 3- 10 %, chế phẩm có tác dụng chống nấm, côn trùng, hà biển Chế phẩm có khả năng tạo thành phức chất sau khi tẩm nên hạn chế sự rửa trôi khỏi gỗ Vì vậy, có thể tẩm cho gỗ dùng dưới mái che và không có mái che, gỗ dùng cho các công trình dưới nước, gỗ làm tàu thuyền đi biển

Đối tượng gỗ cần bảo quản của đề tài đặt ra là làm ván sàn, cabin phục

vụ trên tàu đi biển chính vì các điều kiện thời tiết cũng như quá trình sử dụng ảnh hưởng nhiều đến gỗ như nấm mục, độ mài mòn, cong vênh nứt nẻ,vv…

Do vậy, đề tài luận văn đi sâu giải quyết vấn đề hiệu lực bảo quản gỗ Keo lai ngăn ngừa Nấm, Côn trùng và các yếu tố môi trường tác động tới gỗ làm cabin và sàn tàu thuyền

Trang 37

Chương 3:MỤC TIÊU, NỘI DUNG, THỜI GIAN, ĐỊA ĐIỂM VÀ

PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

3.1 MỤC TIÊU CỦA ĐỀ TÀI

Mục tiêu chung:

-Nâng cao độ bền tự nhiên của gỗ Keo lai đáp ứng yêu cầu nguyên liệu làm sàn, ca bin cho tàu thuyền đi biển

Mục tiêu cụ thể:

- Xác định thông số công nghệ bảo quản gỗ Keo lai nhằm chống chịu

sự phá hoại của côn trùng, nấm mục và một số yếu tố khác làm nguyên liệu ván sàn, cabin cho tầu thuyền đi biển

- Đề xuất được quy trình công nghệ bảo quản gỗ Keo lai làm nguyên liệu cho ván sàn, cabin phục vụ đóng tàu thuyền đi biển

3.2 NỘI DUNG NGHIÊN CỨU

Để đạt được mục tiêu trên chúng tôi tiến hành nghiên cứu nội dung sau:

3.2.1.Xác định sức thấm thuốc bảo quản của gỗ Keo lai theo phương pháp ngâm thường

3.2.2 Khảo nghiệm hiệu lực phòng chống côn trùng, nấm mục của gỗ Keo lai đã được xử lý bảo quản

3.2.3 Đánh giá khả năng rửa trôi thuốc bảo quản của mẫu gỗ tẩm

3.2.4 Đánh giá khả năng chống chịu với môi trường của gỗ Keo lai đã được bảo quản

3.2.5 Đề xuất quy trình công nghệ bảo quản gỗ Keo lai làm nguyên liệu ván sàn, cabin cho tàu thuyền đi biển

Trang 38

3.3.ĐỊA ĐIỂM, THỜI GIAN NGHIÊN CỨU

Đề tài được thực hiện tại phong nghiên cứu Bảo quản lâm sản- Viện Khoa học Lâm nghiệp Việt Nam Thời gian tiến hành từ 01/12/2009 đến 31/08/2010

3.4.VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

3.4.1 Dụng cụ, thiết bị dùng trong thí nghiệm

-Cân phân tích quang học( Owa Labor), độ chính xác 0,5mg

-Cân kỹ thuật 300g, độ chính xác 0,01g dùng để cân thuốc bảo quản và cân mẫu gỗ thí nghiệm

-Ống đong 1000ml, bình tam giác 500ml, 250ml, cốc đong các loại 1000ml, 500ml, 250ml, 100ml, 50ml

-Thước kẹp 200 mm, độ chính xác 0,05mm dùng để đo kích thức mẫu gỗ -Tủ sấy memmert nhiệt độ tối đa 300oC ±1oC dùng để sấy mẫu gỗ -Máy đo màu quang phổ phản xạ Gretag Macbeth ColorEye 2180

3.4.2 Vật liệu nghiên cứu

3.4.2.1 Gỗ

Gỗ Keo lai (Acacia mangium x A.auriculiformis) lấy tại Cẩm Quỳ - Ba

Vì – Hà Nội, chiều cao trung bình của cây là 11m, đường kính ngang ngực 25cm, độ tuổi 9, sau khi chặt hạ tiến hành cắt khúc loại bỏ 1,3m gốc, cắt bỏ 1m ngọn tính từ cành đầu tiên trở xuống Phần còn lại dùng làm thí nghiệm

3.4.2.2 Thuốc bảo quản

Hiện nay có rất nhiều loại thuốc bảo quản, nhưng do yêu cầu sử dụng bảo quản cho nguyên liệu đóng tàu thuyền đi biển, với môi trường luôn luôn tiếp xúc với nước Do đó, Chế phẩm bảo quản XM5 100 bột được lựa chọn để thực hiện đề tài này XM5 100 bột được hòa tan trong dung môi nước để xử lý ngâm tẩm gỗ

Ngày đăng: 10/09/2017, 22:13

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm