Điện di thuốc trị liệuĐiện di thuốc trị liệu electrophoresis therapy là phương pháp dùng dòng điện một chiều để di chuyển một số ion thuốc có tác dụng chữa bệnh vào cơ thể hoặc lấy các i
Trang 1Các trang trong thể loại “Phục hồi chức
năng”
Trang 21 Điện di thuốc trị liệu 1
1.1 Tác dụng 1
1.2 Ưu điểm 1
1.3 Chỉ định điều trị 1
1.4 Xem thêm 1
1.5 am khảo 2
1.6 Liên kết ngoài 2
2 Điện xung trị liệu 3 2.1 Tác dụng 3
2.1.1 Tác dụng giảm đau và giảm trương lực cơ 3
2.1.2 Tác dụng kích thích thần kinh cơ 3
2.2 Chỉ định điều trị 3
2.3 Cảnh báo 3
2.4 Xem thêm 3
2.5 am khảo 3
2.6 Liên kết ngoài 4
3 Kéo giãn cột sống 5 3.1 Tác dụng 5
3.2 Tác dụng điều trị 5
3.3 Chỉ định 5
3.4 Xem thêm 5
3.5 am khảo 6
3.6 Liên kết ngoài 6
4 Nhiệt trị liệu 7 4.1 Nhiệt nóng 7
4.1.1 Tác dụng 7
4.1.2 Chỉ định và chống chỉ định 7
4.2 Các phương pháp điều trị nhiệt nóng 7
4.2.1 Nhiệt dẫn truyền 7
4.2.2 Nhiệt bức xạ - hồng ngoại 8
Trang 3ii MỤC LỤC
4.2.3 Nội nhiệt - sóng ngắn và vi sóng 8
4.2.4 Nhiệt cơ học - siêu âm 9
4.3 Nhiệt lạnh 9
4.3.1 Tác dụng 9
4.3.2 Chỉ định 9
4.3.3 Các phương pháp điều trị nhiệt lạnh 9
4.4 Xem thêm 9
4.5 am khảo 9
5 Sóng ngắn trị liệu 11 5.1 Tác dụng điều trị 11
5.1.1 Tác dụng giảm đau 11
5.1.2 Tác dụng chống viêm 11
5.1.3 Tác dụng đối với mạch máu 11
5.1.4 Tác dụng lên hệ thần kinh vận động 11
5.2 Chỉ định điều trị 11
5.3 Xem thêm 11
5.4 am khảo 12
5.5 am khảo 12
5.6 Nguồn, người đóng góp, và giấy phép cho văn bản và hình ảnh 13
5.6.1 Văn bản 13
5.6.2 Hình ảnh 13
5.6.3 Giấy phép nội dung 13
Trang 4Điện di thuốc trị liệu
Điện di thuốc trị liệu (electrophoresis therapy) là
phương pháp dùng dòng điện một chiều để di chuyển
một số ion thuốc có tác dụng chữa bệnh vào cơ thể hoặc
lấy các ion thuốc có hại ra khỏi cơ thể
Nguyên lý của phương pháp điện di là: Các điện tích
cùng dấu thì đẩy nhau, trái dấu thì hút nhau Một dung
dịch mà trong đó chất hòa tan có thể phân ly thành các
ion (gọi là dung dịch điện ly), khi được đưa vào một
điện cực và cho dòng điện một chiều chạy qua thì các
ion cùng dấu với điện cực đó sẽ bị đẩy ra khỏi điện cực
để đi vào cơ thể Ngược lại nếu muốn lấy một ion có hại
(ví dụ ion Ca+2) ra khỏi cơ thể thì ta đặt điện cực trái
dấu vào vùng da nhiễm ion, điện cực đó sẽ hút các ion
này ra khỏi cơ thể về phía nó
1.1 Tác dụng
Tác dụng của điện di thuốc gồm tác dụng do dòng điện
một chiều đều và tác dụng do ion thuốc gây ra
Tác dụng của dòng điện 1 iều đều:
• Tác dụng giãn mạch: Tại vùng da đặt điện cực có
vải đệm sẽ có hiện tượng đỏ da do giãn mạch và có
thể kéo dài hàng giờ Tác dụng giãn mạch sẽ làm
tăng cường tuần hoàn và dinh dưỡng, tăng chuyển
hóa, chống viêm Cơ chế do dòng điện tác dụng
trực tiếp lên hệ thần kinh vận mạch
• Tác dụng lên hệ thần kinh: Tại cực dương có tác
dụng giảm đau, giảm co thắt, giảm trương lực
cơ Tại cực âm: có tác dụng kích thích, làm tăng
trương lực cơ
Tác dụng của ion thuốc:
Các ion thuốc được đưa vào bằng điện di đã được chứng
minh là có hiệu lực tăng lên gấp nhiều lần so với các
đường khác Sau đây là một số ion thuốc thường dùng:
1.2 Ưu điểm
• Khi cần ion thuốc gì thì đưa ion thuốc đó vào, các
thành phần khác bị giữ lại ở điện cực do đó không
gây phù nề tổ chức như khi tiêm
• Không gây tổn thương da, không gây đau, không
gây khó chịu và không gây lây truyền các bệnh đường máu như khi tiêm
• Tại chỗ đặt điện cực đưa thuốc, nồng độ thuốc cao
thích hợp cho những tổ chức ít mạch máu như sẹo… mà khi dùng thuốc các đường khác ít tác dụng
1.3 Chỉ định điều trị
• Giảm đau hoặc cắt cơn đau trong các chứng đau
do nguyên nhân thần kinh, chấn thương, co mạch (chứng co thắt mạch ngoại vi, hội chứng Raynaud, viêm tắc động mạch, viêm tắc tĩnh mạch)
• Chống viêm mạn như viêm khớp, viêm dây thần
kinh, viêm da, viêm màng tiếp hợp…
• Tăng dinh dưỡng và tuần hoàn tại chỗ điều trị vết
thương vết loét lâu liều, sẹo xơ cứng, teo cơ
• Tạo phản xạ đốt đoạn điều hòa các rối loạn của
các cơ quan nội tạng ở sâu và ở xa chỗ đặt điện cực Điều hòa quá trình hưng phấn và ức chế của
vỏ não
• Đưa một số thuốc vào cơ thể (điện di) để điều
trị như: novocain 0,5% (cực dương), natri salisylat (cực âm)… hay lấy một số thuốc ra khỏi tổ chức cơ thể như Ca+2, chì…
1.4 Xem thêm
• Điện di
• Điện xung trị liệu
• Sóng ngắn trị liệu
• Nhiệt trị liệu
• Kéo giãn cột sống
Trang 52 CHƯƠNG 1 ĐIỆN DI THUỐC TRỊ LIỆU
1.5 Tham khảo
1.6 Liên kết ngoài
Trang 6Điện xung trị liệu
Điện xung trị liệu (tiếng Anh: electrotherapy) là một
phương pháp điều trị trong vật lý trị liệu bằng cácxung
điệncó tần số thấp và trung bình
Tín hiệu xung điện là tín hiệu điện áp hay dòng điện
biến đổi theo thời gian một cách rời rạc (tức không liên
tục) Tín hiệu xung có thể là một dãy theo xung tuần
hoàn theo thời gian với chu kỳ lặp lại, hay chỉ là một
xung đơn xuất hiện một lần, có cực tính (- âm, + dương)
hoặc cực tính thay đổi
2.1 Tác dụng
2.1.1 Tác dụng giảm đau và giảm trương
lực cơ
Dùng các dòng điện xung có cường độ tăng từ từ, tần
số cao, loại dòng như Diadynamic, Trọbert, Burst
-TENS… có tác dụng giảm đau rõ rệt, giảm trương lực cơ
co thắt, thư giãn cơ Tác dụng giảm đau của dòng điện
xung được giải thích bằng các cơ chế sau:
• Cơ chế cổng kiểm soát: các xung động thần kinh
do tác động của dòng điện xung khi đi vào tuỷ
sống làm ức chế sự dẫn truyền cảm giác đau lên
não, do đó làm giảm cảm giác đau
• Cơ chế phóng thích endorphine: tác động của
xung động thần kinh do dòng điện xung kích
thích não giải phóng cácmorphinenội sinh (gọi
là endorphine) nên có tác dụng giảm đau
2.1.2 Tác dụng kích thích thần kinh cơ
Các dòng điện xung có tần số thấp, cường độ tăng
nhanh, loại dòng như dòng tam giác, chữ nhật, AMF,
giao thoa, kiểu Nga… có tác dụng kích thích thần kinh
cơ, làm tăng dẫn truyền thần kinh, tăng trương lực cơ,
tăng khối lượng cơ
2.2 Chỉ định điều trị
• Giảm đau: đau lưng, đau cổ vai, đau cơ, đau thần
kinh ngoại vi, đau khớp, đau chấn thương
• Một số bệnh thần kinh vận mạch, loạn dưỡng Sudeck, bệnh Buerger, hội chứng Raynaud, thần kinh ngoại vi
• Kích thích thần kinh cơ: giảm sức cơ, bại, liệt, kích
thích cơ trơn bị liệt…
• Viêm mạn, làm lành vết thương.
2.3 Cảnh báo
Do hiện nay việc sản xuất các máy phục vụ trị liệu bằng điện hay điện từ khá nhanh và thuận lợi, nên chúng thường được quảng cáo quá mức để bán hàng.[1]
2.4 Xem thêm
• Điện di thuốc trị liệu
• Sóng ngắn trị liệu
• Nhiệt trị liệu
• Kéo giãn cột sống
2.5 Tham khảo
[1] Cẩn thận khi dùng xung điện chữa bệnh Kiến ức Online, 24/11/2012 Truy cập 22/11/2015
• Cục quân y Việt Nam - Tài liệu lớp tập huấn cán
bộ chuyên ngành Vật lý trị liệu - Phục hồi chức năng, năm 2003
• Dương Xuân Đạm - Vật lý trị liệu đại cương-Nguyên lý và thực hành - Nhà xuất bản Văn hóa
thông tin, Hà nội, 2004
Trang 74 CHƯƠNG 2 ĐIỆN XUNG TRỊ LIỆU
• Học viện quân y Việt Nam - Vật lý trị liệu và phục
hồi chức năng-Giáo trình giảng dạy đại học và sau
đại học - Nhà xuất bản ân đội nhân dân, Hà nội,
2004
• Hội Phục hồi chức năng Việt Nam - Vật lý trị liệu
và phục hồi chức năng - Nhà xuất bản Y học, Hà
Nội, 1995
2.6 Liên kết ngoài
Trang 8Kéo giãn cột sống
Kéo giãn cột sống (tiếng Anh: traction therapy) là
phương pháp dùng lực cơ học tác động theo chiều
dọc của cột sống nhằm làm giãn nở khoảng cách các
khoang gian đốt để đem lại hiệu quả điều trị
3.1 Tác dụng
• Làm giãn cơ tích cực: trong bệnh lý đau cột sống,
sự kích thích rễ thần kinh và đau làm cơ co cứng
phản xạ, sự co cứng co tác động trở lại làm cho đau
càng trầm trọng hơn Kéo giãn cột sống trước tiên
lực sẽ tác động lên cơ gây giãn cơ thụ động, giảm
co cứng cơ và cắt đứt vòng xoáy bệnh lý đau Tuy
nhiên nếu khi kéo nếu tăng giảm lực quá nhanh có
thể gây kích thích làm tăng co cơ, do đó cần tăng
giảm lực từ từ đặc biệt là trong bệnh lý đau cấp
• Làm giảm áp lực nội đĩa đệm: lực kéo giãn dọc
theo cột sống sẽ tác động vào nhiều điểm khác
nhau của đoạn cột sống làm các khoang đốt được
giãn rộng và có thể cao thêm trung bình 1,1mm,
làm áp lực nội đĩa đệm giảm, và dẫn đến hệ quả là:
• Làm tăng thẩm thấu nuôi dưỡng đĩa đệm, giúp
nhân nhày và đĩa đệm căng phồng trở lại, tăng
dinh dưỡng cho đĩa đệm do đó làm giảm quá trình
thoái hóa của đĩa đệm
• Có thể giúp thu nhỏ thể tích đĩa đệm bị lồi hoặc
thoát vị nếu khối thoát vị chưa bị xơ hóa
Tuy nhiên cần chú ý nếu kéo với lực quá lớn, thời gian
quá dài làm áp lực nội đĩa đệm giảm quá nhiều dẫn đến
tăng thẩm thấu dich vào đĩa đệm có thể gây phù nề đĩa
đệm làm đau tăng
• Điều chỉnh sai lệch của khớp đốt sống và cột sống:
trong thoái hóa hoặc thoát vị đĩa đệm do chiều
cao khoang gian đốt giảm làm di lệch diện khớp
đốt sống Sự di lệch này tuy nhỏ nhưng nó sẽ thúc
đẩy quá trình thoái hóa và kích thích gây đau tăng
lên Kéo giãn cột sống làm điều chỉnh di lệch, tăng
tính linh hoạt của khớp đốt sống và giải phóng sự
khóa cứng của các khớp đốt sống
• Giải phóng sự chèn ép lên các rễ và dây thần kinh
sống: do làm tăng kích thước lỗ tiếp hợp, giảm thể tích khối thoát vị… từ đó làm giảm kích thích rễ
và giảm đau
3.2 Tác dụng điều trị
• Giảm đau: do làm giãn cơ, giảm áp lực nội đĩa đệm
làm tăng cường nuôi dưỡng đĩa đệm, giải phóng chèn ép rễ thần kinh, tăng nuôi dưỡng cục bộ
• Tăng tầm vận động của đoạn cột sống bị hạn chế,
khôi phục lại hình dáng giải phẫu bình thường của cột sống
• Tạo điều kiện thuận lợi cho đĩa đệm mới bị thoát
ở mức độ nhẹ và vừa có thể trở lại vị trí cũ
3.3 Chỉ định
• oái hóa đốt sống chèn ép thần kinh gây đau lưng, đau thần kinh tọa, đau cổ vai cánh tay
• oát vị đĩa đệm vừa và nhẹ.
• Sai khớp đốt sống nhẹ.
• Đau lưng do các nguyên nhân khác.
• Vẹo cột sống.
• Viêm cột sống dính khớp ở giai đoạn chưa dính
khớp
3.4 Xem thêm
• Đau
• Điều trị đau
• Điện xung trị liệu
• Điện di thuốc trị liệu
• Sóng ngắn trị liệu
• Nhiệt trị liệu
Trang 96 CHƯƠNG 3 KÉO GIÃN CỘT SỐNG
3.5 Tham khảo
3.6 Liên kết ngoài
Trang 10Nhiệt trị liệu
Nhiệt trị liệu (tiếng Anh: thermotherapy) là một
phương pháp điều trị của vật lý trị liệu, trong đó sử
dụng các tác nhân gây nhiệt để mang lại hiệu quả điều
trị
Tùy theo nhiệt độ của tác nhân gây nhiệt, chia thành
hai loại: nhiệt nóng (có nhiệt độ từ trên 37 ℃ đến
khoảng 45-50 ℃) và nhiệt lạnh (thường dưới 15 ℃)
4.1 Nhiệt nóng
4.1.1 Tác dụng
Phản ứng vận mạch
Nhiệt nóng gây giãnđộng mạchnhỏ vàmao mạchtại
chỗ, có thể lan rộng ra một bộ phận hay toàn thân Tác
dụng giãn mạch làm tăng cường tuần hoàn, làm giảm co
thắt, giảm đau tăng cường dinh dưỡng và chuyển hóa
tại chỗ, từ đó có tác dụng giảm đau đối với các chứng
đau mạn tính
Với hệ thần kinh cơ
Nhiệt nóng có tác dụng an thần, điều hòa chức năng
thần kinh, thư giãn cơ co thắt, điều hòa thần kinh thực
vật Do đó có tác dụng tốt với các chứng đau mạn tính
gây co cơ
Tác dụng giảm đau
Mức độ giảm đau của điều trị nhiệt phụ thuộc vào loại
đau và nguyên nhân đau Tác dụng giảm đau do các cơ
chế:
• Do tăng cường tuần hoàn tại chỗ làm nhanh chóng
hấp thu các chất trung gian hóa học gây đau như
bradykinin, prostaglandin…
• Kích thích nhiệt nóng được dẫn truyền theo các
sợi thần kinhto sẽ ức chế cảm giác đau được dẫn
truyền theo các sợi thần kinh nhỏ
• Do làm thư giãn cơ.
4.1.2 Chỉ định và chống chỉ định
Chỉ định tại chỗ
• Giảm đau, giảm co thắt cơ trong các chứng đau
mạn tính như: đau thắt lưng, đau cổ vai cánh tay, đau thần kinh tọa, đau thần kinh liên sườn, đau khớp, đau cơ…
• Tăng cường dinh dưỡng tại chỗ trong các trường
hợp vết thương, vết loét lâu liền, làm nhanh liền sẹo
• Làm giãn cơ để phục vụ các kỹ thuật trị liệu khác
như xoa bóp, vận động…
Chống chỉ định
• Các ổ viêm đã có mủ, viêm cấp, chấn thương mới
đang xung huyết, các khối u ác tính, lao, vùng đang chảy máu hoặc đe dọa chảy máu, giãn tĩnh mạch da
4.2 Các phương pháp điều trị nhiệt nóng
4.2.1 Nhiệt dẫn truyền
Paraffin
Paraffinlà một hỗn hợp có nhiềuhydrocarbuatừdầu hỏa, paraffin dùng trong điều trị là loại tinh khiết, trung tính, màu trắng, không độc Khi sử dụng thường pha thêm một ít dầu paraffin để tăng cường độ dẻo, không
bị giòn gãy
• Paraffin có nhiệt dung cao, nhiệt độ của khối
paraffin nóng giảm rất chậm, nên có thể truyền nhiệt cho cơ thể một lượng nhiệt lớn trong thời gian tương đối dài Do vậy nhiệt do paraffin truyền
có thể vào tương đối sâu
• Nhiệt do paraffin cung cấp là nhiệt ẩm, tức là khi
ép miếng paraffin nóng vào da sẽ kích thích tăng
Trang 118 CHƯƠNG 4 NHIỆT TRỊ LIỆU
tiết mồ hôi, nhưng mồ hôi này vẫn còn đọng lại
làm cho da luôn ẩm, mềm mại và tăng tính đàn
hồi (các phương pháp nhiệt khác gây bốc hơi mồ
hôi làm cho da khô và giòn)
• Điều trị bằng paraffin không bị bỏng: khi paraffin
nóng chảy ở nhiệt độ 52-53 ℃ tiếp xúc với da ngay
lập tức lớp paraffin tiếp xúc sẽ đông lại và giảm
nhiệt độ tạo thành một lớp màng ngăn cách giữa
paraffin nóng với da nên không gây bỏng Trái lại
với nước nóng trên 42 ℃ đã có thể gây bỏng do
không có tính chất trên
Các phương pháp sử dụng parafin
• Đắp paraffin: đổ paraffin nóng chảy vào khay men
dày 3 cm, để cho nguội tự nhiên đến khi miếng
paraffin đông mềm đều bên trong không còn lỏng,
lúc đó nhiệt độ miếng paraffin khoảng 43-45 ℃ rồi
ủ trong chăn hay trong tủ nhiệt để điều trị sau Khi
dùng tách miếng paraffin đó ra đắp trực tiếp lên da
vùng cần điều trị, lót một lớp nylon rồi phủ chăn
ra ngoài để giữ nhiệt ời gian điều trị mỗi lần 20
phút
• Nhúng paraffin: thường dùng cho ngón tay, bàn
tay, ngón chân, bàn chân nơi khó đắp miếng
paraffin Đổ paraffin nóng chảy vào ca hoặc chậu,
lần đầu nhúng nhanh bộ phận cần điều trị vào rồi
rút ra ngay, khi đó một lớp paraffin mỏng bám vào
da sẽ đông kết ngay, tiếp tục nhúng 3-4 lần nữa để
lớp paraffin phủ ngoài dày lên như một khối, sau
đó dùng khăn ủ 20-30 phút
Các phương pháp nhiệt dẫn truyền khác
Các loại túi nhiệt (hot pack):
Là các túi cao su hoặc polyme bên trong đựng các chất
tạo nhiệt dùng để chườm đắp vào vị trí đau Người ta
thường dùng các chất tạo nhiệt như sau:
• Túi paraffin: cho paraffin vào túi, đuổi hết khí rồi
dán kín, khi dùng đem túi ngâm vào nước nóng 80
℃ cho đến khi paraffin nóng chảy hết thì lấy ra để
một lát cho lớp ngoài nguồi bớt thì dùng
• Túi nước: là phương pháp đơn giản nhất có thể sử
dụng các túi sắn có, đổ nước ấm 40-54 ℃ vào túi,
bịt miệng túi rồi chườm đắp lên chỗ đau
• Túi silicat: dùngsilicat khô cho vào túi vải, khi
ngâm vào nước các phân tử silicat hút nước làm
túi phồng ra, khi đó đem túi đun trong nước cho
đến nhiệt độ 50-60 ℃ thì đem ra dùng Sau điều trị
treo túi ở nơi khô thoáng cho cát khô
• Túi gel đặc biệt: trong túi chứa một loại chấtgel
đặc biệt, bình thường ở dạng lỏng bên trong có một
nút bấm tạo phản ứng dây chuyền Khi dùng đem bấm nút trong túi để tạo phản ứng sinh nhiệt làm túi nóng lên đồng thời chất gel bị kết tủa thành chất bột mềm, khi túi nguội đem đun túi trong nước sôi cho đến khi chất kết tủa trở lại hoàn toàn trạng thái lỏng ban đầu thì đem ra dùng
Nước nóng:
Dùng nước nóng nhân tạo hoặc nước nóng tự nhiên ở cácsuối nước nóng Ngâm tắm nước nóng toàn thân ngoài các tác dụng toàn thân như cải thiện chức năng tuần hoàn, hô hấp, thư giãn thần kinh, thư giãn cơ, còn
là một biện pháp có hiệu quả trong điều trị các chứng đau mạn tính ở nhiều vị trí trong cơ thể như: viêm da dây thần kinh, viêm đa khớp…
4.2.2 Nhiệt bức xạ - hồng ngoại
Bức xạhồng ngoạilà bức xạánh sángkhông nhìn thấy
có bước sóng trong khoảng từ 400.000 nm đến 760 nm, nguồn phát có nhiệt độ càng cao thì bức xạ ra tia hồng ngoại có bước sóng càng nhỏ Là bức xạ có nhiệt lượng cao nên còn gọi là bức xạ nhiệt Do đó tác dụng của hồng ngoại chủ yếu là tác dụng nhiệt, vùng da chịu tác động nhiệt của hồng ngoại sẽ dãn mạch đỏ da giống như các phương pháp nhiệt khác, nên có tác dụng giảm đau chống viêm mạn tính, thư giãn cơ Độ xuyên sâu của bức xạ hồng ngoại vào cơ thể nhìn chung là rất kém, chỉ khoảng 1–3 mm
4.2.3 Nội nhiệt - sóng ngắn và vi sóng
Sóng ngắnlà những bức xạ điện từ có bước sóng tính bằngmét(còn gọi là sóng radio cao tần, hay điện trường cao tần), sóng ngắn dùng trong điều trị thông thường có bước sóng 11 m (tương đương tần số 27,12 MHz) và 22
m (tần số 13,56 MHz) Người ta tạo ra sóng ngắn bằng cách cho dòng điện siêu cao tần chạy trong các điện cực kim loại (điện cực cứng hình đĩa, điện cực mềm, điện cực cáp, điện cực kim…), các điện cực này sẽ phát ra các bức xạ điện từ có tần số đúng bằng tần số của dòng điện trong mạch
Khi đặt phần tổ chức cơ thể hay các vật dẫn điện khác trong điện từ trường của dòng điện cao tần, các phân
tử lưỡng cực trong cơ thể (một đầu âm một đầu dương, điển hình là phân tử nước) sẽ xoay theo sự đảo chiều của dòng điện với tần số rất cao bằng tần số dòng điện, động năng của các phân tử này sẽ chuyển thành nhiệt năng làm tổ chức nóng lên
Khác với các phương pháp nhiệt bề mặt chỉ tác dụng nhiệt ở nông, nhiệt do sóng ngắn tạo ra là nhiệt sâu, hay nhiệt khối, còn gọi là nội nhiệt, tức lànăng lượng
lý học trực tiếp truyền theo 3 chiều của khối tổ chức, năng lượng này chuyển thành nhiệt Nhiệt khối làm cho cơ thể dễ chịu (hợp sinh lý) hơn nhiệt bề mặt Khả